VỀ MIỀN TÂY
Tháng 10 năm 1982 tôi đi bảo vệ đợt ra quân của lính nhập ngũ năm 78 về Sài Gòn. Đại đội vệ binh đi đợt đó với tôi có thằng Linh, quê miền Tây. Tên thằng này ngộ lắm: là Lyn, ông làm giấy khai sinh gõ máy chữ một hồi thành Linh, thành tên cúng cơm luôn. Thì ra "lỗi của thằng đánh máy" là có thật, đã xảy ra từ ngày xửa ngày xưa chớ không phải mới rộ lên như thiên hạ thường bình phẩm gần đây.
Đoàn xe vận tải 5 chiếc ngang qua huyện Mung một đỗi khá xa nghe đâu là gần đến giáp giới với tỉnh Pursat thì chiếc xe thứ 3 ra hiệu xin dừng lại. Lý do là đám lính tráng trước giờ "xôm lia" (tạm biệt) chiến hữu còn ở lại, tổ chức liên hoan tưng bừng. Không biết ăn phải cái giống gì mà mấy thằng cùng bị "Tào Tháo rượt". Chịu hết nỗi, vừa nhảy xuống xe là mấy thằng kịp tụt quần, chĩa "nòng pháo" vào mấy đám ruộng ven đường, mặt dài ra như ống bơm xe đạp. Cũng may là tụi nó còn biết mắc cỡ nên "bộ ấm chén" giấu về phía ruộng lúa, chỉ phơi mông đầy ghẻ ngứa, hắc lào ra đường. Nói về...giao diện thì mông ai mà chẳng giống nhau. Chỉ tội cho mấy em gái Campuchia, vừa che mắt la: "Con táp ốt lờ o" (bộ đội không tốt), vừa chạy hớt hơ hớt hãi muốn tụt mấy cái xà rông đang quấn trên người khi chứng kiến cảnh tượng trút bầu tâm sự không giống ai của...những chàng chiến sĩ tình nguyện.
Giao quân ở Hóc Môn xong, thằng Linh tót thẳng một mạch về Vĩnh Long với lời nhắn xuống quê nó chơi. Nhỏ lớn chưa biết miền Tây dài ngắn thế nào nên tôi quyết định ra xa cảng miền Tây sau vài ngày loanh quanh phố thị Sài Gòn. Vé xe lúc đó bán nhỏ giọt nhưng bộ đội được ưu tiên. Tôi lên xe đi Vĩnh Long với một địa chỉ mơ hồ của thằng Linh để lại: ấp Nhà Thờ, xã Tân An, huyện Càng Long. Người ta nói đường đi là ở cửa miệng, sợ gì. Đường quốc lộ 1A hẹp té lại đầy ổ gà, ổ voi nên xe đò chạy trậm trầy trậm trật.
Lúc ấy mỗi tỉnh là một địa giới cát cứ riêng nên đầu và cuối mỗi tỉnh người ta cho dựng lên trạm liên ngành để ngăn sông cấm chợ. Bất cứ thứ gì người dân mang qua trạm đều bị khám xét, lục soát. Trạm tịch thu tất tần tật mọi thứ hàng hoá mang ra khỏi tỉnh. Có 2 trạm cực kỳ nổi tiếng về sự ghê gớm đó là trạm Suối Sâu và trạm Tân Hương. Từ cửa khẩu Mộc Bài về Sài Gòn bắt buộc xe phải dừng lại tại trạm Suối Sâu đóng chốt ở Trảng Bàng, Tây Ninh; còn trạm Tân Hương ở Tân Hiệp, Tiền Giang trên lộ trình từ Sài Gòn về miền Tây. Trạm Tân Hương nổi tiếng với giai thoại: xe chở một vị lãnh đạo công tác qua trạm bị chặn lại. Lái xe thò đầu ra thông báo đây là xe của ông ấy. Mấy "ông trời con" phán chắc nịch: ông nào cũng kệ, cho dù ông...mười một cũng phải chấp hành luật ngăn sông cấm chợ... Xe gần đến trạm Tân Hương mấy bà chị đi cùng xe quýnh quáng dúi vào tay tôi mấy gói hàng nói cầm dùm vì ba lô bộ đội ít bị xoi mói. Rồi xe cũng được cho đi để lại đằng sau những tiếng van nài, khóc than của những người dân bị tịch thu hàng hoá. Tôi nhớ câu thơ "Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh" của ông Tố Hữu mà hỏi lòng mình hạnh phúc đang ở nơi đâu?
