Monday, November 2, 2026

ĐỊNH MỆNH

“Tôi viết nhiều tác phẩm trong hơn 50 năm, nhưng đây là truyện ngắn tôi tâm đắc nhất, xúc động nhất và hòa mình sâu nhất vào nhân vật khi viết. Bởi nó đến từ một hoàn cảnh thật. Truyện được đăng lần đầu trên Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội năm 2004, rồi được một số báo, tạp chí ở Sài Gòn đăng lại. Truyện hơi dài nhưng tôi vẫn muốn đăng trọn vẹn trong một kỳ để cảm xúc được liền mạch khi đọc”

*****
Làng Tân Lộc nằm trên cù lao mới nổi vài trăm năm nay, là vùng đất màu mỡ nhất tỉnh Hậu Giang. Qua nhiều năm, nơi đây cung cấp đường mía nhiều nhất cho các tỉnh miền Nam. Ngoài những đám mía bạt ngàn, vườn xoài xanh biếc người ta còn biết làng Tân Lộc với những cô gái có nước da trắng bóc của vùng sông nước Cửu Long. Mấy năm gần đây cù lao được gọi là đảo Đài Loan vì có nhiều thiếu nữ lấy chồng xứ ấy.

Hơn một phần tư thế kỷ xa quê hương hôm nay tôi mới có dịp trở lại bến đò Tân Tây, cổng chính để vào làng.

Làng nằm bên lở xuôi theo dòng sông Hậu. Dọc bờ đất bị xâm thực khá nhiều và cuốn đi bao hình ảnh thơ mộng; từ hàng dừa thẳng tắp nghênh ngang những đến những đám bắp non mơn mởn đã bị dòng thủy triều lôi đi không thương tiếc. Bởi thế bãi càng hẹp sông càng rộng ra, trông mịt mùng xa tít. Dân làng tiếc đất, tiếc mồ hôi bao đời cha ông đổ xuống cũng chỉ biết giương mắt nhìn nhau trong ngậm ngùi.

Vượt sông trên chiếc đò già nua khụt khịt. Anh chủ đò mình trần da đen bóng, đôi mắt ti hí mơ màng nhìn theo dòng nước chảy. Quan niệm sống của người miền Tây đơn giản quá. Được thiên nhiên ưu đãi, họ chỉ mong có miếng cơm cho qua ngày, để mặc ngày mai đến như mọi ngày, cũng êm ả đến và êm đềm đi chứ không bắt trắc như miền Trung đất cày lên sỏi đá.

Ánh sáng mặt trời phản chiếu lấp lánh nhảy lăn tăn trên mặt sóng. Tiếng máy đò vẫn khụt khịt vang lên trong mệt mỏi vì cố sức chống chọi với dòng nước ngược. Mùa lũ tháng tám nước sông từ thượng nguồn cuồn cuộn đổ về đục ngầu với những đám lục bình trôi tản mát. Cũng nơi khúc sông này, năm lên sáu tuổi, tôi theo mẹ thuê ghe về quê ngoại, ra giữa sông bị cơn mưa bão bất thần đổ xuống, sóng gầm thét từng đợt chồm lên như muốn nuốt chửng chiếc ghe tam bản nhỏ bé. Mẹ bảo niệm Phật nhưng tôi chỉ nhắm mắt khóc to lên để những hạt mưa lành lạnh rơi đầy miệng.

Âm thanh tiếng sóng đập vào bờ đưa tôi về thực tại. Đò cập bến. Vừa lên đò tôi hỏi bà cụ bán mận:

- Bác cho cháu hỏi nhà cô giáo Nguyệt?

- Có phải Nguyệt con ông xã Bổn? Sao cậu hay mà về?

Tôi không hiểu ý của bà nên chỉ đưa mắt nhìn. Không đợi tôi xác nhận bà đưa tay về phía trước:

- Từ bến đò này cháu đi thẳng khoảng một sào ruộng đến cái miễu đất thì rẽ trái. Đi một đỗi khoảng thời gian hút nửa điếu thuốc cháu thấy cây cầu dừa. Qua cầu là nhà ông hai Cụi nuôi vịt bầy. Bên hông nhà có con đường đất nhỏ dẫn vào nhà cô giáo Nguyệt với những bụi cúc vàng nở hoa quanh năm.

Theo lời chỉ dẫn, tôi đậu xe ngoài hàng tràm đi men theo con đường đất về hướng bờ sông. Gió thổi nhẹ và mát làm cơn mệt vơi đi phần nào. Tìm nhà không số không tên đường ở miền quê không phải là chuyện đơn giản. Lòng nôn nao, ý nghĩ xáo trộn, tôi như là người của bây giờ, đang sống với những ngày đã qua nhiều bất ổn.

*****
Sau khi đáp xuống phi trường quốc tế Đài Bắc, tôi gọi taxi về khách sạn. Tắm rửa xong tôi ngủ vùi đến chiều tối. Bước ra cửa thì thành phố đã lên đèn. Từng đoàn xe tuôn trào trên đường phố như đàn kiến bị ngập nước vỡ tổ. Đã hơn hai lần đến thành phố này nên tôi cũng biết ít nhiều.

Tôi quyết định đi bộ ngược đường Tưởng Giới Thạch lên khu trung tâm thương mại quốc tế, cách đó không xa, nơi mà bạn tôi luôn nhắc là phải đến để thưởng thức ly café đặc sản được pha theo phong cách Đài Loan.

Quán Mimosa nằm ở cuối đường, trong một biệt thự lớn. Đây là trung tâm của giới ăn chơi trẻ. Nhà được chia ra làm ba khu vực và được phân biệt nhau bằng những ngọn đèn khác màu.

- Em cho anh ly ca phê đá.

Cô gái mặc chiếc áo thun đồng phục lấm tấm hoa nhìn tôi từ đầu đến chân ranh mãnh trả lời:

- Anh Hai ơi, ở đây chúng em không bán café, chỉ có rượu thôi.

Chúng tôi trao đổi bằng tiếng Anh. Nói xong cô gái để bảng menu trên bàn, tôi liếc qua toàn là tên rượu. Biết mình vào lầm chỗ. Tuy không uống được rượu nhưng tôi phải gọi một cái gì đó để “tồn tại”, không lẽ ra về không.

- Cho anh một set Martini.

Nhạc đã bắt đầu chơi, từng cặp trai gái dìu nhau ra sàn nhảy quay cuồng theo tiếng nhạc.

- Would you like to dance? (Anh có muốn nhảy không?)

Ngẩng lên tôi nhận ra một cô gái trẻ đứng trước mặt.

- Cảm ơn cô, tôi không biết nhảy. Tôi ngượng ngùng trả lời.

Cô gái mỉm cười và xin phép ngồi xuống bên tôi. Nhìn cách ăn mặc tôi biết nàng không phải người của nhà hàng. Nàng có nhan sắc trung bình, duyên dáng trong bộ skirt đỏ, tóc cắt ngắn, người hơi thấp nhưng có nụ cười dễ mến với chiếc răng khểnh làm duyên.

- Sao em không nhảy?

- Em thích ngồi với anh thôi.

- Xạo hoài.

Nàng cười rồi mơ màng nhìn mông lung. Tôi gọi thêm một ly Martini cho nàng. Trong tiếng nhạc rộn ràng mà nàng trầm ngâm với đôi mắt to, đen nhánh, vời vợi xa xăm chắc nàng đang hoài cảm chuyện gì đó. Để phá tan sự yên tĩnh, tôi gợi chuyện:

- Sao em biết anh không phải người Hoa mà hỏi bằng tiếng Anh?

- Đây là khu Thương mại quốc tế nên hầu hết là người nước ngoài. Và khuôn mặt anh không giống người Trung Hoa.

Tôi thầm phục nhận xét của nàng. Nhìn kỹ nàng có nét thông minh ngầm với vầng trán rộng và chiếc cằm nhọn. Tiếng Anh của nàng dưới trung bình nhưng đủ để giao tiếp căn bản. Tôi sống lâu năm ở Canada, xứ nhiều sắc dân nhưng tiếng Anh là ngôn ngữ chính, tuy nhiên mỗi dân tộc đều có giọng âm dị chủng ẩn sau tiếng Anh.

Tôi bắt gặp ở nàng một hình ảnh thân quen có lẽ nàng là người Việt, vì giọng phát âm quen thuộc và dễ thông cảm, cộng thêm đặc nét đôi gò má cao, chiếc mũi xẹp.

Tôi ranh mãnh hỏi bằng tiếng Việt, nếu là người đồng hương nàng sẽ nhận ra ngay, nếu không thì nàng chẳng biết tôi nói gì.

- Em có thường về Việt Nam không?

Như một luồng điện nhỏ xuyên qua người, nàng bất thần rút hai bàn tay lại và giấu dưới bàn. Dáng điệu lúng túng như vừa ăn trộm bị bắt quả tang, nàng xòe đôi mắt nhìn quanh, gập mình xuống bàn ngước nhìn tôi với giọng mấp máy nói khẽ:

- Sao anh biết em là người Việt?

Không trả lời, tôi mời nàng điếu thuốc. Bật diêm mồi lửa, dưới ánh sáng nhỏ lập lòe, khuôn mặt nàng hiện rõ hơn với nét đặc thù của con Rồng cháu Tiên.

Qua giọng nói tôi biết nàng là người miền Nam, có thể quê miền Tây. Tôi ngạc nhiên trong thích thú.

Để nàng không ngại, tôi nói sơ về mình trước: “Anh tên Minh, sinh và lớn lên ở tỉnh Đồng Tháp, rời Việt Nam khi còn trẻ, có thể trước khi em sinh ra. Anh mới đến Đài Loan dự triển lãm hàng tặng phẩm quốc tế sau đó sẽ về Việt Nam thăm nhà trước khi trở lại Canada”.

Thấy tôi hiền hiền, không phải là dân ăn chơi hay dân địa phương nên nàng không tỏ chút gì e ngại nữa.

- Đến lúc này, xin phép cho Uyên gọi chú và xưng cháu. Cháu sinh năm 1980. Mới đầu cháu tưởng chú biết rõ về cháu. Giờ thì khác rồi.

Nàng nói tiếng Việt giọng ấm và nhẹ nhàng. Chúng tôi nói chuyện hơn nửa giờ mà Uyên vẫn muốn tâm sự. Tôi ngại nên nhắc khéo:

- Cháu có muốn đi tìm khách? Đang rảnh, chú sẽ ngồi chơi nghe nhạc cho đến giờ đóng cửa.

- Hôm nay cháu vui khi được nói chuyện với chú. Qua đây hai năm, sống trong thế giới xa lạ nên cháu nhớ nhà và thèm nói tiếng Việt như thèm sữa mẹ. Nói xong nàng bẽn lẽn cười.

Nhạc tour vừa dứt. Mọi người trở lại bàn. Họ ngồi xung quanh tôi nhưng không ai chú ý, có lẽ đối với họ, nàng đã quen thuộc hàng đêm ở quán này.

Uyên xin phép tôi rời bàn. Khoảng năm phút sau nàng trở lại.

- Cháu xin đề nghị chú một chuyện: Cháu mời chú đi uống cà phê cách đây một đoạn đường, café ngon, không gian yên tĩnh và hợp với khẩu vị người Việt mình. Vả lại cháu muốn tâm sự với chú nhiều hơn. Ở đây không tiện.

Tôi gật đầu đồng ý, mở ý gọi tính tiền, Uyên ngăn lại và nói đã trả tiền rượu cho tôi rồi. Tôi trách nàng phá lệ.

