Showing posts with label Nguyễn Văn Tới. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Văn Tới. Show all posts

Saturday, January 31, 2026

Hy Lạp, Đất Nước Huyền Thoại


Di Tích Đền Parthenon

Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.

Xa xa phía chân trời, ánh dương tỏa nắng ấm từ phía biển Aegean xanh màu ngọc biếc, những tia nắng đầu tiên lướt qua bầu không khí rộn ràng một ngày mới cho người dân Athens. Ánh sáng dịu dàng, óng ả, chiếu lên từng vết nứt, mảng tường, từng đường chạm khắc mờ còn sót lại, khiến khu di tích như bắt đầu hồi sinh từ một nền văn minh chưa hề tắt.

Trong khoảnh khắc ấy, trên hoang tàn, nhóm 8 người chúng tôi vẫn có thể hình dung ra Athens huy hoàng của 3500 năm trước: những cung điện bằng đá sáng rực trong nắng, những bậc đá hoa cương dẫn lên đền thờ nữ thần Athena, đoàn người mặc áo choàng trắng bước chậm rãi qua quảng trường, và khói hương nghi ngút trong không gian lễ hiến tế linh thiêng.

Ngày nay, dù chỉ còn lại những cột đá đứng lặng im, nhưng dưới ánh ban mai, chúng giống như những người lính già vẫn kiêu hãnh canh giữ vinh quang xưa cũ. Acropolis không chỉ là một di tích, còn là nơi quá khứ và hiện tại giao nhau trong một khoảnh khắc âm trầm mà hùng tráng.

Ngày còn thơ, trên ghế nhà trường, khi học về nền văn minh La-Hy (La Mã và Hy Lạp), bằng lối kể chuyện hấp dẫn, thày giáo đã khéo léo gieo vào lòng những đứa học trò một niềm đam mê thế giới sử. Thày dẫn chúng tôi đi ngược về quá khứ vàng son đế quốc La Mã, của Hy Lạp huyền thoại, những đứa con các vị thần, người hùng Achilles trong trận chiến thành Troy (the Trojan War), vừa lãng mạng vừa kiêu hùng. Tâm hồn những đứa trẻ con như chúng tôi bay bổng vào vùng trời mê hoặc, đứa nào đứa nấy háo hức, mơ một ngày được đặt chân lên vùng đất kỳ ảo, đầy kỳ tích về những chàng dũng sĩ thần thánh, biết yêu, biết buồn giận như con người.

Tất cả kiến thức chúng tôi gom góp trong những trang sách từ những ngày thơ, tưởng đã phai mờ theo năm tháng, theo vận nổi trôi của đất nước, theo cơn “thủy triều đỏ” phũ phàng dập tắt ước mơ tuổi trẻ. Ngày tôi mua vé bay qua Athens, tôi mới tin rằng tôi sắp có cơ hội ghép lại những mảnh vỡ của một giấc mơ dang dở thời thơ ấu.

Athens là một thành phố hiện hữu rất lâu đời so với tất cả các thành phố lớn khác trên thế giới vì tính cách riêng biệt của nó: rất cổ điển mà cũng rất sôi động, đầy những nét hoài cổ còn đọng lại trên những tàn tích đền Acropolis, Parthenon, Hephaestus, Dionysus, Ancient Agora. Chúng tôi đứng lặng nhìn những đổ nát hoang tàn còn lại và tưởng như trong gió, tiếng vó ngựa của những chiến xa, tiếng đao kiếm còn vang vọng đâu đây từ một thời rực rỡ Athens.

Hy Lạp vốn là cái nôi văn minh rực rỡ của Châu Âu, là nơi phát sinh ra phong trào thể thao Olympic đầu tiên trên thế giới. Đất nước này cũng là nơi sản sinh ra nền Dân Chủ (Democracy), nền Triết Học phương Tây (Western Philosophy) với hai nhà hiền triết nổi tiếng Plato và Socrates, và nền Kịch Nghệ (tragedy & comedy) đầu tiên của thế giới.

Hy Lạp tọa lạc trên bờ biển vùng Địa Trung Hải (Mediterranean), nơi tàu bè qua lại buôn bán phồn thịnh. Khí hậu tương đối ôn hòa, tràn đầy nắng ấm, dù trong mùa đông, bầu trời xanh trong hầu như quanh năm. Vì vậy, các quán ăn, quán cà phê đầy ắp khách ngồi bên ngoài. Nét kiến trúc ở Athens có pha trộn chút nét văn hóa của Rome (La Mã), Naples (Ý), và Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ); nếu càng đi sâu vào đất liền, càng có nhiều nét riêng dân tộc Hy Lạp hơn. Khu phố cổ Plaka và Monasteraki, nhà cửa, phố xá mang đậm nét truyền thống lâu đời, tương phản với khu phố Kolonaki và Gazi, lối kiến trúc rõ nét theo khuynh hướng mới của thời đại.

Du lịch ở đây không mắc mỏ như Paris, London hay Rome. Các quán ăn “Tavernas” giá cả phải chăng, đồ ăn ngon, hải sản tươi rói, món thịt trừu nướng rất mềm, gia vị nêm nếm vừa phải; món rau salad với dầu olive thơm ngon, rắc thêm một chút phô mai dê, tạo nên cái vị hơi chua pha lẫn vị béo ngọt ngào, rất vừa miệng đúng với ẩm thực vùng biển Địa Trung Hải. Hai người ăn một bữa thịnh soạn, ngon miệng chỉ tốn trên dưới 40 Euros.

Phương tiện đi lại tốt nhất ở Athens là metro, tram, buses, suburban rails vừa rẻ tiền mà cũng không mất thời giờ nhiều. Có thể mua vé đi lại trong thành phố cho 5 ngày, chỉ tốn 8.5 Euros. Đường phố thường bị kẹt xe vì nhỏ hẹp, quá nhiều xe hơi và xe gắn máy 2 bánh.

Chúng tôi thuê 1 căn AirBnB vừa túi tiền, gần khu trung tâm để từ đó có thể đi bộ đến các địa điểm nổi tiếng của Athens chỉ mất khoảng 15 đến 30 phút. Có một điều không ngờ, căn nhà chúng tôi thuê trong khu Exarchia Square, lại là nơi đầu não của một tổ chức vô chính phủ, vô tôn giáo lớn nhất của thế giới, cực đoan cánh tả, cấp tiến chống lại tư bản chủ nghĩa, chống chính phủ, chuyên đánh bom lửa nhà băng, đốt phá tiệm bán xe hơi hạng sang, hay bất cứ địa danh nào có mang chút hơi hám của chủ nghĩa tư bản và giàu sang. Những nhóm “Anarchy” này hành động giống như nhóm Antifa ở Mỹ.

Có 2 nhóm nổi tiếng: Fire Nuclei (Συνωμοσία των Πυρήνων της Φωτιάς) rất bạo động và nhóm Rouvikonas (Ρουβίκωνας), ôn hòa hơn. Nhóm Rouvikonas chuyên đi vẽ bậy (graffiti) lên tường khắp nơi trong khu phố, đến những tòa nhà cao tầng trên nhiều đại lộ trong thành phố, không chừa một cửa tiêm hay tòa nhà nào, nhìn thật chướng mắt. Điều này tạo một ấn tượng rất xấu đối với du khách, đặc biệt là chúng tôi, khi mới đến nơi này.

Chiếc Mercedes Sprinter đưa đón chúng tôi từ phi trường, ngừng trước tòa nhà chung cư AirBnB, các vách tường bị sơn đầy những hình vẽ xấu xí, vằn vện; gần 10 nhân viên cảnh sát mang súng ống, vũ khí và trang bị “gear” đầy đủ đứng ngay trước cửa, khiến chúng tôi ngỡ ngàng, tự hỏi hay mình đến lầm địa chỉ? Thật may, Andreas, người chủ nhà đã đứng đợi sẵn bên thềm, bước tới chào đón. Như đọc được ý nghĩ của chúng tôi, ông vội vàng giải thích rằng sự có mặt của cảnh sát là để ngăn ngừa ngày kỷ niệm biểu tình và bạo động của nhóm Anarchy.

Sau khi tìm hiểu và nói chuyện với cảnh sát và người dân, chúng tôi mới biết hàng năm, cứ vào ngày 17 tháng 11, là thời điểm các nhóm vô chính phủ nổi loạn; cảnh sát được điều đến để răn đe, sẵn sàng dẹp tan những cuộc biểu tình, đốt phá có thể sẽ xảy ra. Họ đóng chốt ở đó và các ngã tư trong khu phố chúng tôi đang cư ngụ. Sự hiện diện của cảnh sát cũng khiến họ chùn tay, không dám bạo động.

Chúng tôi quyết định đi bộ để tận mắt thấy được những gì đã xảy ra nơi đây và cũng để nhìn ngắm sự pha trộn cổ kim giữa thành phố sôi động, người xe đầy đường, những tòa nhà cao tầng cũ kỹ dọc theo những đại lộ chật hẹp, quanh co; và quan trọng hơn là những di tích lịch sử nổi tiếng đều nằm ngay khu trung tâm Athens. Cái nét khác biệt nữa là nhiều khu phố mới xây lại được dựng lên ngay trên hoặc bên cạnh những khu di tích đổ nát đang được viện khảo cổ quốc gia đào bới lên. Người dân Athens vẫn đang sống cạnh bên những con đường, ngôi nhà mà cha ông họ đã từng sống từ ngàn năm trước.

Điều ấn tượng đầu tiên là Athens có rất nhiều tiệm cà phê. Vài tiệm cà phê ở đây có từ những năm 1923 và là văn hóa đặc trưng của người bản địa, họ coi việc thưởng thức ly cà phê gần như một nghi lễ tôn giáo, họ trân trọng cung cách uống cà phê, điều này nói lên được sắc thái riêng của người Athens. Họ thích ngồi hàng giờ trên ghế bên ngoài quán, thưởng thức tách cà phê. Thói quen này gọi là “kafedaki”.

Mọi cuộc họp hay làm ăn đều xảy ra ở bàn cà phê. Có một điều hơi khó chịu đối với du khách là dân Athens hút thuốc rất nhiều, trong tiệm cà phê, trong nhà hàng. Họ hút thuốc và “vô tư” nhả khói khắp mọi nơi, không hề để ý đến người chung quanh. Chúng tôi chưa thấy tiệm nào treo bảng cấm hút thuốc.

Địa điểm đầu tiên chúng tôi đến thăm là Bảo Tàng Viện Khảo Cổ Quốc Gia, National Archeological Museum. Nơi đây trưng bày rất nhiều cổ vật cực kỳ quý giá, nếu muốn tìm hiểu thật sâu, chúng tôi phải dành trọn ít nhất 2 ngày để đi hết 3 tầng lầu của viện bảo tàng. Dầu sao, chỉ vài tiếng đồng hồ, chúng tôi cũng thỏa mãn, say sưa chiêm ngắm những vòng nguyệt quế dát vàng, những thanh kiếm, mũ nón, áo giáp như tái hiện lại hình ảnh chiến thần Zeus, chúa tể các vị thần trong thần thoại Hy Lạp; những chiến binh oai hùng trong trận chiến Hy Lạp và Ba Tư.

