Saturday, June 27, 2015

Một chuyến Nhật du
"Đi xa về nhà… ngẫm nghĩ"

Nguyễn Dư

Tôi vốn không thích đi đến những nơi xa lạ. Ngại những cái phiền toái. - Bắc Kinh không ham. Cu Ba không thèm. Na Uy cũng lắc đầu. Cứ ru rú ở Pháp. Thế mà khi được tin NNT phải ra vào nhà thương bên Nhật, tôi đã nhanh chóng đồng ý với vợ là phải đi thăm ông bạn. Đông du một chuyến. Nghe đâu bên ấy sắp đến mùa hoa anh đào nở. Đi xem một lần cho biết. Thú thật là tôi chưa đủ phong cách, trình độ để chiêm ngưỡng trăm hoa đua nở. Có hoa hay không có hoa, « với tôi tất cả đều vô nghĩa ». Nhưng, đi thăm bạn đúng mùa anh đào nở thì cũng… chả mất mát gì. Đôi khi lại có thêm chuyện vớ vẩn để mang về Pháp… tán gẫu với bạn bè. 

Được vợ sốt sắng sửa soạn cho chuyến đi. Nào mở máy giữ vé máy bay. Nào nhờ vợ NNT giữ phòng khách sạn vài ngày. Rồi gọi điện thoại lên Paris hỏi thủ tục, xin bản đồ, hướng dẫn du lịch. Tôi nghĩ bụng gọi điện thoại, có người trả lời là khá rồi. Mình hỏi, người ta trả lời cho xong. Chờ người ta gửi cho cái nọ cái kia thì… còn lâu. Ăn mày đòi xôi gấc ! Không ngờ vài ngày sau chúng tôi nhận được một xấp bản đồ, các địa điểm du lịch và phương tiện di chuyển của Tokyo. Lạ nhỉ ? Bọn Nhật « làm đầy tớ » cả người lạ !

Chuyến bay Air France đáp xuống Narita. Chúng tôi được một ông mặc thường phục, khá lớn tuổi, xét hộ chiếu, lấy dấu tay. Ông khoe biết nói vài câu tiếng Pháp. Bonjour. Au revoir. Chúng tôi bập bẹ a-li-ga-tô. Ông cười, chúc bonnes vacances. Vợ chồng NNT chờ sẵn ngoài cửa. Bốn đứa ôm nhau. Mừng mừng tủi tủi. Ra chờ xe ca chở về nhà NNT ở Chiba, gần Tokyo. Đầu tháng tư… Hoa anh đào lốm đốm nở hai bên đường từ sân bay về nhà. - Anh đào có nhiều giống, nhiều màu. Nhan nhản khắp nơi. Muốn xem rừng anh đào thì phải đến công viên. Mùa này du khách đi ngắm hoa đông lắm. Thủng thẳng sẽ đưa ông bà đi xem. Bên Nhật, từ trẻ con đến ông già bà cả, không ai ngắt hoa, bẻ cành. Không ai biết trò « hái lộc, lấy hên » là cái gì! Hoa nở, hoa tàn, rồi hoa rụng. Dân Nhật ngược đời. Lẩm cẩm đi ưu đãi thiên nhiên, không chờ để được… thiên nhiên ưu đãi!

NNT rủ chúng tôi cùng đến Bệnh viện của tỉnh Chiba. Bệnh viện thuộc trường đại học (giống CHU của Pháp), cao 4 tầng, chia thành 4 khu đông, tây, nam, bắc… Trong bệnh viện có tiệm cắt tóc, giặt ủi, tạp hoá, phòng đọc sách, bưu điện. Có chỗ ăn dành cho nhân viên, quán ăn phục vụ người thường. Có tiệm café, bánh ngọt… - Nhật lái xe bên tay trái. Đi bộ cũng thường đi bên tay trái. Nhưng, trong bệnh viện lại đi bên tay mặt. Chẳng hiểu tại sao? Các hành lang của bệnh viện được chia ra bên phải bên trái, có mũi tên chỉ chiều đi. Cẩn thận như vậy để tránh lộn xộn, giữ yên lặng cho bệnh viện chăng?

Có hẹn đến bệnh viện, mỗi người bắt đầu bằng bấm máy để lấy bản hướng dẫn phải gặp ai, ở đâu, phải sửa soạn gì trước khi gặp. Các việc vặt như cân, đo, bắt mạch, bệnh nhân tự làm lấy. Đưa kết quả cho y tá. Bác sĩ khám bệnh xong thì đến lượt kế toán tính tiền. Khi nào xong thì bấm số gọi khách hàng trả tiền. Phần đông trả tiền bằng máy. Nước Pháp tự hào có tổ chức bảo hiểm xã hội tốt nhất thế giới. Săn sóc sức khoẻ cho tất cả mọi người. Chỉ có một điều đáng phàn nàn là quỹ bảo hiểm xã hội của Pháp bị thâm thủng triền miên từ mấy chục năm nay. Chính phủ nào cũng hứa cương quyết chống… thâm thủng. Nhưng lỗ thủng mỗi năm mỗi to hơn. Sâu mọt đục khoét ngày một tinh vi hơn. - Nhật tổ chức khác Pháp. Đại khái, bác sĩ, dược sĩ, người bệnh đều có trách nhiệm. Ai cần mới phải đi bác sĩ. Bác sĩ không « chiều » bệnh nhân, không « liên kết » với dược sĩ.

Tại Chiba, cũng như tại Tokyo, nhà riêng hay chung cư không hề bị viết chữ hay bôi vẽ trên tường. Trạm xe buýt, điện thoại công cộng không bị phá. Pháp luật nghiêm minh hay « công dân giáo dục » đã thành nề nếp ? - Nếu để ý ông sẽ thấy hầu hết các vỉa hè đều được lát một hàng gạch màu vàng, có hoa văn nhô lên độ hai, ba li. Ông có biết để làm gì không ? Tôi nhanh nhảu trả lời là để chia ra bên phải bên trái cho người đi bộ. - Không phải vậy. Cái lằn nổi để người mù khua gậy, nghe tiếng kêu lách cách mà đi. Tới ngã tư có đèn xanh đèn đỏ thì cái lằn ngừng lại cách lòng đường độ nửa mét. Đèn xanh thì có tiếng chim hót báo hiệu. Người mù được bảo đảm an toàn. Không cần nhờ người khác. Tất cả các công trình xây dựng đều được tính toán cho người mù, người ngồi ghế lăn. - Bao giờ nước Pháp mới được như thế này ? 

Trung tâm thương mại ( khổng lồ) của Chiba có Pet mall, siêu thị của chó, mèo. Bán đủ thứ. Từ đồ chơi đến đồ dùng. Áo len xịn, áo khoác mốt. Giường ngủ êm, bồn tắm đẹp. Đồ ăn chất lượng cao, chống phì của… mèo chân dài, chó thượng lưu, siêu sao bốn cẳng. Hắt hơi, xổ mũi có phòng khám bệnh. Từ giã cõi đời có nhà đòn tổ chức tống táng theo hợp đồng. Thấy Pet mall mà tủi cho thân phận… Việt kiều!

Công viên Ueno, có từ năm 1873, rộng mênh mông. Trong công viên có sở thú, mấy viện bảo tàng, viện nghiên cứu văn hoá, đại học âm nhạc và mĩ thuật v.v… Có nhiều thùng rác, nhiều nhà vệ sinh. - Có lần thằng con mình ngồi lên thành ghế, bị một cô bé độ 14, 15 tuổi đi ngang, ghé lại lễ phép cúi đầu chào : - Mời « anh » ngồi xuống ghế. Nói xong, cô bé cúi đầu cám ơn, thản nhiên đi. Thằng con parisien ngượng đỏ mặt. Nhớ bài học đến già. 

- Ông thử nhìn xung quanh khắp công viên này xem có chỗ nào có rác vứt dưới đất không ? Có ai to tiếng không ? Không biết bọn Nhật phải mất bao nhiêu thế hệ để « trồng người »? Nhà ga Tokyo (và nhiều nhà ga khác) rất lớn. Nơi hội tụ của xe lửa, métro, xe buýt, xe ca. Bên trong là cả một khu thương mại. Tầng một, tầng hai trên lầu, « 36 phố phường » dưới lòng đất. Phố dọc, phố ngang. Ăn uống, mua sắm, giải trí. Có điều lạ là… ngay cả giờ cao điểm, người đông như kiến, vẫn không hề xảy ra chen lấn như métro Paris.

Nhật làm xe hơi bán tràn ngập thế giới. Nhưng đường phố Tokyo tương đối thoáng, không bị kẹt xe. Có lẽ vì người Nhật ưa « độn thổ », ưa dùng các phương tiện chuyên chở công cộng. Phải công nhận là chuyên chở công cộng của Nhật rất an toàn, sạch sẽ. Métro Tokyo khá đắt so với métro Paris. Giá vé được (hay bị) tính theo độ dài đoạn đường đi. Đắt nhưng ai cũng mua vé. Lạ thật ! Bọn Nhật sợ nhảy rào té gẫy chân à ? 

Khu ẩm thực bình dân cạnh ga Ueno đông vui, nhộn nhịp. Cám ơn NNT. Du khách bình thường chưa chắc đã biết khu này. Mấy con đường nhỏ, cấm xe cộ. Nhiều cửa hàng thuê « hoạt náo » chào mời khách bằng… tiếng Nhật. Họ cười nói như cái máy. Nhưng chỉ đứng trước cửa tiệm, không chèo kéo ai. - Nhà cửa, đất đai Tokyo rất đắt. Vì thế mà nhiều tiệm ăn nhỏ không có chỗ kê bàn ghế. Khách đứng sát nhau ăn uống thoải mái. Cười nói như phá. Tuy vậy, nơi làm việc của Hội đồng thành phố Tokyo rất oai, rất bề thế. Đường đường chiếm hai toà tháp cao 45 tầng. Một toà dành tầng chót làm chỗ bán đồ lưu niệm, ăn uống, để cho dân chúng leo lên ngắm thành phố. Ngắm không mất tiền ! 

