Showing posts sorted by relevance for query Cuộc Sống Trong Căn Cứ Mỹ. Sort by date Show all posts
Showing posts sorted by relevance for query Cuộc Sống Trong Căn Cứ Mỹ. Sort by date Show all posts

Wednesday, February 4, 2009

KHE SANH (1967- 1968)
MỸ THẮNG TẠI CHIẾN TRƯỜNG NHƯNG THUA VC Ở HOA THỊNH ÐỐN
–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––-
MƯỜNG GIANG

Viết nhớ các chiến sĩ Tiễu Ðoàn 21+ 37 BÐQ/VNCH Ðã Tham Chiến Tại Khe Sanh.

Trên tờ Washington Star ngày 9-6-1968 có đăng một bài bình luận như sau ‘ Chắc chắn trận chiến tại Khe Sanh sẽ là một đề tài lôi cuốn nhiều cuộc tranh luận kéo dài. Tuy nhiên dù ai có muốn viết gì chăng nữa thì cũng phải xác nhận rằng, chính nó mới là một yếu tố quan trọng quyết định rút bỏ VN sau này. Ngoài ra Khe Sanh còn nói lên được tấm gương dũng cãm phi thường của người chiến binh Mỹ và đồng minh Nam VN tham chiến. Nên cuối cùng sớm muộn gì người dân Hoa Kỳ cũng nhận ra chiến thắng đó khi họ đã chạm với bộ mặt thật của CSVN ‘.

Và bốn mươi mốt năm sau, ngày 20-1-2009 tại Hoa Thịnh Ðốn, trong buổi lễ nhậm chức tân tổng thống Mỹ Barack Hussein Obama, qua bài diễn văn có nhắc tới sự hy sinh dũng cảm của những người lính Mỹ tại chiến trường Khe Sanh trong tỉnh Quảng Trị thuộc Vùng I Chiến Thuật của VNCH, khi so sánh địa danh này với các trận đánh lừng danh trong quân sử thế giới như Concord, Gettyburg và Normandy..

Năm 1984 nhân dịp Lê Duẩn lúc đó đang là tổng bí thư đảng VC có ghé trụ sở hội nhà văn quốc doanh gần Hồ Tây, được Xuân Thiều (tạp chí văn nghệ quân đội) và Bùi Bình Thi (văn học) chất vấn về sự thất bại của VC trong trận Khe Sanh và Tết Mậu Thân 1968. Cả hai đã được Duẩn trả lời như sau ‘ Trận Khe Sanh và Tết Mậu Thân 1968 là những chiến thắng to lớn, có ý nghĩa buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh. Hy sinh bao nhiêu cũng là xứng đáng là cần thiết. Không có những chiến thắng này thì không thể có toàn thắng 30-4-1975.

Trong cuộc phỏng vấn của nử ký gia O. Fallaci với Võ Nguyên Giáp được J.Shepley chuyển ngữ và đăng trong Inteview with History với đại ý của câu hỏi, là có phải Giáp đã tạo ra một Diện Biên Phủ thứ 2 tại Khe Sanh để nhốt quân Mỹ hay không ? và Giáp đã trả lời là chẳng bao giờ xãy ra điều này, vì Khe Sanh lúc đó chỉ quan trọng đối với mặt mũi của nước Mỹ mà thôi. Leo thang chiến tranh tại Khe Sanh để gây thêm nổi chết chóc của cả hai phía, mới thật sự thu hút dư luận Mỹ. Ðó mới là chiến thắng sau cùng.

Thật sự đến bây giờ qua hàng ngàn tài liệu của nhiều phía được giải mật có liên quan tới trận Khe Sanh (1967-1968) nhưng cũng chưa có ai dám xác quyết về ý đồ của Hà Nội dùng trận đó với âm mưu ‘ đánh lạc hướng quân đội Mỹ để mở cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân 1968 vào lảnh thổ VNCH ‘ hay lấy việc nướng quân trước bom đạn Mỹ tại Khe Sanh để làm nản lòng người Mỹ trước sự phụ họa của đám phản chiến. Ðồng thời Hà Nội gây áp lực với Tàu Ðỏ viện trợ súng đạn như lời thố lộ của Duẩn nói mình đã mặc cả với Mao là sự hy sinh nhiều hay ít của VC đều tùy thuộc vào nguồn quân viện của Trung Cộng nhưng nhất định là phải thắng Mỹ dù có hy sinh thêm 2 hoặc 3 triệu mạng người Việt.

Trong cuốn ‘ Chiến dịch đường 9 , Khe Sanh chung một bóng cờ ‘ xuất bản tại Hà Nội năm 1993, VC có khoe thành tích chiến thắng tại Khe Sanh với 17.000 tử thương trong đó có 13.000 lính Mỹ và 4000 VNCH, 400 máy bay các loại bị bắn hạ, thu được nhiều chiến lợi phẩm. Về phía Mỹ cho biết có 205 tử trận, bị thương nặng nhẹ khoảng 1500 người. Riêng Tiểu Ðoàn 21 và 37 Biệt Ðộng Quân/VNCH có 34 tử trận, VC bỏ xác tại chỗ hơn 2000 ngưới. Nói chung qua 77 ngày tử chiến tại mặt trận Khe Sanh, trong cũng như ngoài căn cứ kể luôn tai làng Vei, tính chung Mỹ và VNCH tử thương khoảng 650 người, bị thương nặng nhẹ 2500 người. Về phía VC thương vong từ 12000 ố 15000 người.

Cuối cùng Khe Sanh đã đứng vững và được giải tỏa trước vòng vây từ 15000 ố 20.000 quân Bắc Việt nhưng rồi cũng phải phá bỏ căn cứ này vào cuối tháng 6-1968 vì áp lực của phong trào phản chiến đang tàn phá nước Mỹ vì chiến tranh VN. Hởi ôi cái giá máu mà người lính Mỹ và VNCH đã đổ tại Khe Sanh suốt mấy chục ngày tắm trong bom đạn của kẻ thù, rốt cục được đem ra đánh đổi để làm xoa dịu vừa lòng đám loạn tặc phản chiến, sau khi tướng Abrams thay thế tướng West làm tư lệnh các lực lượng Hoa Kỳ và Ðồng Minh tại VN. Từ đó cho tới khi có cuộc hành quân Hạ Lào 719, Khe Sanh và hành lang biên giới Lào Việt được khoán trắng cho Không Quân Chiến Thuật và Chiến Lược Hoa Kỳ ngày đêm dội hàng ngàn tấn bom xuống một vùng đất chết vì số lượng thuốc nổ đã sử dụng tại đây nhiều gấp năm lần quả bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ chế được, đã thả xuống thành phố Trường Kỳ (Nagasaky) của Nhật trong những ngày cuối của Thế chiến II.

1- KHE SANH : ÐIỆN BIÊN PHỦ THỨ 2 TRONG CHIẾN TRANH VN ?
Từ đầu năm 1966 qua sự chấp thuận của đại sứ Mỹ tại Lào là William Sullivan nên đoàn nghiên cứu quan sát (SOG) đã có thể sử dụng trực thăng để thả hay bốc các toán viễn thám hoạt động dọc theo biên giới Lào-Việt với quân số trên 20 toán và vài đại đội xung kích thuộc các sắc tộc thiểu số tại cao nguyên Trung Phần.

Thời gian này đơn vị SOG đã được trang bị súng tiểu liên nòng ngắn báng xếp CAR-15, trong khi QLVNCH lúc đó chưa được cấp phát súng M-16. Mùa hè 1966, SOG thêm nhiệm vụ mới là kiểm chứng các trận dội bom (Bomb Damage Assessment) do B-52 vừa mới thực hiện. Nhờ vậy SOG cũng như các phi vụ không ảnh đã nắm được sự hoạt động của cộng sản Bắc Việt đang hoạt động trên đường mòn HCM.

Cũng trong năm 1966 SOG đã mở chiến dịch Shining Brass qua 48 lần xâm nhập vào các căn cứ CSVN tại vùng phi quân sự, đường số 9 tới Tchepone trên đất Lào và căn cứ Khe Sanh. Nhờ đó SOG mới khám phá được địa danh ‘ Khe Núi Xe Ðạp ‘ là một thung lũng hẹp nơi phát xuât của đoàn xe đạp thồ đủ mọi thứ kể cả súng đạn từ Bắc xuôi Nam với trọng tải mỗi chiếc trên 200 ký do dân công phụ trách.

Tại căn cứ Lực Lượng Ðặc Biệt ở Khe Sanh, các toán viễn thám thuộc SOG được vận chuyển bởi phi đoàn 219 thuộc KQ/VNCH do hai phi công VN tài ba mang biệt danh là Cowboy và Mustachio nhưng sau đó Mustachio đã đền nợ nước trong một phi vụ rãi toán viễn thám Nevada bị bắn hạ tại Khâm Ðức (Kontum) .

Mùa thu năm 1966 Trung Tướng Lewis W Walt tư lệnh Ðệ Tam Thủy Bộ qua cuộc hành quân Hastings, thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đã đầy lui quân Bắc Việt về bên kia vỹ tuyến và lập hai căn cứ chiến lược Cồn Thiên và Rockpile. Giai đoạn này các toán viễn thám được thả sâu vào lảnh thổ Lào để nghe lén hoạt động của quân Bắc Việt qua các đường dây điện thoại, nhờ vậy mới phát hiện VC đang chuẩn bị tấn công vào hai tỉnh cực Bắc của VNCH.

Ngày 28-6-1966 nhiều toán viễn thám lần lượt bị tiêu diệt khi nhảy vào các vị trí gần Khe Sanh. Cuối cùng toán viễn thám Colorado cũng đạt được kết quả khám phá các căn cứ của quân CS Bắc Việt bao quanh vùng này nhờ gắn được máy nghe lén các cuộc điện đàm của địch.

Từ những ngày đầu của thâp niên 60 thời đệ nhất cộng hòa Nam VN, các cố vấn Hoa Kỳ đã có kế hoạch trùng tu và xây dựng các căn cứ phòng thủ ngăn chận sự xâm nhập của cán binh bộ đội Bắc Việt vào lảnh thổ VNCH mà Khe Sanh là một vị trí trọng yếu nhất. Ðây là một căn cứ yểm trợ hỏa lực cho Ðệ Tam Thủy Bộ Mỹ, nằm gần một sân bay cũ của Pháp. Khe Sanh còn là hậu cứ trực tiếp yểm trợ cho các đơn vị Dân Sự Chiến Ðấu thuộc Binh Chủng Lực Lượng Ðặc Biệt VN do Mỹ yểm trợ, huấn luyện và chỉ huy. Cuối năm 1966 căn cứ chiến lược Làng Vei nằm sát biên giới Lào Việt về hướng cực tây tỉnh Quảng Trị được xây dựng hoàn tất, nên Lực Lượng Ðặc Biệt đã di chuyển về đó và bàn giao Khe Sanh cho Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.

Cũng từ đó cho tới khi bị phá bỏ vào tháng 6-1968, Khe Sanh được trùng tu, xây dựng và mở rộng mà đặc biệt nhất là công trình tái tạo phi trường dã chiến Pháp thành một sân bay chiến lược tối tân dài trên 5 km, có đầy đũ phương tiện yểm trợ tiếp vận cho đơn vị đang phòng thủ. Ðể không bị cô lập như căn cứ Ðiện Biên Phủ của Pháp tại Lai Châu truớc năm 1954, Hoa Kỳ đã mở nhiều cuộc hành quân kiểm soát, phát quang toàn vùng bao quanh căn cứ. Nhiều cuộc đụng độ với quân Bắc Việt tại Ðồi 861 nơi có rất nhiều hầm hố giao thông hào kiên cố của giặc, chứng tỏ chúng đang chuẩn bị tấn chiếm Khe Sanh.

Ðể ứng phó kịp thời trước âm mưu của cộng sản Bắc Việt, nên nhiều đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ thuộc Sư Ðoàn 3 Thủy Bộ thay phiên nhau hành quân để giải tỏa áp lực của cộng sản tại các ngọn đồi 861, 881.. Nhờ vậy mới phát hiện thêm quyết tâm của Hà Nội là phải tiêu diệt căn cứ Khe Sanh vì nó là vết dao trí mạng đâm vào yết hầu con đường xâm nhập HCM. Ðó là lý do Bắc Việt đã tập trung một lực lượng chính quy đông đảo bao quanh căn cứ này gồm có các sư đoàn 325, 304, 324 và 320 được trang bị toàn vũ khí tối tân của Liên Xô, Tàu, Ðông Ðức, Ðông Âu như đại pháo nòng dài, súng phóng hỏa tiển và lực lượng thiết giáp hùng hậu..

Ngược giòng Việt Sử ta biết Khe Sanh lúc đầu chỉ là một làng nhỏ, được thực dân Pháp khai thác lập các đồn điền trồng cà phê qua chủ nhân đầu tiên là Eugène Poilane vào năm 1926, mở đường cho nhiều người Pháp khác tới đây làm ăn vì đất đai vùng này rất tốt. Năm 1954 Việt Minh tấn công và chiếm Khe Sanh, chi phối bộ tộc Bru có nguồn gốc Môn-Khmer chừng 50.000 người sống trong vùng từ Quảng Bình, Lao Bảo, Lào vào tới Khe Sanh. Từ tháng 3-1964 linh mục Ponchet thuộc dòng Father of Foreign Mission (Pháp) tới giảng và truyền đạo tại đây nhưng ông đã bị cộng sản sát hại tại Huế trong trận Tết Mậu Thân 1968.

Căn cứ Khe Sanh nằm cách biên giới Lào Việt chừng 14 km về hướng cực tây quận Hương Hóa tỉnh Quảng Trị (VNCH), tọa lạc trên một vị trí cao thuộc ngọn Ðông Tre hùng dũng nhất trong vùng có phụ lưu của sông Thạch Hản là Rao-Quan chảy qua. Vùng này chẳng khác nào một lòng chảo được bao bọc bởi đồi 881hướng bắc, 861, 558 và 881phía nam kiểm soát các trục lộ quan trọng tới căn cứ và sân bay Khe Sanh. Tất cả các ngọn đồi trên mọc đầy cây cối và tre nứa. Ðây là nơi tranh giành đẵm máu giữa quân Mỹ và Bắc Việt gần như suốt thời gian căn cứ bị bao vây. Có khoảng 6000 TQLC Hoa Kỳ trấn đóng tại đây được yểm tợ bởi các đơn vị pháo binh từ hướng tây bắc. Doanh trại của LLÐB Hoa Kỳ nằm về mạn tây nam Làng Vei trên QL9 kế trại tù nổi tiếng Lao Bảo sát biên giới Lào. Tóm lại nhiệm vụ của căn cứ Khe Sanh được coi như một bàn đạp để bộ binh và pháo binh Hoa Kỳ đánh phá ngăn chận trục tiến quân của cộng sản Bắc Việt trên đường mòn HCM. Ngoài ra còn là một cứ điểm quân sự chiến lược của VC trong trận chiến Tết Mậu Thân 1968 tại Quảng Trị và Huế-Thừa Thiên.

Trước tình thế nguy ngập trên nên Tướng Westmoreland tư lệnh lực lượng Ðồng Minh và Hoa Kỳ đang tham chiến tại VN, đã quyết định phải giữ Khe Sanh bằng mọi giá dù biết ưu thế đang thuộc về Bắc quân. Hơn nữa địa thế của căn cứ này vô cùng bất lợi về phương diện phòng thủ, cũng chẳng khác Ðiện Biên Phủ là mấy vì nằm lọt thỏm giữa một thung lũng bao quanh là các ngọn đồi cao gần như che hết tầm quan sát từ bên trong. Ngoài ra cộng sản Bắc Việt còn đào được hai hệ thống giao thông hào ở phía bắc khu phi quân sự và bên kia biên giới Lào, thiết lập dàn điạ pháo mà khoảng cách chỉ có 14 km ,có thể tấn công căn cứ ngày đêm.

Những tháng đầu năm 1967 quân số thuờng xuyên trấn giữ căn cứ chừng một đại đội thuộc Trung đoàn 9 TQLC thay phiên hoán đổi. Bên cạnh còn có một pháo đội cơ hửu của Tiểu đoàn 2/12 với 2 khẩu đại bác 155 ly và hai súng cối 4,2 yểm trợ. Nhưng sau khi một đơn vị TQLC Hoa Kỳ trong lúc tuần tiểu ngoài căn cứ chừng 1 km đã đụng độ nặng với quân Bắc Việt, đồng lúc trong đồn cũng bị pháo kích liên tục. Do trên Khe Sanh được tăng cường thêm Ðại Ðội E thuộc TD2/9 TQLC và đơn vị này đã chạm địch ngày 15-3-1967 tại đồi 861 khiến nhiều binh sĩ bị thương vong.

