Friday, May 29, 2015

Chuyện “bức tử” một bức tượng
Hồi ức 30/4/1975
Nguyễn Ngọc Chính
Năm 1967, nền Đệ nhị  Cộng hòa tại miền Nam đã xây dựng tượng đài hai quân nhân Thủy quân Lục chiến (TQLC) trước Hạ viện, hay còn gọi là tòa nhà Quốc hội, nay là Nhà hát Thành phố. Tượng hai người lính TQLC có độ cao 9 mét, trong tư thế xung phong, mũi súng hướng về trụ sở Hạ viện.

Ngay sau khi bức tượng được đặt ở một vị trí quan trọng nhất thủ đô đã có nhiều ý kiến trái ngược nhau. Một số người cho rằng quân đội “thao túng” các dân biểu Hạ viện bằng hình ảnh hai người lính cầm súng đại liên đe dọa sinh hoạt dân chủ của miền Nam.

Quân đội lại giải thích những người lính bảo vệ Quốc hội khi họ hướng mũi súng vào tòa nhà thay vì hướng ngược lại… Lại có một giải thích khác, mũi súng thực ra thì hướng về Khách sạn Continental nằm phía phải Hạ viện, nơi được coi là “hang ổ” của các lực lượng phản chiến, trong số đó có cả những dân biểu.

Chuyện “bảo vệ” hay “đe dọa” còn tùy thuộc vào chính kiến của mỗi người. Bài viết này sẽ không đi vào việc phân tích “đúng” hay “sai” của vị trí hướng súng. Tác giả chỉ có tham vọng viết lại chuyện bức tượng và những diễn biến quanh hai người lính TQLC vào ngày 30/4/1975.


“Bảo vệ” hay “đe dọa” Hạ viện?
Việc xây dựng những bức tượng kỷ niệm khắp các điểm nổi bật ở thủ đô Sài Gòn đã được “Nội các Chiến tranh” của Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ thực hiện trên một quy mô lớn. An Dương Vương, thánh tổ Pháo binh, được đặt tại công trường Diên Hồng, trước Thượng viện, đường Bến Chương Dương. Phù Đổng Thiên Vương, thánh tổ Thiết giáp, nằm tại bùng binh Ngã 6 Sài Gòn. Trần nguyên Hãn, thánh tổ Truyền tin, tại bùng binh Quách Thị Trang, trước cửa chợ Bến Thành. Phan đình Phùng, thánh tổ Quân cụ, tọa lạc trước bưu điện Chợ Lớn. Trần Hưng Đạo, thánh tổ Hải Quân, tại công trường Mê-Linh…

Bên cạnh những danh nhân lịch sử, các binh chủng còn có tượng đài kỷ niệm như tượng Thiên sứ Micae, thánh tổ binh chủng Nhảy Dù gần bệnh viện Sùng Chính, quận 5. Biệt Động Quân có tượng 3 người lính tại ngã sáu Lý Thái Tổ. “Tổ quốc Không gian” của Không quân trước mặt Tòa Đô Chánh và, đặc biệt hơn cả, là bức tượng TQLC trước Hạ viện.

Việc xây dựng tượng TQLC cũng gặp nhiều trục trặc. Ban đầu, Thiếu tá Huỳnh Huyền Đỏ (thuộc bộ Tổng Tham Mưu), đưa ra phác thảo mẫu với hính tượng ba người lính. Thiếu tá Đỏ là điêu khắc gia xuất thân trường Mỹ thuật Gia Định. Trong khi đang thực hiện công trình này thì vì một lý do nào đó Thiếu tá Đỏ không thể tiếp tục được nữa nên giao công việc đang còn dang dở cho Bộ tư lệnh TQLC.
Trước áp lực phải hoàn thành đúng thời hạn để kỷ niệm ngày chấp chánh, TQLC giao cho Thiếu úy Đinh Văn Thuộc tiếp tục công việc với sự góp ý và hướng dẫn của hoạ sĩ Lê Chánh (Bộ tư lệnh TQLC) và Lương Trường Thọ (Trung tâm Huấn luyện TQLC).

Thiếu úy Thuộc, đại đội trưởng đại đội Công vụ TQLC, tuy không là hoạ sĩ hay điêu khắc gia mà chỉ là “tay ngang” nhưng ông cùng anh em đại đội Công vụ đã nhận lãnh trách nhiệm. Họ làm việc liên tục 24/24 và cuối cùng, đã hoàn thành nhiệm vụ.

Khi hai người lính TQLC xuất hiện trước công chúng, một số người “trong nghề” phê bình những khiếm khuyết của bức tượng như nòng súng đại liên quá ngắn nếu so với kích thước thật, trong khi đó “cặp mông” của hai chiến sĩ lại quá to… Nếu hiểu rõ bức tượng đã được hoàn thành bởi những người “lính thợ tay ngang” nhiều người tỏ ra thông cảm với những nỗ lực của TQLC.

Những hình ảnh dưới đây được trích từ video clip do các phóng viên người Pháp thực hiện ngày 30/4/1975. Diễn biến cuộc “bức tử” hai người lính TQLC ngay sau khi Đại tướng Dương Văn Minh tuyên bố “đầu hàng” đã được ghi hình, Chúng tôi trích lại như sau:


Một thanh niên “băng đỏ” leo lên đầu bức tượng người lính TQLC trước Quốc hội. Với một chiếc búa, anh ta đập vành nón sắt của người lính để bắt đầu cuộc “bức tử” pho tượng.

Thanh niên “băng đỏ”, hay còn gọi là “cách mạng 30/4”, đứng trên vai bức tượng người lính. Anh tiếp tục dùng búa giáng lên đầu bức tượng…

Cuối cùng, anh ta giơ hai tay lên trời làm dấu hiệu… “chiến thắng”.

Bức tượng sau đó được buộc dây do một số người đứng ở dưới đất kéo xuống…


(Ảnh không nằm trong video clip)

Hai người lính TQLC từ từ ngả về phía tòa nhà Quốc hội.

Khi bức tượng chạm đất, một đám bụi mù bốc lên giữa sự chứng kiến của một số phóng viên nước ngoài.


Một thanh niên “băng đỏ” leo lên đống đổ nát của bức tượng, trên tay cầm lá cờ “Giải phóng Miền Nam”… chứ không phải là cờ của miền Bắc… Cờ “giải phóng” với ba màu đỏ, xanh và ngôi sao vàng còn xuất hiện khắp đường phố Sài Gòn, trên chiến xa, trên xe chở bộ đội miền Bắc…

Ngoài việc lá cờ vàng với 3 sọc đỏ bị hạ xuống tại dinh Độc Lập ngày 30/4/1975 để thay bằng cờ của Mặt trận Giải phóng miền Nam, người ta không thấy xuất hiện lá cờ đỏ sao vàng của miền Bắc dù bộ đội chính quy của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tràn ngập Sài Gòn.

Khi miền Nam thất thủ, lịch sử ghi nhận có 5 trường hợp tuẫn tiết. (1) Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, tự sát lúc 11g ngày 30/4; (2) Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Ðoàn 4, tự kết liễu đời mình lúc 11g30; (3) Chuẩn tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn 4, tuẫn tiết lúc 8g45 tối ngày 30/04; (4) Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh, tự sát vào đêm 30/4; (5) Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Ðoàn 2, đã ra đi tại nhà vào cùng ngày.

Biến cố ngày 30/4/1975 đánh dấu sự chấm dứt của miền Nam và điều đáng ghi nhớ, đó cũng là ngày mà bức tượng TQLC bị “bức tử”, bị giựt sập trước tòa nhà Hạ viện. VNCH đã cáo chung nhưng hai anh lính TQLC không ra đi trong cô đơn vì vài giờ trước khi bị “bức tử” đã có một anh hùng khác cũng thác theo Sài Gòn ngay dưới chân các anh.

