Sunday, August 30, 2026

KHI MIỀN TÂY KHÔNG CÒN NÓI TIẾNG MIỀN TÂY !!

“Nước dùng ở đây, ạ.”
“Chào buổi sáng, ạ!”
Tôi giật mình.
Trước đây, tôi đã từng nghe cách nói này ở Sài Gòn và đã thấy ngạc nhiên.
Nhưng lần này, nghe câu ấy thốt ra từ một cô tiếp viên ở một khách sạn tại vùng đất từng được mệnh danh là “Tây Đô”, tôi không còn ngạc nhiên nữa.
Tôi sốc.
Sốc, bởi trước mặt tôi là một cô gái trẻ, tuổi chỉ đáng con cháu mình, giọng nói rặt miền Tây, âm điệu miền Tây, dáng vẻ cũng rất miền Tây. Vậy mà cuối câu lại nó nhẹ nhàng buông một tiếng:
“ ạ “
Trời đất ơi!
Giữa miền Tây sông nước mà nghe một tiếng “ạ” sao thấy lạ lẫm đến vậy.
Không phải chữ “ạ” có gì sai.
Nó là một từ rất đẹp trong tiếng Việt, biểu thị sự lễ phép, kính trọng, và từ lâu đã là một phần tự nhiên trong cách nói của người miền Bắc.
Cái làm tôi chạnh lòng không nằm ở bản thân chữ “ạ”, mà ở chỗ nó xuất hiện trong một không gian ngôn ngữ vốn có những cách biểu đạt lễ phép rất riêng.

Người miền Tây ngày trước đâu cần chữ “ạ” mới lễ phép.
“ Dạ, con chào cô.”
“Dạ, chú mới tới hả?”
“Dạ, bác dùng cơm chưa?”
Chỉ một tiếng “dạ” thôi, nghe đã thấy cả bầu trời miền Nam trong đó.
Có sự kính trọng nhưng không kiểu cách; có lễ phép mà vẫn gần gũi.
Nó mềm, nó thiệt thà, nó có cái tình của một vùng đất.
Vậy mà bây giờ, tiếng nói miền Tây đang thay đổi nhanh đến mức đôi khi người đi xa lâu ngày trở về phải giật mình.

Miền Tây vẫn là miền Tây.
Sông vẫn chảy, ghe xuồng vẫn còn, những hàng dừa vẫn nghiêng xuống mé nước.
Người miền Tây vẫn hào sảng, vẫn hiếu khách, vẫn cái giọng ngân nga nghe một câu là nhận ra quê xứ.
Nhưng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, một cái gì đó đang mất dần.
Có người gọi đó là sự giao thoa ngôn ngữ.
Có người phách lối nói đó là “chuẩn”. Có người nói đó là kết quả tự nhiên của truyền hình, Internet, mạng xã hội và sự đi lại giữa các vùng miền.
Tất cả đều đúng.
Nhưng tôi vẫn muốn dùng một chữ cũ, hơi nặng:
“Lai căng.”
Bởi giao thoa là khi mình tiếp nhận cái hay của người khác mà vẫn biết mình là ai.
Còn khi những từ ngữ vốn tự nhiên trên đầu môi của ba má, ông bà mình bị thay thế chỉ vì người ta tưởng một cách nói khác nghe “chuẩn” hơn, “văn minh” hơn hay “sang” hơn, thì đó không còn đơn thuần là giao thoa nữa.

Ngày trước ở miền Nam, người ta nói “gà chiên”.
Bây giờ không ít nơi ghi “gà rán”.
Người miền Nam nói “vỏ xe”.
Bây giờ nghe “lốp xe” ngày càng thường xuyên.
Người miền Tây nói “quẹo trái”, “quẹo phải”.
Bây giờ có người nói “rẽ trái”, “rẽ phải”.
Cái vòng tròn giữa ngã tư mà xe cộ chạy vòng quanh, bao nhiêu thế hệ miền Nam gọi là “bùng binh”.
Một chữ nghe vui tai, sanh động, gần như có thể hình dung được cảnh xe cộ chạy vòng vòng trong đó.
Bây giờ nó thành “vòng xuyến”.
Anh tài xế chở tôi về Cần Thơ hôm ấy nói rất tự nhiên:
“Chút nữa mình rẽ sang đường này, qua vòng xuyến kia…”
Anh nói bằng giọng miền Tây đặc sệt.
Tôi ngồi phía sau mà cứ thấy có gì đó không ổn.
Không phải “rẽ” sai.
Không phải “vòng xuyến” sai.
Chẳng có chữ nào sai cả.
Nhưng “quẹo” đâu rồi?
“Bùng binh” đâu rồi?
Những chữ ấy có tội tình gì mà phải biến mất?

Rồi có lần tôi nghe một người miền Tây đã ngoài 60 tuổi nhắc đến thân phụ mình bằng chữ “bố”.
Tôi thật sự sững người.
Bởi trong ky'í ức của tôi, hai tiếng “ba”, “má” gần như là hai tiếng căn cước của người miền Nam.
“Ba tui…”
“Má tui…”
Chỉ cần nghe vậy là quê nhà hiện ra.
Trong hai chữ ấy có căn bếp, có cái võng, có hàng ba, có mâm cơm chiều, có tiếng người lớn gọi con cháu vào ăn cơm. Có cả một đời sống nằm trong hai tiếng tưởng chừng rất bình thường ấy.
Ngôn ngữ không chỉ là công cụ để truyền đạt thông tin.
Ngôn ngữ là ký ức.
Một chữ có thể mang theo cả một vùng đất.
“Má” không hoàn toàn giống “mẹ”.
“Ba” không hoàn toàn giống “bố”.
“Quẹo” không hoàn toàn giống “rẽ”.
“Bùng binh” không hoàn toàn giống “vòng xuyến”.
Về nghĩa, người ta có thể mở từ điển và bảo chúng tương đương. Nhưng ngôn ngữ của con người đâu chỉ có nghĩa từ điển.
Mỗi chữ còn có âm thanh, ky' ức, địa phương, gia đình, tuổi thơ và lịch sử.
Một người nói “má” và một người nói “mẹ” đều đang nói về người sanh ra mình.
Nhưng tiếng gọi bật lên khi đau đớn, hoảng sợ hay nhớ thương thường không phải là một lựa chọn trong từ điển.
Nó đến từ nơi sâu hơn thế.
Nó đến từ tuổi thơ.
Và vì vậy, điều đáng lo không phải là người miền Tây biết thêm những chữ như “ạ”, “rán”, “lốp”, “rẽ”, “vòng xuyến” hay “bố”.
Biết thêm một cách nói chưa bao giờ là điều xấu.
Một người càng biết nhiều cách sử dụng tiếng Việt càng giàu có về ngôn ngữ.
Điều đáng lo là họ biết thêm cái mới nhưng lại bỏ cái cũ.
Đáng lo hơn nữa là khi họ bỏ cái cũ vì nghĩ cái cũ là quê mùa.
Nếu một cô gái Cần Thơ nói “dạ” mà cảm thấy mình kém sang hơn khi nói “ạ”, đó mới là chuyện đáng buồn. Lai căng.
Nếu một đứa con nít miền Tây lớn lên biết “rẽ” nhưng không biết “quẹo”, biết “vòng xuyến” nhưng chưa từng nghe “bùng binh”, biết “bố mẹ” nhưng thấy “ba má” là quê mùa, thì chúng ta đã mất một thứ lớn hơn vài chữ địa phương.
Lai căng.
Chúng ta mất một phần ky' ức văn hóa.