Tuy nhiên tới ngày 24/4/1967 mới chính thức mở màn các trận chiến giữa hai bên trong giai đoạn 1, để tranh dành các ngọn đồi chiến lược quanh căn cứ. Cũng từ đó các đơn vị TQLC được tăng viện tới Khe Sanh gồm các tiểu đoàn 2 và 3/3 cùng với pháo đội B thuộc TD1/12 PB. Nhờ các cuộc oanh kích dữ dội của B-52 nên các đơn vị TQLC Hoa Kỳ đã làm chủ hoàn toàn các ngọn đồi 861, 881. Ngày 3 tháng 5, lần đầu tiên CS Bắc Việt tấn công căn cứ LLDB tai Làng Vei nhưng chỉ gây tổn thất nhỏ cho quân trú phòng.

Ðể mở đầu cho cuộc tấn công vào Khe Sanh, quân Bắc Việt đã gây áp lực mạnh tại căn cứ Cồn Thiên sát khu phi quân sự vào những tháng cuối năm 1967 để phân tán các đơn vị TQLC tại Khe Sanh. Một tuần trước khi xãy ra trận chiến thật sự, CS đã tấn chiếm đồn biên giới Ban Houli Sane do 2000 quân Hoàng gia Lào trấn giữ. Tình hình căng thẳng thêm nên đã có 4 tiểu đoàn TQLC Hoa Kỳ (gồm 3 TD của Trung đoàn 26 và TD 1/13) hiện diện tại Khe Sanh từ đầu tháng 1-1968. Nhiều đơn vị pháo binh và thiết giáp gồm chiến xa M-48 kể cả thiết vận xa M-113 đã có mặt tại đây vào giữa tháng 1-68 cộng với sự kiên cố của các vòng phòng thủ có đặt mìn dầy đặc từ trong ra ngoài, sẳn sàng đón nhận sự tấn công của địch bất cứ lúc nào.

Ðặc biệt trong căn cứ còn được thiết kế một hệ thống giao thông hào chạy vòng doanh trại, vừa giúp quân phòng trú di chuyển chiến đấu trong lửa đạn và nó cũng là sinh lộ khi đồn bị thất thủ hay tràn ngập. Ðồng lúc các tiền đồn trên những ngọn đồi chiến lược được tăng cường thêm kiến cố, khiến cho quân Bắc Việt không dám tới gần Khe Sanh vì sợ bị phát hiện.

+ Ngày 21-1-1968 Mở Màn Cuộc Tổng Tấn Công Khe Sanh :
Ðây là giai đoạn thứ hai của cuộc chiến, Bắc Việt đã tung vào chiến trường một lực lượng hơn 20.000 của sư đoàn 304 và 325, quân số đông gấp 3 lần Hoa Kỳ có mặt tại trận địa gồm 2 trung đoàn TQLC Mỷ và tiểu đoàn 37 Biệt Ðộng Quân/VNCH. Tất cả chừng 6000 người. Chiến thuật cố hữu của Hà Nội sau trước vẫn là ‘ lấy thịt đè người ‘ với địa pháo như mưa sau đó biển người tràn ngập, bất chấp đạn bom mìn bẩy và sinh mạng của cán binh.

Như Lê Duẩn và Võ Nguyên Giáp đã nói ‘ không cần chiến thắng vì Khe Sanh không cần thiết với chúng, nó chỉ quan trọng với thể diện của người Mỹ ‘ . Vì vậy Khe Sanh đã biến thành địa ngục trần gian từ giây phút đầu với quyết tâm nướng người trên biển lửa của các cấp lảnh đạo cộng sản. Những trận tấn công cảm tử khắp các mặt trận và địa pháo liên tục ngày đêm của Bắc Việt, được báo chí truyền thông phương tây và Mỹ đem về trình chiếu tại Hoa Kỳ, đã trở thành những dư luận tồi tệ và nổi hoang mang cả nước về một trận Ðiện Biên Phủ thứ hai tại Khe Sanh. Sự chết chóc của quân đội Mỹ tại chiến trường đã được tường thuật theo lũy thừa nhân qua đầu óc mao tôn cương của đám ký giả da trắng da màu bản xứ bất lương, càng tác động thêm sự chán ghét và chống đối chiến tranh, vô tình đem lại chiến thắng từ trên trời rớt xuống, mà VC không bao giờ có thể đạt được tại chiến trường.

Trong đợt công kích dữ dội này, pháo địch đã làm nổ tung kho đạn dự trữ lớn nhất trong căn cứ, thiêu hủy nhiều trực thăng tại bãi đáp kế cận. Dã man nhất là quân Bắc Việt đã tràn ngập bản thượng tại Làng Vei, tàn sát đồng bào vô tội, khiến mọi người phải bỏ nhà cửa chạy vào các căn cứ quân sự xin tị nạn. Trước sự đau khổ và chết chóc của dân chúng, nhiều đơn vị TQLC đã chiến đấu với giặc Cộng cả ngày 27-1 mới mở được con đường máu, đem tất cả dân làng về căn cứ và di chuyển họ bằng phi cơ về lánh nạn tại Ðà Nẳng.

Ðại tá Lownds , Trung đoàn trưởng Trung đoàn 26 TQLC cũng là chỉ huy trưởng của căn cứ Khe Sanh đã phải đối diện với nhiều vấn đề nan giải như thay thế 1500 tấn đạn dược bị tiêu hủy, sữa chữa phi đạo bị pháo kích làm hư hại khiến cho loại vận tải cơ C-130 không đáp được. Ngoài ra còn phải giải quyết hàng trăm người tị nạn và đơn vị DPQ tại xã Khe Sanh đang tràn ngập trong căn cứ.

Ngày 22-1 các phi cơ nhỏ C-123 tiếp tế khẩn cấp 130 tấn đạn các loại, đồng thời tiểu đoàn 1/9 cũng tới tăng viện đóng quân tại hướng tây căn cứ. Công cuộc phòng thủ được sắp xếp để thích ứng với tình hình bằng cách dời xa thêm các vị tr1 tới chân đồi 950 băng ngang qua sông Rao-Quan và đồi 881 Nam. Ngày 27-1 Liên Ðoàn 1 BDQ/VNCH tăng cường cho Khe Sanh với một đại đội thuộc tiểu đoàn 21 và toàn bộ tiểu đoàn 37/BDQ do thiếu tá Hoàng Phổ chỉ huy. Dù được chỉ định phòng thủ tuyến lửa xa nhất và nằm ngoài vòng đai căn cứ cuối phi đạo dài hơn 1500m. Tuy nhiên QLVNCH tại Khe Sanh đã giữ vững được vị trí của mình tới khi tàn cuộc chiến trước sự thán phục và ngưỡng mộ của TQLC Hoa Kỳ. Ðây là môt lưc lượng mạnh và đắc lực nhất đã cứu vãn hệ thống phòng thủ yếu ớt tại vị trí đãm nhận.

Tuần lê cuối cùng của tháng 1-1968 dù Cộng quân không ngớt pháo kích và tấn công nhưng phi đạo cũng được sửa sang hoàn tất để các loại vận tải cơ hạng nặng lên xuống tiếp tế và tải thương, chở người tị nạn về Ðà Nẳng. Lợi dụng sương mù dày đặc gần như che kín bầu trời phía tây Quảng Trị, ngày 23/1 VC đã mỡ màn trận địa pháo bằng các khẩu 152 ly do Nga viện trợ, được đặt tại hai hệ thống giao thông hào phía bắc vỹ tuyến 17 và bên kia biên giới Lào, tập trung đổ vào Khe Sanh liên tục không ngừng. Các đơn vị chính qui của Bắc Việt nhân cơ hội này cũng áp sát đến phi đạo, hai bên chỉ còn cách nhau chừng 400m. Tại đây VC đào hầm hố cá nhân và chuẩn bị một cuốc tấn công.

Nhưng ngày 24/1 trời Quảng Trị bổng quang đảng trở lại, nên hơn 450 phi xuất của không lực Hoa Kỳ đều đổ xuống Khe Sanh cho dù pháo binh phòng không của VC rất dữ dội làm thiệt hại nhiều phi cơ khi công tác. Bên ngoài các lực lượng khác của TQLC Mỹ vẫn bám chặt chiến trường, mở lại quốc lộ số 9 để nhận tiếp liệu. Theo ước lượng của của các nhà quân sự, vào lúc đó Bắc Việt đã tập trung trong khu vực từ Cồn Thiên, Gio Linh , Làng Vei tới Khe Sanh chừng 50.000 quân chủ lực, để chuẩn bị một trận đánh lớn. Ðặc biệt cả Mỹ lẫn VC đều tuyên bố không có hưu chiến vào ngày tết nguyên đán Mậu Thân (31-1-1968) tại 5 tỉnh cực bắc thuộc quân khu I VNCH.

+ Ngày 29-1-1968 : Ðêm 30 Tết Mậu Thân, VC Tấn Công VNCH.
Trước tình hình quân sự đang nóng bỏng tại Khe Sanh nên chính phủ VNCH đã ban lệnh hưu chiến vào những ngày đầu Tết Mậu Thân từ 48 giờ, nay chỉ còn hiệu lực 36 tiếng, bắt đầu từ 18 giờ ngày 29-1 đến 6 giờ ngày 31-1-1968. Lợi dụng việc bỏ giới nghiêm và lệnh hưu chiến có hiệu lực, Hà Nội đã mở một cuộc tổng công kích trên toàn thể lảnh thổ VNCH , trong giờ phút linh thiêng mọi người đang đón mừng và cúng kính trong năm mới. Vào lúc giao thừa (29-1-1968) cũng là đêm 30 tết, các thị xã Qui Nhơn, Kon Tum, Pleiku, Darlac, Nha Trang.. là những mục tiêu bị VC tấn công đầu tiên. Có điều quân Bắc Việt không hề tấn công vào bất cứ một vị trí nào của quân Mỹ và Ðồng Minh trong đợt này.

Nhưng tình hình tại Khe Sanh thì khác vì chiến cuộc đã bắt đầu tàn khốc bằng những trận pháo kích dồn dập không dứt, những trận đánh đẳm máu quanh căn cứ và các tiền đồn trên đồi 861 và 881 Nam. Nhưng hầu hết các cuộc tấn công đều bị bẽ gảy nhờ có không trợ và pháo yểm rất chính xác. Tóm lại căn cứ rất an toàn nhờ hệ thống phòng thủ kiên cố nhất là sự hiện diện của Biệt Ðộng Quân VNCH.

Ngày 7-2-1968 với sự yểm trợ của 10 chiến xa PT-76 do Liên Sô chế tạo, quân Bắc Việt đã tấn công và tràn ngập Trại Lực Lượng Ðặc Biệt Làng Vei nằm sát biên giới Lào. Cộng Sản đã tán sát tất cả 9 cố vấn Mỹ và hơn 300 dân sự chiến đấu. Một số chiến xa bị LL đặc biệt bắn cháy nhưng số còn lại đã truy giết những quân nhân Biệt Kích và Ðịa Phương Quân VNCH còn sống sót , cùng đồng bào Làng Vei chạy về căn cứ Khe Sanh đang bị vây hãm, trong số này có nhiều đặc công VC trà trộn theo. Nhưng sau đó đều bị LLDB tiêu diệt.

Tuy vậy, tướng Westmoreland vẫn quyết định giữ vững Khe Sanh như một thách đố để chứng tỏ với thế giới và bọn chóp bu Hà Nội, về khả năng vô địch của không quân Mỹ nhất là các pháo đài bay B-52 sẽ không bao giờ cho phép cộng sản Bắc Việt mơ tưởng việc tái diễn cái gọi là Ðiện Biên Phủ thứ 2 tại đây.

Ngày 9-2 tiểu đoàn 1/9 TQLC đã tái chiếm lại tiền đồn Hầm Ðá ngoài căn cứ sau một đêm lọt vào tay cộng quân. Các tuần lễ liên tiếp vào những ngày thời tiết tốt, hàng ngàn phi vụ của Hải, Không quân và TQLC thi nhau trút bom đạn vào những hầm hố giao thông hào như mạng nhện của VC đào cố thủ quanh căn cứ, B-52 đã biến các đồi núi nằm ngoài chu vi an toàn thành cõi hoang vu không có sự sống, qua chiến dịch không tập ‘ Niagara ‘ kinh hoàng nhất trong lịch sử chiến tranh VN.

Nhưng như Duẩn, Giáp đã tuyên bố ‘ phải chiến thắng Mỹ dù có phải đột rụi Trường Sơn hay hy sinh thêm vài triệu cán binh bộ đội miền Bắc, thì cũng đáng ‘.Do đó măc cho bom đạn trút xuống như mưa, cộng sản Bắc Việt vẫn bám trụ trong hầm hố giao thông hào , nhắm bắn các máy bay vận tải C-130 lên xuống tiếp tế và tải thương cho căn cứ. Vì có nhiều máy bay loại này bị bắn hạ nên 6 tuần, Hoa Kỳ quyết định dùng C-123 thay thế vì loại này cất cánh nhanh và có thể đáp xuống phi đạo ngắn.

Ngày 28-2, quân Bắc Việt thuộc sư đoàn 304 mở ba cuộc tấn công vào tuyến phòng thủ của Tiểu đoàn 37 BDQ/VNCH nhưng bị đẩy lui. Ðây là đợt tấn công cuối cùng vào Khe Sanh vì suốt tháng 3-1968 cộng sản chỉ còn pháo kích mà thôi. Ðể giải toả áp lực cho căn cứ, từ 1 tới 12-4-68 tướng West quyết định tổ chức các cuộc hành quân Pegasus Hoa Kỳ và hành quân Lam Sơn 207A của QLVNCH do thiếu tướng J.J Tolson chỉ huy tổng quát. Quân số tham dự khoảng 10.000 người của 3 lữ đoàn thuộc Sư đoàn 1 kỵ binh không vận cộng với Trung doàn 1 và 26 TQLC Hoa Kỳ. Phía VNCH có Chiến đoàn 3 Dù (TD 3,6 và 8) do Ðại tá Nguyễn Khoa Nam chỉ huy.

Trước một ngày, sư đoàn 3 TQLC Hoa Kỳ và sư đoàn 1 VNCH mở cuộc hành quân nghi binh tại Cồn Thiên và Gio Linh, kết thúc ngày 1-5-68 qua các cuộc chạm súng không đáng kể. Trong khi đó, cuộc hành quân giải toả Khe Sanh được thực hiện bằng hai gọng kềm, một mặt các tiểu đoàn TQLC từ Cà Lu theo quốc lộ 9 tiến về căn cứ, còn các đơn vị kỵ binh không vận được trực thăng đổ xuống các bãi đáp cách Khe Sanh chừng 5 dặm để mở các cuộc hành quân theo hướng đồn Pháp cũ tiến về căn cứ. Ngày 6-4 các đơn vị kỵ binh không vận đã bắt tạy được với TQLC Khe Sanh tại đồi 471,552,558, 689.

Riêng 3 tiểu đoàn thuộc chiến đoàn 3 Dù/VNCH được trực thăng vận về hướng tây nam Khe Sanh ngày 7-4-68 đã dụng độ và sau nữa giờ giao tranh, cộng quân đã chém vè để lại nhiều xác chết. Ngày 8-4 lúc 8 giờ sáng, lực lượng ky binh không vận vào Khe Sanh. 10-4 KBKV tái chiếm trại lực lượng làng Vei. Ngày 14-4 tiểu đoàn 3/26 tái chiếm đồi 881 Bắc. Ngày 15-4 chấm dứt hai cuộc hành quân Pegasus và Lam Sơn 207A giải tỏa Khe Sanh, Chiến đoàn 3 Dù về Huế còn 2 lử đoàn của Sư đoàn 1 KBKV ở lai Khe Sanh thay thế cho 4 tiểu đoàn TQLC đã trấn thủ căn cứ, để tiếp tục càn quét tàn quân Bắc Việt trong các khu vực phụ cận.

Ngày 6-7-1968 người lính Mỹ cuối cùng rời căn cứ Khe Sanh, thay vào đó là các cuộc hành quân lưu động của quân đoàn III thủy bộ Hoa Kỳ và các cuộc dội bom của không quân chiến thuật Mỹ vì đây là vùng oanh kích tự do, cho tới khi QLVNCH mở cuộc hành quân Hạ Lào 719 năm 1971, căn cứ Khe Sanh mới được sử dụng lại.

