Tuesday, November 3, 2026

Một người Nhật sống dưới gầm cầu hỏi tôi có cô đơn không?

Có một câu hỏi tôi đã trả lời rất qua loa, dù người hỏi lại là người tôi muốn gặp lại nhất trong những ngày ở Tokyo. Ông là một người vô gia cư sống dưới gầm cầu bên sông Sumida. Tối đó, ông hỏi tôi có cô đơn không. Tôi bảo cũng có chút chút. Ông cười, không hỏi thêm.

Mãi về sau tôi mới nhận ra, trong 2 người ngồi dưới gầm cầu hôm ấy, chưa chắc ông đã là người cô đơn hơn.

Dạo ấy tôi vừa từ chức, quay lại Tokyo, tự cho mình 2 tuần để nghĩ xem tiếp theo sẽ làm gì. Mấy ngày đầu khá dễ chịu. Sáng ngủ tới khi tự thức, đói thì ghé quán quen, ăn xong đi bộ loanh quanh. Tôi vốn ít nói, cũng quen đi một mình. Tôi có vài người bạn Nhật, lâu lâu gặp nhau uống bia, dần dần không còn bạn người Việt.

Đã lâu rồi tôi không ngồi nói tiếng Việt với ai cho ra một câu chuyện. Có những buổi tối, tôi nhận ra cả ngày mình chưa nói một câu tiếng Việt nào. Tôi mở máy tính viết đôi dòng, chuyện mình từng gặp, có khi là một ý nghĩ còn dang dở. Tôi viết cho mình, chẳng có ai chờ đọc. Có những chuyện để trong đầu mấy ngày vẫn chưa rõ, tới khi viết xuống mới biết vì sao mình cứ nghĩ hoài về nó.

Buổi tối cuối tháng 12 ấy, tôi đi dọc bờ sông Sumida. Tokyo đã lên đèn, gió từ mặt sông thổi lên lạnh đến mức tôi phải đút cả 2 bàn tay vào túi áo khoác. Dưới chân cầu, một người đàn ông ngoài 60 đang cúi buộc lại góc tấm bạt che chỗ ngủ. Mấy thùng giấy được kê cao khỏi mặt đất, đôi giày đặt ngay ngắn bên cạnh. Tôi đi ngang một đoạn, thấy máy bán nước tự động nên mua 2 lon ca cao nóng, đem một lon lại cho ông. Ông ngẩng lên, chỉ vào ngực mình, hỏi 俺に? (Cho tôi hả?). Tôi gật đầu. Ông nhận bằng cả 2 tay, áp lon nước lên má rồi cười. Tôi ngồi xuống bậc bê tông gần đó.

Ông từng lái xe tải gần 30 năm, từ Hokkaido xuống tận Kyushu. Nhắc tới một quán mì ở Niigata, ông còn nhớ bà chủ hay cho cánh tài xế thêm một quả trứng. Kể tới một khúc cua trên đường tuyết, ông đặt lon nước xuống, đưa 2 tay ra xoay vô lăng cho tôi coi rồi tự bật cười. Tôi thích nghe ông kể mấy chuyện như vậy. Lúc mới đi ngang, tôi chỉ thấy một người đàn ông đang sửa chỗ ngủ. Ngồi thêm một lát, tôi mới được thấy dáng ông hồi còn ngồi sau tay lái, nghe ông kể về những con đường mà có lẽ cả đời tôi cũng chưa đi hết.

Tôi hỏi ông sống ở đây bao lâu rồi. Ông ngẫm nghĩ, bảo chắc cũng 3 năm. Mới ngồi có một lát, hơi lạnh từ bậc bê tông đã thấm qua quần tôi. Ông vẫn chưa khui lon nước. Tôi hỏi sao không uống lúc còn nóng, ông cười, bảo cứ cầm thêm chút nữa. Hai bàn tay ông ôm lon nước như người ta ôm một cái lò sưởi nhỏ.

Hồi con gái còn nhỏ, những hôm được nghỉ, ông hay cho con bé leo lên ghế phụ, chở đi một đoạn rồi ghé trạm nghỉ mua kem. Trên đường về, có khi quay qua đã thấy nó ngủ gục, đầu nghiêng sang một bên, tay vẫn ôm món đồ chơi đem từ nhà theo. Trong ví ông còn tấm hình con bé hồi chừng 5 tuổi, mặc áo khoác đỏ, đứng cạnh chiếc xe tải màu trắng của ba. Tấm hình được bọc trong túi nhựa, một góc đã gập.

Ông lấy ra cho tôi coi, bảo hồi đó nó thích đi theo ông lắm. Có lần ông phải chạy chuyến xa, nó khóc đòi theo, ông hứa khi nào về sẽ chở đi ăn kem. Chuyến ấy kéo dài hơn dự tính. Lúc về, ông mua kem thật, nhưng con bé đã giận, nhất định không chịu ăn. Ông kể tới đó thì cười, nói trẻ con mau giận mà cũng mau quên.

Về sau ông nhận những chuyến xa hơn, về tới nhà thì con thường đã ngủ. Có bữa còn thức, nó kéo ghế ngồi cạnh bàn ăn, kể chuyện ở trường. Ông mệt quá, con nói gì cũng ậm ừ. Chuyện học hành của nó đã có vợ lo, hôm nào có chuyện cần biết, bà sẽ nói lại. Sau một chuyến dài, ông thường ngồi trong xe hút hết điếu thuốc mới vào nhà. Có hôm đèn đã tắt, ông mở cửa thật khẽ vì sợ đánh thức vợ. Bây giờ nghĩ lại, biết đâu mấy đêm đó bà vẫn còn thức. Sống với nhau chừng ấy năm, chuyện nhỏ vậy mà ông chưa từng hỏi.

Có một lần con gái gọi điện khi ông đang chạy xe. Ông bảo đang bận, lát nữa gọi lại. Tối hôm đó ông quên. Mấy ngày sau nhớ ra thì lại nghĩ chắc chẳng có chuyện gì quan trọng, nếu có thì nó sẽ gọi thêm lần nữa. Ông không nhớ cuộc điện thoại ấy vào năm nào, chỉ nhớ lúc đó con gái đã lớn, giọng nói không còn giống con bé ngồi ghế phụ ngày xưa.

Tôi hỏi ông có nhớ lần cuối cùng 2 cha con ngồi ăn cơm với nhau là khi nào không. Ông nhìn tấm hình, nghĩ một hồi rồi lắc đầu. Tôi hỏi thêm lần cuối ông đưa con đi chơi. Ông cũng không nhớ. Nhưng ông vẫn nhớ rất rõ quán mì ở Niigata, nhớ một khúc cua trên đường tuyết, nhớ cả chỗ đậu xe nào ở Hokkaido có nhà vệ sinh sạch sẽ. Ông nhìn tôi rồi cười ngượng, bảo trí nhớ mình dạo này kém quá.

Vợ ông mất sau một thời gian bệnh. Lần cuối 2 cha con gặp nhau là ở đám tang bà. Khi ấy con gái đã sống ở Osaka, có chồng và một đứa con nhỏ. Nó muốn ông về sống gần gia đình, nhưng ông từ chối. Ông còn căn nhà cũ, còn sức khỏe, nghĩ mình ở vậy cũng được. Sau này nghỉ lái xe, tiền dành dụm hết dần. Ông rời căn nhà ấy, ở nhờ vài nơi trước khi tới chân cầu này.

Tôi hỏi sao bây giờ ông không tìm con. Một chiếc xe tải chạy qua phía trên, tiếng động cơ vọng xuống khiến 2 người phải ngừng nói một lúc.

Đợi xe đi khuất, ông mới cất tấm hình vào ví, bảo 迷惑をかけたくないんだ (Tôi không muốn làm phiền nó).

Tôi hỏi ông có chắc con gái sẽ thấy phiền không. Ông không trả lời. Tôi nói nếu còn nhớ địa chỉ, tôi có thể giúp tìm cách liên lạc. Ông lắc đầu. Tôi tưởng ông đã quên, nhưng ông bảo vẫn nhớ cả tên ga gần nhà con gái.

Cách đó không lâu, ông đã tới Osaka. Ông dành dụm tiền, mua vé tàu, tìm đến khu phố con gái sống. Ông đứng bên kia đường nhìn căn nhà một lúc lâu. Trước cửa có chiếc xe đạp trẻ con, trên ban công phơi mấy bộ quần áo nhỏ. Ông không biết đứa cháu ngoại mình từng thấy trong ảnh bây giờ đã lớn tới đâu, cũng không biết con gái có còn ở căn nhà ấy không. Địa chỉ đó đã cũ mấy năm rồi.

Tôi hỏi ông có bấm chuông không. Ông lắc đầu. Tôi hỏi tại sao. Ông bảo lúc đứng trước căn nhà, ông chợt nghĩ nếu người mở cửa là con gái, ông sẽ nói gì với nó. Rằng ba đã hết tiền, không còn nhà để ở, mấy năm nay ngủ dưới gầm cầu? Hay rằng ba chỉ ghé thăm, lát nữa sẽ đi? Ông đứng đó tới khi trời tối, rồi quay về Tokyo.

Tôi hỏi ông có thấy con gái bước ra không. Ông bảo không. Có khi nó đã chuyển nhà rồi, ông nói thêm, như thể điều đó khiến chuyến đi đỡ khó xử hơn.

