Tuesday, November 3, 2026

Một người Nhật sống dưới gầm cầu hỏi tôi có cô đơn không?

Có một câu hỏi tôi đã trả lời rất qua loa, dù người hỏi lại là người tôi muốn gặp lại nhất trong những ngày ở Tokyo. Ông là một người vô gia cư sống dưới gầm cầu bên sông Sumida. Tối đó, ông hỏi tôi có cô đơn không. Tôi bảo cũng có chút chút. Ông cười, không hỏi thêm.

Mãi về sau tôi mới nhận ra, trong 2 người ngồi dưới gầm cầu hôm ấy, chưa chắc ông đã là người cô đơn hơn.

Dạo ấy tôi vừa từ chức, quay lại Tokyo, tự cho mình 2 tuần để nghĩ xem tiếp theo sẽ làm gì. Mấy ngày đầu khá dễ chịu. Sáng ngủ tới khi tự thức, đói thì ghé quán quen, ăn xong đi bộ loanh quanh. Tôi vốn ít nói, cũng quen đi một mình. Tôi có vài người bạn Nhật, lâu lâu gặp nhau uống bia, dần dần không còn bạn người Việt.

Đã lâu rồi tôi không ngồi nói tiếng Việt với ai cho ra một câu chuyện. Có những buổi tối, tôi nhận ra cả ngày mình chưa nói một câu tiếng Việt nào. Tôi mở máy tính viết đôi dòng, chuyện mình từng gặp, có khi là một ý nghĩ còn dang dở. Tôi viết cho mình, chẳng có ai chờ đọc. Có những chuyện để trong đầu mấy ngày vẫn chưa rõ, tới khi viết xuống mới biết vì sao mình cứ nghĩ hoài về nó.

Buổi tối cuối tháng 12 ấy, tôi đi dọc bờ sông Sumida. Tokyo đã lên đèn, gió từ mặt sông thổi lên lạnh đến mức tôi phải đút cả 2 bàn tay vào túi áo khoác. Dưới chân cầu, một người đàn ông ngoài 60 đang cúi buộc lại góc tấm bạt che chỗ ngủ. Mấy thùng giấy được kê cao khỏi mặt đất, đôi giày đặt ngay ngắn bên cạnh. Tôi đi ngang một đoạn, thấy máy bán nước tự động nên mua 2 lon ca cao nóng, đem một lon lại cho ông. Ông ngẩng lên, chỉ vào ngực mình, hỏi 俺に? (Cho tôi hả?). Tôi gật đầu. Ông nhận bằng cả 2 tay, áp lon nước lên má rồi cười. Tôi ngồi xuống bậc bê tông gần đó.

Ông từng lái xe tải gần 30 năm, từ Hokkaido xuống tận Kyushu. Nhắc tới một quán mì ở Niigata, ông còn nhớ bà chủ hay cho cánh tài xế thêm một quả trứng. Kể tới một khúc cua trên đường tuyết, ông đặt lon nước xuống, đưa 2 tay ra xoay vô lăng cho tôi coi rồi tự bật cười. Tôi thích nghe ông kể mấy chuyện như vậy. Lúc mới đi ngang, tôi chỉ thấy một người đàn ông đang sửa chỗ ngủ. Ngồi thêm một lát, tôi mới được thấy dáng ông hồi còn ngồi sau tay lái, nghe ông kể về những con đường mà có lẽ cả đời tôi cũng chưa đi hết.

Tôi hỏi ông sống ở đây bao lâu rồi. Ông ngẫm nghĩ, bảo chắc cũng 3 năm. Mới ngồi có một lát, hơi lạnh từ bậc bê tông đã thấm qua quần tôi. Ông vẫn chưa khui lon nước. Tôi hỏi sao không uống lúc còn nóng, ông cười, bảo cứ cầm thêm chút nữa. Hai bàn tay ông ôm lon nước như người ta ôm một cái lò sưởi nhỏ.

Hồi con gái còn nhỏ, những hôm được nghỉ, ông hay cho con bé leo lên ghế phụ, chở đi một đoạn rồi ghé trạm nghỉ mua kem. Trên đường về, có khi quay qua đã thấy nó ngủ gục, đầu nghiêng sang một bên, tay vẫn ôm món đồ chơi đem từ nhà theo. Trong ví ông còn tấm hình con bé hồi chừng 5 tuổi, mặc áo khoác đỏ, đứng cạnh chiếc xe tải màu trắng của ba. Tấm hình được bọc trong túi nhựa, một góc đã gập.