2- TIỂU ÐOÀN 37 BÐQ/VNCH TẠI KHE SANH :
Binh chủng Biệt Ðộng Quân ra đời ngày 1-7-1960 qua sự chấp thuận của Tổng thống Ngô Ðình Diệm. Những đại đội biệt lập đầu tiên, được huấn luyện chiến thuật phản du kích, chống xâm nhập của cán binh bộ đội Bắc Việt. Cũng từ đó cho tới ngày 30-4-1975 Miền Nam sụp đổ, người lính BDQ là những chiến sĩ dũng cảm can trường trên khắp các mặt trận, không thua kém bất cứ một quân binh chủng nào của QLVNCH. Từ năm 1970 các trại dân sự chiến đấu do Hoa Kỳ và VN thành lập, dọc theo biên giới Việt-Lào-Miên được sáp nhập vào binh chủng thành các tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân Biên Phòng, nâng tổng số BDQ lên tới 40.000 người. Ngày 10-4-1975 Sư đoàn 106 BDQ ra đời với nhiệm vụ đãm trách phòng thủ vòng đai Sài Gòn-Chợ Lớn cho tới khi được lệnh rã ngũ.

Nhiều tiểu đoàn BDQ được tuyên dương trước quân đội cũng như được nhận huy chương cao quí của tổng thống Hoa Kỳ, trong đó có TD44BDQ của Thiếu tá Lê Văn Dần, tiểu đoàn 52 BDQ , tiểu đoàn 42 BDQ của Thiếu tá Lưu Trọng Kiệt và Tiểu đoàn 37 BDQ của Thiếu tá Hoàng Phổ, đơn vị VN duy nhất tham dự trận Khe Sanh.

Vào những ngày cuối tháng 1-1968 tình hình quân sự tại Khe Sanh đã trở nên nguy ngập trước áp lực thí quân biển người của Bắc Việt. Do đó Trung tướng Robert E.Cushman Jr, tư lệnh Ðệ Tam Thủy Bộ Hoa Kỳ quyết định tăng cường thêm cho căn cứ này Tiểu đoàn 1/9 TQLC Mỹ và Tiểu đoàn 37 BDQ/VNCH + một Ðại đội của Tiểu đoàn 21 BDQ vào ngày 27-1-1968 nâng tổng số quân phòng thủ lên tới 6000 người.

Vừa mới tham dự trận Thạch Trụ (Quảng Ngãi) chưa được về hậu cứ để dưỡng quân và thay đổi quân trang cũng như lảnh lương, thì có lệnh của Liên Ðoàn 1 BDQ tăng phái cho TQLC Hoa Kỳ tại Khe Sanh. Không ai biết chỉ huy trưởng căn cứ lúc đó là Ðại tá Lownds đã nghĩ gì, hoặc là không tin tưởng vào QLVNCH hay muốn thử sự can trường dũng mảnh của hai con cọp khét tiếng miền địa đầu giới tuyến, nên đã chỉ định BDQ/VNCH phòng thủ một vị trí dài 1500m, nằm ngoài vòng đai căn cứ về phía đông cuối phi đạo, đối diện thường trực từng phút giờ đạn pháo của VC nhắm vào các loại phi cơ lên xuống Khe Sanh.

Thân phận bèo bọt của đời lính trận VNCH là thế đó, đem máu và mạng sống để tô đậm thêm màu cờ sắc áo quân đôi, giữ vững từng tất đất quê hương để các thế hệ Miền Nam vui sống an lành tại hậu phương. Một số may mắn tới được bờ đất hứa, nay thành danh thành người nhưng họ đã quên hết những ân tình trời biển của người lính trận, vẫn ngạo khinh chối bỏ sự hy sinh cao quí của cha anh ngày trước, mà vong nguồn rộng miệng và trên hết thay đổi tính người để trở thành những con thú người hai chân, quay cuồng múa máy lập dị khật khùng, khiến cho cha anh của họ phải trùm đầu bôi mặt khi phải đối diện với đồng đội đồng bào.

Tiểu đoàn 37 BDQ + 1 Ðại đội tăng phái của TD 21 nhận lãnh vị trí của TQLC nên nơi này đã có sẳn hầm hố và giao thông hào từ trước. Trong lúc người lính Hoa Kỳ tại căn cứ đều đặn được nhận lảnh lương bổng, tiếp tế thực phẩm thay đổi quân trang thuốc men, thì người lính BDQ/VNCH ở Khe Sanh không có lương nhiều tháng, không được tăng viện để thay thế sự tổn thất thương vong qua các cuộc đụng độ và pháo kích của cộng quân. Rồi ai nấy đều lo lắng cho số phận của gia đình mình trong cơn loạn lạc máu lửa khi cộng sản phát động trận Tết Mậu Thân khắp Miền Nam từ đêm 30 Tết Mậu Thân (27-1-1968).

Ken Pipes, một sĩ quan TQLC tại Khe Sanh tự hỏi nếu là người lính Hoa Kỳ trong hoàn cảnh như vậy, liệu họ có còn tinh thần để tiếp tục chiến đấu hay không ? Vây mà binh sĩ dưới quyền của Thiếu Tá Hoàng Phổ vẫn phòng thủ vững vàng vị trí trong đêm, ban ngày thì tung quân đột kích thẳng vào phòng tuyến của giặc, lấy được nhiều chiến lợi phẩm trong đó có đại bác không giật tối tân mới được Nga chế tạo. Tóm lại như lời kết luận của Pipes ‘ Họ rất hãnh diện được chiến đấu chung với sĩ quan và binh sĩ của TD37 BDQ/VNCH, một đơn vị đồng minh nổi tiếng rất xứng đáng được Hoa Kỳ xưng tụng ‘.

Từ ngày 29-1-1968, TD 37 BDQ đã đụng độ với VC khi tung quân hoạt động bên ngoài. Ngày 21-2-68, quân Bắc Việt mở một cuộc pháo kích dữ đội bằng đạn đại bác và hỏa tiển nhắm vào vị trí phòng thủ của TD37 BDQ. Xế trưa cùng ngày, một tiểu đoàn VC mở cuộc tấn công BDQ nhưng đã bị đẩy lui bỏ lại nhiều xác chết. Ngày 23-2 VC pháo kích vào vị trí BDQ 1307 đạn pháo kích đủ loại. Ngày 29-2-68 vào lúc 10 giờ 15 phút tối, VC mở ba cuộc tấn công vào các vị trí phòng thủ của TD37BDQ, cuộc giao tranh kéo dài tới 4 giờ 30 sáng thì giặc chém ve, bỏ lại tại trận địa 78 xác chết và nhiều vũ khí cá nhân cũng như cộng đồng. Tóm lại trận chiến Khe Sanh 1968, TD37 và một đại đội tăng phái của TD21BDQ tham chiến tại Khe Sanh, đã làm rạng rỡ màu cờ sắc áo của binh chủng BDQ Mũ Nâu, đồng thời đem lại sự kính phục cảm tình của quân đội Hoa Kỳ trước sự chiến đấu can trường và nhất là tinh thần trách nhiệm, kỷ luật của người lính VNCH.

Có một câu chuyện thật cảm động và thắm thiết tình huynh đệ chi binh liên quan tới sự tham chiến của Tiểu đoan 37 BDQ tại Khe Sanh. Ðó là việc Ðại Tá Trần Văn Hai lúc đó là Chỉ Huy BDQ/VNCH đã bất chấp nguy hiểm tới tính mạng, khi ông đã cùng Thiếu tá Ngô Minh Hồng (trưởng phòng 3) và Ðại úy Trần Ðình Ðàng (trưởng phòng 1) từ Sài Gòn ra Ðà Nẳng, theo các chuyến bay tiếp tế và tải thương C-130 hay C-123 tới tận địa ngục Khe Sanh để thăm viếng ủy lạo cũng như chia sớt bớt phần nào nổi tân khổ chạm đáy kiếp đời của người lính BDQ/VNCH thuộc TD21 và 37 đang tăng phái chiến đấu tại đây.

Ngoài ra còn có Nhiếp Ảnh Gia Chiến Trường số 1 Miền Nam là Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Hạnh và Phóng viên Quân đội Hữu Nhơn cũng đã lặn lội tới đây để hòa mình với người lính trận BDQ. Hai ông đã nhiều lần bị thương khi theo các toán cảm tử BDQ trong các cuộc đột kích vào phòng tuyến địch. Nhờ vậy đã chụp được nhiều hình ảnh xác thực và giá trị nói lên sự hy sinh cao cả của lính chiến VNCH. Riêng phóng viên Hữu Nhơn đã viết những bài tường thuật thật cảm động về sự can trường anh dũng của TD37 BDQ, khiến cho ai đọc tới cũng không cầm nổi nước mắt trước nổi cực khổ và chết chóc có một không hai của đời lính bất hạnh Miền Nam và thân phận nhược tiểu của Người VN cả nước trong trò hề biển lận nghĩa nhân của bọn đế quốc tư bản và cộng sản quốc tế.

Trưa 30-4-1975 khi có lệnh đầu hàng buông súng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai Tư lệnh Sư đoàn 7 BB kiêm Chỉ huy trưởng căn cứ Ðồng Tâm, cựu Chỉ Huy Trưởng BDQ/VNCH đã quyên sinh bằng độc dược tại bản doanh đơn vị, quyết không để cho giặc làm nhục. Ông đã cùng với các tướng lãnh Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ.. làm rạng danh muôn đời QLVNCH về tấm gương hào hùng, oanh liệt và xứng đáng để cho các thế hệ VN noi gương.

3- HOA KỲ CHIẾN THẮNG TẠI KHE SANH NHƯNG THUA VC Ở HOA THỊNH ÐỐN :
Ngay khi VC chiếm dinh Ðộc lập vào buổi trưa ngày 30-4-1975, thì tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, Ðại sứ VNCH là Trần Kim Phương, đã nghẹn ngào tuyên bố trước báo chí Mỹ :’ làm đồng minh với Hoa Kỳ là đi vào tử điạ ‘.

Gần ba mươi năm sau, lúc mà vết thương của người vong quốc chưa kịp đóng vảy, thì vào ngày 29-9-2004 trên chương trình ‘ No spin zone’ của đài Fox. Một ký giả tên O’Reilly, sau khi bàn tán chuyện chính trị của A Phú Hãn và Iraq, lại kéo VNCH vào cuôc qua gợi ý :’ Vì Nam VN đã không chiến đấu cho tự do, nên họ không có tự do ngày nay ‘ , Câu hỏi được TT.Bush đáp ‘ YES’ .

Nhưng mới đây DB Loretta Sanchez khi phát biểu trên chương trình ‘ The O’Reilly Factor ‘, đã khẳng định sự sai lầm và không đúng sự thật về câu trả lời của tổng thống Bush. Ông còn lấy làm tiếc, là trước đây Bush đã không chịu tình nguyện sang chiến đấu tại chiến trường VN, nên đã không biết gì hết về cuộc chiến vừa qua, trong đó đã có hằng triệu quân dân Nam VN, chiến đấu bên cạnh quân đội Hoa Kỳ.

Một số còn sống sót sau cuộc chiến đã tới Mỹ tị nạn cọng sản, và họ vẫn tiếp tục chiến đấu không ngừng nghĩ, để dành cho được tự do, dân chủ chân chính tại quê hương VN, mà chính Hoa Kỳ đã trực tiếp bóp nát trước năm 1975. Những thành quả đạt được khắp nẻo đường hải ngoại, như chính quyền công nhận lá cờ vàng biểu tượng của quốc dân VN, tượng đài vinh danh chiến sĩ Việt-Mỹ,sự hình thành các cộng đồng lớn mạnh của người Việt tị nạn, các vụ biểu tình chống Trần Trường trương cờ máu, ảnh quỷ và các phái đoàn VC cũng như kinh tài. Ngoài ra sự ngồi lại của tập thể cưụ chiến binh VNCH, bao gồm cả lực lượng cảnh sát, cán bộ xây dựng nông thôn và thế hệ hậu duệ trong nhiều năm qua rất tốt đẹp... Ðó không phải là sự tranh đấu của người Việt hiện nay, để đòi lại tự do dân chủ của mình, bị chính Hoa Kỳ dùng viện trợ tước đoạt từ mấy chục năm về trước ?

Hoa Kỳ đã một mình một chợ dàn dựng lên, cái gọi là hiệp đinh Ba Lê tháng 1-1973, ngưng chiến và hòa binh cho VN. Vì đã có chủ đích, nên hiệp định này, chỉ có hai điểm đem lợi ích cho họ được thi hành nghiêm chỉnh. Ðó la việcợ quân Mỹ phải triệt thoái hết về nước, theo đúng hạn chót đã ấn định vào ngày 29-3-1973 và quân xâm lăng Bắc Việt , được Hoa Kỳ cho phép ở lại Nam VN. Chỉ điều khoản thứ hai này, đủ chứng tỏ Hoa Kỳ không bao giờ muốn ký hòa ước với cọng sản, để thực thi sự ngưng chiến và tìm kiếm hòa bình cho VN. Trái lại ngụy tạo, hiệp định Ba Lê năm 1973, để có cơ hội công khai và hợp pháp, viết lên bản án tử hình của VNCH, ngay từ lúc ký.

Hành động bất lương của một siêu cường, đã khiến cho bao chục triệu người Nam VN, chẳng những đã tan nhà nát cửa, gia đình ly tán, mà còn bị hủy diệt nền tự do dân chủ, mà họ đã dùng xuơng máu, huyết lệ của chính mình, để bồi đắp, xây dựng và duy trì liên tục từ 1955 đến cuối tháng 4-1975. Cũng vì sự gian manh trên, từ đó uy tín của nước Mỹ không còn được thế giới tự do tin tưởng và mong cậy kết giao hợp tác.

Ðã thế, hai vị TT của Mỹ là Nixon và Ford, còn trắng trợn, nhổ nuốt những lời hứa hen đã được quốc hôi, chính phủ nước mình ký nhận ban hành, đồng thời với những thơ riêng mực đen giấy trắng , liên tục gởi cho TT Nguyễn Văn Thiệu, rằng là hãy ký hiệp định, để tiếp tục có viện trợ. Còn nếu VC bội ước, thì Hoa Kỳ sẽ lập tức dội bom, cũng như trở lại tức khăc, bảo vệ VNCH. Nhưng tất cả chỉ là cuội, chẳng những Hoa Kỳ ngoảnh mặt trước sự sự công khai vi phạm hiệp ước ngưng bắn của VC , mà còn tàn nhẫn cúp hết viện trợ đã hứa, dành cho QLVNCH có phương tiện, chống lại cuộc xâm lăng Nam VN của khối đệ tam cọng sản quốc tế.

Thực chất cuộc chiến VN tới nay vẫn là một đề tài được tranh luận dai dẳng, chính TT. Bush khi tuyên bố ‘ Yes’ trên đài Fox, về một vấn đề gai gốc mà bản thân chưa biết trọn, chứng tỏ là Hoa Kỳ, dù đã tốn nhiều máu xương tiền bạc về cuộc chiến đó, vẫn chưa hiểu thấu cái chiến tranh, mà Cọng sản gọi là ‘ chiến tranh cách mạng ‘, đã đánh bại người Mỹ và thế giới tự do, tại hai mặt trận Trung Hoa lục địa và Nam VN.

Thực chất cuộc chiến đó, nay qua thời gian và những khai quật của lịch sử, cho thấy đó chỉ là một thứ chiến tranh vừa du kích lẫn qui ước, trong mục đích dấy loạn và khuynh đảo thế giới, bằng hành động phi nhân man rợ, chứ không có gì là cao siêu huyền diệu, như một số triết gia trí thức Tây Phương và Hoa Kỳ, từng ca tụng điên cuồng trong quá khứ. Người Mỹ vì không thực tâm chiến thắng tại trận địa, trong khi có đủ điều kiện để chiến thắng, đó mới chính là thực chất của cuộc chiến Ðông Dương.

Nói chung, qua kinh nghiệm xương máu của chính người Việt Quốc Gia, trong suốt 75 năm tranh đấu, cho thấy Hoa Kỳ, Thế Giới Tự Do cũng như Nam VN, đã thua VC qua cuộc chiến với một lý do duy nhất : ‘ Ðó là sự hèn nhát của tập thể, vì sợ và ích kỷ, nên đã vô tình hay cố ý, yểm trợ đắc lực cho Bắc Việt các nguồn tình báo, nhân lực và tiếp tế ‘.Một sự kiện lích sử mà không hề thấy tại các nước khác bị chia đôi, sau thế chiến 2 như Ðức, Triều Tiên và Ðài Loan. Do trên, Nam VN không bị cọng sản cưởng chiếm, cũng là chuyện lạ.