Tất nhiên, ngôn ngữ luôn thay đổi. Đừng lên lớp tôi!
Không ai có thể dựng một hàng rào quanh miền Tây rồi ra lệnh rằng từ hôm nay người miền Tây chỉ được xài những chữ mà ông bà họ từng xài.
Làm như vậy vừa vô lý vừa trái với bản chất của ngôn ngữ.
Con người đi lại nhiều hơn.
Người Bắc vào Nam.
Người Nam ra Bắc.
Người miền Trung sống ở Sài Gòn.
Người Cần Thơ học ở Hà Nội.
Trẻ con xem cùng những chương trình, những video, những bộ phim trên cùng một chiếc điện thoại.
Tiếng nói tất nhiên sẽ hòa vào nhau.
Điều đó không hẳn là xấu.
Cái đáng suy nghĩ là trong sự hòa trộn ấy, tại sao có những cách nói địa phương cứ lặng lẽ rút lui?
Có phải vì truyền hình và sách báo lâu nay vô tình tạo cho người ta cảm giác rằng chỉ có một kiểu tiếng Việt mới là “chuẩn”?
Có phải vì nhà trường sửa những chữ địa phương của học sinh quá mạnh tay?
Có phải vì những người làm dịch vụ được huấn luyện theo những mẫu câu chung đến mức một cô gái miền Tây phải nói “Chào buổi sáng, ạ” thay vì một câu chào tự nhiên của chính quê mình?
Hay đơn giản hơn, có phải chúng ta đã bắt đầu xấu hổ về tiếng nói của ba má và ông bà mình?
Nếu là điều cuối cùng, thì đó mới thật sự đáng buồn.

Tôi không phản đối tiếng Bắc.
Tôi cũng không nghĩ tiếng Bắc hay hơn tiếng Nam, hay tiếng miền Tây hay hơn tiếng miền Trung.
Mỗi vùng đất Việt Nam đều đã góp vào tiếng Việt những âm thanh và từ ngữ tuyệt đẹp.
Chính sự phong phú đó mới làm nên một tiếng Việt sống động.
Tôi chỉ phản đối một thứ:
Tâm lý tự ti với tiếng nói của chính quê hương mình.
Học cách nói của người khác để hiểu nhau hơn là điều tốt.
Nhưng bắt chước người khác vì tưởng rằng nói giống họ thì mình “sang” hơn là một chuyện khác.
Không có gì sang trọng trong việc đánh mất mình.
Một người Hà Nội cứ việc nói “bố”, “mẹ”, “rẽ”, “rán”, “lốp xe”.
Đó là tiếng nói tự nhiên của họ.
Họ không cần đổi.
Một người Huế cứ giữ “mạ”.
Một người Quảng cứ giữ giọng Quảng.
Và người miền Tây cũng chẳng có lý do gì phải ngượng khi nói:
“Ba má.”
“Dạ.”
“Quẹo.”
“Bùng binh.”
“Gà chiên.”
“Vỏ xe.”
“Nước lèo.”
Đó không phải là những phiên bản “sai” của tiếng Việt.
Đó là tiếng Việt.
Một thứ tiếng Việt đã được phù sa, ruộng đồng, kinh rạch, ghe xuồng và bao thế hệ cư dân phương Nam nhào nặn nên.
Người ta thường nghĩ di sản phải là đình chùa, nhà cổ, áo quần, món ăn, câu hát.
Không.
Một chữ cũng là di sản.
Có những di sản không cần bảo tàng để cất giữ.
Chúng sống trên đầu môi của con người.
Và cũng chính vì thế, chúng có thể chết đi rất âm thầm.
Một ngôi nhà cổ bị đập, người ta nhìn thấy.
Một con rạch bị lấp, người ta nhìn thấy.
Nhưng một chữ biến mất thì chẳng ai nghe tiếng động.
Một thế hệ thôi không nói nữa, thế hệ sau sẽ không biết nó từng tồn tại.
Rồi một ngày nào đó, một đứa trẻ miền Tây sẽ phải mở từ điển để hỏi:
“Bùng binh là gì vậy?”
Và có lẽ đến lúc ấy chúng ta mới nhận ra rằng mình đã đánh mất một thứ mà tiền bạc không thể mua lại được.
Cho nên tôi không mong người miền Tây khép cửa với những cách nói khác.
Tôi chỉ mong họ đừng quên tiếng nói của mình.
Cứ học thêm.
Cứ đi xa.
Cứ giao lưu.
Cứ biết “rẽ” là gì, “vòng xuyến” là gì, “lốp xe” là gì.
Nhưng khi về đến miền Tây, nếu có thể, hãy cứ:
“Quẹo phải nghen anh.”
“Qua cái bùng binh đó rồi chạy thẳng.”
“Dạ, con biết rồi.”
Và khi trở về nhà, hãy cứ gọi:
“Ba ơi!”
“Má ơi!”
Bởi giữ một tiếng nói không phải là chống lại sự thay đổi.
Đó là nhớ mình từ đâu mà tới.
Và một vùng đất còn giữ được tiếng nói của mình là một vùng đất còn giữ được kí ức.
Miền Tây có thể thay đổi.
Nhưng xin đừng để một ngày nào đó, giữa chính miền Tây, chúng ta phải đi tìm lại tiếng miền Tây.

——
Đây là bài thơ do AI nó sáng tác, sau khi tôi kể cho nó nghe câu chuyện. Đọc cũng được 

Con gục đầu chua xót đắng cay
Nghe tiếng quê hương sụt sùi mỗi ngày
Cái thuở "nói nào ngay" chân chất
Giờ lạc lòng giữa phố thị lung lay.
Đâu rồi tiếng "dạ" thưa ngọt lịm?
Tiếng "bằng nay", "mần ruộng", "xuồng bơi"
Sông sấu lội, câu hò ai tím nghẹn
Nay nhạt nhòa theo bọt nước trôi xuôi.
Thương con cá chốt, bông bần rụng
Thương cả từ "mầy", "bây" thuở ấu thơ
Mai mốt này ai còn nhớ nữa
Tiếng miền Tây gói lại một giấc mơ.
Con gục đầu chua xót đắng cay!

Nguồn: Fb giáo sư Nguyễn Tuấn

Phiếm

Đêm nằm nghe mưa rơi lộp bộp trên mái xe. Nhớ Việt Nam, nhìn lại quá khứ của mình mà sợ. Nếu được trở lại từ đầu, chắc tôi chỉ biết nói: “Cho em xin.”

Đời lăn lộn. Sau ngày gãy súng 29/3, Đà Nẵng được tiếp quản nhẹ nhàng như lấy món đồ trong túi áo. Một chiếc jeep mui trần chạy trước, trên xe có một vị sư mặc áo cà sa, đeo súng ngắn dẫn đường. Bộ đội ngồi trên xe Molotova theo sau.

Tôi chạy bộ về Sài Gòn. Bây giờ nhớ lại, chẳng biết mình ăn uống ra sao trong quãng thời gian ấy. Ngày 6 tháng 5 về đến Sài Gòn, đường phố ngập cờ hai màu, bộ đội nghênh ngang giữa phố. Sài Gòn ngơ ngác, u buồn.

Sau ngày ấy, “đoạn đường chiến binh” bắt đầu: tù, kinh tế mới, đạp xích lô, bán kẹo kéo, gởi đu đủ, bán bột chiên, bán máy ảnh…

Vượt biên sang Mỹ, lại tiếp tục “đoạn đường chiến binh” tập hai: phụ tá rửa chén, lên rửa chén, chiên donuts, làm bánh mì, dry cleaning… Nghề nào cũng “xuống chó”, gần hết đời chưa được một lần “lên voi”.

Bây giờ về hưu, mỗi tháng nhà nước cho được 2,000$. Cảm thấy mình nhích lên được một nấc. Giờ vẫn thức khuya nhưng không phải dậy sớm. Tà tà sống. Tiền dư thì kiếm chuyến cruise nào rẻ mà đi. Vậy mà cũng đi được từ Á sang Âu, sang Trung Đông, đến cả Jerusalem.

Ngày đi làm đóng thuế thì bực tức than thở. Giờ già lãnh tiền hưu hàng tháng mới nhận ra nhà nước chu đáo. Các anh chị còn đi làm đóng thuế thì cứ vui vẻ lên. Đó chẳng qua là tiền để dành mang tên “tax”. Nhà nước sẽ trả lại cả vốn lẫn lời.