Ông lấy ra cho tôi coi, bảo hồi đó nó thích đi theo ông lắm. Có lần ông phải chạy chuyến xa, nó khóc đòi theo, ông hứa khi nào về sẽ chở đi ăn kem. Chuyến ấy kéo dài hơn dự tính. Lúc về, ông mua kem thật, nhưng con bé đã giận, nhất định không chịu ăn. Ông kể tới đó thì cười, nói trẻ con mau giận mà cũng mau quên.

Về sau ông nhận những chuyến xa hơn, về tới nhà thì con thường đã ngủ. Có bữa còn thức, nó kéo ghế ngồi cạnh bàn ăn, kể chuyện ở trường. Ông mệt quá, con nói gì cũng ậm ừ. Chuyện học hành của nó đã có vợ lo, hôm nào có chuyện cần biết, bà sẽ nói lại. Sau một chuyến dài, ông thường ngồi trong xe hút hết điếu thuốc mới vào nhà. Có hôm đèn đã tắt, ông mở cửa thật khẽ vì sợ đánh thức vợ. Bây giờ nghĩ lại, biết đâu mấy đêm đó bà vẫn còn thức. Sống với nhau chừng ấy năm, chuyện nhỏ vậy mà ông chưa từng hỏi.

Có một lần con gái gọi điện khi ông đang chạy xe. Ông bảo đang bận, lát nữa gọi lại. Tối hôm đó ông quên. Mấy ngày sau nhớ ra thì lại nghĩ chắc chẳng có chuyện gì quan trọng, nếu có thì nó sẽ gọi thêm lần nữa. Ông không nhớ cuộc điện thoại ấy vào năm nào, chỉ nhớ lúc đó con gái đã lớn, giọng nói không còn giống con bé ngồi ghế phụ ngày xưa.

Tôi hỏi ông có nhớ lần cuối cùng 2 cha con ngồi ăn cơm với nhau là khi nào không. Ông nhìn tấm hình, nghĩ một hồi rồi lắc đầu. Tôi hỏi thêm lần cuối ông đưa con đi chơi. Ông cũng không nhớ. Nhưng ông vẫn nhớ rất rõ quán mì ở Niigata, nhớ một khúc cua trên đường tuyết, nhớ cả chỗ đậu xe nào ở Hokkaido có nhà vệ sinh sạch sẽ. Ông nhìn tôi rồi cười ngượng, bảo trí nhớ mình dạo này kém quá.

Vợ ông mất sau một thời gian bệnh. Lần cuối 2 cha con gặp nhau là ở đám tang bà. Khi ấy con gái đã sống ở Osaka, có chồng và một đứa con nhỏ. Nó muốn ông về sống gần gia đình, nhưng ông từ chối. Ông còn căn nhà cũ, còn sức khỏe, nghĩ mình ở vậy cũng được. Sau này nghỉ lái xe, tiền dành dụm hết dần. Ông rời căn nhà ấy, ở nhờ vài nơi trước khi tới chân cầu này.

Tôi hỏi sao bây giờ ông không tìm con. Một chiếc xe tải chạy qua phía trên, tiếng động cơ vọng xuống khiến 2 người phải ngừng nói một lúc.

Đợi xe đi khuất, ông mới cất tấm hình vào ví, bảo 迷惑をかけたくないんだ (Tôi không muốn làm phiền nó).

Tôi hỏi ông có chắc con gái sẽ thấy phiền không. Ông không trả lời. Tôi nói nếu còn nhớ địa chỉ, tôi có thể giúp tìm cách liên lạc. Ông lắc đầu. Tôi tưởng ông đã quên, nhưng ông bảo vẫn nhớ cả tên ga gần nhà con gái.

Cách đó không lâu, ông đã tới Osaka. Ông dành dụm tiền, mua vé tàu, tìm đến khu phố con gái sống. Ông đứng bên kia đường nhìn căn nhà một lúc lâu. Trước cửa có chiếc xe đạp trẻ con, trên ban công phơi mấy bộ quần áo nhỏ. Ông không biết đứa cháu ngoại mình từng thấy trong ảnh bây giờ đã lớn tới đâu, cũng không biết con gái có còn ở căn nhà ấy không. Địa chỉ đó đã cũ mấy năm rồi.