- Phép vua thua lệ làng mà chú. Nói chơi chứ đây là lần đầu tiên cháu trả tiền cho khách. Cháu nói chú là ba cháu nên được giảm 50%.

Uyên cười to rồi lấy áo khoác cùng tôi ra cửa.

Đài bắc năm 2000 cũng không khác gì Chợ lớn ngày xưa, càng về khuya cửa hàng ăn uống càng đông. Những xe mì bên vỉa hè khách ngồi chật ních.

Đi một đoạn, chúng tôi vào một quán café. Quán sáng sủa và trang trí nhiều màu sắc rực rỡ theo lối Bắc Mỹ.

- Chú có muốn nghe chuyện của cháu không? Buồn lắm chú ơi.

Tôi gật đầu và im lặng nhìn Uyên. Tôi chống hai bàn tay trên cằm chăm chú nhìn và nghe.

Mồi điếu thuốc, Uyên nhìn khói bay lơ lửng rồi bắt đầu kể:

- Hôm nay cháu không có khách, thấy chú ngồi một mình cháu muốn ngồi xuống để người ta thấy mình không ế hàng, thành thật xin lỗi vì cháu đã lợi dụng chú. Qua cách ăn mặc, cháu cũng dư biết chú không phải là người địa phương và cũng không phải là khách “đối tượng” để có thể cù qua đêm, nhưng cháu sợ chú là thám tử riêng theo dõi. Cháu sẽ kể chi tiết này sau.

Tôi chăm chú nhìn Uyên và ngắm kỹ nàng hơn. Khuôn mặt tròn đầy, môi mỏng và nhỏ, khi nói hai bờ môi hơi mím lại, dấu hiệu của người cương quyết, dám nói dám làm. Có lẽ đôi mắt là gây ấn tượng nhất trên khuôn mặt, tròn đen và hơi to, giống đôi mắt của con gái tôi.

- Quê cháu ở Cần Thơ, đúng hơn là làng Tân Lộc, một cù lao giáp ranh với Đồng Tháp, gần quê của chú đó. Gia đình nghèo, mẹ bị bệnh nan y. Đang học năm thứ ba ngoại ngữ Anh, cháu đi lấy chồng người Đài Loan. Sau này, cháu mới biết ngoài một số ít người may mắn, còn lấy chồng Đài Loan là chôn cuộc đời theo năm tháng đọa đầy. Ba ngàn đô la cho một kiếp người.

Chồng cháu là một ông già 70 tuổi, nhưng người qua Việt Nam cưới cháu lại là người khác, trẻ và khỏe mạnh hơn. Cháu bị lừa. Ngày ra đi trong nước mắt, cháu đã cảm nhận số phận của mình. Từ ngày cưới cho đến ngày về Đài Loan, cháu và người mà cháu tưởng là chồng không bao giờ ngủ chung. Đó là điểm lạ đối với ông chồng Đài Loan háo sắc bỏ tiền mua vợ Việt Nam. Không ai biết điều đó vì sau khi cưới tụi cháu lên Sài Gòn cùng ngày để đợi chuyến bay.

Giọng Uyên hơi nghẹn lại, mắt ướt nhưng không khóc. Nàng mở ví lấy cây son thoa nhẹ lên môi như muốn đánh lạc hướng sự chú ý của người xung quanh. Nàng kể tiếp:

- Đến Đài Bắc cháu được chuyển về một vùng quê phía đông. Nhà chồng rộng ba gian và một khu nhuộm lụa phía sau. Nhà đông người lắm chú ạ, nhất là đàn bà. Đêm hôm ấy người vào phòng với cháu là một ông già ốm tong teo với hàm răng chiếc còn chiếc mất. Người mà đón tại phi trường cháu tưởng là cha chồng. Đêm ấy, cháu mất đời con gái trong tủi nhục.

Sáng hôm sau, cháu dự buổi họp mặt gia đình thì cháu mới biết mình là vợ thứ ba của lão già gần đất xa trời. Cháu thật không ngờ đã là thế kỷ 21, một nước tân tiến như Đài Loan mà còn chế độ đa thê. Đúng ra chính quyền không làm gì được vì trên danh nghĩa lão già không phải người đi cưới cháu, gia nhân không ai dám nửa lời. Người ngoài nhìn vào thì cháu là vợ của A Hoàn, chồng trên giấy tờ và cũng là người quản gia của gia đình.

Từ đó cháu mới biết tại sao ông ta đến tận Việt Nam tìm vợ, vì đàn bà Việt Nam siêng năng, đa số là gái quê ít học, sợ hãi nơi xứ người mà không dám tố cáo.

Thời gian sau đó là những ngày tháng đau khổ của một kiếp đọa đày. Gia đình lão làm nghề dệt lụa nên cháu phải làm việc từ sáng đến tối. Suốt gần hai năm chung sống, cháu và lão già gần nhau chỉ có ba lần, những đêm còn lại cháu trở thành món đồ chơi của lão già kiệt lực và bệnh hoạn. Nhiều đêm lão cởi hết quần áo cháu, rồi cột cháu vào thành giường mà đánh, không mạnh, không thương tích, nhưng đủ để nỗi chua cay thấm dần vào cơ thể. Mệt, lão ngồi trên trường kỷ nhắm vài chung trà, rồi thú vị nhìn tấm thân cháu oằn oại.

Uyên ngừng kể. Nước mắt ứa chảy ra hai hàng. Tôi tưởng nàng không còn nước mắt để khóc nữa. Hai ly café đã nguội mà không ai nhớ tới. Tôi bắt đầu lúng túng trong hoàn cảnh này. Tôi rất sợ nước mắt đàn bà, những giọt nước nhỏ, mềm mại nhưng luôn luôn làm tan chí khí đàn ông.

Cuối cùng cơ hội đã đến, người duy nhất biết tiếng Anh trong gia đình bị bệnh nên cháu được thay thế trong chuyến chở hàng ra Đài Bắc bán, cháu tìm cách trốn.

Cháu kể hoàn cảnh mình cho chủ đầu mối người Ấn Độ nghe, ông ta thông cảm và hứa sẽ giúp cháu trốn trong đêm đó. Ông nói với gã tài xế tối nay mới có tiền trả. Như đã sắp đặt trước, 9 giờ tối, sau khi ông đưa tiền hàng cho cháu, cháu xin đi tiểu và thoát ra cửa sau.

Đêm ấy cháu ngủ ngon lành ở một khách sạn nhỏ trong một khu vắng lặng. Gần sáng, cháu nằm mơ thấy tắm với mẹ và bơi đùa trên con sông Hậu chảy trước nhà, bông ô môi đỏ trôi bồng bềnh trên mặt nước. Vì không có giấy tờ để bay về Việt Nam, cháu phải tìm việc làm ở Đài Bắc. Vốn tiếng Anh và tiếng Hoa ít ỏi nên cháu không tìm được việc. Chỉ một tháng sau tiền bán hàng xài hết, rồi hoàn cảnh đưa cháu vào đây, đêm đêm với tiếng nhạc, rượu và thuốc.

Sau khi cháu trốn, ông chủ Ấn Độ cho biết lão già sai người đi tìm cháu. Lão ta đăng báo và mướn thám tử đi lùng khắp Đài Bắc. Bởi thế, khi chú hỏi cháu có thường về Việt Nam không làm cháu điếng hồn, tưởng chú là thám tử của ông ta. Cũng may cháu cắt tóc ngắn, trang điểm và thay đổi cách ăn mặc hoàn toàn khác ngày trước nên không bị bắt trở lại cái địa ngục ấy.

- Chú có biết ý nghĩa của tên cháu không?

Tôi lắc đầu cười thông cảm.

- Vì khi nhỏ cháu hát hay như chim Vành Khuyên. Sau bốn năm sinh ra cháu, mẹ mới đi làm giấy khai sinh để vào trường. Cháu cũng không hiểu tại sao?

- Thế thì có liên hệ gì đên tên Uyên của cháu?

- Có chứ, nhưng chẳng ai đặt tên con gái là Vành Khuyên. Trần Thị Vành Khuyên nghe làm sao ấy.

Bất ngờ Uyên đổi hướng câu chuyện như thế, tôi biết nàng không muốn khơi lại đống tro tàn mà ngọn lửa lòng chưa tắt hẳn. Nàng còn nhiều ẩn khuất nhưng chưa tiện nói ra với một người còn quá xa lạ.

- Khi nào chú về lại Việt Nam?

- Ngày mốt. Cháu có muốn về với chú không? Tôi nói đùa làm nàng chạnh lòng.

- Muốn lắm chứ chú, nhưng phải làm sao đây khi cái nghiệp chướng chưa trả xong.

Cả hai chúng tôi đều im lặng thật lâu. Đêm đã về khuya, gió lành lạnh, sương mù đã trùm khắp thành phố. Tôi nghĩ nếu Uyên không nói nữa thì tôi xin cáo từ vì ngày mai phải đi hội chợ suốt ngày.

Hình như đoán được ý định của tôi, nàng mở ví lấy ra 500 USD và một tấm hình màu cũ không rõ nét.

- Cháu muốn nhờ chú giúp đem số tiền này về cho mẹ cháu và tấm hình chụp cháu năm xưa để bà làm tin. Mẹ cháu đang đau lên rất cần số tiền này.

- Chú sẵn sàng giúp cháu nhưng chú nghĩ tấm hình không cần thiết, vì chụp ở Việt Nam nên cháu giữ làm kỷ niệm.

- Không đâu, mẹ cháu nghèo nhưng khí khái lắm. Có thể mẹ không tin và sẽ từ chối nhận tiền giúp đỡ của người đàn ông xa lạ.

Cảm động trước lòng tin của Uyên, tôi nói rất chân thành:

- Cháu liều thật, dám gửi số tiền lớn cho một người chưa hề quen biết. Cháu có chắc tiền này sẽ đến tay mẹ cháu?

- Trực giác của cháu chưa bao giờ sai. Không hiểu sao cháu cảm nhận và quý chú như người cha. Đây là cơ hội hiếm có đến với cháu, vả lại nhà chú cũng gần quê cháu. Chú có đến Lai Vung bao giờ chưa? Khi chưa lấy chồng cháu thường qua Lai Vung mua nem. Nem bà giáo Thơ ngon lắm.

Tôi cười mà không trả lời. Đúng, quê tôi cách nhà Uyên chỉ năm cây số, gần hơn Uyên tưởng, nhưng phải qua con sông rộng và bến đò Tân Tây. Tôi không muốn Uyên biết vì sợ nàng đặt quá nhiều hi vọng cho chuyến đi.

Uyên mở ví lấy tấm danh thiếp của mình rồi viết địa chỉ và tên mẹ vào, mặt sau nàng vẽ đường đến nhà với những nét ngoằn nghèo không rõ lối.

Hai hôm sau, Uyên tiễn tôi ra phi trường. Tại phòng cách ly nàng dúi vào tay tôi thanh kẹo chocolate và nhắc cố gắng tìm cho được mẹ nàng. Tôi hứa sẽ điện thoại cho nàng biết, nếu không tìm được tôi sẽ trở lại Đài Loan trả lại tiền trước khi về Canada.

Uyên bất chợt thở dài. Nàng định nói gì thêm nhưng lại thôi.

- Hãy yên tâm, cháu Uyên - Tôi không nén nổi xúc động nói với nàng: Chú sẽ hết sức cố gắng.

