Saturday, July 18, 2026

ĐIỀM BÁO

Năm 1972, mùa gió chướng thổi dọc sông Tiền, Mỹ Tho vốn yên bình nay cũng biết mùi thuốc súng. Anh N. 25 tuổi, trung sĩ biệt động quân, được về phép 3 ngày. Lạ một điều, bao nhiêu năm lưu lạc không thư từ, tự dưng anh lại ghé thăm hết các bà con. Nhà dì Năm, dì Sáu, cả ông cậu bên cồn Phụng, anh đều ghé. Như một người đi chào từ biệt.

Dì Năm góa chồng, ở một mình trong căn nhà gỗ lợp ngói âm dương cuối đường Trưng Trắc. Sau nhà có cây vú sữa già, rễ trồi lên đội cả nền gạch tàu. Thấy cháu về, dì mừng rớt nước mắt, làm gà nấu cháo đậu xanh, ép anh ở lại một đêm.

“Ngủ trên gác xép nghen con. Hồi thằng Tư Lực còn sống, mỗi lần về phép nó cũng ngủ ở trển. Mát lắm con.”

Anh N. khựng lại. Tư Lực là con cô Ba, chết hồi đầu năm 71 vì đạp trúng mìn cóc ngoài Quảng Trị. Nghe đâu xác đem về chỉ còn nửa người. Anh tính từ chối, nhưng nhìn mắt dì lúc đó đỏ hoe, lại thôi.

Căn gác xép thấp lè tè, phải khom lưng mới lên được. Sàn gỗ đã cong vênh, vách ghép bằng ván hòm đạn đại liên, còn hằn chữ US ARMY. Một cái mùng cũ, một cái gối bẹp, và mùi ẩm mốc nồng nặc như mùi đất nghĩa trang. Trên cây xà ngang có ai khắc bằng lưỡi lê ba vạch: một vạch dài, hai vạch ngắn.

Đêm đó, Mỹ Tho cúp điện.
Anh N. trằn trọc không ngủ được. Gió từ mé sông thổi vào qua khe ván, rít lên như tiếng người huýt gió gọi nhau. Nửa đêm, anh mơ. Trong mơ, anh thấy mình đang ngồi trên giang thuyền PBR*, mũi tàu rẽ nước vào một con rạch nhỏ. Hai bên bờ toàn dừa nước rậm rạp. Tự dưng có tiếng “tách bọp” khô khốc. Anh nhìn xuống, ngực mình thủng một lỗ tròn, máu chưa kịp trào. Anh rơi khỏi be thuyền, nước sông Tiền đổ vào miệng mặn chát. Chìm xuống, anh thấy dưới đáy sông có hàng chục người lính, đứng im, lững lờ, mắt mở trừng trừng nhìn anh. Đi đầu là thằng Tư Lực, nó chỉ còn một chân, tay nó chỉ lên căn gác xép, miệng mấp máy: “Đổi ca rồi… tới mày đó.”

Anh N. giật mình dậy, mồ hôi ướt đẫm áo lính. Đồng hồ dạ quang chỉ 3 giờ 15. Căn gác im phăng phắc, nhưng cái mùng tự dưng phồng lên như có người ngồi bên trong. Anh với tay bật quẹt, ánh lửa chập chờn. Trong mùng không có ai. Chỉ có cái gối, lõm xuống một vết hình đầu người còn ấm. Có lẽ là đầu anh.

Sáng, anh không dám kể với dì Năm. Mặt anh nhợt nhạt, buồn buồn. Điểm tâm chưa dứt tô hủ tíu, ngoài ngõ đã có tiếng xe Jeep thắng gấp. Thằng liên lạc binh nhất chạy vào, nón sắt còn chưa kịp đội:

“Trung sĩ N., trình trung sĩ. Lệnh hành quân gấp. Đại đội mình tăng phái cho tiểu khu Kiến Hòa, qua Bến Tre lục soát rạch Heo. 30 phút nữa bốc ở bến phà!”

Rạch Heo. Cái tên hình như có trong giấc mơ.
Dì Năm níu tay anh: “Con mới về mà… ở thêm bữa đi con. Dì thấy đêm qua con ngủ mớ, kêu la dữ lắm.”

Anh N. cười khan: “Lính mà dì. Con không nhớ gì hết.” Anh móc trong túi ra tấm ảnh vợ con, nhét vào tay dì. “Dì giữ giùm con. Tuần sau con ghé lấy.”