Tôi hỏi ông có bấm chuông không. Ông lắc đầu. Tôi hỏi tại sao. Ông bảo lúc đứng trước căn nhà, ông chợt nghĩ nếu người mở cửa là con gái, ông sẽ nói gì với nó. Rằng ba đã hết tiền, không còn nhà để ở, mấy năm nay ngủ dưới gầm cầu? Hay rằng ba chỉ ghé thăm, lát nữa sẽ đi? Ông đứng đó tới khi trời tối, rồi quay về Tokyo.

Tôi hỏi ông có thấy con gái bước ra không. Ông bảo không. Có khi nó đã chuyển nhà rồi, ông nói thêm, như thể điều đó khiến chuyến đi đỡ khó xử hơn.

Suốt buổi tối, ông kể về những chuyến xe dài hàng ngàn cây số bằng một giọng rất tự nhiên, đôi lúc còn cười lớn. Vậy mà chuyện đứng trước cửa nhà con gái, ông kể nhỏ tới mức tôi phải nghiêng người mới nghe rõ. Tôi hỏi nếu được quay lại hôm đó, ông có bấm chuông không. Ông nghĩ rất lâu rồi nói không biết. Sau đó ông hỏi ngược tôi, nếu là cậu thì sao.

Tôi không trả lời được.
Tôi đã tính nói rằng ông nên tìm con, rằng biết đâu cô ấy vẫn đang chờ. Nhưng tôi chưa từng là người cha đứng trước cửa nhà con gái mình sau nhiều năm xa cách, trong túi không còn gì ngoài một tấm hình cũ. Tôi cũng không biết cô ấy đã sống những năm ấy ra sao. Biết đâu cô vẫn thương ba. Biết đâu cô đã giận ông từ rất lâu.

Ông lấy tấm hình ra thêm lần nữa. Tôi nhìn con bé mặc áo khoác đỏ đứng cạnh chiếc xe tải trắng, tự hỏi liệu người phụ nữ ở Osaka bây giờ có còn giữ một tấm hình giống vậy không.

Một lúc sau, ông hỏi tôi tại sao lại ở Tokyo một mình. Tôi kể mình vừa nghỉ việc, có 2 tuần để nghĩ chuyện làm gì tiếp theo. Tôi nói về những dự định còn chưa rõ ràng, những nơi có thể đến, những công việc có thể bắt đầu. Ông nghe chăm chú, thỉnh thoảng gật đầu.

Rồi ông hỏi 仕事を辞めて、寂しくない? (Nghỉ việc rồi, cậu có thấy cô đơn không?). Tôi bảo cũng có chút chút.

Ông kể hồi mới nghỉ lái xe, sáng nào ông cũng thức dậy rất sớm. Có bữa đang ngồi uống trà, nhìn đồng hồ thấy trễ, ông giật mình vì nghĩ người ta đang chờ mình giao hàng. Mất một lúc mới nhớ ra mình đã nghỉ việc. Những ngày đầu ông vẫn giữ thói quen kiểm tra thời tiết, xem đường nào có tuyết, đường nào dễ kẹt xe. Có hôm nghe tiếng xe tải chạy ngoài đường, ông còn ngẩng lên nhìn theo. Tôi hỏi rồi ông có quen được không.

Ông cười, nói そのうち、誰も待ってないことにも慣れるよ (Rồi từ từ cũng quen với chuyện chẳng còn ai chờ mình nữa).

Ông hỏi tôi có người thân ở Việt Nam không. Tôi bảo có. Ông hỏi vậy sao không về. Tôi nói mình còn vài chuyện muốn làm, cũng chưa biết sẽ ở đâu lâu dài. Ông gật đầu, không hỏi nữa.

Tôi có thể nói tiếng Nhật, ngồi uống bia với bạn bè, trao đổi công việc, kể chuyện đi đây đi đó. Nhưng có những điều tôi không biết phải nói với ai, mà nếu nói ra cũng chưa chắc người ta hiểu mình đang muốn nói gì. Tôi nhớ những đêm mở máy tính viết bằng tiếng Việt, viết xong lại đọc, sửa vài chữ rồi đóng máy. Có những chuyện mình muốn kể rất dài, nhưng không biết bắt đầu với người nào.

