Friday, January 3, 2020

Niềm Vui Mới

Năng Khiếu

Bà Kim sang Mỹ gần hai năm. Chưa đến bảy mươi, mà nhìn vẻ mặt bà khắc khổ, từng trải nhưng không mất đi nét thanh tú, bà nói năng lịch thiệp và hiểu biết của một người có học.

Hơn mười năm trước, bà Kim lo cho Hương là con gái út đi du học tại Mỹ, học xong Hương xin được giấy phép đi làm, tuy số điểm tốt nghiệp cao, mà tìm mãi mới được việc. Sau đó cô lập gia đình và bảo lãnh mẹ qua định cư. Khi mẹ có quốc tịch cô sẽ financial sponsor (bảo trợ tài chánh) để mẹ bảo lãnh cho anh chị cô mau hơn. Bà Kim còn hai người con ở Việt Nam, Thưởng lớn nhất, là giáo sư trường Đại Học Bách Khoa Phú Thọ. Hường là con gái kế, cô lấy chồng cũng ở gần nhà nên thường bế con về gửi bà ngoại. Bà Kim ở với con trai, con dâu cùng hai đứa cháu nội, trong căn nhá khá lớn ngoài mặt đường gần Ngã Tư Bảy Hiền.

Bà Kim đến California vào một chiều hè ấm áp, ngồi đợi ở phi trường LAX ngắm nhìn thiên hạ tấp nập qua lại một lúc thì thấy Hương tới, đón bà về nhà ở thành phố Fountain Valley. Gặp ngày thứ bảy cuối tuần, bà con bạn bè được tin kéo đến hỏi thăm, chúc mừng thật đông vui. Ngày hôm sau con rể và con gái chở bà đi thăm anh chị sui và vài nơi quen biết. Phố xá ở đây sạch sẽ đẹp đẽ, chứ không lộn xộn như khu Tân Bình nhà bà ở xóm cũ.

Mấy ngày vui đoàn tụ qua mau, mọi người ai vào việc nấy. Ở nhà còn có bà và thằng cháu ngoại bảy tuổi, đi học về là cắm đầu cắm cổ vào chiếc iPad, bà bảo nó coi chừng hại mắt, nó nghỉ được một lúc, rồi lại chứng nào tật nấy. Cháu bà chỉ hiểu chứ không nói được tiếng Việt, thành ra trong đối thoại hai bà cháu, nó nói tiếng Mỹ còn bà nói tiếng Việt. Bà nghĩ cứ bắt nó nghe tiếng Việt kẻo nó quên, rồi nhắc mẹ nó đưa đi học đọc, học viết sau. Nhìn nó bà lại nhớ mấy đứa cháu bên Việt Nam quá chừng, lúc nào cũng líu lo quanh bà.

Con rể bà là kỹ sư hóa học làm trong hãng thuốc tây ở Irvine, con gái làm trong phòng xét nghiệm (Laboratory) tại bệnh viện UCI nên rất bận rộn, cô phải mướn người mỗi ngày hai ba tiếng đồng hồ, đến nấu ăn và dọn dẹp, bà cảm thấy như người thừa thãi, như kẻ ăn bám. Bà hết đi ra lại đi vào, bật T.V xem thì buồn ngủ, nằm xuống lại không ngủ được, ngồi lên thì ngủ gà ngủ gật, đụng vào cái gì con gái cũng sợ không quen sẽ đổ vỡ, rồi hư hỏng, nó nói với bà: “Má không phải nghĩ ngợi gì, cứ hưởng tuổi già đi!” bà nghĩ tuổi già ở cái nơi lạ lẫm như người vừa câm vừa điếc này, có gì mà hưởng.

Buổi sáng thức dậy sớm co ro bên cửa sổ, nhìn ra đường thấy từng cặp đi bộ qua nhà, nắm tay nhau chầm chậm khập khiễng trong gió lạnh, bà Kim thấy buồn buồn. Ở không mãi cũng chán, bà tính nhờ người quen, kiếm xem có việc gì hạp với khả năng để làm cho quên ngày tháng. Nhưng từ ngày đến Mỹ tuổi của bà được liệt vào hạng “Senior”: Bà đi chứng nhận giấy tờ, được giảm giá. Theo con cháu vào tiệm All you can eat buffet, được bớt giá. Đi xe bus giảm nửa giá….Nên chữ “già” cứ ám ảnh bà, sắp bước vào tuổi “Cổ Lai Hy” bà chỉ còn ngồi chờ ngày kiệt quệ, để phải đưa vào nhà dưỡng lão, sống chung với những khuôn mặt già nua ngơ ngác? Bà đã vào đó một hai lần thăm người quen, cứ nghĩ đến là sợ hãi.

Bà mặc cảm cùng mình, khi những người già về hưu tại đất nước này, họ đã làm việc suốt đời, bây giờ được hưởng những phúc lợi của xã hội. Còn bà vì là con mới bảo lãnh, không đóng góp được gì, lại chưa có quốc tịch, nên chẳng được trợ cấp chi. Cũng may chính phủ cho được cái Medical, đi khám bệnh tổng quát, kết quả bà bị cao máu cao mỡ, bác sĩ khuyên phải tập thể dục và ăn kiêng. Từ đó bà thường đi bách bộ quanh công viên gần nhà, vào mỗi buổi sáng hoặc nắng chiều sắp tàn. Đọc sách, báo để biết cách ăn cho đúng, ngủ cho đủ giấc. Lên Facebook, liên lạc với các bạn ở Việt Nam, xem hình con cháu cho bớt nhớ thương. Dần dà bà quen được vài người bạn già quanh xóm, cuộc sống của họ cũng lặng lẽ buồn, hắt hiu như lá vàng mùa thu… Nuôi nấng con cái nên người, học thành tài, chúng như những con chim đủ lông đủ cánh, xây tổ ấm riêng không sống chung với cha mẹ nữa. Họ bảo ở Mỹ là như vậy.

Không như ở Việt Nam, tục lệ người con trai trưởng hoặc út, có trách nhiệm với cha mẹ vẫn còn. Gia đình ba thế hệ sống chung, có ông bà trong nhà, đôi vợ chồng trẻ yên trí đi làm. Người già có thú vui chăm sóc nhà cửa. Khi cháu chắt lần lượt ra đời, thì ông bà nội hoặc ngoại trở thành người giữ cháu, có kinh nghiệm nuôi nấng dậy dỗ hữu hiệu hơn. Khi những đứa cháu lớn lên, buổi sáng bà dẫn cháu đến trường, buổi chiều đón cháu về. Nhờ vậy mà bà có cơ hội giúp đỡ con cháu không cảm thấy mình vô dụng. Trong nhà lúc nào cũng có tiếng trẻ thơ rộn rã, có hơi ấm và sức sống chan hòa, tuổi già bớt cô đơn. Bây giờ đối với bà chỉ còn là dĩ vãng đã qua.

Thời tiết giao mùa bà bị bệnh, nằm trên giường trong ngôi nhà vắng lạnh, nhìn qua cửa sổ bầu trời cũng vắng lặng. Bà Kim cảm thấy lòng buồn quay quắt nhớ về Việt Nam, nhớ người chồng hiền lành tử tế, yêu vợ thương con. Ông đã mất tích trong một lần vượt biên, cùng nhiều người trên chuyến tàu định mệnh, phát xuất từ Rạch Giá. Không một ai biết điều gì đã xảy ra cho con tàu? Vì không còn ai sống sót! Những người thân ở hải ngoại, đã gửi email đến Cao Ủy Tỵ Nạn ở Geneva, Red Cross tại nhiều nơi…. Vẫn không thấy hồi âm. Bà trở thành góa phụ không khăn tang, không vật vã một lần khi hạ huyệt. Nhưng bà đã âm thầm khóc thương ông, hơn hai mươi năm nay. Nỗi đau cứ âm ỉ đốt cháy lòng bà. Bà không biết là hận ai? Trách ai? Cái ngày đau thương sau 30 tháng tư năm Ất Mão ấy, đất nước ngưng tiếng súng, tưởng là chấm dứt cảnh chết chóc, nhưng người chết còn nhiều hơn thời loạn, chết đủ cách, chết vì bắt bớ, tù đày bị trả thù. Vì đi “kinh tế mới” chết đói, chết khát. Vượt biên chết trong rừng, chết ngoài biển…. Như câu thơ: “Trước kia chinh chiến còn xum họp, nay đã hòa bình phải biệt ly”.

Con gái thấy bà buồn, cô liên lạc được mấy người quen của mẹ từ hồi còn ở Việt Nam, cô chở bà đến thăm và trò truyện cho vui. Những người bạn đó ở trong khu người già, xung quanh toàn các cụ trông còn phong độ lắm, có những cặp vợ chồng già liêu xiêu dắt dìu nhau, thật hạnh phúc. Về nhà cô kể lại cho chồng nghe, con rể thấy bà Kim gặp lại những người bạn cũ có phần vui hơn, anh ta bàn với vợ nộp đơn xin cho mẹ một căn trong khu Senior apartment, phải chờ hơi lâu, nhưng con rể nói, đợi khi mẹ có quốc tịch là vừa. Bà nghe vậy thì buồn dữ lắm.

