Sunday, October 30, 2022

Những mảnh đời di dân

Hình do tác giả cung cấp

Như những chiếc lá lênh đênh theo dòng nước, chúng tôi đã lưu lạc đến đây, sống cuộc đời di dân, bắt đầu từ hai bàn tay trắng.

“Đất lành, chim đậu “. Chúng tôi xin nhận nơi này làm quê hương.

Câu chuyện thứ nhất
Những ai thuộc hàng trí thức trước 1975, chắc sẽ không quên tên Lê Thanh Hoàng Dân— Phó Giám đốc Trung tâm Học liệu thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Giáo sư, Nhà Nghiên cứu và Dịch giả. Bác viết nhiều sách về giáo dục & tâm lý & sư phạm như “Luân lý chức nghiệp “, “Tâm lý giáo dục”, “Sư phạm lý thuyết”… Ngoài ra, bác còn dịch các tác phẩm “Thân phận con người” (Andre Malraux), “Kẻ xa lạ” (Camus)…

Lúc đó, tôi cũng biết bác. Không phải tôi là trí thức, mà đơn giản vì tôi học chung với con gái bác ở trường Tiểu học Sư Phạm Thực Hành, ngôi trường nằm cạnh Trung tâm học liệu thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục.

Cũng nói qua đôi chút về Trường Sư Phạm Thực Hành. Đây là một ngôi trường được Mỹ tài trợ về kinh phí và phương tiện giáo dục. Tuy vậy, chưa bao giờ học sinh nghe thầy cô dạy “phải nhớ ơn tổng thống Mỹ và nước Mỹ vĩ đại”.

Ngôi trường tôi rất khang trang. Sách giáo khoa trực tiếp chuyển từ Trung Tâm Học Liệu đến và được soạn theo phương pháp mới, cho học sinh mượn miễn phí vào mỗi đầu năm học. Giáo viên đứng lớp là những người tốt nghiệp với bằng cấp cao, như cô Ngọc Điệp, là thủ khoa của Đại học Sư Phạm. Phía sau trường thông với Đại Học Sư Phạm, để các giáo sinh tiện qua lại thực tập đứng lớp.

Trong môi trường giáo dục như thế, chúng tôi hồn nhiên lớn lên. Mỗi đầu buổi học, khi được phụ huynh đưa đến trường, chúng tôi rối rít gọi tên nhau và nắm tay nhau chạy ù vào cổng. Tan trường, khi trèo lên xe ba mẹ, chúng tôi lại vẫy tay chào như là quyến luyến lắm. Sự thân thiết của các bạn bè chúng tôi, làm cho các bậc phụ huynh cũng gắn kết với nhau. Họ cũng… bắt chước chúng tôi chào hỏi nhau, không phân biệt thành phần giai cấp trong xã hội.

Tôi vẫn nhớ như in hình ảnh bác ngày xưa.
Bác Lê Thanh Hoàng Dân lúc nào cũng tươm tất với áo sơ mi trắng bỏ trong quần âu đen, đeo mắt kính cận, luôn tươi cười và rất thân thiện với chúng tôi.

Dòng đời trôi đi. Cho đến một ngày, tôi nhận được quyển sách 42 năm sống ở Mỹ : Được gì ? Mất gì? (Xuất bản 2018). Đây là quyển sách của bác viết về cuộc đời mình, dành tặng cho người vợ tào khang đã cùng đồng cam cộng khổ với gia đình. Và, “Đặc biệt tặng cho tất cả các bạn, cũng như tôi, đồng cảnh ngộ, gia đình tan nát trong và sau cuộc chiến“.

Ngày ra đi, gia đình bác 6 người, vợ chồng và 4 con, mà trong túi chỉ vỏn vẹn vài chục đô la Mỹ.

Bác Chỉ có hai bàn tay trắng. Đi tới đâu cũng bị chê. Xin việc lao động, cũng bị chê, “over-educated “, ăn học nhiều quá thiếu kinh nghiệm làm việc tay chân. Không dám xin việc văn phòng vì chưa đủ ngôn ngữ, kinh nghiệm.

Chỉ vài dòng đơn giản vậy thôi. Nhưng chỉ ai trải qua những ngày đầu bơ vơ nơi xứ người, mới thấu hiểu hết nỗi khốn cùng.

Hãy tưởng tượng, thành phố New York mùa đông tuyết đổ trắng trời. Nhìn quanh, đâu cũng đầy tuyết. Bước chân thọc sâu trong lớp tuyết dày, lặn lội từng bước qua những cơn hiu hắt gió. Mở tờ báo ra, dò lại địa chỉ, rồi dừng lại trước công trường. Nơi đây đang cần người. Việc gì cũng được mà.

— Anh nhìn ra ngoài xem. Tôi cần những người khỏe mạnh tháo vác như thế đó. Còn cái ngữ trí thức như anh thì làm được cái gì?

Những lời từ chối đại loại như thế. Phũ phàng và tàn nhẫn.

Những giọt nước mắt đàn ông không chảy dài xuống má, mà chảy ngược vào tim. Rưng rức từng thớ thịt.

Không phải một ngày. Không phải một lần. Cho đến đường cùng, đành phải nhìn thẳng vào hoàn cảnh của mình mà chấp nhận. Đã rơi đến tận cùng đáy xã hội khi phải ngửa bàn tay ra xin Welfare và Food Stamps.

Rồi bác cũng tìm được việc làm. Công việc đầu tiên của bác là làm việc cho một công ty bảo vệ. Đó là một việc làm lương tối thiểu, làm nhiều, lương ít, làm việc rất cực khổ. Mỗi ngày bác làm việc 12 tiếng và mất 4 tiếng đi về từ New York sang New Jersey. Thời gian ở nhà của bác lúc đó chỉ vỏn vẹn 8 tiếng một ngày, khi bác về thì vợ con đã ngủ. Họ cũng đã trải qua một ngày mệt mỏi.

Nhọc nhằn lắm. Xót xa lắm. Dù cố quên thân phận mình, để bắt đầu cuộc sống mới, nhưng bác vẫn không khỏi cảm thấy thua cuộc, mắc cỡ khi gặp những người bạn cũ. Họ vẫn còn làm báo, viết sách, nổi tiếng.

Cho dẫu họ cố gắng không tỏ vẻ gì, nhưng một người trí thức như bác, đủ nhạy cảm để thấy sự thương hại trong ánh mắt người đối diện.

Tôi đồng cảm với bác điều này. Vẫn biết công việc nào cũng tốt, miễn là lương thiện. Nhưng tôi đã không khỏi chạnh lòng khi nghe học trò cũ nói “Tội nghiệp cô quá. Sang bên ấy cô phải làm Nails kiếm sống sao cô”.

Và Quyết định quên đi quá khứ để bắt đầu lại không phải dễ. Bỏ quên quá khứ có nghĩa bỏ hết những gì làm nên giá trị cá nhân mình trong quá khứ. Lúc sống ở Saigon, đi đâu người ta cũng chào hỏi, thưa Thầy. Đi đâu cũng có người nhận ra tôi, là ông Quê Hương Mến Yêu, là chương trình TV tôi làm MC. Đi đâu người ta cũng nói về sách vở, và nhà xuất bản Trẻ do tôi chủ trương.

Quá khứ như bóng cây râm mát, có thể làm dịu bớt bỏng rát của thực tại. Nhưng rồi sau đó? Chắc chắn lòng sẽ quặn đau hơn.

Chỉ còn một cách là quên đi.

Quên đi. Nghĩa là xếp lại, vùi sâu mãi mãi trong tiềm thức. Nghĩa là ngậm ngùi chấp nhận thời ấy đã qua rồi.

Nỗi đau đó như vết thương sưng tấy. Nhưng còn cách nào? Thôi thì, Bỏ hết, bắt đầu lại.

Khi đã chọn nơi này làm quê hương, bác quyết tâm hội nhập.

Với vốn kiến thức của mình, bác đã học lại ở Mỹ. Học xong MBA, bác lại tiếp tục học thêm về Finance, Business Economics…để có thể vào làm việc ở Phố Wall và được trọng dụng.

Với niềm kiêu hãnh dân tộc, không muốn thua một chủng tộc nào khác đã đến đây. Bác tâm niệm phải sống ra hồn, sống xứng đáng cho thế giới nể phục người Việt Nam.

42 năm. Không phải là một cái chớp mắt. Từng phút giây của người di di dân nơi xứ lạ đánh đổi bằng bao nhiêu giọt mồ hôi, bao nhiêu nhọc nhằn, gian khó để đấu tranh cho cuộc sống. Bao nhiêu lần cúi xuống nuốt tủi nhục, mới có thể ngẩng đầu lên.

“…Để ngẩng cao đầu mình phải đi qua nước mắt
Gió bao giờ cũng lạnh lắm phải không… “ ( thơ Biển Cát ).

Và bác đã làm được những gì đã trăn trở, trong 42 năm qua.

Bác làm việc với nhiều ngân hàng và công ty Mỹ, hãnh diện giới thiệu văn hoá Việt Nam cho người Mỹ.

Bác có một đại gia đình với con, cháu, dâu, rể…Một trong những điều bác được là: tương lai tươi sáng cho con cháu. Mặc dù gốc Việt Nam, nhưng bây giờ là công dân Mỹ, sẽ sống cuộc đời của một công dân Mỹ.

Khi phong trào thuyền nhân của nhiều người Việt liều chết ra đi, New York có một cơ sở Công giáo kêu gọi giúp đỡ các cháu Việt Nam ra đi một mình.

Vợ chồng bác mở cửa nhà giúp một vài cháu thuyền nhân này một vài năm. Ở chung nhà, các cháu hội nhập dễ dàng hơn với đời sống Mỹ. Trong số đó, vợ chồng bác còn giúp một cháu lập gia đình. 42 năm nhìn lại, thấy cháu hạnh phúc, bác rất vui.

Từ năm 2016, gia đình bác có một quỹ học bổng 15 triệu đồng VN, mang tên Lê Mỹ Hạnh ( con gái đã mất của bác & bạn tôi) cho sinh viên Việt Nam hiếu học, có hoàn cảnh khó khăn. Quỹ này dự định duy trì hằng năm vào Lễ Tạ Ơn.

Xuyên suốt quyển sách, bác luôn khẳng định, tất cả những gì bác có 42 năm nay, là do nước Mỹ tuyệt vời với di dân.

Nước Mỹ là đất nước của di dân và tỵ nạn. Đó là đất nước đã tiếp đón gia đình bác 42 năm trước. Biểu tượng của nước Mỹ là Nữ Thần Tự Do đứng sừng sững ở cảng New York tiếp đón và mừng di dân đến xây dựng nước Mỹ. Dân tứ xứ khắp thế giới bị đất nước họ ruồng bỏ, không sống được ở quê hương, cũng đến đây xây dựng lại cuộc đời, tìm giấc mơ Mỹ, Tự Do, Hạnh Phúc và Ấm No.