Uyên chớp mắt nhìn tôi, đôi mắt héo hắt chợt hé một nụ cười.

*****
Cuối cùng tôi cũng tìm được nhà Nguyệt, mẹ của Uyên. Nhà lá vách ván nhưng trông gọn và xinh với những bụi cúc vàng nở rực. Nhà hôm nay đông người nhưng khung cảnh ảm đạm nặng nề.

Nằm trên chiếc giường tre gần cửa ra vào, một người đàn bà trung niên dáng tiều tụy, má hóp, mắt sâu và quầng thâm của một người bệnh nặng. Đoán là mẹ của Uyên, tôi bước nhẹ đến bên giường khẽ hỏi:

- Chị có phải là Nguyệt, mẹ cháu Uyên.

Người đàn bà nhìn tôi mệt mỏi không trả lời.

- Đúng vậy thầy Hai, má của con Uyên đó.

Một người ngồi bên trả lời thay. Nhà chật không đủ ghế nên tôi ngồi bên mép giường cạnh nàng. Với tình huống này tôi không biết bắt đầu từ đâu để mẹ Uyên nhẹ nhàng đón nhận tin con, nếu không khéo đưa tin người bệnh sẽ bộc phát mạnh vì cái sốc bất ngờ. Nhìn tôi thật lâu, đôi mắt rượm nước ướt vành mi. Nguyệt thều thào bảo mọi người ra ngoài để chúng tôi dễ nói chuyện.

Trong vài phút yên lặng Nguyệt bất ngờ nắm tay tôi bóp nhẹ, thì thào hỏi:

- Có phải anh Minh, thầy giáo Trần Duy Minh?

Ngạc nhiên đến cực độ, môi tôi mấp máy nói không lên lời. Tôi linh cảm chuyện bất ngờ sẽ xảy ra. Nàng đã gọi đúng tên tôi và cả họ. Tích tắc, hình ảnh một người thân, thật thân hiện ra trong ký ức. Trời ơi, Nguyệt của tôi đây rồi. Cô giáo Nguyệt với hoa cúc vàng. Người mà tôi đã chạy trốn 25 năm về trước.

Tôi gật đầu mà không nói lên lời. Nước mắt nhẹ rơi xuống bàn tay khô héo của Nguyệt.

Ngày xưa Nguyệt cao, dáng mảnh mai, tóc nhiều và dài đến thắt lưng. Có lúc tôi ví nàng như cây liễu bên hồ, đứng xa chỉ thấy toàn là lá lơ phơ trước gió. Uyên giống mẹ với đôi mắt đen huyền lúc nào cũng muốn cười, cười bằng đôi mắt.

Trước mặt tôi bây giờ là Nguyệt, cũng đôi mắt như ngày xưa nhưng mông lung huyền bí như để chuẩn bị đi vào cõi hư vô. Từ một thiếu nữ tràn trề sinh lực, nay trông nàng đã héo hon tiều tụy, thế cũng đủ để nói lên tất cả.

“Nguyệt ơi. Em có còn nhớ đêm cuối cùng và cũng là đêm duy nhất chúng ta bên nhau, em hỏi tôi bao giờ trở lại, tôi thì dư biết câu trả lời nhưng không can đảm để nói thật. Tôi cầm tay em hôn nhẹ lên ngón áp út như để từ biệt và chỉ mình tôi biết cái ý nghĩa của nụ hôn ấy. Em ngây thơ quá, em tưởng sự ra đi của tôi như mẹ đi chợ tỉnh, trước sau rồi cũng về. Em đã quá quý trọng tôi mà tôi thì hờ hững, tàn nhẫn vùi dập tình em. Em thường ví tôi là chiếc ly ngọc để em nhỏ vào mọi vui buồn, là cây rừng cho đôi cánh của em có chỗ đậu những khi mệt mỏi. Thế mà tôi đã cố tình đập bể ly ngọc, chặt hết cây rừng để đôi cánh kiệt sức ngã xuống vũng nước đen của cuộc đời. Nhưng cuối cùng tôi cũng trở lại tìm em, không phải ngẫu nhiên mà là định mệnh."

Nguyệt trông mệt nhiều. Nước mắt lại đong đầy, ứa chảy lăn tròn xuống chiếc gối vàng úa. Hình như nàng muốn nói điều gì mà không còn hơi sức. Hiểu ý, tôi cúi xuống thật gần để lắng nghe lời thì thào đứt khoảng “Em luôn nhớ anh..” .

Trời ơi, bốn chữ yêu thương trong sức tàn hơi cạn đó quyện với mùi hương da thịt của năm nào đã làm rướm máu tim tôi trong ân hận tột cùng.

Tôi muốn biết về cuộc sống gia đình nàng trong những năm qua, về ba của Uyên và hạnh phúc của hai người nhưng hoàn cảnh hiện tại không cho phép, nhất là không muốn mọi người chung quanh biết tôi là ai để giữ thể diện cho nàng. Tôi dự định ngày mai trở lại sớm, hy vọng nàng khỏe hơn để hỏi thăm nhau. Cuối cùng tôi nhắc đến Uyên và cho biết đã gặp nàng trên đất Đài Loan.

- Anh tình cờ biết vợ chồng cháu Uyên qua người bạn. Cháu vẫn khỏe, gia đình bình yên và hạnh phúc. Cháu có gửi cho em 2000 USD và một bức ảnh. Anh chắc Uyên không biết em đau, vả lại chuyện làm ăn quá bận rộn nên cháu chưa thể về trong lúc này. Tôi nói dối mà lòng chua xót.

Tâm linh Nguyệt hình như bị chấn động khi biết tôi đã gặp Uyên ở Đài Bắc, nàng bấm mạnh vào bàn tay tôi thì thào hỏi chúng tôi nói gì với nhau. Tôi nói chúng tôi trao đổi nhau về cuộc sống ở xứ người, thấy Uyên hạnh phúc nên tôi muốn em an tâm đợi ngày đoàn tụ. Với khuôn mặt thẫn thờ bất động, hình như Nguyệt muốn nói gì qua ánh mắt nhưng nàng đã quá mệt và yên lặng sau tiếng thở dài.

Nguyệt đưa bàn tay cầm lấy bức hình con úp vào ngực rồi nghiêng đầu nhìn ra ngoài trời, lúc đó mây đen đã dày đặc, gió bắt đầu thổi mạnh làm những cánh cúc vàng yếu ớt, mong manh bay tơi tả theo định mệnh đã an bày của tạo hóa..

Hôm sau trở lại, tôi đau đớn được biết nàng đã ra đi trong đêm qua, nhẹ nhàng và thanh thản. Một người đàn bà đưa tôi phong bì lớn dán kín và một túi đồ nhỏ. Bà nói tối qua, trước khi mất, Nguyệt nhờ tôi trao lại cho Uyên và muốn tôi biết trước những gì trong đó. Tôn trọng Uyên nên tôi không muốn mở phong bì cho đến khi gặp nàng, dù được phép của Nguyệt.

Tôi ở lại dự đám tang đến ngày hạ huyệt. Không ai biết chuyện tình của chúng tôi, họ chỉ đơn thuần nghĩ hai đứa ngày xưa dạy chung trường.

Tôi trở về Đồng Tháp thăm gia đình, nán lại ít hôm chơi với ba mẹ rồi vội vã lên Sài Gòn đón chuyến bay về Canada. Tại phi trường, vì an ninh, cô nhân viên hải quan bắt buộc tôi phải mở phong bì để khám xét, khi đó tôi mới biết trong đó chứa nhiều giấy tờ hộ thân như giấy khai sinh, sổ nghiệp chủ nhà đất và nhiều hình kỷ niệm của hai mẹ con. Điều tôi băn khoăn là không có hình ba của Uyên và không thấy ông đến dự đám tang.

Cuối cùng trong một bao thư nhỏ để riêng có một tấm hình trắng đen, trong đó tôi và Nguyệt. Bất ngờ quá! Tôi chợt nhớ, hình như năm 1976, chúng tôi chụp chung nhân chuyến thực tập ở một trường miền quê.

Bất ngờ trước chưa qua, bất ngờ sau lại đến. Hơi thở tôi nghẹn lại, tay rung rung, mắt hoa lên khi đọc tờ giấy khai sinh của bé Uyên:

Trần Thị Tú Uyên. Sinh năm 1980 tại làng Tân Lộc, huyện Thốt Nốt, tỉnh Hậu Giang. Tên cha: Trần Duy Minh, sinh năm 1953, nghề nghiệp: giáo viên. Tên mẹ: Đào Thị Minh Nguyệt, sinh năm 1955…

(Trích lại từ tập truyện Hai Đầu Nỗi Nhớ - 2026)

Tim Nguyễn
Đà Nẵng 10/01/2004

Còn TT. Diệm, Miền Nam VNCH Sẽ Không Mất | 02.11.26




SỐNG ĐỦ

Giáo sư Lâm, 68 tuổi, khoa Triết học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Hơn ba mươi năm đứng trên giảng đường, ông dạy Lịch sử Triết học phương Đông, Đạo đức học, Triết học Mác - Lênin cho hết khóa sinh viên này đến khóa khác. Có lứa là sinh viên Văn, Sử, Triết chuyên ngành, có lứa là sinh viên trường Y, trường Sư phạm sang học ké môn đại cương. Bởi vậy học trò cũ của ông tứ tán đủ nghề - đứa làm hiệu trưởng ở TÂY NGUYÊN, đứa làm bác sĩ ở tp HCM, đứa làm công chức...

Rồi một buổi chiều cuối tháng 9, bác sĩ gọi hai vợ chồng ông vào phòng riêng. Trên bàn là cả một tập hồ sơ dày cộm. Bác sĩ chỉ vào từng tờ, nói khẽ:

"Thầy Lâm, siêu âm, CT chỉ là bước đầu, thấy gan thầy đã teo nhỏ, bờ không đều, lách to, có ít dịch ổ bụng. Nhưng cái quyết định là bộ này. Bilirubin của thầy tăng gấp 5 lần bình thường, albumin tụt rất thấp, INR kéo dài, creatinin cũng bắt đầu tăng. Điểm Child-Pugh của thầy là C, 11 điểm. Điểm MELD 24 điểm. Đây là suy gan giai đoạn cuối, mất bù hoàn toàn rồi. Giải pháp duy nhất có thể cứu được là ghép gan."

Bà Mai, vợ ông, ngồi bên cạnh chết lặng. Ra khỏi phòng, bà nắm chặt tay ông trong hành lang bệnh viện dài hun hút, nước mắt cứ rơi không kịp lau.

Tin ông bệnh lan nhanh. Đồng nghiệp, học trò cũ tìm đến chật cả căn nhà nhỏ đầy sách. Ai cũng thương ông. Và sau câu hỏi thăm, ai cũng nói một câu giống nhau, như một con đường đã được vạch sẵn:

"Thầy ơi, sang Trung Quốc đi thầy. Bên đó có nhanh lắm. Bạn em làm rồi, chỉ cần vài tuần, có khi vài ngày là có gan cho thầy."

Một cậu học trò cũ đang làm trong ngành ghép tạng nói nhỏ với bà Mai: "Cô ơi, ở mình chờ thì không biết đến bao giờ, danh sách chờ dài lắm, có người chờ 2-3 năm không kịp. Sang kia chỉ cần có tiền là có. Tính mạng là trên hết cô ạ."