Chiếc giang thuyền rời bến lúc 9 giờ. Nắng tháng chạp chói chang, nhưng anh N. thấy lạnh từ xương sống lạnh ra. Rạch Heo đúng như trong mơ: dừa nước hai bên che khuất bầu trời. Thuyền chạy chầm chậm, máy nổ phành phạch. Anh ngồi trên mũi, tay ôm cây M16 lăm lăm.
“Tách bọp”

Âm thanh khô khốc, nhỏ như tiếng cành cây gãy. Phát súng bắn tỉa từ trên bờ.

Anh N. thấy ngực mình nhói lên. Anh cúi xuống. Một lỗ tròn trên túi áo trái, máu mới bắt đầu rịn ra. Không kịp kêu. Anh lộn cổ xuống sông, chìm giữa làn nước phù sa ngầu đỏ.

Chiếc PBR quành lại quần mấy vòng, đạn M60 cày nát bờ rạch. Nhưng nước chảy xiết, xác anh trôi mất.

Ba ngày sau, ở cửa biển Ba Tri, dân chài lưới được xác anh. Lạ lùng là xác không trương lắm, da trắng bệch như sáp. Vợ anh nhận mặt, ngất ngay tại chỗ. Trong túi áo ngực trái, tấm ảnh vợ con không còn. Thay vào đó là một miếng gỗ mục khắc 3 vạch, 1 dài 2 ngắn.

Đám ma anh N. xong, dì Năm lăn ra ốm một trận thập tử nhất sinh. Tỉnh dậy, việc đầu tiên dì làm là dỡ bỏ cái mùng trên gác, leo lên coi. Dưới chân giường, trên sàn gỗ, đầy những vạch khắc bằng lưỡi lê.

Từ đó căn gác bỏ trống. Dì Năm chất đồ cũ, nhang đèn lên đó, khóa trái cửa. Nhưng cứ đến tháng chạp, đêm nào gió chướng thổi mạnh, đi ngang nhà dì người ta lại nghe tiếng khò khè trên gác, như tiếng người bị nước tràn vào phổi. Có đêm còn nghe tiếng chân đi cà nhắc, một nặng một nhẹ, bước tới bước lui rồi dừng lại.

Năm 1974, thằng cháu họ ở Sài Gòn về, không biết chuyện, đòi ngủ trên gác cho mát. Nửa đêm nó la làng chạy xuống, nói nằm mơ thấy một người lính không có nửa thân dưới ngồi đầu giường, hỏi: “Mày tên gì? tới phiên mày chưa?” Sáng hôm sau nó bỏ một hơi về Sài Gòn, một tháng sau bị pháo kích chết ở An Lộc.

Dì Năm từ đó dán bùa Lỗ Ban kín mít cửa gác. Ông thầy bùa nói, cái gác xép đó nằm ngay “long mạch âm”. Hồi xưa chủ đất là một ông thầy pháp trấn yểm, chôn ba cái lưỡi lê yểm ba hồn lính chết trận để giữ nhà. Ai ngủ ở đó, hợp tuổi thì bị “đổi ca”. Thằng Tư Lực, anh N., đều mạng thủy. Nước lớn phải có người giữ.

Sau 75, nhà dì Năm bị trưng thu một phần làm hợp tác xã. Người ta dỡ căn gác làm củi. Lúc dỡ cây xà ngang, thợ mộc thấy trong ruột gỗ có một cuộn giấy dầu. Mở ra, là những chữ viết ngoằn ngoèo, viết bằng mực tàu đã phai mờ. Cây vú sữa sau nhà cũng tự dưng chết đứng năm đó. Người ta cưa ra, thấy trong lõi cây bị con gì đục gần như trống rỗng

Bây giờ, chỗ nhà dì Năm là một quán cà phê pha máy. Chủ quán là người ở tỉnh khác về kinh doanh. Không rõ những hồn ma cũ trong thời chiến ấy có còn vất vưởng đâu đó hay không.

*PBR (viết tắt của Patrol Boat, River hay Tàu tuần tra sông) là loại xuồng tuần tra vỏ cứng tốc độ cao được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo riêng cho các hoạt động thủy bộ trong Chiến tranh Việt Nam.

Thi Anh


No comments:

Blog Archive