Thursday, July 2, 2015

Đừng nghe những gì Cộng sản nói...

Lê Bá Dũng
Khi đọc đến những chữ trên, các bạn sẽ nghĩ là chưa chi đã đến một kết luận “cổ điển”, lấy từ “một câu nói xa xưa”. Không phải như vậy! Đó là vài chữ mở đầu còn kết luận sẽ dành riêng cho các bạn, sau khi đọc vài ba câu chuyện sau đây.

Trước 1975, nếu có nhiều dịp di chuyển trên Quốc lộ từ Sài gòn ra miền Trung, khoảng từ Thủ Đức đến Long Khánh, bên tay trái, bạn sẽ thấy một đồn điền trồng cam mênh mông với cái biển đề: Đồn điền Bàu Cá.
Chủ nhân là ông N.H. Đ. Bác Đ là bạn của cha tôi. Cả hai ông bà Đ có đầu óc kinh doanh nên sau 30 năm là sở hữu chủ đồn điền trên. Tuy Bác không phải là Kỹ sư Canh nông nhưng với tinh thần học hỏi từ sách báo ngoại quốc, bên cạnh khả năng tổ chức quản lý, bác đã làm nên một đồn điền có quy mô quốc tế. Có những dãy nhà sửa xe, máy ủi, máy khoan đất, trạm bơm xăng dầu, vân vân. Vào mùa nắng khô, máy bơm nước hoạt động để bơm nước tưới từ một con suối. Vào thời ấy tôi nghe nói có một đoàn Chuyên viên Nông nghiệp Do Thái đến thăm Việt Nam. Bộ canh nông Việt Nam đã dẫn đoàn Chuyên viên này đi thăm đồn điền cam của Bác, như một đồn điền cam kiểu mẫu của miền Nam.

Sau 1975, nhà cầm quyền Cộng sản mời bác lên “làm việc”. Họ nói “Đảng và nhà Nước không động đến cây kim sợi chỉ của Nhân dân. Ông hãy thành thật khai báo thì sẽ hưởng được chính sách khoan hồng. Chúng tôi chỉ cần kiểm chứng, cấp cho ông một tháng lương thực (có lẽ gạo 15 kí lô, cá khô) và dụng cụ, cuốc xẻng, cưa, vân vân. Xem ông trong một tháng khai phá rừng được bao nhiêu diện tích để so sánh với các đồn điền bao la này. Đây chắc chắn là xương máu của Nhân dân, ông bà có 3 ngày để suy nghĩ.”

Ít hôm sau, bác Đ đến gặp “đầy tớ nhân dân” và xin ký tên hiến toàn bộ đồn điền cho đám cướp này.

Về sau, tôi nghe nói bọn chúng chặt phá hết số cam vì cho là loại “ăn chơi” và trồng lại bo bo, khoai mì. Sau 3 - 4 năm, dưới sự điều hành của họ, tổng kết thu hoạch lúc nào cũng bị lỗ lã, cuối cùng họ tự phê bình:
“Cả một tập thể Kỹ sư có, chuyên viên có, công nhân viên có, công nhân thì nhiều, mà không làm được như ông Đ”.
Hơn một năm sau ông Đ được qua đoàn tụ với gia đình tại Pháp. Khi tôi sắp đi Mỹ theo chương trình H.O có gặp lại ông ấy ở Sài gòn. Ông đã quá già, sống tạm trú trong một căn nhà nhỏ cất cạnh một Villa 3 tầng, mà lúc trước Villa này chính là tài sản của ông (đã bị tịch thu).

Bây giờ tôi xin kể một câu chuyện khác về nơi trú quán cũ ở Phan Thiết - đôi lúc gọi là Phan Thành cho có vẻ thân thương - Trước 1975, ai ở đó đều biết khách sạn Anh Đào, là nơi hội tụ của 6 con đường. Trước khách sạn đó có một tiệm tạp hóa lớn, bán sỉ và lẻ. Chủ nhân làm ăn phát đạt nên đã xây dựng nên một cơ ngơi 3 tầng lầu.

Sau 1975, có lệnh đổi tiền cũ VNCH ra tiền “XHCNCS”, bất mãn vì không thể nào đổi hết tất cả được, ông chủ đó bèn đem nguyên một bao tiền lên lầu và vung vải cho số tiền cũ theo gió bay tứ phương. Ông bị Cộng sản bắt nhốt vài ngày, sau đó thả ra. Tiếp theo là đợt đánh tư sản, cả nhà ông bị dồn vào phía sau trong vài phòng chật hẹp, để phần trước “được nhà nước quản lý” mở một cửa hàng bách hóa tổng hợp bán lẻ. Cả gia đình ẩn nhẫn sống như vậy. Ngày kia có một tên cán bộ CS đến thuyết phục ông nên mở một nhà máy sản xuất thức ăn gia súc vì “để vàng quý kim làm gì, mà nên giúp đỡ địa phương gia tăng sản xuất, nhất là nuôi gia súc, đây là công rất lớn với Cách mạng.” Sau một thời gian suy nghĩ ông cũng đã chấp hành.

Rồi nhà máy được xây dựng nên ở vùng Vĩnh Thủy trên đường ra Mũi Né. Ông được phong làm Giám đốc nhà máy, dưới ông có một ban bệ do Cộng sản đặt ra để “phụ tá” mà kỳ thực là nắm hết quyền hành. Nghe nói ông đã tặng cho tên Cán bộ ưu ái, người khuyên ông lập nhà máy một chiếc xe Honda mới tinh mà ông còn dấu được sau 1975.

Hoạt động đâu được khoảng 4 năm thì một buổi nọ, đám Cán bộ Cộng sản tuyên bố “ông đã quá già, do đó nên nghỉ hưu, mỗi tháng sẽ có người mang tiền phụ cấp hưu bổng đến cho ông, từ nay về sau ông khỏi cần ra nhà máy nữa”

Cũng hay thật, đám Cộng sản đã điều nghiên ai là kẻ có tiền rồi khuyến khích họ bỏ vốn kinh doanh làm thứ này thứ nọ. Nghe theo lời đường mật, làm cho Cộng sản được việc rồi thì bị bọn chúng phủi tay sau khi lột hết sạch. Sau này những anh Việt kiều cũng vì lòng tham, đem tiền vàng về mở cơ sở này kinh doanh kia. Cả đám hoặc ôm đầu máu cao bay xa chạy, hoặc nằm rục trong khám tù để mà tự suy gẫm vì chưa sáng mắt sau một thời gian dài sống dưới chế độ Cộng sản.

Bây giờ qua đến giai đoạn tôi ở tù về, cũng có nhiều chuyện hay. Trước khi được thả ra, làm qua quýt để sống, một hôm tôi được điều đi làm “Nghĩa vụ lao động” cho nhà nước tại Đức Linh, phải mang gạo và thức ăn đi theo. Sau khi được xe đưa lên vùng này, mỗi ngày phải làm 8 giờ và cũng phải làm đủ chỉ tiêu của cán bộ vạch ra.

Một hôm nhân đi qua một đám nền nhà cháy đen, tôi được biết thêm “chuyện dài XHCN” như sau. Một anh người Việt gốc Hoa đã đưa gia đình lên đây do chính sách lùa dân đi Kinh tế mới. Anh ấy cũng là người khéo xoay xở nên đã về Sài gòn mua ngay một cái máy xay xát nhỏ để làm kế sinh nhai. Với cái máy ấy, mỗi ngày anh ta có thể xay nát các loại khoai mì, bắp khô, hay bo bo cho dân chúng quanh vùng. Ít lâu sau, chính quyền sở tại gọi anh lên và phán: “Anh mua cái máy này bao nhiêu? Anh đã thu được mỗi ngày bao nhiêu tiền? Bây giờ anh đã lấy lại quá số vốn cũ bỏ ra rồi phải không. Nhà nước nay cho anh vào làm hợp tác, tất cả số khoai mì khô, bo bo, bắp khô sẽ được nhà nước phân bố để anh lao động mỗi ngày. Khi nào dân quanh vùng cần xay xát và có giấy tờ, anh xay xát cho họ theo chỉ tiêu, nhà nước sẽ thu tiền từ người dân, anh sẽ xay xát theo giấy ghi số lượng kèm theo. Hàng tháng anh sẽ được lãnh lương như Công nhân viên.”

Sau một thời gian nhẫn nhục làm việc với số lương chết đói, anh người Việt gốc Hoa này quá chán nản đã tự châm lửa đốt cái lều có máy xay xát đó. Hôm sau anh lên Xã báo cáo, lúc khuya có lẽ mèo nhảy, nên dầu đổ đã làm cháy lều xay xát. Xã phán: Anh hãy về lo thu dọn “cơ sở” làm ăn của anh. Anh trở ra, gom lại đống tro tàn rồi về Sài gòn bán rẻ cho người khác.