Nhi Duong


*Một thời say mê Z .28

Năm học lớp đệ Ngũ, thầy Hưng dạy môn Địa, một hôm trong giờ dạy, mới hơn gần nửa thời gian của bài giảng, thầy nổi hứng hỏi cả lớp “Các em có biết Z. 28 không?”. Cả lớp trố mắt và cũng chẳng hiểu thầy hỏi có ý gì nên cùng nhao nhao : “Không ạ!”. Thầy cười cười: “ Trai trẻ như các em mà không biết Z. 28 thì xoàng quá! Này nhé Z. 28 là bí danh của điệp viên hành động Tống Văn Bình đấy! Các em muốn nghe tôi kể chuyện điệp viên Z 28 này không?”. Thế là cả lớp đồng loạt hưởng ứng “ Muốn …Thầy … Thầy kể Z. 28 đi thầy …”.

Và thế là thầy Hưng từ đấy cứ dạy hơn nửa thời gian của giờ dạy, thời gian còn lại Thầy kể lai rai chuyện gián điệp Z. 28 cho cả lớp nghe. Thầy kể chuyện đầu tiên là “ Z. 28 vượt tuyến” và đương nhiên là kể một cách khái quát chứ cả một quyển tiểu thuyết như thế không thể nào kể tường tận được… Từ khi Thầy kể chuyện Z .28, mấy anh chàng xưa nay hay cúp giờ môn Địa của Thầy Hưng tự dưng “siêng lạ”, chẳng thấy trốn đâu hết mà có mặt từ đầu giờ đến cuối để được nghe thầy kể chuyện tình báo gián điệp.

Lũ học trò ngày xưa chúng tôi “biết Z .28” một cách hy hữu như thế và từ đó chúng tôi đâm ra “mê” Tống Văn Bình – bí số điệp viên Z .28, con đẻ sản phẩm tình báo gián điệp của nhà văn Người Thứ Tám. Lúc đó chúng tôi chỉ biết truyện chứ tuyệt nhiên chẳng biết gốc gác của cái “ông nhà văn Người Thứ Tám” này như thế nào?

Song song với truyện Thầy Hưng kể, bọn chúng tôi ra tiệm cho thuê sách Minh Hồng góc chợ Quảng Ngãi để lùng sục Z .28 về đọc “cho đã”. Và quả là thời ấy, trong đầu bọn chúng tôi “nhồi” đủ thứ sách truyện các loại. Cùng với truyện gián điệp của Người Thứ Tám, chúng tôi còn đọc của Hoàng Hải Thủy và sau này làm quen với điệp viên James Bond 007 …

Hết năm đệ Ngũ thì chúng tôi nghe tin Thầy Hưng bị gọi động viên vào Thủ Đức, ra trường thầy được về một đơn vị Địa Phương Quân đóng đồn ở đâu phía tây quận Trà Bồng và bị phục kích, tử trận trên đó… Nhớ đến Z.28 là bọn tôi nhớ đến Thầy Hưng, người đã “khai phóng” và dẫn dắt lũ trẻ chúng tôi ngày ấy vào “thế giới của gián điệp, tình báo”

Về câu chuyện Z.28, nếu sắm cho đủ chắc có cả “Tủ sách Z.28” với hơn 50 cuốn tiểu thuyết gián điệp của Người Thứ Tám.

Nhân vật chính trong bộ sách gián điệp này là Đại tá Tống Văn Bình, điệp viên hành động mang bí số Z.28 được nhà văn Người Thứ Tám “khắc họa” là một mẫu người hết sức lý tưởng. Với chiều cao tầm mét tám, thông minh, đẹp trai, sử dụng súng bách phát bách trúng, đệ ngũ đẳng huyền đai Judo, cũng như cao thủ của vô số tuyệt chiêu võ học Thiếu Lâm, Không thủ đạo, Thái cực đạo, Quyền anh hạng nặng với cú atémi nhanh như chớp vào gáy khiến đối phương chết... không kịp ngáp! Đặc biệt Tống Văn Bình cực kỳ … mê gái đẹp và ngược lại những mỹ nhân, kể cả của cơ quan tình báo đối phương cũng không thể… cưỡng lại được sức hấp dẫn toát ra từ vẻ đẹp hết sức mạnh mẽ, nam tính của chàng đại tá hào hoa và đào hoa này.

Chỉ huy chàng điệp viên hành động siêu đẳng Z.28 của Miền Nam này là một người đàn ông già bí ẩn, có lối sống khắc khổ được gọi là “ông Hoàng” mà trụ sở đóng ở đâu đó dưới một căn hầm bí mật của Trung tâm Điện tử ở đại lộ Nguyễn Huệ - Sài Gòn! Hoặc có thể trên một chiếc tàu ngầm bí mật nào đó… (tất nhiên là hư cấu vì miền Nam thời ấy làm gì có Tàu ngầm!). 

Ông Hoàng này có thể ví như “Gia Cát Lượng” trong nghề tình báo, am hiểu từng nhân viên dưới quyền, những sở trường sở đoản của họ để bố trí trong những điệp vụ thích hợp mà còn “đi guốc” trong bụng những cơ quan tình báo của bạn cũng như đối thủ!

Ngoài nhân vận chính là Tống Văn Bình, Người Thứ Tám còn xây dựng một số điệp viên khác trong cơ quan tình báo phản gián của ông Hoàng khá có ấn tượng và cũng rất nhiều tài năng như chàng “Sếu vườn” Lê Diệp, các “người đẹp chết người” như Nguyên Hương, Quỳnh Loan …

Cộng tác phối hợp với Cơ quan Tình báo Phản gián Miền Nam của Ông Hoàng còn có những cơ quan Tình báo Phản gián của Thế giới Tự do như CIA Mỹ, Phòng Nhì Pháp, MI.6 Anh, Hắc Long Nhật và đối thủ của họ chính là cơ quan Tình báo KGB, GRU của Liên Xô, Đặc vụ Trung Cộng và miền Bắc Việt Nam thời ấy…

Như đã nói, bộ sách Z.28 là loại tiểu thuyết gián điệp nên có tính chất hư cấu tưởng tượng với mục đích giải trí là chính. Nhưng không thể phủ nhận những tình tiết, những sự kiện lịch sử, những miền đất địa lý, những công cụ trong nghề tình báo phản gián được miêu tả trong truyện là hoàn toàn có thật.

Người đọc phải thầm khâm phục kiến thức uyên bác cổ kim đông tây của nhà văn Người Thứ Tám khi được ông miêu tả tường tận từng con hẽm ở Luân Đôn, Paris hay cả Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh … Những bang phái võ thuật cổ truyền cũng như hiện đại của các vùng miền trên thế giới cũng được nhà văn miêu tả hết sức chi li và hấp dẫn.

Năm 1957, “Điệp viên Miền Nam trên đất Bắc” của Người Thứ Tám ra mắt lần đầu tiên trên tờ nhật báo Dân Chúng. Và trong 3 năm liên tục, nhiều cốt truyện Gián điệp Z.28 đã được đăng tiếp (sau đó mới in thành sách), đem lại biết bao sôi nổi, hào hứng cho nhiều tầng lớp độc giả miền Nam thời ấy. Với hàng triệu độc giả, sau hơn 50 cuốn truyện đã xuất bản, với địa vị mỗi ngày một củng cố sau gần 20 năm tung hoành theo trường phái văn học gián điệp, Người Thứ Tám đã phá kỷ lục về số lượng người đọc và về số lượng tác phẩm xuất bản được ưa chuộng.

Về tác giả Người Thứ Tám có rất ít tài liệu và hình ảnh nói về ông và chính cái bút danh “Người Thứ Tám” này cũng đã là một điều bí ẩn như những câu chuyện gián điệp mà ông viết.

Theo một số tài liệu mà tôi thu thập được thì Người Thứ Tám tên thật là Bùi Anh Tuấn sinh năm 1925 ở miền Bắc Việt Nam (người ta cho rằng là tỉnh Thanh Hóa).