Thỉnh thoảng nhận được tin một người thân, một người quen biết nào đó ngày xưa, tôi rất vui.

Tôi chỉ muốn trải niềm vui của mình bằng từng con chữ, như một khoảnh khắc hồi tưởng lại những kỷ niệm xa xôi.

Tôi vẫn mãi nhớ hình ảnh của bác Lê Thanh Hoàng Dân với nụ cười thân thiện của thuở tôi còn thơ bé. Và cố hình dung ra hình ảnh của bác bây giờ, sau 42 năm bác sống trên đất Mỹ.

“Tôi chỉ là một người Mỹ trung bình, không quyền lực, không tiếng tăm, không giàu có. Nhưng tôi cũng sống được không khí tự do như mọi người. Đó là một điểm son của xã hội Mỹ”. Lê Thanh Hoàng Dân (xuất bản 2018).

Chú thích: Những dòng chữ in nghiêng được trích từ quyển sách 42 năm sống ở Mỹ : Được gì ? Mất gì ?

Câu chuyện thứ hai
Ba chị em cùng làm việc ở tiệm Nails trong Mall, cùng thuê chung một ngôi nhà. Nhà cũ, có 4 phòng ngủ mà chỉ 1 phòng tắm. Mỗi đứa 1 phòng ngủ, vậy là dư ra 1 phòng trống. Bếp ăn chung. Cuối tuần luân phiên nhau đi chợ, lấy hoá đơn về chia ba. Nấu nướng thì buổi tối về, cả bọn xúm vào. Vậy cũng xong.

Hoàn cảnh thì na ná như nhau. Làm nails ở thành phố thì ít tiền, thợ với thợ giành phiên nhau phát mệt. Thôi, chi bằng chịu khó đi xa một chút, chịu buồn vì sống nơi xa xôi hiu quạnh một chút,làm thợ xuyên bang kiếm tiền dễ hơn.

Du đã bàn với bạn trai mình như thế. Thoạt đầu, Dũng không chịu.

— Trời đất! Em đi làm chỗ nào mà xa tới 3 tiếng đồng hồ vậy?
— Thì cuối tuần anh có thể lên thăm em mà.
— Chỗ đó làm việc 7 ngày. Chẳng lẽ anh lên ngồi nhìn em dũa Nails hả?
— Thì phải chịu khó thôi. Còn để dành tiền đám cưới nữa chi.

Vậy là Du xách túi đến đây.

Nhỏ Quyên là thợ xuyên bang chuyên nghiệp. Coi báo thấy chỗ nào lương cao, nó gọi điện tới hỏi liền. Thỏa thuận được giá cả là nó thu xếp hành lý dọn đi ngay.

Ai nhìn, cũng nghĩ nhỏ Quyên thực tế quá, ham tiền quá. Nhưng có gần gũi mới thương nó. Ba Quyên mất sớm, má nó bệnh rề rề. Hai đứa em nhỏ còn đi học. Hàng tháng cả nhà chỉ chờ đồng tiền của Quyên gửi về.

Hà là mẹ đơn thân, nên việc mưu sinh phải đặt lên hàng đầu. Để có đủ tiền lo lắng cho con học đại học, đi đến một nơi xa xôi thế này, có mức thu nhập cao ổn định là thượng sách.

Hà ở đây lâu nhất. Chị làm việc rất siêng năng và rất tằn tiện. Lúc nào Du và Quyên mệt, hay muốn đi shopping săn hàng sale trong Mall, thì cứ việc nhờ một tiếng, chị sẵn sàng ”bao sân”ngay.

Có lần nhỏ Quyên cắc cớ hỏi chị:
— Sao không thấy bà sắm sửa gì hết. Để tiền mua vàng hả?

Chị cười mà mắt long lanh:
— Tao còn phải lo cho con nữa.

Tối hôm nay khi đi làm về, chủ nhà gọi điện báo có thêm người share phòng. Đó là một bà người Hoa, ở New York đến. Bà ấy thuê một quầy trong Mall, làm chỗ bán và vẽ tranh trong mùa hè này. Bà ấy đã ký hợp đồng thuê ba tháng.

Quyên phát hiện đầu tiên:
— Bà Tàu không biết tiếng Anh.

Hà cười phá lên:
— Còn tụi mình không biết tiếng Tàu. Xong phim.

Pennsylvania là tieu bang lạnh, nên mùa hè, tất cả như bừng lên sức sống. Mọi người đổ xô ra đường, mua sắm, picnic… Các dịch vụ rộ lên tấp nập như tiếng ve rền rã, rồi chìm lắng khi cơn gió thu bắt đầu hiu hiu thổi.

Vài ngày sau, đến phiên Du phát hiện:
— Bà Tàu hà tiện hơn chị Hà nữa. Bả chỉ ăn 2 gói Snack mỗi ngày.

— Bả ăn ở Food Court hay ở tiệm nào trên đường, sao mày biết được. Hà không tin.

Du cãi:
— Mấy bữa nay em với nhỏ Quyên thay phiên nhau canh me, thấy buổi sáng bả mua 2 bịch snack đem về ăn trưa và tối.

Quyên gật đầu :
— Sáng tụi em đi cùng lúc với bả, rồi về cùng lúc với bả mà.

Mấy buổi tối rồi, cả bọn nghe bà người Hoa ho khúc khắc. Sáng dậy, bà ấy có vẻ mệt mỏi.

Tối nấu cháo gà, Hà đề nghị:
— Để tao múc một tô rồi đứa nào đem cho bà Tàu nghe.

Du một tay bưng tô cháo, một tay gõ cửa phòng. Có tiếng bước chân lẹt xẹt lê trên thảm. Cửa phòng mở he hé.

Du đưa tô cháo, ra dấu kêu bà Tàu ăn.

Bà ngần ngừ, nhưng Du cứ ấn tô cháo vào tay bà và mỉm cười. Khi không cùng ngôn ngữ, thì nụ cười là phương tiện giao tiếp.

Một nụ cười đáp lại, cùng với cái gật đầu ra dấu cảm ơn, bà Tàu nhận lấy tô cháo.

Quyên chặn Du ngay bếp, trêu:
— Hai người làm sao nói chuyện với nhau vậy?
— Nó với bả chia động từ “quơ tay” đó. Hà chen vào.

Liên tục mấy ngày, Du đảm nhận việc đưa cơm cho bà Tàu.
Buổi sáng cuối tuần, khi mở tủ lạnh, Hà phát hiện ra thịt cá, rau đầy trong tủ.
— Đứa nào đi chợ sớm vậy?

Du và Quyên ngơ ngác nhìn nhau.
Bà Tàu mở cửa phòng bước ra. Bà cười ra dấu là bà mua cho mọi người.
Lần này thì không hẹn, cả bọn cùng cười và gật gật đầu ra dấu cảm ơn.

Câu chuyện thứ ba
Qua đây rồi Sương mới biết Mỹ không phải là nơi mà “cứ mở mắt ra là thấy đô la” như lời người ta đồn thổi ở quê nhà. Nơi đâu cũng vậy, phải làm thì mới có tiền.

Qua đây, Sương cũng mới phát hiện ra chồng mình chẳng có việc làm cố định. Nghề xây dựng của anh bữa được bữa không, tuỳ thuộc vào nhu cầu của khách hàng. Nhưng đều đều mỗi sáng, anh ra quán Quỳnh gần nhà ăn sáng và nhìn cà phê nhỏ giọt vào ly. Buổi trưa anh về nhà nằm luyện phim. Còn buổi tối lại ra quán khác ngồi lai rai với bạn bè. Sinh hoạt của anh chỉ gói gọn trong cộng đồng người Việt, mà người Việt ở Atlanta này cơ man nào mà nói, nên mang tiếng là ở Mỹ hai mươi năm, anh không biết một câu tiếng Mỹ nào ra hồn. Chỉ có OK, lắc đầu, gật đầu rồi No, No. Yes, Yes.

Đó là chưa kể lúc bạn bè rủ rê cá độ hay casino. Anh sẽ mất hút vài ba ngày, đến lúc hết tiền mới lếch thếch về nhà.

Thấy tình cảnh của Sương, Jacquie, chị người Mễ hàng xóm, giới thiệu cho Sương job dọn dẹp nhà cửa như chị đang làm. Nhờ lấy giá rẻ, lại kỹ càng, nên lúc này Sương cũng có nhiều mối.

Bây giờ là thời gian Holidays. Công việc có yêu cầu nhiều hơn để chuẩn bị cho lễ hội. Nhưng bù lại, Sương được chủ nhà cho thêm tiền.

Chồng Sương đi đâu đã mấy ngày rồi. Nghe nói lần này anh đi tận Las Vegas để chơi bài. Sương không biết đó là đâu nhưng không dám hỏi. Cũng không dám hỏi anh đi bao lâu. Sương sợ ánh mắt trừng trừng, sợ cái bạt tay giáng xuống:

— Chưa đi mà đã xúi quẩy rồi. Hỏi sao không thua trắng.

Đang hớn hở lấy tiền ra đếm, nghe tiếng mở cửa, Sương giật mình định giấu đi nhưng không kịp.
— Tiền đâu mà nhiều vậy em?

Chồng Sương vừa bước vào nhà vừa cười thật tươi. Anh sà xuống bên Sương, nhanh nhảu nắm lấy tay vợ:
— Vợ anh giỏi thiệt. Biết anh cần tiền gỡ độ đây mà…

Sương hốt hoảng giật tay lại, giấu ra phía sau:
— Không được đâu anh. Còn phải trả tiền nhà, tiền điện nước, tiền nợ…

Chồng Sương chồm tới . Một tay nắm tóc Sương, một tay tát tới tấp:
— Con này nhẹ không ưa hả?

Máu từ miệng Sương ứa ra. Chồng Sương dập đầu Sương xuống đất, giật lấy xấp tiền:
— Vợ con gì mà không dạy nó là không được.

Bước ra cửa, anh còn quay mặt lại, cảnh cáo câu cửa miệng, mỗi khi bực mình Sương:
— Lạng quạng tao tống cổ về nước đó.

Sương không biết mình nằm đó bao lâu. Sương cũng không biết mình có ngất đi hay không mà bỗng dưng rơi vào trạng thái vô thức. Trong mơ hồ, Sương chỉ ao ước mình không bao giờ tỉnh dậy.

Phải mất hai ngày Sương mới có thể đi làm được. Mary, chị chủ nhà, vừa mở cửa cho Sương vừa la lên:
— Oh, my God! Mặt của em sao thế này?