Suốt buổi tối, ông kể về những chuyến xe dài hàng ngàn cây số bằng một giọng rất tự nhiên, đôi lúc còn cười lớn. Vậy mà chuyện đứng trước cửa nhà con gái, ông kể nhỏ tới mức tôi phải nghiêng người mới nghe rõ. Tôi hỏi nếu được quay lại hôm đó, ông có bấm chuông không. Ông nghĩ rất lâu rồi nói không biết. Sau đó ông hỏi ngược tôi, nếu là cậu thì sao.

Tôi không trả lời được.
Tôi đã tính nói rằng ông nên tìm con, rằng biết đâu cô ấy vẫn đang chờ. Nhưng tôi chưa từng là người cha đứng trước cửa nhà con gái mình sau nhiều năm xa cách, trong túi không còn gì ngoài một tấm hình cũ. Tôi cũng không biết cô ấy đã sống những năm ấy ra sao. Biết đâu cô vẫn thương ba. Biết đâu cô đã giận ông từ rất lâu.

Ông lấy tấm hình ra thêm lần nữa. Tôi nhìn con bé mặc áo khoác đỏ đứng cạnh chiếc xe tải trắng, tự hỏi liệu người phụ nữ ở Osaka bây giờ có còn giữ một tấm hình giống vậy không.

Một lúc sau, ông hỏi tôi tại sao lại ở Tokyo một mình. Tôi kể mình vừa nghỉ việc, có 2 tuần để nghĩ chuyện làm gì tiếp theo. Tôi nói về những dự định còn chưa rõ ràng, những nơi có thể đến, những công việc có thể bắt đầu. Ông nghe chăm chú, thỉnh thoảng gật đầu.

Rồi ông hỏi 仕事を辞めて、寂しくない? (Nghỉ việc rồi, cậu có thấy cô đơn không?). Tôi bảo cũng có chút chút.

Ông kể hồi mới nghỉ lái xe, sáng nào ông cũng thức dậy rất sớm. Có bữa đang ngồi uống trà, nhìn đồng hồ thấy trễ, ông giật mình vì nghĩ người ta đang chờ mình giao hàng. Mất một lúc mới nhớ ra mình đã nghỉ việc. Những ngày đầu ông vẫn giữ thói quen kiểm tra thời tiết, xem đường nào có tuyết, đường nào dễ kẹt xe. Có hôm nghe tiếng xe tải chạy ngoài đường, ông còn ngẩng lên nhìn theo. Tôi hỏi rồi ông có quen được không.

Ông cười, nói そのうち、誰も待ってないことにも慣れるよ (Rồi từ từ cũng quen với chuyện chẳng còn ai chờ mình nữa).

Ông hỏi tôi có người thân ở Việt Nam không. Tôi bảo có. Ông hỏi vậy sao không về. Tôi nói mình còn vài chuyện muốn làm, cũng chưa biết sẽ ở đâu lâu dài. Ông gật đầu, không hỏi nữa.

Tôi có thể nói tiếng Nhật, ngồi uống bia với bạn bè, trao đổi công việc, kể chuyện đi đây đi đó. Nhưng có những điều tôi không biết phải nói với ai, mà nếu nói ra cũng chưa chắc người ta hiểu mình đang muốn nói gì. Tôi nhớ những đêm mở máy tính viết bằng tiếng Việt, viết xong lại đọc, sửa vài chữ rồi đóng máy. Có những chuyện mình muốn kể rất dài, nhưng không biết bắt đầu với người nào.

Ông hỏi tôi có nhớ nhà không. Tôi nói lâu lâu cũng nhớ. Ông bảo hồi còn chạy xe, có những chuyến ông chỉ mong về tới nhà, được tắm nước nóng rồi nằm ngủ trên tấm nệm quen. Bây giờ nghĩ lại, ông nhớ cả tiếng vợ đi lại trong bếp, nhớ tiếng con gái mở tivi, những âm thanh hồi đó ông thường thấy phiền vì muốn ngủ.

Đến lúc đứng dậy, tôi thấy 2 chân đã tê vì lạnh. Ông hỏi tôi còn ở Tokyo bao lâu. Tôi bảo chắc thêm ít ngày. Ông nói vậy hôm nào rảnh thì ghé chơi. Tôi gật đầu, bảo được. Trước khi đi, tôi hỏi ông có cần mua thêm gì không. Ông lắc đầu, chỉ giơ lon ca cao lên, nói cái này đủ rồi. Lon nước đã nguội bớt. Tôi chợt nhận ra từ lúc nhận tới giờ, ông chỉ mới uống vài ngụm.

Tôi đi được một đoạn thì quay lại nhìn. Ông đang cúi sửa tấm bạt, đôi giày vẫn đặt ngay ngắn cạnh chỗ ngủ. Phía trên cầu, xe cộ chạy qua không ngớt. Chắc vài tiếng nữa, khi những chuyến tàu đầu tiên bắt đầu hoạt động, người ta sẽ lại đi làm, đi học, đi gặp những người đang chờ mình ở đâu đó.

Những ngày sau đó, tôi bận thu xếp vài chuyện rồi rời Tokyo. Tôi không quay lại như đã hứa.

Một thời gian sau, có dịp trở về, tôi đi dọc đoạn đường ven sông ấy. Dưới chân cầu vẫn còn mấy tấm bạt, vài chiếc xe đạp cũ và những thùng giấy được xếp sát vào nhau. Tôi đi chậm qua từng chỗ, tìm chiếc áo khoác xanh đã bạc vai, nhưng không thấy ông. Tôi hỏi một người đàn ông đang ngồi gần đó, miêu tả ông già từng lái xe tải. Người ấy bảo có nhiều người tới rồi đi, ông không biết tôi đang tìm ai.

Tôi không biết ông đã chuyển sang chân cầu khác, đã về Osaka, hay đã xảy ra chuyện gì.

Đi ngang máy bán nước tự động, tôi mua một lon ca cao nóng. Cầm lon nước trong tay, tôi nhớ cách ông áp nó lên má rồi cười, nhớ tấm hình con bé mặc áo đỏ, nhớ cả lời ông bảo hôm nào rảnh thì ghé chơi.
Tôi đã không ghé.

Ngày ấy, tôi nghĩ mình có thể quay lại bất cứ lúc nào. Ông vẫn ở đó, Tokyo vẫn ở đó, con đường ven sông vẫn ở đó. Cũng như ông từng nghĩ con gái còn nhỏ, những chuyến xe rồi sẽ kết thúc, về nhà lúc nào chẳng được.

Tôi không biết ông có còn nhớ người thanh niên đã mua cho mình một lon ca cao nóng. Có lẽ chỉ là một người khách qua đường, một buổi tối tình cờ giữa rất nhiều buổi tối ông đã sống dưới chân cầu. Nhưng sau bao nhiêu năm, giữa những người tôi từng gặp, những thành phố tôi từng sống, tôi vẫn nhớ một người đàn ông không rõ tên, không biết địa chỉ, cũng chẳng có cách nào tìm lại.

Ông từng lái xe gần 30 năm, thuộc lòng những con đường từ Hokkaido tới Kyushu, nhưng không dám bước qua con đường trước nhà con gái. Còn tôi, tối hôm ấy đã hứa sẽ quay lại, rồi cứ nghĩ mình còn nhiều thời gian.

Đến giờ tôi vẫn không biết, nếu hôm đó tôi quay lại, liệu ông có còn ngồi dưới gầm cầu chờ một người tới nói chuyện hay không.

Và nếu ông thực sự đã về Osaka, liệu có ai mở cửa cho ông?

lu minh tri

Thuyền trưởng Ole

Năm 1988, khi đã ở Mỹ, tôi ngồi viết một lá thư. Gửi cho một người thuyền trưởng tên Ole. Người đã cứu tôi và 136 thuyền nhân khác giữa biển năm 1984.
Lá thư bị trả về. Người nhận đã chuyển đi.
Tới giờ, ở Mỹ, tôi vẫn chưa tìm lại được ông.

Ở phần 1, tôi đã kể tới lúc chiếc ghe 137 người bị hải tặc đập thủng, đang chìm. Thuyền trưởng tàu Panama đã từ chối cứu hai lần. Người ta khiêng tôi, một cô giáo Anh văn gần như bất tỉnh, lên thang dây…

Lên tới sàn tàu, bác sĩ với thủy thủ xúm lại cho tôi thở oxy, cho uống thuốc. Khoảng 15 phút sau tôi tỉnh lại. Tôi xin gặp thuyền trưởng.
Ông tên Ole.

Tôi kể hết bằng tiếng Anh. 137 người. 5 ngày trên biển. Một em bé chết khát. 5 cô gái bị bắt đi. Một chiếc ghe bị đập thủng đang chìm.
Ông buồn bã lắc đầu: "Tôi rất tiếc, tôi không thể cứu quý vị được."
Tôi nhìn xuống chiếc ghe. Tôi biết quay lại đó là đi vào chỗ chết.
Tôi nhìn thẳng vào mắt ông, nước mắt chảy ròng: "Nếu ông cương quyết từ chối, tôi xin thay mặt hơn 100 người kính chào vĩnh biệt. Giờ phút tôi trở về chiếc ghe đó, tất cả chúng tôi sẽ chết dưới lòng biển. Xin vĩnh biệt thuyền trưởng."
Ông đứng sững. Rồi ông hỏi trên ghe có bao nhiêu phụ nữ và trẻ em. Ông nói: "Chúng tôi chỉ cố gắng cứu phụ nữ và trẻ em. Còn đàn ông thanh niên xin tiếp tục lên đường."

