Showing posts sorted by date for query Cuộc Sống Trong Căn Cứ Mỹ. Sort by relevance Show all posts
Showing posts sorted by date for query Cuộc Sống Trong Căn Cứ Mỹ. Sort by relevance Show all posts

Wednesday, August 26, 2026

Ấn Độ - Thiên đường và địa ngục 

Nhiều người từng đến Ấn Độ chắc đều có chung một cảm giác là đã đến một đất nước với hai thái cực, vừa là địa ngục vừa là thiên đường. Bẩn thỉu và thánh thiện, ồn ào và lười nhác, xảo trá và chính trực. Sáu nghìn năm văn hiến đã khiến cho Ấn Độ toát lên khí chất mạnh mẽ giữa thần tiên và ma mị, đồng thời cũng khiến tâm trạng một du khách như mình thăng trầm như chiếc xe vượt núi băng đèo trong suốt cuộc hành trì

Hơn 20 năm trước, lão lần đầu tiên đến sân bay Delhi, cảm thấy không khác gì những sân bay quốc tế khác. Nhìn thấy quầy taxi, lão bước đến trả tiền trước cho một chiếc xe, vừa bước ra khỏi sảnh một mùi ẩm nóng phả vào mặt mang theo đủ vị, xăng, dầu, mồ hôi, cứt chó, cứt bò, mùi hoa, mùi nước hoa, mùi gia vị...hỗn độn khó tả. 

Đang loay hoay tìm phương hướng đi về bãi đậu taxi thì một tia chớp loé sáng, chiếc xe Hindustan Ambassador cũ kỹ tưởng chui ra từ đống rác đỗ xịch trước chân, một chiếc đầu xù tóc, khuôn mặt đen xì với đôi mắt chỉ lòng trắng thò ra bên ngoài xe (Ấn Độ vô lăng bên phải) “Sir, you book a car?” (Thưa ngài, ngài đặt xe chứ?). Lão hơi ngần ngại nhìn chiếc xe như đồ chơi nhưng vì là một tay lão luyện từng trôi nổi giang hồ nên rất dễ thích nghi mọi điều, lão “Yes” xong thì mở cửa xe định chui vào ngồi ghế bên tay trái lái xe thì trên ghế đầy rác rưởi, nào là vỏ hộp đồ ăn nhanh, vỏ chai, thuốc lá, giấy, khăn...Tay lái xe chỉ tay ra hàng ghế sau, lão chui vào chưa yên vị thì hắn đã rồ ga phun khói lao đi.

Taxi ở Ấn Độ

Cậu ta tăng ga lạng lách trên đường, vượt qua nhiều ô tô có vết đâm xước lồi lõm, xe nào cũng muốn tranh lao đi trước, chạm nhau là chuyện thường tình. Nhiều người chắc sẽ hoảng hồn về kiểu lái như một thằng điên cầm lái này, nhưng đối với lão quen trò mạo hiểm nên không hề lo lắng về điều này, dường như tốc độ điên cuồng của chiếc xe đã mang lại cho lão một cảm giác cực kỳ thú vị, lão luôn miệng cổ vũ “Hey, very good, try faster!” ( Này, được lắm, thử đi nhanh hơn). Một phần cũng để răn đe hắn rằng, bố mày đến từ New York, dọa bố mày đéo được đâu, và đừng giở những trò gì khác.

Không khí nóng ẩm phả mạnh vào mặt, nhìn xung quanh, dọc đường có rất nhiều cây xanh khiến lão hơi ngạc nhiên. Bỗng tay tài xế phanh gấp, một thằng cha khoác một chiếc bị hơi to đứng bên đường. Xe đậu lại, hắn tự nhiên như ruồi mở cửa chui lên xe ngồi cạnh lão, hắn chào lão cũng rất tự nhiên. Cậu lái xe cũng rất thản nhiên bắn cho lão hai câu cộc lốc “My friend “ ( bạn tôi). Lão chưa kịp hoàn hồn thì chiếc xe lại lao đi như bay rồi dừng lại ở một khu chợ ven đường, tay bạn đi nhờ xe lao xuống nhưng cũng không quên quay đầu vẫy tay chào lão “Thank you sir!” (Cảm ơn ông). Lão bị cứng lưỡi sau khi tay này lên ngồi cạnh và hít đủ mùi cà ri và mồ hôi của hắn. Lão chỉ kịp bật ra câu “Địt mẹ, chuối thật!”.