Trong thời gian tôi bị ở tù, đang ở trong nhà 7 của khu tạm giam trước khi lên trại cải tạo. Một hôm, có một ông được đưa vào phòng tôi từ khu biệt giam. Sau vài lần trò chuyện ông thổ lộ: Là chủ nhân một nhà máy làm gạch bông lát nền nhà, sau 75 ông được tiếp tục công việc với hợp đồng. Nhà nước giao xi măng, cát, bột màu. Mổi đợt, cứ bao nhiêu vật liệu được cung cấp, ông sẽ giao sản phẩm và nhận tiền thanh toán.

Khoảng 3 năm sau, một đám Công an CS ập vào nhà, bắt trói và dẫn ông đi tù với tội danh “Chiếm đoạt tài sản XHCN”, là xi măng của nhà nước, Ông cố gắng giải thích về số lượng đã nhận, số lượng sản phẩm đã giao. Sở dĩ có sự sai biệt vì số cát nhà nước giao có lẩn đá, sạn phải sàng sảy ra và bỏ riêng một đống sau nhà máy. Dân quanh vùng đến xin để rãi trong sân họ, ông cho đi ví sạn đá chẳng làm gì. Mặc dù ông cố mà nói bao nhiêu, chả ai tin ông, ông bị đưa vào khu biệt giam, phần ăn hằng ngày là cơm độn sắn, khoai cùng nước muối.

Sau khi bị giam 3 tháng, ông được đưa ra khu nhà 7 nơi tôi đang ở, rồi đồng ý giao toàn bộ tài sản, nhà máy cho “nhà nước quản lý”.

Ông nói:

- “Tôi nản quá rồi, mong được thả về với gia đình sống qua ngày, mắc võng nằm giữa hai hàng cây cũng được. Phải chi mấy ổng nói với tôi sớm, đoạt hết tài sản trước khi tống tôi vào trại giam, thì tôi đồng ý phứt cho rồi.”

Tôi nói:

- “Tôi nghĩ trước khi tống vô trại giam mà họ đòi tịch thu nhà máy của ông, ông sẽ không bao giờ đồng ý đâu.”

- “Chú nói phải.” Ông trả lời.

Vài ngày sau, họ gọi vợ con ông đến cùng ngồi một bên, trước mắt để một số giấy tờ “làm bằng”, rồi chụp hình, họ biểu vợ chồng ông ký giấy đồng ý hiến cho nhà nước nhà máy xi măng. Hai ngày sau, ông được thả. Trưóc khi ra trại ông gặp tôi chào và chúc nhau may mắn.

Trong thời gian tù này, có hôm tôi đi lao động xuyên qua một con sông nhỏ. Phương tiện qua sông là một chiếc canot nhỏ do một anh người Việt gốc Hoa làm ra khi mới lên vùng Kinh tế mới này. Chiếc canot chạy bằng một hệ thống dây cáp kéo từ hai bên bờ. Anh chỉ thâu tiền dân qua lại trên sông. Cán bộ hay tù nhân thì được miễn. Sau một thời gian anh bị chính quyền gọi lên xét hỏi. Cũng vẫn các bài bản cũ. Mua bao nhiêu tiền. Chi phí làm ra bao nhiêu. Thâu mỗi ngày bao nhiêu. Và phần kết như mọi người đều biết là anh đã thu hơn số tiền đã bỏ ra làm hệ thống canot ấy. Anh được phán: kể từ nay, anh là Công nhân viên nhà nước, ai có giấy trả tiền thì anh đưa qua. Hằng tháng anh sẽ lãnh lương theo biên chế nhà nước.

Kể từ ngày đó, có một bàn giấy kế mé sông bán vé cho người qua lại do “chánh quyền” thâu tiền. Một đêm kia, trời mưa lớn, anh bảo thằng con đi một đoạn xa phía dưới khúc sông để chực đón chiếc canot, còn anh ra chặt đứt dây cáp cho trôi thuyền. Hôm sau lên báo cáo xã, trời mưa, nước lớn cuốn canot trôi mất.

Lúc tôi về Long Xuyên, sau khi gở hơn 5 cuốn lịch, gặp thời phải “tòng thê”, để tránh mưa khi trời giông bảo, tôi đi làm trong một tiệm đông y, nhiệm vụ là đi mua thuốc trước trả sau, hốt thuốc. Có hôm trong khi chờ đợi lấy thuốc, có người khách già ngồi kể chuyện:

Trước 1975 ông là Giáo viên ở một vùng gần Long Xuyên, sau 30 năm làm việc, có được mái nhà tươm tất, sắm cho vợ con ít nữ trang. Theo tuyên truyền, Nhân dân không nên giữ quý kim như vàng bạc trong nhà, chính quyền sẽ tịch thu. Cần nên ký gửi cho nhà nước, khi có việc cần thì đến lấy ra.
Nghe lời, ông đem toàn bộ nữ trang gởi cho nhà nước và được cấp cho một tờ giấy làm bằng. Lúc đứa con Út lập gia đình, ông cần số nữ trang và tiền làm hôn lễ, đến gặp chính quyền, họ chỉ cho ông từ người này qua người nọ, cơ quan này đến cơ quan nọ, ngồi chầu chực từ sáng đến chiều, cả hơn 30 lần mà không được giải quyết, ông chán quá rồi bỏ luôn.

Đến đây thì quý bạn đã tự nghĩ ra câu kết luận cho bài này. Tôi chỉ xin tiếp theo một câu cho bài viết có vẻ đậm đà: “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.”

Lê Bá Dũng

Wednesday, July 1, 2015

Hữu Nguyên Phỏng vấn Ông Lê Phụng về Nghị Quyết 36 VC 

Cuối tháng 5 và suốt tháng 6.2015, toàn bộ mạng lưới lãnh đạo đảng, chính quyền và truyền thông VC, từ trung ương đến địa phương, trong nước cũng như hải ngoại, đều thi nhau học tập và phổ biến "chỉ thị số 45-CT/TW" do Bộ Chính trị VC ban hành, với nội dung then chốt: "Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Nghị Quyết 36 đối với người Việt ở nước ngoài trong tình hình mới". 

Để có thể góp phần nhỏ bé trong việc đối phó với âm mưu, thủ đoạn của VC, sau đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cùng Quý vị, bài phỏng vấn ông Lê Phụng, đăng trên báo Saigon Times Úc Châu ngày 8.4.2004, ngay sau khi VC ban hành Nghị Quyết 36. 

Hy vọng, qua bài phỏng vấn cách đây 11 năm, cùng với những gì đã xảy ra trong cộng đồng người Việt hải ngoại suốt thời gian qua, Quý vị sẽ thấy rõ, chính sự thâm độc của VC, ĐÃ VÀ TIẾP TỤC LÀ NGUYÊN NHÂN, gây nên tình trạng bạn thù "sớm nắng chiều mưa", cùng sự phân hoá và băng hoại của một cá nhân, tổ chức, trong cộng đồng người Việt hải ngoại. 

LGT: Trước khí thế đấu tranh ngày càng lớn mạnh, cùng những chiến thắng vô cùng ý nghĩa qua chiến dịch Vinh Danh Cờ Vàng của cộng đồng người Việt tại Mỹ, và chiến dịch chống VTV- 4 của cộng đồng người Việt tại Úc trong thời gian gần đây [2004], tà quyền VC đã nhận ra sức mạnh to lớn của cộng đồng người Việt hải ngoại, và nguy cơ của chế độ trước làn sóng đấu tranh giành tự do dân chủ đang dồn dập đổ vô VN từ khắp nơi trên thế giới. Nhằm cứu nguy chế độ, ngày 26 tháng 3 vừa qua, VC đã cho công bố Nghị Quyết 36 do Phan Diễn ký. 

Theo lời ông Lê Phụng, Phan Diễn là một trong hai người con trai của Phan Thanh, người đầu tiên do đảng cộng sản Đông Dương giật dây ra tranh cử và đắc cử Viện dân biểu Trung Kỳ vào năm 1937. 

Chính thời đó, cụ Ngô Đình Diệm và cụ Ngô Đình Khôi đã nhận ra chân tướng VC của Phan Thanh. Riêng Phan Diễn, người được mô tả là nham hiểm, nét mặt thâm trầm, lông mày cúp, có tướng gian thần. Trước đây Phan Diễn từng là bí thư thành uỷ Đà Nẵng, và hiện y có chân trong Ban bí thư và là Trưởng ban chỉ đạo trung ương đảng VC. 

Để có thể hiểu được phần nào âm mưu của VC đối với cộng đồng người Việt hải ngoại qua Nghị Quyết 36, Sàigòn Times xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả bài phỏng vấn Ông Lê Phụng, được thực hiện vào tối Thứ Hai, 5.4.2004 [...]. 

SGT: Kính thưa ông Lê Phụng, ngày 26 tháng 3 vừa qua, Bộ chính trị VC đã cho công bố Nghị Quyết 36 để đặc biệt đối phó với người Việt hải ngoại. Ông đánh giá Nghị Quyết này như thế nào? 