Đến bắc Mỹ Thuận đã xế trưa. Xe xếp hàng dài vì kẹt phà. Người ta hát: "Chẻ tre bện sáo cho dày, ngăn đôi sông Mỹ có ngày gặp nhau", cứ nghĩ sông nào cũng giống nhau, chắc cũng như dòng sông Thu Bồn lặng lẽ ở Quảng Nam quê mình khi nhìn từ cầu Câu Lâu xuống. Bước lên phà, nhìn bờ sông xa ngút mắt phía bên kia tôi mới ngỡ ngàng. Đúng là "Tràng giang" của Huy Cận:
"Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng bến cô liêu."
Chỉ khác với bài thơ mỗi chỗ là bến luôn huyên náo, tấp nập, là nơi mưu sinh của biết bao phận đời. Trên phà xe các loại xếp đông ken, người ta chen chúc đi lại. Tiếng rao hàng lảnh lót: Ai mía ghim, cóc ổi; ai bánh tráng, bánh phồng; ai trứng cút, nem; ai bắp, trà đá...huyên náo như một khu chợ thu nhỏ. Phà rời bến, tiếng còi hụ chơi vơi trên dòng sông Tiền ngầu đỏ phù sa đầy thổn thức. Những giề lục bình bông tím trôi hoang hoải giữa mênh mông sóng nước làm khách tha hương như tôi thoáng chút chạnh lòng nhớ về quê cũ.
Xe đến Vĩnh Long, xuôi Long Hồ. Địa danh Long Hồ nhắc tôi nhớ những tối thứ bảy coi cải lương ké, đông như hội tại nhà thằng Thành con ông tám Cần ở xóm nhỏ Thanh Thuỷ, Đà Nẵng trước năm 1975. Hồi đó còn con nít chay nhưng cứ thấy bồi hồi khi nghe ông nghệ si Út Trà Ôn đóng vai ông cò Hương ca câu vọng cổ đầy khắc khoải trong vở cải lương "Tuyệt tình ca":
"Mỗi lần thấy bông ô môi điểm hồng trong gió chướng, mỗi lần nghe tiếng quết bánh phồng rộn rã đón xuân sang. Mỗi lần có dịp về Vĩnh Long, đi ngang ấp Tân Ngãi thấy chợ Trường An là mỗi lần tôi nhớ đến mùa xuân của đầu năm binh lửa. Nhớ đến dáng người vợ trẻ đã chèo xuồng qua sông Mỹ Thuận để đưa tôi rời tỉnh Long...Hồ".
Lớn lên, qua nhiều truân chuyên, nghe lại tôi mới thấy lời ca mộc mạc nhưng thấm đẫm nỗi lòng ray rức của một người đàn ông lưu lạc đi qua bão giông của chiến cuộc một thời.
Xế chiều, đến bến xe Càng Long. May mắn còn một chuyến đò dọc cuối cùng trong ngày. Mé sông hàng cây bần xoè tán gie ra, muốn ôm dòng nước vào lòng. Những bông bần chìm trôi theo con nước như mong mỏi tìm về những bãi bồi hiu hắt xứ quê trong câu ca dao: "Bông bần rụng trắng sông quê. Người đi xa xứ nhớ mong quê nhà". Hoàng hôn nhập nhoạng, con đò chậm rãi lướt nhẹ giữa đôi bờ rụng trắng bông bần, lòng tôi dậy lên một nỗi niềm man mác, bâng khuâng.