Người tự sát dưới chân tượng đài sáng ngày 30/4/1975 là Trung tá Cảnh sát Nguyễn Văn Long, Chánh Sở Tư Pháp Vùng I Chiến thuật, người mới từ Đà Nẵng di tản về Sài Gòn.



Trung tá Nguyễn Văn Long yên nghỉ dưới chân bức tượng hai người lính TQLC
Nhà văn Duyên Anh trong “Ngày dài nhất” viết về Trung tá Nguyễn Văn Long như sau:

“…Chúng tôi lách đám đông. Dưới chân tượng đài của thủy quân lục chiến, xác một người cảnh sát nằm đó. Máu ở đầu ông ta chẩy ra tươi rói. Người sĩ quan cảnh sát đeo lon Trung tá, ông ta mặc đồng phục màu xanh. Nắp túi ngực in chữ Long. Trung tá cảnh sát Long đã tự sát ở đây, Cộng sản để mặc ông ta nằm gối đầu trên vũng máu. Phóng viên truyền hình Pháp quay rất lâu cảnh này. Lúc tôi đến là 14 giờ 30. Dân chúng đứng mặc niệm trung tá Long, nước mắt đầm đìa. Những người không khóc thì mắt đỏ hoe, chớp nhanh. Tất cả im lặng, thây kệ những bài ca cách mạng, những lời hoan hô bộ đội giải phóng.

Trung tá Long đã chọn đúng chỗ để tuẫn tiết. Tướng giữ thành Sài Gòn là Tổng trấn Sài Gòn đã đào ngũ. Tướng giữ thành Sài Gòn là Đô trưởng Sài Gòn đã đào ngũ. Tướng giữ thành Sài gòn là Tổng giám đốc Cảnh sát quốc gia đã đào ngũ. Không có Hoàng Diệu, ở những trang lịch sử chó đẻ của thời đại chúng ta. Và trên những tiểu thuyết đấu tranh, những hồi ký chiến đấu của những con người tự nhận sống hùng mọi hoàn cảnh, người ta không thấy một dòng nào viết về cái chết tuyệt vời của Trung tá Cảnh sát tên Long…” …

“Tôi muốn biểu dương Trung tá Long như Hoàng Diệu hôm nay, Hoàng Diệu của Sài Gòn. Ông ta đang nằm kia, dưới chân tượng đài thủy quân lục chiến Việt Nam anh dũng. Máu Trung tá Long đã thấm xuống lòng đất mẹ. Cái chết của Trung tá Long nếu chưa thức tỉnh được sự u mê của thế giới tự do thân cộng, của bọn phản chiến làm dáng thì, ít ra, nó cũng biểu lộ cái khí phách của một sĩ quan Việt Nam không biết hàng giặc. Tôi không mấy hy vọng cái chết của Trung tá Long lay động nổi cái bóng tối vô liêm sỉ trùm đặc tâm hồn những ông tướng đào ngũ. Chúng ta hãnh diện làm người Việt Nam lưu vong vì chúng ta còn Trung tá Long không đào ngũ, không đầu hàng giặc và biết chết cho danh dự miền Nam, danh dự của tổ quốc…”



Trung tá Nguyễn Văn Long sinh tại Phú Hội, Huế ngày 1/6/1919. Ông ra đi năm 1975, lúc đó 56 tuổi, là người cao niên nhất trong số các vị tuẫn tiết. (Ảnh của Jacques Pavlovsky)
Phải rất nhiều năm sau biến cố 30/4/1975 người ta mới lần tìm ra tung tích của Trung tá Nguyễn Văn Long. Năm 2003, nhà văn Giao Chỉ đã liên lạc được với một người con gái thứ 3 của ông tại San Jose:

“Bà Nguyễn thị Tâm năm nay ngoài 60, đã có cháu nội cháu ngoại nhưng mãi mãi vẫn là cô nữ sinh Đồng Khánh. Bằng một giọng nói xứ Huế pha tiếng Saigon, bà Tâm nói chuyện tuôn trào trôi chảy và đầy hãnh diện khi nhắc đến người cha anh hùng…”

Gia đình ông Long rất đông con, có tất cả 13 anh chị em, 6 trai 7 gái. Con trưởng là Thiếu úy biệt động quân Nguyễn Công Phụng (1942-1968) hy sinh tại Quảng Tín. Trong số 6 người con trai (Phụng, Hoàng, Minh, Tiến, Quang, Hội) có đến 5 người đi lính: 2 người vào Không quân, 1 Thiết giáp, 1 Cảnh sát và 1 Biệt động quân. Trong số 7 người con gái (Đào, Tâm, Thiện, Hòa, Hảo, Hiền, Huê) chỉ có 3 chị em ở Hoa Kỳ, số còn lại đều sống tại Việt Nam. Bà Tâm kể về những ngày cuối cùng:

“Lúc đó vào cuối tháng 3/75 ở Đà Nẵng ba vẫn làm việc trong trại, không về nhà. Hai cậu em không quân, một ở Đà Nẵng, một ở Biên Hòa. Một cậu đưa cả nhà vào sân bay Đà Nẵng chờ di tản. Nhưng rồi cũng không đi được. Vào ngày cuối cha về nhà không thấy gia đình. Ông nghĩ rằng vợ con có thể đã đi thoát trong phi trường. Ông xuống bãi và ra đi bằng tàu về Sài Gòn…”

Vào đến Sài Gòn đã có cô con gái lớn đón ông về ở tạm, lúc đó mới biết vợ con còn kẹt ở Đà Nẵng, ông Long vào trình diện Tổng nha Cảnh sát. Trưa 30/4/75 khi radio phát thanh lời Tổng thống kêu gọi đầu hàng, Trung tá Long, chỉnh tề trong bộ cảnh phục, đến bức tượng TQLC trước Quốc hội… Một  phát súng được bắn vào thái dương, ông ngã xuống và buông khẩu súng nhỏ theo lệnh Tổng thống! Khẩu súng tùy thân Trung tá Long vẫn mang theo từ Huế, Đà Nẵng vào đến Sài Gòn.



Người Sài Gòn và cả người nước ngoài ngỡ ngàng trước cái chết của Trung tá Nguyễn Văn Long ngày 30/4/1975

***
Chuyện bà T. vợ tù “cải tạo”

Ái Hoa


Cuối tháng 3 năm 1975, những người từ bờ Nam sông Bến Hải như Đông Hà, Quảng Trị đã tất tả chạy vào Huế, rồi giống như giòng nước lũ cuốn theo người dân Huế tuôn vào Đà Nẵng trong hoảng loạn và lo âu, mong tránh được làn sóng đỏ, bom đạn và những cuộc tàn sát của những Tết Mậu Thân và Mậu Tí, mà nỗi kinh hoàng vẫn còn ám ảnh trong tâm trí mỗi người. Họ đã bỏ lại tất cả chỉ mong giữ được mạng sống. Thật là:

Mùa Xuân năm ấy tưởng yên vui.
Bỗng đâu giông tố thổi vào đời.
Dân Nam điêu tàn theo vận nước.
Chạy làn sóng đỏ (CS), kiếp nổi trôi...

Bà T, vợ của Trung tá NVT, một Tiểu đoàn trưởng Bộ binh, vì ra thăm chồng bị thương trong một chuyến đụng trận mới ít ngày trước ở miền Trung đang được điều trị ở Bệnh Viện Giải Phẫu Đà Nẵng, nên bị kẹt lại ở đó. Bà vốn là một người đàn bà ngây thơ trẻ trung xinh đẹp nhưng gặp cảnh ngộ này bỗng trở thành khôn ngoan tháo vát, đã dàn xếp để tải người chồng đang bị thương cùng bầy con bà, mẹ bà, mẹ chồng bà theo làn sóng người di tản trên bến Tiên Sa, nơi đang có nhiều tàu Mỹ đậu sẵn để tải người di tản đi. Từ đây gia đình bà đã bắt đầu một chuyến đi gian nan tưởng là vĩnh biệt luôn quê nhà và một cuộc đổi đời đầy bi thương cả đời bà và con cháu bà khó mà quên!