Vì đâu phải mất nước ? một câu hỏi đã đè nặng trong tâm trí người Việt sống sót sau cuộc chiến. Bởi chính họ đã có mặt hay thật sự chứng kiến toàn bộ cuộc chiến, từ đầu cho tới trọn ngày 30-4-1975, khi Nam VN buông súng đầu hàng. Rõ ràng trong suốt cuộc chiến từ năm 1955-1975, dù có mặt Hoa Kỳ và Ðồng Minh hay chỉ một mình chiến đấu đơn độc, QLVNCH vẫn luôn làm chủ chiến trường, tại hầu hết các mặt trận nhỏ lớn, quan trọng như Tết Mậu Thân, Mùa hè đỏ lửa 1972 tại An Lộc, Kontum, Bình Ðịnh, Quảng Trị.

Ngay những ngày tháng 4-1975 trong giờ thứ 25, dù phải chống trả với thù trong giặc ngoài, QLVNCH vẫn chiến đấu anh dũng tại các mặt trận Khánh Dương, Tháp Chàm, Phan Thiết, Phước Long, Tây Ninh-Hậu Nghĩa và nhất là Xuân Lộc, đã làm quân xâm lăng Bắc Việt, phải khiếp sợ la làng, đổ thừa Mỹ trở lại, giội bom nguyên tử. Ngày 30-4-1975, khi các quân đoàn Bắc Việt, từ tám hướng siết chặt vòng vây Thành Ðô, nhưng bên trong vẫn còn đủ an toàn, để Hoa Kỳ dùng trực thăng bốc người ra chiến hạm.

Trên sông Sài Gòn cũng như khắp bầu trời, cũng chính là những sinh lộ, bởi vì khắp nơi còn có sự chiến đấu của SD3,5,7,9,18,21,22,25 BB, của Lữ Ðoàn 3 Xung Kích, SD Dù, Biệt kích Dù-Lôi Hổ, TQLC, Thiết Giáp,BDQ, DQP+NQ,XDNT,CSDC và ngay cả những Thiếu Sinh Quân, Nhân Dân Tự Vệ. Tất cả đã ở lại chiến đấu tới cùng, và đã làm vỡ mặt Hà Nội, khi những chiếc T54,PT76 vừa tới Ngã Tư Bảy Hiền, đã bị các chiến sĩ Liên Ðoàn 81 BCND và Lữ Ðoàn 4 Nhảy Dù bắn hạ. Lịch sử VN cận đại, là những trang huyết lệ, được người lính trận viết tại chiến hào, hố bom và ngay trên cơ thể của mình, chứ không phải qua những tài liệu, nói là của Tây Tàu, Nga Mỹ, vừa được giải mả. Chính sử gia Tư Mã Thiên, nhờ bản thân bị đoạn trường , mà viết nên một thiên sử ký tới nay, vẫn được thế nhân ngưỡng phục..

Tuy văn khố Hoa Kỳ nói là đã cho giải mật nhiều tài liệu lịch sử có liên quan tới cuộc chiến vừa qua nhưng những điều vừa bật mí, thật sự chưa được đưa hết ra ánh sáng. Do muốn tìm hiểu sự thật về một cuộc chiến, đã làm cho Hoa Kỳ phải sa lầy và mang rất nhiều tai tiếng, nên suốt mấy chục năm qua, nhiều nhân vật, từ những quân nhân thuần tuý đã tham dự cuộc chiến như Ðô Ðốc Grant Sharp, Ðại Tướng William C. Westmoreland.. hay trong ngành ngoại giao như GS Tiến Sĩ Stephen Young, Robert Sharphen, William Colby.. đều thắc mắc về sự bại trận của Hoa Kỳợ, mà theo họ chẳng bao giờ có thể xảy ra, trong một cuộc chiến vô cùng chênh lệch giữa hai đối thủ, cho dù phía sau lưng VC có Liên Xô, Trung Cộng và khối Ðông Âu chống lưng giúp đỡ tận lực.

Ðúng như Ðô Ðốc Grant Sharp , cựu Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, viết trong tác phẩm nổi tiếng ‘ Strategy For Defeat ‘ (Cuộc Chiến Không Cần Thắng), trong đó vị Cựu Tư Lịnh , cũng là một tướng lãnh từng tham dự tại chiến trường Nam VN nhiều năm, nói rằng Ông và thuộc cấp dưới quyền bị các nhà lãnh đạo của nước Mỹ tại Hoa Thạnh Ðốn, cột chặt một tay, khi họ chiến đấu tại VN. Thảm kịch này mãi tới năm 1985, sau khi chính phủ Hoa Kỳ ban hành một số luật mới, cho phép giảm độ mật , thì Bộ Quốc Phòng mới cho in phổ biến hai mươi sáu trang, tóm tắt luật chiến đấu của quân lực.Hoa Kỳ tại Ðại Hàn và VN, gọi là ‘ Rules of Engagement ‘.

Ðọc Congressional Record, làm cho những lính già của VNCH phải cười ra nước mắt và thương xót cho những đồng đôi, đồng bào, suốt hai mươi năm qua, vì chiến đấu chống sự xâm lăng của Bắc Việt, mà chết oan khiên hay bị mang thương tật do đạn bom và bàn tay VC gây ra. Những luật lệ kỳ quái như Lính Mỹ không được bắn VC, trừ phi chúng tấn công trước. Không lực Mỹ không được giội bom vào xe của VC khi chúng ở cách đường mòn Trường Sơn 200m. Phi cơ Mỹ không được tấn công phi cơ Mig nếu chúng không gây hấn, không giội bom các phi cơ VC đậu yên tại phi trường. Cuối cùng, nghiêm cấm quân Mỹ truy đuổi VC, khi chúng chạy sang Lào và Kampuchia..

Chính phủ Hoa thịnh Ðốn, chẳng những cấm Quân Lực Mỹ, Ðồng Minh, VNCH không được thẳng tay tiêu diệt kẻ thù, mà còn tiết lộ những bí mật quân sự, quốc phòng cho VC biết trước, qua những lần oanh tạc tại miền Bắc, trên đường mòn HCM, hành quân Lam Sơn 719.. Ðó là tất cả những sự kiện lịch sử có thật, được Thứ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Phil Golding, thời TT.Johnson, trả lời thắc mắc của hàng ngàn gia đình tử sĩ Hoa Kỳ :’ Chúng ta đang tham gia vào một cuộc chiến giới hạn, với những mục tiêu hạn chế. Nói chung đây là một cuộc chiến vì chính trị, nên không thể tiêu diệt VC được ‘.

Do sự phản ứng càng lúc càng đông của người Mỹ, trước cái gọi là ‘ đánh không cần thắng ‘, nên dân chúng đã xuống đường, đã đảo mà báo chí thời đó, gọi là do phản chiến giựt dây. Thật sự , người Mỹ đã quá chán ngấy cái trò đem con bỏ chợ, đem trứng cho ác, dai dẳng từ thời Kennedy, Johnson, kế đó là Nixon, nên đã giận dữ đòi Hoa Thịnh Ðốn ‘ Hãy cút khỏi VN ngay, hãy chấm dứt cái trò chiến tranh nướng thịt dai dẳng vô ích này .’

Tóm lại qua cuộc chiến VN do đầu óc con buôn, người Mỹ đã đánh mất tất cả mọi ý thức về trách nhiệm và danh dự, làm tiêu tốn hơn 150 tỷ mỹ kim tiền đóng thuế của dân chúng, hại cho 55.000 chiến sĩ bị chết oan và hơn 300.000 quân nhân các cấp bị thương tật. Không có gì tồn tại với thời gian, trừ chân lý. Vì vậy những câu chuyện hề của Henry Winston, chủ tịch đảng cọng sản Mỹ, đem diễn tại Hà Nội vào tháng 5-1975, hay lời tuyên bố vung vít của Nguyễn Hữu Thọ, chủ tích bù nhìn của Mặt Trận Ma giải phóng, tại Mạc Tư Khoa, ngay khi Sài Gòn thất thủ : ‘ cám ơn báo chí và ký giả Tây Phương, đã góp phần lớn cho chiến thắng của Hà Nội, trong số này đáng kể là người Mỹ ‘.
.
Từ năm 1965, Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân dồn dập vào Nam VN, cũng là thời kỳ lửa máu dồn dập ở hậu phương . Ðây cũng là lúc ăn nên làm ra của những thông tín viên, ký giả ngoại quốc, qua những bài tường thuật , có kèm hình ảnh, không phải để phổ biến những sự thật, mà chỉ để tuyên truyền một chiều, nhằm bôi lọ những quân đội, đang trực diện với cọng sản Bắc Việt, trên chiến trường Nam VN. Có thể nói bài phóng sự chiến trường đầu tiên, của thông tín viên đài CBS tên Morley Safer, viết về cuộc hành quân của một đơn vị TQLC Mỹ, tại một làng xôi đậu, đã trở thành những mẫu thông tin ‘ ăn khách’ , theo đơn đặt hàng của thị trường Mỹ và Tây Phương lúc đó.

Cũng nhờ báo chí phản tuyên truyền, Tết Mậu Thân 1968, VC chết thảm khắp nơi, đã thành chiến thắng, chiếm được ngay cả Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Sài Gòn. Tàn nhẫn và đáng khinh tởm nhất, là báo chí Tây Phương, trong suốt cuộc chiến Nam VN, đã không hề một chữ tường thuật những hành vi khủng bố, giết người tàn bảo của VC trong trận Mậu Thân 1968 tại Huế, năm 1972 và những ngày cuối cùng tháng 4 đen 1975.

Từ ngày 21-1-1968 cộng sản Bắc Việt đã huy động hơn 20.000 cán binh chính qui để vây hãm căn cứ Khe Sanh, quyết tâm nhốt 6000 quân TQLC Hoa Kỳ và Tiểu Ðoàn 37 BDQ/VNCH vào trong một lòng chảo như chúng đã từng đánh bại quân Pháp năm 1954 tại Ðiện Biên Phủ. Nhưng cuối cùng căn cứ Khe Sanh vẫn đứng vững vì kỹ thuật quân sự mà Bắc Việt đã xài năm xưa tại Ðiện Biên Biên Phủ, nay đã bị Hoa Kỳ đánh bại tại Khe Sanh.

Tháng 6-1968 sau khi gần như toàn bộ cộng sản Bắc Việt đã tự ý hay bị đánh đuổi ra khỏi khu vự Khe Sanh thì người Mỹ cũng quyết định tháo gở và rút khỏi căn cứ này với lý do thật đơn giản ‘ Khe Sanh đã không có giá trị chiến lược và cần thiết ‘ khi quân cộng sản đã không còn khả năng tập trung như trước. Hơn nữa các đại đơn vị Mỹ như Sư Ðoàn 1Kỵ Binh Không Vận và SD101 Dù Mỹ đang trấn đóng tại Quảng Trị, có đủ quân số và khả năng lưu động để hành quân phản công bất kỳ ở đâu.

Thực tế vì muốn thu hút phiếu bầu trong kỳ tổng thống lần thứ 2, nên Johnson đã ra lệnh ngưng oanh tạc miền Bắc từ 31-3-1968, giúp cơ hội cho Hà Nội nhanh chóng bổ sung quân và tiếp tế cho cán binh tại Miền Nam mở cuộc tổng công kích đợt 2 vào các tỉnh thị của VNCH. Ngoài ra kế hoạch ‘ hàng rào điện tử Eye Marker ‘ của bộ trưởng quốc phòng Mc Namara tại đường ranh vỷ tuyến 17, cũng thất bại vì VC xâm nhập vào miền Nam bằng trục đường mòn thiết lập trên lảnh thổ Hạ Lào.

Tóm lại CSVN đã thành công về mặt tuyên truyền như chúng đã từng thu được năm 1954 tại bàn hội nghị Ðông Dương tại Geneve qua trận Ðiện Biên Phủ. Lần này lại dùng Khe Sanh để dương đông kích tây, tấn công vào lảnh thổ VNCH trong dịp tết Nguyên Ðán Mậu Thân 1968. Cộng Sản Hà Nội đã thất bại hoàn toàn tại Khe Sanh cũng như trận Tết Mậu Thân nhưng chúng cũng đã làm chậm lại hay phá vở kế hoạch của Tướng West sử dụng quân Mỹ đánh qua Lào để tiêu diệt con đường mòn HCM khi ông rời khỏi chức vụ.

Cuối cùng vì hậu quả của Khe Sanh và Tết Mậu Thân 1968, tổng thống Johnson không ra ứng cử nhiệm kỳ 2. Tháng 5-1970 qua thảm kịch đẳm máu tại đại học Kent State ở Ohio, đã khiến cho tổng thống Nixon không còn con đường lựa chon nào khác là phải rút quân và bỏ VNCH cho cộng sản quốc tế Hà Nội. Bắc Việt đã thua quân lực Mỹ và VNCH khắp các chiến trường nhưng chúng đã đánh bại chánh phủ Hoa Kỳ ngay tai Tòa Bạch Ốc và Ngũ Giác Ðài ở thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, trong cuộc chiến tranh VN vừa qua.

Với đầu óc lắt léo nói một đàng làm một ngã của ông Obama như mọi người đã thấy và nghe từ 10 ngày qua, nên sự kiện nhắc tới trận Khe Sanh (1967-1968) thời chiến tranh VN sẽ mang hàm ý ‘ ai muốn nghĩ sao củng được ‘ nghĩa là muốn xưng tụng thì cứ xưng tụng, còn chối bỏ thì cứ coi như đó là một bài học của nước Mỹ để rút kinh nghiệm tại Iraq và A Phú Hản.

Tuy nhiên đối với người tị nạn VN nhất là những người lính già còn sống sót, chúng ta phải cám ơn ông Obama đã nhắc tới địa danh Khe Sanh, để mọi người cùng hảnh diện về sự can trường của những chiến sĩ Tiểu Ðoàn 21 và 37 BDQ/VNCH suốt thời gian tham chiến bên cạnh quân lực Hoa Kỳ, chẳng những làm cho giặc cộng kinh hoàng bạt vía mà còn khiến cho người Mỹ cũng nể phục và ngưởng kính QLVNCH.-/-

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng Giêng 2009
Mường Giang

Thursday, August 16, 2018

Người Mỹ nghèo
  
Huy Lâm 


Nếu có dịp tới những khu thương xá, nhà hàng, hay nói chung là những nơi ăn chơi vào những lúc cuối tuần, thì lúc nào ta cũng thấy người đông đúc, nhộn nhịp. Nhìn cảnh tấp nập ấy chắc hẳn ai trong chúng ta cũng sẽ có ngay nhận xét là cuộc sống của người Mỹ có vẻ khá giả, sung túc, và vì vậy mới dám tiêu xài thoải mái như thế. Câu chuyện dưới đây sẽ cho chúng ta có cái nhìn khác hẳn, và trên thực tế, người Mỹ nghèo hơn chúng ta tưởng.

Kể từ năm 2013, hội đồng quản trị của Ngân hàng Dự trữ Liên bang vẫn thực hiện cuộc khảo sát hàng năm để theo dõi tình trạng tài chánh và kinh tế của người tiêu thụ ở Mỹ. Hầu hết các dữ liệu thâu thập gần đây cho thấy nhiều người Mỹ vẫn tin vào một tương lai xán lạn hơn: 49 phần trăm những người đi làm bán thời gian thích được làm thêm giờ với mức lương hiện tại của họ; 29 phần trăm người Mỹ đoán rằng họ sẽ được tăng lương trong năm tới; 43 phần trăm những người làm chủ căn nhà của họ ít nhất trong một năm tin rằng giá trị căn nhà của họ có tăng phần nào. Tuy nhiên có một câu hỏi trong cuộc khảo sát với kết quả làm nhiều người hoang mang. Ngân hàng Dự trữ đưa ra câu hỏi cho người tham gia cuộc khảo sát là họ sẽ thanh toán bằng cách nào cho món tiền $400 trong trường hợp khẩn cấp. Có tới 47 phần trăm những người tham gia nói rằng họ sẽ phải trả số tiền đó bằng cách đi vay hay bán món đồ gì đó trong nhà, hoặc là họ sẽ đủ khả năng để có được món tiền $400 ấy. Đây là món tiền không nhỏ nhưng cũng không quá lớn vậy mà gần một nửa số người Mỹ không có sẵn trong trương mục ngân hàng hay cất giấu ở đâu đó. Câu hỏi là tại sao nhiều người Mỹ lại ra đến nông nỗi này?