Thủy thủ đưa được 50 phụ nữ và trẻ em lên tàu.
Dưới ghe, những người cha, người chồng đứng vẫy tay. "Ba ráng bảo trọng." "Tạm biệt anh." "Tạm biệt con."
Tôi đứng trên tàu nghe tiếng khóc mà không chịu nổi. 50 người chỉ chiếm một góc nhỏ xíu trên con tàu khổng lồ đó.
Tôi lại tới, quỳ xuống trước mặt ông: "Xin ông tha thứ cho tôi. Tôi đội ơn ông đã cứu mạng tôi. Nay xin ông cứu luôn những người còn lại. Chúng tôi không cần đồ ăn, không cần quần áo. Chúng tôi chỉ cần một chỗ để được sống. Chiếc tàu của ông là đất sống, chiếc ghe kia là cõi chết."
Ông lặng người. Rồi ông gật đầu.
Cả chiếc ghe vỡ òa. 137 người lần lượt leo lên thang dây. Thủy thủ lấy búa chặt đứt sợi dây buộc ghe.
Điểm danh vừa đủ 137 người. Vài phút sau, một cơn bão ập tới. Sóng tràn lên boong, thủy thủ phải cột chúng tôi vô cột tàu. Chiếc ghe trống chở chúng tôi suốt 5 ngày bị sóng nuốt mất, chìm luôn xuống biển.
Nếu chậm vài phút thôi…

Đêm đó tụi tôi được tắm, được phát quần áo, mền ấm, chén súp nóng. Đó là giấc ngủ yên nhất đời tôi.
Sáng hôm sau, thuyền trưởng Ole dẫn tôi lên boong. Trước ánh bình minh, ông quỳ xuống làm dấu thánh giá. Ông nói: "Cám ơn Thượng đế đã nhờ cô cho tôi cơ hội cứu được 137 người."
Ông chở thẳng chúng tôi về trại tị nạn. Trước khi chia tay, ông viết tay tên và địa chỉ đưa cho tôi.

Chiều 30 tháng 9 năm 1984, tôi bước chân trần lên bãi cát trắng đảo Pulau Bidong. Mã số tị nạn MB244.
Cái địa chỉ ông viết tay hôm đó, là địa chỉ tôi ghi lên lá thư năm 1988. Và lá thư đó đã bị trả về.
Mấy chục năm nay, các con tôi lên mạng tìm ông. .Vẫn chưa tìm được.
Tôi chỉ là một cô giáo dạy Anh văn. Nhưng có một buổi chiều năm 1984, mấy câu tiếng Anh của tôi đã đổi được 137 mạng người.
Còn tấm lòng của thuyền trưởng Ole, là món nợ cả đời tôi không trả hết.

NHÓM MÓC TÚI CHUYÊN NGHIỆP TỪ TRUNG QUỐC VÀ ĂN TRỘM TỪ VIỆT NAM ĐỔ XÔ VÀO NƯỚC NHẬT HÀNH NGHỀ!

Cảnh sát Nhật Bản cho biết một nhóm đàn ông từ Trung Quốc đã bay vào Nhật Bản với một kế hoạch: Móc tiền trong túi người khác trên các chuyến tàu hỏa đông đúc - và khi đã no đủ, họ sẽ tìm cách bay về nhà.

Một trong số họ (khi bị bắt) đã nói với các điều tra viên bằng những từ ngữ rất đơn giản, và "ngây thơ":

"Mục đích của tôi khi vào Nhật Bản là du lịch và trộm cắp". Và hắn ta khai thêm rằng: đã đến Nhật với "mấy người bạn cùng nghề".

Tay móc túi chuyên nghiệp này bị truy tố tội trộm cắp có chủ mưu, và chỉ trong tuần sau, cảnh sát đã bắt giữ thêm một người bạn mà hắn đã khai ra.

Kẻ móc túi này là Zhang Dongdong, 36 tuổi, quốc tịch Trung Quốc. Zhang bị cáo buộc là đã móc ví của một phụ nữ 42 tuổi trên chuyến tàu Odakyu Line đang di chuyển, và lấy đi chiếc ví của cô ấy, với khoảng 15.000 Yen (khoảng 110 Úc kim) bên trong.

Zhang đã ở trong cùng một khách sạn với người đàn ông đã thú nhận là đồng bọn.

Cảnh sát Nhật Bản hiện có một cái tên cho việc này: "trộm cắp du lịch". Có nghĩa đó là những nhóm người vào Nhật Bản chỉ dành hết thời gian để "làm việc" trên các chuyến xe lửa đông đúc trong vài ngày, và rời đi trước khi bị ai đó nhận ra.

Những chuyến xe đông đúc trong giờ bận rộn của Nhật, nơi không ai quan tâm đến túi, ví của họ - và cũng chẳng có ai nghĩ rằng mình sẽ bị trộm, khiến mọi việc trở nên dễ dàng hơn.

Nước Nhật là một quốc gia an bình, vì khi bạn để quên điện thoại ở bàn cà phê, hay túi xách tại ga xe lửa - thì bạn vẫn còn cơ hội đến lấy lại nó ở các trạm cảnh sát, với mọi thứ vẫn còn nguyên bên trong.

Sự tin tưởng đó chính là điều mà những đội ngũ "móc túi" này đang dựa vào để hành nghề. Cũng như nhà cửa ở Nhật thường không khóa chặt, khiến các tên trộm dễ vào vơ vét hơn.

Cùng lúc đó có tin một số người Việt tại Nhật công khai rao bán thịt chó, khoe cảnh trộm heo của người bản xứ, giết rồi đem bán.

Theo loạt hình chụp màn hình được chia sẻ hôm 29.10, danh khoản của một người Nhật cảnh báo về việc một nam thanh niên Việt Nam ăn trộm chó cảnh làm thịt, rồi rao bán trên mạng xã hội và viết tránh đi là thịt "gâu gâu".

Danh khoản "mancity-018" cho biết: "Một cặp vợ chồng người Việt tại Nhật đang gây sự phẫn nộ lớn trong cộng đồng người Việt và cả người Nhật. Họ rao bán bẫy thú trên mạng, bán thịt thú rừng trái phép. Tệ hơn nữa là buôn bán và tiêu thụ cả những chú chó bị đánh cắp của người Nhật".

Đáng nói, cặp vợ chồng này bị cho là "ngang nhiên thách thức cả những người đồng hương góp ý và lên án về hành vi trái pháp luật của mình". Vợ chồng được nhắc đến trong cáo buộc nêu trên có danh khoản là "Mèo's Hâm'ss" và "Nguyễn Văn Trung", quê Quảng Bình và Hà Tĩnh. Trang cá nhân của hai người này được nhìn thấy với lời rao: "Chuyên cung cấp bẫy thú rừng 24/7, lợn (heo) rừng, lợn sữa, nai rừng, chồn, lươn, cá tại Nhật".

Trong lúc cộng đồng mạng đang truy tìm danh tính và nơi sinh sống của cặp vợ chồng này trên đất Nhật, danh khoản "Nguyễn Văn Trung" được nhìn thấy đưa ra lời thách thức những người tố cáo rằng "báo cảnh sát Nhật nhanh đi chứ, tao kiếm nhiều tiền quá rồi, đang muốn về Việt Nam đây!"

Danh khoản maki-zzz777 bình luận bên dưới một bài đăng: "Các bạn qua đất nước người ta chỉ được phép ở tạm để lao động, chứ đừng ảo tưởng đó là một vùng đất đẹp đẽ nhưng không luật lệ mà gây ra những tội ác đáng lên án".

Đây không phải là lần đầu tiên có tin phi pháp liên quan đến người Việt đến Nhật như vậy.

Nguyen Tuy



Đảng CH sẽ thắng lớn

Y như một trận boxing. Hiệp đầu võ sĩ DC có vẻ quân bình, nhún nhún nhảy nhảy quanh võ sĩ CH. Hiệp cuối anh CH mới vung tay, đưa những đòn bí hiểm. Oánh đâu trúng đó. Bốp bốp. Các đệ tử DC dưới sàn la lên : tấn công đi tấn công đi. Tấn cái mẹ gì nữa. Đỡ còn không nổi. Trọng tài chèn ngang hai võ sĩ rồi xua tay….

Để xem võ sĩ DC có những ngón đòn gì? Đó là cú móc ngược từ dưới lên mà giới võ thuật gọi là “chửi Trump”. Cú đánh này đã dùng mươi năm rồi không có gì mới nên võ sĩ CH chỉ cần lắc cái đầu là cú móc này đánh vào không khí. Còn ngón nào nữa không? Hết rồi, có nhiêu đó. Nói chung vẫn còn vài cái lẻ tẻ như mấy cú đấm dưới bụng: “xăng tăng, vật giá tăng…” Mẹ! Từ thuở con người sinh ra đến giờ, cái gì mà không tăng giá. Mà dân tập võ, bao giờ họ cũng luyện cái bụng. Đấm vào đây chỉ tốn sức chớ không làm đo ván được. Ngón võ này không ăn thua. Gọi là “khều khều” thôi. Võ sĩ DC cũng còn nhiều chiêu tiểu xảo như “trùng tên” hay “phiếu qua thư”. Hãy xem võ sĩ CH đỡ từng phát một. Và cuối cùng một cú tay phải sở trường của võ sĩ CH uýnh ngay vô cằm DC: môn võ gia truyền “đi bầu đông”. Tới tấp tới tấp khiến võ sĩ DC cúi đầu chịu trận. Muốn ăn gian cũng không được. Môn võ này do võ sư Donald Trump truyền dạy. Đánh đâu thắng đó.