Ngay khi đến bến Tiên Sa, từ trên bờ nhìn ra, bà T. đã nhìn thấy mấy chiếc tàu của Mỹ đang đậu xa xa ở ngoài khơi. Tàu nào cũng đầy cả người mà xa gần bao nhiêu người trên những thuyền nhỏ quá nặng muốn đắm vẫn đang tranh nhau leo lên rồi rớt xuống, nhiều người không biết bơi biến mất luôn dưới mặt biển. Chừng như trong cảnh tranh sống không ai còn nhớ đến chuyện nguy hiểm hay nguyên tắc căn bản về dung lượng của những chiếc ghe, chiếc tàu. Tiếng la hét, khóc than làm toàn cảnh hỗn loạn càng kinh khiếp hơn. Người ta chen lấn, xô đẩy nhau, đè lên nhau, và kết quả là nhiều người bị rớt, chìm dưới biển rất oan ức. Tiếng thân nhân của nạn nhân kêu khóc vang trời, nạn nhân hết hơi cầu cứu trong tuyệt vọng, con nít khóc la vì đói khát và vì hoảng hốt khi thất lạc mẹ cha v.v... làm náo động cả một góc trời Đà Nẵng.

Nhìn thấy một chiếc xà lan cũng đầy người đậu gần đó, bà T. nhào ngay đến năn nỉ, thương lượng với chủ xà lan xin nhét thêm gia đình bà lên. Nhìn thấy bộ mặt của người thiếu phụ trẻ trung đẫm đầy nước mắt giữa một bầy con nít lau chau khóc la quanh một người cha thương tật đang nằm trên băng ca, hai cụ bà già yếu đang run run, chủ tàu động lòng thương tâm nên dẹp lối cho họ lên tàu. Ngay sau đó, chiếc xà lan vội vã ì ạch ra khơi cho kịp buộc dây vào đuôi một chiếc tàu Hải quân của Mỹ. Khi chiếc tàu Hải quân Mỹ nổ máy chạy thì xà lan cũng được kéo theo.

Yên chỗ rồi thì bọn con nít khóc la kêu đói khát. Vì phải chạy thục mạng nên cả gia đình chẳng mang theo được gì trừ một ít bánh mì và ít tiền bạc thủ thân trong cái xách tay của bà T. Tiền giấy không ăn được, người lớn phải nhịn cho lũ trẻ con, mười hai đứa con của bà T. sinh năm một, hai đứa lớn nhất mới 14 và 13 tuổi theo lệnh mẹ đem vài ba ổ bánh mì chia đều cho các em.

Qua ba ngày phơi mình dưới nắng rát và bốn đêm sương gió đầm đìa thiếu ăn uống, nhiều người trên xà lan đã lần lượt ngã bệnh, có kẻ bệnh sẵn không thuốc men bị chết và bị quăng xuống biển. Ba trong mười hai đứa con tiên thiên yếu nhược của bà T không chịu nổi khổ sở cũng cùng chung số phận. Nếu không vì phải lo cho cả gia đình đông người còn lại thì bà T. cũng đã nhào mình xuống biển cùng với ba đứa bé không may, khỏi đau lòng tự thống trách chính vì mình không lo cho các con chu đáo nên mới ra nông nỗi, mới gây ra cái chết thương tâm cho chúng nó như thế. Đứa con trai út vừa mới tập nói của bà bỗng phát chưởi thề “Đ. m, khát nước quá!” làm bà sững sốt. Tiếng đứa con gái 5 tuổi làm bà càng ngạc nhiên hơn:

“Lạy Đức Mẹ Maria, xin Mẹ cho mưa xuống cứu con, Mẹ ơi!” 

Không chỉ người trong gia đình mà bao nhiêu người đang chen chúc nhau gần đó cũng cất tiếng cầu Trời khấn Phật theo bé gái.

Lời cầu thế mà rất linh nghiệm. Trời đã thương tình cho mưa xuống, cứu giúp bao nhiêu người đang đói khát, đang ngoắc ngoải chờ chết trên xà lan. Sau đó, hình như Trời cũng động lòng thương xót cho người mẹ trẻ vừa mới mất 3 đứa con thơ và vai còn nặng gánh gia đình nên cho bà T. như một phép lạ vấp phải một ba lô vô chủ trên sàn tàu ngay ở dưới chân đựng khá nhiều sữa bột. Nhờ đó mà gia đình bà đỡ đói khát, và ông T, người thương binh vừa trải qua nhiều ngày không thuốc men, không thực phẩm, đang gần như hôn mê, đã có đôi chút bồi bổ cho lại sức, khỏi chết.

Khi vừa đến Quy Nhơn thì không may gặp phải tàu Hải quân của Phía Bên Kia. Bọn họ đã đành tâm tháo dây nối của xà lan khỏi tàu Mỹ, để cho chiếc xà lan đầy người dở sống dở chết một mình lềnh bềnh trên sóng nước đại dương. Trong lúc tưởng chỉ còn chờ chết thì may sao người trên tàu đã gặp cứu tinh. Một chiếc tàu Phi Luật Tân đã xuất hiện, cứu vớt hết người trên xà lan. Tàu này đã chở họ về Cam Ranh, nơi vẫn còn một Sư đoàn Quân lực VNCH trú đóng. Đoàn người di tản đã được vị Đại tá chỉ huy sư đoàn này tiếp dẫn về Trung tâm tạm cư của Sư đoàn, và mấy ngày sau đó được đưa về Vũng Tàu.

Những hình ảnh đói khát, chết chóc, cướp bóc, hãi hùng ghê rợn, nỗi đau vì cái chết của 3 đứa con thơ cùng một lúc bị quăng xuống biển làm mồi cho cá mập, đã đưa gia đình bà T. đi đến quyết định dừng lại ở vùng biền này. Một thời gian sau đó họ tìm về Sài Gòn, xin tá túc ở nhà chị ruột ông T. ở trong một xóm nhà ở đường Nguyễn Thông. Họ hy vọng một thời gian ngắn khi tình hình ổn định thì sẽ về lại với nhà cũ quê xưa.

Những ngày cuối tháng Tư năm 1975, Sài Gòn bất ổn hỗn loạn! Tin tức cho biết các Tướng Lê Văn Hưng và Nguyễn Khoa Nam tuẫn tiết. Những vụ bắn phá pháo kích Dinh Độc Lập không mấy xa từ nơi gia đình bà trú ngụ nghe đùng đùng. Tổng Thống mấy ngày Trần Văn Hương bàn giao chức vị cho Tướng Dương Văn Minh và vị tổng thống cuối cùng của nước Việt Nam, chính thể Cộng Hòa Đệ Nhị đã tuyên bố rằng Miền Nam từ đây giải giáp ngưng chiến để “hòa giải hòa hợp” với “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”. Cũng như bao nhiêu người bình dân khác khi hết đường chạy trốn, gia đình bà T. (trừ ông T.) không khóc thương cho một nước VN Cộng Hòa đã mất mà chỉ núp trong nhà để cầu nguyện cho gia đình được bình an cũng như thương tiếc cho những đứa con thơ vì cộng sản hiếu chiến đem chiến tranh vào đây mà bị chết tức tưởi thương tâm.

Đến ngày 30 tháng Tư, Sài Gòn đã hoàn toàn bị chiếm. Rải rác đó đây là những quần áo Quân nhân, giày Saut, vũ khí và cả xác chết, những hoang tàn đổ nát. Thành phố tràn ngập những bộ đội nón cối dép râu. Các máy phóng thanh vang vang những lời tuyên truyền giọng Bắc lơ lớ khó nghe. Những lời ca ngợi “Bác và Đảng” cùng chiến thắng của “Mặt Trận Giải Phóng”. Từ đây gia đình bà T cũng như toàn dân miền Trung và Nam Việt Nam phải rơi vào cơn sóng dữ thay đổi cả một cuộc đời còn lại từ Tự do hạnh phúc đến tang thương bể dâu bi thảm.