Hầu như tất cả các « tai to mặt lớn » của thời trang thế giới đều có mặt ở khu phố Ginza. Rất sang trọng nhưng không có vẻ « nhìn đời bằng nửa con mắt ». Không khí « bình đẳng » hơn Champs-Élysées của Paris. Cửa hàng nào cũng sẵn sàng cho khách bộ hành vào… trú mưa, đi đái. Chanel, Louis Vuitton, Armani, H&M… chưa lớn bằng Uniqlo. Cửa hàng quần áo này cao 12 tầng. Tầng nào cũng có chỗ cho khách hàng thư giãn, ngồi ngắm phố xá bên ngoài. Ginza có một cửa hàng bán vải may kimono. Nhìn hoa cả mắt. Hai, ba trăm nghìn yen một mét. (1USD= khoảng 120yen) Rạp kịch Kabuki cổ truyền thản nhiên đứng giữa khu phố thời trang Âu Mĩ này.

Sực nhớ thời sinh viên. Những lúc đói cồn cào chỉ cần một gói mì Nhật là xong. Sang Nhật nhất định phải « làm » một bát mì đặc sản chính gốc! Được thổ công dẫn đường chỉ lối, khỏi lo. Nhưng mì truyền thống của Nhật không phải là mì ăn liền mà là mì « u-đông ». Gần giống bánh canh của ta. Sợi mì u-đông vuông, to hơn sợi spaghetti, gần bằng chiếc đũa. Bát mì chỉ có mì và nước dùng. Bác bán hàng luôn tay bỏ mì sống vào nước sôi, vớt từ nước sôi bò vào nước lạnh, vớt mì lạnh bỏ lên cân rồi đổ vào bát, chan nước dùng. - Bát mì được làm đúng như mẫu trưng bày ngoài cửa tiệm, như ảnh trong thực đơn. Mì được cân đúng lượng. 

Một lần khác tôi gọi món thịt bò băm, khoai tây rán (steak haché, frites). Thèm mấy miếng khoai tây. Nhưng khi đĩa đồ ăn được bày trước mặt thì tôi hơi thất vọng. Bên cạnh miếng thịt chỉ có 4 miếng khoai. Thì ra lúc chọn món ăn tôi không để ý là tấm ảnh trong thực đơn chỉ có 4 miếng khoai. Lỗi tại tôi. Lần sau nhớ gọi thêm khoai. Trả thêm tiền. 

Chợ Nhật nhiều, bán đủ thứ. Mấy thứ đồ ăn tươi sống như thịt, cá, hay bánh ngọt có trứng, có kem được theo dõi, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng. Gần đến giờ giới hạn được phép bán thì nhà hàng sẽ « khuyến mãi », giảm giá. Thí dụ còn khoảng 2 giờ thì giảm 30%, còn nửa giờ, giảm 50%. Nháy mắt là bán hết. Giờ giới hạn của luật thương mại đủ cho phép người tiêu dùng thủng thẳng mang về nhà nấu nướng, ăn nhậu. Thường thì hàng hạ giá không nhiều. Phải chờ, phải rình đúng lúc mới mua được. Hàng phải vứt bỏ coi như không có. Nói chung, người Nhật không phí phạm đồ ăn.

Gần ngày về mới sực tỉnh. Quái lạ ! Trong suốt 2 tuần lễ, không thấy bóng dáng… cảnh sát ! Siêu thị mặc kệ khách hàng mang cả va-li vào bên trong. Đến giờ đóng cửa chỉ kéo cái lưới như lưới tennis lên che quầy hàng là xong. Cửa hàng bên cạnh chưa đóng. Khách hàng còn qua lại. Ngoài đường, xe đạp đậu đúng chỗ, chẳng cần khoá. - Nhà cửa bên Nhật đắt. Có điều độc đáo là chỗ tôi thuê, ở lâu thì tiền thuê giảm. Bên Pháp tiền nhà chỉ có tăng, chẳng bao giờ giảm. Đố các nhà kinh tế Pháp giải thích được chuyện lạ bốn phương của Nhật. Có lẽ người Nhật đã tính toán bằng… phương pháp tâm lí chăng? - Ai cũng thích được giảm tiền nhà. Nhưng phải ở lâu. Muốn được ở lâu thì phải tôn trọng các cam kết của hợp đồng. Nghĩa là phải giữ gìn chung cư. Trả tiền đúng thời hạn. Chủ nhà đỡ tốn tiền tu bổ thì mới giảm tiền thuê được chứ. Rốt cuộc hai bên cùng được lợi. Không biết có phải vì ai cũng tôn trọng chung cư không mà chung cư nào cũng sạch sẽ ? Thang máy, đèn điện không bị hư hỏng. Chẳng bao giờ thấy trẻ con tụ tập, phá phách, bôi vẽ lem nhem.

Thời gian sắp tới, ông có chương trình gì không ? 

- Dự tính cuối năm nay sẽ cùng đi với một đồng nghiệp Nhật, về Việt Nam tham dự một hội thảo văn học. Hi vọng lần này sẽ « vui vẻ cả làng »… 

- Có chuyện gì vậy ?

- Lần trước mình nói về lịch sử văn học Nhật. Đang nói về thời kì cận đại thì một vị ngồi hàng đầu giơ tay yêu cầu mình nói về… hoạt động của Phan Bội Châu tại Nhật ! Mình xin lỗi không chuẩn bị đề tài Phan Bội Châu. « Hết chỗ nói », mình xin ngừng. 

- Ông làm tôi nhớ lại hồi xưa ở Thị Nghè, có lần mắt nhắm mắt mở, vào một tiệm bún gọi… phở tái. Bị mắng : muốn ăn phở thì… cút sang tiệm bên cạnh. Quê một cục ! Mình xin lỗi, gọi tô bún bò Huế. Ngon ra phết.

Người Nhật lịch sự nhưng luôn giữ một khoảng cách đối với người ngoại quốc. Hầu như chẳng có cha mẹ nào hớn hở hãnh diện có con gái lấy chồng người nước ngoài. Một lối « tự hào dân tộc » của người Nhật chăng ? Đi chơi hai tuần lễ thì chắc chắn chẳng hiểu biết gì về người Nhật, chẳng thấy được những cái xấu của xã hội Nhật. Nhưng mục đích của vợ chồng tôi là sang Nhật thăm bạn. Gặp lại nhau, tay bắt mặt mừng. Thăm hỏi nhau. Thế là đạt được chỉ tiêu rồi. 

Trước khi đi, nghe thiên hạ đồn rằng đến Nhật du khách khỏi lo chuyện an ninh, trật tự. Chưa đi, chưa dám tin. Đi rồi mới thấy quả thật là đúng như vậy. Không thấy cảnh sát ngoài đường. Không thấy mấy ông vai u thịt bắp bảo vệ siêu thị. Không thấy kẹt xe. Chỉ có một lần nghe tiếng còi xe ngoài đường. Còi của xe chữa lửa báo cho tất cả các xe khác phải ngừng lại. Đi chơi đầu óc nhẹ nhàng, khoan khoái. Được thổ công NNT giảng giải nhiều điều thú vị. Đáng « đồng tiền, bát gạo ». Xin lỗi. Đáng « đồng yen, bát mì ».

Máy bay đáp xuống phi trường Charles de Gaulle. Cảnh tượng bình thường, quen thuộc. Lấy vé xe lửa về Lyon. May mắn mấy ông xe lửa không đình công. Đã lâu rồi tôi không dạo chơi, thăm viếng Paris. Lần cuối, nhân dịp có thằng em từ Cali sang thăm, tôi đưa nó lên « kinh đô ánh sáng ». Dành trọn hai ngày để la cà. Thăm khu La Tinh. Đi hết đại lộ Champs-Élysées « đẹp nhất thế giới », từ quảng trường Concorde lên đến Khải Hoàn Môn. Chui xuống métro. Leo lên Sacré Cœur, xem « chợ trời hội hoạ ». Thằng em khoái chí được sờ tận tay cái tháp Eiffel… Nhưng, nó có vẻ thờ ơ với danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Paris. Thỉnh thoảng lại hỏi… mấy giờ thì đi ăn ? Phố Tàu có cháo lòng không ? Uống bia, ăn cháo xong, nó thổ lộ :

- Paris đẹp. Nhiều trò. Nhưng… ghê quá. Métro Paris gây cảm giác « ở đây âm khí nặng nề ». Những chỗ đông người thì lộn xộn, nhốn nháo. 

Tôi đồng ý với thằng em. Chính tôi cũng hơi sợ cái « muôn màu, muôn vẻ » của Paris. Ngại đám hàng rong buôn bán bất hợp pháp chèo kéo du khách. Ngại tụi trẻ con móc túi bu quanh du khách. Thấy bóng cảnh sát là như ong vỡ tổ. Cảnh sát đi qua, đâu lại vào đấy. Thằng em ngạc nhiên, không tin là luật của Pháp không phạt trẻ con dưới 13 tuổi. Tụi móc túi không có đứa nào « già » tới 13 tuổi. Bị cảnh sát tóm, chỉ việc khai 12 tuổi là xong. Có đứa bị bắt 2, 3 lần trong cùng một ngày. Đưa về bót để lập biên bản, nó cười khẩy: các ông không còn chuyện gì khác để làm à ? 

Dạo chơi Paris thằng em rút ra được bài học mót đái thì… uống cà phê. Vào tiệm cà phê, « ném tiền vào cầu tiêu » mà đái. - Tóm lại, đi chơi Paris chỉ ngại mắc tè. Đi chơi Los Angeles ngại bị trúng đạn. Đi chơi Sài Gòn ngại bị ngộ độc, xe tông. Rốt cuộc, nằm nhà uống bia là khoái nhất. Paris còn « nhiều vấn đề phức tạp ». Nhưng du khách vẫn nườm nượp đến Paris ăn uống, mua sắm, thăm viếng. Paris vẫn tiếp tục « Vừa chửi vừa rao vẫn đắt hàng ».

Chẳng có chuyện gì quan trọng, to lớn để… nói phét. Đành tán gẫu bằng mấy chuyện lặt vặt. Tầm phào.

Nguyễn Dư (Lyon, 5/2015)

"Cung Hoàng Kim" 
Miss Nebraska USA 2015

Kính mời quý vị xem Bùi Dương Liêm phỏng vấn cô Cung Hoàng Kim, Miss Nebraska USA 2015.