Sương lắc đầu không nói, cứ cắm cúi làm việc. Nhưng chị đã bắt Sương ngồi xuống ghế, lấy bông băng chăm sóc vết thương cho Sương.

Sương khóc tấm tức. Chị dịu dàng quá làm Sương nhớ đến mẹ mình. Ở quê nhà, nếu biết con gái bị bạc đãi thế này, chắc mẹ sẽ đau lòng lắm.

Hai ngày không ăn uống gì, chỉ vùi đầu khóc, bây giờ Sương có cảm giác như mình đang lơ lửng giữa chân không. Người Sương chợt lả đi.

Mary gọi điện cho chồng. Bob là cảnh sát. Đang đi tuần quanh khu phố, anh vội vòng xe về nhà.

Mary quả là một người phụ nữ đảm đang. Nhìn sắc mặt của Sương, cô hiểu Sương đang đói lả. Cô đặt Sương ngồi dựa vào sô pha rồi hâm lại hộp soup.

Xong cô đỡ Sương dậy, dỗ dành Sương ăn trong lúc đợi chồng.

Khi Bob về, hai vợ chồng bàn gì với nhau rồi đưa Sương ra sở Cảnh sát. Nơi đó, người ta gọi phiên dịch người Việt đến nói chuyện với Sương. Họ thuyết phục Sương kể lại mọi chuyện.

Sau khi lập biên bản, người ta đưa Sương đến Shelter. Đây là mái ấm tạm thời cho Sương và những người cơ nhỡ.

Luật pháp đã bảo vệ Sương. Không có ai có quyền nhục mạ, đánh đập, lẫn “tống cổ” Sương về nước.

Lời cuối :
Những năm tháng sống ở Mỹ, tôi đã trải nghiệm, đã gặp và đã chứng kiến bao nhiêu mảnh đời lưu vong.

Mỗi người chúng tôi một phận đời, những phận đời di dân trên nước Mỹ.

Xin nhờ bác Lê Thanh Hoàng Dân thay cho chúng tôi nói lời tri ân tự đáy lòng:

“Cảm ơn nước Mỹ đã chấp nhận chúng tôi đến tỵ nạn, cho chúng tôi cơ hội làm lại cuộc đời,và chấp nhận chúng tôi làm công dân Mỹ bình đẳng, bình quyền như mọi người Mỹ khác”. (42 năm sống ở Mỹ : Được gì? Mất gì? — Lê Thanh Hoàng Dân).

Biển Cát
Pho tượng đồng đen trong garage

Chị Bông ra ngoài sân trước cắt cỏ đã thấy garage nhà hàng xóm bên cạnh mở toang ra và ông Bill ngồi đấy như thường lệ. Hai vợ chồng ông Bill chỉ có một chiếc xe, họ đậu xe ngoài sân, trong garage sử dụng như một nhà kho để đồ đạc và giữa garage luôn kê một chiếc ghế làm chỗ riêng cho ông Bill ngồi, ông ngồi đấy chỉ để uống một hai lon bia và nhìn ra ngoài. Thế thôi.

Lần này chị Bông vội bước sang để hỏi thăm ông:
– Chào ông Bill, tôi nghe vợ ông nói ông bị bệnh, hôm nay trông ông đã khỏe rồi, chúc mừng ông.

Ông Bill gượng mỉm cười, giọng nói khàn khàn:
– Cũng không hoàn toàn là khỏe nhưng bác sĩ nói tạm được và cho tôi về nhà trong khi chờ đợi những lần tái khám.

Chị Bông nhìn ông Bill, quả là ông đã gầy đi, gương mặt với hai gò má hóp và đầu ông thì nhẵn nhụi không còn tóc.

Ông Bill chậm rãi kể:
– Thật kinh khủng, tôi bị chẩn đoán ung thư cuống họng sau những lần ho khan khó nuốt và khó thở. Hiện nay tôi đang hoá trị và xạ trị.

Dù sao cũng chúc mừng ông được trở về nhà và ngồi đây, vắng bóng ông cửa garage luôn khép kín và tôi như thấy thiếu thiếu một cái gì đó.

– Chị nói đúng như tôi đã nghĩ, những ngày nằm trong bệnh viện tôi cũng thấy thiếu vắng một điều gì và trống trải vô cùng. Thì ra tôi nhớ chỗ ngồi này của tôi.

Chị Bông và ông Bill cùng mỉm cười cảm thông nhau. Ngày vợ chồng chị Bông đến chọn lô đất xây nhà chị đã thích địa điểm này, kiểu nhà này, vợ chồng chị chọn màu gạch đỏ vì màu đỏ luôn làm mới căn nhà hơn những màu khác, cũng như khi mua xe hơi chị Bông thích những màu trắng hay đỏ thì dù sau này đời xe đã cũ nhưng trông vẫn sáng sủa hơn các màu khác dù xe cùng thời.

Khi căn nhà chị đang xây thì ông Bill đến chọn mua lô đất bên cạnh nhà chị Bông, trái ngược với căn nhà màu gạch đỏ tươi nhà chị, nhà ông Bill màu gạch xám đen. Chị Bông đã thất vọng vô cùng vì nhà hàng xóm sẽ “lây lan” cái màu tối sầm sang nhà chị, làm mất đi vẻ đẹp của dãy phố và chị càng thất vọng hơn khi chủ nhân ngôi nhà ấy là vợ chồng người da đen.

Người da đen thích màu xám có lẽ cho đồng điệu với màu da của họ? Một ngôi nhà thờ lớn của người da đen trong thành phố này cũng là màu xám từ vách tường cho tới màu mái nhà, y như màu gạch tường và màu mái nhà ông Bill.

Khi chị Bông và ông Bill dọn vào nhà mới tình hàng xóm chỉ là con số không to tướng, mỗi lần ra sân trước chị Bông đều quét ánh mắt cau có liếc sang nhà hàng xóm với vẻ ác cảm và khó chịu, chị chỉ mong vài ba năm sau ông Bill sẽ không có tiền trả mortgage, sẽ thấy cái bảng “For Sale” cắm trước nhà ông Bill cho… sướng con mắt.

Anh Bông hiểu ý nói cho chị vừa lòng:
– Người Mỹ có nhiều lý do để dọn nhà, nay mai nhà ông Bill cũng thế. Vậy em đừng “mặt sưng mày sỉa” với họ nữa.

Nhưng điều ấy chắc chẳng bao giờ đến vì càng ngày ông Bill càng o bế nâng niu căn nhà màu xám xịt của ông. Trước sân ông trồng một cây Maple và một cây hoa Crape Myrtle, hai năm sau cây Maple ra lá đỏ vào mùa Thu thật đẹp và cây Crepe Myrtle ra hoa màu tím đậm suốt mùa hè cho đến mùa Thu thật quyến rũ làm chị Bông cũng phải ghen tị. Chị thích hoa lá nhà ông Bill chứ nhất quyết không cảm tình với vợ chồng ông ta.

Ông Bill có vẻ hạnh phúc vì chúng lắm, ngày nào ông cũng mở cửa garage lên, ông ngồi trên ghế và ngắm nhìn những tác phẩm của ông trồng đã lớn nhanh và ra hoa ra lá. Đôi khi chị Bông bắt gặp ông Bill ngồi đấy trong một buổi chiều tà, người đàn ông da đen trong khung cửa màu xám đen trông ông như một bức tượng đồng màu đen huyền bí.

Chị Bông đã có lần lẩm bẩm:
– Người đã đen lại ngồi trong garage màu xám trông thấy mà ghê!

Bây giờ thì chị Bông thầm công nhận bề ngoài căn nhà màu xám của ông Bill đẹp hơn nhà chị, mỗi khi tới mùa Thu màu lá đỏ và màu hoa tím nổi bật bên màu tường xám thành một bức tranh linh động hài hoà, thành sắc màu thâm trầm sâu lắng, u ẩn nên thơ.

Vườn sau nhà ông Bill trồng hai cây lê, cây mới trồng một năm quả đã treo lủng lẳng trên cành. Sao mà ông mát tay đến thế, trồng hoa hoa đep, trồng lá lá xinh, trồng cây ăn trái thì trái ra nhiều như con heo mẹ đẻ trúng lứa ra đàn con lố nhố đáng yêu.

Chị Bông muốn bắt chước nhà ông Bill, nhưng anh Bông gàn bướng không chịu trồng cây bóng mát trước sân vì sợ rễ cây to làm hư foundation, còn trồng hoa thì anh bảo chỉ rước nợ vào thân, cả hai vợ chồng cùng bận thì giờ đâu mà ngắm hoa hoét lại còn phải quét rác nhặt hoa rơi phí cả thì giờ vàng ngọc. Với lại anh Bông bảo để vườn trống cho dễ cắt cỏ, hai vợ chồng thường cãi nhau vì chuyện này, chị Bông thua cuộc nhưng chị tin là sẽ thắng cuộc trong một dịp khác. Hai vợ chồng chị như hai đội bóng giao đấu có lúc phe này thắng phe kia thua.

Ông Bill là người làm quen chị Bông trước, khi có một ngày cả hai đều không hẹn mà cùng cắt cỏ nơi sân trước, nhờ thế chị Bông biết nhiều về ông Bill hơn, ông là cựu chiến binh Việt Nam, có 2 con gái đã lập gia đình, hai ông bà mua căn nhà này ở dưỡng già vì cả hai cùng về hưu, đến tuổi này ông Bill mới lần đầu tiên mua được một căn nhà nên ông vui lắm, ông hãnh diện nói đây là căn nhà lý tưởng của ông nên ông thích mở cửa garage để nhìn ra ngoài cũng đủ vui rồi, chỉ khi nào thời tiết quá nóng hay quá lạnh ông mới chịu thất hứa với chính mình không mở toang cửa và ngồi giữa garage làm pho tượng sống trong mắt chị Bông nữa.

Ông Bill hào hứng phân tích:
– Căn nhà chúng ta nơi khu phố này càng ngày càng có giá trị vì gần sân vận động football của đội bóng Cowboys, mà đội bóng Cowboys của Dallas Texas nổi tiếng cả nước, giá trị đội bóng này rất cao.

Chị Bông đã nói một câu vô duyên:
– Tôi có thấy đội bóng Cowboys tài tình gì đâu, năm nào cũng ra rìa. Họ có cho tôi vé tôi cũng không đi xem.

Ông Bill hơi cụt hứng:
– Tại chị chưa hiểu rõ về môn thể thao này, vé bán không đủ ai có mà cho không chị.

Chị Bông càng vô duyên:
– Mà mỗi lần có sự kiện tại sân football thành phố Arlington tràn đầy du khách, lại bị kẹt xe. Tôi chán lắm.