Đi qua các cổ vật trưng bày theo thứ tự từ cổ chí kim, giấc mơ ngày còn thơ tràn về, tôi thấy tôi đi lạc vào một khung trời thần thoại, lộng lẫy trên đỉnh núi Olympus, nơi cánh cửa chia cách thế giới hữu hình và vô hình, nơi ngai vàng của chúa tể thần Zeus ngự trị, và cũng là nơi các vị thần lắng nghe lời cầu xin của loài người. Hồn tôi thoát xác, bay bổng lên cổng trời, ngắm nhìn những hàng cột đá trắng nạm vàng và không gian lung linh, kỳ ảo bên trong cung điện.

Gió thoảng nhẹ mang hương thơm của các loài hoa bất tử và tiếng nhã nhạc vang lừng khắp nơi. Đại sảnh Olympus được dựng từ những tảng cẩm thạch lớn, màu trắng sáng ngời, mái vòm trong như pha lê, biến tia sáng mặt trời thành một màu vàng ấm cúng trong không gian. Từng cột đá cao chạm đến tầng mây, những tấm màn gió mỏng bay phấp phới, tạo nên một khoảng không lung linh, như nơi giao hòa giữa đất-trời.

Thần Zeus, uy nghi lẫm liệt trên ngai, tóc râu bạc trắng, trong bàn tay ông, lưỡi thần sét tỏa ánh sáng xanh nhạt, chiếu sáng xuống các chư thần trong triều. Giọng ông vang như tiếng sấm, nhưng ấm và đầy sức mạnh của người nắm vận mệnh thế gian. Nữ thần Hera, vợ ông, ngồi bên cạnh, khoác áo long bào tím thẫm, vương miện vàng ánh như tia nắng ban mai.

Các chư thần tề tập đông đủ. Thần Hải Vương Tinh Poseidon, tay cầm cây chĩa ba oai phong, bước vào mang theo mùi biển mặn. Thần Hades, chúa tể cõi âm đứng lặng lẽ một góc sân chầu. Đôi song sinh, thần Apollo, và nữ thần Artemis, cũng đã đến, mang theo sinh khí tràn đầy.

Nữ thần Athena, thần bản mệnh của Athens, tay cầm tấm khiên Aegis đứng phía bên trái dáng vẻ rất khoan thai, tràn đầy bình yên và tự tin của thông minh và công lý. Bên cạnh là nữ thần Aphrodite, thần tình yêu, sắc đẹp và khoái cảm, ngồi giữa làn hương hoa hồng lơ lửng, sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành, áo khoác hờ hững lộ ra bờ vai nõn nà khiến ai nấy đều phải đưa mắt nhìn. Nữ thần Hermes, trên đôi hài có cánh, lướt nhẹ vào như một luồng gió. Còn nhiều nữ thần nữa mà tôi không nhớ hết tên, cũng lần lượt bước vào sân chầu.

Mãi đến lúc mấy người bạn trong nhóm đập mạnh lên vai, tôi mới bừng tỉnh giấc mơ thiên đường để trở lại với thực tại. Bước ra ngoài, ánh chiều dần buông. Tiếng xe cộ ồn ào, du khách ra vào tấp nập, chúng tôi thả bộ dọc theo đại lộ, đi loanh quanh phu phố nhỏ, tìm đến một quán ăn ấm cúng mà người chủ AirBnB đã giới thiệu. Một bữa ăn thật ngon đủ hương vị miền Địa Trung Hải.

NỮ THẦN ATHENA. National Archeological Museum.
NỮ THẦN APHRODITE

Một điều đáng để ý là sự cách biệt giàu nghèo rất rõ nét ngay trong lòng thành phố Athens. Chỉ cần vài bước chân qua bên kia con dốc cao, một sự phồn vinh rõ ràng hiện ra với các tòa nhà cao to, đẹp, ngăn nắp, đường phố sạch sẽ và thẳng hơn, đặc biệt là không có bất cứ một hình vẽ grafitti nào; trong các quán ăn hay cà phê, nhân viên ăn mặc lịch sự, cổ thắt nơ, giày bóng loáng. Khách hàng đương nhiên ăn mặc thời trang, dập dìu tài tử giai nhân.

Ngay cả người ăn xin cũng khác. Một gã đàn ông trạc 40 tuổi, mặc áo veston bước đến trước mặt tôi, bằng thứ tiếng Anh ba rọi, anh ta xin thẳng 50 Euros để đi taxi đến bệnh viện vì anh đang … mệt, thở khó khăn; tôi cũng giả vờ đáp lại bằng thứ tiếng Anh còn ba rọi hơn hắn, rằng “anh trẻ hơn tôi và anh giàu hơn tôi”, anh khoái đi xe hơi, còn tôi phải đi bộ và tôi “broken English”. Rõ chán!

Ai đã đọc hoặc nghiên cứu Kinh Thánh, chắc đã từng biết những bức thư thánh Phao-Lô gởi tín hữu thành Cô-rin-tô. Chúng tôi cũng ghé qua thành phố này để chiêm ngưỡng con kinh đào Ismuth Korinthos, tuy không nổi tiếng nhưng là một thành tích đáng kể của sức người. Nó nối vịnh Korinthos với vịnh Saronic trong vùng biển Aegean.

Con kinh được đào và hoàn thành năm 1893, hơn một thế kỷ trước đây. Hiện nay chỉ những du thuyền nhỏ còn qua lại con kinh này, tàu lớn thì không vừa, tuy hiệu quả kinh tế không thành công, nhưng nó vẫn là một công trình tầm cỡ vào thời đó.

Nói chung, Hy Lạp và thủ đô Athens là một đất nước, một địa danh xứng đáng để bạn phải đến một lần vì nét văn hóa và một bề dày văn minh, lịch sử sáng chói mà Châu Âu vẫn còn thừa hưởng cho đến ngày nay. Nếu bạn yêu thích thế giới sử, bạn đã đến đúng nơi vì đi đâu bạn cũng có thể thấy dấu vết của một thời văn minh rực rỡ. Riêng tôi, tôi vẫn yêu mến Athens, tuy người Athens không còn như tôi mong ước, họ đã ngủ quên trên sự vinh quang, vẫn đang mơ giấc mơ quá khứ vàng son của dân tộc họ.

KINH ĐÀO CORINTH. ISMUTH KORINTHOS. Dài 6.3 Km. Rộng 21.4 m.

NHÓM 8 NGƯỜI, CHỈ CÒN LẠI 6, VÌ 2 NGƯỜI BỊ BỆNH ĐỘT NGỘT, NÊN BỎ CUỘC

NGUYỄN VĂN TỚI. Cuối năm 2025.
  

Sunday, November 9, 2025

TÙ MỸ, TÙ VIỆT

Nguyễn văn Tới

Tôi có một ông anh bà con xa, đang làm việc cho Pima County Sheriff Department với công việc là cảnh sát gác tù (Correctional Officer), mà tôi vẫn đùa gọi anh là Tù trưởng, còn tù nhân kêu anh là Xi-Ô (C.O).

Công việc, theo anh nói, so với việc làm trước đây, thì không cực nhọc tuy đôi khi căng thẳng vì tù nhân hay làm reo, nhưng lương lậu thì không tệ (bắt đầu khoảng $44,400/1 năm), hưu bổng, và quyền lợi thì không chê vào đâu được. Thêm nữa, việc này không cần có bằng cấp hay kinh nghiệm, họ sẽ huấn luyện mình.

Làm việc cho chính phủ tiểu bang thì rất bền, nhưng công việc gác tù này không phải ai cũng làm được vì cần đức tính kiên nhẫn và chăm chỉ. Cái này thì anh có thừa trong nghề gõ đầu trẻ trước đây. Chỉ mình đuổi việc chủ, chứ chủ chẳng bao giờ đuổi mình, anh tâm sự như thế.

Được gia đình bên vợ bảo lãnh qua Mỹ lúc tuổi xuân vừa tròn 4 bó. Qua xứ lạ, anh không còn được gọi là ông, mà thằng cũng chẳng ra thằng. Ngày còn trong nước, anh đi dạy, giờ bị “mất dạy”, thêm phần “bất lương” (không có lương) nên chẳng làm được trò trống gì. Sau mấy năm làm assembler trong một hãng kiếng ở địa phương, mỗi ngày dập mấy trăm cái khung sắt, xương cốt rã rời, về nhà, vợ thương quá, tối nào cũng cứ dầu nóng bóp cổ, bóp vai mãi mà “long thể” vẫn bất an, “long sàng” vẫn cứ có rệp.

Đêm nào cũng đấm bóp và an ủi nhau nên thằng út Ráng ra đời trong hoàn cảnh ấy. Anh kể: Ngày thằng cu chào đời, chẳng thấy vầng hào quang chói lọi, chẳng có một ngôi sao sáng nào xẹt vào nhà (như Kim Jong Un), chẳng hoa hồng ngát hương hay tiếng nhã nhạc du dương báo tin lành gì hết, mà chỉ thấy hai vợ chồng nổ đom đóm mắt vì tuổi già việc nặng mà lại thêm con nhỏ khóc đêm.

Thấy tương lai chắc sẽ tối như đêm 30 vì công việc bầm dập mà sức khỏe ngày một yếu đi, anh quyết định “ôm cầm sang thuyền khác” bằng cách ghi danh thi tuyển làm cảnh sát gác tù vì nghe nói nghề này nhàn nhã mà phúc lợi (benefits) cao, bảo hiểm sức khỏe tốt, không sợ bị đuổi việc, dù kinh tế lên hay xuống, cũng vẫn có đủ… tù để coi, thêm nữa, sẽ được vào ngạch chính thức là viên chức chính phủ tiểu bang (State government) chứ không phải thứ “dóp” loại cờ lờ mờ vờ ma dê in VN.

Anh khoe trước ngày đi Mỹ, một ông thày bói phán rằng hậu vận anh sẽ vô cùng sáng lạn vì anh sẽ cai quản cả mấy chục người dưới quyền của mình. Ôi, lời thày phán ứng nghiệm như thần!

Tôi và anh thân nhau, dù trẻ hơn tôi cả 10 tuổi và lớn lên trong thời “cắt mạng”, chúng tôi hay kể nhau nghe vui buồn nghề nghiệp trong những buổi trà dư tửu hậu: anh uống rượu, ít ăn mồi, còn tôi chuyên ăn mồi mà không uống rượu. Tuy khác nhau một trời một vực, nhưng vẫn là cặp tri kỷ vì rượu anh, anh uống, mồi tôi, tôi cứ ăn, người này không đụng chạm “quyền lợi” người kia nên tình anh em luôn bền vững như “môi hở răng lạnh”. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy sẽ… từ từ thay đổi. Bên đây sứt môi, họ vá được, mất hết hàng tiền đạo, họ vẫn làm cho một hàm răng mới, mỗi lúc cười lên là sáng cả một bầu trời. Tôi vẫn thường đùa với anh là ông nội anh với ông nội tôi là …hai ông nội, nên anh em mình họ hàng cũng còn gần lắm.