Rồi một hôm, có người bạn rủ bà Kim đến tham dự buổi họp mặt, Liên Trường Trung Học của một tỉnh nhỏ miền Cao Nguyên xưa. Một người bạn giới thiệu với bà:

-Đây là bạn Lynda, một người hoạt động rất tích cực trong các chùa…

Lúc ra về Lynda hỏi bà: “Chủ nhật Kim có muốn lên chùa chơi không? Trên chùa Điều Ngự có Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng Phật Giáo, mở nhiều lớp học miễn phí như: Lớp Thiền, lớp Anh ngữ trung cấp, Anh ngữ thực dụng, lớp hướng dẫn thi quốc tịch v..v...”

Nghe có lớp Anh văn, và lớp học thi quốc tịch, bà Kim đồng ý ngay. Bà cũng có chút vốn liếng Anh ngữ, nhưng lâu quá không có dịp dùng đến nên quên. Người bạn nói rằng: “Ngôn ngữ địa phương là chìa khóa, mở tất cả các cánh cửa hòa nhập nơi đất khách quê người, từ chối nó, là tự giam mình vào thế giới riêng”. Bà nói: “Đúng, tôi phải đến lớp để học, chứ từ ngày qua đây, thỉnh thoảng đi bộ bên đường gặp người bản xứ đi ngược chiều, tôi chỉ chào được tiếng ‘Hi’! Rồi đi luôn”.

Thế rồi bà Kim lên chùa, trước nhất là để lạy Phật, để được gặp những người bạn cùng ý nguyện, cùng tìm một điều gì đó trong cuộc sống. Con đường đi đến đạo Phật, là đường đi của những người đặc biệt, có trí tuệ siêu phàm, xuất chúng, có khả năng cứu nhân độ thế. Nhưng cũng là con đường của những người yếu đuối như bà, những người gặp chuyện buồn không thể giải tỏa. Là một Phật Tử với phương pháp thiền định, có thể giúp bà xua tan nỗi muộn phiền, tìm ra chân lý của đời sống, tránh được phiền não khổ đau. Kiên nhẫn tu tập để nuôi dưỡng “thân tâm an lạc” trong cuộc sống và sự bình an vốn có như khi còn ở quê nhà!

Sau nữa là bà quyết định đi học Anh văn, và theo học lớp hướng dẫn quốc tịch, để khi nào đủ ngày tháng thì bà nộp đơn thi. Từ nhà bà đến chùa Điều ngự không xa lắm, bà đến trước mười lăm phút để điền đơn, ghi danh, địa chỉ và số phone. Xin học lớp thiền vào ngày thứ ba. Hai lớp Anh ngữ, lớp sáng thứ tư do cô Vân Bằng phụ trách và sáng thứ sáu do cô Tư Hiền phụ trách, từ 9:30 AM đến 11:30 PM. Sau đó bà ở lại học lớp quốc tịch từ 12: 30 tới 1:30 chiều. Các cô là những giáo sư có kinh nghiệm dạy ESL đã nghỉ hưu, nhưng vì có tấm lòng yêu thương tha nhân. Các cô đã hy sinh thời giờ, công sức dạy thiện nguyện, trước là giúp ích cho cộng đồng xã hội, sau là niềm vui tuổi về chiều.

Trước 1975, hai cô là giáo sư Anh văn dạy nhiều trường nổi tiếng tại Saigon và ở Hội Việt Mỹ, nằm trên đường Mạc Đĩnh Chi xưa. Các cô đã may mắn, thoát khỏi làn sóng đỏ tràn vào từ miền Bắc. Là người “Di tản buồn” năm 1975, cũng có những khó khăn buổi ban đầu nơi đất nước Hợp Chủng Quốc này, nhưng các cô đã vượt qua, để tiếp tục nghề gõ đầu trẻ. Cho đến bây giờ mấy chục năm sau vẫn yêu nghề, vẫn nặng tình với những người học trò “quá đát” đầu đã hai thứ tóc. Cũng có vài người trung niên, thì cũng mới ở Việt nam qua, “tiếng Anh tiếng u” còn ấm ớ, lại phải đi làm, nên bữa học bữa nghỉ, vậy mà các cô kiên nhẫn chỉ bảo từng ly từng tí, dạy đi dạy lại, không gõ đầu, khẻ tay, mà sáng nào đi dạy cũng mang theo hộp bánh hoặc bịch chip, để đến giờ “ra chơi” cả cô lẫn trò vừa ăn vừa tâm sự. Để tỏ lòng quý mến các cô, có người còn hái trái cây trong vườn nhà, nào: nhãn, mận, ổi… biếu cô giáo ăn lấy thảo.

Hợp ca bài You Are My Sunshine

Cô Tư Hiền có tài sáng tác và ngâm thơ rất hay, đã được nhiều giải thưởng. Nên giờ nghỉ, cô mời ai có tài ca hát, ngâm thơ thì lên góp vui. Một chị ngồi đầu bàn, thân hình tròn trịa, tánh tình vui vẻ, thân thiện, hay thắc mắc hỏi đủ mọi chuyện trong lớp cũng như ngoài đời, các cô đều vui vẻ giảng giải. Ngồi giữa lớp là một chị dáng người nhỏ nhắn, tóc cắt ngắn ôm sát khuôn mặt tròn, cài thêm chiếc cặp tóc có gắn nơ, nhìn đàng sau tưởng 18 nhưng đàng trước, chị đã qua tuổi “Lục thập nhi nhĩ thuận” mà hay pha trò, làm cả lớp cười ầm, khiến không khí lớp học luôn thoải mái và dễ chịu, nên dù mưa gió lạnh lẽo, mọi người cũng mến cô nhớ bạn cắp sách đi học đông đủ. Lớp có khoảng hơn hai chục người, phần nhiều ở các vùng lân cận, nhưng cũng có người ở Long Beach, Anaheim, lái xe mất nửa tiếng, có người đi hai chuyến xe bus và đi bộ thêm 15 phút mới đến nơi…..

Lớp cô Vân Bằng vào sáng thứ tư là đông nhất. Lúc nào cô cũng vui vẻ nên nhìn trẻ hơn cả mười tuổi. Gương mặt luôn toát ra nét nhân hậu, cô ân cần như người chị cả trong gia đình. Cô hay nói về thuyết nhân quả và khuyên mọi người nên “ở hiền sẽ gặp lành”. Cô thương yêu và gần gũi với tất cả học trò đủ mọi trình độ, mọi hoàn cảnh, nhờ vậy mới dạy được những học trò có bộ óc đang lão hóa, học trước quên sau.

Cô còn cẩn thận in các bài học và bài tập, trên những tờ pelure fort, để phát cho từng người. Cô dạy về địa lý và lịch sử nước Mỹ, là quê hương thứ hai mà chúng ta phải biết ơn, và có nghĩa vụ bảo vệ đất nước đã cưu mang mình. Sở dĩ nước Mỹ mới lập quốc hơn hai trăm năm, mà đứng đầu thế giới về mọi mặt, quân sự, cũng như khoa học kỹ thuật. Vì họ có chính sách giáo dục phổ thông, mọi công dân đều được đến trường từ lúc nhỏ. Luôn tạo điều kiện cho những ai muốn đi học, không phân biệt gìa trẻ hay sắc tộc. Nếu người có lợi tức thấp, mà muốn vào Đại Học, chính phủ có chương trình tài trợ (Financial Aid). Hoặc muốn tiếp tục học lên cao, chính phủ sẽ cho mượn tiền không tính lời, cho đến khi ra trường, có việc làm mới phải trả tiền đã mượn. Vì vậy mà nền giáo dục Mỹ đã đào tạo ra biết bao nhân tài.

Bên cạnh những hỗ trợ của chính phủ, còn có những tấm lòng của các mạnh thường quân, và những thầy cô “Volunteer” rất đáng quý.

Như trong chiều chủ nhật ngày 29.9.2019, tại nhà hàng Seafood World thành phố Westminster, kỷ niệm đệ nhất chu niên ngày thành lập Trung Tâm. Trong bài diễn văn khai mạc, giáo sư Vân Bằng Giám đốc Trung Tâm đã nói, cách đây một năm, Hòa Thượng Thích Viên Lý và Hòa Thượng Thích Viên Huy (trụ trì) chùa Điều Ngự đã nhờ giáo sư thành lập Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng Phật Giáo Điều Ngự (TTSHCĐPGĐN). Để mở các lớp Anh ngữ và thi quốc tịch. Từ đó đã giúp cho nhiều người Việt Nam không phân biệt tôn giáo, trước kia khi mới định cư, đã lao vào công việc để kiếm tiền trang trải cuộc sống và lo cho con cái, đành bỏ chuyện học hành sang một bên. Khi tuổi về hưu mới nghĩ đến mình, tìm đến lớp để học, thì có nhiều trở ngại, như trí nhớ chậm chạp, sức khỏe yếu kém, tai lãng, mắt kèm nhèm. Tuy nhiên tiếng lành đồn nhanh, từ khi có các lớp “học chùa” không tốn tiền lại nhập học dễ dàng, không phải thi xếp lớp, không cần giấy tờ chứng nhận income. Đau ốm thì nghỉ, khỏe thì đi học trở lại, nên lớp học ngày nào cũng có thêm học viên mới. Có những người “chậm chân” ở Việt Nam mới qua, không có một chữ tiếng Anh lận lưng, thì đã có lớp “vỡ lòng” dạy từ năm Vowels (nguyên âm) a,e,i,o,u. Hai mươi mốt Consonants (phụ âm) b,c,d,f,g,h,j,k,I,m,n,p,q,r,s,t,v,w,x,v,z. Dạy đếm từ number one (số một) đến one hundred (100). Học thuộc bảy ngày trong tuần, mười hai tháng trong năm…Ngoài các lớp Anh văn, Trung Tâm còn có các lớp: Dạy sử dụng Computer, iPhone, iPad, lớp Yoga, lớp Khí Công Thiền, các lớp Thể Dục Nhịp Điệu, lớp Vẽ và Cắm Hoa, lớp Thanh Nhạc và Đàn Guitar. Để phục vụ những nhu cầu thực tiễn, về cả trí dục lẫn thể dục….