Tối đó, bà Mai ngồi bên giường ông, giọng bà run run, vừa van nài vừa dỗ dành.
"Mình nghe em một lần này thôi, được không? Mình đi đi. Mình còn sống được bao nhiêu năm nữa cũng là quý. Tiền bạc em lo được. Nhà cửa em bán. Con cái em sẽ nói. Mình mà có mệnh hệ gì, em biết sống ra sao?"

Ông Lâm nhìn vợ. Người đàn bà xinh đẹp ngày nào đã đi cùng ông gần bốn mươi năm cuộc đời, từ căn tập thể dột nát đến khi tóc cả hai đã bạc trắng. Ông thương bà vô cùng. Chính vì thương, ông phải nói thật lòng mình.

Ông ngồi dậy, rót hai chén trà, rồi thong thả nói, như khi ông giảng một bài khó cho sinh viên năm cuối.
"Mình à, anh đã quyết rồi. Anh sẽ không đi đâu cả".

Bà Mai sững người: "Sao? Sao lại từ chối? Mình chán sống rồi sao?"

"Không, chính vì anh muốn sống cho ra một con người đến phút cuối, nên anh mới từ chối."

Ông kể, hồi còn trẻ, ông từng có một mùa an cư ở một ngôi chùa nhỏ cùng sư cụ.

Sư cụ dạy:
"Thân xác này là vô thường, là vay mượn tứ đại. Đã biết là vay mượn, thì đến ngày phải trả. Đã biết là vô thường, thì sao phải cưỡng cầu? Thân như chiếc áo cũ, mặc đã sờn đã rách thì thay. Nhưng không thể đi giật áo của người khác đang mặc để mình được lành lặn."

Suốt đời ông thấm nhuần điều đó. Ông dạy học trò về lẽ vô thường, về nghiệp và lòng từ bi, nhưng đêm nay ông mới thực sự phải sống với nó.

"Mình nghĩ xem, một lá gan ở đâu ra mà họ có sẵn trong vài ngày?" - Ông nói khẽ - "Ở nước mình, anh biết, một ca hiến tạng phải chờ người cho chết não, gia đình người cho cũng phải nén đau đớn tột cùng mà ký vào tờ giấy hiến trong nước mắt. Đó là sự cho đi cao thượng nhất, là tình người trong tận cùng của mất mát. Nếu được nhận một lá gan như thế, anh sẽ mang ơn suốt đời, anh sẽ sống sao cho thật xứng đáng với cái ơn ấy."

"Nhưng còn một lá gan được hứa hẹn 'có ngay trong tuần' thì từ đâu ra? Ai là người cho? Họ có thực sự chắp tay tự nguyện nói 'tôi cho' không? Hay họ là những chàng trai đôi mươi còn khỏe mạnh, đang bị giam giữ đâu đó, và bỗng nhiên bị gọi đi 'kiểm tra sức khỏe', rồi không bao giờ trở về nữa?"

Giọng ông nghẹn lại. Ông đã đọc những báo cáo, những lời chứng khiến ông mất ngủ nhiều đêm. Ông không dám khẳng định điều gì to tát, nhưng với trực giác của một người học Phật, ông sợ. Ông sợ một lá gan đến từ một người không hề muốn cho, một người bị bắt buộc phải cho đi mạng sống của mình. Tội lỗi vô cùng.

"Nếu anh nhận lá gan đó, Mai à," - ông nắm tay vợ "thì anh có thực sự sống như một con người không? Hay chỉ là cố kéo dài sự sống cái thân xác rệu rã này bằng cách chấm dứt sự sống của một người khác? Mỗi nhịp đập của lá gan ấy trong bụng anh, sẽ hỏi anh mỗi đêm: 'Ông có xứng đáng không? Ông có ngủ yên được không?' Đó không phải là sự sống, đó là một món nợ máu mà anh không bao giờ trả được. Nó sẽ làm ô uế tất cả những gì anh đã dạy, đã sống."

Sáng hôm sau, ông gọi các con về, cùng bà Mai, ông đọc cho cả nhà nghe tờ di nguyện tự tay ông viết, nét chữ run run nhưng rõ ràng.

Ý nguyện của tôi, Nguyễn Văn Lâm:

1. Tôi xin được điều trị giảm nhẹ tại Việt Nam, không tìm nguồn tạng ngoài hệ thống hiến ghép nhân đạo, tự nguyện, minh bạch của Việt Nam. Tôi xin không sang nước ngoài ghép tạng theo diện hứa hẹn có tạng nhanh.

2. Vì tôi thấm nhuần lời Phật dạy về lẽ vô thường và nhân quả. Thân này có sinh ắt có diệt. Cưỡng cầu sự sống bằng cách làm ngơ trước nỗi oan khuất, sự không tự nguyện của người cho tạng, thì sự sống đó không còn là từ bi nữa. Tôi không muốn.

3. Tôi 68 tuổi, đã sống đủ đầy, không còn gì phải tiếc hay hổ thẹn. Xin cho tôi được trở về với cát bụi một cách tự nhiên, nhẹ nhàng. Tro cốt xin rải xuống con sông ở quê nhà .

Bà Mai đọc xong thì òa khóc, nhưng lần này bà không van xin nữa. Bà hiểu chồng mình. Người đàn ông này có thể nghèo, có thể bệnh, nhưng cả đời chưa bao giờ làm điều gì khuất tất để được lợi cho mình.

Ông không đi đâu cả. Ông vẫn sống trong căn nhà nhỏ đầy sách. Mỗi sáng, ông vẫn pha trà, tưới mấy chậu lan, đọc vài trang kinh Pháp Cú cho bà Mai nghe.
"Vui thay chúng ta sống, không hận giữa hận thù..."

Bạn bè đến thăm, thấy ông gầy đi nhanh nhưng mắt ông sáng và bình an lạ thường.

Học trò cũ ngồi quanh ông, ông giảng bài cuối cùng, không phải về triết học Tây phương nữa, mà chỉ nói về lòng bi mẫn.

Một buổi chiều tháng Chạp, trời Sài Gòn trở gió se se lạnh. Ông lên cơn đau bụng dữ dội rồi lịm dần đi trong vòng tay bà Mai và hai con.

Trước khi đi, ông nắm tay bà rất chặt, rồi buông ra rất nhẹ, như đang trả lại một thứ gì đã vay mượn.

Trên bàn thờ của ông sau này, bà Mai chỉ đặt một tấm di ảnh ông đang cười hiền, và tờ di nguyện đã ố vàng. Dưới cùng, ông đã viết thêm vào một dòng chữ nhỏ: "Đã sống một đời không hổ thẹn, thì ra đi cũng không sợ hãi."

Thi Anh



Tôi gặp Lan vào một buổi chiều cuối năm, khi cơn mưa bất chợt đổ xuống con đường đất đỏ dẫn vào xóm nhỏ ven sông. Năm ấy tôi mười sáu tuổi, còn Lan vừa tròn mười tám. Nhà Lan ở cuối con đường, cạnh một cây me già quanh năm rợp bóng. Ba Lan mất sớm, mẹ buôn bán ngoài chợ, một mình nuôi ba đứa con gái. Lan là chị cả, sau giờ học thường phụ mẹ bán hàng, tối về lại lo cơm nước, giặt giũ cho hai đứa em. Người trong xóm thường bảo con gái gì mà chịu thương chịu khó, chưa đến tuổi trưởng thành đã mang dáng dấp của một người đàn bà từng trải. Tôi thì chỉ nhớ đôi mắt Lan, lúc nào cũng hiền và buồn, như thể trong lòng có một điều gì muốn nói mà chẳng biết tỏ cùng ai.

Hôm ấy tôi đạp xe đi học về, thấy Lan đứng bên vệ đường, chiếc xe đạp cũ bị tuột sên. Tôi dựng xe xuống giúp. Lan nhìn tôi cười, nói: “Cậu nhỏ mà cũng biết sửa xe đạp hả?” Tôi trả lời: “Không biết thì học, chứ để chị đứng đây tới tối sao?” Lan bật cười. Đó là lần đầu tiên tôi nghe tiếng cười của cô, trong trẻo đến mức tôi cứ nhớ mãi suốt quãng đường về nhà. Từ hôm ấy, tôi thường kiếm cớ đi ngang nhà Lan. Khi thì hỏi mượn quyển sách, khi thì mang qua vài trái ổi trong vườn, có hôm chẳng có chuyện gì cũng đứng ngoài hàng rào nói vài câu rồi mới chịu về. Lan biết hết nhưng không bao giờ vạch trần. Cô chỉ cười, bảo tôi đúng là một thằng con trai rảnh rỗi.

Tình cảm tuổi học trò thường bắt đầu bằng những chuyện rất nhỏ. Một lần Lan đưa tôi chiếc khăn tay để lau vết mực trên áo. Một lần tôi chờ Lan tan chợ dưới cơn mưa chiều, hai đứa cùng đi chung chiếc áo mưa đã rách một bên vai. Có hôm Lan đem qua nhà tôi một chén chè đậu xanh, nói mẹ nấu dư. Tôi biết nhà Lan chẳng bao giờ có chuyện nấu dư, bởi ba mẹ con còn phải tính từng đồng tiền chợ. Nhưng tôi không nói gì, chỉ ăn hết chén chè rồi trả lại chiếc tô sạch sẽ. Những ngày tháng ấy bình dị đến nỗi tôi cứ nghĩ chúng sẽ kéo dài mãi mãi.

Năm tôi thi xong trung học, gia đình quyết định đưa tôi lên Sài Gòn học tiếp. Ngày đi, Lan đứng trước cổng nhà, trên tay cầm một gói nhỏ. Cô đưa cho tôi chiếc khăn tay ngày trước, đã được giặt sạch và thêu thêm hai chữ nhỏ ở góc khăn: “Bình an”. Lan nói: “Lên đó ráng học hành, đừng ham chơi. Khi nào có dịp thì về thăm nhà.” Tôi cầm chiếc khăn, định nói một câu gì đó nhưng cuối cùng chỉ gật đầu. Lúc xe lăn bánh, tôi nhìn qua cửa kính thấy Lan vẫn đứng đó. Cô không khóc, chỉ đưa tay vẫy nhẹ. Tôi đâu biết rằng có những cuộc chia tay tưởng như ngắn ngủi, nhưng lại kéo dài bằng cả một đời người.

Những năm tháng ở Sài Gòn cuốn tôi vào chuyện học hành, bạn bè và những ước mơ của tuổi trẻ. Tôi ít về quê hơn. Thỉnh thoảng nhận được thư Lan, chỉ vài dòng hỏi thăm sức khỏe, kể chuyện mẹ cô đau lưng, hai đứa em đã lớn và chuyện cây me trước nhà năm nay ra trái nhiều. Lan chẳng bao giờ hỏi tôi có nhớ cô không, cũng không nhắc đến chuyện tình cảm. Còn tôi, mỗi lần đọc thư lại thấy lòng mình xao xuyến, nhưng rồi những bận rộn của cuộc sống khiến tôi cứ lần lữa chưa viết thư hồi âm. Có lần một người bạn hỏi tôi đã có người yêu chưa, tôi cười bảo chưa. Nó hỏi tiếp: “Vậy mày đang chờ ai?” Tôi im lặng. Thật ra, chính tôi cũng không biết mình đang chờ điều gì.