Ông L.Phụng: Thưa ông, nguyên văn tên của nghị quyết này là “Nghị quyết số 36-NQ/TƯ về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”, do Phan Diễn, Uỷ viên bộ chính trị VC ký vào ngày 26/3. Nghị quyết này chỉ là một trong những bước VC đã thông qua trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX và Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành TƯ lần thứ 7 khoá IX. Như vậy có nghĩa, Nghị quyết 36 chỉ là bề nổi, mang nội dung tuyên truyền, mỵ dân, đánh lừa dư luận trong nước cũng như hải ngoại. Còn thực chất bên trong, ta phải hiểu, Nghị quyết 36 là bước đi kế tiếp của VC trên con đường theo đuổi mục tiêu lũng đoạn, thao túng cộng đồng người Việt hải ngoại, để bóc lột tối đa chúng ta trên 3 phương diện chính yếu: Kinh tế, trí tuệ và ảnh hưởng chính trị của chúng ta đối với quốc gia sở tại. 

Để hiểu rõ hơn điểm này, tôi xin thưa là trong buổi phỏng vấn vào cuối tháng 3 vừa qua, do phóng viên Cẩm Hà của báo Tuổi Trẻ ở Việt Nam thực hiện, Nguyễn Phú Bình, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao VC kiêm chủ tịch cái gọi là “Chủ nhiệm Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài”, cũng đã lên tiếng thú nhận, “đây là lần đầu tiên một nghị quyết toàn diện về công tác người Việt ở nước ngoài được phổ biến công khai”. 

Qua lời thú nhận của Nguyễn Phú Bình, ta đủ thấy, trước đây, những cái gọi là “nghị quyết về công tác người Việt ở nước ngoài” của bộ chính trị VC đã có, và có rất nhiều, nhưng chúng được phổ biến bí mật. Còn riêng lần này, thì VC cho phổ biến Nghị quyết 36 công khai. Vì vậy, tuy Nghị quyết 36 của VC được “phổ biến công khai lần đầu tiên”, nhưng thực chất, nó là bước tiếp nối của đường lối bành trướng của VC tại hải ngoại. Nói cách khác, trên bề nổi, Nghị quyết 36 có vẻ là bước ngoặt chiến lược của CS. Nhưng bề chìm, ta phải thấy nó chỉ là bước ngoặt chiến thuật nằm trong đường lối chiến lược của VC là nhuộm đỏ cộng đồng người Việt hải ngoại, mà ta đã biết từ lâu. 

Và trong đấu tranh với CS, tôi nghĩ là chúng ta phải có đủ khả năng, nhìn xuyên qua những gì kẻ thù “phổ biến công khai” để thấy được, những âm mưu mà kẻ thù muốn che giấu, cũng như những gì kẻ thù VC đang âm thầm làm. 

SGT: Nếu ông cho đây là bước ngoặt chiến thuật của VC, thì nguyên nhân nào khiến VC phải áp dụng bước ngoặt này? 

Ông L.Phụng: Tôi nghĩ nguyên nhân đầu tiên là do lòng tham không đáy của VC. Cụ thể là về kinh tế, VC muốn người Việt hải ngoại phải gửi tiền về Việt Nam nhiều gấp bội so với hiện nay. 

Như ông đã biết, hiện nay [theo thống kê năm 2003] số tiền người Việt hải ngoại gửi về Việt Nam trung bình mỗi năm trên dưới 3 tỷ Mỹ kim. Đây là số tiền khổng lồ so với ngân sách của VC. Nhưng số tiền này chỉ bằng phần rất nhỏ so với tổng lợi tức trên dưới 50 tỷ của cộng đồng người Việt hải ngoại. VC biết rõ số tiền khổng lồ này nên chúng muốn trong những năm tới, phải tìm mọi cách để gia tăng gấp bội số tiền người Việt hải ngoại gửi về Việt Nam. 

VC cũng biết là số tiền khổng lồ người Phi Luật Tân ở hải ngoại gửi về nước mỗi năm chiếm 35% tổng số lợi tức của họ, nên VC tính toán phải tìm đủ cách để trung bình mỗi năm người Việt hải ngoại cũng phải gửi về VN từ 20% cho đến 30% tổng số lợi tức 50 tỷ đó. Nghĩa là thay vì VC chỉ nhận được mỗi năm 3 tỷ như hiện nay, VC muốn mỗi năm người Việt hải ngoại phải gửi cho chúng từ 10 tỷ đến 15 tỷ. 

Còn về đầu tư của người Việt hải ngoại tại Việt Nam thì có thể nói là cho đến nay, con số đó rất ít ỏi, và VC đã nhận ra sự thất bại của họ trong lĩnh vực này nên Nghị quyết 36 của chúng chính là nhằm giải quyết những thất bại của chúng trong đầu tư. 

Nguyên nhân kế tiếp là VC muốn thông qua Nghị quyết 36, tạo cho người Việt hải ngoại, nhất là thành phần khoa bảng, trí thức, có ảo tưởng là họ sẽ có được cơ hội đầu tư trí tuệ tại Việt Nam để phụng sự đất nước và dân tộc. Những ai mắc vô ảo tưởng này sẽ bị VC lợi dụng tiền bạc và trí tuệ của họ ngay tại quốc gia sở tại, VC sẽ biến họ trở thành một động lực chính trị, hậu thuẫn cho VC trong các mối bang giao song phương cũng như đa phương trên thị trường quốc tế.

Những năm trước đây, VC đặt trọng tâm khai thác người Việt hải ngoại trên phương diện kinh tế thuần tuý và trực tiếp qua việc gửi tiền và đầu tư tại VN. Nhưng trong bối cảnh mở cửa bang giao với quốc tế hiện nay, VC nhận ra sức mạnh vô cùng to lớn của cộng đồng người Việt hải ngoại nếu chúng buộc được cộng đồng đó hậu thuẫn cho chúng. Chính trong phần nhận định về người Việt Nam ở hải ngoại, Nghị quyết 36 đã nêu rõ, tôi xin được trích nguyên văn ở đây: 

“Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có tiềm lực kinh tế nhất định, có mối quan hệ với nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nước ngoài và quốc tế, có khả năng tìm kiếm đối tác và làm cầu nối với các doanh nghiệp, tổ chức trong nước. Nhiều trí thức có trình độ học vấn và chuyên môn cao; một số người giữ vị trí quan trọng trong các cơ quan, cơ sở nghiên cứu, đào tạo, các công ty và tổ chức quốc tế, có khả năng tạo dựng quan hệ với các cơ sở kinh tế, khoa học ở nước sở tại.” 

Qua đoạn tôi vừa trích, ta thấy VC đã nhìn thấy sức mạnh chính trị của người Việt hải ngoại, nhất là thành phần trí thức, và VC cũng nhận thấy, nếu để thành phần trí thức này về VN thì không có lợi cho VC bằng để họ lại ở hải ngoại. 

Nhưng để có thể nắm được thành phần trí thức tại hải ngoại thì VC phải dùng tới miếng mồi quốc gia, dân tộc, tình đồng hương, đồng song, và những đói khổ của người Việt trong nước phải được VC bi thảm hoá tối đa. Có như vậy chúng mới đánh thức được những tấm lòng cao thượng của trí thức VN hải ngoại và lôi kéo được họ. 

Và nếu để ý một chút, ta sẽ thấy đúng như quý báo đã có lần đề cập cách đây không lâu, là mấy năm gần đây, có một số nhà khoa bảng của người Việt hải ngoại đã viết bài, vận động hành lang, hậu thuẫn cho VC những khi VC có xung đột giao thương với quốc gia nơi có người Việt cư ngụ, tỷ dụ như tranh chấp với Mỹ về cá basa, về tôm đông lạnh, hay VC kiện một số công ty Mỹ đòi “bồi thường về hậu quả” của chất độc da cam (agent orange) trong thời gian gần đây chẳng hạn. 

Nhưng đó chỉ là hiện tại. Tương lai, VC tính toán một khi chúng nắm được cộng đồng người Việt hải ngoại, chúng sẽ buộc cộng đồng chúng ta phải vận động chính quyền sở tại hậu thuẫn cho những buôn bán có lợi cho VC. Những vận động này sẽ được VC sử dụng qua nhiều hình thức kể cả việc buộc người Việt hải ngoại biểu tình hậu thuẫn cho VC. 

Tôi nói vậy là có cơ sở vì năm ngoái, ở Mỹ, chính toà đại sứ VC đã có dự tính vận động một số người Việt làm ăn với VC tổ chức cuộc biểu tình chống lại chính quyền Mỹ để bảo vệ thị trường cho cá basa của VC nhập cảng... 