Điểm đến của lão là khách sạn 5 sao “The Park New Delhi” nhưng một người bạn từ Hồng Kông đến trước hẹn gặp lão tại sảnh nhà ga xe lửa New Delhi. Tay lái xe đậu xe trên một con đường bẩn thỉu và nói với lão rằng đây là chợ Main Bazaar đi bộ xuyên vào bên trong là ga xe lửa, hỏi sao không đưa tớ đến tận cửa, hắn nói phải về đi lễ với vợ, nếu đi đến cửa lại phải vòng hơi xa. Thôi đành vậy, tức giận cũng chẳng giải quyết được gì. Lão lê bước trên một con đường gập ghềnh đầy bùn đất và rác thải, không khí nồng nặc mùi phân bò, hai bên là những tòa nhà cũ nát tưởng chừng như sắp đổ sập, những cửa hàng nhỏ bày bán đầy quần áo, khăn quàng, thảm đủ màu sắc, dân tình đi lại nháo nhào, tiếng rao hàng, tiếng hét tìm người, tiếng đọc kinh kệ, tiếng chó sủa, tiếng còi xe cũng kinh thiên động địa.


Đến sảnh ga thì đã thấy thằng bạn đứng đấy bên cạnh là một chiếc xe Tuktuk. Cậu ta làm ăn ở đây nên rất thông thạo New Delhi. Cậu ta giải thích, giờ này đi Tuktuk sẽ nhanh hơn taxi vì tắc đường trầm trọng. Thế là lại ngồi lên Tuktuk, rồi như một cơn lốc, xe luồn lách lao đi như một con chó điên xổng chuồng khiến người ngồi trên rớt tim nếu như chưa từng trải. Một hồi rồi cũng đến được khách sạn.

Bước vào khách sạn là thiên đường, là một thế giới hoàn toàn khác chỉ cách một bức tường với bên ngoài. Kẻ hầu người hạ giúp xách hành lý, đưa tận tay những chiếc khăn, đồ uống mát lạnh. Mọi tiện nghi từ nhà hàng, quầy bar, mát xa, bể bơi cho đến phục vụ đều tiêu chuẩn thế giới. Tắm rửa thay đồ xong, hai thằng xuống sảnh khách sạn. 

Một chiếc xe Mercedes-Benz đen mới cứng từ từ lăn bánh vào trước sảnh, một cậu lái xe ăn mặc áo trắng quần Tây đen là lượt phẳng phiu nhẩy xuống mở cửa xe mời hai vị lên. Ngồi trong xe mát lạnh thơm tho nên cũng không cảm thấy đường dài sau đấy đến một dinh thự ở khu người giàu Sunder Nagar bên cạnh là dòng sông Sunder Nagar tuyệt đẹp. Chủ nhân là một cặp vợ chồng trẻ thuộc giới thượng lưu Ấn Độ kinh doanh trong ngành công nghiệp phim ảnh Ấn Độ Bollywood. Mỗi năm họ làm vài chục bộ phim và thu nhập vài trăm tỷ VNĐ như chơi.