Cô Cung Hoàng Kim sẽ dự thi Hoa Hậu Mỹ Quốc Miss USA tại Baton Rouge, Louisiana và đài truyền hình NBC sẽ trực tiếp phần chung kết vào đêm 12/7/2015.


https://youtu.be/-6YSmh1Ufrk



Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Tại Memphis

Tác giả: Mimosa Phương Vinh

Tác giả định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O. đầu thập niên 90, cư dân Berryhill, Tennessee, làm việc trong Artist room của một công ty Mỹ. Giải thưởng VVNM 2013, cô đã nhận giải Vinh Danh Tác Giả. Bài viết gần nhất là “Điệp Khúc Tháng Tư”, một hồi ký xúc động của người vợ chiến binh tại Cà Mau, vùng đất sau cùng của miền Nam thất thủ sau Tháng Tư 1975. Bài mới nhất của tác giả kể về kỷ niệm Ngày Quân Lực VNCH năm nay tại Memphis.

Hình ảnh từ buổi họp mặt ngày 13-6-2015.

Cũng như những năm qua, ngày 19 tháng 6 năm 2015 Hội Cựu Chiến sĩ Memphis lại đứng ra tổ chức Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Các anh em Quân Cán Chính của miền Nam Việt Nam lại có dịp gặp nhau để hồi tưởng lại một thuở từng chiếu đấu dưới màu cờ vàng yêu dấu của chúng ta.

Ngày 13 tháng 6 nhằm ngày Thứ Bảy rất tiện lợi cho những cuộc họp mặt. Như vậy Hội Cựu Chiến Sĩ Memphis đã tổ chức Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19 tháng 6 sớm hơn vài ngày và số anh em Cựu Quân Nhân thuộc mọi binh chủng, cùng gia đình con cháu về tham dự đông đảo trong một nhà hàng ở vùng Midtown.

Memphis là một thành phố tương đối ít người Việt hơn những nơi khác nhưng hàng năm đồng bào và các anh em Cựu Quân Nhân đều đứng ra tổ chức Tết và Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mặc cho nhiều khó khăn về nhân sự cũng như tài chánh.

Ngoài các nhà thờ hay đền chùa thuộc lãnh vực tôn giáo, Memphis có hai tổ chức lớn nhất đó là Cộng Đồng Người Việt Tự Do West Tennessee & Vùng Phụ Cận và Hội Cựu Chiến Sĩ Memphis. Nhân ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lại đúng thời điểm 40 năm sau Tháng Tư 1975, người viết xin sơ lược về những hoạt động của Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH tại Memphis trong 24 năm qua: Hội được thành lập năm 1991 và vị Hội Trưởng đầu tiên là anh Phạm Hữu Ân thuộc Binh Chủng Không Quân nay đã hóa ra người thiên cổ (nhắc đến anh Phạm Hữu Ân chúng tôi không khỏi ngậm ngùi thương tiếc vì đức độ và lòng khiêm cung của anh).

Vị Hội Trưởng thứ nhì là anh Nguyễn Hữu Lượng một Cựu Đại Úy Tham Mưu Phó CTCT- Tiểu Đoàn 44 thuộc Sư Đoàn 23 Bộ Binh (anh Lượng đặc biệt hát rất hay bài Người Ở Lại Charlie của cố nhạc sĩ Trần Thiện Thanh). Đương kim Hội Trưởng là anh Ngô Tái Hiệp thuộc trường Võ Bị Quốc Gia Dalat. Tuy tuổi đời khá trẻ so với những vị Hội Trưởng khác nhưng anh rất uyển chuyển, linh động trong việc duy trì Hội Cựu Chiến Sĩ đứng vững trong nhiều năm qua cho đến hôm nay.

Ngoài ra còn có các anh em như Nguyễn Văn Rạng (Hội Phó), Đặng Quốc Dũng (Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do Tại Memphis), Võ Thái Phương (Phó Chủ Tịch, đồng thời cũng là Trưởng Ban Văn Nghệ của Hội), Nguyễn Hy Ích, Nguyễn Văn Truy, Nguyễn Trọng Hanh …Đa số các anh đều là Sĩ Quan tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức.

Về phía phụ nữ thì có các chị Phan Thị Quy (Thủ Quỹ Hội Cựu Chiến Sĩ), Võ Nguyệt Nga (Thư Ký), Nguyễn Mộng Lan (Thủ Quỹ Chương Trình Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa) và Phương Vinh (Phụ Trách Chương Trình Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa). Đa số các chị em là phu nhân của các Cựu Quân Nhân hay thuộc về Gia Đình Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.


Hình ảnh từ buổi họp mặt ngày 13-6-2015.

Các anh chị em vừa được nêu tên là những thành viên thường xuyên trong các buổi họp và họ đều đến với Hội một cách tự nguyện, không hề nhận lợi nhuận vì Hội Cựu Chiến Sĩ Memphis không có một trợ cấp tài chánh nào ngoài sự góp công sức của đồng bào hay anh em Cựu Quân Nhân địa phương, để hàng năm tổ chức những buổi lễ kỷ niệm ngày Quân Lực, tham gia diễn hành với Hội Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ hay tương trợ cho các anh em Thương Phế Binh còn đang sống tại Việt Nam.

Hội Cựu Chiến Sĩ Memphis được Thầy Thích Chơn Nghĩa thuộc chùa Chánh Tâm có nhã ý giúp Hội dùng phòng khách của chùa để làm nơi hội họp hàng tháng hay những phiên họp bất thường.

Đêm kỷ niệm ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa năm 2015 đã diễn tiến như một định kỳ mà cách thành viên đã cố gắng duy trì từ 24 năm qua. Thành phần tham dự ngoài các anh em Cựu Quân Nhân, Cán Chính và gia đình còn có sự hiện diện của ông Bill Flanigan là Thư Ký Hội Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ tại Memphis và một số Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam. Đặc biệt Ban Giám Đốc và một số rất đông nhân viên cao cấp của hãng Williamms Sonoma cũng có mặt. Đây là những người Mỹ luôn góp mặt và gắn bó thường xuyên với Hội trong nhiều năm qua.

Hãng Williams Sonoma là một công ty lớn và nổi tiếng trên nước Mỹ với nhiều chi nhánh ở mọi Tiểu Bang. Số người Việt Nam làm ở hãng này rất đông vì tiền lương họ trả khá cao so với những công sở khác cộng với nhiều lợi ích về y tế cũng như hưu trí. Hãng Williams Sonoma rất có cảm tình với người Việt. Hàng năm họ đều tặng Cộng Đồng và Hội Cựu Chiến Sĩ Memphis rất nhiều tặng phẩm có giá trị để tổ chức bán vé số gây quỹ và giúp các anh em Thương Phế Binh Cộng Hòa còn đang sống thật khốn khổ tại quê nhà.

Sau nghi thức chào cờ, anh Hội trưởng đã đọc bài diễn văn ca ngợi sự anh dũng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến bảo vệ nềnTự Do cho Miền Nam trước sự xâm lấn của cộng sản miền Bắc với sự hỗ trợ của tập đoàn cộng sản quốc tế. Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hiên ngang đối đầu với cộng sản trên khắp các mặt trận, đã từng gây cho kẻ thù những tổn thất kinh hoàng và nặng nề trên khắp lãnh thổ. Họ giữ từng tấc đất quê hương, không hèn với giặc, ác với dân. Và nhất là không hề dâng cúng mảnh giang sơn mà tổ tiên đã để lại cho bất cứ thế lực ngoại bang nào.


Hình ảnh từ buổi họp mặt ngày 13-6-2015.

Sau năm 75, khi cộng sản miền Bắc chiếm được Miền Nam họ bắt đầu thực hiện những cuộc trả thù vô cùng thâm độc. Trại cải tạo mọc lên khắp nơi, đói khổ nghèo nàn đẩy người dân bỏ nước ra đi và một số vùi thân ngoài biển cả. Bộ mặt thật của những người mang chiêu bài giải phóng đã hiện ra. Sự thật đã được trả lại cho lịch sử. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã được nhìn nhận một cách trung thực và lá cờ vàng ba sọc đỏ đã được chấp nhận tung bay ở những nơi chốn có Tự Do và Dân Chủ.

Trong cuộc chiến bảo vệ Tự Do cho Việt Nam, nhiều nước trong Thế Giới Tự Do đã chen vai, sát cánh với chúng ta để chống lại tập đoàn Cộng Sản Quốc Tế. Đặc biệt là Hoa Kỳ với 58.000 lính Mỹ đã hy sinh trên chiến trường Việt Nam. Chúng ta tri ân họ đã tử vong cho nền Cộng Hòa còn non trẻ của Miền Nam thân yêu. Và với cao trào đòi quyền làm người trong nước hiện nay, hy vọng rằng đóa hoa Tự Do sẽ nở ngập tràn trên cánh đồng Tổ Quốc Việt Nam!

Sau đó, người đại diện cho Chương Trình cứu trợ Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa của Hội Cứu Chiến Sĩ Memphis đã lên báo cáo hoạt động trong năm qua. Sau nhiều năm hoạt động, số hồ sơ gởi về giúp các anh em Thương Phế Binh đã đạt đến hàng ngàn và mỗi hồ sơ được trợ cấp từ 50 đến 100 Dollars tùy theo ngân quỹ của hội. Đó cũng là một kết quả khả quan đối với một thành phố ít người Việt như Memphis. Tiền quỹ do đồng bào, anh em cựu Quân Nhân đóng góp kẻ ít, người nhiều hay thu được do tiền bán vé số gây quỹ. Các anh chị em trong hội đều làm việc tự nguyện, đôi khi tiền túi bỏ ra đúng với tinh thần “ăn cơm nhà, vác ngà voi”. Một chủ tiệm Nails bên Misissippi không những ủng hộ hàng tháng mà mỗi lần Tết đến lại không quên lì xì cho 10 Thương Phế Binh trong nước có đời sống khó khăn nhất. Sự chọn này cũng khá đau đầu vì các anh đều khó khăn, nghèo khổ như nhau. Xin các anh em còn lại tha thứ cho vì hội còn nghèo quá!

Món quà nhỏ bé do hội Cựu Chiến Sĩ Memphis gởi đến các anh em Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa từ Quảng Trị đến Cà Mau có tính cách tượng trương, không đáng là bao. Đó chỉ là tấm chân tình của những anh chị em nơi hải ngoại gởi về các anh em còn ở lại quê nhà, góp một bàn tay bé nhỏ xoa dịu phần nào những vết thương từ tinh thần đến vật chất mà các anh em đã gánh chịu suốt 40 năm qua.