Đầu tháng Năm, 1975, Đài Phát Thanh Sài Gòn (lúc này đã đổi tên là “TpHồ Chí Minh”), thông cáo rằng các Sĩ quan “ngụy” phải đi trình diện, tùy theo cấp bực, tại những địa điểm đã được chỉ định sẵn. Ông B., láng giềng mới của gia đình cho ông T. xem một tờ “cáo thị” do “Ủy Ban Nhân Dân” địa phương phát, theo đó tất cả Sĩ quan “ngụy quân phải đăng ký để được đi học tập về chính sách mới”. Ông B. hỏi ông T.:

- Anh nghĩ thế nào về thông cáo này? Mình có thể không trình diện không?

Ông T:

- Không trình diện thì họ chắc chắn sẽ lùng bắt mình như đã bắt bao nhiêu người khác thôi, lại càng nặng “tội” thêm. Họ bảo đem tiền đủ dùng cho một tháng, hy vọng mình sẽ chỉ bị nhốt một tháng. Điều không biết là họ sẽ đưa mình đi đâu và sẽ làm gì mình.

Bà T. không khỏi lo âu khi nhìn thấy vẻ mặt lo lắng của hai ông. Từ khi lấy ông T., dù mang tiếng là chồng đâu vợ đó, bà luôn xin được ở Cư Xá Sĩ Quan gần đơn vị nơi ông tác chiến, nhưng bà đâu có được bao ngày vợ chồng sum họp vì ông phải ra trận liên miên. Cả những lúc sinh đẻ bà cũng vượt cạn một mình. Những ngày qua, nhờ ông bị thương, mới được cùng ông bên nhau từ Miền Trung vào Quy Nhơn đến Vũng Tàu và Saigon, lòng chưa kịp vui vì được ở bên chồng thì nay đã thành buồn thảm vì sự mất mát nát lòng của 3 đứa con thơ, bị đả kích thêm vì giờ ông bị buộc phải ra đi khi thương tích vẫn chưa lành, lành dữ không hay. Câu nói của ông “Họ sẽ làm gì mình” càng làm bà rối ruột. Nhớ đến vụ chôn người tập thể ở Nam Hòa, những cuộc đấu tố dã man trong thời “Cải Cách Ruộng Đất” do cha bà kể lại, ông đã từng lên lon rất nhanh nhờ thành tích chiến thắng kẻ địch, đã trở thành “kẻ thù kẻ ngụ”y đối với họ v.v... bây giờ ông đi tự thú thì có khác gì đem thân đút vào miệng cọp? Nhưng khi nghe nói “Đem tiền theo đủ dùng một tháng” thì bà lại hy vọng, dù mong manh, là có lẽ ông chỉ đi một tháng rồi về.

Đài vô tuyến, các loa phóng thanh hàng ngày vẫn sang sảng thúc hối, khuyến cáo “ngụy quân ngụy quyền các bộ, cả các văn nghê sĩ Miền Nam, không chừa một ai phải tự giác ra trình diện, nếu không sẽ bị nặng tội thêm với nhân dân”. Đồng thời, Bộ đội và Công an đã thay phiên nhau vào nhà dân để kiểm kê, lục soát, tịch thu rất tự nhiên, tự do.

Tiếng nhạc, câu ca, những bài hát tình tứ lãng mạn, những bài dân ca mộc mạc đầy tình yêu Quê hương từ các quán ăn trong thành phố đã bị thay thế bằng những tiếng nhạc “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây” đầy âm hưởng nhạc Hoa âm thanh the thé, hay những bài ca đầy hơi hướm búa liềm sắt máu xen kẻ những tuyên truyền cho chế độ mới. Những buổi họp được tổ chức liên tiếp, cho các “Mẹ, Chị”, “Nhân Dân Phường, Xã, Quận”, cho đủ thứ thành phần. Có rất nhiều điều bất ngờ đã xảy ra, chẳng hạn tên những Nghị sĩ này hay những Giáo sư nọ rất có tiếng tăm ở Miền Nam nay mới biết là đã nằm vùng cho ngoài ấy. Vào một buổi họp nào đó, khi nhìn thấy “Chủ tịch” của một “Ủy ban” lên “dạy sức khỏe cho mẹ chị” trong Phường là một chị bán cá ngoài chợ mình đã gặp hàng ngày, rồi một kẻ chuyên gánh nước thuê đã biến thành một “ủy viên chính trị” lên bục “giảng huấn” cho dân trong thành phố gồm những ông nọ bà kia rất trí thức. Dân trong Phường cũng học được những bài học độc đáo chẳng nơi nào có như về “bảo vệ Chuồng Chò” (lỗ chứa phân và nước tiểu) để tưới rau quả và về việc “uống nước tiểu để chữa bệnh”.

Ngày 15 tháng Sáu, với cõi lòng như đêm 30 Tết, bà T. đã tom góp trao cho ông chồng 20,000 đồng gồm 13,000 tiền đi đường và 7,000 tiền tiêu, để ông lên đường đi “học tập”.

Từ trường Taberd là địa điểm tập trung, ông bị đưa lên Long giao. Ở Long Giao 4 tháng, ông bị chuyển lên Suối Máu, sau một năm thì ông bị chuyển ra Nam Hà ngoài Bắc. Tưởng là đi một tháng mà hóa ra 156 lần hơn! Thân kẻ bị lưu đày đã oằn người vì gian khổ, mà kẻ ở nhà cũng ngóng trông dài cổ, khổ sở đọa mạng để kiếm ăn sinh tồn.

Một tháng, một năm, hai, ba năm sau vẫn không thấy chồng được thả về, bà T. đã tự nhủ thôi đừng mong nữa. Tiền bạc mang theo chẳng còn, nghề ngỗng không có, làm sao để lo cho cả bầy con thơ dại, thêm hai mẹ già cùng đàn em còn nhỏ ở ngoài Huế kia!

Biết là chồng đang bị tù đày rất khốn khổ, mà biết làm sao để đi thăm nuôi chồng đây! Trăm ngàn nỗi lo làm mặt hoa ủ rủ. Phường, Khóm đang làm khó dễ bà đủ điều, muốn bắt bà đi Kinh tế mới vì bà không có hộ khẩu và lại thuộc thành phần đại ngụy. Phải có hộ khẩu mới được ở lại, và mới có quyền đi thăm nuôi. (Trong thời gian này, nhân dân dù theo đạo nào, phải dẹp hết bàn thờ Chúa, Phật, Tổ Tiên, Ông Bà Cha Mẹ để thờ Cờ Đỏ Sao Vàng và hình, tượng “Chủ Tịch Hồ Chí Minh”. Hồi đó ca dao truyền khẩu có câu “Chỉ tiêu 3 mét vải thô, áo không đủ mặc lấy đâu che hồ”) “ Cán bộ giảng huấn” đã nhiều lần cho biết rằng “vợ các Sĩ quan ngụy như bà T. phải đi học tập thường xuyên và phải đi Kinh tế mới, mới mong có ngày chồng được tha về.” 

Bà T. đã bị mời lên Phường nhiều lần. Những lần sau bà dẫn cả bầy con và hai mẹ già đến. Bọn trẻ nheo nhóc mà chẳng biết sợ ai, chọc ghẹo nhau, khóc nhè kiện cáo nhau làm loạn cả văn phòng. Hai bà cụ thì lụm khụm gầy gò ho hen làm họ ngán. Chẳng biết có phải vì “thương” cho cảnh ngộ đáng thương của gia đình hay vì mê vẻ xuân sắc của bà T. mà trưởng phòng Công An Phường đã cấp cho gia đình bà hộ khẩu để tạm trú ở phường.