– Vui chứ sao và du khách đến là mang lợi nhuận cho thành phố chúng ta. Chị không thấy thành phố Arlington đang từng bước đổi mới để làm đẹp mắt du khách à.

– Ôi giời, cái thư viện ở đường Abram ngay trung tâm downtown của Arlington to đẹp thế mà họ đập đi chắc để xây cái mới. Thật là lãng phí!

Người Mỹ thích môn football và hãnh diện vì nó quá nhiều, ngày thành phố Arlington tiểu bang Texas này được chủ nhân đội Cowboys chọn là nơi xây sân vận động, cả chính quyền thành phố và cư dân đã vui mừng hớn hở đến sôi sục, đi đâu ở đâu cũng nghe người ta bàn về sân vận động Cowboys tương lai, sân vận động đang xây cất mà thành phố đã countdown từng ngày, rồi từng giờ từng phút ngày hoàn tất, giá nhà đất gần khu sân vận động đã tăng nhanh tăng vọt, một cái duplex cũ mèm xây từ đời tám hoánh nào bỗng được chủ nhân hét giá tận mây xanh làm như mua miếng đất gần sân thể thao này sẽ hái ra bạc khạc ra vàng. Chẳng thế mà căn nhà màu xám của ông Bill ở cách xa sân vận động mấy miles cũng được ông… tự động đánh giá cao, cho là sẽ càng ngày càng đắt giá.

Ông Bill mỗi ngày hoặc đôi ba ngày vẫn ngồi ngoài sân thưởng thức những hương vị cuộc đời.

Chị Bông đã quen mắt nhìn pho tượng đen ngồi trong garage, ông Bill thường ngồi từ buổi chiều cho đến chập tối. Chị Bông thấy yên tâm khi đi đâu về vào buổi tối, coi như ông Bill đã ngồi “canh gác” cho nhà chị chẳng lo kẻ xấu nào bén mảng tới gần nhà. Hai garage ở cạnh nhau mỗi khi thấy chị Bông bên này ông Bill bên kia lại giơ tay chào, pho tượng sống kể ra cũng lịch sự lắm, dĩ nhiên chị Bông cũng vui vẻ giơ tay chào lại. Chị Bông hối hận vì thời gian đầu đã ghét ông Bill, nhà ông xây gạch màu gì là quyền của ông cũng như chị thích xây nhà màu đỏ là quyền của chị, ông Bill có ghét cũng chẳng làm gì được chị và màu da đen của ông nào có tội tình gì. Chị đã giận đã ghét người ta vô cớ, tính nết chị, anh Bông bảo là đành hanh không sai tí nào.

Biết ông Bill từng chiến đấu tại Việt Nam chị Bông đã cảm tình ngay, người ta đã hi sinh thời gian của tuổi trẻ, hi sinh mọi thứ tiện nghi của đời sống văn minh tại Mỹ để đến đất nước nghèo khổ và chiến tranh của mình. Bao nhiêu ác cảm tan biến hết, chị Bông thực sự cảm mến ông bà Bill và ước muốn ông bà mãi là hàng xóm của chị.

Khi thấy cửa garage nhà ông Bill một thời gian dài đóng kín chị Bông ngạc nhiên hỏi thăm bà Bill chị Bông mới biết ông bị bệnh và nằm bệnh viện. Hôm nay ông đã trở về nhà, pho tượng đồng đen lại xuất hiện nơi giữa garage.như một lời thề bất di bất dịch.

Bây giờ đã vào mùa Thu của Texas, cây Maple trước sân nhà ông Bill lá đã lác đác chuyển sang màu đỏ, cây Crape Myrtle cuối mùa vẫn sum suê hoa tím đẹp não nùng, chị Bông thầm cám ơn ông Bill đã trồng hoa cho chị ngắm, còn anh Bông nhà chị tên là “Bông” mà chẳng thích… bông hoa gì cả.

Chị Bông đang lái xe về nhà, chiều nay chị đi dự một buổi họp mặt tại nhà một người bạn đồng môn thời trung học khi có vài bạn từ tiểu bang khác đến. Lâu ngày bạn cũ gặp nhau cả bọn đã ăn uống và chuyện trò không ngớt mãi gần khuya mới chia tay. Ngày mai là cuối tuần nên ai cũng thoải mái bất kể giờ giấc. Xe vào đến sân nhà chị Bông nhìn đồng hồ trên xe đúng 11 giờ 30 khuya, chắc là anh Bông chồng chị đang ngủ say ngon lành và ngáy khò khò, người dễ ngủ thế mà lúc nào cũng than mất ngủ. Chị bước ra khỏi xe và khi vô tình nhìn sang garage nhà ông Bill chị bỗng giật mình thấy cửa garage vẫn mở, ông Bill vẫn đang ngồi thù lù ở ghế giữa garage như thường lệ. Ông không mở đèn. Chị Bông đã quá quen thuộc với hình ảnh ông Bill ngồi đấy nhưng sao tối nay chị cảm thấy rờn rợn người, pho tượng đen ngồi trong bóng đêm thầm lặng càng thêm huyền bí.

Hình như sự im lặng của ông Bill, hình như trong bóng đêm mập mờ đã làm chị nghi ngại và hoảng sợ vu vơ, chị muốn cất tiếng chào mà không thốt nên lời. Còn hai tuần nữa mới đến ngày Halloween để ông Bill ngồi đây nhát ma chị Bông mà.

Nhớ mùa Halloween đầu tiên làm hàng xóm với nhau ông Bill đã cho chị Bông một phen khiếp đảm, buổi chiều đi làm về chị Bông thấy trong garage nhà ông Bill mở cửa, một bóng ma choàng đồ đen ngồi chình ình trên ghế, gương mặt nó thì trắng bệch như sáp trắng lạnh lùng với hai hố mắt sâu hoắm đen ngòm và hàm răng dài trắng ởn nhọn hoắc nhe ra quái đản. Bóng ma đang nhìn trừng trừng vào chị Bông và không hề nhúc nhích động đậy. Sau vài phút giây toát mồ hôi lạnh chị Bông mới nghĩ ra đấy là trò chơi Halloween.

Những năm sau, mỗi mùa Halloween chị Bông lại hồi hộp và len lén nhìn sang garage bên cạnh để thấy ông Bill ngồi đó với những gương mặt và trang phục kinh dị làm chị điếng hồn. Mỗi năm ông “diện” một trang phục và đeo bộ mặt ma quái khác nhau, lần nào chị cũng có cảm giác rợn người dù biết chắc là ông Bill bằng xương bằng thịt chứ ma quỷ nào dám bước vào garage tranh chỗ ngồi của ông.

Hôm nay ông Bill ngồi khuya thế, mọi khi ông có ngồi đến tối muộn lắm cũng chỉ 8, 9 giờ tối là cùng. Hay là ông muốn hóng những cơn gió mát của mùa Thu? Hay là ông có chuyện gì buồn nên ngồi một mình trong bóng đêm cho tâm tư lắng đọng sầu vơi? Ông đã quên không giơ tay chào chị, thì thôi chị cũng tôn trọng sự riêng tư của ông. Ngày mai ngày mốt thế nào gặp chị ông Bill cũng sẽ kể chị nghe, ông thường chia sẻ với chị những lặt vặt buồn vui, những trở ngại thường tình trong cuộc sống. Chị Bông đã hài hước nghĩ thầm chị và ông Bill là “tri kỷ garage” vì hai người chỉ gặp nhau tại đây, trò chuyện tại đây.

Chị Bông bước nhanh vào phía cửa nhà mình, chị tưởng như có một luồng hơi lạnh sau lưng, có tiếng động nhẹ sau lưng y như ông Bill đã đứng dậy bước sang sân nhà chị và đi lẽo đẽo theo chị làm chị không dám quay đầu lại chỉ sợ những ý nghĩ trong đầu mình là đúng. Chưa bao giờ chị Bông thấy cái sân nhà mình dài đến thế, cái cửa xa đến thế, chị đi nhanh đến nỗi muốn vấp ngã mà cái cửa nhà hình như cứ lùi xa, lùi xa càng làm chị cuống lên, càng làm chị không dám quay đầu nhìn lại phiá sau.

Khi vào trong nhà chốt cửa lại chị Bông mới yên tâm. Chị bật đèn lên, đứng tựa lưng vào cửa và hít thở thật sâu cho mọi căng thẳng tan biến hết. Chị tự trách mình giàu tưởng tượng, ông Bill đi theo chị làm gì, ông vẫn ngồi bên đó nhưng chẳng biết đến khi nào ông mới vào nhà đi ngủ? Trách mình xong chị lại trách ông Bill sao không mở đèn garage lên làm cho chị vốn nhát gan phải lo sợ vu vơ.

Sáng hôm sau chị Bông thức dậy trễ, vừa làm món ăn sáng chị Bông vừa phơi phới niềm vui nhớ lại lúc vui đùa cùng các bạn tối qua, chị quên hẳn ông Bill. Chị Bông ra sân để nhặt tờ báo Dallas Morning News xem quảng cáo cuối tuần có gì vừa rẻ vừa đẹp là chị có lý do đi shopping ngay, chị đặt mua báo giấy này từ lâu nay, báo càng ngày càng ế vì bị internet chiếm lĩnh, anh Bông đòi cancel không mua báo nữa vì tin tức gì đọc trên net có ngay, nhanh chóng và nóng hổi nhưng chị Bông không chịu, chị bùi ngùi:

– Mua ủng hộ, tội nghiệp báo giấy đã hết thời vàng son của nó, báo Dallas Morning News đang xuất bản 500 ngàn số mỗi ngày dần dần tụt xuống chỉ còn 250 ngàn số. Em sẽ là người đọc đi theo tờ báo đến ngày cuối cùng nếu nó mạng yểu chết sớm.

– Hừm, em bao la từ tâm ghê nhỉ, thương cả các đại công ty tư bản. Hãy thưong chính thân mình đi, vợ hay chồng chẳng may bị mất việc là mất nhà mất cửa đấy.

– Anh à, em thương là thương tờ báo chứ không phải thương các ông bà chủ của nó, tờ báo là tâm hồn là người bạn chia sẻ với chúng ta biết bao nhiêu điều. Tờ báo gần gũi, ta cầm nó được, cất nó được, còn internet đọc xong là gió thoảng mây bay.

Hai vợ chồng cãi nhau cuối cùng chị Bông chiến thắng vẫn tiếp tục mua báo Dallas Morning News. Nếu ông bà chủ báo biết được tấm lòng chung thủy của chị Bông chắc ông bà sẽ cảm động rơi nước mắt.