Hình ảnh từ buổi họp mặt ngày 13-6-2015.

Trong phần văn nghệ do ban nhạc và các ca sĩ địa phương trình bày những ca khúc về người lính kèm theo chương trình xổ số do M.C. Võ Thái Phương là một Cựu Quân Nhân đảm trách. Sự đóng góp để gây Quỹ Cứu Trợ Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa trong đêm kỷ niệm ngày Quân Lực được mọi người ủng hộ nhiệt liệt.

Hội Cựu Chiến Sĩ Memphis chỉ là một đơn vị bé nhỏ, khiêm nhường của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đang lưu lạc trên xứ người. Hội không có cao vọng để làm những việc to tát, mà chỉ muốn ôn lại những kỷ niệm xưa của một thời Huynh Đệ Chi Binh gắn bó và giúp cho những thế hệ trẻ, con em của chúng ta có một ý niệm về Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với cuộc chiếu đấu vô cùng cam go từ chiến trường đến hậu phương. Và cùng để các em hiểu về những việc làm ích quốc, lợi dân của cha ông họ đã làm mà đến giờ đây vẫn có những thế lực khác vô tình hay cố ý luôn muốn dìm chôn tất cả vào quên lãng.

Bài học đau thương của Dân Tộc, Quê Hương mà thế hệ cha anh đã gánh chịu sẽ là kinh nghiệm được truyền đạt lại cho những người trẻ. Sự thắng bại của cuộc đời cũng khó mà luận bàn vì cuộc chiến vẫn chưa chấm dứt. Cuộc chiến giữa thiện và ác luôn luôn tiếp diễn trong mỗi chúng ta, trong mỗi thế hệ, trong mỗi trái tim Việt Nam bằng cách này hay cách khác.

Chúng tôi xin mượn một câu danh ngôn người Mỹ luôn nhắc đến trong lãnh vực thể thao để nói lên sự anh dũng, oai hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiếu đấu bảo vệ tự do độc lập cho Quê Hương, Dân Tộc.

Let me win but if I cannot win let me be brave in the attempt.

Tạm dịch: Hãy để cho tôi đạt chiến thắng, nhưng nếu tôi không thể chiến thắng hãy để tôi được can đảm trong nỗ lực của mình.

Mimosa Phương Vinh

Kinh hoàng trên đảo Kokra



































Đảo Koh Kra, Địa Ngục của trần gian, nổi ám ảnh của Thuyền Nhân Việt Nam tại Vịnh Thailand. Các nạn nhân vừa được giài cứu. Hình ảnh của nhóm ông Ted Schweitzer chụp khi đến Đảo Koh Kra để cứu các Thuyền Nhân Việt Nam.

Phụ Lục: Kinh hoàng trên đảo Kokra

(Trích báo Đất Mới – Tin tỵ nạn): Những thảm cảnh trên biển Thái lan vẫn tiếp tục xảy ra hãi hùng cho đồng bào tỵ nan. Một trong những thảm cảnh này vừa được phanh phui do những nhân chứng đã được cứu thoát qua những cơn kinh hoàng trong 21 ngày tại đảo Kokra do bọn hải tặc Thái lan gây ra. Trong số nhân chứng có nhà văn Nhật Tiến và hai vơ chồng nhà báo, ông bà Dương Phục, đã được đưa ra ánh sáng cho dư luận thế giới được biết vì những thảm cảnh hải tặc thường được các nhà chức trách Thái lan làm ngơ vì bất lực và bọn cảnh sát Thái lan thì đồng lõa để ăn có với bọn cướp nên chúng tự do hoành hành. Đảo Kokra, một đảo hoang trong vịnh Thái lan đã trở nên sào huyệt không che giấu của bọn hung thần ác quỷ. Có 157 đồng bào bị bọn hải tặc giam giữ trên đảo là do nhiều toán khác nhau mà chúng đưa đến để bóc lột. hãm hiếp, hành hạ… cực ky dã man không bút nào tả xiết, và ngoài sức tưởng tượng của con người. Sau đây là một vài thảm cảnh hãi hùng.

Bà Nguyễn Thị Thương 36 tuổi, đã tốt nghiệp tại Hoa ky, cựu giáo sư trường Bách khoa Thủ đức cho biết: chiếc thuyền của bà chở 107 người khởi hành ở Rạch giá ngày 1-12-1979. Gia đình bà gồm chồng bà là giáo sư đại học Trần Quang Huy, bà cụ thân sinh, hai em trai, hai em dâu và 7 đứa cháu. Sau ba ngày, sau khi thuyền tới hải phận Thái lan thì bọn cướp xuất hiện. Chúng ra lệnh cho 27 người bước qua tàu của chúng rồi lục soát và cướp bóc, chúng rất hung hãn với đàn ông và hãm hiếp đàn bà. Hành động xong, chúng buộc thuyền của chúng ta vào tàu của chúng và kéo đi. Chúng mở tốc lực thật nhanh và quẹo thật gắt để cố tình làm cho thuyền đắm… và thuyền đã chìm mang theo 80 sinh mạng xuống đáy biển. Số 27 người mình trên tàu của chúng bị chúng mang đến sào huyệt là đảo Kokra, nhưng trước khi tàu tới, chúng đã ép 7 người đàn ông phải nhảy xuống biển bơi vào bờ. Cả 7 ông này đều không ai đủ sức bơi nên đã chết đuối trong đó có ông Trần Quang Huy, chồng bà Thương. Mục đích của chúng là giết hết các người đàn ông có mặt. Còn lại 20 người đàn bà chúng đưa lên đảo để làm mồi cho thú tính dã man của chúng.

Ông Dương Phục và bà vợ là Vũ Thanh Thủy thuộc toán khác cho biết: ông bà đã mục kích bọn cướp bắt ông Ngô Văn Liên 54 tuổi há mồm để bẻ gãy 3 chiếc răng vàng. Chúng đè ông xuống lấy búa đập, nhưng không được, chúng lấy tournevis nạy cũng không ra, sau chúng kiếm được một cây kìm rỉ sét để vặn chéo 3 chiếc răng. ông Liên ôm mồm rên la, máu chảy xối xả suốt một ngày; chúng bỏ 3 chiếc răng vàng vào túi và bắt đứa con gái ông 16 tuổi mang đi mất.

Các nạn nhân khi lên tới đảo, nhất là phụ nữ thì tản mát đi tìm các khe núi, hốc đá để trốn tránh bọn chúng. Chúng hành hạ các đàn ông và bắt đi tìm thân nhân phụ nữ; nhiều người không chịu, bị chúng hành hạ tàn nhẫn: ông Trần Minh Đức không nghe lời chúng, bị chúng dùng dây xiết cổ họng đến chết. Ông Nguyễn Minh Hoàng bị chúng treo lên cành cây, ông giãy giụa làm gẫy cành, chúng liền đá ông lăn xuống dốc núi, người em trai ông lại đỡ anh liền bị chúng dùng búa chém vào đầu, máu ra có vòi. Hai tên cướp cắp nách ông này dí đầu vào đống lửa, máu chảy xuống xèo xèo cho đến khi ông ta bất tỉnh.

Một cô bé 15 tuổi đã phải trốn tránh, chui rúc một mình trong một hốc đá với bao nỗi sợ hãi. Sợ từng tiếng lá xào xạc, từng tiếng động nhẹ, sợ từng đàn chuột chạy qua chân, từng con ốc xên bò trên người và sợ luôn cả ma… Nỗi sợ mỗi ngày một gia tăng, sau nhiều ngày chịu dựng không nổi, em đã phải bò ra và bị 4 tên hải tặc thay phiên hãm hiếp.

Một thiếu nữ 20 tuổi sau đêm đầu tiên bị hãm hiếp quá nhiều đă trốn trong các bụi rậm. Bọn cướp biết vậy nên đã nổi lửa đốt các bụi cây, cô bị cháy nát cả sau lưng nhưng cũng không chịu bò ra. Với tấm lưng nát bấy, thịt da nứt nẻ. cô còn tiếp tục trốn chui rúc cho đến lúc quá đau đớn vì sự cọ sát của các cánh cây, cô mới phải bò ra ngoài, nhưng luôn luôn nằm úp mặt xuống đất đưa tấm lưng nứt nẻ hôi thối vào mặt bọn hải tặc để được chúng buông tha, bọn cướp còn lấy gậy đánh vào vết thương của cô để đùa giỡn.

Một cô bạn khác đã phải lấy phân bôi đầy người, đầy mặt để hi vọng bảo vệ tấm thân, mùi hôi thối đã làm chính cô nôn oẹ nhưng bọn cướp vẫn không tha, thay nhau hãm hiếp và còn đánh đập cô tàn nhẫn vì tội trát nhơ bẩn lên người.

Cô C. 23 tuổi, kỷ sư hóa học, sau khi bị hải tặc hãm hiếp, đã trần truồng nhảy từ mỏm đá cao xuống biển với tiếng rú thê thảm. Ai cũng tưởng cô sẽ nát thây vì bờ đá nhọn hoắt, nào ngờ một ngọn sóng to đã đỡ cô lên và hất cô vào một hang đá ngầm trong núi và tại đó cô đã sống sót trong nhiều ngày cho đến lúc nhân viên Cao ủy Liên hiệp quốc đón ra.

Bà Vũ Thanh Thủy còn cho biết: Khi bọn chúng đốt tất cả các bụi rậm, bà và một người bạn gái đã phải lui sâu vào trong rừng, leo lên sườn núi chênh vênh, bên bờ vực thẳm. Các bà ngồi ép bên sườn núi, dầm nắng dãi mưa, qua những đêm lạnh lẽo rét run lẩy bẩy, phải ôm chặt lấy nhau để có chút hơi ấm. Mỗi khi có cơn gió mạnh thổi qua các bà phải bíu chặt lấy nhau để khỏi bị thổi bay xuống vực. Các bà đã chọn những nơi nguy hiểm như thế và có ý định nếu gặp khi có tên cướp nào đi tới một mình thì các bà sẽ hất nó xuống biển.