Dần dần số học viên tăng trên hai trăm người, nên Trung tâm SHCĐPGĐN đã thuê dài hạn tại Boy & Girls Club-Westminster, gần chùa Điều Ngự, cùng đường Chestnut St. thêm phòng học lớn để làm nơi dạy về nghệ thuật hội họa và một phòng Gym cho các lớp thể dục, năm ngày một tuần, từ 9:30 sáng tới 1:30 chiều mỗi ngày. Từ đó bà Kim và các bạn được học trong không khí ấm cúng hơn.

Trong dịp này, Giáo sư Vân Bằng cũng cám ơn, sự nhiệt tình phục vụ vô vị lợi của Ban Điều Hành, Ban Giảng Huấn và quý thầy cô thiện nguyện. Giáo sư cũng không quên cảm tạ những tấm lòng vàng của những nhà bảo trợ cho Trung Tâm, trong đó có người cháu của ông Chánh Án Nguyễn Trọng Nho. Ông là phu quân của giáo sư Vân Bằng, là người đã hỗ trợ tích cực nhất, đã đóng góp vật chất cũng như tinh thần, với lòng yêu thương và nhân ái bao la.

Ngày còn ở Việt nam, bà Kim không tưởng tượng được rằng ở bên Mỹ lại có những người năm, sáu, bảy chục tuổi mà còn được cắp sách đến lớp, vì ngoài việc nâng cao kiến thức, nó còn tập cho đầu óc hoạt động, tránh bị bệnh Alzheimer. Không khí trong lớp học quan trọng đối với tâm lý người lớn tuổi, sẽ làm họ cảm thấy trẻ trung hơn, quen biết thêm bạn mới, mà cái tình bạn học dù tuổi nào nó cũng chân thật và trong sáng.

Bà thích nhất là giờ đàm thoại (Conversation) cô giáo vừa luyện cho nói đúng giọng, vừa tập cho mọi người ăn nói mạnh dạn trước đám đông. Với vốn ngữ vựng và văn phạm sẵn có, bà Kim chỉ để ý cách dùng từ vào câu của người Mỹ, rất đơn giản, gọn nhẹ, không rườm rà dài dòng như lâu nay bà học bên Việt Nam. Cái giọng nặng “accent” của bà cũng bớt nhiều.

Nhớ buổi học hôm ấy cô tập cho mỗi người tự đứng lên và giới thiệu về mình: Tên họ, có gia đình hay độc thân? Đang sống tại thành phố nào? ..... Và “Each person’s feelings” (Cảm nghĩ của mỗi người). Đến lượt bà Kim. Ôi! Đúng là dịp để bà thố lộ hết những gì đang chất chứa trong lòng, nào là bà nhớ quê hương, nhớ nhà cửa, nhớ con cháu, nhớ bạn bè, hàng xóm láng giềng, nhớ từng con đường đông đúc xe cộ, chen lấn bụi mù trời. Bà nghẹn ngào tiếp: “Tôi rất nhớ và thương nước Việt Nam của tôi. Nhưng tôi không trở về nữa … Vì tôi đến nước Mỹ này là giấc mơ, mà bao nhiêu người sống tại Việt Nam hiện giờ, đang mơ ước”. Bà nói một hơi, chữ đúng chữ sai, không đầu không đuôi. Nói xong bà như trút hết nỗi lòng nặng trĩu, chia sẻ cùng mọi người, bà cảm thấy nhẹ nhàng hơn, cả lớp cùng cười, bà cũng cười vô tư như một đứa trẻ con. Nhưng cô giáo khuyên: “Don’t remember the past, live for the present” (Đừng nhớ về quá khứ, hãy sống cho hiện tại). Bà Kim đã nghe lời cô giáo, bà chú tâm vào việc học, bà không vắng mặt buổi nào. Về nhà bà luyện tập cho thuần thục đề tài mới, bà nghĩ ra những câu mình muốn nói, để hôm sau nói đúng hơn. Khi tập nói bà hình dung đến những người bạn trong lớp đang lắng nghe, và sẵn sàng cảm thông với bà. Sự hiện diện của những người bạn ấy đã xoa dịu nỗi buồn trong lòng bà, Hay chính nhờ việc học, đã kéo bà về thực tế, không cho trí óc bà nghĩ ngợi lung tung về quá khứ, về quê hương đau khổ.

Vào ngày Thanksgiving, Trung Tâm cũng tổ chức buổi picnic ngoài Mile Square Park, cũng có tiệc gà tây và mashed potatoes, trái cây, bánh ngọt….Vui nữa là ngày họp mặt trong các dịp lễ lớn, được các cô tập hát để bà cùng các bạn, già trẻ lên sân khấu trình diễn, làm mọi người như sống lại thưở còn ngồi trên ghế nhà trường xa xưa. Hình như chính nhờ sự giao tiếp này đã đem lại cho bà niềm vui mới và hơi ấm tình người, điều mà bà đang ao ước trong tận cùng của tâm hồn. Bà nhớ câu Phật học: “Bởi ta không thể thay đổi hoàn cảnh xung quanh, nên ta đành phải sửa đổi chính mình. Đối diện tất cả bằng lòng từ bi và tâm trí huệ”.

Năng Khiếu
Phát biểu của ông Ngô Đình Quỳnh, con của cố Cố vấn Ngô Đình Nhu nhân ngày giỗ TT Ngô Đình Diệm ngày 3/11/2019 tại Paris.

Bản dịch bài phát biểu bằng tiếng Pháp của Ông Ngô Đình Quỳnh, con trai của Cố Cố vấn Ngô Đình Nhu nhân ngày đám giỗ Cụ Diệm ngày 3/11/2019 tại Paris.

Ông Ngô Đình Nhu cùng phu nhân, bà Trần Lệ Xuân cùng các con.

“Tôi đã được cô Anh Chi mời và đã được cô giải thích chủ đề của buội hội họp này, và chỉ trên cơ sở duy nhất này mà tôi quyết định trả lời một cách tích cực lời mời của các bạn, và tôi không quan tâm về các chi tiết là các bạn thuộc nhóm chính trị nào, bởi vì tôi thấy vấn đề được đặt ra như thế đáng được bàn thảo để mỗi người có thể tìm ra ở đó một câu trả lời, trong lương tâm của mình.

Như thế, tôi muốn xác định rằng sự hiện diện của tôi ở đây không hề mang một tính cách bảo kê hay ủng hộ cho bất cứ một đảng phái chính trị nào hết, nhưng để biểu lộ lòng biết ơn của tôi với TẤT CẢ mọi người Việt Nam còn nhớ tới và cử hành, mặc dù đã hơn 50 năm trôi qua, những công lao cho đất nước được cống hiến bởi bác tôi là Tổng Thống NGÔ ĐÌNH DIỆM và cha tôi là ông Cố Vấn NGÔ ĐÌNH NHU, đến mức hy sinh cả mạng sống của các ngài. Và trên chiều hướng đó, rất mong rằng trong tương lai, các bạn nên tham dự Thánh Lễ tưởng niệm duy nhất được tổ chức thường niên vào ngày 01 tháng 11, để đừng đưa ra hình ảnh có sự phân hóa ngay trong những người trung thành với Tổng Thống NGÔ ĐÌNH DIỆM và với em ngài là ông NGÔ ĐÌNH NHU, và nếu các bạn muốn, các bạn có thể tổ chức riêng một buổi hội thảo khác và một ngày khác để nói về các chủ đề các bạn muốn biết có liên quan đến thời cuộc.

Bây giờ, thông điệp mà tôi muốn gửi đến các bạn là gì, các bạn trẻ Việt Nam sống ở hải ngoại ? Các bạn đã nghe những quan điểm chính trị, kinh tế, quân sự, tất cả đều tuyệt đối không thể thiếu được cho bất cứ một quốc gia nào và chúng phải thích hợp với bối cảnh của thời đại, để cho phép quốc gia có thể tiến bộ và phát triển hài hòa và hữu hiệu.

Đất nước chúng ta không còn chiến tranh từ năm 1975, và với gần 100 triệu dân số và tất cả những tài nguyên thiên nhiên, có tất cả tiềm năng để đứng vào hàng đầu trên bình diện quốc tế trên mọi phương diện, kinh tế và khác nữa, nhưng đã không phải như vậy.

Các bạn là thành phần của tương lại đất nước chúng ta. Các bạn hãy và luôn phải hãnh diện là người Việt Nam, và truyền đạt điều đó lại cho các con cháu các bạn và cho các thế hệ mới. Đất nước chúng ta đã thành công giành được độc lập trong bao thế kỷ mặc dù tất cả những âm mưu xâm lược, thống trị và thực dân của các nước ngoài. Tinh thần độc lập mãnh liệt đó đặt nền tảng trên cái gì ? Trên tinh thần dân tộc là chắc chắn rồi, nhưng nhất là trên tinh thần tự do cá nhân, đã cống hiến cho mỗi con người Việt Nam sức mạnh để đóng góp một cách tốt nhất các khả năng của mình.

