ĐU XE THAN(Hồi ức thời bao cấp)
Tác giả: Hoàng Kao
Thời bao cấp, chuyện đi lại vốn dĩ đã khó khăn, xe cộ thì không có máy lạnh, vì xăng dầu, máy lạnh là những thứ xa xỉ. Mà trên xe chỉ có máy nóng mà thôi. Đó là, đa số xe chạy đường dài hay ngắn vài chục cây số đều trang bị thêm một thùng than hồng độ chế gắn phía sau xe.
Trong hồi ức hôm nay, xin mời quý khán thính giả trở về năm 1981 – nơi tôi đã trải qua một chuyến xe “đặc biệt” của một thời. Đó là: Đu phía sau một chiếc xe than.
Trước 75, khi nghe những bài hát về những chuyến xe lam, xe đò, xe lửa... thường là sạch sẽ, nên thơ và rất lãng mạn... Và sau 75, vẫn còn đó những chiếc xe đò chạy đường dài, nhưng chạy bằng than là chính. Phía sau chiếc xe, người ta gắn cái thùng than hình trụ vừa bự chảng, vừa cao quá đầu người. Ngồi hay đứng gần cái lò sưởi di động đó thì rất ấm áp trong mùa đông giá rét. Ngược lại, vào mùa hè mà xui rủi ngồi gần thì coi như nóng nguyên cả chuyến đi. Còn trong xe, không khác gì một cái chợ chồm hổm là mấy. Nguyên lý: than hồng rực rỡ thì xe chạy mà than tắt là xe dừng.
Vào một buổi sáng mùa hè năm 1981. Tôi từ Nha Trang về quê ngoại ở Sơn Hòa gần 200 cây số để thăm bà con, sẵn tiện xin ít gạo quê đem về để dành ăn. Vì ngoài quê, những người bà con làm ruộng là chính. Coi như một công đôi việc. Tôi lên 1 chiếc xe Renault. Loại xe trước kia chạy bằng nhiên liệu dầu. Sau 75 đa số xe chuyển qua chạy bằng than. Khi tôi ra bến xe, chỉ có một chiếc chạy tuyến đường đó, nhưng trên xe đã chật kín người. Vậy là, tôi phải đu phía sau thùng xe cùng vài thanh niên như tôi. Cũng may, là tôi đu ở khoảng giữa hơi xa cái thùng than nên cũng đỡ nóng. Vừa đu thành xe, vừa lâu lâu ngoái ra sau nhìn mấy cục than hồng văng xuống đường cho đỡ buồn. Chiếc xe bô lão chầm chậm chạy ra hướng Bắc. Ra hết thành phố là đến đèo Rù Rì. Đoạn đèo ngắn chỉ 2 cây số nhưng dốc đứng và quanh co. Có nhiều giai thoại về ma quỷ, cũng như có khá nhiều vụ lật xe chết người ở con đèo này. Xe bò cà rịch cà tang trườn lên từng mét đèo chậm như xe bò. Những thanh niên đu phía sau( có cả tôi) nhảy xuống lững thững đi bộ theo xe. Anh lơ xe cầm theo cục gỗ để chèn bánh xe đề phòng nó bị tuột dốc. Cứ vậy, chiếc xe nhích lên từng chút một. Rồi xe cũng qua được đèo và bon bon chạy trên quốc lộ 1.
Trên xe đã chật, nhưng thỉnh thoảng lại dừng để bắt thêm khách. Cho nên, chỗ đứng càng thêm chật, người sát người. Gần tới chân đèo Cả, bác tài dừng lại cho hành khách xuống xe xả nỗi buồn trong người để cho xe nhẹ bớt. Cánh đàn ông tận dụng quãng thời gian xe dừng ngắn ngủi để hút thuốc và tán gẫu.
Khi tới Tuy Hòa thì có vài người khách xuống bớt, nên tôi vào ngồi bên trong xe, nhưng lại gần chỗ thùng than. Vừa ngồi vừa để ý tay mình, sợ vô tình chạm vô cái thùng than nóng rực là có nước phỏng tay. Xe chạy trên quốc lộ còn đỡ. Đến khi rẽ vào tỉnh lộ 7B (con đường triệt thoái kinh hoàng đầy máu và nước mắt của quân dân cán chính VNCH tháng 3/75) mới là quãng đường gian nan nhứt. Đường đất đầy ổ trâu, ổ voi và bụi mù mịt. Sông Ba bên trái chảy lững lờ qua những xóm làng thưa thớt. Bụi đường dưới bánh xe bốc lên cuốn theo xe, rồi bám lên tóc tai, áo quần...