Ba năm sau, tôi trở về quê trong một kỳ nghỉ ngắn. Lan lúc ấy đã hai mươi mốt tuổi, đẹp hơn ngày trước, nhưng đôi mắt vẫn mang nét buồn quen thuộc. Mẹ cô càng già yếu, hai đứa em đang tuổi ăn học nên Lan phải nghỉ học từ lâu, ở nhà phụ mẹ buôn bán. Tôi ghé thăm, Lan vui vẻ nấu cho tôi một bữa cơm. Món cá kho tiêu, canh chua bông súng và đĩa rau luộc chấm kho quẹt. Toàn những món bình thường nhưng tôi ăn ngon lành như thể chưa từng được ăn một bữa cơm nào ngon đến vậy. Lan ngồi đối diện, gắp thức ăn cho tôi rồi hỏi: “Trên đó có cô nào thương chưa?” Tôi cười: “Chưa, sao chị hỏi vậy?” Lan cúi xuống vành tô, nhẹ nhàng nói: “Thì người ta lớn rồi, cũng phải có người thương chứ.” Tôi nhìn cô, muốn nói rằng người tôi thương đang ngồi trước mặt, nhưng rồi lại thôi. Tôi sợ một lời nói vụng về sẽ làm thay đổi tình bạn đẹp đẽ mà chúng tôi đã gìn giữ bao năm.

Ăn cơm xong, Lan đem ra một bình trà nóng. Tôi và Lan ngồi ngoài hiên, nhìn những cơn gió chiều thổi qua hàng cau trước sân. Lan hỏi tôi: “Trên Sài Gòn sống có vui không? Chắc có nhiều bạn bè, nhiều chỗ đi chơi lắm hả?” Tôi cười: “Cũng bình thường thôi chị. Đông người nhưng đôi khi thấy buồn lắm.” Lan nhìn tôi, khẽ hỏi: “Có khi nào em nhớ quê không?” Tôi đáp: “Có chứ. Nhớ con đường đi học ngày xưa, nhớ dòng sông, nhớ cây me trước nhà chị, nhớ cả những bữa cơm chị nấu.” Lan bật cười: “Chỉ nhớ cơm thôi hả?” Tôi nhìn cô, nói đùa: “Còn nhớ người nấu nữa chứ.” Lan bỗng im lặng. Cô cúi xuống rót trà, nhưng tôi thấy hai vành tai cô đỏ lên.

Một lúc sau, Lan nhẹ nhàng nói: “Bình nè, chị hỏi thật, em có bao giờ nghĩ đến chuyện lập gia đình chưa?” Tôi đáp: “Có chứ, nhưng chưa gặp người nào khiến mình muốn gắn bó cả đời.” Lan nhìn ra sân, giọng nhỏ dần: “Vậy nếu có một người đã thương em từ lâu, nhưng người đó không biết phải nói thế nào, thì em nghĩ sao?” Tôi quay sang nhìn cô: “Người đó là ai vậy chị?” Lan cười buồn: “Thôi, coi như chị chưa nói gì. Chị chỉ hỏi vậy thôi.”

Tôi bỗng cảm thấy có điều gì đó trong lòng mình vừa được đánh thức. Tôi nhớ lại những lá thư Lan gửi, những lần cô hỏi thăm sức khỏe, những món quà quê cô dành dụm gửi lên Sài Gòn. Tôi nhớ cả những lần về phép, cô luôn tìm cách sang nhà, khi thì mang trái cây, khi thì đem ít bánh trái cho mẹ tôi. Có lẽ tình cảm ấy đã ở đó từ lâu, chỉ có tôi vô tâm đến mức không nhận ra.

Tôi đặt tách trà xuống, nhìn thẳng vào mắt cô: “Chị Lan, nếu người đó là chị thì sao?” Lan giật mình, bàn tay đang cầm ấm trà khựng lại. Cô nhìn tôi hồi lâu rồi cố cười: “Em đừng nói vậy. Chị lớn hơn em hai tuổi, lại chẳng có gì trong tay. Mẹ chị bệnh, hai đứa em còn đi học. Chị chỉ sợ mình làm vướng bận tương lai của em.” Tôi nắm lấy bàn tay cô, lần đầu tiên không còn xem cô là người chị hàng xóm ngày xưa nữa. “Em không cần chị phải có nhà cao cửa rộng hay tiền bạc gì cả. Em chỉ cần một người biết thương mình, biết cùng mình đi qua những lúc khó khăn. Mà người đó, em nghĩ mình đã tìm thấy rồi.”

Lan cúi mặt. Một giọt nước mắt rơi xuống mu bàn tay tôi. Cô khẽ nói: “Bình à, chị thương em nhiều lắm. Nhưng chị không dám mong gì. Chị sợ một ngày em trở về thành phố, gặp một cô gái trẻ đẹp hơn, có gia đình khá giả hơn, rồi em sẽ quên mất chị.” Tôi siết nhẹ tay cô: “Nếu em thật sự muốn quên chị thì hôm nay em đã không ngồi đây. Chị có biết không, ba năm qua em đã gặp rất nhiều người, nhưng chưa có ai khiến em thấy bình yên như khi ngồi bên chị thế này.”

Lan ngước lên nhìn tôi, đôi mắt long lanh. Tôi mỉm cười, nói thật chậm: “Lan à, từ nay em đừng gọi anh là Bình như ngày trước nữa. Hãy gọi anh là anh, được không?” Cô nhìn tôi, vừa ngạc nhiên vừa xúc động. Một lúc sau, cô khẽ gọi: “Anh ...anh Bình...” Chỉ hai tiếng đơn giản ấy thôi mà tôi thấy lòng mình ấm áp lạ thường. Tôi đưa tay lau nước mắt trên má cô rồi nói: “Còn anh, anh có thể gọi em là em được không?” Lan bật cười trong nước mắt: “Nếu ...anh .... anh ... muốn .”

Tối hôm đó, tôi về nhà mà lòng cứ lâng lâng như một đứa trẻ vừa nhận được món quà quý giá. Sáng hôm sau, tôi sang nhà Lan từ rất sớm, phụ cô dọn hàng ngoài chợ. Mấy bà bán hàng gần đó thấy tôi cứ quanh quẩn bên Lan thì cười hỏi: “Ủa, cậu Bình trên Sài Gòn về chơi hay về cưới con Lan vậy?” Lan đỏ mặt, còn tôi vui vẻ trả lời: “Dạ, nếu cô Lan chịu thì con xin cưới thật.” Cả khu chợ cười vang. Lan lấy chiếc khăn lau tay đánh nhẹ vào vai tôi, miệng mắng yêu: “Anh ... anh này, mới sáng ra đã nói bậy!”

Những ngày nghỉ còn lại, tôi dành hết thời gian ở bên Lan. Tôi đưa cô đi thăm mẹ, phụ cô đưa hai đứa em đi học, rồi cùng cô ra bờ sông ngồi ngắm hoàng hôn. Tôi nói với Lan rằng sau khi hoàn thành công việc trên Sài Gòn, tôi sẽ xin chuyển về gần quê để tiện chăm sóc gia đình. Lan không muốn tôi vì mình mà bỏ lỡ tương lai, nhưng tôi bảo: “Tương lai của anh không chỉ có công việc. Anh còn muốn có một mái nhà, có người chờ anh mỗi chiều đi làm về, có tiếng cười của con trẻ. Anh muốn những điều bình dị đó được xây dựng cùng em.”

Ngày tôi trở lại Sài Gòn, Lan tiễn tôi ra bến xe. Lần này cô không còn đứng lặng lẽ như ba năm trước. Cô nắm tay tôi, dặn dò đủ thứ, từ chuyện ăn uống đến chuyện giữ gìn sức khỏe. Trước khi xe chạy, tôi cúi xuống nói nhỏ: “Anh sẽ về sớm. Lần sau về, anh không chỉ đến thăm em nữa đâu.” Lan cười, hỏi: “Vậy anh về làm gì?” Tôi đáp: “Về xin mẹ em cho anh được làm chồng em.” Cô cười đến đỏ cả mặt, rồi quay đi lau vội khóe mắt.

Mọi việc sau đó diễn ra thuận lợi hơn tôi nghĩ. Công ty đồng ý cho tôi chuyển về chi nhánh tỉnh sau khi hoàn thành một năm công tác. Tôi cũng dành dụm được một khoản tiền nhỏ, đủ để sửa lại căn nhà cũ và lo cho cuộc sống sau này. Trong thời gian ấy, tôi thường xuyên về thăm Lan, phụ cô chăm sóc mẹ và giúp hai đứa em học hành. Dần dần, mẹ Lan cũng nhận ra tình cảm của chúng tôi. Một buổi tối, bà gọi tôi lại, nắm tay tôi rồi nói: “Bác già rồi, chẳng mong gì hơn ngoài việc con Lan tìm được một người thật lòng thương nó. Nó chịu cực từ nhỏ, chưa bao giờ nghĩ cho bản thân. Nếu con thương nó thật thì bác yên lòng.” Tôi xúc động đáp: “Dạ, con hứa sẽ không để Lan phải chịu thiệt thòi nữa.”

Đám cưới của chúng tôi được tổ chức vào một ngày đầu xuân. Không có nhà hàng sang trọng, cũng chẳng có đoàn xe rình rang. Chỉ là một buổi tiệc nhỏ trong sân nhà, dưới giàn hoa giấy mà Lan tự tay chăm sóc suốt nhiều năm. Bà con lối xóm đến dự đông đủ. Mẹ Lan ngồi ở hàng ghế đầu, nhìn con gái trong chiếc áo dài đỏ mà nước mắt cứ rưng rưng. Khi tôi trao nhẫn, Lan khẽ nói: “Cuối cùng em cũng được làm vợ anh rồi.” Tôi cười: “Em chờ anh lâu quá rồi, từ nay không phải chờ nữa.” Cô nhìn tôi, đôi mắt ánh lên niềm hạnh phúc.

Sau ngày cưới, cuộc sống của chúng tôi tuy không giàu có nhưng lúc nào cũng đầy ắp tiếng cười. Tôi đi làm, Lan tiếp tục buôn bán nhỏ ở chợ. Mỗi sáng cô dậy sớm nấu cho tôi bữa ăn, tối về hai đứa cùng nhau nấu cơm, chăm sóc mẹ và chuyện trò bên hiên nhà. Có những ngày công việc không thuận lợi, tiền bạc thiếu trước hụt sau, nhưng chúng tôi chưa bao giờ nặng lời với nhau. Lan thường nói: “Ngày trước em chỉ mong có một người để cùng mình chia sẻ những vui buồn trong cuộc sống. Bây giờ có anh rồi, em chẳng mong gì hơn nữa.” Tôi thường đùa: “Vậy em có hối hận vì lấy một người đàn ông nghèo như anh không?” Cô cười, đáp: “Nghèo tiền bạc thì được, chứ nghèo tình cảm là em không chịu đâu.”

Hai năm sau, gia đình tôi đón thêm một thành viên nhỏ. Đó là một bé gái có đôi mắt giống mẹ và nụ cười giống cha. Lan đặt tên con là An, với mong muốn cuộc đời con sau này luôn bình an, không phải trải qua những vất vả như mẹ ngày trước. Ngày tôi bế con trên tay, Lan nằm trên giường nhìn hai cha con, cười hạnh phúc. Tôi cúi xuống hôn trán vợ, nói: “Cảm ơn em đã đến bên anh.” Lan đáp: “Em phải cảm ơn anh mới đúng. Nếu ngày đó anh không chịu nhận lời em thì chắc em còn phải chờ dài dài.” Tôi bật cười: “Anh đâu có biết mình được người ta thương nhiều đến vậy.” Lan đưa tay véo nhẹ cánh tay tôi: “Đúng là đồ ngốc!”