Trong tất cả mọi môn thể thao, lực sĩ có tài vẫn phải có huấn luyện viên giỏi mới có thể giành huy chương. Người huấn luyện viên còn phải mưu kế nữa. Gọi là “đa mưu túc trí” mới có cơ hội thắng. Chưa kể còn phải có… tiền mới có thể duy trì tập luyện. Bên DC lèo tèo vài hlv như Obama hay Clinton mà thành tích đưa võ sĩ nào ra đấu đều thua sặc gạch.

Xem mưu kế của Donald Trump:

Đưa được bộ hạ thân tín vào chức bộ trưởng tư pháp vào đúng thời điểm quyết định: tháng 8/26. Ông Todd Blanche là luật sư riêng của Trump, lên bờ xuống ruộng với đại ca, biết đủ mọi chiêu trò đối thủ. Từ lúc ông nhậm chức, thanh kiếm của ổng đã đâm vào thành trì DC những nhát trí mạng. Các lệnh khám xét không kiêng nể một ai được phát đi như bươm bướm mà ta chưa từng thấy. Con mẹ Omar từng oang oang bấy lâu. Giờ chờ trục xuất vì nếu có bằng cớ không quốc tịch, thì ICE làm việc chớ không cần toà án chi cho mệt. 

Cali có môn võ “phiếu qua thư”. Môn võ này lợi hại. Tui thấy nhiều thùng gom phiếu đặt khắp nơi. Không phải của bưu điện nên sẽ không có con dấu bưu điện. Không thể tìm được bằng chứng nếu thực sự muốn gian lận. Thí dụ như hết giờ bầu cử rồi nhưng cử tri vẫn có thể thả phiếu vô thùng vì thùng phiếu nằm khơi khơi giữa công viên hay parking không ai giám sát như thùng phiếu đặt tại địa điểm chính. Dượng ra chiêu thưởng một triệu cho ai khám phá gian lận. Một triệu sẽ kích thích tai mắt quần chúng khiến kẻ muốn gian lận cũng chùn tay. Chưa kể cái vụ hai chục ngàn cử tri chưa quốc tịch mà vẫn được gởi phiếu bầu. Kêu lục riêng ra lúc này ai mà làm cho kịp. Mà lại là giấy trắng mực đen. Cục xương này khiến Cali nghẹn họng. Coi chừng tất cả phiếu của tiểu bang sẽ vô giá trị nếu không tách riêng số phiếu này. Đòn đánh này quá khủng khiếp chớ không giỡn chơi như ta nghĩ đâu. Nó sẽ tiền đề để bãi bỏ “phiếu bầu qua thư không ID”. Dù cha thẩm phán “mặt ngựa” đã bác bỏ. Nhưng với bằng cớ rành rành, rất khó chống chọi với bộ tư pháp.

Sát ngày bầu cử, chuyện bẩn thỉu ở Alaska được công bố khiến cái mặt của những người DC tím tái nhục nhã. Đi tìm một người trùng tên đối thủ để chia phiếu. Không môn võ nào “dơ” hơn môn này. Hết cách rồi sao mà dùng cách này. Giang hồ gọi là “chơi dơ”.

Còn bên CH thì sao? Tui chỉ tóm gọn trong 4 chữ : Quang Minh Chính Đại. Với chiến lược “người CH phải đi bầu”. Tất cả cử tri CH phải đi bỏ phiếu. Vì mọi thống kê cho biết lượng cử tri CH rất đông ngay cả ở những tiểu bang xanh. Với số đông này dù chưa thể chắc thắng 100%. Nhưng vẫn còn cử tri độc lập và cả cử tri DC “quay xe” nữa. Vì thế ông dượng dù bước qua tuổi 80, vẫn miệt mài đi rallies hơn ba chục buổi trong vòng một tháng. Nội tấm gương đó đủ làm người CH cảm động. Xá gì vài giờ xếp hàng. Tui thấy có người ở Cali không chịu gởi phiếu qua thư mà muốn chính tay mình bỏ phiếu vào thùng ở địa điểm chính, còn chụp hình lá phiếu. Họ không muốn lá phiếu của mình bị xếp vào đâu đó với nhãn : phiếu bất hợp lệ.

Còn vài giờ nữa, ta sẽ chứng kiến kết quả. Tui không bao giờ tin mấy cái thăm dò. Tui chỉ nhìn bằng nhãn quan chính trị. DC không có cơ hội thắng vì hiện nay nội bộ CH rất đoàn kết, trừ ở Texas với gia tộc Bush. Từ khi ông Trump làm tổng thống nhiệm kỳ 2, vị trí nước Mỹ được nâng cao trên quốc tế. Lãnh đạo nào cũng ve vãn ngay cả hai ông bự Nga Tàu. Đến độ tui thách đố bạn kiếm được một người nào hơn ổng coi có không? Cho tui một cái tên. Trong nước. Xăng dầu lên giá cái gì mà đường chục lines vẫn kẹt xe. Chứng tỏ người dân vẫn có tiền đổ xăng dù “rên rên” một chút. Hàng quán giờ đông nghẹt. Rên thì rên mà chơi vẫn chơi. Tui đi hơn chục thành phố lớn rồi, gặp fans tứ tung. Thấy một xã hội an ninh. Không ai dám làm chuyện bậy bạ dù rất nhỏ. Cái quốc tịch Mỹ nó lớn quá, không dại gì đánh đổi bằng chuyện nhỏ nhặt. Nên nhường nhau cho nó lành. Một cái bad credit sẽ ảnh hưởng cả một cuộc đời. Trừ phi bạn muốn thành homeless.

Một đoạn video ngắn mà thành viral. Đó là clip ghi hình ông Obama tung cái micro cho một người chụp lấy rồi nghinh nghinh rời sân khấu nơi ổng mới vận động cho một con gà của mình. Ui! Đám bò ngưỡng mộ khen ngợi không tiếc lời: hào hùng quá! Tui thì thấy bao nhiêu nước bọt của ổng tan tác. Uổng công gào thét ví Bạch Cung như Cheecake Factory. Thái độ kiêu ngạo kiểu “ngựa non” làm người ủng hộ ngán ngẩm. Vậy mà quốc gia đã trao cho ổng 12 năm trời!
Chậc chậc.!!!

Hình: tiệm bánh mà Obama chê “cải lương” nhưng tui lại thấy đẹp. Vô ăn bánh và các món ăn khác giá không mắc lắm. Bánh ngon nhờ cheese tan trong bột. Ăn xong còn thèm. Nhìn trang trí thấy đã. Chờ 40 phút mới có bàn.

Jimmy Nguyen

Hai anh em bí mật của Ilhan Omar tại London chụp ảnh chung với người liên quan đến nạn diệt chủng tại Somalia, theo New York Post

Theo bài báo của NYP đăng chiều nay thì Ilhan Omar bị cáo buộc giấu hai anh chị em ruột đang sống ở London là Mohamed Nur Said Elmi và Leila Nur Said Elmi (53 tuổi).

Mục đích được cho là nhằm tạo khoảng cách với Ahmed Nur Said Elmi, người mà bà từng kết hôn năm 2009 và được cho là anh trai ruột.

Nhiều nguồn trong cộng đồng Somalia xác nhận cả nhóm là anh chị em cùng cha (Nur Said Elmi) cùng mẹ. Mohamed và Leila từng chụp ảnh thân mật với tướng chiến tranh Mohamed Said Hersi “Morgan” (biệt danh “đồ tể Hargeisa”), người bị cáo buộc chỉ đạo cuộc diệt chủng chống bộ lạc Isaaq năm 1988 khiến khoảng 200.000 người chết. Mohamed còn đăng bài tưởng nhớ Morgan và nói hai gia đình có quan hệ thân thiết.

Giấy Chứng nhận kết hôn của Leila tại London năm 1997 ghi rõ cha là “Nur Said Elmi, sĩ quan quân đội Somalia”. Các nguồn tin cho biết Leila từng nuôi Ahmed ở London trước khi gửi cậu sang Mỹ sống với cha.

Đây là một phần trong số ngày càng nhiều bằng chứng cuộc hôn nhân năm 2009 của nữ dân biểu là giả, nhằm giúp người được cho là anh trai của bà có được tư cách nhập cư hợp pháp.

Khi ở Minnesota, Elmi sống cùng Omar và Hirsi, người mà bà có ba đứa con, kể cả một con gái sinh năm 2012 trong thời gian Omar còn chưa li dị với Elmi.

Bài báo cho rằng đây là thêm bằng chứng củng cố nghi vấn cuộc hôn nhân năm 2009 của Omar với Ahmed là giả để giúp anh trai nhập cư. Omar và các thành viên gia đình không phản hồi khi được liên lac.