Khi ông ngoài hai mươi tuổi thì xảy ra sự kiện Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945), tiếp theo là Việt Minh nổi lên lợi dụng sự rối ren về tình hình chính trị lúc đó đã cướp chính quyền trong tay Thủ Tướng Trần Trọng Kim của chính phủ Việt Nam Quốc Gia đặt dưới quyền lãnh đạo tối cao của nhà Vua Bảo Đại. Lúc đó Bùi Anh Tuấn tham gia một đảng phái quốc gia, là một đảng viên VNQDĐ. Ông tham gia các hoạt động chống lại Việt Minh. Khi cuộc chiến tranh Việt – Pháp ngày 19/12/1946 bắt đầu, Bùi Anh Tuấn bị Ban Trinh Sát của Việt Minh bắt và đưa đi giam giữ tại trại giam Đầm Đùn thuộc tỉnh Thanh Hoá (Liên khu IV), nổi tiếng là địa ngục trần gian, đã vào đây khó có ngày về. Chốn ngục tù hãi hùng này là nơi giam cầm hầu hết đảng phái Quốc gia vốn là đối thủ với Việt Minh lúc ấy.

Trong những năm, tháng bị giam cầm ở Đầm Đùn, ông có duyên may gặp một bạn tù đã ở vào tuổi trung niên. Thời Pháp thuộc, ông này dạy Anh văn ở Lycée Louis Pasteur Hà Nội. Nay trong thân phận tù đày, để cố quên mà tồn tại, mà sống, ông dạy Anh ngữ cho Bùi Anh Tuấn. Nhờ vậy, Bùi Anh Tuấn có sẵn số vốn cần thiết về Anh văn nên khi người Mỹ đặt chân vào Miền Nam kèm theo văn hóa Mỹ, ông đã có “đất dụng võ”.

Ở trại giam Đầm Dùn được vài năm, Bùi Anh Tuấn đã vượt ngục, thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc. Bùi Anh Tuấn lần mò về Hà Nội sau đó rồi vào Nam. Ông lấy vợ người Huế, viết báo để sinh nhai

Thời gian này người Mỹ đã thay Pháp làm đồng minh thân cận VNCH, tình hình Viễn Đông có nhiều biến động là thời điểm của cuộc Chiến tranh Lạnh giữ hai khối Thế giới Tự do và Thế giới Cộng sản nên các cơ quan tình báo phản giản của hai phe ra sức hoạt động.

Bùi Anh Tuấn bèn chuyển qua viết truyện gián điệp, lấy bút danh là "Người Thứ Tám", cho ra bộ truyện Z.28 đã khiến thiên hạ say mê mà đọc.

Có thể nói phong cách viết truyện gián điệp tình báo của Người Thứ Tám – Bùi Anh Tuấn có ảnh hưởng từ nhà văn Anh quốc Ian Fleming, cha đẻ của nhân vật hư cấu điệp viên James Bond 007 nổi tiếng từ năm 1953 đến tận ngày nay .

Sau sự kiện 30/4/1975, người ta không còn thấy Người Thứ Tám nữa và theo nhà văn Hoàng Hải Thủy, “Người Thứ Tám” đã tẩu thoát qua Mỹ trước ngày 30/4, rồi sau đó đã tuyệt tích giang hồ không ai biết….

Tất nhiên ai cũng biết, những tác phẩm tiểu thuyết gián điệp của Người Thứ Tám cũng giống như tác phẩm văn học của các tác giả khác đều bị chính quyền “phe thắng cuộc” chụp cho cái mũ là “lai căng, đồi trụy, phản động …” và cùng trong nhóm bị lên giàn hỏa thiêu sau năm 1975.

Yêu thích nhân vật Z.28 Tống Văn Bình của nhà văn Người Thứ Tám, may mắn thay vẫn còn một nguồn vô cùng quý giá – mạng internet toàn cầu…

Hoài Nguyễn - 15/12/2015

Từ Guam Đến Camp Pendleton – Một Cuộc Gặp Gỡ Bất Ngờ

Ở đảo Guam, ba tôi và bác K cùng đứng xếp hàng, người trước kẻ sau, để chờ xem ngày giờ nào gia đình mình được đưa vào “đất liền”. Trước đó, lần đầu tiên tôi nghe chữ mainland – “đất liền” – là khi đi khám bệnh. Sau khi khám xong, tôi được cấp một tờ giấy chứng nhận, trên đó có ghi: “OK for mainland.” Lúc ấy, hai chữ mainland đối với tôi nghe vừa lạ lẫm vừa có một ý nghĩa đặc biệt: đó là nơi chúng tôi sẽ tiếp tục cuộc hành trình của mình.

Gia đình bác K được sắp xếp đi về hướng Đông, trong khi gia đình tôi lại đi về hướng Tây.

Thời gian ấy, người tị nạn được đưa từ Guam vào Hoa Kỳ bằng nhiều phương tiện khác nhau. Một số người đi trên những phi cơ vận tải quân sự C-141, một số khác được đưa đi bằng máy bay của các hãng hàng không dân sự.

Những chuyến bay dân sự từ Guam vào đất liền thường ghé Honolulu International Airport để tiếp nhiên liệu rồi tiếp tục ngay hành trình. Nhưng chuyến bay có gia đình tôi lại gặp trục trặc kỹ thuật gì đó, phải ở lại Honolulu để sửa chữa. Vì thế, tất cả chúng tôi – những người tị nạn trên chuyến bay – được đưa về một khách sạn để nghỉ qua đêm. Cả một phi hành đoàn cũng ở lại khách sạn này.

Đến bàn tiếp tân, cô nhân viên hỏi gia đình chúng tôi cần bao nhiêu phòng. Ba tôi trả lời:
“Eight.”
Ý ba tôi là gia đình có tám người.
Nào ngờ, họ đưa cho chúng tôi tám phòng!
Cầm cả một mớ chìa khóa, tám người chúng tôi lục tục đi tìm phòng mà vừa buồn cười vừa ngỡ ngàng. Cuối cùng, chẳng ai muốn chia nhau ra cả, nên cả gia đình chỉ sử dụng có hai phòng -ăn thông nhau.

Sáng hôm sau, sau khi mọi người dùng điểm tâm tại khách sạn, xe buýt đưa tất cả ra phi trường để tiếp tục cuộc hành trình. Lần đầu tiên trong đời, chúng tôi nhìn thấy những bãi biển Hawaii – nhưng không phải từ trên bờ, mà từ cửa sổ máy bay nhìn xuống.

Theo những tài liệu tôi đọc được sau này, những người đi bằng C-141 được đưa đến El Toro Marine Corps Air Station. Còn gia đình tôi đi bằng máy bay của Pan Am, nên đáp xuống Los Angeles International Airport – LAX.

Khi máy bay hạ cánh, ai cảm thấy lạnh và cần cái mền đã dùng trên máy bay thì được phép mang theo. Lúc ấy, có lẽ chẳng ai nghĩ nhiều đến chuyện đó. Nhưng sau này nhớ lại, tôi thấy cái mền nhỏ bé ấy thật quý giá – bởi chẳng bao lâu nữa, chúng tôi sẽ phải đối mặt với một cái lạnh hoàn toàn khác.

Từ LAX, chúng tôi được đưa bằng xe buýt về Camp Pendleton, một căn cứ Thủy quân lục chiến nằm cách phi trường Los Angeles khoảng 90 dặm về phía nam. Đêm hôm đó trời lạnh hơn tôi tưởng rất nhiều. Camp Pendleton nằm giữa vùng đồi núi và sa mạc, nên ban ngày nóng, nhưng khi màn đêm buông xuống thì cái lạnh trở nên buốt giá.

Rời Honolulu vào buổi sáng, đến Camp Pendleton thì trời đã tối.
Chúng tôi được đưa vào những căn lều bạt để ở tạm. Không lâu sau, có người mang đến phát cho mỗi người một cái áo jacket nhà binh. Có lẽ lúc đầu họ phát những cái áo đúng cỡ, nhưng khi những cái cỡ nhỏ không còn nữa thì ai nhận được cái nào cứ mặc cái ấy – chẳng cần biết người lớn hay trẻ con.
Miễn là có áo để mặc cho ấm.
Mấy đứa em tôi lúc ấy mới tám, bảy và năm tuổi. Những cái jacket quá khổ phủ dài xuống tận gót chân, trông vừa tội nghiệp vừa buồn cười. Với bọn trẻ, cái áo jacket không chỉ là áo mà gần như còn là một chiếc mền, quấn kín cả người để chống lại cái lạnh.