Bởi vì không ai nói ra nên ít ai nghĩ rằng hiện có hàng triệu người Mỹ đang gặp cảnh khó khăn về tài chánh, và không chỉ ở những tầng lớp nghèo nhất, tức những người phải vật lộn để có được hai bữa cơm đầy đủ cho gia đình. Theo khảo sát của Ngân hàng Dự trữ, tình trạng này còn xảy ra ngay cả trong tầng lớp trung lưu với những người có công việc làm chuyên môn. Nó không chỉ xảy ra cho những người sắp tới tuổi về hưu mà luôn cả với những người trẻ vừa mới bước vào đời; không chỉ với những người có bằng cấp đại học mà luôn cả những người không học hết bậc trung học. Nó xảy ra cho đủ mọi tầng lớp trên khắp nước Mỹ, kể cả những nơi ít ai ngờ nhất. Nhiều người nghĩ rằng chắc chỉ mình họ là không có sẵn $400 để tiêu dùng trong những lúc khẩn cấp, nhưng không ngờ là chung quanh họ cũng lại có nhiều người Mỹ khác cũng đang gặp tình trạng là không có tiền như họ.

Nếu như một người có được một công việc làm ổn định với mức lương kha khá và thu nhập đều đặn, thì thường công việc đó không làm cho người ta trở nên giàu có, nhưng ít ra cũng mang lại một cuộc sống đầy đủ và được xã hội xếp vào tầng lớp trung lưu. Thế nhưng, với kết quả của cuộc khảo sát trên thì rất đông những người được gọi là giới trung lưu này lại đang rất chật vật về tài chánh nhưng chẳng ai dám nói ra. Thiếu thốn tiền bạc là nỗi khổ tâm khó nói vì tâm lý chung không ai lại tự đi khai với bàn dân thiên hạ là mình nghèo cả. Người ta có thể vạch áo để thiên hạ thấy được những điều riêng tư gì khác chứ nghèo thì chỉ riêng mình biết. Và vì vậy, giữ im lặng là sự lựa chọn tất nhiên.

Từ lâu, trong các cuộc nghiên cứu của các kinh tế gia vẫn dựa trên lý thuyết cho rằng con người ta cân bằng cuộc sống của họ bằng cách lấy những năm sung túc đắp đổi sang những năm thiếu thốn – nghĩa là người ta tìm cách để dành tiền và trả nợ trong những năm sung túc và mượn tiền trong những năm thiếu thốn để đắp đổi cho qua lúc chật vật. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy là khi người ta bỗng dưng nhận được một món tiền – có thể là món tiền thưởng, tiền đóng thuế dư được trả lại, hoặc là tiền từ của hồi môn do cha mẹ để lại – thường thì người ta tiêu xài ngay chứ không để dành. Lý do có thể là vì những người này không có dư dả tiền bạc, hay nói cách khác, là họ đang thiếu tiền. Trên thực tế, hiện có rất nhiều người Mỹ đang sống trong tình trạng luôn luôn túng thiếu, tuy không hẳn đói khát, nhưng cuộc sống của họ bị lệ thuộc vào số tiền lương mỗi tuần để đắp đổi cho những món chi tiêu cần thiết trong cuộc sống.

Tình trạng túng thiếu này được các nhà nghiên cứu gọi bằng nhiều tên khác nhau: bất ổn tài chánh, bấp bênh tài chánh, khó khăn tài chánh. Nhưng cho dù người ta gọi bằng tên gì đi nữa thì bằng chứng cho thấy một con số không nhỏ người Mỹ sống trong tình trạng eo hẹp về tài chánh. Một cuộc khảo sát của công ty dịch vụ tài chánh Bankrate năm 2014 có cùng kết quả tương tự như của Ngân hàng Dự trữ cho biết chỉ có 38 phần trăm người Mỹ có khả năng để trả $1,000 nếu phải vào phòng cấp cứu của bệnh viện hay $500 để sửa xe với số tiền trong trương mục tiết kiệm. Hai bản phúc trình của viện nghiên cứu Pew cho biết có tới 55 phần trăm gia đình Mỹ không đủ tiền tiết kiệm để chi tiêu trong một tháng nếu như bất ngờ bị mất việc, và 56 phần trăm người Mỹ nói rằng họ từng lo lắng về tiền bạc trong năm trước đó, 71 phần trăm lo ngại không có đủ tiền trang trải cho các chi tiêu mỗi ngày. Với kết quả khảo sát trên ta có thể kết luận rằng: khoảng 50 phần trăm người Mỹ sống trong tình trạng “bấp bênh tài chánh”.

Năm 1978, qua một vụ án có liên quan đến ngân hàng và Tối cao Pháp viện đã đưa ra phán quyết không bắt buộc ngân hàng phải có giới hạn về phân lời trong các loại thẻ tín dụng. Nhờ phán quyết này mà các ngân hàng sau đó đã đua nhau cấp thẻ tín dụng cho người tiêu thụ khắp nơi với bất cứ phân lời cao thấp thế nào mà họ muốn, và đã mở đường khuyến khích các ngân hàng nhắm vào những người tiêu thụ cả tin và dễ bị dụ nhất. Đến khoảng giữa thập niên 1980, các món nợ thẻ tín dụng ở Mỹ bắt đầu tăng cao. Đồng thời kinh tế nước Mỹ tương đối ổn định trong một thời gian khá dài, và người ta tiêu xài thả cửa, không đủ thì mượn trước thẻ tín dụng mà không lo sợ là nợ nhiều quá sau này không trả nổi.

Do tiêu xài nhiều nên ít người chịu cất tiền. Thêm nữa là thẻ tín dụng sẵn đó, muốn có bao nhiêu ngân hàng cũng sẵn sàng cấp cho nên nhiều người Mỹ thấy không cần thiết phải để dành tiền làm gì. Nói cách khác, tiền nợ thì tăng mà tiền tiết kiệm thì giảm. Tỷ lệ tiền tiết kiệm cá nhân đạt mức cao nhất là 13.3 phần trăm (so với tổng số thu nhập) vào năm 1971 và sau đó rớt dần xuống chỉ còn 2.6 phần trăm năm 2005. Năm 2015, con số này là 5.1 phần trăm, và có tới gần 30 phần trăm người Mỹ không để tiền vào trong những quỹ hưu bổng. Khi ta làm một con tính gộp những món nợ cao với tiền tiết kiệm thấp vào chung với nhau thì ta có ngay đáp số là nhiều người Mỹ không có khả năng tài chánh để trang trải trong những lúc khẩn cấp.

Vậy thì lỗi ở ai đây? Một số kinh tế gia cho rằng mặc dù ngân hàng có thể đã lạm dụng việc cấp phát thẻ tín dụng, nhưng dù sao đi nữa thì chính giới tiêu thụ là người quyết định tăng tiền nợ thẻ tín dụng, bớt tiền tiết kiệm đi, và không tính đến việc phòng hờ những khi khẩn cấp. Nếu muốn có được sự bảo đảm về tài chánh thì trách nhiệm là ở mỗi cá nhân chứ không thể nhờ cậy hay đổ lỗi cho ai khác cả.

Trong bản phúc trình năm 2010 có tựa đề “Tầng lớp trung lưu ở Mỹ”, Bộ Thương mại Hoa Kỳ định nghĩa về tầng lớp trung lưu mà mới thoạt nhìn qua thì thấy những điều này nên được xem là nguyện vọng của người dân thay vì là mức độ kinh tế trong thực tế đời thường: được làm chủ căn nhà, một chiếc xe cho mỗi người lớn, sức khoẻ tốt, mỗi đứa con trong nhà được đi học đại học, quỹ hưu trí được bảo đảm, và mỗi năm cả nhà được đi nghỉ mát ít nhất một lần. Một bản phân tích của nhật báo USA Today năm 2014 đưa ra kết luận về giấc mơ Mỹ, nếu dựa trên những yếu tố tiêu chuẩn về giới trung lưu do Bộ Thương mại đưa ra, thì đòi hỏi một gia đình gồm bốn người phải có thu nhập trên $130,000 một năm thì mới đủ. Thu nhập trung bình của một gia đình ở Mỹ năm 2014 chỉ vào khoảng nửa số đó.

Nhưng cho dù thế nào thì cuộc sống vẫn cứ tiếp diễn và những điều không như ý vẫn cứ xảy ra đôi khi. Món tiền $400 cho trường hợp khẩn cấp không phải nhiều nhưng không hẳn là người Mỹ nào cũng có sẵn. Trên thực tế, những trường hợp khẩn cấp luôn luôn xảy ra với chúng là một phần tự nhiên của đời sống. Các nhà cố vấn tài chánh vẫn khuyên là ráng làm sao để dành được ít nhất 10 đến 15 phần trăm thu nhập cho quỹ hưu trí và phòng hờ cho những tình huống bất ngờ. Tuy nhiên, lý do chính nhiều người Mỹ không để dành được chút tiền cho những ngày mưa gió là vì chính họ đang phải vật lộn với cơn bão cuộc sống mỗi ngày rồi. Dường như mỗi ngày đều có những chuyện bất cập xảy ra – cái bếp lò không cháy lửa, chiếc xe không nổ máy, vòi nước bị rỉ. Và đó chỉ là những chuyện nhỏ nhặt. Theo một cuộc thăm dò của viện Pew – có những chuyện lớn khác như phải vào bệnh viện, người phối ngẫu qua đời, mất việc – mà sau khi xảy ra, hơn một nửa người Mỹ đã phải chật vật để có được hai bữa cơm đầy đủ mỗi ngày.

Người Việt chúng ta có những câu tục ngữ: “Năng nhặt chặt bị” hay “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm” – có thể xem là những bài học vàng ngọc cho cuộc sống. Trong cộng đồng người Việt nói chung, số người luôn gặp cảnh khó khăn tài chánh dường như cũng ít hơn người Mỹ mặc dù phần thu nhập của người mình có lẽ không bằng người Mỹ. Phải chăng vì người Việt chúng ta biết khéo léo thu vén cho cuộc sống giống như câu tục ngữ ở trên chăng? 

Huy Lâm

Wednesday, September 8, 2021

Từ Sài Gòn Đến Kabul 

Nguyễn Văn Tới
NÚI NON HÙNG VĨ TUYỆT ĐẸP. CĂN CỨ BAGRAM THÁNG 12 KHI TRỜI VỪA TỐI
MỘT CHIẾC F-16 CẤT CÁNH TỪ PHI TRƯỜNG BAGRAM

Việt Nam mình có câu “Kiếm củi 3 năm, thiêu chỉ một giờ”. Nước Mỹ mất 20 năm ở Afghanistan, tiêu phí hơn 2 ngàn tỷ đô la (2.26 trillions) trong đó gồm 83 tỷ đô la để huấn luyện, trang bị cho quân đội của họ, và tiền dân Mỹ đóng thuế để xây dựng cở sở hạ tầng, nhà ở, và các công trình công ích cho người dân nước này, nhưng chỉ mất 2 tuần để Kabul sụp đổ. Theo tạp chí Forbes, trung bình, một ngày nước Mỹ phải chi $300 triệu đô la trong vòng 20 năm đóng quân trên đất nước này. (1) Khi quân đội Mỹ rút về nước, quân đội và trước tiên là chính phủ Afghanistan bỏ chạy trốn như đàn vịt hoảng loạn trước bầy chó sói.

Tuần vừa qua, mọi người đều ngỡ ngàng và đau buồn, không tin vào những gì đang xảy ra trên đất nước Afghanistan. Cảnh tượng này gợi nhớ lại ngày 30-4-1975 tại Sài Gòn, miền Nam Việt Nam. Hai bối cảnh ở hai đất nước khác nhau, nhưng có cùng một kết cục thảm hại như nhau. Hình như người Mỹ vẫn chưa học được bài học lịch sử từ sự thảm bại ở Việt Nam. Nhà văn và cũng là triết gia George Santayana có nói “Ai không học được từ lịch sử, sẽ bị thảm bại bởi lịch sử, vì lịch sử luôn lập lại” (2). “Those who do not learn history are doomed to repeat it”.

Bọn khủng bố nhân cơ hội hoảng loạn, chúng đánh bom tự sát giết chết 13 người lính Mỹ và gần 160 thường dân Afghanistan. Giờ mình có dùng Drones để oanh tạc giết chết bọn chúng như thế nào đi nữa cũng không làm sống lại được những người lính Mỹ hy sinh vô ích trong giờ phút cuối cùng. Sự việc đã rồi. “Fait accompli”. Cũng qua màn ảnh, chúng ta thấy 2 người thường dân rơi xuống đất khi chiếc phi cơ vận tải C-17 vừa cất cánh với khoảng 640 thường dân Afghanistan khi chưa ra khỏi phi trường Kabul. Chiếc vận tải cơ này có thể chở được 170,900 lbs, tương đương với 77,519 Kg. Như vậy nó không hề bị quá tải. Hai người rơi xuống, tôi chắc là họ trốn trong khoang bánh đáp, khi càng máy bay gập lại, họ bị nghiền nát và rơi xuống đất. Sự việc chứng tỏ họ tuyệt vọng đến cùng cực.

Tôi bàng hoàng, rung động, và như một khúc phim quay chậm đưa tôi trở về cuộc chạy loạn của gia đình tôi trên tử lộ 7B, khúc sông Ba gần Tuy Hòa. Lúc đó, Việt cộng bắn giết thường dân di tản một cách bừa bãi, ai nấy hoảng sợ, cuống cuồng tìm đường thoát thân. Một chiếc trực thăng Chinook của không quân Việt Nam Cộng Hòa đáp xuống bãi cát bồi giữa sông cố gắng cứu được người nào hay người đó. Ba anh em tôi lội nước, chạy về phía chiếc trực thăng và tìm cách nhảy lên. Khi vào bên trong, tôi đưa mắt kiếm thằng em kế. Không thấy nó. Nhìn về phía tấm bửng đằng sau máy bay, tôi cố tìm trong đám đông lố nhố những cái đầu, những cánh tay đang cố bám vào chiếc máy bay Chinook khi nó đang cố nâng dần cao độ một cách khó khăn vì quá tải, quá nhiều người bám theo. Những gương mặt mệt mỏi, hoảng sợ, cố hết sức mình, nhưng đuối sức, họ đã buông tay rớt xuống. Em tôi cũng đang cố hết sức bám thật chặt tay mong trườn mình được vào bên trong máy bay. Tôi cố chen ra để giúp nó một tay, nhưng người quá đông chặn lối đi. Tôi như chết đứng khi nhìn em mình buông lỏng tay rơi xuống, tôi chỉ biết khóc, không làm gì được vì tin chắc nó sẽ chết như những người bị rớt mà tôi đã nhìn thấy trong những chuyến trước đây.

Sau này gặp lại nó ở trại tiếp cư Tuy Hòa, anh em ôm nhau khóc vì mừng thấy nó còn sống. Nó cho hay nhờ rớt xuống nước ở độ cao không cao lắm nên nó thoát chết. Hơn ai hết, tôi xúc động và bàng hoàng khi thấy lại thảm cảnh của 46 năm về trước đang hiển hiện trở lại. Người dẵm đạp lên nhau, chen chúc trên những chiếc phi cơ quá tải mong kiếm đường thoát ra khỏi một chế độ vô nhân đạo.

Cho dù bạn ủng hộ đảng phái Cộng Hòa hay Dân Chủ, cho dù quan điểm của bạn về cuộc chiến Afghanistan có khác với tôi như thế nào đi nữa, tôi tin rằng bạn và tôi cùng đồng ý với nhau là cái kết cuộc đáng lẽ không xảy ra như thế này vì chúng ta đã không chịu chuẩn bị kỹ càng. Tổng thống Richard Nixon đã từng hứa với miền Nam Việt Nam, họ sẽ trả đũa nếu miền Bắc cộng sản vi phạm hiệp định Paris. Chuyện đó đã không bao giờ xảy ra dù cộng sản miền Bắc vẫn cứ tiếp tục vi phạm nhiều lần. Ngày nay nước Mỹ hứa gì với đồng minh Afghanistan mà để cho Taliban ngang nhiên bước vào Kabul khủng bố chính người dân của họ. Rồi đây chúng ta có thể thấy được ít nhất một vài thế hệ người dân Afghanistan sẽ chìm trong tăm tối của khổ đau.