Nguyên nhân thứ ba khiến VC phải cho công bố Nghị quyết 36 là do những thất bại của VC trong việc xâm nhập vô cộng đồng người Việt hải ngoại. Nửa thế kỷ trước, ở Việt Nam do trình độ dân trí thấp, hoàn cảnh đất nước bị ngoại xâm, cùng những hậu thuẫn của quốc tế CS, nên VC chỉ mất có 10 năm để cướp Miền Bắc, và 20 năm để cướp Miền Nam. 

Vậy mà từ 1975 đến nay [2004] đã gần 30 năm, trong khi VC chúng có cả một guồng máy chính quyền, công an, quân đội, tiền bạc bóc lột được của 80 triệu dân, cộng thêm tư thế ngoại giao của VC trên chính trường quốc tế, nhưng cho đến nay VC vẫn bó tay bất lực, chưa thao túng được 3 triệu người Việt hải ngoại. 

Bằng chứng là bất cứ khi nào, hễ có lãnh đạo VC mon men đến bất cứ quốc gia nào, chúng cũng đều bị người Việt chúng ta biểu tình, chống đối, làm cho chúng phải cắm đầu chui cửa hậu. Rồi điểm quan trọng nữa là chiến thắng ngày càng dồn dập trong chiến dịch vận động Cờ Vàng tại Mỹ, và chiến thắng mới đây của cộng đồng người Việt tự do tại Úc qua cuộc vận động không cho đài SBSTV chiếu chương trình VTV4 của CS. Chính những chiến thắng này đã khiến VC nhận ra lỗi lầm nghiêm trọng của chúng là chúng đã đánh giá nhầm lập trường và sức mạnh chính trị của cộng đồng người Việt yêu nước hải ngoại. 

Nhận ra nhầm lẫn này nên trong phần II, “Chủ trương và phương hướng công tác đối với người VN ở nước ngoài trong thời gian tới”, Nghị quyết 36 của VC cũng ghi rõ: 

“Người Việt Nam ở nước ngoài là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa Việt Nam với các nước.” 

Nhận định đó chứng tỏ rõ ràng, VC muốn sử dụng sức mạnh chính trị của cộng đồng người Việt hải ngoại hậu thuẫn cho chính sách ngoại giao của VC. 

SGT: Theo ông, khả năng VC thực thi Nghị quyết 36 sẽ đến đâu? 

Ông L.Phụng: Theo tôi, nếu chúng ta biết cảnh giác và đoàn kết thì khả năng thực thi Nghị quyết 36 của VC rất hạn chế. 

Lý do là kể từ sau 1975, ngày càng đông người Việt trong nước cũng như hải ngoại hiểu rõ bộ mặt thật của VC. Vì vậy, mọi trò mỵ dân rẻ tiền, hay mua chuộc, dụ dỗ của VC đối với đại đa số người Việt đều không có hiệu quả như trước 1954 ở Miền Bắc, và trước 1975 ở Miền Nam và hải ngoại. 

Tôi nhớ là trong những năm của thập niên 1960, VC đã dụ dỗ cả chục ngàn Việt kiều ở Pháp, Tân Thế Giới (New Caledonia), bán nhà cửa, gom góp tiền bạc, của cải về Miền Bắc “xây dựng đất nước”, mà thực tế là ai về cũng bị VC cướp trắng tay. Điều này có rất nhiều người Việt tỵ nạn ra đi từ Hà Nội, Hải Phòng biết rõ. 

Tôi có quen một người bạn, trước làm đầu bếp ở khách sạn Le Meridien Noumea, bên Tân Thế Giới, ông có cả một sản nghiệp vững vàng. Đến khi nghe lời VC về Hải Phòng, bị VC cướp tất cả, mới tỉnh ngộ, sau này lại vượt biên sang Mỹ. Nói chuyện này để quý vị thấy trước đây VC dễ lừa, còn bây giờ thì rất ít người bị VC lừa. Bây giờ, người Việt dù bất cứ ai, ở bất cứ đâu, nếu đã có lòng yêu nước chân thành, cũng đều hiểu rõ, họ luôn luôn là một bộ phận của dân tộc VN, chứ vĩnh viễn không bao giờ là bộ phận của VC. Người Việt hải ngoại có thể gửi tiền về VN giúp đỡ gia đình, sửa sang mồ mả ông cha, giúp đỡ người nghèo khổ, hay chính họ về thăm quê hương, nhưng không khi nào họ bị VC tuyên truyền. 

Bằng chứng rõ ràng là cuối năm ngoái, chỉ riêng thành phố Sydney đã có 13,000 người đại diện cho cả chục ngàn gia đình người Việt biểu tình chống VTV4 của VC thì ta đủ hiểu, trong thâm tâm, không có người Việt nào ưa chế độ VC. Nói vậy có nghĩa là VC càng ra nghị quyết, càng mưu mô, tung thủ đoạn để tấn công người Việt hải ngoại bao nhiêu, thì người Việt hải ngoại càng cảnh giác, càng tăng cường sức đề kháng, chống đối VC quyết liệt bấy nhiêu. 

SGT: Như vậy, bên cạnh dã tâm và tham vọng của VC, ông còn thấy Nghị quyết 36 là bằng chứng cho thấy sự thất bại của CSVN? 

Ông L.Phụng: Vâng, trên phương diện nào đó, tôi nghĩ đó là một dấu hiệu chứng tỏ VC đã thất bại trong âm mưu lừa đảo cộng đồng người Việt hải ngoại. Vì thất bại, nên VC phải cho ra đời Nghị quyết 36. Tuy nhiên, những bất lợi này sẽ được ta khai thác đến đâu, còn tuỳ thuộc vào sự cảnh giác, tinh thần đoàn kết và khả năng vận động sức mạnh chống cộng của cộng đồng người Việt hải ngoại. Hay nói đúng hơn, bên cạnh những dấu hiệu cho thấy sự thất bại của CS, Nghị quyết 36 còn báo hiệu những thủ đoạn nguy hiểm mới của VC đối với cộng đồng người Việt hải ngoại. Thường thì sau khi bị thua cuộc, bị thất bại, chắc chắn VC sẽ tàn nhẫn hơn, thủ đoạn hơn, và nguy hiểm hơn. Vì vậy, chúng ta phải cảnh giác và đoàn kết để đối phó với Nghị quyết 36 này của VC. 

SGT: Thưa ông, VC sẽ tàn nhẫn hơn, thủ đoạn hơn và nguy hiểm hơn, ở chỗ nào? 

Ông L.Phụng: Cảm ơn ông đã hỏi câu hỏi này. Sự thực thì phần lớn những điều được VC đề cập trong Nghị quyết 36 đều là những điều được VC âm thầm thực hiện trong những năm gần đây. Tuy nhiên, cũng có những điều ghi trong Nghị quyết 36, VC đã muốn tay chân của chúng ở hải ngoại làm từ lâu nhưng tay sai của chúng không làm được, nên trong giai đoạn tới, VC sẽ tạo nhiều áp lực, đồng thời gia tăng tiền bạc mua chuộc, để buộc họ phải làm. 

Tôi lấy thí dụ như trong Nghị quyết 36, ở phần II, mục 2, có câu ghi là VC sẽ vận động những thành phần thân cộng “chủ động đấu tranh với các biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc”. 

Ở mục 4 phần III, “Nhiệm vụ chủ yếu”, cũng có đoạn ghi là VC sẽ buộc thành phần thân cộng “Chủ động mở rộng tiếp xúc với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, kể cả với những người còn có định kiến, mặc cảm với Nhà nước và chế độ ta”. 

Rồi cũng ở phần III, mục 5, có đoạn ghi là VC sẽ “Tích cực đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là cho thế hệ trẻ. Tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh, thiếu niên người Việt Nam ở nước ngoài”. 

Đặc biệt, cũng ở phần III, mục 7, Nghị quyết cũng ghi rõ là VC sẽ “Hỗ trợ việc ra báo viết, mở đài phát thanh, truyền hình ở ngoài nước”... 

Như vậy, qua những điểm tôi vừa nêu, ta sẽ thấy, trong giai đoạn tới, cộng đồng người Việt hải ngoại sẽ phải đối diện với một số khó khăn quan trọng. 

Thứ nhất, là mức độ trà trộn của thành phần thân cộng trong cộng đồng sẽ gia tăng. Từ giai đoạn ẩn nấp, né tránh cộng đồng trước đây, nay hàng ngũ thân cộng sẽ được lệnh trà trộn, gia tăng sự hiện diện trong các sinh hoạt của cộng đồng, để qua giao tiếp, chúng sẽ khiến ta cả nể, ngại ngùng, thậm chí e sợ, không dám trực tiếp lên tiếng đấu tranh với chúng. Từ những giao tiếp này, chúng sẽ mượn cớ vì lợi ích chung của đất nước, của dân tộc, để lôi kéo người này người nọ đi theo xu hướng xoá bỏ hận thù, quên lãng quá khứ, bắt tay hoà hợp hoà giải với CS. Chúng cũng sẽ mượn bình phong “lợi ích dân tộc”, “bảo vệ sự ổn định của cộng đồng”, “chống gây phân hoá”... để rồi chúng sẽ “chủ động tấn công” công khai với ta trên các cơ quan truyền thông do chúng hỗ trợ, nuôi dưỡng. 