Trong lúc chúng tôi còn đang loay hoay sắp xếp xem ai nằm cái ghế bố nào, đồ đạc để ở đâu, thì bỗng có một phụ nữ lớn tuổi vén tấm màn lều bước vào. Bác mang theo thêm mấy cái áo jacket, có lẽ là của một gia đình nào đó vừa rời trại. Những người rời trại thường để lại áo jacket, không mang theo.

Và rồi, một điều hoàn toàn không ai ngờ tới đã xảy ra.
Người phụ nữ ấy chính là bác Th, một người hàng xóm của gia đình tôi ở Sài Gòn. Nhà bác nằm ngay đối diện nhà tôi.

Thật khó tin! Ở Sài Gòn, hai gia đình là hàng xóm của nhau; vậy mà giữa một vùng đất xa lạ bên kia nửa vòng trái đất, gia đình bác lại ở ngay trong cái lều đối diện với lều của gia đình tôi.

Bác kể rằng khi nghe có một chuyến xe buýt vừa đưa thêm người tị nạn mới đến trại, nên bác mang những cái áo jacket còn dư sang cho chúng tôi. Và rồi, hai gia đình bất ngờ gặp lại nhau ở nơi mà chẳng ai từng nghĩ mình sẽ đặt chân đến.

Một cuộc gặp gỡ giữa đất khách quê người – bất ngờ đến mức chúng tôi gần như không tin vào mắt mình.

Bác cũng cho biết, sau khi gia đình tôi rời Sài Gòn, bác H – một nhà báo – nói với bác rằng nhà tôi đã đi rồi. Về sau, chúng tôi nghe lời đồn rằng bác H là “người nằm vùng”. Tôi không biết thực hư câu chuyện ra sao, nên chỉ ghi lại như một điều mình đã nghe kể.

Gia đình tôi được xếp ở Trại 4 của Camp Pendleton, một căn cứ của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. Như tôi đã nói, Camp Pendleton nằm giữa những vùng đồi núi và sa mạc, nên khí hậu nơi đây rất khắc nghiệt: ban ngày nóng, ban đêm lạnh.

Sau này, tôi đọc được rằng các binh sĩ Thủy quân lục chiến cùng những người tình nguyện đã dựng khoảng 1.000 lều bạt và 140 nhà vòm tiền chế chỉ trong sáu ngày để đón người tị nạn.

Một thời gian sau, chúng tôi còn được nghe nhắc nhở không được mang thức ăn vào lều. Người ta sợ mùi thức ăn sẽ thu hút rắn rít từ những vùng đồi chung quanh bò vào lều.

Cuộc sống trong trại cứ thế trôi qua, giữa những cái lều bạt, những cái ghế bố, những cái jacket rộng thùng thình và những đêm lạnh giá. Chúng tôi đã đi qua một chặng đường rất dài – từ Sài Gòn, qua Clark Air Force Base (Phi Luật Tân), Guam, rồi Honolulu, Los Angeles và cuối cùng là Camp Pendleton.

Khoảng một tháng sau, gia đình tôi lại lên đường.
Lần này, điểm đến là Tacoma, tiểu bang Washington.
Và đó cũng là nơi một chương đời mới của gia đình tôi bắt đầu.

(Trích từ tùy bút 50 năm- Những Mảnh Vụn Hồi Ức)

Linh Vang


Saigon

27 th8 - 2026.

Tôi thường viết truyện cực ngắn về những thành phần thấp cổ bé miệng nhất của xã hội. Vì sao vậy?

Vì giống như khi nhìn vào một bình nước trong, ta phải nhìn vào đáy bình mới biết nước có thật sự sạch không. Nếu nước sạch, sẽ không có cặn. Cũng vậy, khi soi những mảnh đời tận đáy xã hội ta sẽ biết xã hội đó như thế nào.

Những mảnh đời tận đáy xã hội giống như lớp cặn lắng đáy bình: nơi mà mọi bất công, mọi lỗ hổng của thể chế, của lòng người đều dồn về đó và hiện hình rõ nhất. "Đáy xã hội” chính là thước đo trung thực nhất.

Một xã hội cũng giống như một cơ thể. Khi khỏe mạnh, ta hiếm khi để ý đến bàn chân, nhưng khi đau, chính ngón chân út bị dằm đâm lại khiến cả người mất ngủ. Người giàu, người có quyền có rất nhiều lớp áo che chắn: tiền bạc, quan hệ, truyền thông, pháp lý. Họ ngã vẫn có đệm đỡ. Còn người nghèo, người yếu thế thì không.

Thế nên, muốn biết một chính sách y tế có nhân đạo không, đừng hỏi giám đốc bệnh viện tư. Hãy đến phòng cấp cứu 3 giờ sáng, nhìn người mẹ bán vé số ôm đứa con sốt co giật mà trong túi chỉ có 40 nghìn đồng được đối xử thế nào.

Muốn biết luật pháp có công bằng không, đừng nghe đọc diễn văn. Hãy ngồi ở phiên tòa xử vụ trộm ổ bánh mì. Muốn biết giáo dục có khai phóng không, đừng đến xem trường quốc tế. Hãy ghé các lớp học tình thương dưới gầm cầu.

Đáy bình không biết nói dối. Nước trong đến mấy, nếu dưới đáy có cặn bùn, rong rêu, thì cả cái bình ấy vẫn chưa sạch.

Xã hội cũng vậy. GDP có thể tăng, nhà cao tầng có thể mọc như nấm, nhưng nếu vẫn còn những đứa trẻ ngủ gầm cầu, những cụ già nhặt ve chai bị xe tông không ai nhận, thì sự phồn vinh đó chưa thật sự trọn vẹn.

Có một câu nói nổi tiếng của Adam Smith trong tác phẩm 'Của cải của các quốc gia' (The Wealth of Nations) mà tôi rất tâm đắc :

"Không một xã hội nào có thể thực sự thịnh vượng và hạnh phúc, nếu phần lớn các thành viên trong xã hội đó nghèo khổ và khốn cùng."

Thi Anh


SÀI GÒN MỘT CHIỀU MƯA

Tôi lại về với Sài Gòn, ngay buổi chiều hôm ấy lại mưa, ngồi trong quán cà phê nhìn phố xá qua làn nước mưa, lòng dập dồn cảm xúc. Vẫn khu phố Tàu ngày xưa, mấy mươi năm vẫn nguyên hình dáng, âm thanh và mùi vị. Trời ơi, sao mà nôn nao, những xe bột chiên, mì xào, hủ tíu, xương sáo… Chưa ăn mà đã thèm chảy nước miếng.

Sài Gòn một chiều mưa đã rửa trôi bớt bụi bặm và cái nắng nóng, với cư dân sở tại thì cũng bình thường nhưng với một kẻ du tử từ xa về thăm quê thì cơn mưa này sao lạ lẫm lại vừa thân quen đến thế! Rất may là khu vực phố Tàu ở đây không bị ngập nước như những nơi khác. Trước khi cơn mưa đến, trong không trung có vô số những trái dầu xoay xoay trong cơn gió, những trái dầu rất quen thuộc với người Sài Gòn và những người đã trót yêu, và gắn bó với Sài Gòn.

Sài Gòn hoa lệ nhưng hoa cho người giàu và lệ cho người nghèo. Người giàu như chóp nón và người nghèo như vành nón. Không riêng gì Sài Gòn, cả xứ sở mình vốn như thế. Những người nghèo vất vả mưu sinh, lam lũ kiếm sống. Trên đường phố đầy nhóc những người bán vé số, bán hàng rong, ăn xin… Gã du tử thấy lòng thương đến xót xa nhưng không có năng lực để giúp người, có chăng cũng chỉ có thể tặng một chút tiền đủ để mua chai nước, cái bánh mì.