Khi cầm tờ báo định quay vào nhà chị Bông mới nhớ đến ông Bill tối qua, chị nhìn sang garage nhà ông và ngạc nhiên vì đã mở từ lúc nào, chiếc ghế sắt giữa garage không người chỉ có chiếc áo jacket của ông khoác trên lưng ghế, hai tay áo lòng thòng như dáng người ngồi.buông tay hững hờ. Tối qua ông đã ngồi đây, tối qua ông đã quên đóng garage xuống hay sáng nay ông đã dậy sớm và lại mở cửa?

Chị Bông đang ngẩn ngơ thắc mắc thì bà Bill từ trong nhà đi ra, chị Bông cất tiếng chào:
– Chào bà Bill.

Người đàn bà da đen gương mặt buồn bã khác hẳn mọi ngày:
– Chào chị.

Chị Bông ngạc nhiên bước đến gần bà, bà Bill bỗng oà khóc:
– Ông nhà tôi vừa qua đời đêm qua tại bệnh viện.

Chị Bông tưởng tai mình nghe lầm, chị ngạc nhiên hỏi lại:
– Bà nói sao? Ông Bill vừa qua đời đêm qua? Tại bệnh viện?

Bà Bill xác nhận:
– Đúng thế, ông ấy mất lúc 11 giờ đêm, tôi đã ở bên ông ấy trong phút giây cuối cùng này, gần sáng tôi mới về nhà ngủ một chút lấy sức rồi bây giờ lại phải đi ngay để liên hệ với nhà quàn.

Chị Bông lẩm bẩm bằng tiếng Việt Nam như một con mẹ dại:
– Ông Bill qua đời lúc 11 giờ đêm qua, lúc mình mới về đến nhà là 11 giờ 30… Thế là thế nào?

Bà Bill không hiểu chị Bông nói gì, bà chỉ biết kể lể:
– Từ khi biết mình mắc bệnh hiểm nghèo ông Bill nhà tôi đau đớn lắm, tiếc không còn được ra ngồi ở garage nữa, một thú vui tầm thường, một cuộc sống nhàn hạ tuổi về chiều mà khó khăn lắm chúng tôi mới có được ngày này.

Chị Bông thất thần nhìn về phía garage nhà ông Bill, nhìn chiếc ghế có chiếc áo jacket, bây giờ bà Bill mới hiểu nỗi lo sợ trong đôi mắt nhà hàng xóm:

– Không phải ông Bill nhà tôi mở cửa garage này đâu, tôi mở đấy mà, chiều qua tôi có ghé về nhà lấy ít đồ trong garage rồi vội vàng vào bệnh viện ngay mà quên không đóng xuống cho tới tận bây giờ – Bà lại than thở – Tội nghiệp chồng tôi, lần cuối cùng ngồi ở garage vẫn để lại chiếc áo khoác tưởng rằng chiều hôm sau lại ra đây ngồi, thế mà ông vào bệnh viện và mãi mãi không trở về nhà.

Chị Bông lấy lại chút bình tĩnh và hỏi:
– Vậy là cả ngày hôm qua ông Bill không về nhà?

– Dĩ nhiên, vì ông đã nhập viện khẩn cấp từ ngày hôm kia và hôn mê sâu cho tới khi qua đời..

Chị Bông lạnh toát cả người, chị cố gắng lắm mới thốt ra được:
– Xin chia buồn cùng bà và gia đình. Chúng tôi cầu nguyện cho linh hồn ông Bill nơi mảnh đất bình yên vĩnh cửu.

Buổi sáng giữa ban ngày ban mặt mà chị Bông đi vội vào nhà như bị ma đuổi, chị quẳng tờ báo ra bàn và ngồi phịch xuống ghế sofa kinh hãi. Rõ ràng đêm qua chị đã thấy ông Bill ngồi giữa garage, không thể nào chị trông gà hóa cuốc được vì dáng ông to cao, ngồi mà vẫn sừng sững chứ có phải nhỏ bé như một món đồ chơi đâu mà chị có thể nhìn lầm?

Hay là bóng ma ông Bill đã hiện về ngồi đấy đợi chị Bông để gặp chị lần cuối cùng, để vĩnh biệt chị?

Chị Bông đã tin vào điều này khi mẹ chị qua đời. Năm ấy mẹ ốm phải nằm bệnh viện, chị và bố thay phiên nhau ở bệnh viện chăm nom người bệnh. Đến lượt bố ở lại bệnh viện. Ở nhà lúc nửa đêm về sáng chị Bông mơ thấy mẹ về, mẹ mặc chiếc áo dài màu dưa cải mẹ yêu thích, đầu mẹ vấn khăn chỉnh tề. Chị Bông đã mừng rỡ kêu lện:

– Mẹ ơi, mẹ khỏi bệnh về với chúng con à?

Nhưng mẹ chị chưa kịp nói gì thì chị Bông nghe tiếng gọi cổng, chị Bông tỉnh giấc vùng dậy ngơ ngác biết mình vừa mơ và tiếng gọi cổng là thật, chị chạy ra mở cổng, bố chị từ bệnh viện trở về, ông buồn bã :

– Mẹ con vừa mất sáng nay rồi, bố về báo tin ngay đây.

Thì ra mẹ chị đã hiện về ngay sau khi hồn lìa khỏi xác, chắc mẹ muốn gặp chị Bông, đứa con gái lớn nhất để báo tin, để nhắn nhủ chị em đùm bọc nương tựa lẫn nhau.

Thấy anh Bông từ sân sau vào nhà chị Bông vội báo tin:
– Anh ơi, ông Bill bên cạnh chết rồi.

Anh Bông không ngạc nhiên cho lắm:
– Thì bệnh ung thư mà, phát hiện trễ làm sao chữa khỏi. Hôm kia anh đã thấy xe cấp cứu đến đưa ông Bill đi mà.

– Sao anh không kể em nghe, em cứ tưởng ông Bill vẫn đang ở nhà và hồi phục.

– Ôi, chuyện mình cũng lu bu anh đâu nhớ chuyện ai, sáng sớm nay anh thấy bà Bill vừa lái xe về tới nhà anh định hỏi thăm thì bà đã vào trong nhà nên đành thôi.

– Anh như ma xó toàn bắt gặp những tình huống đặc biệt của nhà hàng xóm thế mà khi em nhờ anh đi tìm món gì trong nhà anh đều nói không biết ở đâu.

– Thì tình cờ thôi. Thế em vừa gặp bà Bill à?

– Vâng, bà ấy mới nói em biết.

Chị Bông kể tỉ mỉ chuyện đêm qua thấy ông Bill ngồi trong garage cho anh Bông nghe.

Anh Bông thắc mắc:
– Em có nhìn xớn xác không? chiếc áo jacket của ông khoác trên ghế em tưởng người ngồi, hình ảnh ông Bill quen thuộc mà em từng nhìn thấy bấy lâu nay đã ám vào đầu óc em rồi.

– Lúc em bước xuống xe là phải đối diện xéo xéo khá gần garage nhà ông Bill rồi làm gì mà xớn xác cho được, cánh cửa garage mở rộng toang hoác mà ông thì ngồi ngay giữa garage, chỉ có điều về muộn nên em nhìn vội và bước vội thôi.

Anh Bông nửa đùa nửa thật:
– Một là em hoang tưởng, hai là ông Bill… hiện về thăm nơi chốn quen thuộc của ông lần cuối, ba là ông Bill muốn gặp em để từ giã bà hàng xóm nhiều chuyện.

– Gớm, đoán ba điều, ba phải như anh thì ai cũng đoán được.

Hoang mang và tò mò một lát sau chị Bông lại bước ra sân trước, chị đứng bên sân nhà mình nhìn sang sân nhà ông Bill, bây giờ cửa garage đã đóng kín, bà Bill đã rời khỏi nhà lo chuyện ma chay cho chồng.

Chị Bông nhìn cánh cửa garage đóng kín mà vẫn rùng mình, vẫn tưởng như ông Bill còn đang ngồi trong đó, pho tượng màu đen vẫn sừng sững trong đó. Chị tự hỏi không biết đến ngày lễ Halloween sắp tới này những hình ảnh ma quái cũ, những hồn ma bóng quế mùa Halloween cũ mà ông Bill đã hoá thân vào, chúng có nhớ ông Bill mà trở về ngồi trong garage không?

Ngoài sân cây Maple lá đỏ bỗng rưng rưng buồn và cây Crepe Myrtle hoa tím bỗng u uẩn như để tang cho ông Bill, người đã mua chúng về trồng, đã vun bón tưới nước và đã từng hạnh phúc ngắm chúng suốt mấy mùa hoa lá.

Đêm qua người ấy đã qua đời.

– Nguyễn Thị Thanh Dương

Saturday, October 29, 2022

Cảm Nhận Một Chuyến Đi 

Trước đêm qua Thụy Sĩ thăm Vydan, tôi nôn nao khó ngủ, có lẽ sự chờ đợi quá lâu để sắp xếp một chuyến đi mà hai mẹ con tưởng như không có thể gặp mặt được trong thời kỳ đại dịch COVID, cả thế giới lao đao vì phải ngăn sông cấm chợ để đối phó với thảm họa kinh khủng này, sức khỏe thằng bé vốn mong manh như cọng cỏ khô, chỉ cần cơn gió nhẹ cũng có thể mang nó vào hư không, lúc đó tôi lo cuống cuồng vì sợ mất Vydan, mà cũng có thể chính tôi sẽ ra đi trong tuyệt vọng vì không còn dịp ôm con lần cuối cùng. Mỗi lần nghĩ tới cuộc chia ly này, tim tôi như thắt lại.

Vé xe lửa nhờ chị bạn bên Paris mua dùm trước đó cả tháng cho được giá rẻ, chuyến đi lần này không "mình ên" nữa vì anh ấy muốn đi theo để thăm Vydan, nói như anh" biết đâu không có lần sau" Ừ, biết đâu được, cơn gió nào bay qua vô tình, "gió lay mẹ rụng, con phải mồ côi "thật lòng bây giờ đi đâu chúng tôi cũng cần có nhau, năm nay anh ấy cũng yếu lắm rồi, đi đứng chậm chạp, chưa kể những cơn đau bất chợt đâu đó khi trái gió trở trời của tuổi già, khiến tôi e ngại mỗi lần chuẩn bị một chuyến đi xa nhà.

Tôi có 3 người thân yêu nhất, ở 3 nơi khác nhau mà chỗ nào cũng xa xôi ngàn dặm, nên chúng tôi cố sắp xếp thời gian để đi cho kịp. Vydan là nơi đến đầu tiên.

Đầu thu mà mưa đã dai dẳng suốt đoạn đường, con tàu cứ băng băng như nỗi nhớ thương được rút dần khoảng cách, suốt mấy tiếng ngồi ê ẩm ngủ gà ngủ gật trên toa xe, tới sân ga thì trời cũng chập choạng tối, mưa còn dai dẳng, lạnh lẽo và chúng tôi mệt mỏi lắm rồi Tôi sẽ dành cho thằng bé sự bất ngờ vào sáng mai nên gọi Taxi về thẳng "nhà trọ", nghĩ rằng mình sẽ đến một nơi sầm uất có tiệm ăn và cà phê nóng.