Các nạn nhân đã sống trong kinh hoàng đói khát cho đến ngày thứ 21, khi có một chiếc trực thăng bay ngang qua. May thay trên đó có ông Schweitzer, một nhân viên của Cao ủy tị nạn Liên hiệp quốc, ông đã trông thấy các nạn nhân và ông đã trở lại đảo Kokra trên một chiếc tàu cảnh sát Thái lan để cứu nạn nhân đưa vào trại Songkla. Tại sở cảnh sát, chính ông đã đảm bảo an ninh cho các nhân chứng để khuyên họ khai hết sự thật ra ánh sáng. Có tin vài tên hải tặc đã bị nhận diện và bị bắt để điều tra, nhưng lạ thay, sau ít ngày chúng đã được thả ra và còn đi dọa nạt các nạn nhân khác nữa.

Người ta rất ngạc nhiên về thái độ của các nhà đương cuộc Thái lan trong những vụ này, nhất là bọn cảnh sát Thái lan đã vào hùa với chúng một cách rõ rệt. Điều này rất dễ hiểu vì các nhà đương cuộc Thái lan rất nổi tiếng về tham nhũng, rất dễ bị bọn cướp mua chuộc để lộng hành.

Số 157 đồng bào được cứu thoát khỏi địa ngục trần gian Kokra đang được định cư tại trại Songkla để đợi ngày đi nước khác. Sào huyệt Kokra đã được ông Schweitzer ghi vào hồ sơ để chuyển về Liên hiệp quốc


Nguồn : Nỗi Buồn Quê Hương

Hình Ảnh : Ted Schweitzer trên FB Nguyễn Cửu Long Hiếu

Friday, June 26, 2015

Saigon xưa 

Tôi lớn lên tại Sài Gòn, tại số 148 đường Colonel Boudonnet dọc theo đường rầy xe lửa, sau nầy đổi tên là Lê Lai tới nay, đường lấy tên của Đại Tá Théodore Boudonnet thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh Thuộc-Địa và Tư lệnh Sư Đoàn Bộ Binh An Nam, tử trận bên Pháp hồi 1914. 

Mặt đất đường nầy thấp hơn các đường Frère Louis, Phan Thanh Giản và Frères Guillerault nên mỗi khi mưa lớn là đường bị ngập : “nhờ vậy” mà sau khi tạnh mưa, dọc theo bức tường ngăn đường rầy và đường lộ những con dế từ đất chui ra hang để khỏi bị ngộp, nên tôi đi bắt đến khuya mới về ít lắm là ba bốn con và thường bị mẹ tôi quở trách.

Sau khi “chạy giặc” hồi 1945 vì máy bay đồng minh oanh tạc nhà ga và đường rầy xe lửa để chận tiếp tế cho quân Nhựt, gia đình tôi trở về sống tạm trước Nhà thờ “Huyện Sỹ” đường Frères Guillerault và năm sau rồi dọn trở về lại hẻm 176/11 đường Colonel Boudonnet.

Nhà thờ Huyện Sỹ xây cất năm 1905, ông là người giàu có vùng Gò Công, tên thật là Lê Phát Đạt và là Ông ngoại của Nam Phương Hoàng Hậu, vợ của Hoàng Đế Bảo Đại. 

Gần nhà thờ Huyện Sỹ có hai đường mang tên Frère nhưng nếu Frère Louis là để tưởng nhớ đến Thầy Louis Gaubert lập ra trường Taberd, đường Frères Guillerault (có chữ “S” sau Frères) là để tưởng nhớ đến hai anh em Roland và Léon Guillerault sinh trưởng tại Sài Gòn và tử trận trong Đệ Nhứt Thế Chiến bên Pháp.

Trong lúc “tản cư” tôi đi học lớp chót trường làng tại quận Hóc Môn và vì một sự tình cờ mà Ba tôi ghi cho tôi học tiếp miển phí lớp “Douzième” trường Chasseloup-Laubat, thay vì Petrus Ký như Ba tôi. 

”Trường Chasseloup” xây cất trong ba năm nơi rạp hát bội của Tả Quân Lê Văn Duyệt, lúc đầu mang tên Collège Indigène de Saigon, nhưng khi khánh thành năm 1877 thì đổi lại là Collège Chasseloup-Laubat và từ 1928 trở thành Lycée có nghĩa là luyện thi đến lớp Tú Tài, mang tên của Hầu Tước Justin De Chasseloup Laubat, Bộ Trưởng Bộ Hải Quân và Thuộc Địa dưới thời Napoléon III, người quyết tâm chiếm và giữ Nam Kỳ. 

Hồi 1946 quân đội Pháp mới trở lại Việt Nam nên ít có gia đình và trẻ con Pháp sống tại Sài Gòn nên dư giáo viên mà thiếu học trò ! Lớp 12è niên khoá 1946-1947 trai và gái học chung tại Collège Calmette gần đó, sau đó vài năm trường nầy đổi tên là Lycée Marie Curie cho đến ngày nay. 

Tôi còn nhớ lúc ra về tôi chạy nhanh ra cổng, không phải để tìm Ba tôi, thường người ra sở trễ và đi xe đạp từ “Toà Tân Đáo” (Sở Ngoại Kiều) ở đường Georges Guynemer dưới Chợ Cũ lên rước tôi, mà là để tranh thủ thời gian để cạo mủ cao su !

Thật vậy, giữa trung tâm thành phố Sài Gòn không hiểu ông Tây nào có ý kiến trồng cây cao su theo hai bên đường Jauréguiberry cho có bóng mát ? 

Bernard Jauréguiberry là một Đề Đốc Pháp đã đánh vào Đà Nẳng và chiếm thành Gia Định, về sau giữ chức Thượng Nghị Sĩ và Bộ Trưởng Bộ Hải Quân, mà tại sao lại đặt tên cho một đường nhỏ bên hông trường Calmette. Nhưng dù sao đi nữa những cây cao su đó, sau khi lấy đá đập vào vỏ thì chảy ra mủ trắng rất nhiều. Tôi trét mủ ấy trên cập táp da của tôi rồi khi mủ khô thì cuốn tròn quanh một cục sỏi và ngày qua ngày trở thành một trái banh nhỏ.

Như vậy tôi thuộc vào thành phần “Nam Kỳ chánh cống” và “dân Sài Gòn một trăm phần trăm”, lớp tuổi gần 70 và và sống tại Saigon trong 34 năm. Những bạn lớn hơn tôi vài tuổi và những bạn gốc “Bắc trước năm mươi tư” mới biết tên đường cũ như tôi, các bạn khác ráng mà tìm các tên trong trang sau cùng ! Không phải tôi bị “tây hóa” nên không chịu dùng tên Việt Nam, nhưng các tên đường cũ đả khắc sâu vào trí nhớ tuổi thơ của tôi, hơn nửa lúc trẻ tôi hay tìm tòi trong tự điển Larousse coi ông nầy là ai mà họ đặt tên đường, sau thế hệ của chúng tôi, ít còn ai nhớ đến tên những con đường Sài Gòn năm xưa…

Mẹ tôi có thuê một cyclo để đi làm và đưa tôi đi học tại trường Chasseloup, “Chú Ba Xích Lô” mỗi ngày chạy ra phía nhà ga Sài Gòn theo đường Colonel Boudonnet, sau khi qua rạp hát Aristo, nay là New World Hotel, quẹo trái qua đường Chemin des Dames và băng qua đường Lacote (chớ không phải Lacotte, Moïse Lacote là cựu Trưởng Ban Hành Chánh vùng Gia Định và Giám Đốc Thuế Vụ Nam Kỳ vào năm 1896) hoặc theo đưòng Amiral Roze (người đã từng tấn công Nam Hàn) để đi thẳng tới đường Gia Long, tên của đường La Grandière vào khoảng ấy (Đề Đốc Pierre De La Grandière thay thế Đề Đốc Bonard là một trong những Thống Đốc đầu tiên của Nam Kỳ, Ông tự động đi chiếm xứ Cambodge năm 1863 mà không có lệnh của Hoàng Đế Napoléon III và cũng chính Ông đã chiếm ba tỉnh miền Tây năm 1867 làm cho Cụ Thống Tướng Phan Thanh Giản phải đầu hàng và sau đó tự vận, dưới thời Đề Đốc De La Grandière Sài Gòn phát triển mạnh mẻ).

Chú Ba Xích Lô xuyên qua vườn “Bờ Rô” để có bóng mát rồi ra đường Larégnère, sau nầy là đường Đoàn Thị Điểm. Tôi không biết tại sao người ta kêu công viên đó bằng tên ấy, có thể là phiên âm của chữ “préau (sân lót gạch) nhưng theo học giả Trần Văn Xướng thì do Ông “Moreau”, tên của người quản thủ Pháp đầu tiên chăm nom vườn nầy; thuở trước các người lớn tuổi còn gọi là “vườn Ông Thượng”, có thể là vì trước kia Tả Quân Lê Văn Duyệt là người tạo ra vườn nầy. 

Dưới thời Pháp thuộc vườn “Bờ Rô” nằm trong khu đất của dinh Thống Đốc nhưng vào năm 1869 Phó Đề Đốc Hector Ohier, người thay thế Đề Đốc De La Grandière, cắt chia đất và tặng thành phố vườn nầy mang tên Parc Maurice Long. Mười năm sau đường Miss Cavell được tạo ra, lúc đó mang tên rue de la Pépinière, để biệt lập với dinh Thống Đốc mà sau nầy là Palais Norodom và sau 1954 trở thành Dinh Độc Lập rồi Dinh Thống Nhứt sau 1975. Cũng có thể tên “Ông Thượng” là Ông Ohier, có tên đường dưới chợ cũ, nhưng tới đời tôi chỉ gọi vườn đó là “vườn Bờ Rổ”, sau nầy mang tên vườn Tao Đàn. 

Ra vườn Bờ Rô gặp đường Chasseloup-Laubat rồi đi thẳng trên đường Larégnère, sau đó tới đường Testard : hai tên nầy ở gần nhau cũng đúng vì Trung Tá Bộ Binh Jules Testard và Thiếu Úy Hải Quân Etienne Larégnère, 31 tuổi (chớ không phải Lareynière hay Laraignère) tử vong cùng một trận đánh ác liệt tại Đồn Kỳ Hòa, ở vùng trường đua Phú Thọ, giữa lực lượng của Thống Tướng Nguyễn Tri Phương và Đô Đôc Victor Charner năm 1861. 