Sài Gòn người giàu sống xa hoa, tiêu tiền như nước. Sài Gòn người nghèo sống chật vật túng thiếu, mưu sinh đắp đổi qua ngày. Có những biệt thự hay căn condo triệu đô la Mỹ nhưng bên cạnh đó có những “căn nhà” vừa vặn một người nằm mà không làm sao xoay trở được Cũng một kiếp người nhưng số phận cách biệt quá xa, phước phần chênh lệch quá lớn. Sài Gòn có những người không làm gì hoặc chỉ ký tá quẹt quẹt nhưng đem lại tiền bạc vô số. Sài Gòn lại có vô số người quần quật làm mà tiền chẳng có là bao, thật đúng nghĩa với chữ tiền bạc như vôi.

Thiên hạ có câu: “Phàm người đời thường tưởng nhiều hơn tình”, những tưởng nói vu vơ thế nhưng lại đúng. Xa ngoài ngàn dặm, lòng thương nhớ nên cứ tưởng thế nọ thế kia, trong đầu dự tính sẽ làm việc này việc nọ… Ấy vậy mà về đến nơi thì chẳng làm được việc gì. Nắng nóng như điên, chẳng còn muốn bước ra khỏi cửa, đụng phải hoàn cảnh xã hội và con người tự nhiên chẳng còn có thể làm được gì. Văn hóa, hành vi, lối sống, thói quen… quá nhiều khác biệt, khiến lòng chẳng còn muốn nói hay làm gì, có nói cũng không được mà còn chuốc thêm rắc rối! Người mình sống lâu dưới sự tuyên truyền một chiều và nhồi sọ nên giờ cũng dễ lên đồng tập thể, hở ra là tự hào một cách vô lối rất ấu trĩ. Đó là biểu hiện của sự tự ti, mặc cảm thân phận nhược tiểu lại vừa có máu tự tôn rất mắc cười cho nên hễ có được tí gì là lập tự hào, tự thổi phồng mình lên, nào là: Anh hùng, vô địch, thông minh, vĩ đại, đỉnh cao trí tuệ, mình có thế nào người ta mới nể, có bao giờ được như thế này chăng?... Cũng vì cái tâm lý tự ti nhược tiểu ấy mà người mình có cách ứng xử kỳ cục lắm. Về Sài Gòn nói riêng về quê nói chung, nếu mình có nhân dáng giống Tây – Tàu một tí và nói tiếng Anh hay ngoại ngữ thì người mình đối xử rất trọng, còn như mình nói tiếng Việt thì lập tức thái độ ứng xử khác liền. Gã du tử đã nếm trải qua, đã áp dụng thưc tế và thấy như thế.

Người mình giờ kỳ lắm. Họ nói thao thao bất tuyệt những điều họ không biết. Họ bình loạn linh tinh và phun thuyết âm mưu rất mắc cười, có nhiều sự việc rất đơn giản và rõ như ban ngày nhưng họ vẫn cứ đặt ra giả thuyết âm u. Họ lâp luận một cách hồ đồ vô lối theo cái lối “cả vú lấp miệng em”. Họ hùa theo đám đông chửi bới và chụp mũ tất cả những ai khác với họ. Gã du tử đã đi, đã gặp, đã nghe, đã thấy… Họ có thể là có quyền chức hoặc là bình dân. Họ có thể là trí thức hay lao động chân tay. Họ có thể là quan chức hay là cùng đinh. Họ có thể là nam, phu, lão, ấu. Họ có thể là người Bắc – Trung – Nam…

Xứ mình giờ lạ lắm, không biết tự xưng hay người đời tự trào mà gán cho là: Cường quốc vé số, cường quốc ăn xin, cường quốc hoa hậu, cường quốc tiến si, cường quốc cạp, cường quốc nổ sảng nói xàm… Thiết nghĩ những điều ấy cũng đúng, tuy nhiên chưa đủ. Xứ mình còn là cường quốc hóa chất, cường quốc rác, cường quốc hàng giả, cường quốc khẩu hiệu… Khẩu hiệu treo trên đầu, giăng mắc khắp nơi. Nơi nào có người là có khẩu hiệu, thậm chí nứi rừng vắng bóng người cũng chưng khẩu hiệu, khẩu hiệu toàn đao to búa lớn, chữ nghĩa dông dài. Nhiều câu khẩu hiệu nghĩa rất ngô nghê, chính tả sai thảm hại. 

Bây giờ trái cây, rau củ, hoa quả, thức ăn…tất cả đều dùng hóa chất vô tội vạ. Bây giờ đi từ Nam ra Bắc, từ biển lên rừng núi, từ thành phố về nông thôn đâu cũng rác, rác tràn ngập khắp mọi nơi, nhất là rác nhựa nylon, xốp…Bây giờ hàng hóa tiêu dùng, mỹ phẩm, sữa, thuốc men… đều giả; giả nhưng có giấy phép lưu hành. Thuốc giả được đưa vào bệnh viện, sữa giả cung cấp cho trẻ em, người già, người bệnh. Bằng giả cấp cho người muốn làm quan… mọi thứ đều giả duy có đạo đức giả là thật!

Người mình dường như không có cái cảm giác dơ dáy, quần áo luộm thuộm, dép lê lẹt quẹt, tay chân cáu bẩn… môi trường sống chung quanh cũng dơ không chịu nổi. Người mình có thể ngồi ăn một cách hạnh phúc bên miệng cống thúi hoắc, dưới chân rác rưới tùm lum, chùi chén đũa bằng cuộn giấy vệ sinh… Những điều trông thấy thật khó mà hiểu nổi. Tay du tử tường thuật những điều mắt thấy tai nghe chứ không hề tô lục chuốt hồng hay bôi đen chi cả.

Gã du tử về Sài Gòn một chiều mùa hạ, những cây muồng bò cạp tưng bừng với sắc hoa vàng tươi rực rỡ, những giàn hoa giấy đủ màu sắc nắng hè. Dòng người và xe ken chặt mặt đường, người người ăn mặt che kín toàn thân như thể trùm cái burkha của người Hồi giáo. Dù có mệt thế nào đi nữa nhưng nghe giọng nói chả chớt ngọt ngào tự dung thấy thương Sài Gòn chi lạ: “Cưng à, mới dzề chơi hả? dzề được bao lâu? Uống gì hôn? Chị làm cho”… Trời, cái giọng nghe là muốn “chếch nửa tâm hồn”.

Sài Gòn chiều nay mưa, cơn mưa ào ạt. mạnh mẽ và cũng nhanh như tánh người Sài Gòn. Cơn mưa rửa trôi bao bụi bặm, nắng nóng. Ngồi trong quán cà phê nhìn ra khung cảnh lãng mạn thật nhưng chợt nhìn thấy những người bán hàng rong tất tả trong cơn mưa, những em bé ăn xin co ro bên vỉa hè, lòng tự dung ngậm ngùi, cái cảm xúc lãng mạn cũng trôi theo dòng nước đang cuộn chảy trên đường phố.

Sài Gòn chiều mưa, giọt nước rơi xuống, giọt tình dâng lên. Thời gian qua đi nhưng tình còn đọng lại. Sài Gòn dù có thế nào đi nữa tình ta vẫn tràn đầy. Sài Gòn không còn tên ấy là giấy tờ hành chánh chứ người dân vẫn cứ gọi tên Sài Gòn. Người mình vẫn nói: Đi Sài Gòn, vô sài Gờn, về sài Gòn, ra sài Gòn, lên sài Gòn, xuống sài Gòn… Sài Gòn vậy đó, không chỉ là nơi dễ sống, không chỉ là đất chim đậu mà còn là cái tình “thương người xa xứ lặn lội tới đây”. Cái tình Sài Gòn nồng nhiệt, thẳng thắng, bộc trực. Người Sài Gòn dễ thương vô cùng.

Sài Gòn, 0625. Tác giả Tiểu Lục Thần Phong
(Shared from Ngô Ái Loan)

Ảnh: Đường Tự Do về đêm, năm 1963.
CHUYỆN DÀI ĐI ĐÁM CƯỚI

Đi đám cưới ở Mỹ, nhất là đám cưới của người Việt tổ chức tại nhà hàng Tàu, đôi khi không chỉ là đi ăn cưới mà còn là một bài kiểm tra sức chịu đựng. Tôi nói vậy vì đây không phải chuyện nghe người ta kể lại. Chính tôi cũng từng trải qua, và không ít lần phải tự hỏi: Ủa, mình đi dự đám cưới hay đi tham gia một chương trình… chờ đợi?