Sau khi trải qua 6 tuần quân trường thụ huấn về thể lực, bao gồm các lớp học về luật pháp cần thiết cho công việc, vài thế võ nghệ căn bản như Jiujitsu để đối phó với các tình huống hiểm nguy khi tù nhân nổi loạn, gian khổ gần như lính, anh tốt nghiệp được gắn huy hiệu ngôi sao tiểu bang. Anh than thở rằng sợ nhất là ngày phải đấu võ đài, có qua khỏi mới đủ điểm đậu làm cảnh sát gác tù. Họ bắt chúng tôi phải đánh nhau thật với huấn luyện viên.

Chú nghĩ coi thân tôi nhỏ bé thế này mà phải đối đầu với 1 thằng Mỹ to gấp đôi. Khỏi nói thì chú cũng biết kết quả ra sao rồi. Tôi bị một trận bầm dập nhưng cũng rồi cũng qua. Sau đó chúng tôi phải bắn súng điện lẫn nhau coi sức chịu đựng ra sao trong trường hợp giả định bị tù nhân nổi loạn, lỡ bắn nhầm vào nhau. Mà đâu phải 1 lần. Họ bắt chúng tôi, 4 người quàng vai nhau thành hàng ngang, một học viên khác bắn súng taser (1) với 20,000 volts, làm cả 4 chúng tôi hét lên, cứng đơ cả người, rồi tất cả ngã vật xuống, có sẵn hai học viên khác đỡ trước khi chúng tôi té nằm ngay cán đơ cán cuốc trên sàn nệm. Mất vài chục giây sau, chúng tôi mới có thể lồm cồm bò dậy, rồi nhăn răng ra cười hềnh hệch, và đập tay (high-five) lẫn nhau.

Trận cuối cùng mới đáng sợ và không bao giờ quên: Chúng tôi cứ 2 người bắt cặp, người kia cầm hộp xịt hơi cay chĩa thẳng vào mặt tôi, trong khi tôi đứng thẳng, không nhúc nhích, mắt phải mở to, không được chớp mắt, để đối thủ xịt chất lỏng cay vào mắt. Sau tiếng kêu “fight” (đánh), cả hai phải lao vào nhau, dùng hết các thế võ đã học, để hạ địch thủ. Đây là cảnh giả dụ nếu chúng tôi lỡ tay xịt hơi cay vào mặt nhau trong lúc đánh nhau, khống chế tù nhân, thì chúng tôi phải chiến đấu tới cùng cho đến khi được cứu.

Trong lúc chúng tôi đánh thì họ quay phim. Sau này coi lại, tôi mắc cỡ quá chú ơi, vì người bạn kia, lao vào quật tôi ngã xuống sàn. Tôi lồm cồm bò dậy, nắm một chân anh ta, mà nước mũi, nước dãi của tôi chảy lòng thòng, nhiểu nhảo tùm lum, hơi thở hào hễn, tôi vẫn không chịu buông, dù mắt cay xè không mở ra được. Họ phải tách chúng tôi ra và hét “fight again”.

Qua làn nước mắt cay xè, tôi lờ mờ thấy địch thủ, tôi lại lao vào quần thảo với anh ta cho đến khi tiếng kêu “stop”, người ta kéo chúng tôi ra và một người dẫn tôi ra vòi nước xả lên đầu tôi cho đỡ nóng và đỡ cay. Sau bữa đó, về nhà, hai ngày weekend, mắt tôi sưng húp và cái nóng cay vẫn còn đó cho đến hết ngày hôm sau. Tôi thề rằng thà bị taser còn hơn bị pepper spray.

Chưa hết, đoạn đường “chiến binh” cuối cùng mà học viên nào cũng phải vượt qua trước khi được gắn lon. Tất cả mặc đồng phục cảnh sát, giầy, và mọi trang bị cần thiết, bắt đầu chạy bộ 15 dặm lên núi để được làm lễ gắn ngôi sao trên đó. Trong khi chạy, có vài học viên ngã gục, ói mửa tùm lum, họ cấp cứu, rồi bắt đứng dậy, đi tiếp, không cần chạy, cho tới khi chinh phục được đỉnh núi. Riêng tôi, tuy không khỏe nhưng dẻo dai, tôi cũng lết được lên đỉnh núi và tới đích. Bài học họ muốn chúng tôi nhớ nằm lòng là phải kiên nhẫn, bền bỉ, không bỏ cuộc, thì sẽ thành công. Từ đây, tôi chính thức được gọi là C.O., cảnh sát cải huấn, trực thuộc bộ cải huấn tiểu bang: DOC, Department Of Corrections.

Anh hay tò mò hỏi tôi về những tháng năm tôi nằm bắt rệp trong hô teo Chí Hòa ra sao để anh rút tỉa kinh nghiệm mà đối đãi với tù Tây.

Anh bắt đầu kể về công việc anh làm hằng ngày nơi trại giam. Sau đây là lời kể của anh và của tôi, xen kẽ nhau, để bạn đọc có thể hình dung ra được “sự ác độc, bất nhân” của chế độ tư bản đế quốc Mỹ đối đãi với tù nhân của họ ra sao khi so sánh với “sự khoan hồng, nhân đạo” của đảng và nhà nước với chính đồng bào của mình.

Chuyện nhà tù Mỹ

Đi làm mỗi ngày, tôi phải ăn mặc chỉnh tề như một cảnh sát thực thụ, chỉ khác là tất cả chúng tôi không được mang súng. Áo quần khaki vàng được ủi thẳng nếp, không một vết nhăn, áo bỏ trong quần với tên họ bên túi trái, giày bốt đen đánh xi-ra láng cóng, đầu đội nón baseball-cap với huy hiệu cảnh sát. Dây lưng quần được trang bị một cặp còng tay, một lọ Pepper-spray xịt chất lỏng cay, một súng điện Taser, và một máy radio liên lạc được nối qua cầu vai trái lên tới hai lỗ tai bằng một cặp tai nghe (ear-plugs) để khi liên lạc và hành động thì còn rảnh hai tay mà làm việc. Tác phong nghiêm chỉnh như trong quân đội.

Mỗi sáng đến nơi làm việc, phải điểm danh, chào cờ, và kiểm tra quân phục. Nếu ông xếp (captain) không hài lòng vì đường ủi không thẳng nếp, hay áo trong quần lệch một bên, giây giày thắt không đều thì bị bắt hít đất (Push-up). Xong xuôi, tan hàng, quẹt thẻ vào cửa trại, và một ngày làm việc bắt đầu bằng cuộc họp ngắn ngủi (brief) về tình hình chung của trại giam. Nếu không có gì mới cần chú ý thì ai về chỗ làm của người nấy.

Bắt tay người đồng nghiệp của ca làm việc trước, anh cho tôi biết vắn tắt về tình hình trong phòng giam. Tôi bước vào trong phòng làm việc của mình được bao quanh bằng kính dày để có thể quan sát tất cả mọi phòng (pods) của tù nhân được thiết kế như hình rẽ quạt gồm hai tầng. Sau khi đóng cánh cửa sắt sau lưng lại, tôi coi danh sách tù nhân có tổng cộng bao nhiêu người, phòng nào ở đâu, tên gì, và phòng nào chỉ có 1 người.

Lại dùng thẻ của mình mở cửa phòng từ bên trong, đi ra ngoài để tuần tra các phòng giam tù nhân để chính mắt mình điểm danh, và quan sát được tình hình, thái độ, sinh hoạt của họ. Phòng giam rộng 3 mét, dài 5 mét, gồm 2 tầng, mỗi tầng 15 phòng, Tất cả được xây bằng gạch, trang bị hệ thống điều hòa không khí, và cửa sắt có 2 tấm kiếng dầy theo chiều dọc để cảnh sát có thể nhìn vào bên trong. Một giường đôi hai tầng (bunk-bed) bên tay trái, gồm nệm, tấm trải giường, gối, và một cái mền và hai cái bàn nhỏ bằng sắt không rỉ (stainless steel) dùng làm bàn viết. Cuối phòng là bàn cầu giật nước cũng bằng sắt không rỉ, một kệ nhỏ rất sạnh sẽ, với đầy đủ dụng cụ vệ sinh cá nhân như kem và bàn chải đánh răng, khăn mặt. Một cái bồn rửa mặt (lavatory) và phòng tắm (shower) với vòi nước, tất cả đều sạch sẽ, cũng bằng sắt không rỉ. Tất cả tù nhân (inmates) đều mặc đồng phục màu cam.

Chuyện Nhà tù Việt

Khám Chí Hòa, Sài Gòn, chia làm 4 khu: AH, BC, ED, và FG. Cảnh nhìn từ trên cao với thanh gươm (tháp nước) cắm ngay giữa. Dãy A: tạm giam, dãy H: nhốt tù tử hình, tường bị bít gần kín.
(chú thích tác giả).

Khám Chí Hòa: Mỗi buổi sáng tôi đều bị dựng dậy bởi tiếng loa phát thanh the thé của mụ xướng ngôn viên đọc tin tức. Toàn tin tốt đẹp về xây dựng xã hội chủ nghĩa, về độc lập, tự do, no ấm, và hạnh phúc. Tôi tin rằng ở đâu thiếu cái gì, người ta hay nói về cái đó ra rả cả ngày. Một lúc sau, tiếng chìa khóa lẻng kẻng vang lên, một người tù trật tự mở cánh cửa sắt nặng nề kêu ken két, theo sau là tên công an quân phục màu xanh cứt ngựa, cuốn sổ trên tay, chân mang dép lốp xe lẹp xẹp đi đến từng phòng điểm danh. Khi hắn đọc tên ai, người đó phải hô to “báo cáo cán bộ, có tôi”.

Khám Chí Hòa là một trại giam rất lớn chia làm 4 khu theo hình bát giác (8 dãy nhà). Được xây dựng từ thời Nhật chiếm Việt Nam, đang dang dở thì người Pháp trở lại và tiếp tục hoàn thành. Trung tâm nối liền 8 góc là một tháp nước (Château d’eau/water tower) hình dáng một thanh gươm tròn cắm xuống đất. Muốn đi từ khu này qua khu kia, phải đi ngang qua dưới tháp nước đó.

Khu ED chính trị và kinh tế là khu tôi bị nhốt, gồm 4 tầng lầu, mỗi tầng có 4 phòng. Mỗi phòng rộng khoảng 10 thước, dài 25 thước, nhốt 60-70 tù nhân mà chỉ có duy nhất một bàn cầu khô ở góc phòng, loại ngồi chồm hổm, không có vách ngăn. Tù nhân cần “trút bầu tâm sự” đành phải phơi bày mọi sự cho thế gian coi khơi khơi. Kế bên là một thùng phuy nước vừa để dội cầu và phát tiêu chuẩn cho tù nhân xài. Mỗi ngày, người tù được lãnh 1 lít nước để vừa uống, rửa mặt, đánh răng, vừa rửa cái “bàn tọa” sau khi nỗi buồn đã được “giải phóng”. Vâng, đúng 1 lít nước không hơn không kém. Mỗi tuần được xuống sân của khu, nơi có 1 bồn nước xi măng để tắm, giặt trong 5 phút. Có người mới xát xà bông, chưa kịp xả nước thì hết giờ, phải trở lại phòng mà vẫn còn bong bóng đầy đầu. Đây là cơ hội duy nhất cho ai có can đựng nước riêng nhà gởi vô, lo lấy thêm nước mà xài.