Mười mấy năm sau, chúng tôi đã có một cuộc sống ổn định. Hai đứa con lớn lên khỏe mạnh, học hành chăm chỉ. Mẹ Lan được chăm sóc chu đáo, sống thêm nhiều năm trong tình thương của con cháu. Căn nhà nhỏ ngày xưa được sửa sang khang trang hơn, nhưng cây me trước sân vẫn được giữ nguyên. Mỗi buổi chiều, tôi thường ngồi uống trà dưới gốc cây, còn Lan lúi húi tưới mấy chậu hoa trước hiên. Có hôm tôi hỏi: “Lan này, em có nhớ ngày xưa anh gọi em bằng chị không?” Cô cười: “Nhớ chứ. Hồi đó em cứ nghĩ anh sẽ gọi em bằng chị suốt đời.” Tôi hỏi tiếp: “Vậy em có thích không?” Lan nhìn tôi, nụ cười dịu dàng: “Thích chứ. Nhờ làm chị mà em mới có cớ để gần gũi anh lâu như vậy.”

Tôi nắm lấy tay cô, nhìn mái tóc đã lấm tấm vài sợi bạc mà lòng đầy thương mến. Tôi nói: “Nếu được quay lại ngày đầu tiên gặp nhau, anh vẫn sẽ chạy đến hỏi em có cần sửa xe không.” Lan cười: “Còn em vẫn sẽ giả bộ làm hư xe để được anh giúp.” Chúng tôi cùng cười. Ngoài sân, nắng chiều rơi nhẹ trên những tán lá me, gió từ dòng sông thổi về mang theo mùi phù sa quen thuộc. Tôi chợt hiểu rằng hạnh phúc không nhất thiết phải là những điều lớn lao, cũng không cần phải có một cuộc đời hoàn toàn không sóng gió. Hạnh phúc đôi khi chỉ là sau bao nhiêu năm tháng, khi tóc đã bạc, chân đã chậm, vẫn có một người ngồi bên cạnh để cùng uống chung một ấm trà, nhắc lại những chuyện cũ và mỉm cười vì đã không bỏ lỡ nhau.

Tối hôm ấy, khi các con đã ngủ, Lan tựa đầu vào vai tôi, khẽ hỏi: “Anh có biết điều em vui nhất trong đời là gì không?” Tôi hỏi: “Là có hai đứa con ngoan, có nhà cửa đàng hoàng, hay là được anh thương chiều?” Lan lắc đầu: “Không phải. Điều em vui nhất là ngày ấy anh đã quay lại.” Tôi siết nhẹ bàn tay vợ, nói: “Còn điều anh biết ơn nhất là trong những năm tháng anh chưa biết mình cần ai, em vẫn ở đó, không trách móc, không rời bỏ.”

Ngoài kia, dòng sông vẫn lặng lẽ trôi qua bao mùa mưa nắng. Cây me già vẫn đứng trước sân, chứng kiến những đổi thay của một đời người. Tôi nhìn người phụ nữ đang tựa vào vai mình, chợt nhớ đến cô gái năm nào với đôi mắt buồn và nụ cười hiền hậu. Hóa ra, có những tình yêu chẳng cần bắt đầu bằng lời thề hẹn, cũng chẳng cần những điều lãng mạn xa hoa. Chỉ cần hai người đủ chân thành, đủ kiên nhẫn và biết nắm lấy tay nhau đúng lúc.

Ngày xưa em gọi anh bằng Bình, anh gọi em bằng chị. Bây giờ tóc đã bạc màu, anh gọi em là em, và em gọi anh là anh. Có lẽ đó chính là điều đẹp nhất của một cuộc tình: Đi qua bao nhiêu năm tháng, cuối cùng vẫn tìm được một người để gọi bằng hai tiếng thân thương - vợ chồng.

Jimmy Nguyen
Ở MỸ KHỔ LẮM

Đó là những lời than phiền tôi thường gặp trên mạng.

Con người nhiều khi ba phải lắm. Trước khi được qua Mỹ thì đi chùa, đi nhà thờ cầu nguyện cho được trót lọt khi đi phỏng vấn để có được cái visa qua Mỹ. Trước khi đi thì nhủ lòng: khi qua được bên đó thì cố gắng đi làm để lo cho tương lai, không những cho mình mà cho con cháu sau này. Thế nhưng khi qua đây được vài năm thì than khổ, than cực. Có công việc nào trên đời này mà nhàn hạ đâu? Từ bác sĩ cho đến kỷ sư hay bất cứ thành phần nào trong xã hội mà đi làm như đi chơi đâu? Công việc nào cũng có cái cực của nó.

Theo bình thường thì nếu đi làm cho bất cứ companies nào của Mỹ thì chỉ làm có tám tiếng một ngày, một tuần 40 tiếng, nghỉ hai ngày một tuần. Còn làm hơn thì họ phải trả tiền thêm, nhưng hiếm lắm họ mới bắt mình làm thêm. Phần đông người làm một ngày tám tiếng thì được nghỉ mệt ba lần. Một lần nữa tiếng và hai lần 15 phút đó là căn bản hầu hết là như vậy, còn như có những công việc khác như nhà hàng Tàu hay tiệm nail thì lại khác vì phần đông họ không theo đúng luật nên bây giờ mới bị bắt nhiều vì trốn thuế chứ làm cho Mỹ thì đâu vào đó. Thuế nào cũng phải đóng không bao giờ họ dám làm gian dối.

Nếu mà làm việc đúng luật một ngày tám tiếng nghỉ hai ngày một tuần thì chẳng có gì mệt cả mà than thở.

Tôi sống ở Mỹ đã hơn 51 năm vẫn thấy nước Mỹ là một nơi đáng để sống vì ở đây chỉ cần chịu khó một xíu, một gia đình hai vợ chồng đi làm chục năm thì cũng có của ăn, của để, nhà cửa đàng hoàn. Con cháu học hành đến nơi đến chốn. Cuộc sống như vậy còn than phiền gì nữa. Mỗi ngày trên thế giới này có biết nao nhiêu người đang đợi cái visa để qua Mỹ. Qua được đây rồi bố bảo lãnh con, con bảo lãnh vợ, rồi bảo lãnh luôn cả chị em. Khổ thế sao còn kéo cả gia đình qua bên này làm chi vậy?

Ở đây là một đất nước dễ cho ta vươn lên, từ học vấn cho đến việc làm chỉ chịu khó, chịu cực một chút thì tương lai sẽ tốt đẹp hơn. Ở đây tôi thấy gia đình nào mà có vợ, có chồng đầy đủ, một gia đình hạnh phúc thì phần đông người nào cũng có nhà cửa đàng hoàng. Con cái toàn là bác sĩ, kỷ sư, tiến sĩ là chuyện bình thường. Còn như chúng ta thường thấy trên mạng những thành phần :
"home less" vô gia cư là một số rất ít mà thôi. Vì hoàn cảnh, hay cờ bạc nghiện ngập mà ra. Chứ người chịu khó làm ăn trong mọi hoàn cảnh thì tương lai sẽ vững vàng khá giả hơn là cái chắc.

Ở nước Mỹ này công việc đầy rẫy. Tìm một công việc nào hơp với mình thì làm cho đến già thôi, còn làm hay không là tùy theo từng người. Đừng đứng núi này mà trông núi nọ thì phiền lắm. Tụi trẻ thì còn đi học được chứ ở cái tuổi xồn..xồn..mà qua bên này thì chỉ có chịu khó đi cầy mà thôi.

Cuộc sống ở đây đã tạo cho ta một cơ hội để vươn lên bao nhiêu người mong muốn mà không được. Những lời than thở nào là ở Mỹ cực lắm này kia, nhưng có ai chịu bỏ nước Mỹ để trở về không? Những người trở về Việt Nam sống là những người đã về hưu thôi chứ bình thường ai mà chịu bỏ nơi đây để về.

Đã hơn năm thập niên trôi qua rồi, đối với tôi nước Mỹ vẫn là tuyệt vời không chê vào đâu được. Từ con người cho đến công ăn việc làm, và cả về y tế thì khỏi nói. Không khí lại trong lành. Loài vật thiên nhiên vẫn còn tồn tại. Cuộc sống không phải lo từng bữa cơm. Đồ ăn thì quá dư thừa. Một cuộc sống như vậy mà chúng ta còn than thở gì nữa? Cứ yên phận mà sống cho tương lai, vì có đi đến đâu thì cũng chưa chắc tốt đẹp bằng ở đất nước này. Nước Mỹ đã cho tôi những thứ tốt đẹp nhất mà hồi nhỏ tôi vẫn thường mơ ước. Với tôi nước Mỹ là một ân nhân mà suốt đời này tôi không bao giờ quên ơn

Dung Dinh
ĐIỀU KỲ DIỆU CỦA TÌNH YÊU

Tôi có một người hàng xóm ở nhà vườn, bà Eva. Ba mùa hè trước, bỗng nhiên bà không đến chăm sóc những luống hoa và khoảnh vườn yêu thích của mình nữa. «Bị đột quỵ rồi» – cô con gái buồn bã nói.

Hai năm trước, bà Eva trở lại nhà vườn. Trông bà hoàn toàn khác lạ. Gầy đi một nửa, mặt tái xám. Trí tuệ và lời nói đã hồi phục hoàn toàn. Chân đi lại tạm ổn. Nhưng đôi tay thì rũ xuống như những cành liễu. Tay trái vẫn còn co gập được chút ít ở khuỷu tay và nắm lại thành một nắm đấm ngập ngừng, còn tay phải thì hoàn toàn vô vọng.

Bà thẫn thờ đi lang thang khắp khu vườn và chẳng biết làm gì với bản thân. Ngoài người cháu trai, bà có ba niềm vui trong cuộc sống: vườn tược, thủ công mỹ nghệ và làm đồ hộp dự trữ. Thế mà cơn đột quỵ chết tiệt lại tước đoạt đi cả ba thứ đó... Hàng xóm động viên bà hết sức có thể. Hết người này đến người khác, họ kể đi kể lại những câu chuyện về người họ hàng xa của đồng nghiệp anh họ của chú họ, người không chỉ bị đột quỵ thông thường mà là một trận đột quỵ khủng khiếp kinh hoàng. «Và bạn đoán xem, đã phục hồi hoàn toàn đấy! Không phải ngay lập tức đâu, vâng, phải mất khoảng năm năm, nhưng cơ thể con người là một thứ kỳ diệu, cho nên bà Eva ạ, đừng mất hy vọng!».

Mùa hè năm ngoái, bà Eva vẫn ngồi thừ trên bậc thềm hoặc lang thang ngoài vườn. Bất chấp núi thuốc men và các liệu trình vật lý trị liệu phức tạp, trong suốt một năm, bà chỉ học được cách kẹp thìa vào lòng bàn tay trái và với bao chật vật mới đưa được lên miệng. «Đừng kỳ vọng nhiều quá» – các bác sĩ bảo với người con gái.

Mùa hè năm nay, gia đình chúng tôi không về nhà vườn. Chúng tôi đưa con đi biển sau khi cháu đỗ đại học thành công. Mãi đến cuối tháng Tám chúng tôi mới ra vườn để hái táo hái lê. Việc đầu tiên tôi nhìn thấy – ở khu đất bên cạnh, bà Eva đang nhóm lò nướng dã chiến trong sân và nấu mứt. Một tay khuấy, tay kia giữ nồi. Trông bà có vẻ tươi tắn hơn, mặc bộ đồ thể thao rực rỡ, hình như còn trang điểm nhẹ. Cả nhà chúng tôi chạy sang: chúc mừng bà đã phục hồi thành công, hỏi han đủ điều... Còn bà Eva thì bảo: «Chẳng có phép màu phục hồi nào cả. Nữ y tá cấp cứu đã chữa khỏi cho tôi. Chỉ trong một đêm giao thừa».