Các bạn hãy lựa chọn những người lãnh đạo liêm khiết và khoan dung, như những người mà các bạn tưởng niệm trong ngày hôm nay. Những người đó rất hiếm, và như thế, họ xứng đáng được ủng hộ VÀ bảo vệ ; đó là những gì đã thiếu sót đối với Bác tôi và Cha tôi, không được bao quanh bởi những người, dù không có lòng tin và tình yêu dân như các ngài, thì cũng phải đủ trưởng thành để hiểu được là vì lợi ích của chính họ mà đi theo các ngài chứ không phải hạ sát các ngài.

Độc lập không có nghĩa là cô lập, trái lại, phải có sự nối kết với thế giới, – tôi không dám dạy các bạn điều này, các bạn thuộc thế hệ internet – biết phân định những gì các quốc gia khác có tốt hơn và khác lạ mà chúng ta có thể thâu nhận và du nhập, chia sẻ trở lại.

Tình huynh đệ nhân loại, nhưng mỗi người ý thức được nguồn gốc và di sản của mình, đến từ cha mẹ và các bậc tổ tiên, làm nên sức mạnh cho chúng ta, bởi vì cần phải mạnh mới có thể chia sẻ và trợ giúo những người đang có nhu cầu về sự giúp đỡ của chúng ta, trên bình diện cá nhân cũng như trên bình diện quốc gia.

Tóm lại, Tinh thần dân tộc, sự liêm khiết, sức mạnh đạo đức tinh thần, sự khoan dung, tình thương đồng bào, đó là những gì tôi nhớ được từ tấm gương của Bác tôi và Cha tôi, đó chính là những điều tôi truyền đạt cho các bạn bây giờ đây.

NGÔ ĐÌNH QUỲNH

CON TRAI CỐ VẤN NGÔ ĐÌNH NHU LÊN TIẾNG SAU HƠN 60 NĂM YÊN LẶNG

Thursday, January 2, 2020

Ikigai là gì?

Thật tình quan niệm này, cho tới nay, không có từ ngữ nào tương dương tiếng Việt, tiếng Trung Hoa hay tiếng Anh, tiếng Pháp.

Người Anh dịch là “Things that you live for” hay là “the reason for which you wake up in the morning”

Người Pháp cũng dịch 1 cách tương tự là “La Raison D’Être”.

Người Nhật viết chữ Ikigai là 生き甲斐 , lẽ dĩ nhiên tôi không biết tiếng Việt là gì, tuy rằng tôi nhận thấy có nhiều Hán Tự trong 4 chữ này.

Phải nhờ các bạn thân như Nguyễn Trung Chí, Đào Tơ, Ngọc Hân, Cảnh, …đã sống và đi học Đại Học nhiều năm ở Tokyo vui long cắt nghỉa thêm.

Có lẽ quan niêm Ikigai có từ nhiều thế kỷ nay bên Nhật, nhưng Hoa Kỳ chỉ biết nhiều năm sau này mà thôi.

Tờ báo Le Monde của Pháp có viết 1 bài dài về vấn đề này. BBC có nhiều lần nói và bàn luận về vấn đề này.

Theo tôi nghĩ và có thể tôi lầm – người đầu tiên là giáo sư Lâm Ngữ Đường / Lin Yu Tang / có viết 1 cuốn sách rất quan trong về vấn đề này mà ông in tại Hoa Kỳ trong thập niên 30 dười tên là “The Importance Of Living” 生活的藝術

Cuốn sách rất thành công vào thời kỳ đó năm 1937, và được in lại rất nhiều lần trong 80 năm qua.

Cách đây 40 năm, tôi có mua được bản đầu in bên Mỹ của cuốn sách này tại 1 tiệm sách quý, và tôi quý hóa nó vô cùng.

Tuy nhiên tôi thấy bản dịch của Nguyễn Hiến Lê sang tiếng Việt đọc thích thú và học hỏi hơn rất nhiều.

Ông Nguyễn Hiến Lê đặt tên bản dịch là “Một quan niệm về Sống Đẹp” ( rất tiếc Nguyễn Hiến Lê thân Cộng Sản, ở lại, và sau này, vô cùng thất vọng về niềm tin xa xưa của minh)

Mỗi chúng ta có một cái quan niệm, một hiểu biết về Ikigai riêng biệt.

Nó phản ảnh cài nhìn của chúng ta về đời sống qua gia đình chúng ta trong những năm niên thiếu sống với Bố Mẹ, nó phản ảnh học vấn chúng ta, tín ngưởng hay không tín ngưỡng của chúng, những bạn hữu chúng ta từ thời Tiểu Học, Trung Học, các bạn hữu chúng ta trong đời sống hang ngày, nó phản ảnh nghề nghiệp chúng ta, phối ngẩu chúng ta, con cái chúng ta…

Và nó có thể thay đổi với thời gian, thay đôi với đời sống hiện tại của chúng ta.

Nói một cách khác, Ikigai là một mental state của riêng ta, mà ta sống thoải mái với nó, ta không hề phải gượng gựi vói Ikigai của ta.

Bên Nhật thì vùng Okinawa nổi tiếng là vùng dân chúng sống lâu nhất hoàn càu với đàn bà trung bình sống 87 tuổi và đàn ông 81 tuổi.

Okinawa không phải là vùng giầu sang, nhưng dân chúng sống thoải mái, vô tự lự, không qua lo xa.

Có 1 bà già 92 tuổi Okinawian cho biết là mội ngày cụ hát và nhẩy múa với các người láng giềng, với con cái các người láng diềng.

Cụ hát không hay và nhẫy củng không giỏi, nhưng không sao cả, đối với cụ, giọng ca của cụ là giọng truyền cảm nhất và điệu múa của cụ diễn tả con tim của cụ nhất.

Cái quan trọng là thế.

On vit sa vie. We live our own life.

Ta sống cho ta, chứ không phải cho làng xóm hay các người láng giềng hay cả con cái chúng ta nữa.

Dân chúng Nhật là một dân chúng phần lớn, tôn trọng truyền thống, kính trọng cấp trên, vâng lời nhà nước, tôn trọng luật pháp hiện hành, đi làm thì xả thân cho công việc nơi mình làm, rất nhiều ngày làm hơn 10-12 tiếng mỗi ngày.

Sống mãi như vậy qua nhiều thế hệ, nhiều thế kỷ, thì nó cũng quen đi, cũng thoải mái.

Khi làm việc cùng trong khuôn khổ nền văn minh Âu Mỹ thì có nhiều vết nứt rạn ra, và dân chúng Nhật có nhiều trạng thái tinh thần khủng hoảng mà trước đó họ không có.

Vào thập niên 60, nước Nhật sáng chế ra cái máy Karaoke.

Cái máy này thay đổi rất nhiều đời sống bên Nhật, và các nước vùng Đông Nam Á và Trung Hoa lục địa.

Người dân Á Châu có dip lần đảu « xả xúp pắp » mà tiếng Pháp gọi là Défouler/ To let off steam, to unwind.

Khi người ta uống lon bia, người ta thả hồn theo điệu nhạc và ca hát khiêu vũ với bạn hữu, thì người ta làm cho tinh thần mình bớt căng thẳng đi rất nhiều.

Lâu lâu, tôi nghe thấy các bạn hữu chê bai người khác, nói họ ” tối tối họp bè bạn lại hát Karaoke’ .

Thật tình các máy Karaoke nho nhỏ đã cứu sống sức khỏe tinh thần nhiều cá nhân và hạnh phúc nhiều gia đình.

Như đã viết, Ikigai là 1 quan niêm sống hết sức riêng tư cho mổi cá nhân.

Có người thoải mái nghe nhạc Cổ Điển, có người thích chơi Chess, thích đánh cơ Vây (Go), có nhiều người hay ra đi bộ 1 mình, có người thích đi hiking vơi nhiều bạn, có nhiều người thích đi nhẩy line dancing, ballroom dancing, và có người lấy cái học làm Ikigai của mình.

Tôi có người cháu, con chị cả của tôi là Tiến Sĩ Vũ Thiện Đắc.

Tuy trong gia đình là cậu cháu nhưng tôi bao giờ cũng coi Đắc như 1 người em nhỏ hết sức thân tình.

Trong thời niên thiếu chúng tôi thì Đắc bao giờ cũng cầm cuốn sách đọc mải miết.

Đắc không nhửng giỏi về Toán, Khoa Học, văn chuơng Pháp, nhưng về Latin, Hy Lạp Cổ thì Đắc cũng luôn luôn nhất lớp.

Đắc được coi là một học trò xuất sắc nhất của Chasseloup Laubat trong thập niên 60.

Có lần tôi hỏi Đắc là tại sao lúc nào cũng cầm cuốn sách để học như vậy thì Đắc nói ’ ở đời ai cũng có 1 cái đam mê, người thích nghe nhạc, người thích nhẩy đầm, cái đam mê của cháu là đọc sách để học hỏi.

Tôi không ngạc nhiên là Đắc đậu nhất về khóa Tiến Sĩ tại Paris trong thập niên 60.

Viết dài giòng về một người cháu mà tôi vô cùng yêu thương và kính trọng vì muốn diễn ta cái tính cách vô cùng cá nhân của Ikigai.

Mỗi chúng ta phải kiếm lại cái chu vi của Ikigai mình, phải biết hòa hợp quan niêm cá nhân chúng ta với công việc, với gia đình, với bạn hữu thì chúng ta sẽ luôn luôn hạnh phúc và khỏe mạnh.