Ngày được thăm nuôi thì đúng là ngày khổ nhất và ngày dài nhất cho những người tù mới bị “nhập kho”. Là ma mới nên chỗ nằm ngủ ưu tiên sẽ là kế bên “cầu biên giới”. Kinh tế cộng sản, xã hội chủ nghĩa, luôn nói có đầu vô thì cần phải có đầu ra, quả không sai: Có ăn vô thời phải có đi ra. Ở trong tù, ngày thăm nuôi là ngày cái bàn cầu trở nên bận rộn nhất, người ra vô tấp nập, phải xếp hàng. Khổ nỗi, “sự cố” này luôn kèm theo âm thanh réo rắt lẫn mùi hương lan tỏa rất xa, mà những người khốn khổ cũng lại là những tên ma mới đang nằm kế bên, đành phải ca bài “lãnh trọn đêm mưa”.

Ai có nhu cầu “xả nước cứu thân” (không phải xả thân cứu nước) thì không đến nỗi nào, còn thực hành cái đệ Tứ khoái, thì tất cả mọi người trong phòng đều ngậm ngùi nín thở. Đã vậy, mỗi một trái “bom rơi” đều kèm theo một tiếng động âm vang ngân dài trong phòng vì hơi dội ngược lên, nghe cái đoong.

Giường là sàn xi măng. Khi quá đông tù nhân, mỗi người chỉ có 30 -50 cm bề ngang để nằm. Hè nóng, Đông thì lạnh buốt xương. Tôi vốn con bà phước nên vô sản chuyên chính: tối ngủ, xin được hai giỏ bện bằng cói rách te tua, một cái trùm đầu, một cái trùm hai chân cho ấm và bớt bị muỗi cắn, nằm co như con tôm trên nền xi măng lạnh tê tái. Còn rệp thì khỏi nói, xin cứ “vô tư” (nói theo kiểu người trong nước), ngửi được hơi người, chúng bò ra đông như quân Nguyên, chỉ nhìn thôi cũng đủ nổi da gà, rợn tóc gáy, mùi hôi đến lợm giọng.

Chuyện Nhà tù Mỹ

Nhà tù county, bên trong trại giam.

Sau khi điểm danh, tôi đi qua lại quan sát và đánh giá tình hình an ninh, sạch sẽ từng phòng, và hỏi tù nhân có ai có hẹn với bác sỹ không. Một lúc sau, nhân viên nhà bếp đẩy xe thực phẩm đến giao tôi ký nhận, xong anh/chị ta rời đi. Tôi thông báo cho tù nhân chuẩn bị ra ăn sáng rồi măng găng cao su vào tay để phân phát đồ ăn. Họ ra khỏi phòng ngồi vào những ghế, bàn ăn bằng sắt gắn dính xuống nền xi măng và bước đến nhận phần ăn của họ. Mỗi phần gồm một sandwich kẹp thịt và phó mát, một hộp sữa bằng giấy, và một trái chuối. Sau 30 phút, tôi mời họ vào phòng và đóng cửa lại. Thực phẩm buổi trưa và chiều thì phong phú và nhiều hơn, và thay đổi mỗi ngày. Nói chung, một người không cần thăm nuôi, vẫn có đầy đủ dinh dưỡng hằng ngày.

Nhiệm vụ của tôi là phải quan sát tù nhân không ngừng, đề phòng tù nhân vì buồn hoàn cảnh gia đình có thể tự tử hay dấu diếm tuồn hàng hút hay chích vào trong phòng. Những người tù ở đây đa số là vừa bị bắt vô và đang chờ đợi ra hầu tòa; số khác đã lãnh án và đang thi hành án trong đây. Nhiều tù nhân tâm sự rất thành thật rằng họ đáng bị ở tù vì “do the crime, do the time”, phạm tội thì phải trả. Mỗi lần gia đình gặp mặt, tôi phải mang gang tay cao su để khám trên người họ để ngăn những vật cấm vào trong phòng. Họ có thể coi phim hoặc tin tức thời sự trong phòng chung qua hệ thống Cable TV (còn sang hơn nhà tôi không có Cable TV), với một màn ảnh thật lớn. Ai không thích thì đọc sách. Ai muốn đi học, đi gặp bác sỹ, tôi dẫn đi và giao cho người chịu trách nhiệm, rồi ký nhận lại khi xong.

Chuyện Nhà tù Việt

Thực phẩm của chúng tôi do gia đình thăm nuôi để dành ăn dần. Sang thì có thịt ba chỉ xào mắm ruốc, vài cục đường tán; nghèo thì muối mè, muối xả, bịch cá khô, và vài củ khoai luộc. Nếu không có gia đình thăm thì thuộc diện con bà phước, tức là treo mỏ, không có gì ăn. Trong lúc mọi người ăn sáng, tôi cố giả bộ ngồi thiền, mắt nhắm lại, tự nhủ lòng rằng trong thinh lặng tuyệt đối, ta mới có thể nghe thấy tiếng Chúa/Phật thì thầm với ta; khổ một điều dù tập trung cách mấy, tôi chẳng nghe gì ngoài tiếng nhai nhóp nhép của người kế bên. Trái cấm của tôi liên tục chạy lên chạy xuống vì thèm. Nước miếng ứa tràn qua kẽ răng. Thật là một cực hình dã man hơn thời Trung Cổ.

Bữa trưa và tối, “nhờ ơn đảng”, chúng tôi được mỗi người 1 chén cơm nhỏ, không thịt, cá, chỉ một chút canh “đại dương” vì nước nhiều hơn rau, một loại rau muống cả rễ, nước canh màu đục nhờ nhờ như nước cống Bà Xếp. Giờ chia cơm thật là giờ hạnh phúc nhất của mấy tên “con bà sơ”. Ông trật tự phòng chia thật hay và thật đều như máy mà không rơi ra ngoài một hột trong khi mọi con mắt đều đổ dồn về hai cánh tay như đang làm ảo thuật của ông. Mỗi năm người tù được ăn thịt heo một lần vào ngày Tết. Miếng thịt heo mỏng đến độ tôi có thể thổi phù một cái bay mất tiêu.

Đợi khi công an đã về nhà, chúng tôi bắt đầu giải trí bằng cách “chiếu phim” kiếm hiệp gồm nhiều tập như Cô gái Đồ Long, Anh hùng xạ điêu…. do nhà văn Hoàng Hải Thủy kể. Ông có lối kể truyện rất hấp dẫn, lôi cuốn còn hay hơn coi phim trong rạp. Giọng ông sang sảng vang to, các phòng kế bên đều được nghe ké. Tôi ngồi kế bên “máy quay phim” vấn thuốc rê để ông có thêm hơi mà kể.

Nhạc thính phòng là cái chậu nhựa úp xuống nền xi măng, phủ lên tấm mền làm trống, các ca si được lựa chọn, thay nhau hát nhạc vàng ru ta vào mộng dưới hoa, đôi khi thành “họa dưới mông” nếu tụi cán cuốc rình bắt được. Có lần, từ phòng 11, ca si Khuất Duy Trác cao hứng hát bài Cô láng giềng, mọi người ngừng tay thưởng thức không dám ho. Vì không gian kín nên giọng ca của anh càng trầm ấm du dương. Tù xã hội chủ nghĩa như vậy, còn đòi gì hơn?

Chuyện Nhà tù Mỹ

Mỗi ngày có nhân viên đẩy những xe đầy những sách, tiểu thuyết, tạp chí đủ loại cho tù nhân mượn đọc. Ai muốn đi học thì ghi danh, tôi sẽ chuyển giao tên tuổi cho người có trách nhiệm lo về giáo dục. Tôi biết rất nhiều tù nhân lấy được bằng trung học, vài người có bằng cử nhân trong khi đang thụ án tù. Ngoài nhiệm vụ trông coi an ninh và giữ trật tự, tôi còn có nhiệm vụ đối thoại và giảng hòa khi họ có xích mích với nhau. Đôi khi phải đổi phòng cho họ vì bất hòa không thể sống chung một phòng với nhau. Tất cả tù nhân đều thưa gởi rất lễ phép, họ gọi tôi C.O. Ngai-Yen (Nguyen), sir, và nói điều họ muốn nói. Tôi đáp trả lại cũng gọi họ là Mr. John Doe. Nói chung, dù họ bị nhốt trong trại giam, họ mất tự do chứ không mất nhân phẩm. Nếu nghi ngờ tù nhân có dấu dao hoặc vật sắc nhọn hay vật cấm (contrabands) vi phạm nội quy trại, tôi phối hợp với các C.O khác, bất ngờ khám phòng để tịch thu hầu tránh việc họ đâm chém lẫn nhau.

Chuyện Nhà tù Việt

Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại. Một ngày trong tù bằng ngàn ngày bên ngoài. Câu này ai cũng biết nhưng phải ở trong tù thì mới thấm thía thời gian trong tù dài lê thê đến là dường nào. Để ngày tháng qua nhanh, chúng tôi bày ra việc tự học thêm. Người thày giúp chúng tôi Anh ngữ là thày Thích Trí Siêu, tục danh Lê Mạnh Thát. Trước đây thày dạy một đại học bên Mỹ, về nước, bị chính quyền cộng sản tuyên án tử hình cùng vụ thày Tuệ Sỹ và Ni Sư Trí Hải, trong vụ bắt bớ ở chùa Già Lam, từng đưa tới việc Hòa Thượng Trí Thủ bị bức tử.

Sau khi án tử giảm còn 20 năm, khi nằm tù, thày dạy chúng tôi tiếng Anh. Sách vở học tiếng Anh là cuốn nguyệt san Sputnik do Nga Sô ấn hành, bắt chước y chang hình dáng và kích cỡ theo nguyệt san Reader’s Digest của Mỹ, cũng được viết bằng Anh ngữ bởi người Nga nên văn chương lủng củng và kỳ cục. Nhưng có còn hơn không.

Luật trại giam cộng sản cấm không cho đọc báo chí dù đó là của nước cộng sản anh em. Giấy, viết càng bị cấm ngặt nghèo vì chúng sợ tù nhân thông cung với nhau. Kẻ cả giấy quấn thuốc rê cũng bị cấm. Chúng tôi đút lót mấy anh trật tự, họ tuồn vô cho một cuốn Sputnik.