Qua hết xóm làng của người Việt là tới vài bản làng của người Thượng, những ngôi nhà sàn cũ kỹ, xập xệ nằm hai bên đường dưới những tàn cây cằn cỗi. Vài đứa trẻ đen thui ở trần nhảy lên hò hét, chỉ trỏ khi thấy xe chạy qua tung bụi mù trên con đường đất. Thời đó, quê ngoại tuy nghèo và bà con đa số đều làm ruộng. Nhưng được cái là ít phải ăn cơm độn như thành phố. Và ở quê cũng ít tốn tiền đi chợ vì nhà nào cũng có trồng vài luống rau cải quanh nhà. Cá thì ra sông giăng lưới hoặc câu là cũng đủ bữa ăn. Ra nhà bà con chơi khoảng tuần lễ thì tôi về. Khi đi tay không nhẹ hều, khi về có thêm bao gạo mấy chục ký, rồi thêm vài túm nhỏ đựng đậu xanh, đậu phộng và mè... của những người bà con gởi cho. Chưa kể, ông dượng còn cho tôi 1 con két biểu mang về nuôi. Tôi lo thân tôi chưa xong, giờ thêm con két. Tôi lấy dây buộc 1 chân nó, rồi cho nó đứng trên vai tôi.
Xe về Nha Trang càng chật chội hơn vì có khá nhiều hàng hóa, thêm mớ gà vịt vv... Xuống tới Tuy Hòa, xe đón thêm vài người khách và 5, 6 cái rọ heo. Số heo đó được cho lên mui xe nằm chung với đám gà, vịt cùng hàng hóa. Khi xe chạy tới Ninh Hòa thì đám heo say xe... Chúng bắt đầu đái, ỉa và ói lênh láng trên mui xe. Thứ nước vừa khai nồng, vừa tanh tưởi của lũ heo lẫn cả phân gà, vịt... chảy tràn xuống nơi có những người đu phía sau. Khốn khổ và xui xẻo là có tôi đu trong số người đó. Coi như cả đám hứng trọn và lãnh đủ không sót ai. Những người trong xe ngồi chỗ cửa sổ cũng dính luôn kiếp nạn trời gầm đó. Có vài tiếng phụ nữ la bai bải trong xe. Mùi phân heo, gà, vịt... trộn lẫn mùi nước ói, nước đái cộng với mùi mồ hôi con người. Ôi, không đủ ngôn ngữ để mà diễn tả. Tóm lại, nghe mùi con chuột chết còn dễ chịu hơn. Tóc tai, mặt mũi, áo quần tôi ướt nhẹp, bê bết thứ nước hỗn hợp tởm lợm đó. Rồi nó thấm qua áo và ngấm vào da rin rít thật kinh khủng. Con chim két đứng trên vai tôi cũng ướt sũng. Chắc thúi quá hay sao mà lâu lâu nó lại kêu lên mấy tiếng" két...két..." rồi giũ lông làm văng thứ nước bẩn ra xung quanh. Không chịu được thứ nước dơ đó, nên 1 tay tôi đu giữ thành xe, tay còn lại thì đưa lên mặt mà vuốt . Miệng mím chặt vì sợ thứ nước dơ bẩn đó chui vô miệng. Đúng là một cực hình.
Xế chiều xe tới Nha Trang. Tôi kêu 1 chú xích lô chở về. Chú vừa bưng bao gạo vừa hỏi: Sao khai và thúi quá vậy mầy? Là do chú ấy đứng gần tôi chứ không phải bao gạo bị thúi. Tôi cười khổ : Đu xe than đã cực, còn bị mấy con heo nó ói mửa, rồi ỉa đái đầy trên mui xe làm con và hành khách trên xe lãnh đủ. Chú xích lô tót lên yên sau cười cười: Coi bộ mầy xui dữ ! Về tới nhà. Tôi ra giếng lấy xà bông giặt đồ để tắm và gội đầu. Rồi tắm luôn cho con chim két. Nhưng 3 hôm sau vẫn còn nghe mùi nước đái heo phảng phất trên đầu tóc và da thịt. Đúng là chuyến xe than dơ nhứt và ghê tởm nhứt trong cuộc đời, mà tôi đã được vinh dự đi trong thời bao cấp.
Cám ơn quý anh chị đã nghe Hoàng Kao kể lại hồi ức “cười ra nước mắt” này. Nếu quý anh chị nào từng đu xe than trong thời bao cấp, xin hãy để lại bình luận để cùng nhớ về một thời khốn khổ đã xa.
No comments:
Post a Comment