Bà T. cố lo cho con cái đi học, nhưng mỗi lần đi học về, nghe mấy đứa nhỏ khi thì ca “Em Yêu Bác Hồ” khi thì thấy chúng khóc lóc kể lại bị chế nhạo là “đồ con ngụy”, “đồ con cháu có Nợ Máu với Nhân Dân” và bị những đứa ngổ ngáo thoi đánh v.v... hơn nữa nhà đang quá túng quẫn nên bà đành để chúng ở nhà cho đỡ rắc rối.

Trong tay không có nghề, lũ con lại đông, lại thuộc thành phần ngụy quân nên bà chẳng kiếm được việc làm. Chẳng ai chịu thuê bà. Đang lo gầy người thì may sao Trời thương cho bà gặp một đồng hương người Huế tốt bụng nhà cùng xóm bày vẽ cho bà cách làm Nón Bài Thơ Huế. Bà còn chỉ cho nơi để mua khuôn, lá, kim, sợi, mẩu thơ v.v... Đói thì đầu gối phải bò. Bà T và lũ con nít học rất nhanh, bà T cũng nghĩ ra cách làm theo kiểu dây chuyền cho mau. 

Từ đó, có tiểu đội nón Huế (bà T, 9 con của bà, và 2 mệ) ra đời. Hàng ngày già trẻ lớn bé kẻ lên khung, cắt lá, ủi lá, người dán hình, chằm, kết, buộc dây từ sáng sớm đến tối mịt. Trừ thời gian đầu gian khổ vì hư hỏng, thiếu vốn, sau này Nón Bài Thơ Bà T cũng khá uy tín trong giới buôn nón. Tuy vậy, lợi tức vẫn không đủ so với mức tiêu thụ của tiểu đội nên lần lượt giường, tủ, bàn ghế, áo quần, giày dép trong nhà đã đi tìm chủ mới. Hàng ngày thực phẩm của gia đình chỉ còn là gạo hẩm, bo bo, khoai sắn, bắp khô nhiều khi phải nấu thành cháo lỏng mới đủ chia nhau. Bà T. lòng đau như dao cứa!

Xưa đã từng có câu: 

“Thuở trời đất nổi cơn gió bụi, khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.” 

Trời bắt nước Việt nhỏ bé phải bị nước lớn ăn hiếp chưa đủ, trong nhà gà nhà còn bôi mặt đá nhau, làm con dân trong nước trai thì thí mạng oan ức ngoài chiến trường, đàn bà liễu yếu đào tơ, trẻ nít vô tội thì bị đày đọa, con mất cha vợ mất chồng, trời sầu đất thảm. Bà T rất đẹp, đã biết yêu rất sớm. Bà yêu say đắm ông T trong tướng dáng oai hùng của người Sĩ quan, đã trở thành bà Thiếu Úy T. khi mới 14 tuổi. Ông đi hành quân ở đâu thì bà xin đi theo đó. Ông T. thăng tiến trong đời binh nghiệp thì bà T. cũng thăng tiến trong việc sản xuất hậu duệ cho ông. Sau 15 năm ông T. vào sinh ra tử trong những trận đánh nẩy lửa với địch, trở thành một Tiểu đoàn trưởng Bộ binh của QLVNCH thì bà T cũng đã trở thành Tiểu đội trưởng của một đội nhóc gồm 12 hậu duệ T. con, với 12 lần thập tử nhất sanh vượt cạn một mình. (Không may nay chỉ còn 9 nhóc sống sót). Không vì nỗi đau mất mát cùng lúc 3 đứa con mà bà mất đi ý chí phấn đấu. Bà vẫn tiếp tục chỉ huy Tiểu đội của bà để chiến đấu ở hậu phương.

Nhiều lần bà bị nhòm ngó, bị dụ dỗ “hủ hóa”, nhiều lần bà bấm bụng chịu đựng những câu mắng nhiếc của mấy tên chăn trâu chăn bò chẳng đáng xách dép cho bà, bà đã phải trải qua trăm ngàn vất vả quá sức chịu đựng để lo cho cả một đại gia đình, một bầy con chưa lớn, lúc nào cũng canh cánh bên lòng nỗi thương nhớ, lo âu không biết chồng yêu nay đã ra sao. Có lúc bà làm gan lên Phường hỏi khi nào chồng bà được tha, để rồi cay đắng nhận được câu trả lời: “Khi nào trâu đực đẻ con thì chồng chị mới được tha.”

Từ thành phố Sài Gòn ra trại Nam Hà ngoài Bắc đường xa diệu vợi. Một người thiếu phụ chưa từng xông pha nắng gió, chưa có kinh nghiệm đường xa như bà quả thật là khó khăn, nhưng vì yêu chồng mà bà T. bất chấp. Bà vay mượn tiền của thân nhân đem lên Phường để xin giấy phép. Giấy phép thăm nuôi khác với Giấy Phép Đi Lại. Lúc này người ta viện cớ “chưa thống nhất” nên không chịu bán vé chính thức, và hành chánh địa phương chưa quen lệ cấp giấy đi lại cho “dân ngụy”, chỉ có “Cán bộ” và “Bộ đội” mới được phép đi lại giữa Bắc và Nam nên chi người dân phải mua vé chợ đen, đắt gấp 4, 5 lần giá chính thức. Bà vẫn cứ đi.

Dọc chuyến đi bà đã phải bao phen trốn lánh nơi rừng rú, bụi bờ, hoặc ẩn núp trong những toa xe chở súc vật để tránh những trạm “kiểm soát đi lại” suốt hành trình của con tàu Thống Nhất. Vì những vất vả dọc đường kể trên mà bà phải thức suốt 3 đêm liền, quá mệt mỏi nên bà đã mê đi. Khi tàu đến gần Nam Định, bà tỉnh lại thì bao nhiêu đồ bới mang theo đã không cánh mà bay mất tiêu. Đành coi như mắm ruốc trà đường này đã góp phần vào việc tiến nhanh tiến mạnh lên Hạnh Phúc của một tên vô sản vô lại nào đó vậy Bà tự nhủ. Đã sẵn túng thiếu, vì sự cố này mà mẹ con bà phải chịu đói rất khốn khổ suốt cả tháng trời sau khi bà trở lại Miền Nam.

Khi tàu đến Nam Định, bà phải kiếm phòng trọ, chẳng phải để ngủ nghỉ mà là để có phương tiện đi chợ, nấu ăn, làm lại những món đồ bới như xôi, ruốc khô, thịt chấy v.v... Ngày hôm sau, bà thuê xe kéo chở đồ đó lên Phủ Lý. Từ Phủ Lý, bà phải thuê khi thì xe kéo khác, khi thì xe đạp, hai ba chặng nữa mới tới được Hà Nam Ninh. Đồi cao dốc thấp, ổ gà ổ vịt bà không quản, cứ việc xăn quần vén áo xách guốc tất tả chạy theo kẻo chủ xe cố tình đi lạc thì khổ tàn đời. Khi đến được trại giam thì bà đã tả tơi như cái mền rách! Tuy vậy, bà cũng mừng, rất phấn khởi vì biết rằng mình chỉ còn cách chồng trong gang tấc.

Gần cổng trại giam, cạnh một chòi canh có một anh áo vàng mặt mày hồ hởi phấn khởi ngồi sau một cái bàn gỗ. Bà tiến lại, tay run run đưa ra cái tờ giấy đã xin được ở Phường bà ở:

- Thưa anh, thưa đồng chí, xin cho tôi thăm chồng tôi.

Tên Công an săm soi tờ giấy, lên tiếng hách dịch:

- Ai đã cho chị giấy này? Phải có giấy đi nại mới được thăm nuôi.

Cố hết sức nhẩn nhục, làm ra vẻ ngây thơ ngu ngơ, bà T. năn nỉ:

- Dạ thưa anh, Phường đã cấp giấy này cho tôi, bảo là đi thăm nuôi được. Xin anh cho tôi được thăm nuôi lần này, rồi lần sau tôi sẽ xin Phường cho Giấy Đi Nại như anh bảo ạ!