Xé cuốn tạp chí ra thành nhiều phần, mỗi người giữ một phần rồi đổi với nhau mà học. Khi bị khám phòng thì máng nó lên giây phơi khăn mặt, rồi phủ khăn lên trên. Nhờ vậy chúng tôi có thể giữ tài liệu một thời gian khá lâu để học hành với nhau mà không bị phát giác.

Nghĩ mà giận, dưới thời thực dân cách đây cả thế kỷ, ông Minh Hồ bị tù, họ vẫn cho có giấy bút để ông viết Ngục trung nhật ký, làm thơ, dù sau này biết thơ trong đó là thơ ăn cắp. Vậy mà chúng vẫn ra rả khoe là tự do gấp vạn lần tư bản.

Chuyện Nhà tù Mỹ

Một hôm, tù nhân đang coi phim, và một vài người khác đi gọi phone về gia đình, tôi nhận được tin qua máy liên lạc “Red code”, hệ thống báo động vang lên, tôi vội hét to “lock down” và ra lệnh cho tất cả trở về phòng, khóa lại. Hai tù nhân đánh nhau ở khu kế bên, một người dấu được một miếng nhựa cứng làm khí giới và và đả thương người cùng phòng. Tôi vội vàng khóa cửa phòng trực và chạy qua khu kế bên để tiếp ứng bạn mình.

Tất cả chúng tôi được trang bị khiên giáp, pepper spray, và súng điện taser trên tay sẵn sàng xông vào phòng, kể cả xử dụng vũ lực nếu cần, để còng tay và mang anh ta đi cách ly. Hai C.O. mang khiên đứng đầu, theo sau là hai C.O. khác với hơi cay và súng điện. Cửa được mở khóa và sau vài lời thuyết phục, anh ta thấy lực lượng hùng hậu quá nên đồng ý bỏ vũ khí xuống và chịu còng tay đem đi biệt giam.

Dù bị kỷ luật, người tù vẫn được đối đãi tử tế, phần ăn vẫn đầy đủ, và các tiêu chuẩn khác vẫn bình thường.

Chuyện Nhà tù Việt

Ngày còn bị tạm giam ở phòng 5 khu AH, khám Chí Hòa, chờ chuyển hồ sơ lên sở công an thành phố, tôi chứng kiến một vụ thanh toán nhau rất ghê rợn: Hôm đó, sau bữa cơm trưa, mọi người đang nằm ngủ, riêng tôi khó ngủ, nên ngồi dậy nẹc lửa châm điếu thuốc rê. Chưa đủ đô, tôi tính làm 1 điếu thuốc thuốc lào thì Hùng Chùa bước đến xin lửa, nói hắn đang đổ khuôn hỏa tốc (2) làm cờ tướng. Sau khi “bắn” 1 bi thuốc lào, phê quá, tôi dựa lưng vào tường, nhắm mắt lim dim thả hồn theo nàng Phù Dung tiên nữ.

Tôi giật bắn người vì một tiếng hét đau đớn kinh hoàng như xé ruột gan. Mở mắt ra, tôi thấy thằng Cu Đen đang ôm mặt chạy quanh phòng la hét, chân nó dẵm đạp lên vài người khác khiến quang cảnh trong phòng ồn ào, náo loạn. Vốn to lớn và đen trùi trũi nên dân giang hồ gọi nó là Cu Đen, lúc này nó vừa khóc vừa la “nóng quá, má ơi, chắc con chết!”. Lúc này, Hùng Chùa đã rút lui vào góc cánh cửa sắt của phòng quay lưng lại với hành lang bên ngoài, hai cái dùi nhọn được bọc vải trên hai tay, sẵn sàng đâm bất cứ kẻ nào đụng vào nó. Một người nào đó hét to qua song sắt “Báo cáo cán bộ, phòng 5 khu AH có người bị tạt hỏa tốc”. Sau đó là tiếng loảng xoảng mở khóa và hàng chục tên công an lẫn trật tự xuất hiện trước của phòng với súng ống chĩa qua song sắt mà chưa dám vô. Thì ra, Hùng Chùa vì thù ghét cá nhân, đã đốt bao nylon chảy thành chất nhựa lỏng, đổ vào một lon cá hộp, xong nó dùng miếng giẻ rách để cầm nguyên cái lon chất lỏng đang sôi đó, ụp lên mặt Cu Đen khi nó đang ngủ say.

Vài người trong phòng dìu Cu Đen ngồi xuống, tôi vội chạy đến với tuýp kem đánh răng và xoa lên mặt nó mong làm dịu phần nào sự bỏng rát. Cả khuôn mặt nó bị lột da trắng lẫn đen nhìn rất kinh khiếp, một bên cánh mũi bị lẹm đi. Nó nói không còn nhìn thấy gì hết. Trong khi đó, vài người khác đang thuyết phục Hùng Chùa bỏ dùi xuống. Nó nhất định không. Công an hứa hẹn sẽ không đánh đập chỉ đem đi biệt giam, nó cũng nhất định không. Gần 1 tiếng đồng hồ, vừa hứa hẹn vừa dọa dẫm, cuối cùng nó gật đầu và bỏ khí giới xuống.

Ngay lập tức cửa phòng bật mở, tất cả ùa vào lôi sền sệt Hùng Chùa ra hành lang ngoài phòng. Một cơn mưa đòn trút lên cái thân hình ốm đói của nó. Nó chỉ còn biết co người lại và nằm chịu đòn. Một lúc sau, nhìn lại chỉ còn là một thân thể bê bết máu đang oằn oại trên nền xi măng. Công an còng tay nó và dẫn đi, một nhóm khác dìu Cu Đen xuống bệnh xa'.

Ba tuần sau, Cu Đen trở về phòng với khuôn mặt dị dạng, lồi lõm, thẹo thành vệt chi chít, chỗ đen, chỗ trắng, chỗ hồng vì đang ăn da non; lông mày, lông mi cháy rụi, cánh mũi trái không còn nữa, một bên môi còn hơi sưng và mắt thấy mờ mờ. Nó xin một điếu thuốc lào, cầm miếng giấy mồi lửa làm đóm hút thuốc, cứ đưa giấy lên tính châm vào nõ, lửa bị tắt. Nó làm đi làm lại nhiều lần mà vẫn không thể nào hút được điếu thuốc lào. Nó khóc và than não nề “Trời ơi, hút thuốc lào cũng không được!”. Cánh mũi trái bị mất nên làn hơi không thể nào điều chỉnh được như ý giống một người bình thường. Còn Hùng Chùa, sau khi ra khỏi biệt giam, bị đưa qua phòng khác. Nghe đồn, dân giang hồ bên đó “xử đẹp” nó, nên lại bị chuyển phòng nhiều lần nữa.

Tù Việt Nam cộng sản, khi vi phạm nội quy, sẽ bị biệt giam ăn cháo 7 hột, nghĩa là ăn cháo lỏng như nước. Biệt giam là một phòng rất nhỏ hẹp, không cửa gió, với một lối đi khoảng 30 cm, một bục xi măng vừa một người nằm. Phía chân là 1 dây xích gắn dính xuống sàn xi măng, dài khoảng 50 cm, một cái lon rỉ sét đựng phân và nước tiểu. Người tù biệt giam bị xiềng chân chỉ đi lại trong bán kính nửa mét, mỗi lần di chuyển xiềng xích kêu leng keng. Mùi hôi thối, ẩm mốc tràn ngập căn phòng. Phải mất một thời gian mới quen dần. Chỉ cần 10 ngày, trở lại phòng giam chung, tù nhân chỉ còn là bộ xương biết đi.

Một ngày giao thừa cuối năm, ai nấy đều buồn và nhớ gia đình da diết, chúng tôi tổ chức đêm 30 Tết trong phòng. Bác Hai, một ông già hom hem, móm mém, lớn tuổi nhất, khoảng trên 70, trong bầu không khí trang nghiêm, bác chia xẻ với anh em một câu chuyện ngẫu hứng ôn lại những kỷ niệm với gia đình, những ngày tháng năm xưa khi còn là một miền Nam tự do hạnh phúc. Bác yêu cầu chúng tôi hát bài Ly rượu mừng, đến khúc “kìa nơi xa xa, có bà mẹ già, ngày đêm mong con, mắt vương lệ nhòa…”. Tất cả chúng tôi nghẹn lời, hát không nổi, đây đó vài tiếng sụt sùi. Bài hát chấm dứt ngang trong im lặng. Ai nấy về chỗ mình ngồi, gục đầu, buồn hiu, cái kim rơi xuống nền nhà cũng có thể nghe được.

Ngày hôm sau, mồng 1 Tết, vào giữa trưa, tên công an trực khu đứng trước của phòng hét lớn:

– Ai tổ chức hát hò, mít tinh đêm qua?

Không có tiếng trả lời. Hắn lừ mắt nhìn từng người, ngón tay chỉ vào bác Hai:

– Thằng kia. Ai tổ chức? Nói mau. Không tao cho mày đi biệt giam.

Bác Hai bình tĩnh tiến về phía song sắt cửa:

– Xin cán bộ nói năng lịch sự đàng hoàng. Cán bộ chỉ đáng tuổi cháu tôi thôi mà dám gọi tôi bằng “thằng” hả?

Hắn đỏ mặt, lầm bầm, lúng búng cái gì trong cổ họng, rồi giận dữ bỏ đi. Từ đó về sau, không tên công an nào dám gọi người tù chúng tôi một cách xách mé, mất dạy như vậy nữa. Buồn là vẫn có những tù nhân cam tâm làm ăng ten, chỉ điểm, và báo cáo việc làm của bạn tù cho công an để đổi lại một chút ân huệ. Bọn này ở đâu cũng có.

Chuyện Nhà tù Mỹ

Làm việc trong trại giam county, vui buồn lẫn lộn, có khi rất bực bội vì tù nhân đòi hỏi quá đáng hay gây gỗ với nhau. Họ luôn đòi hỏi C.O. phải giải quyết mâu thuẫn với bạn cùng phòng. Cũng có tù nhân tìm cách báo cho tôi hay về thái độ đáng ngờ của tù nhân khác, mong được đối xử đặc biệt hơn. Có ngày, về nhà rồi mà lòng vẫn còn vướng mắc, băn khoăn.

Đôi khi tôi cũng bị căng thẳng vì cả ngày mình phải ở trong một không gian khép kín, không thấy ai khác ngoài những tù nhân mà tính khí họ thay đổi bất thường. Con người khi bị mất tự do, bị nhốt trong phòng kín thời gian dài, ai cũng dễ nổi điên. Những ai bị căn bệnh “claustrophobia”(3), sẽ không thích hợp với nghề coi tù này.

Theo một thông số mới nhất, mỗi tiểu bang phải chi ra trung bình khoảng $31,000 cho một người tù một năm (4).

– Mỗi năm, tất cả các nhà tù liên bang, tiểu bang, và địa phương toàn nước Mỹ tiêu tốn $80 billions (80 tỷ) để trả lương nhân viên, nuôi, chăm sóc sức khỏe, mọi nhu cầu cần thiết của tù nhân, và bảo trì nhà tù. Tù nhân khi đi bác sỹ, không tốn tiền mà vẫn được chăm sóc tận tình, còn hơn một công dân cần cù chăm chỉ đi cày ở bên ngoài.