Thứ hai, VC sẽ chọn người “thích hợp” với từng người để chủ động tiếp xúc, mua chuộc dụ dỗ, hoặc tạo áp lực. Chúng sẽ thực hiện đường lối này đối với những người có lập trường chống cộng kiên định, những người mà Nghị quyết 36 cho là “còn có định kiến, mặc cảm với Nhà nước và chế độ ta”. 

Thứ ba, VC tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh thiếu niên người Việt ở nước ngoài. Đây cũng là một âm mưu vô cùng nham hiểm của VC, nhằm tạo mối quan hệ “ra vẻ” tình người, tình quê hương đất nước, giữa giới trẻ trong nước với giới trẻ hải ngoại, để qua đó, dần dần đưa giới trẻ hải ngoại vô quỹ đạo của VC. 

Thứ tư, VC đã biết đưa ra chiêu bài “giúp người Việt hải ngoại hội nhập, thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp sở tại”. Đây là chiến thuật nguy hiểm nhất trong Nghị quyết 36 để VC một mặt tiếm danh đại diện cộng đồng người Việt, mặt khác mua chuộc sự hậu thuẫn từ chính quyền nơi người Việt hải ngoại sinh sống. 

Để làm điều này, VC sẵn sàng thực hiện những thủ đoạn như bỏ tiền, bỏ của, bỏ công sức để "đóng góp" với chính quyền địa phương, tiểu bang, liên bang... hoặc giả vờ bảo trợ các chiến dịch từ thiện của quốc gia bản xứ, giả vờ thực hiện những chiến dịch “giúp đỡ” người Việt hải ngoại. Đây là sự đầu tư “thả con tôm bắt con cá” của VC. Thông qua những giúp đỡ có vẻ “bất vụ lợi” hoặc làm ra vẻ “thiện nguyện” đó, VC sẽ có được sự hậu thuẫn của chính quyền sở tại. Rồi chúng sẽ dùng uy tín của chính quyền sở tại, tạo sự hiện hữu của chúng trong cộng đồng người Việt hải ngoại. 

Kế tiếp, VC sẽ xảo quyệt dùng sức mạnh của cộng đồng người Việt hải ngoại tạo áp lực với dân biểu và chính quyền địa phương, để bảo vệ quyền lợi giao thương cho VC. Khi đó, chính quyền sở tại nhận ra âm mưu của VC thì đã muộn. 

Thứ năm, điểm bất lợi quan trọng nữa là, cũng trong phần III, ở điều 5, VC nêu rõ, “Tích cực đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là cho thế hệ trẻ. Xây dựng và hoàn chỉnh sách giáo khoa tiếng Việt cho kiều bào, cải tiến các chương trình dạy tiếng Việt trên vô tuyến truyền hình, đài phát thanh và qua mạng internet. Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể để giúp bà con học tiếng Việt”. 

Qua điều này ta thấy VC quyết tâm bằng mọi giá, chiếm lĩnh tâm hồn và trí tuệ thế hệ trẻ VN hải ngoại. Đây là điểm đáng lo ngại nhất, nếu cộng đồng chúng ta không có được những đường lối cụ thể và kịp thời, trong việc biên soạn và giảng dậy tiếng Việt cho con em. Và như vậy thì quả thực những người Việt khoa bảng, trí thức cùng các vị lãnh đạo trong cộng đồng người Việt hải ngoại, đã không làm tròn bổn phận đối với lương tâm và lập trường của 3 triệu người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại cũng như 80 triệu người Việt trong nước. 

SGT: Xin hỏi ông câu cuối. Từ 1975 đến nay đã gần 30 năm. Trải qua thời gian tương đối dài đó, một số người Việt có ảo tưởng cho rằng VC đã phần nào thay đổi đỡ độc ác hơn. Nhận xét đầy ảo tưởng này sai ở chỗ nào? 

Ông L.Phụng: Bề ngoài mà nói, VC tỏ vẻ thay đổi để đánh lừa dư luận, nhưng bản chất vô luân và tàn ác của VC thì chắc chắn là không. Tôi nói vậy có nhiều người cho tôi là cực đoan. Xin thưa, tôi không hề cực đoan chút nào. Là những người tham gia một tổ chức đấu tranh suốt hơn chục năm, chúng tôi luôn luôn mềm mỏng và uyển chuyển trong cuộc đấu tranh với CS. Nhưng khi tôi nói, về bản chất, VC không hề thay đổi, là tôi nói đúng với sự thực về con người CS. Nếu những ai có ảo tưởng cho rằng VC thay đổi, xin những người đó mở to mắt mà nhìn cho kỹ, chịu vểnh tai ra mà nghe cho kỹ, và chịu khó dùng trí khôn của mình mà suy nghĩ cho kỹ, thì họ cũng sẽ đồng ý với tôi, VC không những không bớt độc ác, mà còn độc ác, tàn nhẫn thủ đoạn, phản bội… hơn xưa gấp bội. 

Chính những người VC cao cấp nhất, như Trần Bạch Đằng, Võ Nguyên Giáp, Mai Chí Thọ, Bùi Tín, Vũ Thư Hiên... trong giai đoạn gần đây cũng đều thi nhau lên tiếng tố cáo những tội ác của VC. Rồi ngay cả Dương Thu Hương, người đã từng là đảng viên cộng sản, từng xung phong đi theo đảng VC để “giải phóng Miền Nam”, cũng đã tố cáo VC trong bài “Những Tên Tôi Tớ Cho Ngoại Bang” qua những dòng chữ rất nghiêm khắc. 

Tôi chỉ xin trích một đoạn như sau: 

“Trong lịch sử bốn ngàn năm, triều đình Cộng sản là triều đình duy nhất dạy cho con gái, con dâu vu khống bố hiếp dâm; dạy con trai, con rể chỉ vào mặt bố "đả đảo thằng bóc lột"; dạy cho láng giềng tố cáo điêu chác, đâm chém, dày xéo mồ mả của nhau... Tất cả những ai chưa hoàn toàn quên lãng, hẳn hiểu rõ điều đó. Khi con người đã đủ can đảm vu khống, nhục mạ ngay bố mẹ đẻ của mình thì họ thừa sự nhẫn tâm để làm những điều ác gấp ngàn lần như thế với tha nhân”. 

Đó, nữ đảng viên VC nói về VC như vậy đó. Và tôi biết, bản chất người VC không những tàn ác, bất lương, mà quan trọng hơn nữa là họ không hề biết đến trời đất, Chúa Phật, đến tổ tiên lễ giáo, nên họ chẳng hề ân hận, ăn năn, hối lỗi gì cả. Đã hơn nửa thế kỷ kể từ khi chiếm được Miền Bắc năm 1954, và 30 năm kể từ khi chiếm được Miền Nam, người VC vẫn không có can đảm và lương tâm để ăn năn hối hận về những tội ác hiển nhiên mà họ đã gây ra đối với dân tộc VN. 

Tội ác thứ nhất là qua bài học thống nhất hai miền Đông và Tây Đức mà không đổ máu, triển vọng sẽ thống nhất Nam Bắc Hàn trong hoà bình, rồi tương lai Đài Loan sẽ hợp nhất với Trung Quốc, ta thấy rõ VC đã sai lầm trong việc xua quân xâm lăng Miền Nam, khiến 4 triệu người Việt bị chết, cả chục triệu người bị thương ở cả hai miền của đất nước suốt mấy chục năm dài. Vậy mà cho đến nay, ta có nghe người VC nào tỏ ra ân hận, xám hối hay không? 

Rồi tội ác nghiêm trọng thứ hai của CS, là trong cuộc chiến tranh VN, VC đã phạm phải phải nhiều tội ác chiến tranh man rợ, tiêu biểu nhất là thảm sát Huế vào Tết Mậu Thân 1968. Vậy mà cho đến nay, ta có nghe người VC nào tỏ ra ân hận, xám hối hay không? 

Thứ ba, chính việc VC ngang nhiên chà đạp các quyền tự do, dân chủ và nhân quyền; cùng những tang thương do VC gây ra trong cải cách ruộng đất tại Miền Bắc, trong các đợt đánh tư sản và các đợt cải tạo tại Miền Nam, là những nguyên nhân khiến người dân VN phải bỏ nước vô Nam vào năm 1954, cũng như bỏ nước vượt biên sau tháng 4, 1975. Bao nhiêu người đã chết qua hai cuộc chạy trốn VC đó? Vậy mà cho đến nay, ta có nghe người VC nào tỏ ra ân hận, xám hối hay không? 