Nói thì dễ, nhưng làm thì rất khó.

Tôi ước mong và thèm muốn hình ãnh bà cụ 92 tuổi vùng Okinawa, luôn luôn ca hát và nhẩy múa, không lo âu, luôn luôn chấp nhận cuộc đời với những khó khăn của nó,

Ta nhớ là ở đời không có ai hoàn toàn cả, và ta luôn luôn nên tin tường Thượng Đế, Đức Phật, Đức Chúa, sẽ che chở ta nếu tai ăn ở tử tế ”sống hiền sẽ gặp lành”.

Rất thân mến,

Nguyen Thuong Vu
Tàu cung cấp vũ khí cho ISIS gây chiến tranh tại Trung Đông

Mới đây, Mỹ đã xác nhận thủ lĩnh tối cao của tổ chức khủng bố cực đoan ISIS, Abu Bakr al-Baghdadi đã tự sát, nguồn vũ khí cho ISIS một lần nữa trở thành chủ đề được bàn tán xôn xao. 

Theo một báo cáo được tiết lộ, tiền và vũ khí của ISIS đến từ Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) và có tới 43,5% vũ khí được sản xuất tại Trung Quốc.

Thủ lĩnh ISIS tự sát: Nguồn cung cấp vũ khí đã được phơi bày (ảnh 1)
Theo một báo cáo được tiết lộ, tiền và vũ khí của ISIS đến từ ĐCSTQ và có tới 43,5% vũ khí được sản xuất tại Trung Quốc. (Ảnh: Twitter )

Hôm Chủ nhật (27/10), Tổng thống Mỹ Donald Trump đã tuyên bố rằng, Abu Bakr al-Baghdadi, thủ lĩnh của tổ chức khủng bố cực đoan ISIS đã kích nổ chiếc áo chứa thuốc nổ để tự sát trong một cuộc tập kích ban đêm bất ngờ tại Tây Bắc Syria.

Một quan chức cấp cao của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã xác nhận với tờ Fox News hôm thứ Hai (28/10) rằng, Abu Hassan al-Muhajir, một phát ngôn viên của ISIS, người được coi là người kế nhiệm tiềm năng của Baghdadi, cũng đã bị tiêu diệt trong một cuộc tập kích khác của quân đội Mỹ.

Vào ngày 29/10, vài người dùng Twitter nói rằng tiền và vũ khí của ISIS là đến từ ĐCSTQ; gần 40% vũ khí của ISIS là do Trung Quốc cung cấp, số còn lại đều là mua từ chợ đen.

Hầu hết AK47 mà các phần tử khủng bố sử dụng ở Trung Đông là Type 56 của Trung Quốc và Kalashnikov AK47 do Nga sản xuất thuộc loại mặt hàng cao cấp. Súng trường bắn tỉa cỡ nòng lớn M99 của Trung Quốc cũng là trang bị tiêu chuẩn của ISIS, thiết kế dựa trên phiên bản của khẩu AS50 của Anh.

Với số lượng 20, 30 nghìn quân ISIS tác chiến liên tục với cường độ cao trong mười mấy năm, nếu không có các nước lớn đứng phía sau làm hậu cần thì tuyệt đối sẽ không thể duy trì được.

Có người trên mạng nói: “Nói trắng ra, Trung Quốc là kẻ đứng sau IS”, “Tổ chức xã hội đen lớn nhất thế giới chính là người ủng hộ phía sau của IS”.

“Tổ chức nghiên cứu Xung đột vũ khí” của Anh (Conflict Armament Research) đã nghiên cứu các nguồn cung cấp vũ khí của ISIS trong 3 năm, nói rằng họ đã phát hiện ra có 43,5% vũ khí và thiết bị mà ISIS sử dụng đều được sản xuất tại Trung Quốc. Lời đồn rằng “44% vũ khí do Trung Quốc cung cấp” của cư dân mạng hẳn là bắt nguồn từ đây.

Theo tờ Daily Mail, Tổ chức nghiên cứu xung đột vũ khí đã tiến hành theo dõi chi tiết về dòng vũ khí được sử dụng bởi các phần tử ISIS ở Syria và Iraq, và phát hiện ra rằng từ năm 2014 đến 2017, trong số các vũ khí quân sự được xã hội quốc tế thu hồi từ các chiến dịch ISIS, 90% trong số 40 ngàn vũ khí và thiết bị là từ Trung Quốc, Nga và các nước Đông Âu khác.

Các nhà nghiên cứu đã tìm được nguồn cung cấp vũ khí cho ISIS, chỉ riêng lượng vũ khí mà Trung Quốc cung cấp đã chiếm 43.5%, độc chiếm vị trí đầu, số lượng lớn nhất. Ngoài ra, Romania chiếm 12.1%, Nga chiếm 9.6%, Hungary chiếm 7.2%, Bulgaria chiếm 5.2%.

Báo cáo mới còn đặc biệt chỉ ra rằng ở khu vực phía nam Mosul, nơi bị ISIS chiếm đóng, tại chỗ cất giữ vũ khí phát hiện ra 122 súng máy hạng nhẹ 762×39 mm do Trung Quốc sản xuất.

Trước đây, ISIS thường tuyên bố rằng hầu hết vũ khí của họ là cướp đoạt từ quân đội Mỹ. Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu, người ta thấy rằng trên thực tế số vũ khí mà ISIS cướp đoạt từ Mỹ chỉ chiếm chưa đến 2%, hơn nữa tỷ lệ vũ khí của Iraq và Iran cũng chỉ chiếm 3,2% và 0,9%.

Việc ĐCSTQ bí mật bán vũ khí cho Nhà nước Hồi giáo không đơn thuần là vì lợi nhuận mà còn có mục đích hỗ trợ các tổ chức khủng bố và Iran, gây bạo loạn ở khu vực Trung Đông, giảm bớt áp lực từ Mỹ do lực lượng nước này bị phân tán.

Vào năm 2014, Hoàn Cầu Thời báo, cơ quan ngôn luận của ĐCSTQ, đã đăng một bài viết có nội dung công khai ủng hộ Nhà nước Hồi giáo (ISIS) sau khi nhóm này giết chết hai nhà báo người Mỹ và một nhân viên thiện nguyện người Anh.

Năm 2008, các công đoàn, giáo hội và các nhà lãnh đạo nhân quyền ở các nước Nam Phi phản đối tàu chở vũ khí An Nhạc Giang (An Yue Jiang) của Trung Quốc đến khu vực Nam Phi.
Năm 2008, các công đoàn, giáo hội và các nhà lãnh đạo nhân quyền ở các nước Nam Phi phản đối tàu chở vũ khí An Nhạc Giang (An Yue Jiang) của Trung Quốc đến khu vực Nam Phi. (Ảnh: Getty Images)

Bài viết có tựa đề “Mỹ ích kỷ khi kêu gọi chống Nhà nước Hồi giáo” được Hoàn Cầu Thời báo đăng tải hôm 7/9/2014 nói rằng, truyền thông phương Tây chỉ nhấn mạnh một cách mù quáng phía cực đoan của ISIS như giết hại tù nhân, chặt đầu con tin, nhưng hiếm khi đề cập đến những mặt tốt đẹp khác của tổ chức này.

Ngoài việc giết người, ISIS còn cung cấp điện nước, trả lương, điều khiển giao thông và quản lý các hiệu bánh, ngân hàng, trường học, toà án và nhà thờ Hồi giáo tại các vùng bị chiếm đóng.

Dựa vào các thông tin và lập luận trên của Tân Hoa Xã thì thật khó có thể nói rằng Nhà nước Hồi giáo là một tổ chức khủng bố tàn bạo. Nhiều người đã tự đặt câu hỏi: lẽ nào Hoàn Cầu có liên quan với tổ chức khủng bố này nên mới công khai ủng hộ như vậy?

Ngoài ra, không chỉ đối với Nhà nước Hồi giáo ISISS, theo thông tin nội bộ được cung cấp bởi quan chức liên quan đến cung cấp vũ khí trong nội bộ đảng Cộng sản Trung Quốc, thì ĐCSTQ vẫn đang cung cấp vũ khí cho phần tử khủng bố ở nhiều nước như Afghanistan, Iran, Iraq, trong đó có cả viện trợ không hoàn lại, về sau này còn có cả vũ khí giết người mang tính hủy diệt như tên lửa đạn đạo. Đây là nguyên nhân trực tiếp cho thấy vì sao mà các phần tử khủng bố ở Trung Đông và các nước khác vẫn luôn hoạt động mạnh mẽ.

Iran và Iraq là khách hàng nhập khẩu vũ khí lớn nhất của Trung Quốc. Trong thời gian từ năm 1983 đến năm 1986, hai nước Iran và Iraq nhập khẩu 92% vũ khí Trung Quốc, sau khi chiến tranh ở hai nước này kết thúc, lượng vũ khí nhập khẩu giảm mạnh còn 56%. Nhưng sau chiến tranh Vùng vịnh Ba Tư, lượng vũ khí mà Iran mua từ Trung Quốc tăng mạnh lên 69%, Trung Quốc trở thành nhà cung cấp vũ khí lớn nhất cho Iran.

HONGKONG 

Nguoiviettudo
Hong Kong càng ngày càng làm thế giới kinh ngạc. Người HK - nhất là tuổi trẻ - sẵn sàng chấp nhận mọi hậu quả họ phải gánh chịu khi đối đầu với nhà nước, bao gồm cả thành viên lực lượng đặc nhiệm chống khủng bố của TC giả dạng cảnh sát HK . Bọn này sẽ không nương tay với dân biểu tình. Cũng giống như VC hễ ai sống trên phần đất VNCH đều là kẻ thù cần bị tiêu diệt , đặc nhiệm TC cũng đàn áp thẳng tay không cần biết đó là một cụ già, một thiếu nữ hoặc một đứa con nít.