Tôi thường được đi theo nhiều chiến dịch khác nhau của quân đội Mỹ ở vùng Trung Đông để hỗ trợ về kỹ thuật trong nhiều năm và ở các đất nước khác nhau. Đặc biệt tôi đã từng đến Afghanistan rất nhiều lần ở hai căn cứ Kandahar, thành phố lớn thứ nhì, và Bagram, một căn cứ quân sự lớn nhất ở nước này và cũng lớn nhất ở vùng Trung Đông. Căn cứ này nằm trên một vùng cao nguyên phía Đông Bắc Afghanistan, là nóc nhà để nhìn xuống đất nước này. Phía Đông căn cứ là những dãy núi sừng sững tuyệt đẹp, phía Tây gần với vùng dân cư thành phố Parwan. Trại được bao quanh bằng tường thành cao, rất vững chắc và được trang bị mạnh mẽ đủ sức đứng vững một mình một thời gian rất dài. Đường phi đạo dài khoảng 13,000 feet dư sức cho tất cả các loại vận tải cơ hặng nặng đáp và cất cánh. Căn cứ lớn như một thành phố có đủ đường xá, phương tiện để người lính sống thoải mái. Bọn Taliban đã nhiều lần tấn công mà chưa làm gì nổi.Tôi làm việc sát cánh với lính Mỹ nên ít nhiều tôi biết quân đội Mỹ hùng hậu đến mức nào, vì vậy tôi có những cái nhìn của riêng của cá nhân tôi dựa vào những gì mắt thấy tai nghe tại những chiến trường ở đây.

Tôi không đứng trên lập trường đảng phái nào cả, tôi chỉ muốn nói lên suy nghĩ, cảm nhận của một công dân Mỹ vì lợi ích của nước Mỹ, khi nhìn thấy những gì đang xảy ra ở Afghanistan, nó gợi lại những hình ảnh 46 năm trước ở Sài Gòn, lúc đó tôi là cậu thiếu niên 17 tuổi. Hình ảnh ngày 30 tháng 4 vẫn mãi mãi là hình ảnh không bao giờ tôi quên được khi miền Nam thân yêu của tôi bị cộng sản xâm chiếm. Những tang thương, mất mát, trại tập trung, tù tội gây ra bởi cái chủ nghĩa vô nhân đạo được so sánh với bọn Taliban hiện nay.

Trải qua nhiều năm lăn lộn ở vùng Trung Đông, đặc biệt là ở Afghanistan, tôi thấy nước Mỹ càng ngày càng sa lầy vào cuộc chiến vô nghĩa. Đáng lẽ Mỹ phải rút quân ngay sau khi giết được tên trùm khủng bố, nhưng họ đã không làm. Bây giờ họ mới quyết định rút quân, tuy muộn vẫn còn hơn không. Đây là chính sách của nước Mỹ chứ không phải của Tổng thống Trump đảng Cộng Hòa hay của TT Biden đảng Dân Chủ, vì cuộc chiến đã tiêu tốn biết bao tiền bạc đóng thuế của dân Mỹ và hơn 2300 sinh mạng của lính Mỹ. Tôi tin rằng bạn và tôi đều đồng ý với quyết định này. Phải đến lúc kết thúc cuộc chiến và rút quân về nước. Nước Mỹ dù là một nước rất quân tử, hay giúp người, cũng không thể nào hy sinh vì sự trường tồn của một dân tộc khác.

Học giả Warren Bennis là một giáo sư của trường UCLA và cũng là một cố vấn an ninh cho 4 đời tổng thống Mỹ bao gồm TT John F. Kennedy và TT Ronald Reagan. Câu trích dẫn nổi tiếng của ông về người lãnh đạo là người có khả năng đưa tầm nhìn trở thành hiện thực. "Leadership is the capacity to translate vision into reality”. Đồng thời ông cũng đưa ra cái khác biệt giữa khả năng lãnh đạo và khả năng quản lý như sau: Quản Lý là làm việc cho đúng và Lãnh Đạo là làm cho đúng việc. “Management is doing things right. Leadership is doing the right things”. Trong tình hình hiện nay, nước Mỹ cần xoay trục qua Đông Nam Á để kềm thói hung hăng của Trung Quốc, việc rút ra khỏi Afghanistan là quyết định đúng đắn. Không nước nào đủ tài lực có thể dính vào một lúc hai cuộc chiến. Là công dân Mỹ và cũng là người đi sát bên với quân đội, tôi có thể thấy điều đó một cách rõ ràng, tôi hoàn toàn đồng ý với tầm nhìn và chính sách của chính phủ Mỹ cho dù với bất cứ nội các của tổng thống nào.

Đáng lý ra nước Mỹ nên rút ra khỏi Afghanistan sớm hơn ngay sau khi đã trừ khử được tên Bin Laden. Nhưng rút lui mà không có kế hoạch rõ ràng và chắc chắn, cứ đưa ra một dấu mốc thời gian mà không hề có một sự chuẩn bị chu đáo nào thì đúng là hành động tự bắn vào chân mình. Nước Mỹ có 8 tháng để chuẩn bị, để biến tầm nhìn xa thành hiện thực, để người lãnh đạo làm đúng việc và các người thừa hành làm việc cho đúng; vậy mà gần đến giờ rút quân lại để xảy ra cảnh hỗn loạn, chạy nháo nhào, dẵm đạp lên nhau. Cứ “Cut and Run” Bỏ và Chạy như nước Mỹ đang làm trong 2 tuần qua, thật là một hành động không thể chấp nhận được. Lỗi này là do nội các của TT đương nhiệm không chịu chuẩn bị và nhất là không chịu nghiên cứu, học hỏi từ kinh nghiệm trong cuộc chiến Việt Nam. Đến khi chết chóc xảy ra, TT đương nhiệm đổ lỗi cho người tiền nhiệm và đổ lỗi tại chính phủ Afghanistan tham nhũng. Người Mỹ đã dư biết họ như vậy mà vẫn không có một phương cách nào để đề phòng.

Gặp gỡ và nói chuyện nhiều với những người thông dịch viên Afghanistan, tôi mới hiểu thêm rất nhiều về dân tộc họ và biết rằng chính phủ Afghanistan là một chính phủ tham nhũng lan tràn từ cấp thấp cho đến cấp cao, mức độ nào họ cũng có thể ăn hối lộ được, chỉ có người dân thấp cổ bé miệng là khổ. Người Mỹ biết rất rõ nhưng vẫn không làm gì hết. Bản thân chúng tôi khi ra vào đất nước này, cũng phải đóng cho những nhân viên hải quan đủ thứ tiền, mà phải bằng tiền đô la Mỹ, mệnh giá 100 đồng mới tinh, cũ hoặc dính 1 vết mực, họ không nhận và không chịu ký giấy và đóng mộc. Nói để thấy rằng chúng ta, người Mỹ, hy sinh tiền bạc, xương máu cho họ, thật không đáng chút nào. Rút ra khỏi đất nước này là đúng và là một việc phải làm ngay.

Khi làm việc bên đó, tôi biết căn cứ nào cũng có những chuyên viên phân tích tình báo hằng ngày và viết báo cáo gởi về cho bộ tư lệnh Centcom, đặc biệt cho bộ trưởng quốc phòng và cho tổng thống. Dù biết bọn Taliban đang chuyển quân hằng ngày mà nội các của tổng thống đương nhiệm vẫn lên TV và cho rằng sẽ không có chuyện gì trầm trọng và đáng tiếc sẽ xảy ra. Các vị này quá lạc quan cho rằng quân đội Afghanistan có 300,000 quân trong khi Taliban chỉ có 75,000 quân, làm sao mà quân chính phủ thua được. Họ thừa biết đa số quân đội chính phủ Aghanistan là lính ma (Ghost soldiers), tổng số là 300,000 nhưng con số thực thụ chỉ khoảng 90,000 lính, mà những người lính này gia nhập quân đội chỉ để lãnh lương, chứ hoàn toàn không có tinh thần chiến đấu.

Tháng 11 năm ngoái, năm 2020, khi tôi vẫn còn ở tại căn cứ Bagram. Chúng tôi được lệnh gói ghém tất cả trang thiết bị chuẩn bị gởi về Mỹ và sẵn sàng rút lui khỏi Afghanistan bất cứ khi nào có lệnh. Trong lúc chuẩn bị, chúng tôi vẫn được phép mang vũ khí theo mỗi khi có nhiệm vụ bay, khi trở về, dưới hai bên cánh không còn đeo một trái hỏa tiễn nào, tức là đơn vị chúng tôi vẫn bắn khi cần thiết. Năm nay, tôi đến làm việc ở căn cứ Al Asad, Iraq từ đầu tháng 3 cho đến cuối tháng 7, tôi vẫn thường xuyên liên lạc với các bạn bè ở Bagram, Afghanistan, họ cho hay, khi bay, họ không còn được mang theo hỏa tiễn, đồng nghĩa với không được bắn, chỉ làm nhiệm vụ quan sát mà thôi. Đánh đấm mà không được bắn giống y như cuộc chiến Việt Nam, không quân Mỹ đánh nhau với cộng sản mà chỉ được oanh tạc những mục tiêu đã định trước chứ không được tự do chọn mục tiêu theo ý mình. Đánh nhau kiểu này giống như võ sĩ thượng đài mà bị trói một tay ra đằng sau.

Bất cứ lúc nào, Mỹ vẫn có một lực lượng không quân rất mạnh, có thể can thiệp khi cần thiết để chặn bước tiến bọn Taliban. Tại sao không dùng? Chứng tỏ là chính phủ đương nhiệm Mỹ tuy được phúc trình tình hình cụ thể từng ngày, nhưng quá chủ quan, lịch sử lập lại lần thứ hai giống với cuộc chiến Việt Nam và có thể còn tệ hại hơn. Ngày 1 tháng 7, 2021, tại căn cứ Bagram, quân đội Mỹ giao quyền điều hành cho quân đội Afghanistan; ngày 15 tháng 8, 2021, những người linh Mỹ còn lại, tắt đèn, lặng lẽ rời Bagram, không một lời nói với quân đội Afghanistan. Lệnh này đến từ ai? Đến bây giờ tôi vẫn tin rằng nếu chúng ta vẫn ở lại với quận đội Afghanistan trong trại Bagram để cùng họ hỗ trợ cho ngày rút quân bằng những phi vụ bay hành quân, do thám, kể cả can thiệp khi cần thiết, thì tình hình rút quân đã không bị tệ hại như hôm nay. Tôi xin nhường câu trả lời cho bạn đọc. Sự việc ảnh hưởng ghê gớm lên tinh thần người lính Afghanistan, họ cảm thấy bị bỏ rơi ngay từ giây phút đó. Còn các đồng minh của Mỹ thì sao? Tất cả đều mất lòng tin nơi cách hành xử của quân đội Mỹ. Sau này nước nào dám liên minh với Mỹ trong những trận chiến tương lai?

Nhìn những tên Taliban chiếm lĩnh dinh tổng thống Afghanistan, bọn man rợ đó ngồi lên những chiếc ghế bành thật đẹp mà co hai chân lên kiểu nước lụt, làm tôi nhớ đến những tên cán binh cộng sản Việt Nam từ rừng rú chui ra, cũng ngồi cùng một kiểu khi chúng vào dinh Độc Lập ngày xưa trong khi bọn khác rửa chân ở bồn nước phun trong sân trước của dinh tổng thống. Đám rừng rú chiến thắng xã hội văn minh, giống như đám Taliban, trong thế kỷ 21 mà cai trị dân của họ bằng cái thứ luật lệ dã man của thế kỷ thứ 7, được gọi là luật Hồi Giáo Sharia, bộ luật thời con người còn chưa biết văn minh là gì. Giờ này, bọn man rợ đang cười nói nhăn nhở và hò hét ngay nơi tôi đã từng sống năm ngoái, lòng tôi bùi ngùi như vừa mất đi một cái gì quý giá lắm. Chúng đang đi từng nhà lùng kiếm những người làm việc cho chế độ cũ, y như cộng sản đã từng lùng sục những người thuộc phe thua trận của miền Nam. Việt Nam đã tắm trong máu, trong nhục nhằn khổ ải, trong hàng chục năm tăm tối, trong chết dần chết mòn ở các trại tù, trại tập trung; tương lai người dân Afghanistan cũng sẽ như vậy thôi. Bọn Taliban còn tàn bạo hơn nếu không muốn nói là ngang với cộng sản. Cả hai đều chủ trương bắt người dân phải sống trong sợ hãi, phải giết, phải khủng bố người dân để dễ bề cai trị.

Có nhiều điều vô lý vẫn xảy ra hằng ngày trên vùng đất Trung Đông luôn bất ổn này mà bản thân tôi cũng cảm thấy hoang mang vì chúng quá mâu thuẫn với nhau. Ngày 2 tháng 1 năm 2020, khi quân đội Mỹ giết chết tên tướng Suleimani của Iran bằng máy bay không người lái, ngay khi đoàn convoy của hắn vừa ra khỏi phi trường Bagdad. Tên này là người cung cấp tiền bạc và vũ khí cho đám dân quân Iraq để chúng bắn vào các căn cứ của Mỹ ở nước này.

Sau biến cố đó, tôi đến Bagdad và thấy họ lập 1 tượng đài ghi công tên tướng Iran này ngay trong thủ đô Bagdad. Xe di chuyển quá nhanh và cũng vì vội vàng nên tôi chụp hình bị mờ đi nhưng cũng vẫn còn thấy được 2 chiếc xe hư hại nằm ngay trên một bệ xi măng cao để mọi người có thể chiêm ngưỡng, cạnh đó là hình của hắn và dòng chữ “Đây là tội ác của khủng bố Mỹ”. Here is the crime of American terrorism. Tôi không thể tin được người Iraq lại nhớ ơn 1 tên khủng bố Iran giết hại lính Mỹ và dân Mỹ ngay trên đất nước của họ trong khi nước Mỹ vẫn đang cung cấp tiền bạc, vũ khí, kể cả mạng sống của lính Mỹ để bảo vệ đất nước này.
ĐÀI TƯỞNG NIỆM CÁI CHẾT CỦA TÊN TƯỚNG KHỦNG BỐ IRAN

VÀ GIÒNG CHỮ CHỐNG MỸ KẾ TƯỢNG ĐÀI, NGAY TRONG LÒNG THỦ ĐÔ BAGDAD.

Đến giờ tôi vẫn không thể tin những gì đang diễn ra trước mắt mình. Đám dân chen chúc, hỗn loạn, dẵm đạp lên nhau dành lấy một chỗ trên máy bay. Người Mỹ không bao giờ có thể nghĩ một chuyện vô lý như vậy lại có thể xảy ra. Các đồng minh mất lòng tin nơi cường quốc số một của thế giới. Tôi tin rằng sau Afghanistan, sẽ đến phiên Iraq. Nước Mỹ sẽ dần rút ra khỏi Trung Đông vì không muốn hy sinh xương máu con em mình cho những đất nước xa xôi chẳng có liên hệ hoặc lợi lộc gì đối với người Mỹ. Khi nói đến chiến tranh là luôn luôn có những điều tàn bạo, những nghịch lý không giải thích nổi. Tôi chỉ mong sao người dân Afghanistan qua được cơn ác mộng kinh khủng này để sẽ không phải chìm vào hàng trăm năm tăm tối như những gì đã và đang xảy ra tên quê hương tôi.