Đừng hình dung biệt thự 40 nghìn mét vuông của hai vợ chồng này như biệt thự Ecopark Việt Nam hay thậm chí như biệt thự bình thường ở Beverly Hills, Los Angeles, California, Mỹ. Nó kinh tởm hơn nhiều, nó rộng và chiếm cả một quả đồi. Hai vợ chồng hai đứa con có hơn 50 người hầu hạ. Lão cũng không muốn tả lại căn biệt thự này làm chi, bởi nói như vậy là đủ. Riêng căn phòng làm rạp chiếu phim của họ thì lão thực sự ngưởng mộ. Màn hình rộng, ghế ngồi như ghế máy bay hạng thương gia năm sao cho khoảng 30 người, mỗi người một tủ lạnh một bàn đủ đồ uống, rượu và đồ ăn vặt. Âm thanh nổi, sự phân giải màu sắc thì tuyệt đỉnh. Lão đã từng tự hào về căn phòng xem duyệt phim của hãng phim Gia Hoà, Hồng Kông và cứ đinh ninh là nhất châu Á, khi nhìn thấy căn rạp mini thượng lưu này mới cảm thấy hổ thẹn.

Dinh thự tỷ phú Ấn Độ

Chiều hôm ấy được hai vợ chồng chiêu đãi một bữa ăn nửa Âu nửa Á do một đầu bếp thuê từ Hồng Kông. Suốt bữa ăn, lão được nghe chủ nhân kể về sự khác biệt trong xã hội Ấn Độ và ngành điện ảnh mà họ đang kinh doanh. Nói tóm lại, họ đã giải thích trước những cái mà lão sẽ được chiêm nghiệm vào vài ngày tới.

3 giờ sáng hôm sau vợ chồng này cho lái xe đến đón lão tại khách sạn đi 3 tiếng đồng hồ thì đến Taj Mahal để vừa kịp ngắm bình minh ở đây. Taj Mahal là một trong bảy kỳ quan thế giới và còn được biết đến như một đài tưởng niệm tình yêu tuyệt đẹp do Hoàng đế Shah Jahan xây dựng cho vợ mình là Mumtaz Mahal. Đây là một kỳ quan kiến trúc được làm bằng đá cẩm thạch trắng và khảm 33 loại đá quý khác, các nghệ nhân đã mất gần 22 năm để xây dựng lăng mộ kỳ diệu này. Nếu để chiêm ngưỡng kỹ càng lăng mộ này thì cần khoảng vài ngày. Nhưng cưỡi ngựa xem hoa thì cũng nhìn ra một mối tình đáng ca tụng đến muôn thuở. Lão nhớ khi bước vào cổng Taj Mahal, có một dòng chữ viết như sau: “O Soul, thou art at rest. Return to the Lord at peace with Him, and He at peace with you.” ( Này linh hồn, ngươi đã yên nghỉ. Hãy trở về bên Thượng đế, bình yên với Ngài, và Ngài sẽ bình yên với bạn.)


Mấy ngày sau, lão muốn tự mình đi khám phá New Delhi và lang thang hết hang cùng ngõ hẻm. Từ New Delhi hiện đại đến Old Delhi cũ kỹ rách nát. Ghé thăm Chandni Chowk, Jama Masjid, Kinari Bazaar, Silver Market và Chợ Gia vị lớn nhất Châu Á. Rồi đi thăm Cổng Ấn Độ, Tòa nhà Tổng thống, Quốc hội Ấn Độ và Quảng trường Connaught.


Những con đường nhỏ hẹp, quanh co và lề đường của Delhi cũ là minh chứng cho sự cai trị của Mughal trước đây. Old Delhi có một trong những khu chợ lâu đời nhất và sầm uất nhất của đất nước – Chandni Chowk (Moonlight Square). Ở đây bạn có thể chiêm nghiệm những món ăn dân gian của Ấn Độ. Đây cũng là một con phố khác thường, một địa điểm tôn giáo nổi tiếng mà các tôn giáo khác nhau cùng tồn tại. Ở đây có Đền Tianyi Sect Jain, Đền Gaoli Sankha của Ấn Độ giáo, Nhà thờ Christian Central Baptist, nhà thờ Đạo Sikh, Nhà thờ Hồi giáo vàng Islam, Nhà thờ Hồi giáo Islam Fatehpur. Nhà thờ Hồi giáo nổi tiếng nhất ở Delhi, Jama Masjid, cũng nằm gần đó và được xây dựng vào năm 1650.