Tối mịt đò mới đến chợ xã, nơi đầu vàm của con sông. Hỏi đường, người ta nói đi vào ấp chừng bốn cây số nữa, cứ lội bộ dọc con đường đất nhỏ gồ ghề dọc theo bờ sông. Đi được vài đoạn là gặp cầu khỉ vì người ta khai mương, xẻ rạch để lấy nước sông vào vườn. Cầu chỉ là ngọn tre, cây gáo, cây bần ốm nhom ốm nhách nằm vắt vẻo trên những thanh tre bắt chéo phía trên có tay vịn mỏng manh. Tuỳ theo độ dài mà người ta chia nhịp, có khi là một, nhưng thường là nhiều hơn và nhịp thường lẻ. Đi kiểu gì thì cầu cũng lắc lư theo nhịp chân, cả cái tay vịn cũng ngã nghiêng, đi mà như làm xiếc. Càng đi chậm cầu càng đong đưa. Cũng may là đêm có trăng mờ mờ nên tôi một tay thì vịn, hai chân mò mẫm từng bước một trên những nhịp cầu chênh vênh. Đi được mươi bước là thấy tay vịn ngả nghiêng theo nhịp chân, cố vặn người để giữ thăng bằng chớ không là rớt xuống nước như chơi. Ấy vậy mà tôi cũng rớt lên, rớt xuống mấy lượt do mấy thân cầu quá dài. Hèn chi người mẹ miền Tây ru con:
"Ví dầu cầu ván đóng đinh, cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi. Khó đi mẹ dắt con đi. Con đi trường học, mẹ đi trường đời".
Rồi cũng đến được nơi cần tìm, đúng tên, đúng nghề nghiệp là "bộ đội Campuchia" mới về nhưng không...đúng người! Tôi như Từ Hải đứng chết trân giữa ánh đèn dầu le lói trong ngôi nhà người lạ. Cái lạnh từ bộ quần áo ướt sũng nước do té lọt mương, cái bụng bắt đầu kêu o o vì đói, thêm cái cảm giác hoang mang làm tay chân tôi bủn rủn, mềm như cọng bún. Được cái người miền Tây chân tình, lấy bụng đãi khách nên khi thằng con cỡ cùng trang lứa bảo tôi thay quần áo, bắt chuyện về đời lính chiến thì bà mẹ xuống bếp nấu cơm để mời khách. Cơm nước no nê, thằng con bảo nhà thằng bạn tôi ở bên kia sông, ngủ lại một đêm sáng nó đưa qua nhà. Trong hoạ có phúc là đây chớ đâu xa.
Sáng sớm, vợ chồng thằng Linh thấy tôi mang ba lô bước vào nhà thì hết hồn. Vợ nó lật đật xuống bếp nấu trà. Chờ mãi mà không thấy cơm nước, chỉ mỗi món nước trà uống xót cả bụng, tôi rủ nó ra quán nào đó kiếm cái ăn. Nó kêu hàng quán phải ra tuốt ngoài vàm, chỗ chợ xã tối hôm qua. Dân ở đây ăn ngày hai cữ là xế trưa và xế chiều, ráng nhịn đói một chút. Trưa, cha mẹ nó đãi tôi đặc sản miền Tây là cá vồ kho tiêu, và canh chua cá vồ nấu bông so đũa. Tôi nói cá vồ sao giống cá tra quá, cha thằng Linh nói là một đó, có điều cá tra Nam Vang mấy cậu ở Miên thường ăn là cá tự nhiên ở Biền Hồ, con nào con nấy bự chà bá lửa, còn cá ở đây nuôi hầm nên chỉ trộng trộng hơn ký mà thôi. Chiều, vợ nó làm mồi rủ hàng xóm qua chơi. Tôi không biết uống rượu, nhìn mấy can rượu khách mang đến mà rầu thúi ruột. Đối đế lắm tôi phải ngồi vào bàn nhậu, xin qua tua miết không được tôi nhắm mắt "làm" ly xây chừng để chứng tỏ tình thương mến thương với các "chiến hữu" miền Tây. Cái đầu rần rần, người nóng bừng, tôi lão đão lên bộ ván nằm ngay đơ cán cuốc. Mơ màng tôi còn nghe mấy thằng ngồi nhậu kháo nhau "Nam vô tửu như kỳ vô phong". Với thằng tôi bây giờ có phong hay không phong thì kỳ cũng rủ xụi lơ mất rồi. Đã yếu mà còn…phải ra gió!