Hình hai anh em của Omar chụp chung với “đồ tể Hargeisa” cho thấy dường như họ đang ăn mừng cùng nhau trong một sự kiện. Điều khiến nhiều người phát giác thêm các sự kiện mà Omar vốn giấu kín, là các anh chị em họ thường "thả tim" và comment qua lại lẫn nhau trên mạng xã hội. Trong khi Omar, vì sự nghiệp chính trị đã cố tình 'làm ngơ' về các mối quan hệ này

FB Uyen Vu
Từ diễn giả nhân quyền tại Quốc hội Mỹ đến kẻ bị bắt vì hành hung và công khai doạ giết người

Đây là cô Temulun Togochog, một người gốc Mông Cổ, xuất thân từ gia đình tị nạn chính trị và đấu tranh cho nhân quyền tại Mỹ.

Hôm qua 1/11/2026, cô Temulun bị cảnh sát bắt (và rất khó khăn khi khống chế cô ta) ngay trong khuôn viên trường Đại học Michigan. Khi bị cảnh sát áp giải đi, Temulun phản kháng dữ dội.

Cô xúc phạm cô Benichou, gốc Do Thái và hét lớn vào mặt nạn nhân: "Đáng lẽ tao phải giết chết mày khi có cơ hội!". Trước khi bị đưa lên xe, Temulun còn hét lên với đám đông: "Tao từng ở trong bệnh viện tâm thần đấy!" như một sự thách thức.

Temulun 18 tuổi, sinh ra tại Mỹ trong một gia đình người gốc Nam Mông Cổ (vùng Nội Mông thuộc Trung Quốc). Cha cô là ông Enkibatu Togochog, Giám đốc Trung tâm Thông tin Nhân quyền Nam Mông Cổ, một người tị nạn chính trị đã trốn chạy khỏi sự đàn áp của chính quyền Trung Quốc.

Do gia đình có truyền thống hoạt động nhân quyền, vào tháng 12 năm 2024, Temulun trong trang phục truyền thống Mông Cổ, cô xuất hiện và điều trần trước Ủy ban Hành pháp Quốc hội Mỹ về Trung Quốc tại Washington. Tại đây, cô đã phát biểu đầy xúc động về việc gia đình mình bị tước đoạt quyền lợi, văn hóa Mông Cổ bị xóa bỏ, và bày tỏ sự may mắn, biết ơn khi được sống trong một quốc gia tự do như nước Mỹ. (hình 1)

Sau khi nhập học tại Đại học Michigan, Temulun bắt đầu bị ảnh hưởng sâu sắc bởi các tư tưởng cánh tả cực đoan trong làn sóng hoạt động của sinh viên. Trên mạng xã hội, cô thể hiện sự thay đổi chóng mặt, cô xăm trổ khắp thân thể, xỏ khuyên trên mặt mũi, selfie và chụp ảnh với các tư thế khiêu gợi... (hình 2&3)

Đặc biệt Temulun ủng hộ mạnh mẽ ứng cử viên Đảng Dân chủ Abdul El-Sayed trong cuộc đua giành ghế Thượng viện đang diễn ra gay cấn tại Michigan.

Hôm qua, trong một cuộc tranh luận tự do ngoài trời tại Đại học Michigan, Temulun hung hăng phản đối, phát ngôn xúc phạm và tát vào mặt người tổ chức tranh luận đang ngồi tại bàn. Khi nhà bình luận chính trị cánh hữu và là người có ảnh hưởng gốc Do Thái Liz Benichou đặt câu hỏi ngược lại: "Nếu cô đi lại như thế này ở Iran, điều gì sẽ xảy ra với cô?", Temulun lập tức nổi điên. Cô lao thẳng đến, đẩy ngã Benichou xuống đất và đá tới tấp vào người nạn nhân. (hình 4)

Cảnh sát Đại học Michigan xác nhận họ đã bắt giữ, lập hồ sơ đối với Temulun với cáo buộc hành hung người khác. Tuy nhiên, Temulun hiện đã được tại ngoại để chờ cơ quan công tố phê duyệt lệnh khởi tố chính thức với các tội danh hình sự. (hình 5)

Nạn nhân Liz Benichou bị chấn thương ở vùng lưng dưới và tuyên bố sẽ theo đuổi vụ kiện hình sự này đến cùng.

FB Uyen Vu





Bà Karen Whitsett (đại diện Detroit), đang lên tiếng bảo vệ Dân biểu Haley Stevens

Dân biểu tiểu bang thuộc Đảng Dân chủ, bà Karen Whitsett (đại diện Detroit), đang lên tiếng bảo vệ Dân biểu Haley Stevens sau khi bà Stevens vượt qua ranh giới đảng phái để ủng hộ ứng viên Đảng Cộng hòa Mike Rogers.

Bà Whitsett, người cũng ủng hộ ông Rogers, đã thẳng thắn bày tỏ quan điểm:
“Haley Stevens không bắt buộc phải ủng hộ Mike Rogers. Bà ấy đã chọn lương tâm thay vì đảng phái, thế nhưng các nhà lãnh đạo Đảng Dân chủ người da đen lại quay sang công kích bà ấy thay vì tìm hiểu lý do tại sao.”

“Nếu sự đoàn kết đòi hỏi sự phục tùng, thì đó không phải là đoàn kết. Đó là sự kiểm soát.”

Tại một cuộc phỏng vấn trong chương trình 'The Good Report' về lý do tại sao bà Karen chọn Đức tin thay vì chính trị. Câu chuyện của bà rất mạnh mẽ, và thông điệp mà bà đưa ra hôm nay thật rõ ràng:

“Lá phiếu thuộc về chính bạn. Không một đảng phái, tổ chức hay chính trị gia nào có quyền gây áp lực buộc bạn phải im lặng.”

Bà Karen Whitsett là thành viên của Đảng Dân chủ và đã phục vụ tại Hạ viện Michigan từ năm 2019 đến nay. Bà Karen Whitsett đã chính thức tuyên bố sẽ rời Đảng Dân chủ và nghỉ hưu, không tham gia tái tranh cử tại Hạ viện vào kỳ bầu cử hiện nay vì các lý do đức tin Ki-tô giáo. Đồng thời, bà cũng tuyên bố ủng hộ ứng cử viên Đảng Cộng hòa Mike Rogers trong cuộc đua vào Thượng viện Hoa Kỳ

FB Uyen Vu
Một vụ bê bối chấn động vừa bùng phát vào chiều tối nay 2/11/2026 (giờ địa phương) tại làng Petropavlivska Borshchahivka, ngay ngoại ô thủ đô Kyiv, Ukraine

Sự việc bùng phát khi một quân nhân đang bị giam trong một ngôi nhà riêng (được quân đội Ukraine trưng dụng làm cơ sở quân sự), lén liên lạc được với người thân, báo rằng mình bị kiệt sức.

Gia đình đã gọi xe cấp cứu tư nhân đến, nhưng các nhân viên y tế bị lực lượng vũ trang bên trong từ chối cho vào. Các y tá sau đó đã phải quỳ xuống cầu xin và báo cảnh sát.

Đám đông người dân giận dữ bao vây, la hét, đạp cửa tìm cách xông vào ngôi nhà. Lực lượng bên trong đã dùng hơi cay để đẩy lùi đám đông. Đám đông đã lật và đập phá một chiếc xe của lực lượng vũ trang.

Người dân cáo buộc đây là "phòng tra tấn ngầm" do các đơn vị tuyển quân hoặc đơn vị quân đội lập ra để giam giữ khoảng 40 người đàn ông vô tội và trẻ vị thành niên nhằm tống tiền gia đình.

Trước tình hình căng thẳng leo thang đẩy đỉnh điểm, Tư lệnh Lực lượng Vệ binh Quốc gia Ukraine, ông Oleksandr Pivnenko, cùng người đứng đầu Tổng cục Tình báo Quốc phòng (HUR), nhân vật quyền lực thứ 2 của Ukraine là Kyrylo Budanov đã trực tiếp đến tận nơi để giải quyết khủng hoảng.

Video cho thấy ngay trước mặt Kyrylo Budanov, người ta đưa từ cơ sở đó ra một thiếu niên 14 tuổi, khuôn mặt đờ đẫn như không còn ý thức. Một số người khác tố cáo với Budanov rằng nhiều binh sĩ bị huy động và những người đào ngũ từng bị đánh đập, tra tấn dưới tầng hầm nhà này.

Bộ Tư lệnh Vệ binh Quốc gia và lực lượng "Azov" (thuộc Quân đoàn 1) xác nhận ngôi nhà này thực chất là Trạm tiếp nhận, đăng ký và tập trung tạm thời dành cho các tân binh được động viên trước khi gửi đi huấn luyện.

Cảnh sát và quân đội chính thức thì phủ nhận con số "40 con tin bị bắt cóc/tra tấn, một người bị đánh gẫy sống lưng". Theo truyền thông Ukraine thì có khoảng 25 người bên trong từ tầng áp mái xuống tầng hầm, một số người bị thương tật, bầm tím trên cơ thể do "vi phạm kỷ luật". Những người này lập tức được đưa đến bệnh viện để điều trị và giám định.

Theo Dmytruk, một đại biểu của Quốc hội Ukraine (Verkhovna Rada), trong tháng qua đã có vài người bị đánh đến chết tại một tầng hầm ở Borshchagovka.
Ông cho biết, những người thiệt mạng hiện vẫn đang được liệt kê vào danh sách người mất tích; tình trạng tương tự cũng đang diễn ra tại hàng trăm địa điểm tra tấn khác trên khắp Ukraine.

"Mọi người bị bắt cóc và tra tấn. Một số bị bán cho các đơn vị quân đội, số khác bị bán lại cho người thân. Những người yếu thế hơn thì chết vì bị tra tấn và do điều kiện giam giữ khắc nghiệt. Đó chính là cách mà toàn bộ hệ thống 'huy động quân' đang vận hành hiện nay."