Nguyễn Văn Tới

REFERENCES:

Friday, January 10, 2020

QUYỀN LỰC VÀ NHÂN TÂM
Con người trong kiếp nhân sinh thường mãi ngộ nhận, hoài nghi. mộng mơ, ảo tưởng, nhưng mạnh mẽ và hấp dẫn nhất vẫn là ham mê quyền lực.
Con người có quyền lực mà không có nhân tâm thường khó thu phục lòng người.
Làm thế nào để phân biệt được giá trị của quyền lực và nhân tâm khi con người hoàn toàn có đầy đủ quyền lực ?
Tự ngàn xưa những vị vua cai trị có nhân tâm thì con dân sống trong ấm no hạnh phúc. Nhưng lãnh đạo mà vô lương tâm thì những cảnh tang thương hồ hãi trong cuộc sống dân chúng càng ngày càng tồi tệ.
Con người trong cuộc sống khóc nhiều hơn cười, cơ cực lầm than nhiều hơn ấm no hạnh phúc. Nói chung là sống đó nhưng như đã chết rồi. Cứ xem cuộc sống của con dân miền Bắc dưới thời Hồ Chí Minh lãnh tụ ở miền Bắc thì thấy rõ "cụ Hồ" bất nhân tâm chừng nào. Con dân sống cam chịu nghèo đói trong cảnh im lặng. Mọi người đều cảm nhận cái chết trong sự sống trong cùng một im lặng. Đó không còn có tình người.
Mới đây khi Iran bắn hoả tiễn vào những căn cứ của Mỹ ở Iraq để trả thù việc Mỹ bắn hạ tên thủ lãnh giết người Mỹ ở Iran thì chính trường Mỹ xảy ra việc tranh dành quyền lực.
Bà Nancy Pelosi Chủ tịch Hạ Viện đã bày ra đủ trò để hạ bệ TT Trump hầu mở đường cho một Chủ Nghĩa Xã Hội tại đất nước này.
Bà Nancy Pelosi, D-Calif đã dùng sức mạnh của đảng Dân Chủ đang cố gắng trói tay TT Trump trước việc tấn công của Iran vào căn cứ quân sự của Hoa Kỳ tại Iraq.
Bà tuyên bố Hạ Viện sẽ có một cuộc bầu cử để hạn chế quyền lực của TT Trump trong việc có chiến tranh với Iran.
Do tranh chấp về quyền lực giữa hai bên, không rõ liệu cuộc bỏ phiếu hôm thứ Năm sẽ là một bước tiến để trói tay TT Trump không cho can thiệp vào Iran hay là một cử chỉ mang tính phe đảng của phía Dân chủ.
Trong khi đó, Đảng Cộng Hòa cho biết nghị quyết này do đảng Dân Chủ biểu quyết là một loại nghị quyết đặc biệt không có chữ ký của tổng thống - không có hiệu lực pháp luật. Đảng Dân chủ nói rằng theo Đạo luật Quyền lực Chiến tranh năm 1973, nó sẽ có giá trị ràng buộc nếu cũng được Thượng viện phê chuẩn.
Như vậy Bà Pelosi đã biết mọi việc cũng phải cần thông qua Thượng viện nhưng bà vẫn ầm ỉ tuyên bố giới hạn quyền lực của TT Trump.
Cũng giống như bà vội vã kết thúc việc truất phế TT Trump trước khi lễ giáng sinh đến. Ấy vậy mà cho đến nay bà cũng không chịu chuyển qua Thượng nghị viện. Trong khi đó. bà Pelosi lại than van là Thượng viện không "fair". Bà đòi hỏi Thượng viện phải công bằng trong khi bà xử án TT Trump, đòi truất phế ông ta trong một phòng họp dấu kín, không có luật sư biện hộ và cũng không có sự hiện diện của nhân chứng và bị can. Mấy ông bà Dân chủ họp kín, họp hở rồi đùng một cái tuyên bố Impeach TT Trump.
Cũng như trong việc Mỹ giết tướng lãnh Iran Qassem Soleimani người đã gây thương vong cho trên 600 quân nhân Mỹ bị tại Iraq và cũng là kẽ gây chiến tranh ở Trung Đông, bà Pelosi và đảng Dân Chủ cùng bọn truyền thông thiên tả lên tiếng bao che cho Soleimani và đòi trói tay TT Trump can thiệp vào Iran bằng một cuộc bỏ phiếu trong Hạ viện.
Trong một hành trình tiến đến Baghdad để điều khiển việc xâm chiếm tòa Đại Sứ Mỹ tại đây Soleimani đã bị máy bay không người lái oanh kích chết banh xác. Đảng Dân Chủ cho rằng giết Tướng Quassem Solemani là khiêu khích và không tương xứng.
Mặc cho đảng Dân Chủ tranh quyền, đoạt lợi, hôm thứ Tư vừa qua TT Trump đã đọc một bài diễn văn trước Quốc dân Hoa Kỳ sau khi Iran bắn hoả tiễn tấn công trả đũa chống lại lực lượng Hoa Kỳ ở Iraq,
Mở đầu TT Trump cho biết “ngày nào mà ông còn trong chức vụ Tổng THống thì ngày đó Iran sẽ không bao giờ được phép có vũ khí hạt nhân. Tôi rất vui mừng thông báo cho qúi vị biết rằng đã không có một người Mỹ nào thương vong trong cuộc tấn công hoả tiển của Iran vào căn cứ lực lượng Hoa Kỳ vừa qua.
Tất cả các binh sĩ của chúng tôi đều an toàn và chỉ có một vài thiệt hại tối thiểu về vật chất tại các căn cứ quân sự của chúng tôi. Các lực lượng lớn của quân đội Hoa Kỳ đang chuẩn bị cho mọi thứ. Hình như chính quyền Iran đang dừng lại. Đó là một dấu hiệu tốt cho tất cả các bên liên quan và đó cũng là một điều tốt cho cả thế giới”
Trong lời mở đầu TT Trump đã cho thấy quyền lực của một vị TT Hoa Kỳ. Ông không chùng bước trước một thế lực nào cho đến ngày ông hết nhiệm kỳ làm Tổng Thống.
Tiếp đến ông nói thêm rằng:"Không có mạng sống của người Mỹ hay người Iraq bị đe doạ vì các biện pháp phòng ngừa đã được thực hiện cùng với một hệ thống báo động đã sớm hoạt động rất tốt. Tôi trân trọng chào mừng kỷ năng và sự can đãm đáng kính phục của những người đàn ông cũng như phụ nữ Hoa kỳ mang quân phục.
Đã từ lâu, các quốc gia đã dung túng những hành vi phá hoại của Iran gây bất ổn tại Trung Đông. Hơn thế nữa, Iran là nhà tài trợ hàng đầu cho khủng bố và việc họ theo đuổi vũ khí hạt nhân là để đe doạ thế giới văn minh. Chúng tôi sẽ không bao giờ để những điều đó xảy ra. Tuần trước chúng tôi đã có hành động ngăn chận một tên khủng bố tàn ác đã và đang đe dọa mạng sống của người Mỹ và theo hướng dẫn của tôi, quân đội Hoa Kỳ đã loại bỏ tên khủng bố hàng đầu thế giới đó là Qassem Soleimani.”
Trong khi đó thì bà Pelosi và đảng Dân Chủ lại bỏ phiếu để trói tay TT Trump trong việc đánh lại Iran. Điều này cho chúng ta hồi tưởng lại năm 1974 khi đảng Dân Chủ nắm quyền ở hạ viện và thượng viện đã quyết định không cho Hoa Kỳ viện trợ Nam VN và để Việt Cộng ngang nhiên xâm chiếm Nam VN đã tạo nên cảnh trên 1 triệu người dân Nam VN vượt biển, vượt biên chết thê thảm trong lòng biển cả và trên đường vượt thoát Việt cộng tìm tự do.
Hiện nay đảng Dân Chủ cũng dùng quyền hành trói tay TT Trump trong việc chiến tranh với Iran. Nhưng trong bài diễn văn đọc trước quốc dân Mỹ TT Trump đã nói về tướng Soleimani như sau:
"Soleimani là người đứng đầu lực lượng Quds, Soleimani có trách nhiệm cá nhân đối với một số tội ác tàn bạo . Ông huấn luyện những kẻ khủng bố, bao gồm Hezbollah, phát động các cuộc tấn công khủng bố chống lại các mục tiêu dân sự. Ông châm ngòi cho các cuộc nội chiến đẫm máu trên khắp khu vực. Ông ta đã tàn sát và giết chết hàng ngàn quân đội Hoa Kỳ, bao gồm cả việc đặt bom bên đường gây thương tích và làm mất tinh thần của họ. Mới đây Soleimani chỉ huy các cuộc tấn công vào nhân viên Hoa Kỳ ở Iraq đã làm bốn người bị thương nặng và giết chết một người Mỹ. Lại nữa ông ta đã dàn dựng cuộc tấn công bạo lực vào Đại sứ quán Mỹ ở Baghdad. Trong những ngày gần đây, ông ta đã lên kế hoạch tấn công mới vào các mục tiêu của người Mỹ, nhưng chúng tôi đã ngăn ông ta lại"
Một người tàn bạo độc ác như Soleimani mà lại được đảng Dân Chủ bênh vực. Có thật đảng Dân Chủ muốn hoà bình "no war" như bà Pelosi tuyên bố hay bà Pelosi và đảng Dân Chủ đang tranh quyền đoạt vị với TT Trump?
TT Trump cũng còn cho biết thêm là : "Trong khi nước Mỹ đang chọn lựa những giải pháp để đối phó với sự xâm lược của Iran, Hoa Kỳ đã lập tức áp dụng những trừng phạt về kinh tế đối với Iran. Những biện pháp trừng phạt mạnh mẽ này vẫn tiếp tục cho đến khi Iran thay đổi hành vi. Chỉ trong vài tháng gần đây Iran đã chiếm giữ các tàu trong vùng biển quốc tế. Đã làm một cuộc tấn công vô cớ vào Ả rập Saudi Arabia và bắn hại hai máy bay không người lái của Mỹ”
Ông còn cho biết thêm:
“Sự thù địch của Iran tăng lên đáng kể sau khi thỏa thuận hạt nhân Iran được ký vào năm 2013, và họ đã được chính quyền Obama trao 150 tỷ đô la, chưa kể 1,8 tỷ đô la tiền mặt. Thay vì nói lời cảm ơn đến Hoa Kỳ, họ đã hô vang "Death to America".
Trên thực tế, họ đã hô vang Death to America đúng vào ngày thỏa thuận được ký kết giữa chính quyền Obama và Iran. Sau đó, Iran đã tiến hành một cuộc khủng bố được tài trợ bởi số tiền từ thỏa thuận này và tạo ra địa ngục ở Yemen, Syria, Lebanon, Afghanistan và Iraq.
Các hoả tiễn được bắn đêm qua vào chúng tôi và các đồng minh của chúng tôi đã được trả tiền với số tiền được cung cấp bởi chính quyền trước đây.”
Thêm vào đó TT Trump cũng kêu gọi các quốc gia khác :"Đã đến lúc Vương quốc Anh, Đức, Pháp, Nga và Trung Quốc nhận ra thực tế này. Bây giờ họ phải tách ra khỏi đó những người đã đồng ý với thỏa thuận Iran . Và tất cả chúng ta phải cùng nhau hướng tới việc thực hiện một thỏa thuận khác với Iran khiến thế giới trở thành một nơi an toàn và hòa bình hơn.”
TT Trump nói tiếp:"Đã đến lúc chúng ta cũng phải thực hiện một thỏa thuận cho phép Iran phát triển và thịnh vượng cũng như tận dụng những tiềm năng to lớn chưa được khai thác.
Iran có thể là một đất nước tuyệt vời. Hoà bình và ổn định sẽ không được hồi phục ở Trung Đông khi mà Iran vẫn còn tiếp tục gây ra bạo lực, bất ổn, hận thù và chiến tranh. Thế giới văn minh phải gửi một thông điệp rõ ràng và thống nhất tới chế độ Iran: chiến dịch khủng bố, giết người, hỗn loạn của Iran sẽ không còn được dung thứ nữa. Nó sẽ không được phép đi tiếp.”
TT Trump cũng không quên kêu gọi Tổ chức Hiệp Ước Bắc Đại tây Dương NATO như sau:" Hôm nay, tôi sẽ yêu cầu NATO tham gia nhiều hơn vào quá trình sinh hoạt tại Trung Đông. Trong ba năm qua dưới sự lãnh đạo của tôi, nền kinh tế của chúng tôi mạnh hơn bao giờ hết và nước Mỹ đã giành được độc lập về năng lượng. Đây là những thành tựu mà không ai có thể nghĩ đến. Chúng tôi hiện là nhà sản xuất dầu và khí tự nhiên số một ở bất cứ đâu trên thế giới. Chúng tôi độc lập và chúng tôi không cần dầu của Trung Đông. Tuy nhiên, trên thực tế chúng tôi còn có trang bị tân tiến và quân sự tuyệt vời , không có nghĩa là chúng tôi phải sử dụng nó. Sức mạnh của Mỹ cả về quân sự và kinh tế là yếu tố ngăn chặn tốt nhất.
TT Trump nói tiếp về ISIS : " Ba tháng trước sau khi tiêu diệt 100% khủng bố ISIS và lãnh địa "caliphate" của họ, chúng tôi đã giết thủ lãnh man rợ của họ là Al-Baghdadi người chịu trách nhiệm cho tất cả thương vong trong các cuộc khủng bố bao gồm cả những vụ chặt đầu hàng loạt các Kito hữu. Al Banghdadi là một con quái vật đã cố gắng xây dựng lại caliphate ISIS và đã thất bại. Hàng chục ngàn quân khủng bố ISIS đã bị giết hoặc bị bắt trong thời gian tôi điều hành chính quyền Hoa kỳ . ISIS là một kẻ thù hiển nhiên của Iran. Sự hủy diệt bọn ISIS là tốt cho Iran. Và chúng ta nên cùng nhau làm việc này và các mục tiêu ưu tiên khác.”
Để kết luận bài diễn văn TT Trump nói" Cuối cùng hỡi những người dân Iran và các nhà lãnh đạo của Iran, chúng tôi muốn bạn có một tương lai và một tương lai tuyệt vời, là điều mà bạn xứng đáng hưởng, một sự thịnh vượng tại nước nhà của bạn trong sự hài hòa. Với các quốc gia trên thế giới, Hoa Kỳ sẵn sàng đón nhận hòa bình với tất cả những ai tìm kiếm nó"
Một câu kết luận đầy tình người. Không có ý đồ tranh hấn gây hận thù. TT Trump đã thể hiện được một tình thần hài hoà nhân ái trên quyền lực của một vị Tổng Thống Hoa Kỳ.
Tôn Nữ Hoàng Hoa
Ngày 10/1/2020

Saturday, September 4, 2021

TRUYỀN THÔNG VẸT BÌNH LUẬN VỀ AFGHANISTAN

Bình thường, kẻ này không mấy rảnh nghe đám truyền thông Vẹt bàn loạn theo kiểu sỉ vả Trump chết bỏ hay nịnh bợ Biden cũng chết bỏ. Họ nói gì họ nói, đó là quyền của họ. Mà những điều họ nói thì chưa nói , kẻ này cũng đã đoán trước được rồi. Riêng tuần qua, có người bạn gửi cái link ông Đỗ Dzũng bàn loạn với ông Nguyễn Văn Khanh, nhắn tôi nên nghe cho biết vì rất tiêu biểu cho quan điểm của truyền thông Vẹt tị nạn cuồng chống Trump hay cuồng mê Biden. Tò mò, tôi cũng nghe thử.

Thất vọng hoàn toàn nhưng chẳng ngạc nhiên chút nào, vì vẫn luận điệu tung hô và bao che cho Biden, luận điệu vừa rẻ tiền, vừa phe đảng một chiều nhất, không mấy xứng đáng cho những người gọi là làm nghề truyền thông, phổ biến tin tức trung thực cho thiên hạ biết thế sự. Hai vị này phải nói là những chuyên gia siêu sách động -super activists- giả dạng nhà báo mới đúng chứ không thể nào gọi là ‘nhà báo’ trung thực được. Vì những điều họ nói sai lầm, đầy thành kiến một chiều quá nặng, nên kẻ này miễn cưỡng phải lên tiếng để cộng đồng thấy thêm được một cách nhìn khác cái nhìn của hai ông này. Ai tin ai là quyền nhận định của mỗi người.

Nói trước để khỏi bị bôi bác oan: tôi đủ lương thiện để chưa bao giờ nhận mình là nhà báo trung lập hay 'ba phải' (mượn chữ của cụ Vũ Văn Lộc), mà luôn luôn khẳng định cho rõ tôi là người viết bình luận, tức là viết quan điểm chủ quan một chiều của mình, tuy luôn luôn dựa trên dữ kiện có thật, không bao giờ dựa trên fake news.

Cuộc bàn loạn kéo dài hơn 16 phút. Kẻ tung người hứng dĩ nhiên, phe ta cả mà. Ô. ĐD mớm đạn cho ô. NVK bắn, rồi ô. ĐD liú lo khen ngợi, ô. NVK mừng hớn hở, bắn tiếp. Đại khái có vài ý chính (xin tóm lược dưới dạng chữ nghiêng), kèm theo lời bàn loạn của Vũ Linh (chữ thẳng tiếp theo).

ĐD: Nước Mỹ lần đầu tiên có được hòa bình sau 20 năm.