Xe chạy loanh quanh và leo lên con dốc khá dài, một khu nhà xưa cũ kỹ, cây cối um tùm trong một buổi chiều chạng vạng, tôi nghĩ người tài xế lộn địa chỉ, nhưng không, ông ấy nhìn vào bản đồ trên xe và gật đầu, thật lòng tôi cũng không chắc chắn lắm, mò mẫm trên online cả tháng trước khi qua đây, tìm thấy nơi này ghi rõ là apartment cho thuê giá rẻ nhất vùng, chỉ cách chỗ Vydan ở khoảng 20' đi bộ, tôi đã bấm vào và trả tiền đầy đủ vì sợ "huốt" rồi không biết ở đâu, ai dè nó lại là nơi heo hút tối hù này, thôi đành vậy.

Cánh cổng khép hờ, tôi đi lên cầu thang bấm chuông, một người phụ nữ khả ái hiện ra, tôi đưa số code đặt phòng và tên của mình, bà ấy đưa chìa khóa và chỉ tay vào căn phòng bên dưới, đó là một basement nhỏ gọn, có bếp và restroom riêng, giường nệm sạch sẽ. Chúng tôi đành ăn chút xíu bánh mì còn sót trong túi xách và ngủ một giấc sáng bét.

Có tiếng gà gáy, tôi ngờ ngợ tưởng mình nghe lầm. Chuẩn bị một ba lô quà cáp mà trước khi đi những bạn bè ở Mỹ đã gởi Mẹ mang cho Vydan bằng tấm lòng yêu thương của các cô chú dành cho thằng bé .

Chúng tôi rời phòng ra bên ngoài nhìn cảnh vật chung quanh, thì ra ngôi biệt thự xưa cũ nằm trên ngọn đồi, nhìn xa xa nhà cửa san sát bên dưới, thung lũng có đường rầy xe lửa chạy qua, trước cổng là đám rẫy bắp khô héo và mấy cái chuồng nhỏ có nuôi gà và thỏ, khung cảnh giống như vùng quê, yên tĩnh, thoáng mát. Thôi kệ, có chỗ ở giá rẻ là tốt rồi, trong khi cách đó chừng cây số, hotel thường thôi mà cũng đắt gấp ba lần, Thụy Sĩ là nơi dành cho nhà giàu mà.

Lâu rồi không thấy Vydan xuất hiện trên Facebook, tôi có nhắn tin trước khi đi nhưng chắc nó không đọc được, hỏi thăm chị bạn thì chỉ cho biết là nó vẫn ok, khiến tôi cũng yên tâm phần nào.

Khung cảnh khu chung cư như cũ, tôi chạy lên cầu thang không cần đợi thang máy, cánh cửa phòng mở ra, Vydan đang ngồi trên xe lăn cùng các bạn của nó trong phòng khách, con mắt rạng rỡ như biết cười, miệng há to ra, tôi nắm cánh tay khẳng khiu của Vydan như ước lượng sức khỏe, hình như thằng bé gầy còm già nua hơn sau mấy năm không gặp, nhìn quanh ba đứa trẻ cũ, vẫn những gương mặt ngơ ngác không chút cảm xúc nào, tôi thấy mình cũng già đi khi không thể nhớ nổi tên từng đứa, có cái gì đó thay đổi ở đây khi xuất hiện nhiều nhân viên mới, tôi hỏi tên vài người bạn của Vydan trước đây, thằng bé buồn buồn không diễn tả được.

Chúng tôi xin phép cho Vydan ra ngoài dạo phố, cũng con đường góc chợ quen thuộc của mấy năm trước, quán cà phê đối diện với lâu đài cổ có cái đồng hồ to đùng trên cao mà đứng xa cũng nhìn thấy được.

Buổi sáng nắng ấm, quảng trường đông vui, quanh chúng tôi là những thanh niên cở tuổi Vydan, họ uống cà phê, hút thuốc và nói cười vui vẻ, tuy không muốn so sánh nhưng tôi vẫn cảm thấy chạnh lòng, biết là không thể thay đổi được thân thể khuyết tật của thằng bé nhưng tôi vẫn ao ước nó đứng được trên đôi nạng, hay bàn tay nó nắm được một vật gì đó thật chắc, như cái muỗng đưa cà phê vào miệng lúc này, thay vì mẹ phải đút từng ngụm như baby.

Nỗi ao ước thật tầm thường mà phải có phép mầu mới thực hiện được. Thương thì nghĩ vậy chứ nó không mặc cảm gì đâu, trái lại thằng bé có vẻ hớn hở khi được mẹ chăm sóc. Tội nghiệp cho con trai của tôi, tóc lốm đốm hoa râm rồi mà mình vẫn tưởng như nó còn nhỏ lắm vậy.

Những ngày ở lại đây, ngoài 2 buổi đến chơi với thằng bé, chúng tôi lại lang thang quanh khu chợ, ngắm nghía những gian hàng sang trọng với cái giá không bao giờ dám đụng tới, may là chỗ ở có nồi niêu để nấu ăn, chúng tôi mua bịch gạo nhỏ, chai nước tương và thịt gà ướp sẵn, cũng chặt to kho mặn với rau xà lách tươi roi rói trộn dầu giấm, rồi cũng qua bữa.

Chuyến đi lần này không coi ngày vì trùng hợp với lễ hội gì đó của địa phương, hầu hết dân ở đây đều đi chơi xa cuối tuần, gia đình Luctine cũng email báo tin vắng nhà, nhưng hẹn nhau buổi ăn tối trước khi chúng tôi về lại Paris.

Hình như ở đây có thông lệ là các nhà hàng siêu thị buôn bán đều đóng cửa ngày chủ nhật, trừ quán bar và cà phê thôi, hèn gì phố xá vắng teo trong ngày này và chúng tôi bị lúng túng vì không biết mua đồ ăn ở đâu, may có gian hàng nhỏ của người Việt Nam còn mở, trong đó chỉ có đồ đông lạnh mà mắc dàn trời, đành lấy hộp cá cơm về kho tiêu, thiệt tình thiếu gia vị nên tanh ớn luôn.

Một tuần lễ qua mau, chúng tôi lại chia tay bịn rịn, tôi hiểu tại sao nó buồn buồn vì qua cơn đại dịch, nhân viên ở đây thay đổi, những người chăm sóc cho nó trước kia đã đi làm nơi khác, nó mất bạn để vui chơi, mặc dù chỉ nhìn thôi nhưng đã nói biết bao điều, sự chia sẻ, thân tình trong ánh mắt, cử chỉ của những chàng trai trẻ đó bây giờ đã không còn, chỉ có các bà các cô thôi, họ cũng vui vẻ dễ thương, nhưng Vydan thích mấy tên bạn trai khi trước vì chúng trang lứa dễ thân thiện hơn, tôi nghĩ thằng bé là đứa dễ xúc động, nhưng rất kín đáo, nó buồn mà không thể nói ra được, nhưng bằng trái tim nhạy cảm của người Mẹ thì tôi biết thằng bé đang sống rất cô đơn trong lúc này, dù được ở một nơi mà sự chăm sóc tốt nhất của chính phủ Thụy Sĩ dành cho những người khuyết tật như nó thì không có gì phải phàn nàn, căn phòng riêng được bài trí gọn gàng ngăn nắp, mở ngăn tủ quần áo cũng đầy ắp đồ lạnh, khăn tả, giày vớ, coi bản thực đơn mỗi ngày vẫn đầy đủ chất dinh dưỡng.

Cuối tuần trong khi mấy đứa kia có cha mẹ ở gần đón về nhà chơi thì người ta đưa nó đi xem phim ở rạp, những bộ phim hoạt hình mà mấy đứa trẻ thích thú cười vang rân, tôi cũng mua vé vào ngồi cạnh cho nó vui.

Thỉnh thoảng Vydan cũng được tham dự những trại hè dành cho người khuyết tật, tôi thấy hình nó được đăng trong Cerebral ( Association Cerebral Vaud) một tạp chí phát hành nội bộ của hiệp hội này số gần đây, họ đã tổ chức sinh nhật cho nó nhân buổi cắm trại hồi tháng 7.

Rồi cũng đến lúc phải chia tay Vydan, hôm đến trời mưa ướt lạnh, ngày đi trời cũng sụt sùi, chúng tôi hứa với thằng bé là sẽ đến thăm nó vào năm sau. Hứa mà trong lòng không chắc chắn lắm, tuổi càng ngày càng già, sức khỏe cũng mòn mỏi, tôi nghĩ đến chuyện phải để con bé thăm anh nó một lần cho biết đường đi, lỡ tôi mất rồi, ai sẽ đến với nó đây?

Mới nghĩ thôi đã thấy xót xa rồi, biết thêm tin không vui là chị bạn, cái gạch nối duy nhất giúp tôi liên lạc với Vydan sẽ dời về Việt Nam sống vào cuối năm nay, chúng tôi mất đi một địa chỉ thân quen mỗi khi qua đây thăm thằng bé, dĩ nhiên là vẫn có thể tìm cách khác được, nhưng cũng khó gặp người nhiệt tình như chị ấy. Tạm biệt con dế mèn cô đơn, thương con vô cùng .

Về lại Paris chúng tôi có nhiều bạn bè hò hẹn, hầu hết là bạn "bát thập cổ lai" của anh Sâm, đến từng tuổi này còn ngồi lại với nhau uống cà phê là quý lắm rồi, nhưng dân Paris hình như thích uống rượu hơn hay sao ấy, vào quán là phải có ly vang cầm tay như ông Kiệt Tấn, Lê Tài Điển, ghé thăm mấy bạn già như Ông Xuân Hy, Ông Tiểu Tử, Nguyễn Thị Cỏ May, Ông Trần thanh Hiệp, Từ Thức...chân cẳng yếu không đi đâu được thì ngồi uống trà nhắc chuyện hồi xưa hơn nửa thế kỷ trước cũng vui, người già thường hoài cổ mà.

Mấy ngày đầu còn nhờ ông bạn dẫn đi Metroliner, sau đó thì tải cái RATP vô phone, muốn đi đâu cứ lên đó tìm, vậy là những lúc rảnh rỗi chúng tôi lại lang thang khám phá những điểm kỳ thú của Paris, mà có tốn kém gì đâu, chỉ khoảng 5€ cho vé đi về bằng Metroline là vui cả ngày, cái tuyệt vời của hệ thống xe lửa này là nó rất đúng giờ, đi bộ vài phút là tới ngay địa điểm mình cần đến.