Cũng theo Dmytruk, lực lượng quản lý đã xóa dấu vết bằng cách tiếp tục báo cáo các nạn nhân này dưới danh nghĩa "mất tích trong chiến đấu" hoặc "mất tích không rõ lý do" nhằm bít đầu mối điều tra.

Hiện tại, Văn phòng Tổng công tố Ukraine đã tiếp nhận hồ sơ vụ ở Borshchahivka để làm rõ liệu có hành vi tống tiền dân thường và lạm dụng nhục hình đối với binh sĩ hay không.

FB Uyen Vu



Thầy Giáo Đà Nẵng | Luật Tạng Huỷ Bỏ | 02.11.26

 



Monday, November 2, 2026

ĐỊNH MỆNH (Phần cuối)

Đài Bắc cuối mùa thu, những cơn mưa thường kéo dài từ chiều đến tối. Đường phố ướt bóng dưới ánh đèn, xe cộ nối nhau không dứt. Thành phố đông đúc ấy có biết bao người đến tìm một chỗ nương thân, cũng có biết bao người mang trong lòng những nỗi đau chẳng biết tỏ cùng ai.

Sau hai mươi lăm năm xa cách, tôi đã gặp lại Nguyệt. Nhưng cuộc gặp ấy chỉ để lại trong tôi một nỗi đau, một sự ân hận không thể xóa cho đến cuối đời. Người đàn bà tôi từng thương đã sống gần trọn cuộc đời trong nghèo khó, mang theo một bí mật mà đến khi nhắm mắt vẫn chưa có dịp nói với tôi.

Bây giờ tôi mới biết mình có một đứa con gái. Uyên là giọt máu của tôi, đứa con đã lớn lên không có cha, chịu bao nhiêu thiệt thòi rồi lưu lạc đến một đất nước xa lạ. Còn tôi, suốt những năm tháng ấy, vẫn sống cuộc đời khá đầy đủ ở Canada, có gia đình, có công việc, có những niềm vui bình thường mà không hề biết những gì con mình đang trải qua.

Tôi không thể quay lại những năm tháng đã mất. Nhưng ít nhất, tôi muốn tìm được Uyên, muốn nói với con rằng trên đời này, ngoài người mẹ vừa khuất, con vẫn còn một người cha.

Tôi trở lại quán bar Mimosa vào một buổi tối mưa lất phất.
Mọi thứ vẫn như lần trước. Ánh đèn vàng, tiếng nhạc chậm, những gương mặt trong thế giới phồn hoa được trang điểm kỹ càng và những nụ cười luôn phải giữ trên môi như một phần công việc.

Người quản lý nhận ra tôi khi nghe hỏi về Uyên. Chị thoáng ngập ngừng rồi cho biết con đã nghỉ việc, rời đi mấy hôm trước. Không ai biết hiện giờ con ở đâu.

Tôi chết lặng. Tôi nghĩ chỉ cần trở lại đây là có thể gặp con, kể cho con nghe những điều mình vừa biết. Vậy mà tôi lại đến trễ.

Trước khi ra về, người quản lý lấy trong ngăn kéo một phong bì nhỏ đưa cho tôi. Nói Uyên gửi nếu tôi trở lại tìm. Bên trong là địa chỉ một hội thiện nguyện người Việt ở Đài Bắc và mấy dòng chữ viết vội. Uyên nói nếu không tìm được mẹ con, hãy đem số tiền ấy gửi lại cho hội. Uyên sẽ đến nhận sau.

Tôi đọc đi đọc lại mảnh giấy. Tôi cất vào túi áo rồi bước ra màn mưa nặng hạt đang bao trùm thành phố.

Hội thiện nguyện nằm trong một con hẻm gần ga tàu điện. Căn phòng nhỏ có vài chiếc bàn, mấy tủ hồ sơ và những thùng quần áo xếp sát tường. Một phụ nữ Việt trung niên đang làm việc phía trong.

Nghe tôi kể chuyện, chị nhận ra tên Uyên. Con từng đến hỏi về giấy tờ và những nơi có thể giúp phụ nữ Việt Nam gặp hoàn cảnh khó khăn.

Chị không thể cho tôi biết địa chỉ của Uyên khi chưa được con đồng ý. Tôi không trách. Tôi hiểu những người từng sống trong sợ hãi có lý do để giữ kín nơi ở của mình, ngay cả với người tự nhận là thân nhân.

Tôi để lại số điện thoại, địa chỉ khách sạn và lời nhắn rằng mẹ con đã mất. Nếu muốn biết thêm về những ngày cuối đời của mẹ, tôi mong con liên lạc.

Sau đó, tôi tìm đến một cơ sở bác ái Công giáo có những tu sĩ và thiện nguyện viên giúp đỡ người Việt nghèo khó. Họ từng hỗ trợ Uyên, nhưng chỉ biết con thỉnh thoảng tìm đến khi cần giúp đỡ. Không ai biết chính xác con đang ở đâu.

Vé máy bay về Canada đã đặt sẵn, nhưng tôi đổi ngày trở về.
Tôi đi bộ qua những con đường đầy lá vàng, ghé những quán cà phê nhỏ, thỉnh thoảng trở lại hội thiện nguyện hy vọng tìm con, nhưng bóng chim non chao nghiêng sắp gãy cánh là vẫn mịt mù, vô âm tín.

Sáu ngày trôi qua. Sáu ngày không dài so với hai mươi lăm năm, nhưng từng buổi sáng đối với tôi đều nặng nề.

Bất ngờ hội thiện nguyện gọi điện. Uyên đã nhận được lời nhắn và đồng ý gặp tôi tại một nhà hàng yên tĩnh nằm sâu trong con hẻm ít người qua lại.

Cuộc hẹn được ấn định vào đúng mười hai giờ trưa hôm sau. Trưa vì ít người trong quán. Tôi ghi địa chỉ vào sổ tay, không hỏi thêm gì.

Đêm ấy, tôi ngồi bên cửa sổ khách sạn, nhìn mưa đọng thành những vệt dài trên kính. Trong lòng vừa có hy vọng, vừa có nỗi sợ. Tôi sợ Uyên không tin mình. Sợ con tin rồi sẽ càng đau đớn hơn. Tôi đã nghĩ rất nhiều điều sẽ nói khi gặp con. Nhưng càng nghĩ, tôi càng nhận ra chẳng có lời nào đủ sức bù đắp cho một quãng đường dài không cha của đời con.

Tôi đến nhà hàng hẹn trước sớm nửa giờ. Tôi chọn chiếc bàn cạnh cửa sổ, gọi một tách trà rồi ngồi chờ. Trên bàn là tấm ảnh cũ của Nguyệt và bản sao giấy khai sinh tôi mang từ Việt Nam sang. Tôi đã lấy tờ giấy ấy ra xem không biết bao nhiêu lần. Những dòng chữ đơn sơ, cũ kỹ, vậy mà đã làm thay đổi toàn bộ phần đời còn lại của tôi.

Uyên bước vào quán đúng giờ hẹn.
Vừa nhìn thấy tôi, con thoáng mừng. Có lẽ Uyên nghĩ tôi không tìm được mẹ nên quay lại để trả số tiền đã nhờ gửi hôm trước. Ít ra, trong mắt con, tôi vẫn là một người giữ lời.

Uyên kéo ghế ngồi xuống, đặt chiếc túi xách đã sờn mép lên đùi. Gương mặt con hơi xanh, đôi mắt có vẻ mệt mỏi, nhưng dáng ngồi vẫn thẳng và ánh nhìn rất tỉnh táo. Con thường xuyên nhìn quanh, như thể lúc nào cũng cần biết ai vừa bước vào, ai đang đứng gần mình. Nhìn dáng vẻ ấy, tôi càng hiểu cuộc đời con hẳn đã không dễ dàng.

Sau vài câu chào hỏi thăm nhau, tôi lấy tấm ảnh cũ đặt trước mặt con. Đó là ảnh Nguyệt thời còn trẻ, đứng bên một người đàn ông có gương mặt hao hao giống người đang ngồi đối diện.

Uyên cúi xuống nhìn khá lâu rồi ngước lên. Môi con khẽ động, như muốn hỏi điều gì. Tôi lấy tiếp bản sao giấy khai sinh, đặt cạnh tấm ảnh.

Tôi nói mình đã tìm được mẹ con. Nhưng bà đã mất một ngày sau khi chúng tôi gặp nhau.

Tôi không bao giờ quên được gương mặt Uyên lúc ấy.
Con sững lại. Hai bàn tay đang giữ quai túi bỗng siết chặt. Uyên nhìn tôi, đôi môi hé ra nhưng không có tiếng nào thoát khỏi cổ họng. Một thoáng sau, con cúi xuống nhìn tấm ảnh rồi lại ngẩng lên, như thể đang cố hiểu những lời vừa nghe có thật hay không.

Tôi muốn nói thêm, nhưng cổ họng nghẹn lại khi hình ảnh Nguyệt nằm ôm bức ảnh con trên ngực, ảnh theo từng hơi thở nhấp nhô như thể bà đang ru nó ngủ lần cuối, sợ chỉ cần buông tay một chút thôi là đời sẽ cuốn nó đi xa khỏi tầm tay.
Đến đó, tôi phải ngừng lại. Uyên cúi gập người xuống.