Trên đây chỉ là mội vài trong số hàng trăm ngàn tội ác do VC gây ra trên quê hương VN. Đó là những thực tế VC không thể nào chối cãi được. Và chỉ khi nào VC CÔNG KHAI VÀ CHÂN THÀNH ĂN NĂN HỐI LỖI, chấp nhận cho người dân VN được tự do bầu cử, lập nên một chế độ dân chủ, khi đó, người Việt trong và ngoài nước, mới chấp nhận tha thứ cho CS. 

Tôi xin nhấn mạnh ở đây, chúng ta chỉ tha thứ cho VC khi nào VC biết THỰC TÂM ăn năn hối lỗi. Đây là điều kiện tiên quyết và bắt buộc phải có. Cũng giống như tôn giáo, dù Chúa hay Phật có bao dung và giầu lòng tha thứ đến đâu đi nữa thì Chúa Phật cũng chỉ tha thứ người có tội khi nào người đó biết ăn năn hối cải. 

Hiện tại ở VN cho thấy, VC chẳng những không ăn năn hối cải, mà chúng còn tiếp tục phạm thêm những tội ác mới khiến cả thế giới, trong đó có cả những đảng viên CS cũng lên án; thì không có lý nào, chúng ta là những nạn nhân của CS, lại tự động tha thứ những tội lỗi của CS. Tha thứ như vậy, chúng ta vừa thiếu khôn ngoan, vừa phản bội tổ tiên, dân tộc, vừa tự huỷ sức mạnh và uy tín của chính mình, đồng thời phản bội luôn cả lý tưởng tỵ nạn CS của chúng ta, cũng như phản bội quốc gia đã có lòng cưu mang chúng ta. 

Làm như vậy, chẳng những người Việt yêu tự do trên khắp thế giới coi khinh chúng ta, mà ngay cả tụi VC chúng cũng coi thường chúng ta. 

Hữu Nguyên huunguyen@saigontimes.org
Cây Cổ Thụ Của Tuổi Hoa Đã Ra Đi

- Cam Li Nguyễn Thi Mỹ Thanh


https://vietbao.com/images/file/GP6EaKB-0ggBAB1c/image001.jpg











Người ta đọc được những dòng chia sẻ:

Ông Simon NGUYỄN BÍCH VÂN
Bút hiệu Nguyễn Trường Sơn, Hà Châu
Chủ bút BÁN NGUYỆT SAN TUỔI HOA
Giám đốc TỦ SÁCH TUỔI HOA

Đã mệnh chung vào lúc 12 giờ 45 trưa Thứ Tư 20 tháng 5 năm 2015 (giờ Paris), hưởng thọ 97 tuổi.

Tang lễ sẽ được cử hành tại Paris, Thứ Ba ngày 26 tháng 5 năm 2015.

Vâng, những dòng chia sẻ đơn giản, chứ không phải cáo phó, như một thông báo trong muôn vàn thông báo của đời sống, được đăng trên blog của tuoihoaonline.

Và rồi một thông báo khác sau đó:

“Buổi tưởng niệm nhà văn Nguyễn Trường Sơn sẽ được tổ chức vào ngày 7 tháng Sáu, năm 2015 tại Trung Tâm Công Giáo Việt Nam, Giáo Phận Orange, 1538 N. Century Blvd. Santa Ana, CA 92703. Thánh lễ do Đức Giám Mục Dominic Mai Thanh Lương và Linh Mục Bill Cao cử hành.

Nhà văn Nguyễn Trường Sơn đã góp phần đáng kể vào công cuộc giáo dục thanh thiếu niên Việt Nam trong những thập niên 1960 và 1970. Ảnh hưởng tốt đẹp của tạp chí Tuổi Hoa và tủ sách Tuổi Hoa cho đến nay vẫn là dấu ấn không phai mờ trong tâm hồn rất nhiều độc giả Tuổi Hoa thời niên thiếu.”

Ly không có mặt trong buổi tưởng niệm ấy. Nhưng Ly sẽ tưởng niệm bác suốt đời.

*

Sao Ly lại nghĩ bác là cây cổ thụ nhỉ? Một cây cổ thụ lặng lẽ, nghiêm trang trong một khu vườn đầy hoa lá và tiếng chim! Đó là khu vườn xinh xắn an lành nơi mảnh đất quê hương: Khu vườn Tuổi Hoa.

Cái tên “Tuổi Hoa” tự nó đã đầy ý nghĩa sống động. Nhưng cụ thể hơn cả, nó là tên của một bán nguyệt san dành cho tuổi học trò, và sau này cũng là tên của một tủ sách chuyên xuất bản những truyện dài: Tủ Sách Tuổi Hoa.

Các anh chị trong tòa soạn gọi Bác là “Anh Cả”, chỉ có Ly gọi Bác bằng “Bác”, bác Trường Sơn.

Mấy ai biết nhiều về cuộc đời của bác? Chỉ sau khi bác ra đi, mọi người mới có dịp nhắc nhở:

“Sự nghiệp viết báo của ông Nguyễn Trường Sơn khởi đầu từ Hà Nội, thập niên 1950. Hai tác phẩm đầu tiên là Măng Chột (báo Đạo Binh Đức Mẹ) và Xóm Giáo (phát động thành lập đoàn liên minh Thánh Tâm), cả hai đều ký bút hiệu Hà Châu.

Sau khi vào Nam, nhà văn Nguyễn Trường Sơn bắt đầu nghĩ đến việc giáo dục thanh thiếu niên một cách lâu dài hơn. Tiền thân của tờ báo Tuổi Hoa là một quyển truyện mỏng “Đường Vào Hang Cọp” với nội dung khuyên trẻ em nên biết nghe lời người lớn, những bậc đã có kinh nghiệm trong cuộc sống.

Sau khi phát hành, tác phẩm này được tiếp nhận rất nồng hậu và ông nghĩ ra một chuyện lớn hơn, “dài hơi” hơn, đó là ra một tờ báo. Từ đó bán nguyệt san Tuổi Hoa ra đời. Khi báo đã đứng vững, ông cho phát hành tiếp tủ sách truyện Tuổi Hoa với ba loại: “Hoa Đỏ” dành cho tuổi thanh thiếu niên thích phiêu lưu mạo hiểm, “Hoa Xanh” dành cho tình cảm nhẹ nhàng của thiếu nhi, và ít lâu sau đó là “Hoa Tím” dành cho lứa tuổi mới lớn với ít nhiều mộng mơ. Truyện “Chú Thỏ Đế” là “sản phẩm” đầu tiên được đón nhận, và ông bắt đầu thành lập hẳn tủ sách Tuổi Hoa.” (Theo Nhà văn Quyên Di.)


https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgEZz2nYWq8VALoL-xEBUQ3b4S-aZ7YmURmhsAe4AM0q3XIGI-24RgGG_dX9OGBm5-ACe-fswLeZoa5i5Z0htGQMSV-8gm_1oK9CwGYwNUE6k_nh9p7ChyUwDpESzCZMrWGKjd12CAh4KT8/s1600/TH+232.jpg
















15 tuổi, đang học lớp Đệ Tam (lớp 10), Ly “cả gan” gửi bài cho Tuổi Hoa, theo lời khuyến khích của Thầy Hoàng Đăng Cấp dạy Toán ở lớp Ly học và cũng là một cây bút của Tuổi Hoa. 

Truyện ngắn đầu tiên của con bé viết về chiến tranh, và… lại được đón nhận. Con bé đi vào khu vườn ngập hoa lá bằng những bước chân rụt rè. Cây cổ thụ - lúc đó ở tuổi trung niên - mỉm vười khuyến khích con bé. Và cứ thế, những truyện ngắn Ly đã nắn nót viết tay – thời đó làm gì có computer! – rồi “đem nộp”, đã thường xuyên có mặt trên Bán nguyệt san Tuổi Hoa. Khi có bài đăng, Ly được tặng một số báo Tuổi Hoa. Có lẽ những ai đã sống “thời Tuổi Hoa”, đều đồng ý rằng đa số học trò muốn mua sách báo thì phải nhịn quà sáng, vì giá sách báo “không hề rẻ”. Nhưng thật dễ thương, có bạn đã “làm giàu” cho mình bằng cả một tủ sách báo do chắt chiu mà sắm được, và quý như vàng.


https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhjIG6do1VsgQH5uxp5yu2dV6fcSAyyHGPHSHxcoDeeZzeZXCXvzhFANzD-9Ai9mjdVHXuAWycM6rNskq__6VqhZ1dHDK4871eafrEl6pkaoYmG3RZO86uvp3vcUgtZGjr_G79rrLaAtMnP/s1600/TH+224.bmp
















Trong thế giới văn chương của Miền Nam Việt Nam thời đó, không có ai “dạy viết” cho ai cả, trừ quý thầy cô dạy Việt Văn trong nhà trường, nhưng đó lại là một chuyện khác. Vào khu vườn Tuổi Hoa, như đã có một vùng đất được vun bón, những cây trái hoa cỏ cứ việc tăng trưởng. Mà chính những tác phẩm của bác Trường Sơn là chất liệu quý giá đã góp thêm phần màu mỡ cho đất. Chính những tác phẩm của bác đã là những bài “dạy viết” tuyệt vời!