Ông hỏi tôi có nhớ nhà không. Tôi nói lâu lâu cũng nhớ. Ông bảo hồi còn chạy xe, có những chuyến ông chỉ mong về tới nhà, được tắm nước nóng rồi nằm ngủ trên tấm nệm quen. Bây giờ nghĩ lại, ông nhớ cả tiếng vợ đi lại trong bếp, nhớ tiếng con gái mở tivi, những âm thanh hồi đó ông thường thấy phiền vì muốn ngủ.

Đến lúc đứng dậy, tôi thấy 2 chân đã tê vì lạnh. Ông hỏi tôi còn ở Tokyo bao lâu. Tôi bảo chắc thêm ít ngày. Ông nói vậy hôm nào rảnh thì ghé chơi. Tôi gật đầu, bảo được. Trước khi đi, tôi hỏi ông có cần mua thêm gì không. Ông lắc đầu, chỉ giơ lon ca cao lên, nói cái này đủ rồi. Lon nước đã nguội bớt. Tôi chợt nhận ra từ lúc nhận tới giờ, ông chỉ mới uống vài ngụm.

Tôi đi được một đoạn thì quay lại nhìn. Ông đang cúi sửa tấm bạt, đôi giày vẫn đặt ngay ngắn cạnh chỗ ngủ. Phía trên cầu, xe cộ chạy qua không ngớt. Chắc vài tiếng nữa, khi những chuyến tàu đầu tiên bắt đầu hoạt động, người ta sẽ lại đi làm, đi học, đi gặp những người đang chờ mình ở đâu đó.

Những ngày sau đó, tôi bận thu xếp vài chuyện rồi rời Tokyo. Tôi không quay lại như đã hứa.

Một thời gian sau, có dịp trở về, tôi đi dọc đoạn đường ven sông ấy. Dưới chân cầu vẫn còn mấy tấm bạt, vài chiếc xe đạp cũ và những thùng giấy được xếp sát vào nhau. Tôi đi chậm qua từng chỗ, tìm chiếc áo khoác xanh đã bạc vai, nhưng không thấy ông. Tôi hỏi một người đàn ông đang ngồi gần đó, miêu tả ông già từng lái xe tải. Người ấy bảo có nhiều người tới rồi đi, ông không biết tôi đang tìm ai.

Tôi không biết ông đã chuyển sang chân cầu khác, đã về Osaka, hay đã xảy ra chuyện gì.

Đi ngang máy bán nước tự động, tôi mua một lon ca cao nóng. Cầm lon nước trong tay, tôi nhớ cách ông áp nó lên má rồi cười, nhớ tấm hình con bé mặc áo đỏ, nhớ cả lời ông bảo hôm nào rảnh thì ghé chơi.
Tôi đã không ghé.

Ngày ấy, tôi nghĩ mình có thể quay lại bất cứ lúc nào. Ông vẫn ở đó, Tokyo vẫn ở đó, con đường ven sông vẫn ở đó. Cũng như ông từng nghĩ con gái còn nhỏ, những chuyến xe rồi sẽ kết thúc, về nhà lúc nào chẳng được.

Tôi không biết ông có còn nhớ người thanh niên đã mua cho mình một lon ca cao nóng. Có lẽ chỉ là một người khách qua đường, một buổi tối tình cờ giữa rất nhiều buổi tối ông đã sống dưới chân cầu. Nhưng sau bao nhiêu năm, giữa những người tôi từng gặp, những thành phố tôi từng sống, tôi vẫn nhớ một người đàn ông không rõ tên, không biết địa chỉ, cũng chẳng có cách nào tìm lại.

Ông từng lái xe gần 30 năm, thuộc lòng những con đường từ Hokkaido tới Kyushu, nhưng không dám bước qua con đường trước nhà con gái. Còn tôi, tối hôm ấy đã hứa sẽ quay lại, rồi cứ nghĩ mình còn nhiều thời gian.

Đến giờ tôi vẫn không biết, nếu hôm đó tôi quay lại, liệu ông có còn ngồi dưới gầm cầu chờ một người tới nói chuyện hay không.

Và nếu ông thực sự đã về Osaka, liệu có ai mở cửa cho ông?

lu minh tri

No comments:

Blog Archive