– Mỗi người dân Mỹ, khi đóng thuế, phải trả khoảng $260/1 năm cho việc này. Trung cộng và Nga là hai nước có nhiều nhà tù nhất thế giới.

Thỉnh thoảng ông anh coi tù Mỹ lại phàn nàn:

-Có những ngày tôi cũng muốn nổi điên với bọn tù vì chúng nó được đằng chân thì lân lên đằng đầu. Người mình vốn hiền lành, cả nể nên thường dễ dãi với tụi nó, tụi nó lờn mặt.

Nói xong, anh uống cạn ly, rồi khè một tiếng:

– Bực thì nói vậy, chứ đối với người tỵ nạn Việt mình, thì nghề này cũng là một nghề quá tốt và lương thiện để nuôi gia đình. “Hy sinh đời bố, củng cố đời con,” phải không chú? Thôi làm một ly đi, ý quên, nhẩm một ly trà đi. Tui làm hết chai này rồi đi ngủ.

Tôi đùa:

– Còn đấm bóp hông dzậy, cha nội?

Anh cười hềnh hệch và dốc ngược đáy chai.


Thursday, October 23, 2025

Chuyện Phiếm: Yellowstone Du Ký

Lều Tipi

Đất trời Arizona giữa tháng 9 vẫn như một chảo lửa. Ông trời dường như đang mê tu luyện môn “Cửu Dương Thần Công”, phóng hỏa lực ba con số xuống cõi hồng trần. Bầu trời xanh lơ mà mặt trời như ngủ quên, vẫn đều đều rải xuống trần gian cái nắng nóng đến nhão cả người, vạn vật như chảy ra thành một chất lỏng đặc sánh; con người rũ rượi, nhễ nhãi mồ hôi, hằng ngày vật vã bên cái máy “ây-xi” ráng sống sót, mong hạ đi, đón thu về. Nhóm Bút Tre bèn quyết định chạy trốn lên vùng cao, lên tận Hoàng Thạch Sơn, tức Núi Đá vàng, Yellowstone National Park.

Hoàng Thạch Sơn là một vùng cao nguyên rất đặc biệt và nổi tiếng thế giới, được thành lập vào năm 1872 ở Hoa Kỳ. Công viên rộng 3,472 dặm vuông (8,991 Km2), nằm hầu hết ở phía Tây Bắc Wyoming, gần tiểu bang Montana và Idaho, diện tích lớn hơn tiểu bang Delaware. Nó nổi tiếng nhờ những cột nước nóng phun trào tự nhiên, những giòng suối nước nóng, thác nước đổ ào ạt; lại có thêm rất nhiều loại thú hoang, đặc biệt nhất là Bò Tót, Bison.

Nó khác thường nhờ nằm trên một siêu núi lửa đang hoạt động lớn nhất thế giới. Du khách có thể rảo bước kế bên những giòng nước nóng nghi ngút khói tỏa, bên dưới là những hầm ngầm khổng lồ chứa đầy chất lỏng đá tan chảy đang sôi ùng ục, nhiệt độ trung bình 1,800 -2,200 F, cộng thêm áp suất rất cao, lúc nào cũng như muốn trồi lên khỏi những vết nứt trên mặt đất.

Chúng tôi bèn cỡi mây đạp gió bằng hãng hàng không giá rẻ Allegiant, mà ít tiền thì không thể nào “ngon, bổ, rẻ” với hàng loạt luật lệ khắc khe, khiến chúng tôi phải dùng đến 72 phép thần thông của Tề Thiên đại thánh, biến hóa khôn lường, sao cho nguồn ngân lượng bớt bị tiêu hao.

Trong chốn bằng hữu võ lâm lũ lượt di hành ra khỏi đại hoang mạc A-Lý-Xô-Na, lữ khách ai nấy nai nịt gọn gàng, áo ngắn, quần sọc; chỉ riêng 8 vị tỷ huynh đệ phái Bút Tre, vai mang trường kiếm, đầu bịt nón len, chiến bào chồng 3, 4 lớp, nhứt là tí cô nương Tiểu Vy, đầu đội thêm cái mão lông gấu Trúc “ma dê in” Tung Của, uy phong chẳng khác gì chưởng môn phái … Thảo Cầm Viên. Vài tay kiếm khách giang hồ, người tò mò, kẻ ngơ ngác, tưởng bang phái chúng tôi bị chạm dây … điện; vài đại hán râu hùm hàm én, mắt ốc bươu nhướng lên, buông lời xách mé:

- Chẳng hay các hạ người quê quán nơi nao? Môn phái nào? Hay các hạ người từ cao nguyên Tây Tạng lạnh giá mới xuống núi? Lối ăn mặc của các hạ làm cho chúng ta đây cũng muốn … hâm lây.

Chúng tôi vòng tay, đáp lễ, dùng thổ ngữ bản địa để an dân bá tánh, mong thiên hạ không hiểu lầm:

- Chúng hạ thuộc môn phái Bút Tre, tên Tây là Bamboo Pen, vốn người cõi trên … nghĩa là trên cao nguyên mới vừa hạ sơn, chưa kịp cởi áo bào thì phải tiếp tục hành trình đi lên cao nguyên Đá Vàng (Yellowstone), nên để nguyên quần áo cho tiện, khỏi mất thời giờ đó mà.

- À ra vậy! Chúng ta cứ ngỡ các hạ mới vừa từ tâm thần viện bước ra nên có lời khiếm nhã, mong các hạ ban cho hai chữ đại xá. Thật là biết ơn lắm lắm.

Miệng không hề nhúc nhích, chàng Diệu Thủ Thư Sinh Hoàng Nam dùng phép Truyền Âm Nhập Mật đáp lại, tiếng vang như sấm:

- No star where, no star where (không sao đâu).

Lời vừa thoát ra khỏi miệng thì khách giang hồ như bị một luồng kình phong đẩy bật lại phía sau, hồn phi phách tán. Thiệt là chốn giang hồ nguy hiểm, khó lường. Nhưng “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Cha ông mình đã dạy chí phải! Nhìn lại mình mới thấy quả là phe ta ăn mặc hổng giống ai, làm như sắp sửa đi thám hiểm vùng Nam Cực. Trời thì nóng đổ lửa, mà huynh đệ, tỷ muội mình thì cứ áo lông chồn, nón lông gấu trúc, vậy mà chưa ai bị hâm, cũng còn may mắn dàn trời.

Ngày đầu tiên hạ cánh xuống phi tràng Idaho, trời cũng đã về chiều, lật đật lo đi mướn 1 con ngựa sắt làm phương tiện đi lại cho nhanh, chứ môn khinh công “Lăng Ba Vi Bộ” học trên núi đem ra xử dụng nơi đất lạ, người cũng lạ, coi bộ hổng hạp; còn nếu hà tiện mà thi triển môn khinh công này, e rằng tới nơi chỉ còn cái xác không hồn. Vậy mà khi tới khu rừng ngoại vi, nơi lập bản doanh chính, tiếng trống canh đã đổi qua canh một gà gáy sáng. Ai nấy mệt đừ, lạnh run vì phải dò dẫm trong rừng tối đen, may nhờ đôi mắt sáng của con Thiết Tuấn Mã soi đường mà lần mò kiếm ra chỗ lều Tipi đã được dựng sẵn.

Dùng phép thiên lý nhãn rà soát một vòng tròn 360 coi địa hình ra sao, sau đó kiếm đến chốn tẩy rửa bụi trần. Trời lạnh teo, âm khí dâng cao như đang lạc vào Băng Hỏa Đảo, nhiệt độ rơi xuống đến 35 F, vài huynh muội không dám chà răng rửa mặt, chui đại vô mền, vài người can đảm hơn, thò ngón tay dưới vòi nước, ngón tay lạnh cứng như đang luyện “Huyền Băng Trường Thành”, bèn thi triển phép khinh công trở lại tấm lều vải nhanh như cắt, tự an ủi thôi để mai cũng chưa … bốc mùi.

Cái lạnh ở đây kỳ quái lắm, lạnh từ trong ruột lạnh ra. Quần áo để nguyên, đắp thêm 2, 3 lớp mền mà vẫn còn lạnh. Không dám trở mình vì hở chỗ nào là hàn khí xâm nhập chỗ đó. Phần vì đường xa vạn dặm, mệt mỏi, nên ai nấy nằm im re; một hồi sau, tiếng “kéo gỗ” lẫn tiếng “cưa máy” vang rền, nhịp nhàng bản hợp tấu Concerto Sonata, bên trong túp lều tranh có 8 trái tim vàng.

Sáng hôm sau tỉnh giấc Nam Kha, khí sắc tuy có hồng hào hơn trước, nhưng hai hàm răng vẫn còn gõ vào nhau nghe lạch cạch, người này ngần ngại nhìn người kia. Cuối cùng môn phái Bút Tre phải dùng phép Thần Điệp Thoát Xác chui ra khỏi đống chăn mền ngổn ngang vọt đi rửa mặt và tắm gội. May thay, mấy tên tiểu đồng trong trang trại đã chịu khó mở vòi nước nóng, ai nấy vổ tay hoan hỉ như gặp được kỳ trân dị bảo, bèn thay nhau gột sạch bụi trần.

Tắm xong, nhẹ đi cả ký lô đất bụi bám trên người từ con đường thiên lý đã đi qua, ai nấy thấy nhẹ nhõm, ghé qua lều Dã Thảo sát bên, một tên tiểu đồng đã chờ sẵn với bình cà phê A-Mễ-Li-Can bốc khói. Chiêu một ngụm, một luồng kình lực chạy xẹt qua mạch Nhâm Đốc, cảm nhận rõ một hơi nóng từ cổ họng chạy xuống tới đơn điền, chạy tới đâu, sướng tới đó, mắt sáng quắc, lòng phơi phới, đã ơi là đã!

Về lại Tipi đại bản doanh, ai nấy đói bụng, ngặt nỗi tửu lầu quá xa, nên phải moi ra khẩu phần lương khô là gói xôi dừa đậu đen mà đại sư tỷ “chị Tư” cất công nấu trước lúc rời núi. Tuy có hơi cứng một chút, tại hạ cũng xơi gần hết, bỏ sợ tội và sợ phụ công sức thức khuya dậy sớm của đại sư tỷ.

Nói về đại sư tỷ “chị Tư”, vốn xuất thân từ hoang đảo xa xôi miền Cai Lậy, tỷ học được công phu nấu nướng thượng thừa theo chi nhánh miệt vườn, nấu cái gì cũng ngon; lại còn được sư mẫu truyền cho môn “Cạo Gió Đại Pháp”, khi ra chưởng, gió lạnh cho tới gió nóng, chị đều hạ đo ván, cuốn dép chạy dài. Số là khi mới nhập trại, tôi bị một “thế lực thù địch” nào đó, gài khí độc trong lều, khiến cơ thể tôi run lên bần bật. Thoáng nhìn, sư tỷ biết tôi đã trúng Hàn Băng Độc Khí, bèn ra tay hóa giải bằng một đồng xu và chai dầu gió. Hết một tuần trà, tôi nằm đắp mền vận công, sáng hôm sau lại mạnh khỏe như con trâu nước, đi lại như thường.