Ban đầu chỉ là một cái rung rất nhẹ ở hai vai. Rồi hơi thở con bỗng dồn dập, ngắn và gấp, như thể có vật gì chẹn ngang lồng ngực. Uyên cố hít vào nhưng hơi thở cứ vấp lại giữa chừng.

Một tiếng nấc bật ra, rồi tiếng thứ hai, nhỏ hơn, nghẹn hơn. Con đưa tay bịt miệng. Những ngón tay run bần bật. Con cúi mặt xuống, cố ghìm tiếng khóc, nhưng bờ vai cứ rung lên từng chập.

Có lúc con ngẩng đầu, hít một hơi thật sâu như muốn lấy lại bình tĩnh, rồi bất ngờ co người lại, hai bàn tay bấu chặt mép bàn.

Uyên không khóc thành tiếng. Chỉ có những tiếng nấc bị ghìm lại, những hơi thở đứt quãng và đôi mắt mở lớn, đỏ dần lên. Mấy lần con đưa tay quệt nước mắt, nhưng nước mắt cứ trào ra.

Tôi ngồi bất động. Tôi chưa từng thấy một người đau đớn đến vậy mà vẫn cố không bật thành tiếng. Nỗi đau của con như bị nhốt trong lồng ngực, không tìm được đường thoát ra ngoài.

Tôi nhìn con gái mà không biết phải làm gì. Tôi muốn đưa tay sang, đặt tay lên vai con, muốn nói một câu gì đó để nỗi đau vơi đi đôi chút. Nhưng tôi sợ cái chạm của mình sẽ khiến Uyên càng đau hơn.

Tôi là cha, nhưng đối với Uyên, tôi vẫn chỉ là một người đàn ông xa lạ.
Tôi đã mất Nguyệt. Còn Uyên vừa mất người thân duy nhất. Nỗi đau của con có những phần tôi không thể chạm tới, bởi tôi đã không có mặt trong những năm tháng ấy.

Một lúc lâu sau, Uyên mới ngẩng lên. Mắt con đỏ hoe, gương mặt tái nhợt. Con lấy khăn giấy lau mặt, nhưng bàn tay vẫn run.

Tôi để sự xúc động của con lắng xuống. Đến lúc tôi phải lấy bình tỉnh cho mình. Tôi đẩy tờ khai sinh về phía Uyên, rồi đặt hộ chiếu bên cạnh. Tôi chỉ vào dòng tên người cha trong giấy khai sinh và tên người trong hộ chiếu.

Uyên cúi xuống. con đọc tên ấy một lần, rồi thêm lần nữa. Ánh mắt chuyển từ sổ hộ chiếu rồi dừng lại trên gương mặt tôi. Tôi thấy con chớp mắt liên tục, cố nhìn cho rõ. Bàn tay cầm tờ giấy bắt đầu run lên.

Tôi biết con đã hiểu. Người cha ghi trong giấy khai sinh chính là tôi.
Trong vài giây ngắn ngủi, gương mặt Uyên thay đổi liên tục. Đầu tiên là kinh ngạc, rồi hoài nghi, rồi một vẻ bàng hoàng đến tội nghiệp. Con nhìn tôi như nhìn một người vừa bước ra từ câu chuyện bí mật mà mẹ đã mang theo suốt cuộc đời.

Tôi muốn nói với con rằng tôi chính là người đàn ông trong tấm ảnh, là người từng yêu mẹ con, cũng là người đã không hề biết sự hiện diện của con trên đời.
Nhưng tôi chưa kịp mở lời, Uyên đã hỏi, giọng khản đặc: “Ông là cha tôi sao?”
Tôi gật đầu. Uyên nhìn tôi rất lâu. Trong mắt con có một điều gì đó vừa đau đớn, vừa ngơ ngác, như thể con đang cố tìm một chỗ đứng giữa hai sự thật quá lớn vừa ập xuống đời mình.

Mẹ đã mất. Và con vừa tìm thấy cha.
Tôi không biết trong khoảnh khắc ấy, điều gì đã xảy ra trong lòng Uyên. Nhưng tôi thấy ánh mắt con dịu đi trong một thoáng rất ngắn. Đôi môi đang mím chặt bỗng run lên, rồi hé ra như muốn gọi một tiếng gì đó.

Tôi đã chờ. Tôi không biết mình đang chờ tiếng gọi nào, nhưng trong lòng bỗng dâng lên một niềm xúc động khó tả. Tôi muốn nghe con gọi mình một tiếng ba, dù chỉ một lần, dù tiếng gọi ấy có ngập ngừng hay xa lạ đến đâu.

Nhưng Uyên không gọi. Con cúi xuống nhìn tấm ảnh của mẹ, đưa ngón tay chạm nhẹ lên gương mặt người đàn bà trong ảnh. Nước mắt lại rơi. Uyên lau vội, rồi nhìn tôi thêm một lần nữa.

“Mẹ có nhắc đến tôi không?” Câu hỏi khiến lòng tôi thắt lại.
Tôi không dám kể thay những điều Nguyệt chưa từng nói. Nhưng tôi kể lại giây phút Nguyệt nhận ra tôi. Tôi cũng không muốn biến người đàn bà đã khuất thành một câu chuyện chỉ có nước mắt và tiếc thương.

Uyên nghe, không ngắt lời. Thỉnh thoảng, con nhắm mắt lại. Có lúc, con cắn chặt môi, hai bàn tay đan vào nhau đến trắng bệch. Tôi nhận ra con đang cố giữ mình bình tĩnh. Uyên không muốn để bản thân gục xuống thêm lần nữa. Tôi nhìn con gái, vừa thương vừa xót.

Tôi đã sống ở Canada, có gia đình, có công việc, có những năm tháng được nhìn con cái lớn lên. Còn Uyên đã phải tự mình đi qua những đoạn đường mà tôi không thể hình dung hết.

Tôi không có quyền đòi con phải tin mình ngay lập tức. Tôi chỉ mong Uyên hiểu rằng lần này, người ngồi trước mặt con không đến để lợi dụng, phán xét hay buộc con làm bất cứ điều gì. Tôi đến vì con là con gái tôi.

Tôi muốn nói điều ấy, nhưng sợ những lời quá lớn sẽ khiến con càng dè chừng. Vì vậy, tôi chỉ kể thật chậm những gì đã xảy ra. Tôi nói mình không hề biết có con, rằng tôi chỉ phát hiện ra sự thật khi nhìn tờ khai sinh.

Tôi không thanh minh thêm. Tôi biết lời giải thích của mình, dù đúng đến đâu, cũng không thể trả lại cho Uyên một tuổi thơ có cha.

Con vẫn nhìn tôi. Tôi thấy Uyên quan sát từng cử chỉ, từng lời nói của mình. Có lẽ con đang tìm một dấu hiệu để tin. Cũng có thể con đang cố hiểu vì sao người đàn ông xa lạ này lại có đôi mắt, sống mũi và nét mặt khiến mình cảm thấy thân quen đến vậy.

Một lúc sau, Uyên khẽ cúi đầu. Tôi không biết đó là sự chấp nhận, một lời cảm ơn, hay chỉ là cách con giấu đi cảm xúc đang trào lên. Nhưng tôi đã thấy trong mắt con một niềm vui nhỏ bé.

Nhưng đúng lúc ấy, Uyên nhìn ra cửa kính.
Một người đàn ông vừa bước xuống xe bên kia đường. Có thể chỉ là một người qua lại bình thường, nhưng con lập tức cứng người.
Bàn tay Uyên đang đặt trên bàn bỗng rút về, kéo chiếc túi sát vào mình. Con quay đầu nhìn cửa ra vào, rồi nhìn sang phía cửa kính.
Sự thay đổi diễn ra nhanh đến mức tôi không kịp hiểu.
“Có chuyện gì vậy, Uyên?”
Uyên đang sợ một điều gì đó có thật.
Trước đó, qua những gì con kể và những điều tôi được biết, tôi hiểu cuộc hôn nhân của con có nhiều uẩn khúc. Gia đình bên chồng từng thuê người dò tìm tung tích con. Tôi không biết họ đã lần đến Đài Bắc hay chưa, cũng không biết có ai đang theo dõi Uyên.
Nhưng nhìn vẻ mặt ấy, tôi hiểu nỗi sợ của con không phải chuyện có thể dùng vài lời an ủi để xua đi.

Uyên bất ngờ đứng lên. Chiếc ghế xê dịch trên nền gạch tạo thành một tiếng động khô khốc. Con luống cuống cầm túi, làm rơi chiếc khăn giấy xuống sàn mà không hay biết.
Tôi cũng đứng dậy.
“Uyên, con đừng sợ. Có ba đây.”
Tôi không biết tiếng ba thoát ra từ lúc nào. Chỉ nhớ rằng khi nghe tôi xưng ba, con khựng lại trong giây lát.
Uyên nhìn tôi. Môi con run lên. Tôi tưởng Uyên sắp nói điều gì đó. Có lẽ là một câu hỏi, có thể là tiếng gọi Ba đầu tiên dành cho người cha vừa tìm thấy.
Nhưng cuối cùng, con chỉ nhìn tôi thêm một lần rồi vội vã quay đi.
Tôi không với theo. Tôi muốn gọi con trở lại, nhưng tiếng gọi mắc lại trong cổ họng. Trên bàn, tấm ảnh của Nguyệt vẫn nằm cạnh bản sao giấy khai sinh.
Ngoài phố, mưa bắt đầu rơi.