Chưa hết, nếu không nói đến chuyện “được trả tiền nhuận bút” sẽ là một thiếu sót rất lớn. Viết truyện ngắn đăng báo, là sẽ được trả tiền nhuận bút. Báo nào cũng vậy, chứ không riêng báo Tuổi Hoa. Vì vậy người đọc cũng thấy câu này rất thường trên các báo: “Bài được đăng trên báo này rồi xin đừng gửi cho báo khác”. Tuy là viết thì có nhuận bút, nhưng viết trở thành một sinh hoạt, một nhu cầu, không phải một phương tiện. Các cây bút trẻ thời đó không viết vì tiền.

Mùa he, sau khi thi đậu Tú Tài 1, Ly được nhận vào làm “cô cò” cho tòa soạn Tuổi Hoa. (Thời ấy kỹ thuật in là đúc từng chữ rời bằng chì. Muốn xếp từ ngữ “báo”, thợ xếp chữ phải lần lượt bốc chữ b, chữ á và chữ o. Cứ vậy ghép lại thành trang sách, in tạm ra để sửa kỹ mọi sai sót trước khi lên máy in. Người  trách việc coi bản in tạm, sửa lỗi gọi là “thầy cò” vì thường do các chú, các bác lớn tuổi phụ trách.)

Thế là ngoài chuyện học hành, Ly có thêm “nghề”. Mỗi buổi chiều Ly đến tòa soạn, ngoài công việc “cô cò” Ly còn nhận các thư từ của độc giả để phụ bác Trường Sơn phân loại, trả lời, hoặc sắp xếp cho bác tiện việc đọc để chọn đăng. Công việc rất yên lặng vì ít ai vào tòa soạn trong ngày thường, trừ khi có việc cần.

Còn muốn thấy cảnh nhộn nhịp không khó, chỉ việc bước vài bước ra phía sau là sẽ đến nhà in, dùng chung cho báo Đức Mẹ và báo Tuổi Hoa. Ở đó, tiếng máy in chạy rập rình suốt buổi, át hẳn tiếng người nói. Có khoảng sáu, bảy người làm việc, từ sắp chữ, lên khuôn, in thử, rồi sau mấy lần sửa chữa dưới bàn tay của “cô cò”, các bản in chính thức sẽ ra đời, được đóng gáy, ráp bìa, đem đi phát hành.

Mà vui nhất có lẽ là chiều Thứ Bảy, các anh chị trong Ban biên tập tụ họp về, cùng với thân hữu và độc giả khắp nơi, ghé chơi chuyện trò, ca hát.

Một số cây bút Tuổi Hoa, đi lính, đã sớm đền nợ nước ở tuổi còn rất trẻ. Tòa soạn có những lúc đắm chìm vào nỗi buồn của đất nước.

Loại “Hoa Tím” ra đời trễ nhất, sau hai loại “Hoa Xanh” và “Hoa Đỏ”. Ly là người sớm viết cho loại này, cũng với sự khuyến khích của bác Trường Sơn. Ban đầu, vì nghe nói loại “Hoa Tím” dành cho tuổi mới lớn, tuổi mơ mộng, có “chút chút” yêu đương, nên một số phụ huynh e ngại loại truyện này, cấm các con nhỏ xem. Càng bị cấm thì các bạn càng tò mò, lẽ đương nhiên. Nhưng Tủ Sách Tuổi Hoa đã đi vững chắc với đường hướng của mình, dần dần các cây bút và các tác phẩm loại “Hoa Tím” đã được “giải oan” và trở thành người bạn thân thiết của độc giả học trò.



http://khoivudongnai.vnweblogs.com/gallery/2228/CENT%2001.jpg

https://fbcdn-sphotos-a-a.akamaihd.net/hphotos-ak-xfa1/v/t1.0-9/11041758_10203849731548979_6848914951586976851_n.jpg?oh=0f50d4e4fa3790a73b21a12e81ec8c84&oe=55BC9B97&__gda__=1438494330_8af113636f59c48846e01f32b0cf2e3a

*
Tòa soạn Tuổi Hoa đóng cửa ngay sau ngày 30 tháng Tư 1975.

Ly không biết các thành viên của Tuổi Hoa đã đi đâu, ra sao. Cái biến cố to lớn ấy đã thay đổi tất cả. Ly, cây bút tuổi học trò, có hai truyện dài “được” nằm trong danh sách bị cấm. Như một cây non bị bứng ra khỏi khu vườn yên vui, vứt vào một vùng đá đen, xung quanh toàn những cây gai hung tợn, cây non lập tức héo úa. Ly muốn gượng dậy, nhưng rồi không được. Ly thà cất cây bút của mình vào một nơi không được nhớ đến, hơn là phải bẻ cái ngòi bút cho cong. Ly tự đặt một dấu chấm hết cho việc viết lách của mình, không muốn liên lạc với một ai.

Tình cờ về sau Ly được biết bác Trường Sơn cùng gia đình đã qua sống bên Pháp.

Bây giờ, bác chọn thời điểm 40 năm để ra đi vĩnh viễn. Một khoảng thời gian dài! Khoảng thời gian ấy có làm cho tâm tư của Bác mòn mỏi? Bác hẳn đã hơn ai hết nhớ thương mảnh vườn mà Bác đã khai mở và vun đắp. Nhưng dù sao, nghĩ đến bác Trường Sơn, Ly thường nghĩ đến hình ảnh người mang trên tay những hạt giống. Bác sống nửa sau của cuộc đời và ra đi ở bên Pháp. Nhưng những hạt giống lành Bác đã gieo khắp nơi, từ khu vườn hoa gấm một thời.

Có một mảnh đất mà Ly không thể không nhắc đến. Nơi đó được xem là một “Tủ Sách Tuổi Hoa” thời hậu 75. Mà người khai mở mảnh đất ấy lại là Thục Đoan, một bạn trẻ sống tại Hoa Kỳ, chưa từng là cây viết của Tuổi Hoa. Bạn vì lòng yêu mến Tuổi Hoa và hiểu được nhu cầu của độc giả, đã làm một cuộc sưu tầm các tác phẩm của Tuổi Hoa và nhờ người đánh máy lại để thành lập “Tủ Sách Tuổi Hoa online”. Nhờ đó, Ly đã hăng hái đánh máy hết các truyện ngắn, truyện dài của mình gửi cho bạn đăng. Bạn cùng với một số bạn khác cũng tìm tòi và đánh máy, đăng gần hết các tác phẩm của Tuổi Hoa. Một Tuổi Hoa “ảo” mà thật, đang vươn lên trong thế giới mở của văn hóa văn nghệ ngày nay.

Mà không chỉ là những tác phẩm cũ được hồi sinh, thực tế các cây bút của Tuổi Hoa đã sống lại, tiếp tục đứng lên.

Hình ảnh một cây cổ thụ sừng sững mà rất đỗi khiêm nhường, lặng lẽ truyền sức sống cho cả một thế hệ, Ly sẽ mãi nhớ và tri ân bác suốt đời. Bác Nguyễn Trường Sơn ơi! Xin Bác yên nghỉ.

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh



http://i73.servimg.com/u/f73/11/56/24/75/khotuo11.jpg


https://vietbao.com/a239500/cay-co-thu-cua-tuoi-hoa-da-ra-di


-- 


Mỹ mở cửa bảo tàng 11/9 dưới lòng đất sau 13 năm xây dựng

Sau 13 năm xây dựng, bảo tàng 11/9 dưới lòng đất, nơi trưng bày khoảng 10.000 hiện vật gợi nhớ vụ khủng bố kinh hoàng vốn cướp đi sinh mạng của khoảng 3.000 người, sẽ chính thức khai trương vào hôm nay tại Manhattan, New York, Mỹ.


Bảo tàng 11/9 được xây dựng dưới lòng đất, tại khu vực từng là nền móng của hai tòa tháp đôi (Twin Towers) thuộc Trung tâm Thương mại Thế giới (WTC) ở New York.


Toàn bộ không gian trưng bày của bảo tàng sẽ gợi nhớ ngày 11/9/2001, khi những chiếc máy bay bị cướp đâm vào Tòa tháp Đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới (WTC), Lầu Năm Góc và cánh đồng gần Shanksville, Pennsylvania, làm gần 3.000 người thiệt mạng.



Bảo tàng sẽ trưng bày 10.000 hiện vật, 23.000 bức ảnh, 1.900 câu chuyện truyền miệng, các bộ phim và video kéo dài tổng cộng 500 giờ về sự kiện 11/9.



Bảo tàng có diện tích 10.000 m2, nằm sâu 21 m dưới lòng đất.



Hai cột trụ thép còn lại của tòa tháp đôi cũng được trưng bày tại bảo tàng 11/9.