Đi bộ trên đường phố New Delhi, thủ đô của Ấn Độ, những khác biệt rất lớn ở thành phố này thật đáng ngạc nhiên. Bên cạnh những khu ổ chuột đổ nát là những khu dân cư cao cấp, với những con chim cùng con người kiếm ăn trên bãi rác, những con khỉ trên dây điện trong khu phố cổ ... Sự nghèo đói và giàu sang được bộc lộ quá ư là sắc nét.

Lão đi vào khu ổ chuột Tughlakabad, không khí nồng nặc đầy mùi nước tiểu. Ngoài ra, nhiều con đường ngập rác và chất thải không rõ nguồn gốc, nhiều lúc không biết đặt chân vào đâu, phân trẻ em chỗ nào cũng có, lão thấy vài bà mẹ bế con để chúng ỉa ngay trên đường. Lão len lõi vào một chiếc hẻm, có đoạn chỉ rộng bằng một người đi vào để theo chân một anh bạn lái xe Tuktuk vào thăm nhà anh ta ở đây. Căn nhà có 5 mét vuông kê 2 giường tầng ở đến 6 người. Tuy họ nghèo khổ nhưng họ vẫn vui vẻ nhiệt tình và không hề ái ngại với người bạn mới quen.

Khu ổ chuột ở Old Delhi

Ngược lại ở New Delhi, đặc biệt là trong khu vực trung tâm thành phố, cây cối rậm rạp, sạch sẽ và thoáng rộng, trong khi tình trạng lộn xộn ở Old Delhi thật sự gây sốc, hai cảnh tượng chỉ ngăn cách nhau bởi một bức tường cổ.

Khoảng cách giàu nghèo ở Ấn Độ lớn như thế nào? 5 mét vuông nhà cho người nghèo và 40 nghìn mét vuông dinh thự cho người giàu. Nói vậy dễ hình dung hơn.

Ấn Độ luôn được biết đến là nghèo đói trong mắt người nước ngoài. Nhưng điều mà nhiều người không biết là đất nước bị người khác chê nghèo, nhưng số lượng tỷ phú lại đứng thứ ba thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ và Trung Quốc. Lấy ví dụ như người đàn ông giàu nhất Ấn Độ, Mukesh Ambani. Thu nhập hàng ngày của ông có thể đạt 10,7 tỷ Rupee. Ông đã vượt qua người giàu nhất Trung Quốc Jack Ma trước khi trở thành người giàu nhất châu Á và đứng thứ 16 trong danh sách người giàu toàn cầu.

Ở đất nước này, những khu nhà giàu và khu ổ chuột thường được ngăn cách chỉ một bức tường, nhưng những người giàu lại ngoảnh mặt làm ngơ trước những đồng bào đang chật vật với cơm ăn áo mặc, và cảm thấy không cần thiết phải giúp họ thoát nghèo. Ở phía đông và phía tây của một bức tường, phía đông là thiên đường tráng lệ trên trái đất, phía tây là địa ngục kinh hoàng của trần gian.

Những người giàu sống trong biệt thự, lái những chiếc xe hơi sang trọng và được kẻ thấp hèn hầu hạ. Họ sống như đế vương. Khi màn đêm buông xuống, họ lái những chiếc xe thể thao đắt giá gầm rú trên đường phố và ngõ hẻm. Họ có thể vung phí tiền kể cả ở Paris và hô phong hoán vũ bắt những người da trắng hầu hạ dưới ma lực của đồng tiền.


Còn những người “hàng xóm” của họ sống như chuột cống, tiền sinh hoạt hàng ngày thường chỉ vẻn vẹn một Đô La, họ phải sống trong những căn nhà dột nát, tối tăm ẩm thấp với bốn bức tường, suốt ngày quanh quẩn ở bãi rác tìm kiếm thức ăn có thể nuôi sống bản thân.