Ai cũng biết đường Chasseloup-Laubat, một đường chiến lược rất dài đi từ Chợ Lớn, từ đường 11è R.I.C (Régiment d’Infanterie Coloniale) đến Thị Nghè, sau 1955 đường nầy đổi tên là Hồng Thập Tự.

Đi thẳng đến đường Testard, chú Ba quẹo mặt và bỏ tôi xuống ở góc đường Barbé vì học sinh vào trường Chasseloup bằng cửa sau. Góc đường nầy sẽ liên hệ nhiều với tôi sau nầy khi tôi trở thành sinh viên y-khoa. Đường Barbé (chớ không phải Barbet ) có từ lâu và mang tên của Đại Úy Nicolas Barbé thuộc Sư Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến Pháp bị Ông Trương Định cho tên Nguyễn Văn Sất ám sát vào năm 1860 gần chùa Khải Tường, nơi vua Minh Mạng sanh ra năm 1791 lúc Nguyễn Ánh chạy lọan vào miền nam để tránh anh em Tây Sơn. 

Chùa nầy do Nguyễn Ánh sau khi trở thành vua Gia Long ra lệnh xây cất để tạ ơn Phật Trời đã che chở cho con trai là Nguyễn Phúc Đàm (vua Minh Mạng sau nầy), sau đó chùa được lập làm đồn chống Pháp nên bị lính Pháp phá dẹp hồi 1880, pho tượng Phật hiện còn lưu niệm trong Viện Bảo Tàng Sài Gòn, trong Sở Thú. Trên nền chùa bỏ hoang nầy về sau có cất lên một biệt thự lầu lớn kiểu âu-châu tại số 28 đường Testard mà Bà Bác Sĩ Henriette Bùi (con gái thứ ba của Ông Bùi Quang Chiêu) mướn lại của người chủ là một luật sư người Pháp làm dưỡng đường sản-phụ khoa vào thập niên 1940. 

Ông Bùi Quang Chiêu (1872-1945) là kỹ sư canh nông Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp bên Pháp năm 1897 và bị Trần Văn Giàu (phong trào Việt Minh) ám sát cùng ba người con trai vào tháng 9 năm 1945. 

Còn Bà Henriette Bùi Quang Chiêu sanh năm 1906 là người đàn bà Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp y-khoa bác sĩ tại Paris năm 1929, nay Bà đã 103 tuổi và hiện còn minh mẩn và sống tại ngoại ô Paris: Bà kể lại rằng vào năm 1943 nhà nầy được bán lại cho một người Do Thái tên là David chủ của nhiều biệt thự tại Sài Gòn; vào đầu năm 1945 chánh phủ Pháp trưng dụng nhà nầy và cho Bà thuê một biệt thự khác ở đưởng Blancsubé để dời dưỡng đường đến đấy. Tháng 3 năm 1945 Nhựt đảo chánh Pháp và tịch thu căn villa nầy, và khi Pháp trở lại thì trao cho Viện Đại Học Sài Gòn để rồi năm 1947 nơi nầy trở thành chi nhánh của Đại Học Y-Dược Khoa Hà Nội rồi năm 1954 thành Đại Học Y-Dược Khoa Saigon, nơi tôi được đào tạo trong sáu năm với GS Phạm Biểu Tâm làm Khoa Trưởng. Nơi đầy kỷ niệm nầy nay là Bảo Tàng chứng tích chiến tranh.

Lớn lên tôi đi xe đạp về một mình nhưng thích đi theo đường Testard hơn vì có bóng mát dưới hàng cây me, song song với đường Richaud (sau đổi lại đường Phan Đình Phùng) và thường ghé biệt thự số 6 đường Eyriaud des Vergnes (sau là Trương Minh Giảng) chơi với một bạn học cùng lớp, nhứt là vào mùa các cây trứng cá có trái. 

Ông Etienne Richaud là một Toàn Quyền Đông Dương hồi cuối thế kỷ XIX, còn Ông Alfred Eyriaud Des Vergnes người gốc Châteauroux là Kỹ Sư Trưởng Nha Công Chánh Nam kỳ (Cochinchine), Ông là một thần đồng tốt nghiệp trường Polytechnique tại Paris lúc 17 tuổi sau đó học trường Ponts et Chaussées, ra lệnh lấp kinh Charner, tạo hệ thống cống dài 7 km, cất 12 cầu theo “Kinh Tàu” (Arroyo chinois nối liền với rạch Bến Nghé chảy ra sông Sài Gòn). 

Ông Eyriaud Des Vergnes là người đầu tiên có ý lập ra đường sắt tại Việt Nam chạy lên Cambodge nhưng kế hoạch không thành, về sau nhờ Kỹ Sư Thévenet Giám Đốc Nha Công Chánh Nam Kỳ và sự hỗ trợ của Cố Vấn chánh phủ Paul Blanchy mà Việt Nam có đường sắt đầu tiên đi từ Sài Gòn đến Mỹ Tho năm 1885. Hai người nầy cũng có tên đường và sau 1955 đổi lại là Tú Xưong (Thévenet) và Hai Bà Trưng (Paul Blanchy).

Sau khi qua đường Pierre Flandin (tên của một “đứa con” của Sài Gòn tuy sanh tại vùng Vaucluse và tử trận tại Noyon, tỉnh Oise, miền bắc nước Pháp vào năm 1917), đến cuối đường gặp rạp hát Nam Quang (nay vẫn còn), tôi quẹo trái ra đường Verdun (khoảng đó tên là đường Thái Lập Thành), đến ngã sáu Sài Gòn thì tôi lại đi qua đường Frère Louis để về nhà bằng đường d’Ypres cho vắng xe. Đường nhỏ nầy ở sau “Mả Lá Gẫm”, đúng hơn là của Ông Mathieu Lê Văn Gẫm, có bức tượng trong nhà thờ Huyện Sỹ, tử đạo thời vua Thiệu Trị vì bị hành hình lối năm 1847, mả đó nay vẫn còn nguyên tuy bị che khuất, và Ypres là tên một thành phố nhỏ bên vương quốc Bỉ, như thành phố Dixmude, nơi đã xẩy ra những trận đánh lớn hồi Đệ Nhứt Thế Chiến.

Đi xích lô mỗi ngày như vậy hoài cũng chán nên tôi thường đề nghị với Chú Ba đi về bằng ngả khác, thuở ấy đường phố ít xe hơn bây giờ vì Sài Gòn và Chợ Lớn không hơn một triệu dân cư. Tôi thích nhứt đi về nhà qua chợ Sài Gòn : Chú Ba tránh đường Mac Mahon (sau 1952 đoạn nầy lấy tên De Lattre de Tassigny và sau đó là Công Lý), đi đường Barbé và một đoạn đường Chasseloup-Laubat, rồi quẹo trái qua đường Miss Cavell với hàng cây cao bên hông Cercle Sportif Saigonnais (tên không phải viết Cawell hay Cavel : Edith Cavell là một nữ y-tá người Anh bị quân Đức xử bắn tại Bỉ vào năm 1915 lúc 50 tuổi vì giúp tù binh Anh, Bỉ và Pháp trốn qua Hòa Lan) để trổ ra đường Aviateur Garros rồi xuống chợ Sài Gòn, nơi bán nhiều trái cây (Roland Garros là phi công Pháp đầu tiên bay xuyên biển Méditerranée hồi 1913 và tử trận năm 1918).

Rồi cứ đi theo mãi đường d’Espagne (sau là Lê Thánh Tôn) vì vào 1859 quân lính Tây-Ban-Nha dưới quyền chỉ huy của các Đề Đốc Pháp đóng tại đó) để về Ngã Sáu (Phù Đổng) rồi về Colonel Boudonnet bằng ngã Amiral Roze. 

Đặc biệt Sài Gòn có rất nhiều tên đường mang tên các trận đánh thời Đệ Nhứt Thế Chiến (Boulevard de la Somme, Chemin des Dames, đường Verdun, đường Arras, đường Champagne, đường Dixmude, đường Douaumont, Quai de la Marne….) và tên các đề đốc Pháp vì dưới thời các vua Minh Mạng và Tự Đức tất cả quân Pháp đến Việt Nam bằng tàu thủy mà hai vị có tiếng nhứt là Charner và Bonard. 

Đô Đốc Léopold Victor Charner người vùng Bretagne, gốc Thụy Sĩ là Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Hải Quân Pháp tại Đông Nam Á, ngưòi đã chiếm Nam Kỳ, còn Đề Đốc Adolphe Bonard (chớ không phải Bonnard ) là Thống Đốc đầu tiên của Nam Kỳ do hoàng đế Napoléon III bổ nhiệm vào năm 1861 dưói thời vua Tự Đức.

Vào cuối thế kỷ XIX kinh rộng nhứt của Sài Gòn là “Kinh Lớn” hay “Kinh Charner” đi từ sông Sài Gòn đến Tòa Thị Sảnh, có hai đường dọc hai bên : đường chạy xuống bờ sông là đường Rigault de Genouilly, đường chạy lên là đường Charner. Vì mùi hôi thúi người Pháp lấp kinh lại sau nhiều năm bàn cãi và khi “đường Kinh Lấp” thành lập thì đương nhiên lấy tên Boulevard Charner vào năm 1861 nhưng Ba tôi vẫn gọi là đường Kinh Lấp vào những năm 1930. Trước đó, có một kinh dẫn nước sình lầy chảy ra Kinh Tàu từ chợ Bến Thành (người Pháp gọi là Les Halles Centrales), theo Học Giả Vương Hồng Sển vì gần rạch Bến Nghé và gần Thành Gia Định, kinh đó mang tên kinh Gallimard. Thiếu Tá công binh Léon Gallimart có dự trận đánh Kỳ Hòa, và đào kinh nầy vào năm 1861 theo lệnh của Đô Đốc Charner. Kinh nầy sau khi lấp lại theo ý kiến của kỹ sư Thiếu Tá Bovet năm 1867 lấy tên là Đại Lộ Bonard, vì thế đường nầy mới rộng lớn như ngày nay. Lúc lấp kinh và bến đò họ thành lập một công trường lớn, đó là “Bùng Binh” trước chợ Bến Thành mà người Pháp gọi là Place Eugène Cuniac, tên của một Thị Trưởng Sài Gòn, nay vẫn còn tên Công Trường Quách Thị Trang, một nữ sinh thiệt mạng lúc biểu tình dưới thời Ngô Đình Diệm năm 1963. 