Đọc trên mạng nói về nhà báo Noir Victor bị em trai của vua Napoleon bắn chết hồi thế kỷ 19 vì bất đồng chính kiến, cái chết của ông như một biểu tượng cách mạng thời đó, nhưng thú vị của câu chuyện này là tượng ông được tạc nằm dài y như hồi bị bắn, dáng vẻ thong dong nhìn trời, nhưng không hiểu sao người tạc tượng lại tạc y chang (?) đáy quần ông căng phồng lúc đó, rồi người ta đồn thổi nhau về chuyện hoang đường là nếu ai đang mang thai thì đến rờ chân trái hay phải của ông để sinh con theo ý muốn còn có nhiều bà đầm lại khoái rờ chỗ căng phồng kia, hay leo lên tượng hôn môi ông, rờ cằm rờ mũi ông nên thời gian hơn trăm năm rồi, tượng đồng đã ngã màu nhưng mấy chỗ rờ thì sáng bóng. Chúng tôi đến coi vì tò mò hơn là muốn rờ, vì biết chắc không còn cơ hội trải nghiệm nữa (ha ha) Có mấy hôm vào thư viện Viễn Đông Bác Cổ của Pháp (École française d'Extrême-Orient, viết tắt EFEO) để tìm tài liệu chữ Nôm quý hiếm còn lưu trữ ở đây, mấy lần trước thì muốn xin tài liệu phải nhờ họ copy, vừa tốn tiền vừa ôm về Mỹ nặng nề, có lúc xui bể chai nước tương Maggi thì thôi rồi lượm ơi...

Lần này hiện đại hơn nhiều, cài máy scan vô phone, cứ lật qua trang là bấm nút ào ào, làm chăm chỉ, chịu khó đứng yên cho tay khỏi run, chừng vài tiếng là xong mấy cuốn. Phải nói tuổi chúng tôi còn có cơ hội để thừa hưởng sự tuyệt vời của nền công nghệ hiện đại này, quả là may mắn.

Từ thư viện lang thang tới tháp Eiffel chừng 2 miles, lại bánh mì nước lạnh trong ba lô, chúng tôi đến đó chụp đủ góc cạnh của tòa tháp nổi tiếng này, khách du lịch lúc nào cũng đông nghẹt dù trời mưa hay trời nắng, tháp nằm bên cạnh dòng sông Seine có xe bus và tàu chở đi vòng vòng nên càng hấp dẫn khách đến viếng hơn.

Lần này thì không có dịp đi lại cây cầu mà người ta gắn nhiều ổ khóa tình yêu trên đó, nghe nói những ổ khóa bị dẹp rồi vì sức nặng của nó có thể làm hư thanh cầu, nhưng chắc cái chữ mà tôi khắc sâu trên đó sẽ còn "như tình yêu của anh và em" Trời ơi, cải lương bắt ớn!

Chị bạn đồng hương cho vé đi coi viện bảo tàng Louvre, một điểm đến cũng không kém phần hấp dẫn vì đây là cái rún của Paris với nhiều đền đài cổ xưa bao quanh khu trung tâm, tượng đá đặt khắp mọi nơi trong vườn hoa, có ghế ngồi quanh hồ phun nước hay ghế nằm đặt rải rác ở lối đi cho du khách nào mỏi chân, muốn ngắm trời trong xanh và đánh một giấc yên bình không ai quấy rầy (với điều kiện không có mang đồ đạc túi xách gì quý giá để mất, vì Paris cũng có nhiều tay diệu thủ sẵn sàng) Chúng tôi cũng sắp hàng rồng rắn để vào coi cho được bức tranh nổi tiếng của nàng Mona Lisa với nụ cười mím chi bí ẩn, tôi thất vọng khi thấy bức tranh nhỏ xíu lọt thỏm vô cái khung tường quá lớn, so với các bức tranh cân xứng chung quanh, hình như có cái gì đó sai sai ở đây, hay là tại nhiều người ngắm quá nên nàng co rúm lại vì mắc cỡ, khung tường phải rào chắn an toàn cách cả thước vì du khách đông quá, nên khó mà có được tấm hình đứng sát người đẹp trăm tuổi này.

Chúng tôi cứ trôi theo dòng người ngắm nghía các tác phẩm trưng bày trên tường, nhiều nhất là tượng đá khỏa thân, nam thì "cái ấy "tồng ngồng, nữ thì cặp ngực trắng tinh, nhưng chắc mình chưa đủ trình độ để thưởng thức cái đẹp của nghệ thuật siêu đẳng này nên nhìn vậy thôi, đôi khi rờ rờ để biết chắc là tượng bằng đá chớ hổng phải bằng thạch cao. Lại đưa phone lên chụp lia lịa, chụp luôn hàng chữ bên dưới mỗi bức tượng, mỗi tấm tranh để mai mốt về nhà đọc coi nó có ý nghĩa gì.

Đang lơ mơ thưởng ngoạn thì nghe giọng nói ở sau lưng, nhìn lại thì thấy một đại gia nhà mình mặc quần short, áo vest đang chỉ trỏ gì đó, cái quần short trong khung cảnh thanh lịch nam nữ ăn mặc sang trọng này làm tôi thấy kỳ cục, dị hợm giống như thấy tên Tây nào đó bước vô Chùa miếu đền đài bên Việt Nam mà mặc quần short áo thung ba lỗ coi chướng mắt liền.

Văn hóa là chỗ này nè, nhưng biết nói sao khi người ta mặc "a la mode" như vậy, đi cứ như lấn và oang oang giọng Việt Nam nơi đông người như ở đây, cũng có thể tánh tôi kỳ thị cố chấp. Chỉ là chút phản cảm qua đường thôi mà.

Tuy không phải là con chiên của Chúa nhưng qua sự giới thiệu của một cha đạo ở Sài Gòn, chúng tôi đến thăm nơi chứa xương cốt của các vị Thánh tử vì đạo tại vùng Paris, còn gọi là MEP ( Missions Etrangeres de Paris) là một học viện tôn giáo thành lập từ 1683, nơi đào tạo các cha đạo có nhiệm vụ đi truyền giáo ở khắp nơi trên thế giới.

Chúng tôi được tận tay sờ vào hộc tủ đựng xương cốt của các cố đạo, đọc danh sách những người Việt Nam đã chết trên thập tự giá vì một lý tưởng cao cả, xem những tài liệu, hiện vật về cuộc trường chinh gian khổ của các cha ở khắp nơi trên thế giới để đem kinh thánh truyền bá đức tin đến mọi người và riêng Việt Nam, các cha còn có công đem chữ quốc ngữ vào đất nước mình( Alexandre de Rhodes là một trong các giám mục thời đó của thế kỷ 16) Thật thú vị khi được đến một nơi mang nhiều ý nghĩa tâm linh liên quan tới đất nước mình, với những sự kiện lịch sử tôn giáo để qua đó mình mở mang thêm kiến thức, và chắc gì các con chiên trong nước có dịp đến đây để cảm nhận Thiên Chúa trong lòng. Chỉ là duyên thôi! Chúng tôi đã không tiếc công bỏ cả buổi sáng trời mưa đi bộ vòng vòng gần 1 giờ vì lạc đường và muốn bỏ cuộc, trong khi tòa nhà rất gần trạm Metro. Chắc Chúa đã thử thách sự kiên trì của kẻ ngoại đạo như chúng tôi chăng?

Có một gia đình hoàng tộc Việt Nam đã sống lưu vong tại Pháp mà chúng ta không thể không nhắc đến, đó là vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, cựu hoàng Bảo Đại, ông mất năm 1997 và Hoàng Hậu Nam Phương mất năm 1963, hai người lúc sống đã không "đồng tịch đồng sàng" nên chết ở hai nơi xa lắc, vì mộ ông được chôn ở nghĩa trang Cimetier de Passy gần Paris nên chúng tôi có dịp viếng thăm. Đến nơi mới biết trong thời đại dịch bà vợ sau cùng của ông là bà đầm Monique Baudot đã mất hồi năm ngoái, chôn chung trong cùng một huyệt, mộ được xây dựng khang trang bằng đá hoa cương màu đen, bia khắc hàng chữ mạ vàng rất trang trọng trên cùng "Hoàng Đế Việt Nam- Bảo Đại"

Buổi sáng còn mờ sương, nhìn những ngôi mộ chung quanh thấp thoáng một thời hoàng kim lộng lẫy của những bậc vương tướng công hầu của nước Pháp đã nằm ở đây, có cái hàng trăm năm, có những bia đá tên tuổi khắc trên đó cũng mòn theo thời gian, mộ ông vua nước mình là mới nhất vì chỉ vài chục năm gần đây thôi, có ai đó đặt nhiều chậu hoa tươi trên mộ ông, có cả nhang và hột quẹt theo kiểu rất quen thuộc ở quê nhà. Chúng tôi viếng mộ ông bằng sự thành kính của công dân Việt Nam đối với vị vua từng có một thời uy quyền của đất nước.

Vì mộ bà Hoàng hậu Nam Phương ở quá xa nên chúng tôi hẹn dịp khác, nhất định phải đến viếng bà, một người phụ nữ Miền Nam đáng kính.

Khi viết bài này thì dân Việt Nam trong và ngoài nước đang xôn xao vụ Paris sắp sửa đem bảo vật của quốc gia ra đấu giá, đó là cái ấn bằng vàng có từ thời vua Minh Mạng, được truyền vòng vòng từ trong nước qua đến Paris và người giữ cuối cùng là ông Bảo Đại, khi ông qua đời cách đây hơn 20 năm thì bà vợ đầm của ông là bà Monique Baudot đã giữ bảo vật đó cho tới khi bà chết năm 2021, nay gia đình của bà đầm này đem ra bán đấu giá qua công ty Millon Paris vào cuối tháng 10/2022 .

Rất xót xa khi nghe tin này. Thời thế của Việt Nam đã trải qua biết bao thăng trầm trong lịch sử, những di tích đền đài bị phá hủy phần nào do chiến tranh, những báu vật của quốc gia lần lượt bị thất thoát theo nhiều cách và hiện nay đất nước còn trong tay CS cầm quyền, một cái đảng chỉ biết cấu xé nhau vì tư lợi, chỉ biết bòn rút của công vào túi riêng của mình, xem nhẹ mọi giá trị văn hóa truyền thống thì liệu báu vật như cái ấn vàng quý giá kia có còn cơ hội quay về cố quốc?

Thật lòng tôi cũng mong có một tên đại gia tiền tỉ tỉ nào đó trong nước muốn chơi ngông, mua đem về, chắc hẳn không phải vì lòng yêu nước gì đâu, chỉ muốn lấy tiếng thôi thì cũng nên cám ơn hắn ta về hành động này, còn hơn bảo vật lưu lạc qua tay nước khác, biết khi nào thấy được, hy vọng dòng tộc Nguyễn Phước của ông vận động và thương lượng được với công ty Millon để tạm hoãn việc đấu giá bảo vật này.