Câu chuyện diễn ra kỳ diệu và đáng sợ như thế đấy (tôi không rành y học lắm, viết lại theo lời kể của bà).

Đêm giao thừa, gia đình bà Eva quyết định đón năm mới ngay tại ngôi nhà vườn này. Mới mùa hè năm trước, ngôi nhà đã được cách nhiệt, phòng lò sưởi cũng được xây xong, thế nên họ muốn đến ở thử để "khai trương". Đến nơi, họ trang trí cây thông, bày biện bàn ăn, bật ti vi. Con gái và con rể đang chuẩn bị nấu nướng, cháu trai đang loay hoay chơi đồ chơi dưới sàn rồi ngủ thiếp đi, bà cũng chợp mắt trên ghế bành. Mọi người gọi cháu dậy để ăn tối, nhưng cháu không tỉnh dậy. Và rồi người con gái hét lên: «Nó không thở nữa!».

Sau đó, bà Eva nhớ mọi thứ mờ ảo như trong sương mù. Bà nhớ mình đã đứng ở ngưỡng cửa và cầu nguyện rằng nếu cháu trai chết, bà xin được chết cùng thằng bé. Nhớ cảnh con gái khóc nức nở, con rể lúc thì làm hô hấp nhân tạo, lúc thì ép tim ngoài lồng ngực, và họ hoàn toàn không biết liệu thằng bé có còn thở dù chỉ một chút hay đã ngừng hẳn. Nhớ khoảng thời gian chờ xe cấp cứu dài vô tận. Nhớ khoảnh khắc cuối cùng họ cũng đến và bắt đầu làm gì đó với đứa trẻ.

Bỗng nhiên, từ trong làn sương mờ hiện lên khuôn mặt nghiêm nghị của nữ y tá trẻ. «Hãy nghe cho kỹ đây, – cô ấy nói bằng giọng nghiêm khắc, – tôi sẽ giải thích nhanh thôi, giờ chỉ trông chờ vào một mình bác. Bác thấy bố mẹ nó đang ở trạng thái nào không? Còn bác là người lớn tuổi, nghiêm túc. Bây giờ họ đi cùng chúng ta vào bệnh viện, còn bác hãy lấy giấy, bút, ngồi vào bàn và viết thật chi tiết về ngày hôm nay của cháu trai bác. Cháu ngủ thế nào, thức dậy lúc nào, ăn gì và ăn vào lúc nào, chơi trò gì, có dấu hiệu bất thường nào không, bác có nhận thấy điều gì lạ không. Tất cả, tất cả những gì bác nhớ được. Đối với việc chẩn đoán bệnh, không có chi tiết nào là nhỏ nhặt cả. Sáu giờ sáng mai, bác đem ra bốt gác, xe cấp cứu của chúng tôi đi qua sẽ lấy và mang đến bác sĩ điều trị. Bác hiểu tôi nói gì chưa?». Bà Eva gật đầu. Chà, sao nữ y tá có thể biết được tay bà không hoạt động cơ chứ? Hơn nữa, điều đó cũng chẳng phải là lời bào chữa. Vì sự sống của cháu trai, bà sẵn sàng dùng chân, dùng răng, dùng mũi, dùng máu của chính mình – viết bất cứ thứ gì và ở bất kỳ đâu.

Bà thử dùng răng cắn. Rồi cũng thử kẹp chiếc bút giữa các ngón chân. Không được. Bà đành nhét tạm một cây bút chì đỏ to vào nắm tay trái đang cứng đơ không nghe lời. Bà bắt đầu cố gắng nguệch ngoạc từng chữ cái. Sang đến giờ thứ tư trong sự tuyệt vọng hoàn toàn vì không có tin tức gì (đêm giao thừa, mạng di động bị nghẽn), cánh tay phải bắt đầu co giật từ khuỷu tay. Sau đó, bàn tay phải khum lại thành hình chụm các ngón. Bà Eva chuyển chồng giấy sang bàn trà, dùng một cuốn sách dày chặn góc lại và bắt đầu vẽ những Chữ Cái Cực Kỳ To, một tay nắm bút, tay kia đẩy phụ vào.

Sáu giờ sáng, nữ y tá lại đến. Cô ấy lo lắng cho tình trạng của bà Eva. Bà đứng đó, bất động, khuôn mặt lúc thì trắng bệch, lúc thì xám ngoét, lúc lại xanh mét. Lỡ đâu cơn đau tim hay đột quỵ lại ập đến vì quá lo lắng. Cô ấy đâu có biết là bà đã bị đột quỵ từ trước rồi. Thế nên cô mới nghĩ ra cách bắt người cao tuổi phải bận rộn suốt cả đêm. Và đây là những gì cô nhìn thấy: bà cụ đang còng lưng gập người sát bàn trà, cầm cây bút chì trông giống như gậy đánh gôn, đang viết ra những chữ cái khổng lồ và khóc ròng thành tiếng. Bởi vì mọi thứ diễn ra quá chậm chạp, tay thì đau buốt khủng khiếp, rồi thắt lưng, đầu và cả mắt nữa. Chỉ một tiếng nữa là phải mang bệnh án ra bốt gác, vậy mà bà mới chỉ ghi lại được ngày của cháu trai từ bảy giờ sáng đến giữa trưa.

Và thằng bé vẫn còn sống và đang thở. Bác sĩ tìm thấy một khối polyp ở cổ họng, đã cắt bỏ, nhưng mọi thứ vẫn chỉ mới bắt đầu. Lỡ như sau khi thuốc mê tan cháu không tỉnh lại thì sao. Lỡ như kết quả xét nghiệm khối polyp đó có vấn đề gì thì sao. Bố mẹ cháu sẽ còn phải quẩn quanh trong bệnh viện dài dài. Nữ y tá lúc này đã hiểu hết mọi chuyện về cơn đột quỵ, còn bà cụ thì bảo rằng, trong lúc cố gắng viết lách, cánh tay phải đã cử động lại được một chút rồi. Nữ y tá tiêm cho bà một mũi hạ huyết áp và dịu dàng nói: cháu trai của bác vẫn sống, nhưng vẫn phải tiếp tục điều trị. Bây giờ tôi sẽ cầm mấy tờ giấy này đi, còn bác hãy nghỉ ngơi đi, giờ thì không còn vội nữa đâu. Đợi nghỉ ngơi xong, bác cứ viết tiếp nhé, cứ viết tiếp đi. Điều này chắc chắn sẽ rất hữu ích cho bác sĩ.

Cô gái ấy không tiếc thời gian, tìm gặp bố mẹ đứa bé ở bệnh viện và bảo họ rằng: mẹ bị đột quỵ của các anh chị đã viết cho tôi cả một cuốn biên niên sử suốt cả đêm, và cánh tay kia của bà đã cử động lại được rồi đấy. Anh chị hãy chú ý nhé, hãy nói với bác sĩ đang trực tiếp làm vật lý trị liệu cho bà, và cứ để bà ấy tiếp tục viết. Chúc mọi thứ tốt đẹp, chúc mừng năm mới...

Và thế là tám tháng trọn vẹn đã trôi qua... Cháu trai vẫn sống và khỏe mạnh, đang phóng xe scooter khắp khu nhà vườn. Bố cậu bé, sau những trải nghiệm sâu sắc, đã tham gia các khóa học sơ cấp cứu đặc biệt. Còn bà Eva trong suốt mùa xuân đã chép lại bằng chữ in tác phẩm «Ruslan và Ludmila» cùng vài chục bài thơ, tô màu cho rất nhiều bức tranh bằng bút chì màu, thậm chí còn tập viết được một chút theo mẫu của học sinh lớp một.

Cơ thể con người quả thực là một cỗ máy phức tạp, nhưng không cần đến những phép màu siêu nhiên. Việc chải tóc và làm đẹp cho bà Eva vẫn cần sự giúp đỡ của con gái. Nâng vật nặng – đã có con rể. Nhưng tự mình chơi xếp hình và đồ chơi lắp ráp với cháu, nấu mứt, và quan trọng nhất là tự mặc và cởi quần áo, tự tắm giặt và đánh răng thì bà đã có thể tự làm được rồi. Thậm chí chữ viết của bà hiện giờ còn chẳng thua kém gì chữ của đứa cháu trai.

Hôm đó bà dùng vá múc nước mơ chua ngọt từ nồi lớn ra để đãi chúng tôi. Bà chạm cốc với chúng tôi và uống cạn một hơi mà không làm sánh hay rơi giọt nào. Xin Thượng đế ban cho bà Eva trường thọ và sức khỏe dồi dào. Xin Thượng đế ban cho mọi đứa cháu trên đời một người bà như thế. Và lúc đó, chúng tôi uống vì nữ y tá Svetlana. Uống nước mơ thôi, vâng, vì sau khi đột quỵ thì không được uống rượu bia. Đêm hôm đó Svetlana không chỉ cứu sống đứa cháu của bà mà còn cứu cả người bà của cháu. Thế nên, lạy Thượng đế kính yêu, xin Người hãy ban cho cô ấy tất cả, tất cả, tất cả những gì tuyệt vời nhất, và thật nhiều những điều hơn thế nữa...
*
(LĐH* st & dịch)

Phiếm

Mùa thu có một thói quen khá kỳ lạ. Nó khiến người ta dễ mềm lòng trước những gì đã cũ, nhưng cũng đủ lạnh lùng để nhắc nhở rằng chẳng có điều gì trên cõi đời này được quyền tồn tại mãi chỉ vì nó từng huy hoàng. Có những chiếc lá phải lìa cành để một mùa xanh khác bắt đầu. Có những bức tường phải được tháo xuống để nhường chỗ cho một công trình xứng đáng hơn. Và cũng có những con người, sau khi đi qua những hành lang quyền lực, mới chợt nhận ra rằng thứ khó xây dựng nhất trên đời không phải một tòa lâu đài, mà là một di sản đủ sức đứng vững trước sự bào mòn của thời gian.

Tôi vốn có một niềm say mê khá đặc biệt với những công trình kiến trúc cổ. Không hẳn vì sự lộng lẫy của những chùm đèn pha lê, những cầu thang bằng đá cẩm thạch hay những hàng cột vươn cao đầy kiêu hãnh, mà bởi tôi luôn nghĩ, đằng sau mỗi công trình đẹp là một giấc mơ từng được ai đó can đảm đặt xuống mặt đất bằng gạch đá, bằng tài năng và đôi khi bằng cả những tham vọng rất con người. Những tòa nhà, suy cho cùng, cũng có số phận như chúng ta. Có nơi sinh ra để được ngưỡng mộ, có nơi tồn tại chỉ để người đời đi ngang, và có những công trình, dù chủ nhân đã khuất bóng từ lâu, vẫn ung dung đứng đó như một lời tuyên bố rằng cái đẹp chân chính không bao giờ cần đến nhiệm kỳ.