Cổ họng khô khốc, tôi tỉnh dậy cũng vừa lúc tiệc nhậu vừa tàn. Uống ly nước chanh cho tỉnh người, tôi với thằng Linh ngồi nói chuyện trên trời dưới đất. Thấy hơi khuya, tôi bảo nó bà xã đang đợi. Nó nói cứng: vợ ngủ cả đời, mấy khi ông xuống, nằm cùng cho vui. Được một lúc, thấy tôi im re nó sè sẽ ngồi dậy, đi vô. Tôi nghe tiếng nhỏ vợ thầm thì: Chờ chút cho ảnh ngủ đã. Thanh niên: Ổng say có biết gì đâu. Có lấy cọc mà đóng vào tai ổng cũng không tỉnh. Sở dĩ tôi nghe rõ vì từ tấm phản vào nơi vợ chồng nó "tâm sự" chừng hai thước hơn, ngăn cách bởi một tấm màn vải. Tôi nghe tiếng cựa mình, rồi tiếng vạt giường tre kêu cót két, rất khẽ. Khẽ như câu thơ của "thần đồng": "Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng". Không biết thanh niên bạn tôi ở trạng thái nào: nghiêng hay...sấp!
Sáng ra lúc rửa mặt tôi nghiêng tai nhỏ nước vào. Vợ nó hỏi anh bị làm sao, con gì bò vào tai hả? Tôi tỉnh bơ: Không biết bị cái gì mà tai đau như bị ai đóng cọc. Nhỏ vợ mặt đỏ rần, quýnh quáng bỏ đi một nước, không quên nguýt chồng một cái dài cả cây số. Cái nguýt ngầm mắng vốn thằng chồng: Đó, thấy chưa, nói không chịu nghe, ham hố cho cố vô! Thằng chồng tiu nghỉu, miệng méo xẹo nhìn tôi: Cha nội, biết còn la lớn! Tôi cười, nụ cười ngây thơ vô số tội.
Người ta có thể không đi cầu khỉ nhưng đi "cầu cá vồ" thì không thể nào từ chối. Nó là nơi giải quyết "đầu ra" ở nơi này. Ngồi trên cầu nằm giữa cái ao tôi nghe mát rượi vì trống trên, hở dưới, chỉ che kín mỗi chỗ "ngã ba sung sướng". Phía dưới lũ cá đang hân hoan đánh chén, có khi chúng quẫy mạnh nước văng tung toé. Người ở đây coi việc "đi" là tự nhiên. Có lần vô tình băng ngang nhà hàng xóm thằng Linh, tôi thấy người phía trong và phía ngoài tíu tít nói chuyện, hứng chí lên có khi không chừng còn hát vọng cổ vang trời cũng nên!
Tôi hỏi thằng Linh cá dưới ao là cá gì? Nó nói là cá vồ mình ăn đó. Tôi xám hồn, thiếu điều muốn móc họng nôn ra. Nó trấn an tôi: Trước khi ăn người ta quây cá lại, tháo bọng cho nước sông ra vô liên tục đến khi nước ao sạch hẳn, cá cũng nhịn đói sạch ruột. Nó quen rồi nên nói vậy, chớ tôi thì chịu chết, nên bỏ nhỏ vào tai nó: Tao còn ở đây mày làm ơn nói với nhỏ vợ đừng cho ăn "đặc sản" cá vồ nữa nghe!
Tôi còn ghé thăm thằng Linh một lần nữa khi hai thằng đã "bỏ nghề" bộ đội. Lúc đó nó đã là nông dân "chính hiệu con nai vàng", còn tôi làm việc trên thành phố. Tôi rủ nó đi ngao du một vòng lên Vĩnh Long, qua Cao Lãnh thăm mấy thằng bạn đã "giã từ vũ khí". Mấy thằng bạn gặp nhau mừng quá trời, quá đất, "tâm sự loài chim biển" suốt mấy đêm liền. Chuyện hoài nói cũng hết, hai thằng "giang hồ vặt" đường ai nấy đi ở ngã ba An Thái Trung, Cái Bè.
Mười năm, rồi lại nhiều cái mười năm chồng chất, tôi ngơ ngác giữa phồn hoa phố thị, không biết thằng bạn tôi sống như thế nào. Ngoảnh đi ngoảnh lại, bốn chục năm chỉ là cái chớp mắt. Nhân thế chẳng qua là giấc mộng dài. Đời người ngắn ngủi, vinh hoa, phú quý rồi cũng phù du. Cuộc đời là giấc mộng kê vàng chẳng sai!
Tai Ngo
No comments:
Post a Comment