Tôi vốn có cái tật đi đâu cũng thích đúng giờ. Trên thiệp ghi 6 giờ thì tôi nghĩ 6 giờ là có mặt. Lần đầu đi đám cưới kiểu này, tôi hí hửng tới đúng giờ, ngồi ngay ngắn, bụng thì đói meo, rồi bắt đầu nhìn đồng hồ. Sáu giờ mười. Sáu giờ rưỡi. Bảy giờ… Khách vẫn thong thả từng người một xuất hiện, giống như đang đi dự một buổi họp mà giờ bắt đầu chỉ là… dự kiến.

Có lần tôi đến nhà hàng đúng 6 giờ, đúng y như giờ ghi trên thiệp mời. Vậy mà bước vào sảnh, tôi thấy vắng hoe. Không một bóng khách, không tiếng cười nói, cũng chẳng thấy cô dâu chú rể đâu. Tôi còn tưởng mình đi lộn nhà hàng, nên đứng ngoài sảnh chờ, vừa nhìn điện thoại vừa nhìn lại tấm thiệp.

May mà ngay ngoài sảnh có tấm hình cô dâu chú rể phóng lớn đặt trên chân máy (tripod), nhìn hai người cười tươi rói, tôi mới yên tâm là mình không đi lộn nhà hàng.

Khoảng 15 phút sau, chú rể chở cô dâu lao tới. Nhưng thay vì bước xuống xe trong tiếng vỗ tay, hai người lại chạy xe vòng ra bãi đậu phía xa. Rồi… “RẦM!”

Chiếc xe tông thẳng vào đuôi một chiếc xe của một ông Mỹ trắng. Mà ông này lại không phải khách mời.

Thế là chú rể từ vai “nhân vật chính” của đám cưới chuyển sang vai “người chịu trách nhiệm” bất đắc dĩ. Anh phải vội vàng xuống xe thương lượng chuyện bồi thường, trao đổi thông tin bảo hiểm, rồi còn phải xin ông kia… đừng gọi cảnh sát tới lập biên bản.

Mất thêm gần nửa tiếng mới giải quyết xong.

Gần 7 giờ tối, khách khứa mới bắt đầu tới đông đủ. Rồi chụp hình, quay phim, MC giới thiệu quan khách… Những thủ tục vốn chỉ mất một khoảng thời gian ngắn bỗng kéo dài lê thê. Mãi tới 7 giờ 30, mọi người mới “được” ngồi vào bàn.

Tôi ngồi đó mà nghĩ bụng: Thiệp ghi 6 giờ. Tôi đến đúng 6 giờ. Vậy mà hóa ra… mình vẫn đến sớm gần một tiếng rưỡi!

Từ hôm đó, tôi rút ra một kinh nghiệm quý báu: Đi dự đám cưới người Việt ở Mỹ, đừng chỉ đọc giờ trên thiệp. Còn phải biết “giờ Việt Nam” của cô dâu chú rể là mấy giờ nữa!

Sau vài lần “thấm đẫm thương đau”, tôi rút được sợi dây kinh nghiệm: đi trễ nửa tiếng! Nhưng khổ nỗi, tới trễ nửa tiếng vẫn chưa chắc là trễ. Có khi mình tới rồi vẫn phải ngồi chờ dài cổ.

Cuối cùng tôi nghĩ ra một giải pháp rất thực tế: ăn nhẹ trước ở nhà. Vậy là dù đám cưới có bắt đầu lúc nào, ít nhất cái bụng của mình cũng không phải tham gia cuộc thi chịu đói.

Nhà hàng Mỹ thì thường đỡ hơn. Giờ nào bắt đầu, giờ nào phục vụ, họ khá rõ ràng. Trên thiệp ghi khai tiệc 6 giờ thì đúng 6 giờ là bắt đầu phục vụ, không ngồi chờ thêm nửa tiếng, một tiếng cho đủ mặt. Ai đi trễ thì… đói và quê mặt, ráng chịu!

Ngộ một cái là nhiều khách Việt ở Mỹ cũng biết vậy. Hễ biết tiệc tổ chức ở nhà hàng Mỹ là họ tự động đến sớm, rất đúng giờ, vì hiểu rằng nơi đây không có lệ “chờ thêm chút cho đông vui”.

Còn một số tiệc cưới Việt tổ chức ở nhà hàng Tàu thì giờ ghi trên thiệp đôi khi có vẻ giống… một lời gợi ý hơn là một mốc thời gian chính thức. Ghi 6 giờ nhưng mọi người ngầm hiểu là 6 giờ… từ từ tới cũng được. Khách thong thả đến, chụp hình, trò chuyện, chờ người này người kia, rồi chờ cho “đủ mặt” mới khai tiệc.

Thành ra cái vòng luẩn quẩn cứ thế tiếp diễn: vì biết người khác sẽ đến trễ nên mình cũng chẳng cần đúng giờ. Cuối cùng, chẳng ai muốn là người đến sớm nhất — vì đến sớm quá chỉ có nước đứng nhìn… mấy cái bàn trống!

Nhưng chuyện giờ giấc chưa phải là hết.

Có một “đặc sản” khác là RSVP.

Trên thiệp mời ở Mỹ thường có chữ RSVP, viết tắt của tiếng Pháp Répondez s’il vous plaît, nghĩa là “vui lòng phúc đáp”. Nói nôm na là khách được mời cần cho chủ tiệc biết mình có đến hay không và thường là đi bao nhiêu người, để họ còn đặt bàn và chuẩn bị thức ăn.

Ở Mỹ, chuyện này thường khá rõ ràng: đi thì xác nhận đi, không đi thì báo không đi. Còn trong cộng đồng mình, đôi khi cái RSVP giống như một lời nhắn gửi đến… tương lai.

Hơi buồn một chút là có những anh chị, bạn bè mình tưởng đã thân thiết lâu nay mà đến một lời hồi đáp “có đi” hay “không đi” cũng không thèm gửi. Có người im luôn, có người đến gần ngày cưới mới nhắn: “Tụi này không đi được nha!” Có người thì đến sát ngày mới báo sẽ đi, trong khi trên thiệp đã ghi rõ ngày RSVP để gia đình còn “chốt sổ” số khách và đặt bàn với nhà hàng.

Mà nhà hàng Mỹ đâu phải nhà hàng Tàu. Bàn ghế, số lượng khách, thức ăn… đều phải đặt trước khá rõ ràng. Không thể đến giờ khai tiệc rồi mới nói: “Thêm vài bàn nữa nha!” Vì vậy, đến hạn RSVP mà ai không hồi đáp, hoặc báo không đi, thì gia đình buộc phải gạch tên khỏi danh sách.

Rồi sát ngày cưới, nếu có người bất ngờ nhắn: “Tụi này đi nha!” thì đôi khi cũng phải ngậm ngùi trả lời: “Xin lỗi, nhà hàng đã chốt số bàn rồi.”

Nghe thì nhỏ thôi, nhưng người đứng ra tổ chức mới biết nó nhức đầu cỡ nào. Một chữ “Có” hay “Không” trên RSVP tưởng đơn giản, vậy mà đôi khi phải chờ… đến tận ngày cưới mới biết được câu trả lời!

Mà đau nhất là có những trường hợp không RSVP, nhưng lại dẫn thêm con nít theo.

Chủ tiệc đã đặt bàn theo số người xác nhận, nhà hàng đã chuẩn bị phần ăn, vậy mà tới giờ khai tiệc mới phát hiện quân số thực tế… tăng trưởng vượt chỉ tiêu!

Nghe thì có vẻ đơn giản: “Cho tụi nhỏ đi theo luôn nha. Con nít mà, ăn uống bao nhiêu đâu!”

Đúng. Một đứa nhỏ có thể không ăn bao nhiêu.

Nhưng vấn đề là nó vẫn cần một cái ghế, một chỗ ngồi và một phần thức ăn.