Có thực mới vực được đạo. Cha ông mình dạy không sai. Nhờ thêm năng lượng từ gói xôi dừa, cả đám đồng môn Bút Tre như được uống viên linh đơn, bèn ra roi cùng Thiết Tuấn Mã lên đường. Con ngựa sắt đưa chúng tôi đến một tửu lầu địa phương nghe tên khá giống một vị giáo chủ võ lâm, danh trấn đương thời xứ Cờ Hoa, tên Đỗ Nam Trâm (Donald Trump); quán này nổi tiếng trong giới hắc-bạch giang hồ, ai ai cũng đã từng nếm qua và đều đồng ý phong cho quán là đệ nhứt tửu lầu trên chốn võ lâm. Đó là tửu lầu Mạc Đỗ Nam (McDonald). Vì không có nhiều thời gian, chúng tôi ăn qua loa, cốt là để phục hồi công lực bị tiêu hao sau một ngày dài rong ruỗi, rồi tức tốc lên đường kẻo không kịp giờ Đá Vàng Luận Kiếm.

Bò Tót. Bison


Trích từ màn hình video.

Geyser, mạch nước nóng phun trào từ sâu dưới lòng đất đá, có thể cao 60-70 ft.

Nước nóng rỉ ra từ trong đá

Bison burger

Giang hồ vốn chẳng vẹn đầy –
Người đi kẻ ở, hẹn ngày gặp nhau.

Môn phái chúng tôi bắt đầu chuyến đi luận kiếm trên đỉnh núi Đá Vàng. Thôi thì không kể hết được vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, chỗ thì mây trắng giăng ngang, mờ ảo như chốn non bồng nước nhược, nơi thì màu sắc rực rỡ hoa tươi cỏ lạ không nơi nào bằng. Những giòng thác nước đổ ào ào tung bọt trắng xóa từ trên cao, gió nhẹ mang hơi nước như lớp sương vuốt ve lên làn da khô cháy vì sa mạc, ai nấy đều hít căng lồng ngực thưởng thức món quà thiên nhiên ban tặng.

Lác đác hai bên đường, những khe nứt tuôn ra giòng suối nhỏ, chảy êm đềm kế bên những cành hoa dại nghiêng đầu, mang theo mùi lưu huỳnh lãng đãng. Có hằng ngàn khe nứt như vậy khắp nơi. Người không quen, dễ bị ảnh hưởng, nhẹ thì nhảy mũi, nặng thì nhức đầu, đường khí quản hơi khó thở. Người mạnh khỏe thì coi như pha, giống đi cưỡi ngựa xem hoa.

Càng đi sâu vào chốn thâm sâu cùng cốc, đồi núi trùng điệp, mắt chữ O, miệng chữ A, chúng tôi không kìm nổi kinh ngạc. Trước mắt là một cõi mộng huyền, nơi dường như trời và đất khẽ chạm vào nhau bằng làn sương mỏng. Mây trắng giăng ngang triền núi, từng dải mềm như tấm lụa của trời vô tình buông xuống, quấn quanh những đỉnh non cao chập chùng. Ánh sáng sớm mai tan loãng trong mây, vẽ lên muôn tầng sắc bạc dịu êm, như bàn tay ai vừa vuốt qua mặt nước.

Từ vách đá xa, thác nước đổ xuống như tấm rèm pha lê, từng dòng tung bọt trắng xóa, rơi xuống hồ xanh biếc như dải ngân hà rớt giữa nhân gian. Âm thanh của nước không ồn ào, chỉ như một khúc nhạc không lời, khi gần thì róc rách như tiếng cười trong trẻo của tiên nữ, khi xa lại trầm sâu như tiếng đàn tỳ bà vọng giữa mây khói.

Không khí nơi đây trong lành đến mức mỗi hơi thở như mang theo hương hoa cỏ, hương đất trời mới tinh khiết. Giữa những tầng sương, bóng chim chao nhẹ, tiếng cánh vỗ lẫn vào tiếng suối reo. Dường như mọi thứ đều chậm lại, dịu lại, chỉ còn lại sự an nhiên, thảnh thơi, và một nỗi bình yên mênh mang, khiến người ta chẳng biết mình đang ở giữa mộng hay thực, giữa cõi người hay chốn tiên.

Dọc đường, chúng tôi còn thấy vài loại cầm thú hoang dã như Gấu, Nai, và đặc biệt là Bò Tót Bison. Loại bò này to lớn gấp đôi bò thuần chủng, có lông dài nửa thân phía trước như lớp áo chống lại cái lạnh vùng núi cao.

Chúng tràn lên đường xe chạy, có một con to lớn dềnh dàng đứng trước mũi xe, tôi cho xe chạy sát bên, có thể nghe tiếng thở phì phò của nó rất gần. Nói dại, lỡ nó buồn, tung một chưởng “trung tiện” ra phía sau thì cả xe chết ngộp. Ai nấy trong xe đều khuyên nên quay kiếng lên, kẻo nó nổi khùng, húc 1 cái thì móp xe và móp cả … người thì mang họa, lại phải đền xe vì không mua bảo hiểm. Nghe quân sư vấn kế, tôi từ từ nín thở cho xe đi qua chú Bò Tót mà không dám rồ ga mạnh vì sợ làm nó giựt mình thì khổ cả hai bên, Bò Tót và chúng tôi.

Chuyến du hiệp Đá Vàng, tám vị hiệp sĩ Bút Tre Phái đã trải qua đủ hàn – nhiệt, lúc run như cầy sấy, lạnh buốt như chốn băng sơn Cực Bắc, lúc ngồi bóp chân thư giãn, ngửa mặt lên trời mà than, khi thì nóng bỏng như ngồi bên lò luyện đan của Trường Thọ Lão Tiên. Ăn thì toàn thịt bò Bison (nói nhỏ là ngọt thịt và đậm đà hơn bò nhà) và dê núi, uống thì cà phê A-Mễ-Li-Can mạnh hơn cả cốc linh đơn Thiên Niên Hà Thủ Ô.

Song sau tất cả, tình đồng môn thêm gắn bó, tiếng cười vang vọng núi rừng Yellowstone. Giang hồ vốn hiểm ác, nhưng đi đâu mà có anh chị em Bút Tre thì ở đó hóa thành tửu quán rộn ràng.

Rốt lại, chuyện giang hồ cũng chỉ là mây khói. Chuyến đi này, chẳng để lại bí kíp võ công, không quần hồ luận kiếm, cũng không lưu danh chốn võ lâm, nhưng lưu lại một thiên “Du Hiệp Ký” giúp bạn đọc có được nụ cười “mỉm chi cọp”. Bởi vậy, môn phái Bút Tre có mấy nhà thơ, ngẫu hứng viết lên câu đối:

“Đá Vàng lạnh buốt, tám hiệp sĩ vẫn cười vang đất khách;
Xôi dừa hơi cứng,nhưng thơm lừng tình nghĩa chốn giang hồ”

Nguyễn Văn Tới.

Môn phái Bút Tre. Chớm Thu Yellowstone 2025.


Sunday, August 24, 2025

Ngài Chánh Án (Phần Kết) 


Mở mắt ra, vật đầu tiên Minh thấy là cái quạt trần quay hơi chao nghiêng qua một bên. Chàng nheo mắt lại vì ánh sáng chói chan trong căn phòng. Một người đàn ông mặc đồ thể thao trắng ngồi trên cái ghế đẩu đang chăm chăm nhìn mình. Phía sau ông ta, Huy ngồi trên cái sofa gần bên cạnh cái bàn nhỏ có hai ly nước cam đã cạn gần một nửa. Cái đầu vẫn đau nhức kinh khủng, không biết mình đã bị đánh vào chỗ nào. Chàng có cảm giác hình như tóc bị khô cứng và dính bệt vào sau gáy.

Định thần lại, chàng mới biết mình bị trói ngồi, đầu nguẹo sang một bên, lưng dựa vào thành giường trong căn phòng, hai tay, hai chân bị trói chặt qua hai bên vào bốn cái cột giường.

Trước mặt chàng, ngồi trên cái ghế đẩu, ông Chánh Án to lớn, da ngăm đen, vai to, mặc quần áo thể thao Nike màu trắng, khẩu Makarov nằm gọn trong lòng, miệng nhếch một nụ cười nửa miệng, vẻ chế diễu:

- Ông “Robin Hood”, xin lỗi đã làm ông đau, ông thấy khá hơn chưa?

- Cám ơn Ngài Chánh Án, ngài nên lo cho chính ngài mới phải. Tôi không ngờ ông giàu hơn tôi tưởng rất nhiều.

Minh bình tĩnh trả lời, mặt không thoáng chút sợ hãi. Chàng biết một khi kẻ thù cho chàng thấy mặt, đồng nghĩa với cuộc đời chàng đã được định đoạt. Việc gì phải sợ. Khi bắt tay vào theo đuổi lý tưởng, chàng đã chuẩn bị tất cả mọi tình huống xấu nhất, nếu sợ chết, chàng đã không làm. Đây cũng chính là lý do chàng quyết định sống độc thân. Công lý không được thực thi theo pháp luật, chàng phải tự tay thi hành công lý.

- Tôi đã gặp ông ở đâu thì phải?

- Ông từng đem xe đến tiệm tôi để bảo trì. Tôi nhớ khách hàng, chứ khách hàng ít khi nhớ tôi.

- À, thì ra ông chủ đại lý xe hơi sang nhất thành phố, vậy mà tôi nhớ không ra. Nghe tiếng đã lâu, nay mới hân hạnh được gặp. Tưởng ông 3 đầu 6 tay, không ngờ cũng xoàng!

- Cám ơn lời nhận xét của ông. Tôi được biết ông từng du học bên Nga, tôi cũng nghe nói con bò mà được gởi qua Nga, khi về, không mang hàm Tiến Sỹ, thì cũng mang hàm Chánh Án.

Ông Chánh Án tái mặt, nghiến răng vì giận dữ, ông lao tới, đấm tới tấp lên mặt của Minh, một dòng máu mũi tràn ra hai bên mép.

- Đồ phản động, mày phải chết. Tao sẽ cho mày chết từ từ trong đau đớn để mày biết thế nào là sức mạnh của chuyên chính vô sản.

- Xin cứ tự nhiên, nhà “vô sản” chuyên chính.

Không màng đến câu trả lời của Minh, ông Chánh Án quay sang bên cạnh, ra lệnh cho Huy mang ra một bình ắc quy điện và một vài dụng cụ linh tinh.