Nhưng người HK không sợ bởi họ biết rằng nếu cứ nằm nhà trùm chăn thì chẳng những chính họ mà cả con cháu thế hệ sau này cũng sẽ suốt đời làm nô lệ cho một chủ nghĩa chống lại loài người, rồi sẽ bị đối xử như dân Duy Ngô Nhĩ hoặc Tây Tạng, Một cách nói khác: Tự Do Hay Là Chết .

Một quốc gia Châu Á cũng được truyền lửa từ cuộc đấu tranh ( đầy sáng tạo ) của người HK bắt đầu thức tĩnh, đoàn kết. Đó là Đài Loan, độc lập nhưng cứ phải chịu nhục trước cộng đồng quốc tế vì sự áp đặt (của TC ) nên buộc thêm chữ China đằng sau cái tên quốc gia trước sự đồng tình của phương Tây (cộng thêm mấy thời kỳ tổng thống Mỹ gà chết, sợ phiền lòng TC ) dựa vào thế nước lớn ép buộc họ.

HK rất đáng được tuyên dương, lửa đấu tranh từ HK đã lan tới nội địa Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc, dân Tàu bắt đầu rục rịch biểu tình phản đối nhà nước bịt mắt họ bao nhiêu năm nay. Thêm Đài Loan luôn sát cánh, ủng hộ và đồng hành hợp sức TC quả thật đang tứ bề thọ địch. Rồi Ma Cao, Lào, Cam Pu Chia… những quốc gia nhỏ bé hiện chịu áp lực nặng nề từ “ một vành đai một con đường “ . Gộp chung lại sức mạnh hàng triệu triệu người sẽ cuối cùng chôn vùi chủ nghĩa CS xuống sáu mét đất. Đám Hun Sen, Sồm vi Hỏn, Sồm vi Hản gì đó sẽ bị dân đè sấp cắt cổ mổ bụng phân ra trăm mảnh liệng cho vịt rỉa..

Tất cả rồi sẽ diễn ra. Chủ nghĩa CS phải bị tiêu diệt bởi vì đó là mớ lý thuyết chống Trời chống Người. Dân như thuyền có thể đưa chính quyền đi xa nhưng cũng sẵn sàng nhận chìm bất cứ cá nhân tập đoàn nào cai trị sắc máu. Những cuộc cách mạng ở Venezuela, Hồng Kông (để lôi cổ bọn khát máu xuống trong tiếng reo hò vang dội của người dân) ĐÃ CHÍN MÙI !!

Thế giới đang hướng về HK qua những lời cầu nguyện, động viên tinh thần, vật chất. Nguoi HK được ngưỡng mộ vì không khoan nhượng, vì sự sáng tạo năng động trong đấu tranh ( đương đầu với hơi cay, đạn cao su, đạn thật), vì sự đoàn kết một lòng ( thành phần có cảm tình với TC ra mặt bênh vực Carrie Lam hay cảnh sát không đáng kể vì quá nhỏ ). Anh hùng của giới trẻ không phải là đứa bé gái hỗn xược bị lợi dụng cho chính trị Greta Thunberg ( trang bìa của báo lá cải Time, cùng tờ báo từng vinh danh dân biểu DC ngồi không ăn tiền Maxine Waters ). Đó phải là Hoàng Chí Phong hay chí ít cũng là Nguyễn Viết Dũng của VN.

Bán về VN thì buồn quá, tình cờ trên youtube phát giác ra vài chuyện:

- Một trẻ trâu ( đang ở VN ) làm youtube khoe có được hơn ba trăm ngàn người coi nên sẽ qua Singapore ăn mừng.

- Một sồn sồn trâu ( tên trong chuồng: colorman đang ở VN ) khoe qua Las Vegas ăn phở

- Tin từ báo điện tử: Nhà Đấu Tranh… ( đọc báo sẽ biết tên ) qua Pháp nhận giải thưởng ( không đọc hết vì “ Bỗng Dưng Muốn Ói “ )

Nghe như chuyện đi ra nước ngoài của công dân VN dễ dàng hơn đi chợ. Vậy thì tại sao lại có ba mươi chín người chết như xếp cá mòi trong xe tải (còn những chuyến không phát giác được thì sao?)

HK truyền lửa cho Đài Loan, và các nước nhỏ DNA nhưng tới VN thì lửa bị tắt. Đọc tin tức VN dễ bị tai biến mạch máu não: ba mươi tám tuổi hiếp tám tuổi, ông nội rờ cháu gái, thanh niên đè bà cụ sáu mươi lăm v..vv. Mười tuổi đã uống được năm chai bia đến mười tám tuổi thì liên tục họp mặt trên bàn nhậu. Nam thanh nữ tú khoe nhau tửu lượng. Yếu đuối, bạt nhược, đụng nhẹ cũng té, rất giỏi đâm chém nhau vì một liếc mắt, bắt chước giới trẻ Mỹ xăm mình tùm lum tuởng như thế mới anh hùng dân chơi ( ở nước ngoài là nghệ thuật tới VN biến thành biểu tượng hù doạ đàn bà con nít ). Tướng quân đội trùm mền trốn khi quân thù xâm phạm hải phận, chưa đánh đã chịu thua, cầm quyền và tay sai luôn luôn nêu cao khẩu hiệu “ hèn với giặc ác với dân “ . Tinh thần yêu nước một lòng đoàn kết chống ngoại xâm hồi xưa biến đâu mất, nay rặc một phường hèn nhát chỉ giỏi làm youtube giới thiệu các quán ăn nhậu. 

VN trước 1975 - trừ phía trên vĩ tuyến 17 – cùng với các thuần phong mỹ tục đã biến mất !!!

Ở nước ngoài khá hơn không ? 

- Anh tỷ phú mang cặp mắt giết người trên gương mặt trộm cắp, ăn vận kiểu tâm thần bị bàng dân thiên hạ chửi tắt bếp bèn tức khí một mình chống lại MAFIA - tên bộ phím rất hay, nổi tiếng sau 1975 - đòi thưa kiện tùm lum .( không biết thưa được bao nhiêu người rồi ?)

- Anh MC với gương mặt lưỡi cày, chuyên viết chuyện ma đang gây sóng gió vì gọi ông Tổng Thống nước Mỹ là “ bạo chúa “ nguyên nhân của vài chục ngàn người chạy trốn sang Canada

- Chị dân biểu liên bang gốc Việt ở Florida tuyên bố sẽ theo chỉ thị của đảng bỏ phiếu “ đàn hặc “ Trump ( chị này đã từng là niềm hãnh diện của báo chí Viet Ngữ theo nguyên tắc hễ cứ thấy sang thì bắt quàng làm họ, theo kiểu chị Tiến Sĩ Chiêm Tinh Gia Lâm ( or Lưu ? ) Lệ Hằng với cái hình cười toe toét chụp chung cùng N Tấn Dũng )

- Chị dân biểu tiểu bang gốc Việt Kathy Trần ở VA ( ?) đệ trình dự luật cho phép phá thai ( giết trẻ sơ sinh ) bất kể chu kỳ nào của thai nghén.

- Anh VN này sẽ dè bỉu chị VN kia, chửi hết bàn dân thiên hạ đã coi thường không chấp nhận anh làm lãnh tụ

- Thời gian trung bình một người VN ở Mỹ hằn học phê bình lên án người VN khác dài bàng thời gian họ ăn uống ( và xem PBN ) suốt cuộc đời

- Biết MC mặt lưỡi cày và chị MC con gái của tướng chạy trốn NCK bây giờ đã hoàn toàn bị nhuộm đỏ, dân VN vẫn ăn mặc tử tế đổ xô đông nghẹt đi coi PBN

- Đàm Vĩnh Hưng hay bất cứ VC nào qua đây ca hát vẫn hốt rất nhiều bạc từ những khán giả “ NẠN NHÂN TỊ NẠN CS “

- Ca sĩ mặc đồ lính hát nhạc lính VNCH thế nào cũng phải mang lon trung úy. Chẳng hạn anh Chàm Chế Linh, anh nghiện Tuấn Vũ ( mấy anh nầy hiện đã về VN hát cho VC hết. Nhớ: mặc đồ lính VNCH đã khó, mang được lon Trung uý ít nhất cũng từng đổ máu mình và anh em. ĐỪNG LÀM NHỤC quân phục và cấp bậc của người lính chính nghĩa.

- Ca sĩ thuộc hàng đại lão bà bà và đại lão gia gia ( tuổi trên sáu mươi ) đều đã về VN giúp vui văn nghệ cho cán bộ. Thôi thì cũng để cho họ đường kiếm sống vì hải ngoại chẳng ai còn chịu bỏ tiền ra xem. 

Có điều đừng làm phiền lòng chúng tôi về những chuyện tào lao mà báo Việt ở Mỹ loan truyền mấy ngày nay về Elvis Phương( tên của anh nầy gợi nhớ tới Philip Đậu và Mary Phông Tên trong một tác phẩm của Duyên Anh ) tỏ ra không hiếu thảo trong đám tang mẹ mình.

SO WHAT ? WHO CARES ?

Viết nữa về người VN thêm buồn.