Một bàn mười người. Chủ tiệc đã tính đủ mười người lớn. Nhưng tới giờ ăn, tự nhiên xuất hiện thêm hai, ba đứa nhỏ. Có đứa ngồi ghế riêng, có đứa ngồi chung với cha mẹ, có đứa chạy vòng vòng. Bàn thì vẫn chỉ có chừng đó phần ăn.

Người lớn đâu thể nói: “Con ăn đi, ba mẹ nhịn.”

Thế là từ mười người thành mười hai, mười ba. Một hai bàn thì còn xoay xở được. Chứ nếu nhiều gia đình cùng “tiện thể dẫn con theo” mà không báo trước thì nhà hàng trở tay không kịp.

Tôi biết nhiều đám cưới phải kê thêm tới mấy bàn vì số khách thực tế vượt xa số người đã xác nhận. Nhà hàng phải chạy đi mua thêm thức ăn để chữa cháy. Khách ngồi chờ mà bụng thì réo như biểu tình.

Ngược lại, tôi cũng từng ngồi vào một bàn… vắng chỉ còn có sáu người, nên tha hồ ăn, thậm chí còn được gói mang về. Đám cưới của chúng tôi cũng từng có một bàn vắng mấy khách. Những người này đã báo sớm rằng gia đình có chuyện đột xuất, không thể đến dự, và còn gửi quà mừng rất chu đáo. Trường hợp đó thì hoàn toàn khác: người ta không đến được nhưng đã báo trước, để gia đình biết mà chủ động sắp xếp. Cái đáng quý đôi khi chỉ đơn giản là một lời hồi đáp đúng lúc — vì nó cho thấy mình tôn trọng công sức và sự chuẩn bị của người tổ chức.

Vậy mới thấy một chữ RSVP nhỏ xíu trên tấm thiệp không phải để trang trí. Nó giúp người ta biết cần chuẩn bị bao nhiêu bàn, bao nhiêu phần ăn và bao nhiêu chỗ ngồi. Phúc đáp đúng hạn thật ra cũng là một cách tôn trọng người tổ chức.

Mà trẻ con đi đám cưới thì cũng có cái vui riêng.

Tiệc vừa bắt đầu, nhạc vừa nổi lên, mấy đứa nhỏ đã chạy lên sân khấu. Đứa tung giấy kim tuyến, đứa nằm lăn ra sàn, đứa chạy vòng vòng, đứa hét lên vì quá phấn khích. Nhìn cảnh đó, tôi cứ tưởng mình đang dự đám cưới hay đang coi… chương trình thiếu nhi cuối tuần.

Điều thú vị nhất là phụ huynh thường rất bình thản.

Có người còn nói:

“Kệ nó đi, con nít mà. Cho nó phát triển tự nhiên!”

Tôi nghe xong cũng thấy hợp lý. Chỉ có điều tôi không biết cái “phát triển tự nhiên” đó có nhất thiết phải phát triển ngay trên sân khấu đám cưới hay không.

Rồi khi đám con nít đã tạo đủ âm thanh, tới lượt mấy ông chú bà thím sau vài ly r.ư.ợ.u là bắt đầu lên sân khấu để làm… dành ca (chớ không phải danh ca).

Một người hát.

Hai người hát.

Rồi cả bàn hát.

Có người hát rất hay. Có người hát rất… tự tin.

Mà cái đáng nể nhất là ai cũng tin mình hát hay.

Nhạc sống nổi lên, tiếng hát vang trời, tiếng cụng ly leng keng, trẻ con chạy dưới sân khấu, người lớn nói chuyện lớn tiếng. Không khí lúc đó náo nhiệt đến mức chỉ thiếu một cái bảng “lô tô bắt đầu lúc 8 giờ” là đủ bộ.

Đi đám cưới mà gặp những chuyện như vậy thì cũng nên cười cho vui. Nhưng có một chuyện không vui lắm là ý thức của khách mời.

Đã được mời thì ít nhất cũng nên trả lời cho chủ tiệc biết mình có đi hay không. Đi mấy người thì báo mấy người. Có dẫn thêm con nít thì cũng nên báo trước. Đó không chỉ là phép lịch sự mà còn giúp người tổ chức đặt bàn, đặt thức ăn và sắp xếp mọi thứ cho chu đáo.

Chủ tiệc cũng vậy. Nếu có thể sắp xếp chỗ ngồi rõ ràng thì khách đỡ phải chạy tới chạy lui tìm chỗ. Chứ đi đám cưới, mặc đồ đẹp, mang theo quà, rồi cuối cùng đứng giữa nhà hàng nhìn quanh như người bị lạc giữa sa mạc thì cũng hơi… tủi thân.

Có người may mắn ngồi chung với bạn bè quen biết thì vừa ăn vừa nói chuyện vui vẻ. Có người ngồi chung bàn với toàn người lạ, không biết phải bắt chuyện từ đâu. Suốt buổi chỉ biết cười xã giao, gắp thức ăn rồi cúi xuống ăn, chẳng khác gì người được đưa nhầm vào một bàn tiệc của… gia đình khác.

Đám cưới vốn là ngày vui. Người ta bỏ tiền, bỏ công sức tổ chức cũng chỉ mong bà con bạn bè tới chung vui. Khách đến cũng mong được gặp người quen, ăn một bữa ngon, nói vài câu chuyện cũ và chúc phúc cho cô dâu chú rể.

Cho nên, đôi khi vui hay không vui không nằm ở món ăn ngon hay dở, mà nằm ở cách người ta nghĩ cho nhau một chút.

Đừng bắt người khác chờ mình cả tiếng đồng hồ.

Đừng nhận được thiệp rồi im lặng như chưa từng quen biết.

Đừng đến sát ngày mới RSVP.

Đừng xác nhận hai người rồi kéo theo thêm ba người.

Và nếu có dẫn con nít theo, làm ơn báo trước một tiếng. Không phải vì chủ tiệc tiếc một phần ăn cho trẻ con, mà vì người ta cần biết có bao nhiêu cái bụng sẽ ngồi vào bàn.

Cũng đừng nghĩ sân khấu đám cưới là khu vui chơi trẻ em, và càng đừng biến chương trình văn nghệ thành cuộc thi “Vietnam Idol phiên bản sau vài ly”.

Nói cho cùng, đi đám cưới là đi chung vui, chứ không phải đi để người khác chuốc lấy thương đau.

Còn riêng tôi, sau bao nhiêu năm kinh nghiệm, tôi đã học được hai điều rất quan trọng:

Nhà hàng Tàu: Thiệp ghi 6 giờ thì tôi vẫn đến đúng 6 giờ, nhưng tôi ăn cơm hoặc mì ăn liền lót dạ ở nhà lúc 5 giờ.

Nhà hàng Mỹ: Thiệp ghi 6 giờ thì tôi đến trước khoảng 5:50 cho chắc ăn.

Và nếu trên thiệp có chữ RSVP, tôi luôn nhớ một câu:

Người ta hỏi mình có đi hay không — thì mình trả lời. Đó là phép lịch sự tối thiểu, chứ không phải câu hỏi để… suy nghĩ tới ngày cưới.

Người xưa nói “ma chê cưới trách”, chuyện cưới hỏi đông người thì rất khó tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót. Được đón tiếp quý khách đến chung vui là một niềm vinh dự lớn đối với đôi tân hôn và gia đình. Nhưng bên cạnh niềm vui đó, cách hành xử của một số người đôi khi lại khiến chủ tiệc thêm phần bối rối, thậm chí nghẹt thở.

Đáng nói nhất có lẽ vẫn là thói quen “giờ dây thun” — một thói quen mà người Việt mình nên bỏ càng sớm càng tốt. Đúng giờ không chỉ là phép lịch sự, mà còn là cách mình tôn trọng thời gian, công sức của người khác và cũng là cách để chính mình được người khác tôn trọng.

Một đám cưới có thể thiếu một món ăn, trễ một tiết mục, hay lỡ một vài sơ suất… chắc chẳng ai trách lâu. Nhưng nếu mỗi người chịu khó đúng giờ, trả lời RSVP và báo trước khi có thay đổi, thì có lẽ cả cô dâu chú rể lẫn khách mời đều sẽ vui vẻ và nhẹ đầu hơn rất nhiều.

Blog Archive