Hiện thực là vậy, một trong số ít họ đang đứng trên đỉnh của kim tự tháp và nhiều người còn lại đang quỳ dưới đáy của kim tự tháp, sự khác biệt là không thể tránh khỏi. Nhưng tuy vậy, tầng lớp dưới đáy sống rất vừa lòng với thực trạng, với số mệnh an bài và họ lại rất lãng mạn yêu đời. Bất cứ ở đâu, các bạn đều thấy nụ cười và ánh mắt chan chứa tình cảm của họ. Họ thích múa, thích hát, thích pha trò, chỉ cần đốt lửa và âm nhạc nổi lên, cho dù họ đang bận tay làm gì cũng vứt đấy ra tụ tập nhẩy múa hát hò đã. Mọi người đều không vì nghèo đói mà mất đi sự nhiệt tình và trung thực, một sự thành kính với tôn giáo tuy đơn giản nhưng vững vàng như đá hoa cương không hề suy suyển trước gió mưa, tháng ngày.

Không còn nghi ngờ gì nữa, Ấn Độ là đất nước huyền diệu và lãng mạn, là cõi Cực Lạc mà Đường Tam Tạng đã trải qua muôn vàn gian nan đi đến để thỉnh kinh. Ấn Độ cũng là một đất nước đầy mâu thuẫn, đầy tranh cãi, nhưng lại đầy hấp dẫn. Một số người khi đã bước chân đến đây đều không khỏi yêu nó đến say đắm và khó có thể rời xa, coi nó như thiên đường, nhưng một số người lại chế nhạo Ấn Độ, mô tả nó như một khu chợ ồn ào, bẩn thỉu, nghèo nàn và lạc hậu, và coi nó như địa ngục. 

Nhà văn Mỹ Mark Twain đã từng nói rằng “vì sự phức tạp của Ấn Độ nên bất kỳ sự đánh giá nào cũng đều đúng”. Bản thân Ấn Độ là nơi giao thoa giữa thực tế và mộng cảnh. Câu trả lời nằm trong trái tim mỗi người, ngay trong mắt bạn. Bạn hy vọng nhìn thấy điều gì? Bạn muốn ngăn chặn điều gì? Chỉ bạn mới có thể giải thích Ấn Độ.


Ấn Độ là đất Phật, tuy rằng nó lộn xộn bẩn thỉu phản ảnh lên muôn kiếp nhân sinh trong cõi ta bà. Nhưng nếu bạn đến đây với một tấm lòng hành hương để trải nghiệm, thì ngoại cảnh không cần thiết. Bạn nhìn thấy dấu ấn của Phật, chạm tay vào cổ tích, đấy là thiên đường. Bạn nhìn thấy và chứng kiến hiện thực, đấy là địa ngục.

Lão đã chứng kiến những cảnh tượng không thể hiểu nổi này mà rơm rớm nước mắt, khi đã ngộ ra thấu hiểu mới cảm thấy sự ngu dốt và tầm thường của chính mình. Điều kỳ diệu của Ấn Độ là trong sự hoang tàn và hỗn loạn vẫn tỏa sáng trí tuệ của nền văn minh triết học cổ đại. Nếu nhìn nó bằng bộ óc văn minh hiện đại, bạn sẽ không hiểu hết Ấn Độ. Chúng ta chỉ nhìn thấy sự bất công của chế độ đẳng cấp và sự mê muội vào nhiều vị thần, nhưng chúng ta không thể cảm nhận được sự cân bằng của việc chấp nhận luân hồi ở mỗi người nơi đây, bởi vì tất cả những điều này có thể bị cho là mê tín.

Mặc dù Ấn Độ là một quốc gia, nhưng có hai thế giới cực đoan. Mặc dù họ cực đoan chia rẽ, nhưng lại khăng khít với nhau. Tầng lớp trên bóp cổ tầng lớp dưới, tầng lớp giàu sụ thành công là nhờ sự bóc lột tầng lớp dưới. Vậy trong thế kỷ 21, tại sao Ấn Độ vẫn chưa thay đổi được tình trạng này?

Thứ nhất, chế độ đẳng cấp phân tầng xã hội đã được lưu truyền hàng nghìn năm. Xã hội Ấn Độ được chia thành bốn đẳng cấp, Bà la môn, Kshatriya, Vaisha và Sudra. 