VL: Vâng, không sai. Nhìn vẻ mặt vui mừng hớn hở của ô. ĐD, ăn mừng ngày vui đại thắng mùa hè của Taliban thì hiểu ngay ông này đang mừng cho dân Afghan trúng số độc đắc, được may mắn sống trong thiên đàng Sharia lại, và mừng cho nước Mỹ đã có hòa bình, không đánh nhau tuốt bên kia thế giới nữa. Nhưng nếu hiểu không tham chiến ở đâu hết là nước Mỹ có hòa bình, mọi người phải vui vẻ hết, thì trong lịch sử nước Mỹ này, phải nói ngay đã có quá nhiều tổng thống hiếu sát, không thích hòa bình, cứ nghiến răng nghiến lợi mang lính Mỹ và súng đạn Mỹ đi giết người khắp thế giới. Chẳng hạn như

- TT Wilson hiếu chiến mang Mỹ vào thế chiến I, không cho dân Âu Châu vui sống hòa bình dưới chế độ quân phiệt Đức Phổ;

- TT Roosevelt hiếu chiến mang Mỹ vào thế chiến II, không cho dân Âu Châu vui sống trong hòa bình của Third Reich hay Đệ Tam Cộng Hoà của Hitler;

- TT Truman hiếu chiến mang Mỹ vào chiến tranh Cao Ly không cho dân Nam Hàn vui sống trong hòa bình dưới triều đại nhà Kim;

- Các TT Kennedy-Johnson hiếu chiến mang Mỹ vào chiến tranh VN không cho dân Nam VN sống vui vẻ trong hòa bình của CSBV.

Lần sau, thế giới có chuyện, Mỹ cứ khoanh tay ngồi yên cho nước Mỹ có hòa bình cho ông ĐD vui.

Nôm na ra, ô. ĐD là nhà báo thích bàn loạn nhưng mù tịt không hiểu tại sao lại phải có chiến tranh tại Afghanistan, tại sao có khi chiến tranh là cần thiết, tại sao hòa bình giương cờ trắng đầu hàng vô điều kiện hay vứt dép tháo chạy 3g sáng không hẳn đã là chuyện đáng vui. Nhất là tại sao 3 đời tổng thống cả CH lẫn DC, Bush con, Obama và Trump, đều không chấm dứt chiến tranh tái lập hòa bình. 

Trả lời cho ông ĐD biết: vì các TT Bush con, Obama và Trump đều có đủ tinh thần trách nhiệm, hiểu trách nhiệm của Mỹ là thứ nhất giúp Afghanistan xây dựng lại xứ sở sau khi Mỹ đánh bom tàn phá hết, và thứ nhì, Mỹ hiểu cần giúp tận diệt Taliban chẳng những để đề phòng hậu hoạn cho Mỹ, cản một 9/11 khác trong tương lai, mà cũng là để giải thoát 40 triệu dân Afghan khỏi tai ách Taliban. 

Chỉ có cụ Biden là người rất mê khẩu hiệu đầu tay của CS “yêu chuộng hòa bình” trước mũi, bất cần xây dựng lại gì, ngây thơ không tin có thể có một 9/11 thứ hai y như cụ đã không tin Taliban có thể chiếm cả nước trong hai tuần, mà cũng bất cần số phận của 40 triệu dân Afghan, nên đã "dứt khoát và can đảm" dám làm chuyện mà ba đời tổng thống trước, không ai dám làm.

Trên căn bản, cả thế giới, kể cả dân Mỹ và dân Afghan đều thấy cuộc chiến 20 năm là quá dài và đều muốn hòa bình. Chuyện bình thường. Chẳng ai điên khùng muốn kéo dài chiến tranh thêm một hai chục năm nữa, mà đến một lúc nào đó, cũng phải tìm cách chấm dứt và ra về thôi. Vấn đề là ra về như thế nào. Ra về vô trách nhiệm, bất cần hậu quả, sống chết mặc bay? Hay ra về với những bảo đảm lính Mỹ sẽ không chết thêm cho dù chỉ là 13 người, nước Mỹ sẽ không bị một cú 9/11 nữa, dân Afghan sẽ không lọt vào miệng cọp Taliban hay ISIS?

Đi vào chi tiết thì vấn đề cũng là cách thức ra về, hay chính xác hơn, đóng cửa căn cứ, mang lính và kiều dân về như thế nào để tránh rối loạn vì mất tinh thần, để tránh chết chóc giờ chót hết sức vô lý và vô duyên. Rút hay tiến quân là quyết định, hành quân như thế nào để rút hay tiến cho thành công là chuyện khác.

Rút quân theo kiểu của cụ Biden, nửa đêm 3g sáng, tắt đèn, không kèn không trống, lẳng lặng tháo chạy vứt lại quân trang, quân dụng, xe cộ, máy bay, súng ống ngổn ngang,.. là cách rút quân hèn hạ, vô trách nhiệm nhất trong lịch sử rút quân của quân sử thế giới. Đi ngược lại tất cả nguyên tắc quân sự về rút quân. Tất cả các quân nhân mọi cấp đều học qua bài học vỡ lòng ‘rút quân khó gấp vạn lần tiến quân’. Cuộc rút quân kiểu Biden chắc chắn sẽ đi vào quân sử thế giới và sẽ là bài thực tập trong tất cả các quân trường trên thế giới sau này, dưới bài học “Làm sao rút quân thảm hại nhất”. Cụ Biden dưới khía cạnh này đã thành công, 'lưu danh muôn thuở'.

Để cho các cụ hiểu rõ hơn, xin nhắc lại là mới cách đây không lâu, đã có một chiến tranh được chấm dứt, lính Mỹ rút quân về mà các cụ chẳng hay biết gì hết, vì cuộc rút quá hoàn hảo, không có một rắc rối nào xẩy ra. Đến độ TTDC phải im re không dám nhắc tới.

Đó là cuộc rút quân Mỹ từ Iraq về, dưới thời TT Trump. Và đây là tóm lược diễn tiến:

- Tháng Chạp 2019: TT Trump điều đình với chính phủ Iraq về việc chấm dứt sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Iraq, chấm dứt một cuộc chiến đã kéo dài từ năm 2003.

- Tháng Giêng 2020, quốc hội Iraq biểu quyết một nghị quyết không có giá trị bắt buộc -non binding resolution- yêu cầu lính Mỹ và NATO ra khỏi Iraq; hiển nhiên đây là cái lý do chính thức để Mỹ và NATO rút mà không mang tiếng là bỏ đồng minh tháo chạy, khi chính đồng minh đã không muốn họ ở lại giúp nữa.

- Tháng 3/2020: quân lực Mỹ và NATO bắt đầu chuyển giao các căn cứ quân sự lại cho chính quyền Iraq.

- Tháng 4/2020: 4 căn cứ lớn nhất được bàn giao trong trật tự cho quân đội Iraq.

- Trong những tháng sau đó, tất cả các căn cứ lớn nhỏ đều được tuần tự bàn giao trong trật tự; không có một căn cứ nào lẳng lặng tháo chạy 3g sáng.

- Từ tháng 6/2020 tới tháng 2/2021: Mỹ tiếp tục điều đình với chính quyền Iraq về việc duy trì hiện diện tối thiểu của quân đội Mỹ dưới hình thức cố vấn và huấn luyện viên, cũng như các hình thức viện trợ quân sự. Trong khi đó, đã không có bất cứ một cuộc tấn công nào của đám khủng bố ISIS trước đây đã từng chiếm được cả nửa nước Iraq.

- Tháng Hai 2021: theo đúng thỏa thuận từ trước, NATO nhận trách nhiệm huấn luyện quân đội Iraq, trong đó có sự tham gia của cố vấn quân sự Mỹ. Cả chính phủ lẫn quân đội Iraq vẫn còn nguyên, không tan hàng rã đám gì hết.
Lịch trình rút quân Mỹ khỏi Iraq (theo Wikipedia)

Cụ Biden biện giải việc rút quân của cụ qua việc TT Trump đã ký hòa ước với Taliban và cụ bị trói tay, phải tôn trọng.

Việc cụ Biden ‘tôn trọng’ một quyết định của TT Trump là chuyện mới lạ, nghe thật vui tai sau khi cụ Biden ngay trong tuần lễ đầu đã xé cả hai chục sắc lệnh của ông tiền nhiệm. Ước gì cụ Biden trong những ngày tháng tới tiếp tục tôn trọng tất cả những quyết định của TT Trump.

Dù sao thì tôn trọng là một chuyện, thi hành sao cho thành công là chuyện khác như đã bàn.

Hòa ước TT Trump ký có hai điều kiện do Trump ấn định và có ghi trên hòa ước hai bên ký, là 

1) phải có những bảo đảm là Taliban sẽ không để Afghanistan làm bàn đạp cho những hành động khủng bố đe dọa đến an ninh và quyền lợi của Mỹ, và 

2) Taliban phải có thỏa thuận ‘sống chung’ với chính phủ Afghanistan, với những bảo đảm về nhân quyền tối thiểu. Nếu hai điều kiện đó không được thực hiện thì hòa ước trở thành vô giá trị. Hai điều kiện đều không xẩy ra, cụ Biden có đầy đủ lý do chính đáng và chính danh để vứt hòa ước đó vào thùng rác, nhưng cụ đã không vứt, hấp tấp tháo chạy, rồi bây giờ đổ nợ, quay qua đổ thừa tại Trump. Lịch sử Mỹ đã có bao nhiêu tổng thống trốn tránh trách nhiệm một cách hèn hạ như vậy?

Rút quân của Trump có điều kiện do Trump ấn định. Rút quân của Biden là tháo chạy 3g sáng vô điều kiện. Hay chính xác hơn, cũng có điều kiện nhưng là điều kiện do Taliban ấn định, là 31/8 là hạn chót lính Mỹ còn ở Afghanistan mà cụ Biden răm rắp tuân thủ. Khác nhau xa, rất xa.

Về cách thức, quý độc giả có thể thấy hai cách rút quân của TT Trump và của cụ Biden. Tại Iraq, dưới TT Trump, không có căn cứ quân sự nào phải lén lút tháo chạy 3g sáng, khiến cả quân đội đồng minh bị mất tinh thần, tháo chạy theo, không cần gửi thêm một người lính nào tới giữ phi trường, không có đám đông nào chạy theo máy bay trên phi đạo, không một người dân nào bám vào máy bay Mỹ đang cất cánh để rồi rớt như sung rụng, không có một trực thăng nào cất cánh từ nóc tòa đại sứ Mỹ, không có một người lính Mỹ hay thường dân nào bị đánh bom chết tại phi trường. Quan trọng hơn nữa, tại Iraq, chính quyền và quân đội Iraq vẫn còn đó, khủng bố ISIS chẳng đánh chiếm được bất cứ một tỉnh lỵ lớn nhỏ nào chứ đừng nói tới chuyện chiếm cả nước.

NVK: Cảm phục cụ Biden có tính cương quyết, và tặng cụ Biden “điểm son” vì trong vỏn vẹn 14 ngày, đã mang được hơn một trăm ngàn dân Afghan ra khỏi nước.

VL: Vâng, cụ Biden cương quyết thật, cương quyết vứt 40 triệu dân Afghan vào miệng cọp Taliban không một chút áy náy, phân vân, chần chờ, e lệ gì hết. Bốn chục triệu mạng người? Chuyện nhỏ! Suy nghĩ của ô. NVK nghe thật lạ: gián tiếp giết 40 triệu người dân Afghan khi đạp họ vào miệng cọp Taliban chẳng có gì đáng nói tới, nhưng cứu được một trăm ngàn người thì lại là “điểm son” đáng tung hô! Cho dù trong số cả trăm ngàn người được cấp tốc cho lên máy bay tháo chạy, chẳng ai kịp kiểm tra lý lịch xem có Taliban, ISIS hay Al Qaeda trong đó hay không (đừng quên Taliban trong mấy ngày trước, đã trả tự do cho cả ngàn tù khủng bố của ba tổ chức này). Tính phe đảng mù quáng khó có thể đi xa hơn được.

Về điểm son, tôi nghĩ ô. NVK quên vài điểm son, vài thành tích vô địch lớn hơn nhiều: cụ Biden trong vòng vỏn vẹn có 14 ngày đã đạt được những thành tích cực kỳ huy hoàng:

1) trói gô 40 triệu mạng dân Afghan tặng cho Taliban;

2) tặng kèm theo hơn 80 tỷ tiền vũ khí tối tân nhất;

3) biến Taliban từ một nhúm du kích trong rừng núi thành một cường quốc quân sự lớn nhất Trung Đông;

4) vắt chân lên cổ chạy, chở theo chẳng ai biết bao nhiêu tên khủng bố len lỏi vào, trong khi bỏ lại cả trăm hay cả ngàn dân Mỹ vào tay khủng bố cuồng điên Taliban, sống chết không ai biết, bây giờ lo năn nỉ xin Taliban tha cho họ;

5) vứt luôn cả uy tín và những cam kết của đại cường Mỹ vào thùng rác lịch sử. Từ giờ trở đi đố ai dám tin đồng minh Mỹ nữa?

Vâng, đó mới chính là những thành tích vượt bực, ít ai làm nổi những chuyện vĩ đại như vậy trong một thời gian vỏn vẹn có hai tuần. Đó mới là những điểm son đáng kể của cụ Biden. Cụ Khanh ơi, cụ nịnh Biden nhưng chưa đầy đủ, còn thiếu sót đấy.

ĐD: Đòi hỏi cụ Biden phải tuyệt hảo, không một sơ sót nào là vô lý khi chính quyền của cụ còn “non trẻ, mới có 7 tháng”.

VL: Ủa, quyết định rút quân là của cụ Biden chứ có ai ép buộc gì đâu? Nếu ý thức được mình còn “non trẻ” chưa đủ kinh nghiệm thì đừng nên hấp tấp lấy quyết định gì có hơn không? Chờ học hỏi kinh nghiệm thêm vài chục năm nữa để trưởng thành hơn có tốt hơn không? Nói cụ Biden còn “non trẻ” nghe thật tiếu lâm. Cụ Biden chỉ mới lăn lộn trong chính trường Mỹ có 50 năm thôi, còn non trẻ lắm. Với đầu óc của cụ Biden, chắc cụ cần một thế kỷ mới trưởng thành, hết “non trẻ”.

NVK: Tôi nghĩ chỉ trong 3 tới 6 tháng là dân Mỹ sẽ quên bẵng chuyện Afghanistan này.

VL: Thật ra, chẳng ai biết dân Mỹ sẽ quên thảm họa Afghanistan trong ba tháng hay ba tuần hay ba năm hay ba trăm năm, nhưng có điều chắc chắn là phe ta, đảng DC, đám TTDC, và đám truyền thông Vẹt tị nạn cuồng mê Biden sẽ cố gắng tối đa chôn vùi thảm họa Afghanistan càng sớm càng nhanh càng sâu càng tốt, bằng cách không nhắc lại chuyện này, lái các đề tài thời sự qua các chuyện khác, chẳng hạn qua việc đào bới lại những chỉ trích chống Trump, hay lại tung mấy củ cà-rốt trợ cấp bạc ngàn tỷ cho thiên hạ mờ mắt quên hết chuyện Afghanistan.

Ngay trong cuộc phỏng vấn, ông ĐD đã tìm cách lái cuộc nói chuyện qua đại dịch COVID khi ông ta tìm cách chạy tội cho Biden. Khi dịch hoành hành dưới thời Trump thì phe ta, từ đảng DC đến TTDC Mỹ đến truyền thông Vẹt, đều nhất tề xỉa tay đổ thừa tại tổng thống ngu dốt bất tài, vô cảm tàn ác, thủ phạm giết cả nửa triệu người. Tất cả là lỗi của tổng thống mà không một ai nói gì đến vai trò độc lập của các thống đốc. Bây giờ con cháu Delta của COVID hoành hành thì ông ĐD quên bẵng trách nhiệm của tổng thống, mà lại hoàn toàn đổ tội lên đầu các thống đốc CH. Thế mới nói tính phe đảng, bóp méo tuyên truyền đã leo lên mức thượng thừa, coi cả thiên hạ như ruồi, muốn nói gì thì nói.

Có một điều chắc chắn là dân Afghanistan sẽ KHÔNG BAO GIỜ quên được, dù ba tháng hay ba năm hay ba chục năm hay ba trăm năm, khi họ bị đầy đọa trường kỳ dưới luật Sharia, là luật tàn nhẫn nhất lịch sử nhân loại. Như dân tị nạn Việt, trốn chạy qua Mỹ gần 50 năm vẫn chưa ai quên Tháng Tư Đen. Nhưng dân Afghan nghĩ gì, lo sợ hay vui vẻ, nhớ gì hay quên gì, trong suốt cuộc nói chuyện của hai ông, không thấy các ô. ĐD và NVK bàn một tiếng nào. Who cares?

Vũ Linh

4/9/2021 

Blog Archive