*****
Trở lại với HK, thế mạnh của nhân dân đã có nhưng chưa đủ yếu tố để đấu tranh thành công. Nguoi HK cần thêm sự hỗ trợ của thế giới, của các chính quyền luôn luôn đầu môi chót lưỡi bênh vực nhân quyền. Giới chức Công Giáo như Hồng Y Trần Nhật Quân, cộng đồng linh mục, giáo dân cũng đã chọn đứng về phía người dân ( tôi từng ao ước cầu xin VN có được vị lãnh đạo tinh thần như HY Trần Nhật Quân thay vì Bùi V Đọc hay Phạm Minh Mẫn). Anh im lặng, Pháp, Đức và cộng đồng phương Tây cũng theo chân ngậm miệng ăn tiền như chuyện đang xảy ra ở HK không liên quan gì tới họ. Kể cả Giáo Hoàng Francis …

Chỉ duy nhất Tổng Thống Hoa Kỳ Donald J Trump chẳng những lên tiếng mà còn ký sắc lệnh ủng hộ. Dân HK đã tỏ lòng biết ơn bằng cuộc biểu tình vĩ đại với rừng cờ Mỹ. Điều đó chứng minh người Mỹ luôn luôn có mặt sát cạnh với những dân tộc đang sống chết cần được hỗ trợ. Người Mỹ không NÓI, người Mỹ LÀM.

Năm mới 2020 xin hãy cầu nguyện cho những người dám đứng lên bênh vực đồng bào mình bảo vệ đất nước mình và sản sàng đổ máu đến chết để làm điều đó trên toàn thế giới.

Xin Thiên Chúa qua lời cầu bầu của Mẹ Maria và Thánh Cả Giu Se ban mọi ơn lành cần thiết cho đất nước dân tộc VIỆT NAM + HOA KỲ của con và :

ĐẶC BIỆT CHO NHÂN DÂN HONGKONG

Nguoiviettudo
NHỮNG BỨC HÌNH KÈM ĐỐI THOẠI NÓI LÊN HIỆN THỰC CỦA CSVN



























Giọng nói người Hà Nội

Giọng Thanh Lịch Của Hà Nội Không Còn Nữa!

Tiếng nói là sinh mệnh của dân tộc. Không phải phở, nước mắm không còn hay truyện Kiều không còn thì dân tộc mất. Tiếng nói không còn, dân tộc diệt. Phở, nước mắm không còn thì ăn món khác, dù có tiếc nuối nhưng dân tộc vẫn còn. Truyện Kiều không còn thì viết truyện khác, dù tiếc nuối nhưng dân tộc vẫn còn. Mất tiếng nói là dân tộc biến dạng và biến thành một dân tộc khác. Chẳng hạn mai đây toàn dân Việt Nam đều nói tiếng Tàu thì Việt Nam biến thành một tỉnh của Trung Hoa. Nếu 90 triệu dân đều nói tiếng Pháp thì Việt Nam biến thành một “Pháp Quốc Hải Ngoại”. Còn nếu 90 triệu dân đều nói tiếng Anh thì Việt Nam biến thành tiểu bang thứ 51 của Hoa Kỳ hay giống như Phi Luật Tân, Puerto Rico.

Như vậy tiếng nói phải tồn tại cùng với dân tộc. Khi nào dân tộc diệt thì tiếng nói mới bị diệt. Thế nhưng dù tồn tại miên viễn, nó phải tồn tại trong sáng đẹp, có tính văn chương cao và phát âm thanh thoát, rõ ràng. Mỗi một dân tộc có một vùng miền nào đó mà “giọng nói” trở thành tiêu biểu cho cả quốc gia. Chẳng hạn giọng nói của Paris là tiêu biểu cho tiếng Pháp. Giọng Bắc Kinh là tiêu biểu cho tiếng Trung Hoa. Giọng nói của Nữu Ước và California là tiêu biểu cho tiếng Anh ở Hoa Kỳ. Và hiển nhiên giọng Hà Nội trước năm 1954 và giọng Sài Gòn trước 1975 là tiêu biểu cho giọng nói của người Việt Nam.

Thế nhưng không hiểu sao gái Hà Nội bây giờ giọng nói rất nhà quê, lơ lớ, ngai ngái, phát âm không rõ chữ, liến thoắng, cộc lốc, không dịu dàng, không có tiếng “vâng ạ, dạ, thưa” như ngày xưa. Nghe nói trong lúc nói chuyện với nhau, các cô Hà Nội bây giờ, mặt mũi xinh đẹp nhưng ăn nói thô tục kinh hồn. Tôi có ông bạn dược sĩ về thăm Hà Nội cách đây vài năm nói rằng, 

“Nó nói chuyện với mình thì chú chú, cháu cháu ngọt sớt. Quay qua nói chuyện với bạn nó thì thô tục kinh hồn! Không hiểu gia đình, trường học giáo dục nó như thế nào?” 

Nổi tiếng nhất có bà “Bún mắng cháo chửi” ở Đường Ngô Sĩ Liên, đã được đưa lên chương trình truyền hình của đài CNN. Rồi mới đây nhất một bà đại úy công an thuộc Quận Đống Đa, Hà Nội chửi bới thô tục một nhân viên của hãng hàng không tại Phi Cảng Tân Sơn Nhất đã được đưa lên trang tin Sputnik News.

Cả giọng Bắc của các nam/nữ xướng ngôn viên đài VOA, BBC tiếng Việt cũng thế. Cũng liến thoắng, ngai ngái, lơ lớ, phát âm không rõ chữ và thường lên giọng ở chữ cuối cùng, nghe khó chịu vô cùng. Khi đọc diễn văn, đọc một bản tin, nói chuyện mà lên giọng ở chữ cuối cùng thì giống như người Thượng nói tiếng Việt. Những cô gái Thái, Mường, Mèo, Dao nói còn dễ nghe và dễ thương hơn những cô gái này. Sự đổi đời lan rộng ra hải ngoại, tới tận Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn, California và Texas!

Ở đây tôi không viết vì thù ghét. Nếu viết vì thù ghét sẽ không còn trung thực. Một nhà nghiên cứu văn hóa ở trong nước nói rằng tiếng Bắc thì còn nhưng giọng Hà Nội bây giờ không còn nữa. Có rất nhiều nguyên do. Năm 1954, dân Hà Nội di cư vào Nam gần một nửa. Chiếm lĩnh thành phố là dân “bần cố” có công với “cách mạng” cho nên ngôn ngữ ‘bần cố” trở thành ngôn ngữ của giai cấp thống trị và giết chết ngôn ngữ thanh lịch, dịu dàng, văn vẻ của đất “Ngàn Năm Văn Vật”. Lý do thứ hai, có lẽ là để biện minh, rằng thế hệ sau lớn lên nói giọng quê mùa, liến thoắng, lơ lớ như vậy là vì các chị vú em, người giữ trẻ cho con nhà “cán bộ” từ vùng quê nghèo khổ kéo về, không được học hành cho nên tiếng nói nó mới “đổi đời” như thế.

Một giọng nói muốn trở thành mẫu mực cho đất nước, bất kể Nam-Trung-Bắc phải hội đủ những điều kiện như sau:

1) Phát âm đúng, không ngọng nghịu, ngai ngái, lơ lớ như lai Tây, lai Tàu, lai Mỹ. Tôi đã có dịp hỏi nhạc sĩ Phạm Duy điều kiện để trở thành danh ca. Phạm Duy nói rằng điều quan trọng nhất là phát âm phải đúng. Thí dụ, “buồn” không thể phát âm thành “buồng”, “tuổi” không thể phát âm thành “tủi”, “hoàng hôn” không thể phát âm thành “hoàn hôn”, “mỏi mòn” không thể phát âm thành “mõi mòn”, “nỗi lòng” không thể phát âm thành “nổi lòng”, “hỏi han” không thể phát âm thành “hõi hang”, “lãng đãng” không thể phát âm thành “lảng đảng”, “điện thoại” không thể phát âm thành “điện thọi”, “lan” không thể phát âm thành “lang”. Tiếng Việt không có âm “shờ”, “chờ” uốn cong lưỡi như tiếng Anh. Cô/cậu/ông/bà/cụ… ca sĩ nào hát những chữ như “anh mong chờ”, “chiều về”, “đêm nay thu sang”…mà uốn cong lưỡi, đều không phải là danh ca, dù hát hay thế nào đi nữa. Theo nhạc sĩ Phạm Duy thì Thái Thanh và Lệ Thu là hai người phát âm giọng Bắc đúng nhất.

2) Nói với tốc độ (speed) vừa phải, không liến thoắng, để người nghe kịp hiểu mình nói gì. Vào xem các chương trình phóng sự ở Việt Nam và VOA, BBC nhiều khi các cô/cậu phóng viên nói một thôi một hồi mà tôi không hiểu các cô/cậu nói gì vì giọng liến thoắng, chữ líu vào nhau và nhanh quá! Xin nhớ cho, nước Mỹ này hơn 300 triệu dân, ai cũng học hành giỏi giang cả, nhưng để tuyển xướng ngôn viên đài truyền hình có giọng nói hay thì chỉ có vài trăm cô. Đất nước Việt Nam 90 triệu dân, nhưng để tuyển xướng ngôn viên đài truyền hình, đài phát thanh có giọng nói như Miền Nam thuở xưa, chưa chắc đã tìm ra một người. Cứ thử mở các băng ghi âm cũ của các chương trình phát thanh hay truyền hình của Miền Nam xưa, xem có đúng như vậy không?