Trước Tòa Thị Xã Sảnh, ở góc đường Charner và Bonard cũng có một bùng binh nhỏ với nước phun lên tên là Place Francis Garnier, nay là công trường Lam Sơn, để tưởng nhớ đến một sĩ quan hải quân trẻ tuổi phiêu lưu trên đất bắc và tử thương tại Hà Nội hồi 1873. 

Nhiều đường khác củng do lấp kinh mà ra như Boulevard de La Somme (rạch Cầu Sấu, sau nầy là đại lộ Hàm Nghi), đường Tổng Đốc Phương (hay Đỗ Hữu Phương), đường Pellerin (tên của một Giám Mục đã bênh vực công giáo Việt Nam nhưng khuyên lầm Đề Đốc Rigault De Genouilly lúc tấn công Đà Nẳng vào 1858) sau nầy đường Pellerin lấy tên là Pasteur.

Đường mà tôi thích nhứt, sang trọng nhứt và có tiếng nhứt Sài Gòn là đường Catinat, có trước khi người Pháp đến và mang tên một thuyền lớn đã bắn đại bác vào Đà Nẳng (chớ không phải tên của một Đề Đốc như nhiều người tưởng, thuyền “Le Catinat” lấy tên của Thống Chế Nicolas de Catinat, sống hồi thế kỷ XVII dưới thời Louis XIV). 

Nơi đó có rất nhiều tiệm sang trọng, đường phố sạch sẽ và có nhiều “Ông Tây” ngồi uống cà phê tại khách sạn Continental, lúc đó chưa có tiệm Givral và nơi đó là Nhà Thuốc Tây Solirène, thay thế Pharmacie Centrale. Sau nầy có thêm tiệm Brodard ở gốc đường Catinat và Carabelli, tên của một Nghị Viên thành phố. 

Tôi cũng có dịp vô nhà sách Albert Portail (nay vẫn còn dưới tên Xuân Thu từ 1955) và đi dạo trong Passage Eden vì trong cùng có rạp hát Eden, rạp nầy và rạp Majestic ở cuối đường Catinat là hai rạp chiếu bóng sang nhứt Sài Gòn vào thuở đó; đi chơi vậy chớ có tiền đâu mà mua đồ, nhiều lắm thì lấy vài tấm hình mà các ông phó nhòm chụp dạo lúc đi trước “Nhà Hát Tây”, cất theo kiểu Opéra bên Paris. 

Đường Catinat là đường tráng nhựa đầu tiên của Sài Gòn, khi mới tráng nguời ta kêu là đường “Keo Su” dài tới Nhà Thờ Đức Bà ; qua công trường Pigneau de Béhaine trước Bưu Điện có bức tượng Ông “Cha Cả” hay Evêque d’Adran dẫn Hoàng Tử Cảnh ra trình diện Louis XVI tại Versailles. 

Sau khi qua khỏi đường Norodom thì đường Catinat lấy tên của Cố Vấn chánh phủ và Nghị Viên Thị Xã Sài Gòn Blancsubé và tiếp theo công trường Maréchal Joffre với tượng đài chiến si tử vong trong Đệ Nhứt Thế Chiến là đưòng Garcerie với những hàng cây cao, sau nầy mang tên Duy Tân và công trường Quốc Tế hay “Hồ Con Rùa”.

Ba tôi có nhiều bạn người Tàu và thừờng vô Chợ Lớn chơi bằng xe lửa điện (tramway) mà người ta thường gọi là “xe lửa giữa” vì chạy giửa đường Gallieni, tới trạm gare de Nancy thì bạn của Ba tôi lên xe lửa đi cùng vì ở gần thành Ô Ma (Camp des Mares, sau nầy là Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia). Tôi còn nhớ xe lửa giữa đó, với ghế cây theo kiểu của Métro xưa bên Paris, chạy thẳng theo đường Gallieni nối liền Sài Gòn với Chợ Lớn. 

Ba tôi nói lúc trứớc nơi đây toàn là đất hoang và sình lầy, sau khi lấp bưng thành đường đất gồ ghề rồi khi Ba tôi xuống Sài Gòn học vào năm 1928 thì đường mới được tráng nhựa và năm sau điện giăng giữa chia con đường làm hai chiều, một bên chạy lên một bên chạy xuống, đường rầy xe điện đặt trung tâm đại lộ, đến năm 1953 mãn hạn giao kèo khai thác mới dẹp. 

Đường nầy mang tên của Thống Chế lừng danh Joseph Gallieni chết năm 1916 nhưng phục vụ ngoài Bắc lúc còn Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh và sách vở ghi công Ông về tổ chức hành chánh tại Đông Dương. Tên của Ông viết với chữ “e” chớ không phải với chữ “é” vì là người gốc Ý Đại Lợi.

Xe điện chạy thẳng vô đường rue des Marins, qua khu Đại Thế Giới nay là khu Cát Tường và đường Jaccario (vì lúc trước pháo hạm “Le Jaccario” đậu gần đó trên “Kinh Tàu” hay Arroyo chinois trong Chợ Lớn, và chắc lính thủy lên bờ nhiều nên mới gọi là rue des Marins), ở góc đường có vũ trường Arc-En-Ciel, sau 1975 đổi tên là nhà hàng và khách sạn Arc-En Ciel Thiên Hồng, đến đường Tổng Đốc Phương thì quẹo qua trái mới đến Bưu Điện Chợ Lớn, nhà ga cuối cùng là Gare Rodier, tại Kinh Tàu.

Lúc còn ở đường Colonel Boudonnet tôi có nhiều bạn ở khu nhà thờ Huyện Sỹ và thường vô phía sau nhà thờ bắn “giàn thun” trên mấy cây soài nên bị “Ông Từ” rượt nhiều lần ! 

Ngoài đường Frères Guillerault trước nhà thờ, còn có đường Duranton và đường Léon Combes mà sau nầy đổi tên là Sương Nguyệt “Ánh”. 

Trung Sĩ Léon Combes là một đứa con của Sài Gòn ở Giồng Ông Tố bên Cát Lái tử trận năm 1917 tại Craonne, thuộc tỉnh Aisne vùng Picardie phía Bắc Paris. 

Tôi nhớ, vì học “trường tây” nên tôi thắc mắc và tự hỏi Bà nào mà mang họ Sương mà tôi tìm hoài trong sách vở không thấy ? Sau nầy tham khảo mới biết đó là tên bút hiệu của Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuê (có sách nói là Nguyễn Xuân Khuê), con gái thứ tư của cụ Nguyễn Đình Chiểu, người đàn bà đầu tiên làm Chủ Bút báo “Nữ Giới Chung” cho phụ nữ hồi 1918. Tuần báo nầy còn tên là Fémina Annamite và tòa soạn ở 13 đường Taberd, trong sách kể là Sương Nguyệt ANH (=Góa phụ Nguyệt Anh), nhưng tại sao hồi 1955 họ đổi tên đường Léon Combes thành Sương Nguyệt ÁNH ?

Về sau, gia đình tôi dọn về Chợ Lớn ở đường Lacaze, nay là đường Nguyễn Tri Phương, nổi tiếng vì “Mì La Cai”, đường mang tên của Đô Đốc Lucien Lacaze, Bộ Trưởng Bộ Hải Quân từ 1915 đến 1917 hồi Đệ Nhứt Thế Chiến, nhưng chúng tôi ở khúc trên, gần gốc đường Pavie (nay là Lý Thái Tổ chớ không phải đường 3 tháng 2 vì dường nầy mới có vào lối 1957, lúc trước là trại lính) dẫn lên trường đua Phú Thọ. 

Khúc dưới đường mang tên ông Auguste Pavie (lừng danh trên đất Lào) dặc biệt rộng lớn và rất dài, có nhiều cây và bên trong có đường dành cho xích lô và xe đạp. Nếu đi từ Ngã Bảy xuống công trường Khải Định, từ giữa đường nầy đến đường Frédéric Drouhet sẻ thấy những biệt thự mà “Chú Hoả” cất cho con cháu ở (tên thường gọi của Jean-Baptiste Hui Bôn Hoả một triệu phú người Tàu tham gia với chánh quyền tặng thành phố Sài Gòn Policlinique Déjean De La Bâtie, tên của một bác sĩ tận tụy lo cho người Việt Nam, ngoài đường Bonard, sau nầy trở thành Bệnh Viện Đô-Thành), sau 1954 các nhà nầy dành cho Ủy Hội Kiểm Soát Quốc Tế Đình Chiến ở và khúc đường nầy gọi là đường Hui Bôn Hoả.

Lúc đó đường Pavie có xe nhà binh pháp chạy nhiều vì có thành lính gần đó và tại khu đường Cây Mai, trước khi tới Phú Lâm. Khu đất từ đường Lacaze đến đường Ducos (sau đổi là đường Triệu Đà) là đồng mả, đường hẻm tôi ở trước một mả đá lớn, mới phá hồi tháng 11 năm 2004 : đó là mả có từ thế kỷ thứ XVIII của một người đàn bà lối 50 tuổi và quan tài thứ nhì chắc là của một người đàn ông, chỉ có vài nữ trang chớ không có vàng bạc chôn theo như người ta tưởng.

Từ đường Lacaze đi ra trường Chasseloup Laubat xa hơn, tôi phải đạp xe xuống Ngã Bảy, quẹo trái qua đường Général Lizé, rồi đạp thẳng hoài, qua khỏi đường Verdun đường nấy lấy tên Legrand De La Liraye. Qua khỏi trường nữ sinh Gia Long (hồi xưa gọi là Collège des Jeunes Filles Annamites, sau là Trường Aó Tím) và đến tận trường Marie Curie mới quẹo xuống đường Barbé. 

Đường Général Lizé là một đường chiến lược rất dài lúc trước gọi là đường Hai Mươi, đi từ Ngã Bảy Chợ Lớn, nối dài đường Pierre Pasquier, đến đường Albert Premier trên Dakao, lấy tên của Trung Tướng Lucien Lizé, xuất thân từ trường Polytechnique, Paris, Tư Lệnh Pháo Binh chiến trường Ý tử trận hồi 1918, có phục vụ bên Việt Nam lúc còn Đại Tá, còn Legrand De La Liraye là một trong những linh mục thông ngôn cho Đề Đốc Rigaud De Genouilly và trở thành Thanh Tra phụ trách về các hồ sơ giưã người Việt và chánh quyền bảo hộ. 