Qua Paris lần này gặp nhiều điều thú vị bất ngờ, khi có dịp đi coi buổi kịch thơ đờn ca tài tử tuồng Kim Vân Kiều, một tác phẩm văn học bề thế của Việt Nam được các bạn trẻ bên Paris dàn dựng và trình diễn, nói trẻ vì tuổi đời của các em cháu ấy đều dưới 50, có em sanh ở nước ngoài, có em theo cha mẹ thuyền nhân qua Pháp định cư hồi rất nhỏ, dĩ nhiên hầu hết là các diễn viên không chuyên nghiệp, nhưng có rất nhiều sự cố gắng trong biểu diễn, hóa thân những nhân vật trong truyện Kiều một cách xuất sắc (theo cái nhìn cũng không chuyên nghiệp của chúng tôi) 

Khán phòng đông người, vui nhất là các em trẻ người bản xứ không biết chút gì về văn hóa nghệ thuật của Việt Nam, nhưng qua thuyết minh bằng tiếng Pháp lưu loát của một MC duyên dáng và sự trình diễn có tuồng tích lớp lang của diễn viên thì họ dễ dàng nắm bắt cốt truyện. Có thể buổi trình diễn không hoàn hảo như ý muốn của người khó tính đã từng biết qua trên sân khấu ở quê nhà, nhưng theo tôi thì các bạn trẻ đã thành công khi đem Kiều giới thiệu cho dân Paris biết một tác phẩm xuất sắc của văn học Việt Nam. Một vở kịch được dàn dựng công phu mấy năm trời, tốn nhiều thời gian công sức và tiền bạc của các bạn ấy, vậy mà giá vé rẻ đến bất ngờ(20€ cho người lớn và 10€ cho sinh viên học sinh) chưa kể vé mời gởi tới các hội đoàn, cộng đồng người Việt ở Paris và các vùng lân cận. 

Trong khi đó thì có tờ rơi quảng cáo về buổi ca nhạc sắp tới của Khánh Ly ở vùng này với giá vé cao gấp 2-3 lần, không biết có đông người tham dự như coi Kiều hôm nay không, nhưng cũng cảm thấy chạnh lòng thương cho các bạn trẻ có tấm lòng với văn hóa Việt như nhóm đờn ca tài tử này, thật tình không biết họ có nguồn tài trợ nào khác ngoài việc bán vé, nhưng tôi nghĩ là họ sẽ bội thu vào những đợt trình diễn tiếp theo, nếu việc làm của họ chạm vào trái tim của dân Paris trong buổi trình diễn đầu tiên này.

Có duyên nữa là được tham dự buổi ra mắt cuốn sách "Những khuôn mặt văn hóa Việt Nam hải ngoại" do nhóm câu lạc bộ Văn hóa Paris biên soạn và giới thiệu, nhằm vinh danh những người Việt sống khắp nơi đã có công bảo tồn và phát huy nền văn hóa, văn học nghệ thuật ở hải ngoại suốt chiều dài lịch sử lưu vong gần nửa thế kỷ nay. Cuốn sách dầy hơn 800 trang, là một công trình biên soạn rất cẩn trọng của ban chủ biên với nhiều tác giả tác phẩm trong mọi lãnh vực như biên khảo, văn học, hội họa, ca nhạc...Nói chung là liên quan tới văn hóa nghệ thuật của Việt Nam đã được sắp xếp theo thứ tự khoa học và nói như Ban Biên tập là "nhằm vinh danh sự nghiệp của những người làm văn hóa đã tận tụy đóng góp công sức cho việc bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam từ trước 1975 ở trong nước và còn tiếp tục khi ra sống ở hải ngoại " Với mục đích lưu lại cho lớp trẻ về sau muốn tìm hiểu nghiên cứu về hoạt động văn hóa dân tộc của lớp người trước đây và trong thời gian họ sống ở hải ngoại, như một cách học sử chuyên đề về văn hóa xưa và nay của người Việt mình.

Theo nhận xét riêng của chúng tôi thì cuốn sách đầy nhưng chưa đủ vì có thể còn thiếu sót nhiều khuôn mặt sống thầm lặng ở đâu đó hoặc do bản tánh khiêm tốn ẩn dật nhưng sự đóng góp của họ cũng có chiều sâu đáng kể mà chúng ta chưa khám phá ra hết. Chắc sẽ còn nhiều cuốn sách biên tập như vậy nữa để bổ sung và làm phong phú thêm cho nền văn hóa hải ngoại. Mong lắm thay! 

Buổi ra mắt sách có khá đông người tham dự, có nhiều tên tuổi nổi tiếng của Paris cũng có mặt như ca sĩ Bạch Yến, nhà văn Thụy Khuê, học giả Trần văn Tích, giáo sư Nguyễn đăng Trúc...Nhưng ấn tượng nhất là màn trình diễn của ban nhạc FAVIC ( France Amerique ViệtNam Inter Culture Contact) tốp ca không có người Việt Nam nhưng chỉ hát nhạc dân ca VN, gồm nhiều anh chị ở 8 quốc gia khác nhau và đặc biệt hơn nữa là họ đi hát "chùa" ở khắp mọi nơi, trong tinh thần vui vẻ tự nguyện. Nam mặc áo dài khăn đống và nữ thì mặc áo tứ thân rực rỡ, nghe cái giọng thật chuẩn " Tôi yêu quê tôi, yêu lũy tre dài đẹp xinh" mà thương hết sức luôn. Cám ơn các bạn đã yêu thích tiếng Việt của chúng tôi mà cố công học hỏi.

Trong sự quen biết văn nghệ văn gừng và mối duyên kết nối dây mơ nào đó mà lần này chúng tôi có dịp gặp được nhiều bạn trẻ, rất trẻ, họ có kiến thức văn học khá tốt, biết quan tâm tới tình hình trong nước, biết yêu thương quê hương và gắn bó với cộng đồng người Việt ở hải ngoại, họ là lớp trẻ kế thừa mà tôi nghĩ mình sẽ không thất vọng khi tự hào về các bạn trẻ này, họ đã ở khắp nơi trên thế giới theo dòng đời lưu vong với cha mẹ trong thảm họa đau buồn của đất nước, họ viết văn,làm thơ, sáng tác nhạc đấu tranh cho Tự do dân chủ ở Việt Nam, biên kịch đạo diễn những tác phẩm văn học nổi tiếng xưa của Việt Nam như nhóm diễn Kiều vừa rồi, các bạn đã khiến tôi có cái nhìn khác đi khi nghĩ lớp trẻ hiện đại chắc chỉ lo cuộc sống hưởng thụ, và vô tư.

Cám ơn các em các cháu còn tấm lòng thiết tha với Việt Nam dù biết chắc máu mình đã bị pha loãng, nhưng đó là giọt máu đào đầy ơn nghĩa.

Cũng dịp chúng tôi biết thêm 2 khuôn mặt Tây rặt nhưng nói tiếng Việt như gió, họ đều là Thầy trò trong những ngôi trường danh giá của Paris nhưng dạy tiếng Nôm cho người Pháp nên khi gặp " sư phụ NVS" thì không bỏ cơ hội mời Thầy đi uống cà phê và hỏi nhiều câu thơ ẩn dụ trong bản Nôm mà họ không thể hiểu hết được.

Quý thay trong thời buổi này còn có người quan tâm tới thứ ngôn ngữ xưa cũ đó, lại là dân Tây mới ghê chớ, ngưỡng mộ thiệt.

Thời gian rong ruổi ở Paris rồi cũng qua mau, đi lần này có nhiều cảm nhận thật thú vị, biết được nhiều nơi nổi tiếng, gặp được nhiều bạn bè rất thân tình, riêng tôi thì tìm lại được một kỷ vật sau 40 năm lưu lạc, dĩ nhiên không phải ấn vàng của vua rồi, nhưng cũng rất quý giá, đó là cái ca nhựa tầm thường dùng để đựng cơm trong thời gian ở tù.

Ông đồ già NVS thì có những cuốn sách Nôm quý hiếm dù chỉ là bản scan, nhưng không dễ gì tìm được ở nơi khác.

Đêm cuối cùng Paris by night trong ngôi nhà nhỏ ấm áp tình thân, nghe anh bạn trẻ ca bài "Tiễn em "với tiếng đàn guitar dìu dặt, thấy lòng mình như chùng xuống " lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế, hôn nhau phút này, vai em ướt mèm, em ơi khóc đi em ...Nơi em có trăng soi, anh một mình rét mướt..." Tự dưng thấy xao xuyến gì đâu. Cái thói quen tệ hại của tôi là hát mà không nhớ tên tác giả dù trong đời đã trải qua rất nhiều cuộc chia ly mà lần nào cũng ư ử " lên xe tiễn em/anh đi, chưa bao giờ buồn thế" nhưng bây giờ thì nhớ tên ông ấy rồi, bài Tiễn Em thơ Cung Trầm Tưởng, Phạm Duy phổ nhạc và bây giờ biết cảm nhận cái chữ "buồn thế " miên man, sâu lắng trong tim.

Những ngày ở Paris, trời mùa thu nơi đây có nhiều hôm mưa ẩm ướt se lạnh, khiến người lữ khách như tôi chợt bâng khuâng hoài cảm, chạnh lòng nhớ kỷ niệm nào đó đã xa, "tay nương giọt nước mái nhà, nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn" ( thơ của ai đó lại quên rồi),

Đi lang thang qua từng con đường ngập lá vàng, trên sân ga Lyon lúc nào cũng nhộn nhịp buổi sáng và ngơ ngác đèn vàng buổi tối, hay bước dọc bờ sông Seine dưới cơn mưa lất phất đủ ướt áo vai gầy, có cái gì đó lãng mạn rất Paris, có lẽ do dư âm những ca khúc trữ tình của người thi sĩ tài hoa vừa mới mất, khiến trời thu Paris thêm nồng nàn màu sắc hơn chăng.

Đêm cuối cùng ở Paris, một chút lắng đọng thổn thức, nếu ngày mai tôi trở về thành phố nhỏ thân thương quen thuộc của mình ở California, để nghe ai đó hỏi "Paris có gì lạ không em?" Chắc là tôi sẽ nói " Ở đó có người vừa bỏ quên con tim!"

Bài viết này thay lời Cám Ơn đến tất cả bạn bè thân quen ở Paris đã dành cho chúng tôi sự ấm áp thân thiện trong những ngày "ngộ cố tri" ở đất khách quê người.

Ngọc Ánh
Tháng 10/2022

Blog Archive