Tiếp theo là hộp đồ nghề bằng gỗ trên nền nhà và ra lệnh mở ra. Bên trong đủ loại dụng cụ tra tấn thời Trung Cổ, một cây kìm nhổ móng tay, một cái khung tre gồm những thanh tre đan với nhau dùng để kẹp vào những kẽ ngón tay, rồi chậm rãi siết chặt lại từ từ khiến nạn nhân phải gào thét kinh hoàng và ngất xỉu vì sự đau đớn được tăng lên từ thấp đến cao dần, được gọi là Song Chỉ Trảo.

Song Chỉ Trảo là loại dụng cụ tra tấn dã man nhất và cũng là dụng cụ cuối cùng dành cho tù nhân nào, dù cứng cổ nhất cũng phải xin cho được chết còn hơn là chịu cực hình này. Người tra tấn chỉ cần lấy một sợi dây dù được bện chặt, buộc vào bốn đầu khuôn tre, nối qua một trục tay nắm để siết từ từ. Những ngón tay tù nhân được đưa vào khe hở giữa hai tấm tre đan, vặn cái trục từng chút một, xương ngón tay sẽ kêu răng rắc như thanh củi bị bẻ trong lò sưởi. Tù nhân đau đớn kinh hoàng, đau rất chậm, và đau cho đến khi ngất đi. Người gan lì nhất cũng phải đái ra quần và xin tha mạng.

Sau khi bày ra tất cả dụng cụ trên bàn, Huy trở về ghế của mình, nhỏ nhẹ trả lời, ánh mắt thoáng lên tia lửa thù hận được che dấu qua giọng nói rất nhẹ nhàng, hơi run sợ:

- Anh Quân ơi, anh còn cần cần gì nữa không?

- Cưng ơi, em cứ ngồi đây coi anh xử lý tên phản cách mạng này và em sẽ giúp anh tra tấn hắn.

Ông ta âu yếm nói với Huy, nhưng thật ra ông muốn chàng phải chứng kiến cuộc tra tấn để làm gương, gián tiếp cho Huy biết nếu tìm cách trốn hay phản bội ông.

- Lấy cho anh cặp giây điện màu đỏ, đen.

Huy riu ríu làm theo lệnh của hắn, hơi thở đứt quãng, hai bàn tay chàng run rẩy, phải mất một hồi lâu mới xong việc. Hắn không bỏ sót bất cứ một biến chuyển nhỏ nhặt nào trên khuôn mặt Huy, hắn ta cười nửa miệng, cầm lấy cặp giây điện, đặt nhẹ nhàng lên giường, sát bên cạnh chỗ Minh bị trói. Hắn từ tốn tháo chiếc nhẫn ra khỏi ngón tay giữa, cẩn thận quay lại, đặt nó trên cái bàn nhỏ, cùng với hai ly nước cam. Hắn cẩn thận cũng phải vì lúc còn du học bên Nga, hắn đã chứng kiến bạn cùng phòng bị điện giật trong lúc ngón tay còn đeo chiếc nhẫn vàng khi sửa chữa điện. Xong xuôi, hắn tự tay kẹp cái giây đen vào đầu ngón chân cái bên trái và giây đỏ vào ngón chân bên phải của Minh.

Huy ngồi co ro trên ghế vẻ sợ hãi, tuy vậy, mắt chàng chợt sáng lên thật nhanh, liếc nhìn chiếc nhẫn nằm trên bàn. Khuôn mặt chàng dãn ra.


***
Thạch Lương vừa lao xe trên đường phố về hướng nhà ông Chánh Án vừa theo dõi những hình ảnh trên điện thoại cầm tay của chàng với vẻ bồn chồn, lo lắng không dấu được. Chàng đã thấy hết những sự việc đang xảy ra trong ngôi biệt thự của ông Chánh Án qua cái camera nhỏ xíu được ngụy trang trên cái nút áo sơ-mi của Minh.

Chàng vừa chạy xe vừa cố nghĩ ra một cách nào thật hữu hiệu và thật cấp tốc để thi hành phương án B mà chàng và Huy đã sắp xếp từ trước, trong trường hợp kế hoạch bị đổ vỡ. Chàng lẩm bẩm như đang tự nói với chính mình, thực ra chàng đang nói chuyện với Minh qua cái tai nghe dấu kín trong tai của hai người, hai bên đều có thể nghe được nhau rõ ràng nhất. Chàng vội vàng dừng lại dưới một bóng cây, hai ngón tay lướt nhanh trên điện thoại cầm tay, bấm nút gởi đi một tin nhắn, rồi chàng tiếp tục rú ga, phóng xe trên trên con đường phố đông đúc vừa lên đèn.

***
Ông Chánh Án tự tay vặn nắm xoay của cái hộp biến áp từ Zero lên 80 volt, rồi nhấn cái nút đỏ. Cả thân thể bị trói của Minh bật lên cùng với tiếng kêu tắt nghẹn; cơ thể chàng co giật dữ dội, căng cứng lên như giây đàn, rơi xuống giường. Mồ hôi chàng chảy dài trên trán và khuôn mặt tái xanh vì đau đớn. Chàng cắn chặt răng, cố hết sức không kêu la. Ông Chánh Án chăm chú theo dõi từng diễn biến trên khuôn mặt Minh, hắn muốn chàng phải van xin tha chết.

Ông ta thất vọng khi thấy Minh vẫn không tỏ vẻ sợ hãi hay van xin. Khẽ cười nhạt, ông đưa tay vặn nắm xoay lên 120 volt, ông thừa biết con người vẫn có thể sống sót dù tăng điện áp trên 120 volt, miễn sao đừng cho cường độ giòng điện trên 50 mA chạy qua tim, nó chỉ gây đau đớn nhất thời, chứ không thể giết chết con người.

Ông đưa tay, chuẩn bị ấn cái nút đỏ thêm lần nữa, thì Huy, hai tay cầm hai ly nước cam, tiến đến gần và lên tiếng:

- Anh Quân ơi, ngừng tay một chút, uống miếng nước đi anh.

Huy đưa ly nước cam cho ông Chánh Án bằng cử chỉ rất là âu yếm, tay kia đưa lên miệng uống một hơi cạn. Ông ta quay lại nhìn Huy, lòng tự nhủ đây là một ý kiến hay, kéo dài cuộc tra tấn thêm một chút để tạo áp lực tâm lý lên nạn nhân; ông trở về chỗ ngồi, uống một hơi cạn ly nước cam, quay mặt về phía Minh, thong thả buông từng tiếng:

- Nếu mày xin tha, tao sẽ ngưng ngay màn chích điện, còn ngoan cố, tao sẽ cho mày nếm mùi Song Chỉ Trảo.

Ông đứng lên, lăm lăm nhìn Minh chờ đợi. Minh ngẩng mặt lên, không nói một lời. Sau lưng ông Chánh Án, Huy đưa ngón tay cái lên làm hiệu. Khuôn mặt Minh bừng sáng với một nụ cười ngạo nghễ, chàng trả lời chậm rãi từng tiếng một:

- Thành thật cám ơn sự rông lượng của ông, tôi nhường đặc ân này cho chính ông. Ngay bây giờ, ông cảm thấy thế nào? Có khỏe không?

Ông Chánh Án chợt cảm thấy xây xẩm mặt mày, đứng không vững, mồ hôi xuất ra như tắm, đôi chân loạng choạng, hơi thở ngắn và dồn dập. Ông có cảm giác như lá phổi ông bị ai bóp nghẹt từ bên trong. Môi ông tím tái. Ông ngả người về phía sau và ngồi xuống cái ghế đẩu. Mắt ông trợn ngược lên, miệng sùi bọt trắng, cả thân hình to lớn đổ nghiêng về một bên và lăn trên sàn nhà. Ông vẫn còn kịp nhìn thấy cánh của phòng bật tung, một bóng người quen thuộc xuất hiện, người làm vườn Thạch Lương.

***
Cơm nước vừa xong, ông trưởng Công An thành phố đang coi phim hành động Mỹ vừa nhâm nhi ly Hennessy, bỗng cái điện thoại cầm tay trên bàn nhấp nháy liên hồi. Số phôn riêng này, chỉ vài người tâm phúc của ông biết, phải có tin khẩn cấp hay tối quan trọng. Một tay ấn nút cái loa trên phôn, một tay ấn nút tắt cái TV khổng lồ; bên kia là tiếng nói của nhà báo Bạch Đằng, một đàn em thân tín, cho ông hay phải đến tư gia ông Chánh Án ngay lập tức, mọi việc sẽ báo cáo cho ông trên đường đi. Ông biết tay nhà báo này không bao giờ gọi cho ông ngoại trừ có “sự cố” cực kỳ quan trọng. Ông khoác vội bộ đồng phục màu xanh cứt ngựa gắn đầy huy chương, cùng lúc gọi cho 2 thằng đàn em mau đem xe đến đón ông ngay lập tức có việc “cực kỳ khẩn trương”.

Khi xe ông trưởng Công An đến nơi, tay nhà báo đang chờ ở cổng từ lúc nào. Trên hiện trường, xác ông Chánh Án nằm co quắp trên sàn nhà, đầu nguẹo sang một bên, bọt trắng bên mép chưa kịp khô. Với cặp mắt nhà nghề, ông biết phải làm gì. Ông ghé tai nhà báo nói nhỏ điều gì đó rồi ông bước đến cái tủ sắt còn hé mở, đưa tay vét hết mọi thứ bên trong, xong ra lệnh cho hai nhân viên thuộc cấp thi hành nghiệp vụ. Hai nhân viên công an hình như đã quen với công việc, im lặng làm việc không ngừng tay, vẻ mặt lầm lì cố hữu.

Một chiếc xe tải bít bùng chạy vào sân, de đít vào cửa chính ngôi biệt thự, vài nhân viên di chuyển nhiều đồ vật được đóng gói kỹ càng từ trong nhà lên xe, rồi lặng lẽ chạy ra khỏi sân.

Ngày hôm sau, trên tờ Công An Thành Phố, một hàng tít lớn chiếm gần hết trang bìa:

Đồng Chí Chánh Án Đã Hy Sinh Anh Dũng, một mình chiến đấu chống lại một băng đảng gồm nhiều tên cướp đã đột nhập vào tư gia đồng chí Chánh Án. Mãnh hổ nan, địch quần hồ. Một người không thể chống lại nhiều người, chúng bắt trói và tra tấn đồng chí đến chết để khảo của, chúng mở được khóa tủ sắt, nhưng bên trong chẳng có gì ngoài vài kỷ vật riêng tư trong gia đình. Chúng ta vừa mất đi một vị Chánh Án thanh liêm, một đời tận tụy vì dân vì nước; đất nước mất đi một người con ưu tú. Hãy biến đau thương thành niềm tự hào cho người anh hùng vừa nằm xuống.

Bên dưới bài tường thuật đầy những tình tiết ly kỳ, những hình ảnh được dàn dựng công phu tạo cho người đọc một cảm xúc vừa kính phục vừa thương cảm nạn nhân. Lúc đó, tại tư dinh ông trưởng Công An thành phố, ông và tay nhà báo đang chia của và cụng ly chúc mừng nhau vì chiến dịch thành công như ý muốn.

NGUYỄN VĂN TỚI


Blog Archive