Tên Công an nạt lớn, bắt bà đứng ra một bên để giải quyết cho những người y bảo là “có giấy” trước. Chờ mãi dễ chừng 3 tiếng sau vẫn không nghe gọi, bà T. đáng bạo đến gần năn nỉ, kể lể những gian nan cực khổ trong chuyến đi từ Nam ra đây. Nghe cũng xiêu lòng nên y coi lại giấy của bà, hỏi:

- Chị tên gì? Đi thăm ai?

- Dạ thưa anh, tên là Lê Thị Ngọc Lan, đi thăm chồng là NVT.

- Nê thị Nan, chị đứng đó chờ đi! Vừa nói y vừa dùng bút vòng một vòng quanh tên bà.

Dù có bị đổi tên thành xấu hơn nữa thì bà T. cũng không ngại, vẫn cứ mừng vì đã được y cho phép đứng vào hàng chờ thăm nuôi. Mãi thật lâu sau bà mới thấy một người mường tượng là ông đang chống nạng khập khểnh bước ra. Trước mắt bà là một người mặt bủng da chì, bụng phình ra, không còn một chút gì phương phi như khi còn ở trong Nam nữa. Tiếng của tên Công an “Hai người chỉ có 15 phút thôi đó!” làm bà giựt mình.

Sau bao năm trông đợi, sau chuyến đi dài gian nan, bây giờ hai vợ chồng chỉ có 15 phút gặp nhau thôi sao trời? Hai vợ chồng mừng mà rất tủi, tâm sự chất cao như núi, nghĩa tình sâu tận tâm can, thế mà tên cai tù lại hiện diện một cách vô duyên ác độc không cho phép hai người trao đổi với nhau một lời chân thật, tỏ bày cho nhau những nỗi nhớ nhung. Hai ông bà muốn biết tình trạng của người thân mà không thể hé môi. Nhìn thấy bà gầy mòn héo úa bụi đất đầy người, ông rất đau lòng. Bà nhìn thấy ông trông giống một xác chết trôi chưa chôn, bà thắt ruột. Bà phải nói với ông toàn những tin tốt để ông yên tâm. Ông cám ơn bà đã thay ông nuôi con, lo cho mẹ ông, bảo rằng ông không sao.Vội vàng bà giao hết cho ông những gì đã mang theo, những gì tuy là tầm thường mà chất chứa đầy tình nghĩa lẫn nỗi cảm thương của bà dành cho ông. Dù không biết chồng mình còn được bao nhiêu khi mang đồ tiếp tế vào trại giam, bà vẫn rất mừng thấy ông còn sống và rất an ủi rằng mình đã trao tận tay cho chồng vài ba món bình thường ông vẫn ưa thích.

Sau khi bị đuổi ra ngoài vì hết giờ thăm nuôi, bà đã làm quen với những người vợ tù khác đã từng đi thăm nuôi hơn một lần. Bà đau lòng biết bao khi được biết rằng mỗi người tù ở đây tiêu chuẩn mỗi tháng được phát 13 kí gạo, trong 13 kí này hết ½ là sạn sỏi, 1/7 là lúa, 1/3 là bobo, còn lại là gạo hẩm. Đến bây giờ bà T mới thấy mình đã kiệt sức, không còn đứng vững. Bà ngã lăn ra đất trước trại cải tạo và mê đi, mặc cho muỗi đói từng bầy đến châm chích và sương đêm đẫm ướt cả người. Tinh trạng thê thảm của chồng cùng cảnh tượng khóc than tuyệt vọng của những người vợ tù khác khi đền đây rồi mới biết chồng mình đã chết thảm vì bị đọa đày, đói rét, bệnh tật, bị chôn thân đâu đó trong rừng sâu núi thẳm làm bà giựt mình tỉnh lại trong đêm, để càng khiếp hải thêm khi nghe trong tiếng gió tiếng những oan hồn khóc than và trong bóng đêm như có những bóng ma trơi đang chập chờn trên những cành cây bụi cỏ. Bà sợ muốn đứng tim.

Năm 1988, sau mười ba năm làm thân tù đày ông T mới được tha về. Con cái ông tưởng suốt đời sẽ mồ côi cha nay đã có cha. Người mẹ già tưởng đã mất con nay đã thấy lại người con. Và người vợ, cứ ngỡ sẽ mất chồng nay đã được đoàn tụ với chồng. Cả gia đình mừng vui hơn khi biết mình sắp được đi đến một nước Mỹ họ từng nghe nói là giàu có và tự do theo diện HO. Chánh phủ Mỹ và VNCS đã ký thỏa hiệp cho phép những cựu tù nhân chính trị ở tù cải tạo trên 3 năm được di cư tị nạn ở Mỹ. Bà T lập tức lo đút lót cho hành chánh địa phương nhờ họ dễ dãi trong tiến trình lập hồ sơ xin đi. Bà nhanh chóng đi vay tiền để mua đơn từ và chạy chọt cho thủ tục tỵ nạn chóng xong. Điều kiện là khi qua đến Mỹ bà sẽ gửi tiền về trả lại vốn lẫn lời. Cũng may là còn có người tử tế sẵn tiền và lòng giúp đỡ nên mọi thủ tục rồi cũng hoàn tất.

Đầu năm 1990, sau nhiều hao tốn và nợ nần để qua những thủ tục rắc rối, cuối cùng rồi gia đình gồm hai bà mẹ, hai vợ chồng và bầy con 9 đứa của bà T. cũng được phép lên máy bay rời khỏi VN để đến thành phố Seatles của Mỹ. Những người Việt tị nạn đến trước họ, những thành viên trong Hội Ái Hữu Cựu Quân Nhân VNCH thân tình đón tiếp, các cơ quan thiện nguyện giúp đỡ về vật chất, các cơ quan dịch vụ xã hội của quận hạt nơi họ đến lo về phúc lợi tài chánh cũng như Y tế cho cả gia đình họ. Cả gia đình cảm thấy sung sướng như thần tiên. Họ không còn phải lăn lóc trên nền đất đến mòn cả đũng quần,vất vả tối tăm mặt mày với những chiếc nón bài thơ mà vẫn không đủ ăn. Họ không còn bị Công an phường, khóm, thành lấp ló theo dõi từng bước đi, từng câu nói, chực chờ ập bắt bỏ tù, nhất là khi chủ gia đình vẫn còn mang án tù treo chỉ vì bị cho là “ngụy”.

Những tưởng tương lai tươi sáng đã mở ra trước mắt, qua bên kia nhờ bồi bổ ông chồng sẽ hết xanh xao võ vàng. Thế nhưng, một ngày kia không lâu sau đó, bà T. phát hiện ông T. đã đi tiêu ra máu, nhìn thấy ông đau đớn quằn quại và bị ngất đi. Khi ông được đưa vào phòng Cấp Cứu, sau khi qua những thủ tục khám nghiệm thì mới biết cái ulcer trong bao tử ông T. đã bi lở loét giai đoạn cuối, và bị xuất huyết não cùng lúc. Dù đã tận sức, nhưng các Bác sĩ ở Bệnh viện đành phải đầu hàng không cứu nổi ông thoát khỏi tử thần.