Sau 1954 đường nầy đổi thành đường Phan Thanh Giản, một vị anh hùng sáng suốt và can đảm của Việt Nam. Tiếc thay sau 1975 không còn đường nào trên mảnh đất Việt Nam mang tên anh hùng dân tộc nầy, cũng như không còn đường vào mang tên Lê Văn Duyệt và cũng không còn trường học nào mang tên Petrus Ký ! 

Cho tới nay tôi chưa thấy một học giả Việt Nam nào giỏi hơn Petrus Trương Vĩnh Ký, tuy vài “Sử Gia” buộc tội vị nầy nhiều điều vô lý, họ quên rằng công lao lớn nhứt của Ông Petrus Ký là truyền bá cho dân chúng sử dụng chữ quốc ngữ có từ Alexandre de Rhodes vào thế kỷ XVII thay thế chữ Nôm khó học và khó viết. 

Tôi nghe nói ở Vĩnh Long hiện nay có một trường học mang tên Phan Thanh Giản và vào tháng 11 năm 2008 rạp chiếu bóng Nguyễn Văn Hảo đường Trần Hưng Đạo tại Sài Gòn đang hát tuồng “Tả Quân Lê Văn Duyệt”, đó là điều đáng mừng vì những vị anh hùng các triều nhà Nguyễn phải được hồi phục.

Hồi thời Pháp thuộc cũng có những tên đường mang tên những anh hùng hay nhân tài Việt Nam như đường Paulus Của (Đốc Phủ Sứ Hùynh Tịnh Của) trên Dakao, đường Tổng Đốc Phương (Đổ Hữu Phương) trong Chợ Lớn, đường Phủ Kiệt (Đốc Phủ Sứ Trần Văn Kiệt là Nghị Viên thành phố trên 25 năm), Hùynh Quan Tiên, Nguyễn Văn Đưởm trên Tân Định (cà hai là Nghị Viên Thuộc Địa và Nghị Viên Thành Phố), Nguyễn Tấn Nghiệm (Nghị Viên), và Trương Minh Ký, một trong những Nghị Viên đầu tiên của thành phố, ông nầy tên thật là Trương Minh Ngôn cháu bốn đời của Trương Minh Giảng, được ông Trương Vỉnh Ký đem về nuôi và đổi tên, cho đi Pháp học và là một trong những người sáng lập viên ra Trường Thông Ngôn (Ecole des Interprètes) nằm trong Tòa Án, nhờ làm thông dịch viên lúc Traité de Patenôtre năm 1884 nên được vô quốc tịch Pháp, người mất lúc 55 tuổi vì bệnh lao phổi.

Vị anh hùng Đại Úy phi công của quân đội Pháp, xuất thân từ trường Võ Bị Saint-Cyr và là cựu sĩ quan Lê Dương mang tên Đỗ Hữu Vị có tên trên một đường từ bùng binh chợ Bến Thành đến đường Charner, trước đó đường nầy mang tên Hamelin sau nầy đổi lại là Huỳnh Thúc Kháng. Đại Úy Vị là con thứ năm của Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương, sau khi học trung học tại trường nổi danh Janson De Sailly tại Paris, nhập học vô trường Saint-Cyr vào năm 1904. Trung Úy bên Bắc Phi, ông gia nhập vào binh chủng Không Quân vừa thành lập ; bị thương nặng Đại Úy Vị từ chối giải ngũ và trở về đơn vị Lê Dương và tử thưong tại mặt trận tỉnh Somme năm 1916. Hài cốt được người anh cả là Đại Tá Đỗ Hữu Chấn đem về chôn cất trong nghĩa trang gia đình tại Chợ Lớn.

Sài Gòn mất nhiều di tích ngày xưa, vì chiến tranh và vì sự thay đổi thời cuộc, tôi tiếc nhứt là hồi tháng ba năm 1983 đã sang bằng “Lăng Cha Cả”, có từ 1799 để lập một công trường mà chả thấy ai ngồi …. 

Hai người ngọai quốc đã ảnh hưởng Việt Nam nhiều nhứt là Alexandre de Rhodes va Pierre Joseph Pigneau de Béhaine, được dân Việt Nam biết dưới tên Bá Đa Lộc hay Evèque d’Adran, người đã giúp Nguyễn Ánh lên ngôi, đi với Hoàng Tử Nguyễn Phúc Cảnh qua triều đình vua Louis XVI để ký Hiệp Ước Versailles năm 1787. Tên thật là Pigneau, sau đó thêm vô sau tên ấp Béhaine của làng Origny-en-Thiérache mà gia đình có phần đất, thuộc tỉnh Aisne, trong vùng Picardie ở miền bắc nước Pháp. 

Vua Gia Long cất một ngôi nhà ở số 180 đường Richaud cho Bá Đa Lộc (nay vẩn là Tòa Tổng Giám Mục đường Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3) và đọc điếu văn khi người mất năm 1799. Mộ ông người Sài Gòn gọi là Lăng Cha Cả là một trong những di tích xưa nhứt của Sài Gòn “ở Gia Định” vào thời Gia Long, sau nầy ở trước trại Phi Long trên Tân Sơn Nhứt. 

Cốt của Cha Pigneau de Behaine được đem về Pháp năm 1983 và chôn trong nhà thờ Séminaire des Missions Etrangères, rue du Bac tại quận XV Paris....

BS Trần Ngọc Quang

__._,_.___
Đến nơi chế biến cà phê phân voi đắt nhất thế giới

Blake Dinkin, một doanh nhân 44 tuổi đến từ Canada, chính là người sáng lập ra loại cà phê phân voi đắt đỏ nhất thế giới có tên Black Ivory.
 
Thăm[-]nơi[-]chế[-]biến[-]cà[-]phê[-]phân[-]voi[-]đắt[-]nhất[-]thế[-]giới
Ở vùng Tam Giác Vàng thuộc miền bắc Thái Lan, những đàn voi được chăm sóc, nuôi dưỡng đặc biệt để "thải" ra một trong những loại cà phê tinh túy, đắt đỏ nhất thế giới, cà phê Black Ivory.
Thăm[-]nơi[-]chế[-]biến[-]cà[-]phê[-]phân[-]voi[-]đắt[-]nhất[-]thế[-]giới
Hiện, cà phê phân voi Black Ivory chỉ được phục vụ độc quyền tại khách sạn hang sang Anantara ở Chiang Saen, Thái Lan và một số khu nghỉ dưỡng sang trọng khác.
Thăm[-]nơi[-]chế[-]biến[-]cà[-]phê[-]phân[-]voi[-]đắt[-]nhất[-]thế[-]giới
Ông Blake Dinkin, người đã chi tới 200.000 bảng Anh để nghiên cứu việc phát triển loại cà phê này, cho biết, những con voi sẽ được cho ăn một loại hỗn hợp trái cây trộn cùng hạt cà phê. Trong 3 ngày, những hạt cà phê đó sẽ đi qua hệ tiêu hóa của voi, sau đó chúng được chọn ra từ phân voi trước khi được rửa sạch, sấy khô và rang.
Thăm[-]nơi[-]chế[-]biến[-]cà[-]phê[-]phân[-]voi[-]đắt[-]nhất[-]thế[-]giới
Theo ông Blake Dinkin, khi voi ăn các hạt cà phê, axit trong dạ dày chúng phá vỡ các protein được tìm thấy trong cà phê, là yếu tố tạo nên vị đắng của cà phê. Bởi vậy, hương vị loại cà phê được tách lọc sau quá trình đào thải chất thừa của voi sẽ mang hương vị ngây béo mà không hề có vị đắng như cà phê thông thường.
Thăm[-]nơi[-]chế[-]biến[-]cà[-]phê[-]phân[-]voi[-]đắt[-]nhất[-]thế[-]giới
Hương vị của Black Ivory khá giống với cà phê chồn Kopi Luwak, loại cà phê được
 chế biến theo hình thức tương tự từ phân cầy hương. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng vị của Black Ivory còn có phần thơm ngon, đậm đà hơn
Thăm[-]nơi[-]chế[-]biến[-]cà[-]phê[-]phân[-]voi[-]đắt[-]nhất[-]thế[-]giới
Những hạt cà phê do voi thải ra được rửa sạch.
Thăm[-]nơi[-]chế[-]biến[-]cà[-]phê[-]phân[-]voi[-]đắt[-]nhất[-]thế[-]giới
Phải mất 33kg quả cà phê mới có thể sản xuất 1 kg Black Ivory thành phẩm, bởi đa số hạt cà phê đều bị voi nhai nát, mất mát không thể thu hồi.
Thăm[-]nơi[-]chế[-]biến[-]cà[-]phê[-]phân[-]voi[-]đắt[-]nhất[-]thế[-]giới
Bởi vậy, giá của cà phê phân voi rất đắt đỏ, bạn sẽ phải trả 13 USD (tương đường 280.000 đồng) để thưởng thức một tách nhỏ.
Thăm[-]nơi[-]chế[-]biến[-]cà[-]phê[-]phân[-]voi[-]đắt[-]nhất[-]thế[-]giới
Nổi tiếng với cách
 chế biến tinh tế, cà phê voi chỉ được phục vụ ở một số khu nghỉ mát 5 sao tại Thái Lan, Malaysia và Maldives. Tại sòng bạc Macau, cà phê voi chỉ được phục vụ ở những phòng đánh bạc VIP.
Thăm[-]nơi[-]chế[-]biến[-]cà[-]phê[-]phân[-]voi[-]đắt[-]nhất[-]thế[-]giới
Tính ra, bạn sẽ phải trả tới 1.880 USD (khoảng 4 triệu đồng) nếu muốn mua được một kg cà phê phân voi.
Thăm[-]nơi[-]chế[-]biến[-]cà[-]phê[-]phân[-]voi[-]đắt[-]nhất[-]thế[-]giới
Món cà phê đắt đỏ này có lẽ chỉ dành cho các đại gia lắm tiền, chịu chi.

Blog Archive