Những ngày sau đó, tôi tìm cách liên lạc con lần nữa. Tôi nhờ hội thiện nguyện 
chuyển lời rằng mình vẫn ở Đài Bắc thêm ít hôm. Nếu con muốn biết thêm về mẹ, muốn nhận những tấm ảnh cũ hay cần giấy tờ gì, tôi sẵn lòng giúp.
Một tuần sau, điện thoại tôi nhận được tin nhắn từ một số lạ. Uyên muốn hỏi thêm về mẹ.
Chỉ vài câu nhắn ngắn, nhưng tôi đọc đi đọc lại nhiều lần. Tôi không vội gửi một đoạn dài, chỉ trả lời rằng mình vẫn ở khách sạn cũ. Khi nào con thấy thuận tiện thì có thể gọi hoặc đến gặp.

Hai ngày sau, Uyên gọi điện với một số khác.
Giọng con vẫn dè dặt. Con hỏi về những năm cuối đời của Nguyệt, căn nhà ở Tân Lộc, những tấm ảnh và giấy tờ mẹ để lại. Có lúc, Uyên im lặng rất lâu, như đang cân nhắc xem có nên hỏi thêm hay không.

Tôi kể những gì mình tận mắt chứng kiến. Tôi không tô vẽ cuộc đời Nguyệt thành một câu chuyện đẹp đẽ, cũng không giấu những điều đau lòng. Tôi biết Uyên đã mất mẹ, và con xứng đáng được biết sự thật về người đã sinh ra mình.
Khi tôi đề nghị gửi ảnh và giấy tờ, Uyên đồng ý. Chúng tôi bắt đầu từ những việc nhỏ như vậy.

Một địa chỉ để gửi thư. Một số điện thoại để liên lạc. Vài tấm ảnh cũ được chụp lại cẩn thận.

Thỉnh thoảng, Uyên hỏi về cuộc sống của tôi ở Canada. Tôi kể về mùa đông, về căn nhà có cửa sổ nhìn ra khoảng sân phủ tuyết, về những buổi sáng pha trà và đọc báo.

Trước ngày đi, tôi gửi cho Uyên bản sao những giấy tờ liên quan đến mẹ, cùng địa chỉ và thông tin liên lạc của mình. Tôi nói nếu sau này con cần tìm hiểu những thủ tục pháp lý để trở về Việt Nam hay đi Canada đoàn tụ với tôi sau này, tôi sẽ tìm người có chuyên môn giúp đỡ.

Tôi không hứa điều gì chưa chắc chắn, càng không muốn dùng một tương lai xa xôi để khiến con tin mình. Tôi cũng không xin Uyên gọi mình là ba. Tôi biết tiếng gọi ấy, nếu một ngày được cất lên, phải đến từ lòng con chứ không phải từ mong muốn của tôi.

Tôi đổi vé máy bay lần nữa để hy vọng gặp lại con lần cuối trong chuyến này. Tôi vẫn giữ liên lạc với hội thiện nguyện ở Đài Bắc. Qua họ, tôi biết Uyên vẫn sống trong sợ hãi, chỉ mong thoát khỏi cuộc hôn nhân bất hạnh để trở về Việt Nam, sống trong căn nhà cũ của mẹ.

Tôi tìm được một luật sư di trú ở Đài Bắc nhờ giúp đỡ. Ông đề nghị trước hết tìm pháp lý bảo vệ Uyên, đồng thời thương lượng với gia đình bên chồng về việc ly hôn. Nếu họ không hợp tác, ông có thể tố cáo những hành vi có đủ chứng cứ về lừa đảo trong hôn nhân và hành hạ tinh thần, thể xác.

Nghe con chỉ muốn trở về căn nhà cũ ở Tân Lộc, lòng tôi chợt quặn đau. Căn nhà ấy từng có Nguyệt, có những năm tháng nghèo khó mà bình yên. Giờ mẹ đã mất, tôi chỉ mong nơi đó có thể giúp con tìm lại chút bình yên đã đánh mất.

Tôi không dám mong Uyên sẽ tha thứ cho mình. Tôi đã vắng mặt trong cuộc đời con suốt hai mươi lăm năm, không thể dùng vài lời xin lỗi để bù đắp những tháng ngày con phải chịu đựng một mình. Tôi chỉ muốn giúp con thoát khỏi những điều bất hạnh, rồi để con tự quyết định cuộc đời mình.

Uyên hỏi tôi khi nào trở lại Canada. Tôi nói luật sư cho biết đã tìm chỗ trú an toàn cho con nên tôi an tâm đi về Canada vì ở đó có quá nhiều chuyện cần giải quyết. Tôi nói chuyến bay đã đặt vào bảy giờ tối thứ Bảy tuần này. Tôi dặn con hãy cố gắng giữ gìn sức khỏe, ở lại bình yên. Khi nào con cần, tôi sẽ trở lại Đài Bắc bất cứ lúc nào.

Uyên im lặng, không nói gì. Tôi cũng không hỏi thêm. Tôi biết giữa hai cha con vẫn còn những khoảng cách chưa thể vượt qua, và có lẽ điều tốt nhất tôi có thể làm lúc này là để con thư thả, bình yên.

*****
Thứ Bảy. Phi trường Đào Viên.
Tôi kéo chiếc vali nhỏ, tiếng bánh xe lạo xạo trên nền gạch lạnh. Đài Bắc cuối thu không có nắng, chỉ một màu xám đục trùm lên kính, gió lùa hun hút qua những khung cửa tự động đóng mở. Loa gọi chuyến bay. Tôi siết chặt quai vali, tự dặn mình đừng quay đầu lại.
Tôi bước về phía cổng cách ly. Giữa dòng người đưa tiễn và những vòng tay chia biệt, tôi chợt nghe một tiếng gọi phía sau.
“Ba!”
Tôi đứng sững người. Tiếng gọi ấy rất khẽ, gần như chìm vào tiếng loa thông báo và tiếng bánh vali lăn trên nền gạch. Nhưng tôi biết mình không nghe lầm. Tôi quay lại. Uyên đang đứng cách tôi vài bước trong dòng người hối hả.
Con mặc chiếc áo khoác màu xanh với những cánh hoa cúc vàng, mái tóc buông xuống hai bên má. Gương mặt tái đi vì lạnh hay vì xúc động. Đôi mắt đỏ hoe, đôi môi run run. Có lẽ con đã đến từ lâu, đứng lặng ở đó, nhìn tôi kéo vali đi mà chưa đủ can đảm gọi.
Tôi nhìn con, không tin vào mắt mình.
“Uyên… con…”
Tôi chưa kịp nói hết câu, con đã bước nhanh về phía tôi. Chiếc vali tuột khỏi tay, tôi dang hai cánh tay đón con theo bản năng. Uyên ôm chầm lấy tôi, vùi mặt vào ngực tôi như một đứa trẻ vừa đi lạc tìm được đường về. Hai vai con rung lên. Tiếng nấc nghẹn ngào bật ra, đứt quãng, như bao nhiêu tủi hờn và sợ hãi đã bị dồn nén suốt những năm tháng dài, giờ đây mới tìm được nơi để trút xuống.
“Ba… Ba ơi…
Tôi ôm con thật chặt. Ba tiếng ấy khiến tôi không còn đứng vững. Tôi cúi đầu, áp má lên tóc con, nước mắt cứ thế trào ra. Tôi đã từng tưởng tượng biết bao lần cảnh gặp lại con, từng mơ một ngày con nhận mình là cha. Nhưng trong những giấc mơ ấy, tôi chưa bao giờ hình dung được tiếng gọi ba đầu tiên lại đến vào đúng lúc tôi sắp rời xa con, giữa một phi trường xa lạ, khi chuyến bay trở về đang chờ phía trước.

Uyên ngẩng lên nhìn tôi. Nước mắt đọng trên hàng mi. Con đưa tay chạm vào khuôn mặt tôi, như muốn xác nhận người đàn ông trước mặt thật sự là cha mình, không phải một giấc mơ mà khi tỉnh dậy, con lại phải trở về với những tháng ngày cô độc.
Tôi nắm lấy bàn tay ấy, áp vào má mình.
“Ba đây, con à. Ba đây…”
Uyên lại ôm tôi. Lần này, con khóc thành tiếng. Còn tôi, người đàn ông đã đi qua gần nửa đời lưu lạc, từng nghĩ mình đã quen với những cuộc chia ly, lại khóc như chưa bao giờ biết đau là gì.
Dòng người vẫn đi qua. Tiếng loa vẫn vang lên. Nhưng trong khoảnh khắc ấy, cả phi trường rộng lớn dường như chỉ còn lại hai cha con.
Tôi cúi xuống hôn nhẹ lên trán con.
“Ba sẽ trở lại. Bất cứ khi nào con cần, ba sẽ trở lại.”
Tôi bước đi trong nỗi bịn rịn, nhưng mỗi bước đều mang theo hình ảnh con: đôi mắt đỏ hoe, bàn tay nhỏ níu lấy tay tôi, giọng nói khẽ như gió lùa qua bãi lau quê nhà.
Và tôi biết, dù đường bay có dài đến đâu, chỉ cần con gọi, tôi sẽ tìm đường quay lại như con nước mỗi mùa vẫn tìm về bến cũ, chưa từng lạc đường.

Tim Nguyễn
London 26/10/2026

Blog Archive