3) Âm lượng vừa đủ, không lớn quá, không lí nhí, không the thé.

4) Phải có chút trầm bổng, không đều đều, buồn tẻ để hấp dẫn người nghe và dĩ nhiên không nhà quê. Phải biết ngắt câu đúng nơi, đúng chỗ, vừa để mình thở để lấy hơi, vừa để người ta hiểu mình nói gì.

5) Không được cộc lốc, gằn, chấm dứt câu đột ngột làm như muốn mắng chửi người ta. Thật lạ lùng! Miền Bắc bây giờ khi nói chuyện, đọc bản tin hoặc đọc diễn văn, trả lời phỏng vấn… mọi người đều ”lên giọng” ở chữ cuối cùng, nghe khó chịu vô cùng, giống như đồng bào Thượng ở Kontum, Pleiku nói tiếng Việt. Trong ngôn ngữ, chỉ ở thể “mệnh lệnh cách” hoặc “câu hỏi” người ta mới “lên giọng” ở chữ cuối cùng. Có lẽ do lối đọc diễn văn nhát gừng, kích động của Ô. Phạm Văn Đồng mấy chục năm về trước hoặc lối đọc diễn văn, tuyên truyền dưới thời Mao Trạch Đông cho nên cả nước “học tập” và bắt chước theo khiến di họa cho tới ngày nay.

6) Phải có những tiếng như “dạ”, “thưa ”, “vâng” trong câu nói để chứng tỏ sự lịch sự của mình. Trong một chương trình truyền hình của VTV3, phỏng vấn một bà nguyên là đại sứ tại Liên Hiệp Quốc của đất nước mình mà gọi bằng “chị” thì thật vô lễ, bất lịch sự quá đỗi. Bắt buộc phải nói, “Thưa bà đại sứ” hoặc “Thưa bà giáo sư”. Không có chuyện “chị em” ở đây. Đó là phép lịch sự tối thiểu.

7) Dĩ nhiên là phải có học để lựa chọn những từ ngữ thanh tao, tránh những từ ngữ thô lỗ, đường phố. Điều này phải nhờ giáo dục học đường mà còn cả giáo dục gia đình nữa. Thí dụ; Một con nhà có giáo dục sẽ không nói, “Mày câm cái mồm mày lại!” mà có thể nói, “Ông/bà/anh chị, em …mà cứ nói như vậy thì câu chuyện sẽ trở nên khó khăn hơn.” Hoặc “Ông/bà/anh chị/em không nên nói như vậy.” Ngoài ra phải có những câu như “xin lỗi”. Chẳng hạn, “Xin lỗi, chúng tôi phải chấm dứt chương trình vì đã hết giờ.” hoặc “Xin lỗi, tôi ra ngoài một chút.” “Xin lỗi” ở đây không có nghĩa là mình có lỗi, mà là lối nói lịch sự. Các câu “ I am sorry” , “Excuse me, “Thank you” luôn luôn được thốt ra từ cửa miệng người Mỹ.

Thú thực, xem các đoạn phim phóng sự sinh hoạt của các cô gái Thái, Mèo, Mường ở Lai Châu, Lào Cai tôi lại thích giọng nói của các cô này hơn là giọng nói của các cô gái Hà Nội chỉ vì họ nói dịu dàng, nhỏ nhẹ, không liến thoắng và giọng thì không nhão, ngai ngái. Hầu hết các cô/cậu làm phóng sự đều ở tuổi đôi mươi, nhưng không bao giờ nói được câu “quý vị” trong khi những người xem có thể đáng tuổi ông nội, chú bác, cô dì…của họ …mà chỉ dùng các chữ như “các bạn”, “các bạn nhé!” khiến gây khó chịu cho người nghe. Đây không phải lỗi của các phóng viên mà lỗi ở chủ nhiệm, chủ biên, giám đốc các đài truyền hình, trình độ giáo dục quá kém, không biết thế nào là lịch sự, lễ phép đối với khán-thính giả.

Ngay cả giọng nữ của những phát ngôn viên đài truyền hình lớn nhất của Sài Gòn, mặt mũi tuyển chọn rất xinh đẹp nhưng giọng Miền Nam lại vô cùng quê mùa. Nó không phải là giọng nói thanh lịch của những nữ sinh Gia Long, Trưng Vương, Marie Curie của Sài Gòn năm xưa, mà nó là giọng quê mùa của các cô gái từ Củ Chi, Cà Mau, Châu Đốc, Đồng Tháp Mười mới lên Sài Gòn. Thật đau buồn! Trong khi giọng nói của các cô gái Nam của các chương trình phát thanh thương mại ở Nam, Bắc Cali, Hoa Thịnh Đốn thì lại sang và trí thức biết là bao nhiêu. Cứ thử thu băng rồi đem về cho cả nước nghe rồi so sánh xem có đúng như vậy không.

Tôi không bao giờ có ý nghĩ khinh thị các cô gái nói giọng quê mùa. Tại Mỹ này cũng có những giọng nói quê mùa của những vùng như Texas, Alabama và North Carolina…Họ là những con người dễ thương, không có gì chê trách. Nhưng khi tuyển một xướng ngôn viên tiểu biểu thì phải tuyển các cô/cậu có giọng nói trí thức, có học, sống ở nơi đô hội. Ở Mỹ này họ thường tuyển chọn xướng ngôn viên theo giọng nói của Nữu Ước, California. Cũng giống như thi hoa hậu thì phải tuyển cô đẹp. Tuyển cô xấu mà nói là “hoa hậu” thì người ta “mắng” cho. Xin nhớ, tuyển cả ngàn cô gái đẹp rất dễ. Nhưng tuyển một cô có giọng nói đúng giọng, sang, trí thức, mẫu mực, dễ nghe, …thì cả ngàn cô, chưa chắc đã tuyển được một cô. Có cả trăm loài chim, nhưng chim hót hay chỉ có vài con.

Tôi còn nhớ, có lẽ khoảng 1964-1965, khi Miền Nam bắt đầu có chương trình truyền hình. Đài Sài Gòn tuyển và thí nghiệm ba giọng đọc Nam, Bắc và Huế cùng lúc. Nhưng chỉ sau vài lần, phải bỏ giọng Huế. Dĩ nhiên là giọng Huế rất dễ thương. Nghe các cô ở Sông Hương, Núi Ngự nói chuyện thì “mê” lắm. Nhưng nghe các cô đọc một bản tin trên đài phát thanh hay đài truyền hình thì nó “nặng”quá. Cho nên giọng Huế không thích hợp cho các xướng ngôn viên, hướng dẫn chương trình, quảng cáo, văn nghệ v.v…

Hiện nay tình trạng ngôn ngữ đổi đời lan ra hải ngoại nguyên do chỉ vì các báo ở hải ngoại , các đài phát thanh, truyền hình, cá nhân tuy chửi rủa trong nước đủ điều nhưng lại đua nhau chuyến tiếp/forward và đăng “nguyên con” trên “báo chợ” trên các Diễn Đàn Yahoo Groups các bản tin, bài viết trong nước, nhất là hai trang tin VOA và BBC Việt Ngữ. Chính vì thế ngôn ngữ đổi đời, ngôn ngữ bát nháo, giọng nói ngọng, ngai ngái, lơ lớ đang trở thành ngôn ngữ chính thống ở hải ngoại. “Buồn ơi chào mi”!

Sống không phải chỉ là miếng ăn ngon, quần áo đẹp, xe đắt tiền, iPhone, iPad, tháng nào, chỗ nào, hang cùng ngõ hẻm nào cũng thi hoa hậu, tuyển lựa ca sĩ…(tất cả những thứ này chỉ là văn nghệ, không phải là văn hóa và có khi phản văn hóa) mà cần có nghệ thuật, văn chương và văn hóa. Tiếng nói là bộ phận sống còn của một dân tộc. Tiếng nói thanh tao, lịch sự, lễ độ, mẫu mực, dễ nghe biểu tỏ một trình độ văn hóa, giáo dục cao và một cuộc sống đẹp. Mất nó, hay tiếng nói còn đó mà thô tục, bát nháo, thiếu lễ độ là biểu tỏ một xã hội suy đồi, hư đốn.

Không thể phủ nhận, tiếng Bắc giọng Hà Nội trước 1954 và tiếng Nam giọng Sài Gòn 1954-1975 là tiêu biểu cho giọng nói của hai miền Nam-Bắc. Giọng Bắc Hà Nội thanh lịch, dịu dàng, văn vẻ. Giọng Nam Sài Gòn, tình cảm, mặn mà, chân thật, dễ thương, chậm rãi, dễ hiểu.

Ôi, thèm làm sao tiếng nói dịu dàng, thanh thoát, lịch sự, văn vẻ của Hà Nội và cả giọng nói rất trí thức của Sài Gòn năm xưa, mà nay:

Tạo hóa gây chi cuộc hý trường.
Đến nay thấm thoát mấy tinh sương.
Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo.
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt.
Nước còn cau mặt với tang thương.
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ.
Cảnh đấy, người đây luống đoạn trường.
(Thăng Long Hoài Cổ của Bà Huyện Thanh Quan)

Không biết tới bao giờ giọng nói thanh lịch của đất “Ngàn Năm Văn Vật” sống lại ở Việt Nam đây? Có lẽ nó đã bị hủy diệt mất rồi!

Đào Văn Bình

(California ngày 24/12/2019 đã đăng trên tạp chí Văn Chương)

Blog Archive