Bảo tàng chính thức mở cửa với công chúng vào ngày 21/5.



Trước khi mở cửa phục vụ khách tham quan, bảo tàng sẽ dành thời gian 6 ngày để tưởng niệm các nạn nhân, bắt đầu với một buổi lễ có sự tham gia của Tổng thống Mỹ Barack Obama.



Trong thời gian 6 ngày, bảo tàng sẽ đón tiếp người thân các nạn nhân và những người có liên quan tới công trình.



Bức ảnh ghi lại cảnh một trong 2 tòa tháp của WTC sập xuống sau vụ tấn công.



Một trong những động cơ thang máy của tòa tháp đôi.



Ảnh các nạn nhân được trưng bày trong bảo tàng.



Những chiếc xe đạp bị hư hỏng từng đậu tại khu vực phía bắc của WTC vào ngày xảy ra vụ tấn công.



Chiếc loa mà cựu Tổng thống Mỹ George W. Bush sử dụng để nói với các nhân viên cứu hộ và công chúng tại Khu vực số Không (Ground Zero) vào ngày 14/9/2001.



Một gọng kính và hộp đựng được tìm thấy trong đống đổ nát tại WTC.



Đôi dép trên máy bay của hãng hàng không American Airlines bị không tặc.



Bảo tàng cũng trưng bày một chiếc máy tính xách tay mà tên khủng bố Ramzi Yousef, kẻ bị kết án trong vụ đánh bom WTC năm 1993, từng sử dụng.



Một xe chữa cháy được sử dụng để đưa các nhân viên cứu hỏa tới hiện trường sau vụ khủng bố.



Khu vực cầu thang bộ, nơi nhiều người năm nào đã đi để tìm cách thoát khỏi tòa nhà đang sập xuống.



Một chiếc mũ từng được nhân viên sở cứu hỏa New York sử dụng khi tham gia cứu 
hỏa sau vụ tấn công.



Bảo tàng dưới lòng và quảng trường tưởng niệm sự kiện 11/9 bên trên nó có tổng chi phí xây dựng lên tới 700 triệu USD.

An Bình
Tổng hợp


Những lỗi tiếng Anh ở Việt Nam khiến du khách giật mình

Từ biển báo ngoài đường đến thực đơn trong nhà hàng, có nhiều kiểu lỗi sai chính tả khiến du khách buồn cười lẫn ngại ngùng.
 
Sẽ không có người nước ngoài nào hiểu được rằng dòng chữ "Plant Rice University Acceptance" được in trên tấm bia đá chú thích kia đang muốn giới thiệu về Cây gạo đại thụ ở tỉnh Hải Dương. Người làm bia đã sáng tạo ra cách dịch từng từ một gồm Cây = Plant, Gạo = Rice, Đại = University, Thụ = Acceptance. Chưa hết, năm Giáp Thân (1924) được dịch theo cách tương tự thành Body (thân thể) Armor (áo giáp).
 

Trên một diễn đàn, khách du lịch nước ngoài cho biết họ thấy buồn cười khi có cửa hàng quần áo tên là "Fartshion". Đây có thể là cách chơi chữ của chủ cửa hàng khi lồng chữ "art" (nghệ thuật) vào "Fashion" thành "nghệ thuật thời trang". Nhưng sự lồng ghép đã tạo ra một nghĩa khác hẳn với từ "fart" (đánh rắm).
 

Khi đến phố cổ Hà Nội, nhóm du khách nước ngoài "sốc" vì thấy biển hiệu quảng cáo ghi "Try cock today please". Trong tiếng Anh, từ "cock" ngoài nghĩa con chim trống, con gà trống còn mang nghĩa lóng khác.

 
Họ quyết định vào hỏi chủ cửa hàng tại sao đặt tên "lạ" như vậy, thì được biết COCK là viết tắt của Creative Oriental Crafts Kingdom - Vương quốc đồ thủ công phương Đông sáng tạo.
 

Hòm tiền từ thiện dành cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn mang dòng chữ "For Especially Difficult Children". Khi đọc dòng này, một du khách đã thốt lên "Đây hẳn là vấn đề của hàng triệu bậc cha mẹ trên toàn thế giới". Từ "difficult" không mang nghĩa "khó khăn về mặt hoàn cảnh" khi đặt cạnh danh từ "trẻ em". "Difficult children" được hiểu là những đứa trẻ khó tính hoặc khó bảo.

 
Du khách nước ngoài có thể "tá hỏa" khi họ đang chờ đợi một bữa ăn ngon lại nhìn thấy trong thực đơn có món "crap" (nghĩa là phân). Một chữ cái sai (b thành p) dẫn một từ khác hẳn về mặt ngữ nghĩa.

 
Tên món "Insides of a pig" mang đến những tưởng tượng phong phú cho các thực khách.

 
Còn du khách nước ngoài vào nhà hàng này băn khoăn không hiểu tại sao ở Việt Nam, mực viết (ink) lại chế biến được thành món ăn.

 
"Missing Beef", người chỉ biết tiếng Anh sẽ tự hỏi liệu đây là món "nhớ về thịt bò" hay "thiếu thịt bò".
 

Du khách "toát mồ hôi" khi được mời ăn bánh "toát mồ hồi" (sweat).

 
Nhà hàng này không viết nhầm món cua, nhưng giới thiệu món ăn "cái gối" (pillow) và bia dành cho trẻ em (kids).
 

Các loại biển báo trên đường cũng không thoát lỗi tiếng Anh. Bức ảnh này cũng được du khách nước ngoài chụp lại và chia sẻ trên một diễn đàn. Nhìn hình minh họa, người không biết tiếng Việt cũng có thể hiểu rằng biển báo chỉ độ dốc của đường ở mức 5,8%. Tuy nhiên, từ "sloppy road" lại có nghĩa là đường có nhiều vũng nước, đường lầy lội.
 

"Sea" và "see" là hai từ có cách đọc giống nhau nhưng nghĩa thì không liên quan đến nhau.
 

"Chúc bạn con đường cao hơn về sự bình yên", dường như đây là cách dịch gần gũi nhất về nghĩa dành cho câu "Wish you the upper road of peace".

 
Bên cạnh lỗi sai chính tả, đây cũng không phải là cách dịch đúng dành cho "Tòa án nhân dân huyện Quế Phong".
 

Người nước ngoài không hiểu là họ đang được chào đón khi đến với khu du lịch này vì "Wellcom tu" không phải là tiếng Anh.
 

Một lỗi sai khác với từ "Welcome to".



__._,_.___
Để tôi nghĩ cách xem sao

Đêm đó đã rất khuya, một đôi vợ chồng cao tuổi tìm đến một khách sạn ở khu du lịch hỏi thuê phòng. Người lễ tân, một thanh niên trẻ nhã nhặn đáp:
“Xin lỗi, khách sạn chúng tôi đã kín khách, không còn chỗ nào cả”.
Song, khi thấy bộ dạng mệt mỏi và thất vọng của 2 vị khách, người lễ tân lại nói: “Tuy nhiên, để tôi nghĩ cách xem sao…”.
Anh đương nhiên không muốn họ tiếp tục phải đi gõ cửa từng khách sạn mà xem ra cũng đã kín đặc người trong thị trấn, rồi cuối cùng phải ngồi vật vạ đâu đó bên lề đường suốt cả đêm. Vậy nên, anh dẫn hai vị khách ấy đến một gian phòng nhỏ nhưng ngăn nắp và sạch sẽ:
“Đây không phải gian phòng tốt, nhưng lúc này tôi chỉ có thể làm được đến vậy”.

Ngày hôm sau, khi hai vị khách đến thanh toán, người lễ tân từ chối:
“Không cần, vì đó chỉ là phòng nghỉ của tôi, cho ông bà mượn tạm qua đêm. Chúc ông bà lên đường may mắn”.
Hóa ra, cả đêm hôm đó người lễ tân đã không ngủ mà ngồi làm việc trong quầy. Hai vị khách vô cùng cảm động. Khi họ đã đi khỏi, anh tiếp tục bận rộn với công việc của mình và quên hẳn chuyện đó. Không ngờ một ngày kia, anh nhận được một tấm vé máy bay cùng thư mời đến New York làm việc. Hóa ra hai vợ chồng già ấy thuộc hàng tỷ phú, sau khi quay về họ quyết định mua hẳn một khách sạn sang trọng để kinh doanh và mời người lễ tân tốt bụng đến làm quản lý với niềm tin chắc chắn anh sẽ làm rất tốt công việc này.

Đó là câu chuyện truyền kỳ về người giám đốc đầu tiên của chuỗi khách sạn hàng đầu thế giới Hilton. Nó nhắc nhở chúng ta rằng: Nếu biết yêu thương đồng loại, nếu con người đối đãi với nhau bằng chân tình, bất cứ việc gì cũng có thể “nghĩ cách xem sao…”

HAVE A NICE DAY 

Blog Archive