Ai đâu biết được ông T. đã bị đủ thứ bệnh trong người mà chỉ vì ý chí cầu sống để về với vợ con, với mẹ già mà ông đã cố sống trong suốt 13 năm tù “cải tạo” dài đăng đẳng. Hai năm qua ông cố sống, âm thầm rên rỉ với những đau đớn trong người vì mong cho gia đình thoát khỏi chốn trần ai. Tiền bạc không có nên ông nào dám than van rên rỉ. Ông rất đau lòng khi nhìn thấy người vợ kim chi ngọc diệp đã vì ông mà dù tuổi đời mới trên 30 đã phai tàn hương sắc, héo mòn thân xác trông đến tội. Giờ biết chắc vợ con mình đã có chỗ an thân vả lại sức chịu đựng cũng mỏi mòn nên ông muốn dứt bỏ cái xác phàm làm ông quá đau khổ lâu nay. Câu ông nói sau cùng dù thì thào đứt quảng nhưng bà nghe vẫn rõ: 

“Xin em tha lỗi cho anh! Cũng vì anh ích kỷ mà em đã phải gánh vác một bầy con thơ, một người mẹ già, cuộc đời son trẻ đầy âm u tăm tối. Tình anh đối với em ngàn đời không thay đổi. Anh yêu em và kính trọng em lắm em ơi!”

Bà T ngã xuống nền nhà bất tỉnh! Cả phòng cấp cứu ai cũng hoảng hốt tưởng rằng bà muốn đi theo ông. Nhưng sau khi được Bác sĩ chích cho một mũi thuốc thì bà tỉnh lại. Nhìn ông chồng đang nằm mê man, bà khóc kể thảm thiết.

Vì ai mà gia đình bà phải chịu cảnh thương tâm như thế này? Đau khổ tưởng đã qua khi đến vùng đất mới, nào ngờ hậu quả của ác mộng vẫn còn theo như những cơn địa chấn để lại những sóng ngầm. Đời ông sao mà tội quá! Hết vào sinh ra tử trong mười mấy năm đời Binh nghiệp rồi bị đày đọa thêm mười mấy năm trong cảnh lao tù khổ sai. Bệnh mà phải cắn răng chịu đựng không dám than! Tưởng rằng niềm vui hạnh ngộ sẽ bù đắp lại những nỗi khổ vì xa cách, ngờ đâu hết cảnh sinh ly lại đến tử biệt! 

Từ nay một thân nơi xứ lạ quê người đêm đêm bà sẽ làm người góa phụ khóc chồng nhớ con, làm con chim Đỗ Quyên lẻ bạn cất tiếng hót đứt ruột gửi về quê hương và ngày ngày sẽ phải đảm đang lo cho bầy con 9 đứa cùng hai bà mẹ già của hai người.

Lời Người Viết:

Thiết nghĩ bà T. cũng như vợ của các người tù cải tạo thật đáng phục! Khi chồng họ bị lao tù khổ sai của Việt cộng, ngoài việc vất vả mưu sinh giữa những đe dọa bất an, họ còn phải một mình vượt núi băng rừng từ Nam ra Bắc và đến các trại tù, chạy theo tàu hỏa, tàu bò, xe kéo, xe đạp để bới xách bồi bổ cho chồng. Họ nào khác chi những nữ lực sĩ trong các thế vận hội Olympic, cũng không khác gì những vị trong Liệt Nữ Truyện, một dạ trung trinh thờ phụng mẹ chồng và nuôi dạy con cái khi chồng phải ra chiến trường. Nỗi chờ đợi thương nhớ ngày đêm càng thêm khó tả khi chồng họ bị bắt đi cải tạo nhiều năm không án và không hẹn ngày về.


Ái Hoa
(Viết ngày Revised 28 tháng Tư, 2015)

Cơ quan USDA Mỹ đã ra lệnh cho Lee's Sandwich phải ngừng bán lậu trên 200,000 cân Anh thịt gà, heo, bò



Cơ quan USDA Nông Nghiệp & Thực Phẩm Mỹ đã ra lệnh cho Lee's Sandwich phải ngừng bán vì tội đã "qua mặt" cơ quan, đóng thùng lậu trên 200,000 cân Anh thịt gà, heo, bò trong tiệm mà không có sự kiểm duyệt thịt từ cơ quan này. Lee's Sandwich sẽ bị lỗ trên $1,000,000 tiền thịt & tiền bị phạt. Cơ quan cũng kêu gọi các khách hàng nào đã lỡ mua thịt của tiệm mà không có dấu chấp thuận của cơ quan thì có thể trả thịt lại tiệm để lấy lại tiền.

Tốt nhất là tránh mua hàng của Lee's Sandwich vì bánh mì, các món ăn, & thịt được nấu không đúng tiếu chuẩn vệ sinh & an ninh cho sức khỏe của người tiêu thụ. Ngoài ra, cách đóng thùng tránh né cơ quan chánh phủ là có ý đồ bất chánh của gian thương cố ý bán hàng quá hạn, độc hại để hại người mà làm lợi cho mình.

Cơ quan cũng thông tin đến những ai đã bị ngộ độc vì những thức ăn này, hãy liên lạc đến bệnh viện, bác sĩ và sau đó nhớ tường trình cho cơ quan USDA biết để khiếu nại.
---------------------------------------
USDA Orders Meat Recall for Lee's Sandwiches
The massive recall includes more than 200,000 pounds of chicken, beef and pork.
By Bea Karnes (Patch Staff) - May 25, 2015



The U.S. Department of Agriculture (USDA) has ordered Lee’s Sandwiches to recall 213,192 pounds of chicken, beef and pork because they weren’t inspected, and they bore an unauthorized inspection label.
The USDA reports that “Lee’s Sandwiches, has been processing products from federally-inspected establishments and re-packaging them without the benefit of inspection. Products produced without inspection present potential of increased human health risk.”
The recalled products include:

54,509 -lb. of “Banh Bao Pork & Egg Steamed Bun.”
15,147 -lb. of “Banh Bao Trung Cut Pork & Quail Egg Steamed Bun Vietnamese Style.”
55,114 -lb. of “PORK PATE CHAUD (LARGE).”
6,016.5-lb. of “PORK PATE CHAUD (SMALL).”
50,036-lb. of “CHICKEN PATE CHAUD (LARGE).”
6,184.5-lb of “CHICKEN PATE CHAUD (SMALL).”
22,812-lb. of “SLICED OIL BROWNED TURKEY PREMIUM BREAST MEAT FULLY COOKED.”
2,453.5-lb. of “SLICED SALAMI MEAT with wine FULLY COOKED.”
222.25-lb. of 4-oz. plastic containers of “FRUITBEEF JERKY (Kho Bo).”
352-lb. of 4-oz. plastic containers of “B.B.Q.BEEF JERKY (Kho Bo).”
354-lb. of 4-oz. plastic containers of “Curry BEEF JERKY (Kho Bo).”
If you have these products, return them for a refund. If you feel ill, contact your doctor.
~~~~~~~~~~~~~~~~~
* https://patch.com/california/rosemont/usda-orders-meat-recall-lees-sandwiches-0
15 Điều bạn nên buông bỏ để có được hạnh phúc

Qua công việc và các bài giảng của mình, nhà văn Luminita Saviuc đã cố gắng giúp chúng ta tự nhìn lại những điều có liên quan đến hành vi ứng xử của mình và làm thế nào để chấp nhận những điều mà chúng ta đang phải đối mặt trong cuộc sống hàng ngày. Con người ta hay có xu hướng giữ bên mình những điều làm chúng ta đau khổ, mệt mỏi và cam chịu. Để được là chính mình và được hạnh phúc, chúng ta phải buông bỏ những điều không cần thiết mà chúng ta vẫn luôn cố níu giữ. Hãy cố gắng thay đổi và từ bỏ tất cả những thứ đang trói buộc chúng ta. Khi giao tiếp với mọi người, hãy thể hiện lòng tốt và sự kiên nhẫn.

1. Hãy từ bỏ lối suy nghĩ rằng bạn luôn luôn đúng: Có rất nhiều người không thể chấp nhận mình sai và luôn cho rằng mình đúng, ngay cả khi điều này có thể làm tan vỡ một mối quan hệ tuyệt vời, và gây ra nhiều căng thẳng cho bản thân và cho cả những người khác. Nhưng thật ra nó không đáng. Bất cứ khi nào bạn tranh luận về việc ai đúng, ai sai, bạn hãy tự hỏi: Mình muốn chứng minh là mình đúng hay mình muốn làm người tốt? Mình được gì ở đây? Có phải là cái tôi của bạn quá lớn khi bạn không thể từ bỏ được?

2. Hãy từ bỏ việc kiểm soát: Hãy sẵn sàng từ bỏ việc kiểm soát tất cả mọi thứ liên quan tới bạn hoặc tới người khác: các tình huống, sự kiện và con người. Hãy chấp nhận mọi thứ và mọi người– chính xác như họ vốn là vậy– và bạn sẽ cảm thấy thoải mái. Hãy để cho mọi điều tự xảy ra.

3. Hãy từ bỏ việc đổ lỗi cho người khác: Hãy từ bỏ việc đổ lỗi cho người khác về những gì bạn có hoặc không có, về những gì bạn cảm thấy hay không cảm thấy. Đừng lãng phí những phẩm chất của bạn, đừng từ bỏ sức mạnh của bạn và hãy cố gắng chịu trách nhiệm đối với cuộc sống của riêng bạn thôi.

4. Hãy từ bỏ những suy nghĩ tiêu cực: Làm thế nào khiến người khác không bị tổn thương vì những thái độ tiêu cực dai dẳng và lặp đi lặp lại? Đừng cho rằng tất cả mọi thứ đang nghĩ trong đầu là đen tối và tự hủy hoại mình. Bạn có thể làm tốt hơn nhiều.

5. Hãy từ bỏ sự tự ti: Hãy từ bỏ sự tự ti về những gì bạn có thể hoặc không thể làm được, về những gì có thể hoặc không thể. Bắt đầu từ bây giờ, đừng cho phép niềm tin của bạn giới hạn và cầm tù chính bạn. Hãy tự tin vào bản thân mình.

6. Hãy từ bỏ những lời phàn nàn: Hãy từ bỏ việc liên tục phàn nàn về mọi thứ, về mọi người, về mọi tình huống hoặc về mọi sự kiện, những điều làm bạn không vui, buồn hay chán nản. Hãy nhớ rằng không ai có thể làm cho bạn không hạnh phúc, không có tình huống nào có thể làm cho bạn cảm thấy buồn — trừ khi bạn muốn thế. Không phải tình huống làm nảy sinh những cảm xúc này có lỗi, mà chính là cách bạn chọn để đối diện với nó. Đừng bao giờ đánh giá thấp sức mạnh của tư duy tích cực.

7. Hãy từ bỏ những lời chỉ trích: Hãy từ bỏ việc chỉ trích những thứ, những việc hay những người khác mình. Tất cả chúng ta đều khác nhau, nhưng tất cả cũng đều giống nhau. Tất cả chúng ta đều muốn được hạnh phúc, được yêu và được thấu hiểu.

8. Hãy từ bỏ việc cố gắng tạo ấn tượng với người khác: Đừng cố gắng thể hiện những gì không phải là bản thân bạn chỉ để người khác chấp nhận bạn. Đừng theo cách đó. Khi bạn cố gắng từ bỏ việc thể hiện những gì không phải là mình, khi bạn lột tất cả mặt nạ của mình xuống, khi bạn thực sự chấp nhận chính mình, bạn sẽ khám phá rằng bạn sẽ thu hút mọi người mà không cần bất kỳ nỗ lực nào cho việc này.

9. Hãy từ bỏ sự không muốn thay đổi: Thay đổi là tốt, nó giúp bạn đi từ A đến B. Thay đổi sẽ giúp bạn cải thiện cuộc sống của bạn và của những người xung quanh bạn. Hãy đi con đường của riêng bạn và chấp nhận thay đổi. “Hãy theo đuổi hạnh phúc của bạn và vũ trụ sẽ mở cửa cho bạn ngay tại nơi vốn chỉ có những bức tường” (Joseph Campbell).

10. Hãy từ bỏ việc áp đặt: Không áp đặt lên mọi thứ, mọi người hay sự kiện mà bạn không hiểu. Hãy cố gắng từng chút một để mở rộng tâm trí của bạn, bởi tâm trí chỉ hoạt động khi nó được khai mở. “Hình thức cao nhất của sự thiếu hiểu biết là bạn từ chối một điều mà bạn không biết gì về nó” (Wayne Dyer).

11. Hãy từ bỏ nỗi sợ hãi của bạn: Sợ hãi chỉ là một ảo ảnh, nó không tồn tại, chính bạn đã tạo ra nó. Tất cả là trong tâm trí của bạn. Hãy sửa đổi bên trong và bên ngoài sẽ hiển hiện chính xác như nó phải vậy. “Điều duy nhất chúng ta phải sợ chính là nỗi sợ hãi” (Franklein D. Roosevelt).

12. Hãy từ bỏ việc viện cớ: Đóng gói những cái cớ và ném chúng đi. Bạn không cần đến chúng. Thường thì chúng ta chỉ giới hạn bản thân mình trong những gì chúng ta làm vì nhiều lý do. Thay vì lớn lên, nâng cao cuộc sống và tinh thần, chúng ta lại kẹt lại, tự dối bản thân, viện tới tất cả các loại lý do, mà trong 99,9% trường hợp, không phải là có thật.

13. Hãy từ bỏ quá khứ: Chúng ta biết điều đó là rất khó khăn, đặc biệt là khi quá khứ dường như tốt hơn nhiều so với hiện tại và tương lai lại có vẻ đáng sợ. Thế nhưng, hãy suy nghĩ, hiện tại là tất cả những gì mà bạn có và nó chỉ tồn tại duy nhất một lần. Bạn mơ ước khao khát quá khứ trong khi bỏ qua hiện tại của chính mình. Bạn hãy ý thực được mọi việc mình đang làm và hãy tận hưởng cuộc sống, bởi vì cuộc sống là một hành trình mà không phải là một điểm đến. Sẽ rất tốt nếu bạn có một tầm nhìn rõ ràng về tương lai và bạn chuẩn bị sẵn sàng cho điều đó, nhưng luôn luôn hãy là chính mình ở đây và ngay bây giờ.

14. Hãy từ bỏ sự quyến luyến: Đây là một quan niệm mà hầu hết chúng ta rất khó hiểu, nhưng nó không phải là một cái gì đó không thể. Khi bạn tách mình khỏi tất cả mọi thứ, bạn trở nên yên bình hơn, khoan dung, thân thiện và thanh thản hơn, như vậy bạn có thể đến một nơi mà bạn có thể hiểu tất cả mọi thứ mà không cần phải chịu đau khổ. Nó là một trạng thái vượt ra ngoài ngôn từ.

15. Hãy từ bỏ việc sống theo mong đợi của người khác: Nhiều người sống cuộc sống của mình theo những gì người khác nghĩ là tốt nhất cho họ, mà bỏ qua những mong muốn thật sự của bản thân. Họ cố gắng sống theo sự mong đợi của người khác chỉ để làm hài lòng những người này, họ tự đánh mất bản thân mình và cũng không kiểm soát được cuộc sống của mình. Bạn có một cuộc đời, bạn phải sống cuộc đời của mình, đừng để cho những ý kiến ​​của người khác lôi kéo bạn khỏi đường đời của mình.

Trên đây là những điều bạn nên ghi nhớ nếu bạn muốn cuộc sống trở nên tốt hơn. Chúng sẽ giúp bạn vượt qua các khó khăn và có được sự bình an, hạnh phúc từ nội tâm. 

Hãy thử và bạn sẽ thấy rằng không có gì là không thể, ngay cả khi con đường sẽ khó khăn và đầy rắc rối. Nếu vượt qua được, bạn sẽ thấy nó thật giá trị! Khi bạn thành công để vượt lên chính mình và những quan niệm cũ của mình, bạn sẽ thấy thật tuyệt vời. 

Đó sẽ là một khung cảnh mới đặc biệt và những cảm xúc không thể so sánh được với bất cứ điều gì mà bạn đã có trước đó.



Sưu tầm

Blog Archive