Là người được sanh ra và lớn lên ở Sài Gòn ...Tôi luôn nhớ đến Dinh Độc Lập ngày xưa, một công trình mà mỗi lần nhìn lại, trong lòng tôi vẫn dâng lên một niềm cảm phục và tự hào khó diễn tả.... và ít ai còn hình dung được rằng trước khi những đường nét thanh thoát của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ hiện diện trên đại lộ Thống Nhất, nơi ấy từng là Dinh Norodom, một dinh thự mang dáng dấp quyền uy của nước Pháp thuộc địa, được khởi công từ năm 1868. Gần một thế kỷ đứng giữa những biến thiên của lịch sử, công trình ấy cuối cùng cũng không thoát khỏi định mệnh khi bị hư hại nặng trong biến cố năm 1962. Và rồi, từ những đổ vỡ ấy, một quyết định táo bạo đã được đưa ra: không chắp vá quá khứ, mà kiến tạo một diện mạo mới cho tương lai. Người được trao cây bút vẽ nên diện mạo ấy là Ngô Viết Thụ, vị kiến trúc sư Việt Nam từng đoạt Giải thưởng La Mã danh giá. Ông đã không mang nguyên một cung điện Versailles về đặt giữa Sài Gòn, cũng chẳng để những đường nét hiện đại phương Tây nuốt chửng tâm hồn Á Đông. Ông chọn một con đường tinh tế hơn: để hai nền văn hóa gặp nhau trong sự hài hòa, nơi những bức rèm hoa đá biết đón nắng, những hành lang biết giữ gió, và những khoảng không gian rộng mở vẫn thấp thoáng triết lý phương Đông về sự cân bằng, nhân hòa và chính đại quang minh. Đến năm 1966, Dinh Độc Lập hoàn thành. Một công trình không chỉ được dựng lên bằng bê tông cốt thép, mà bằng lòng tự tôn của một thời đại muốn tự mình định nghĩa lấy diện mạo quốc gia. Tôi thường nghĩ, nếu ngày ấy người ta chỉ biết tiếc nuối những bức tường cũ, sợ hãi những lời dị nghị, hay bằng lòng với vài lớp sơn phủ lên những vết nứt của quá khứ, thì liệu hôm nay Sài Gòn có được một di sản kiến trúc đặc biệt đến thế hay không? Đôi khi, muốn giữ lại điều gì cho lịch sử, người ta phải đủ can đảm để không giữ lại tất cả những gì thuộc về quá khứ.

Và có lẽ cũng từ suy nghĩ ấy, tôi nhìn những đổi thay đang diễn ra tại Washington D.C. dưới thời Tổng thống Donald Trump bằng một cảm xúc khá khác với những tiếng ồn ào trên truyền thông. Tôi không biết có bao nhiêu người thực sự quan tâm đến kiến trúc khi họ tranh cãi về việc tu sửa Tòa Bạch Ốc, hay phần đông chỉ đang nhìn những bức tường qua màu sắc của lá phiếu mình đã chọn. Bởi trong chính trị, đôi khi một chùm đèn pha lê cũng có thể trở thành vấn đề ý thức hệ, nếu người treo nó mang một cái tên mà thiên hạ không ưa. Donald Trump xuất thân từ thế giới của những tòa cao ốc, những khách sạn xa hoa, những đại sảnh rực rỡ ánh đèn và những công trình mà ông luôn muốn người ta phải ngước nhìn. Cái gu thẩm mỹ ấy có thể khiến người này say mê, người kia nhăn mặt, nhưng nó là một phần rất rõ trong con người ông: sự ưa chuộng vẻ huy hoàng, tính biểu tượng và những dấu ấn hữu hình. Khi bước vào Tòa Bạch Ốc, ông mang theo cả cách nhìn ấy. Với Trump, nơi này không đơn thuần là một dinh thự để cư ngụ trong vài năm ngắn ngủi, mà là bộ mặt của một siêu cường, nơi những vị quốc vương, tổng thống và nguyên thủ thế giới được đón tiếp trong một không gian phải đủ trang trọng để nói lên vị thế của nước Mỹ, ngay cả trước khi những lời chào ngoại giao đầu tiên được cất lên.

Từ ý tưởng ấy, dự án State Ballroom ra đời, một đại lễ đường quy mô lớn được dự kiến xây dựng tại khu Cánh Đông của Tòa Bạch Ốc, thay cho những không gian tiếp tân vốn nhiều lần phải sử dụng lều tạm để phục vụ các quốc yến đông khách. Rồi Vườn Hồng lịch sử được thay đổi diện mạo với khoảng sân lát đá sáng màu, những bức tượng các nhân vật lập quốc được đưa vào không gian cảnh quan, những chi tiết trang trí cổ điển được bổ sung trong các căn phòng nghi lễ. Bên ngoài khuôn viên Tòa Bạch Ốc, dấu ấn kiến thiết ấy còn vươn đến hồ Lincoln Memorial Reflecting Pool, nơi mặt nước trải dài giữa Đài tưởng niệm Washington và Đài tưởng niệm Lincoln được cải tạo với lớp phủ xanh mới, dù cũng làm dấy lên những tranh luận về việc bảo tồn vẻ nguyên bản.

Xa hơn nữa là những kế hoạch chỉnh trang các sân golf công cộng tại Washington, đặc biệt là East Potomac Golf Course, cùng ý tưởng dựng một khải hoàn môn và khu vườn tôn vinh những nhân vật có đóng góp cho lịch sử Hoa Kỳ. Có công trình đã thành hình, có dự án vẫn còn nằm trên bản vẽ hoặc đang vướng những tranh chấp pháp lý. Nhưng đặt chúng cạnh nhau, người ta có thể nhận ra một tham vọng khá nhất quán: TT Trump muốn để lại dấu ấn của mình không chỉ trong những văn kiện chính trị, mà cả trên diện mạo hữu hình của thủ đô nước Mỹ. Tôi không cho rằng mọi thay đổi ấy đều mặc nhiên hoàn hảo. Một công trình muốn trở thành di sản phải vượt qua nhiều thử thách hơn sự hào nhoáng ban đầu. Nhưng tôi vẫn trân trọng cái tư duy nhìn xa hơn chiếc ghế mình đang ngồi. Bởi quyền lực, suy cho cùng, cũng giống như một căn phòng khách sạn sang trọng. Người ta có thể bước vào với tất cả sự kiêu hãnh, nhưng đến ngày trả phòng, chẳng ai được mang theo những bức tường. Điều đáng nói là trước khi rời đi, người ta đã làm gì để nơi ấy trở nên xứng đáng hơn với những người đến sau.

Ấy vậy mà giữa những tranh luận về thẩm mỹ, tôi lại bắt gặp một lời châm biếm của cựu Tổng thống Barack Obama trong một cuộc vận động tại Ohio. Ông ví phong cách trang trí của Trump tại Tòa Bạch Ốc với hình ảnh "Saddam Hussein mở một nhà hàng Cheesecake Factory". Tôi đọc đến đó, nhấp một ngụm cà phê và bật cười muốn té ghế ..... lol Quả là một lối ví von khá đắt theo kiểu sân khấu chính trị Mỹ, đủ cay để khán giả bật cười và đủ ngắn để truyền thông tha hồ khai thác. Chỉ tiếc rằng sự dí dỏm đôi khi cũng là một thứ trang sức khá nguy hiểm. Đeo đúng chỗ, nó khiến người ta duyên dáng; đeo quá nhiều, nó dễ khiến người ta quên mất chiếc gương đang ở ngay trước mặt. Bởi tại Chicago, ông Obama cũng có một công trình mang dấu ấn của riêng mình: Obama Presidential Center, một tổ hợp kiến trúc trị giá hàng trăm triệu đô-la, nổi bật với khối tháp đá xám đồ sộ, những mảng tường gần như khép kín và những đường nét góc cạnh đầy vẻ nghiêm nghị. Người yêu kiến trúc hiện đại có thể nhìn thấy ở đó sự táo bạo và triết lý tối giản. Nhưng thú thật, với tôi, công trình ấy gợi nhiều liên tưởng đến một pháo đài lạnh lẽo hơn là một nơi lưu giữ những ký ức đẹp. Thậm chí Bộ trưởng Bộ Tài Chính Scott Bessent còn hài hước gọi nó là lăng mộ Darth Vader. Tôi không biết ông Obama có thấy thú vị trước cách ví von ấy hay không, nhưng cuộc đời quả có những sự trùng hợp khá tinh quái: người ta có thể rất rộng lượng với những khối bê tông xám xịt của chính mình, nhưng lại trở nên khắt khe lạ thường trước những chùm đèn pha lê của người khác. Có lẽ cái đẹp không đáng trách. Điều đáng suy ngẫm là khi con người bắt đầu nhầm lẫn sở thích cá nhân với tiêu chuẩn của sự cao quý. Một tòa nhà không trở nên thanh lịch chỉ vì chủ nhân của nó nói năng nhẹ nhàng, cũng như một đại sảnh không bỗng nhiên trở thành thô tục chỉ vì người xây dựng nó có cá tính ồn ào. Đá vẫn là đá, vàng vẫn là vàng, và ánh sáng, may thay, chưa bao giờ phải trình thẻ đảng viên trước khi bước qua một khung cửa.

Tôi vẫn tin rằng di sản không phải thứ có thể mua được bằng tiền bạc, càng không thể xây dựng chỉ bằng tham vọng. Những bạo chúa trong lịch sử cũng từng sở hữu những cung điện nguy nga, nhưng không phải cung điện nào cũng được hậu thế cúi đầu ngưỡng mộ. Một công trình chỉ thực sự trở thành di sản khi nó vượt qua được cái tôi của người tạo dựng để thuộc về ký ức chung của một dân tộc. Donald Trump rồi sẽ rời Tòa Bạch Ốc. Barack Obama cũng đã bước ra khỏi những hành lang quyền lực từ lâu. Những tràng pháo tay, những tiếng cười chế nhạo và cả những cuộc tranh cãi hôm nay rồi sẽ lắng xuống như bụi trên những bậc thềm cũ. Nhưng những công trình họ để lại, nếu đủ giá trị, vẫn sẽ đứng đó, âm thầm kể câu chuyện của một thời đại. Và tôi lại nhớ về Dinh Độc Lập ở Sài Gòn, về những hàng cây xanh trên đại lộ Thống Nhất, về những nét vẽ tài hoa của Ngô Viết Thụ đã đi qua hơn nửa thế kỷ thăng trầm mà vẫn giữ được vẻ điềm nhiên của mình. Một chính quyền có thể đi vào lịch sử bằng những quyết định chính trị, nhưng một công trình đẹp có thể bước ra khỏi chính trị để trở thành tài sản tinh thần của cả một dân tộc. Đó là lúc kiến trúc thôi phục vụ quyền lực để bắt đầu thuộc về văn hóa.

Chiều thu rồi cũng sẽ tắt nắng. Những chiếc lá cuối mùa sẽ rơi xuống các bậc thềm nhường chổ cho cái lạnh sang mùa , bất kể nơi ấy là một dinh thự ở Sài Gòn, một đại sảnh tại Washington hay một khối kiến trúc bê tông xám trầm ở Chicago ... Và khi những tiếng ồn ào của hôm nay đã chìm vào quên lãng, lịch sử sẽ tự mình phân định đâu là vẻ đẹp trường tồn, đâu chỉ là sự phù hoa nhất thời. Bởi sau cùng, một câu châm biếm có thể khiến cả hội trường đứng dậy vỗ tay, nhưng một di sản xứng đáng mới có thể khiến hậu thế dừng chân, ngẩng đầu và lặng người chiêm ngưỡng. Tiếng cười thuộc về khoảnh khắc. Còn sự kính trọng, phải để thời gian tự nó quyết định.

Vđh

Blog Archive