Theo quan điểm của họ, Bà La Môn là cửa miệng của người nguyên thủy và thuộc tầng lớp cao nhất của xã hội. Họ thuộc hàng tăng lữ và có quyền giải thích mọi kinh điển. 

Kshatriya là cánh tay của người nguyên thủy, do Bà-la-môn trực tiếp điều khiển, phụ trách quyền lực quân sự và chính trị. 

Vaisha là đùi của người nguyên thủy, là những người bình thường bao gồm nông dân, người chăn nuôi và thương gia. 

Sudra là chân của người nguyên thủy, thuộc về thấp nhất. Những người thuộc đẳng cấp này bao gồm những người hầu, thợ thủ công, bồi bàn và đầu bếp. Đây là giai cấp đông dân nhất. Những người thuộc dạng Bà La Môn sẽ không hề coi người thuộc dạng Sudra là “người”, không chạm tay vào họ thậm chí nếu đang đi trên đường mà chiếc bóng của họ bị chiếc bóng của người Sudra đè lên cũng lập tức về ngay để tắm rửa sạch sẽ.

Những người ở khúc cuối thấp nhất của kim tự tháp cam chịu phục tùng và không bao giờ cảm thấy rằng có bất kỳ vấn đề gì. Theo quan điểm của họ, ngay từ khi sinh ra, họ đã có một định mệnh bi thảm, nếu không phục tùng tầng lớp thượng lưu, họ sẽ vi phạm ý trời và bị ông trời trừng phạt.

Chế độ đẳng cấp ban đầu chỉ là lời nói xảo quyệt được tạo ra bởi những người ở cấp cao để hưởng sự thịnh vượng và giàu có vĩnh viễn, nhưng lời xảo quyệt này đã được lưu truyền trong 3000 năm và mọi người đều biết bộ mặt thực sự của nó. Người Anh khi thống trị nước này cũng đã từng nghĩ đến việc xóa bỏ chế độ này nhưng cũng không thành.

Ấn Độ đã độc lập trong nhiều năm và chưa bao giờ cảm thấy rằng chế độ đẳng cấp là một tệ hại. Chừng nào nó còn tồn tại, giai cấp xã hội sẽ tiếp tục cố định theo cách này, những người ở dưới đáy sẽ không bao giờ có cơ hội đứng lên và nắm quyền kiểm soát, và khoảng cách giàu nghèo sẽ tiếp tục được nới rộng.

Thứ hai, những mặt hạn chế của Ấn Độ giáo. Tôn giáo này cho rằng phụ nữ là hiện thân của cái ác. Họ được sinh ra để làm mê hoặc thế giới, họ chỉ là kẻ hầu của đàn ông, họ không xứng đáng với bất kỳ phẩm giá nào, và họ không có nhân quyền nào cả. Chừng nào sự nguyên thuỷ và hạn chế của Ấn Độ giáo không bị phá vỡ, thì phụ nữ Ấn Độ sẽ không bao giờ có thể phá vỡ gông cùm. Sự bất công bằng giữa nam và nữ của Ấn Độ khiến các vụ hiếp dâm vẫn sẽ tiếp tục cho đến khi đất nước suy sụp.

Cả chế độ đẳng cấp và Ấn Độ giáo đều đã ăn sâu vào đất nước này và không thể xóa bỏ nó. Bởi vì một khi chạm đến những điều này thì đụng chạm đến lợi ích của tầng lớp trên khi tầng lớp này dù chỉ có 1% dân số nhưng nắm giữ đến hơn 70% tài sản cả nước. Và làm sao họ có thể chịu đựng được chiếc bánh của mình bị kẻ khác chia cắt?

Lần bùng phát thứ hai của đại dịch ở Ấn Độ là hình ảnh thu nhỏ cho những khiếm khuyết của Ấn Độ. Trước hết, họ biết rằng dịch bệnh vẫn chưa qua đi nhưng vẫn tổ chức các nghi lễ tôn giáo hoành tráng và tụ tập tranh cử. Thứ hai, họ tin tưởng một cách mù quáng, mê tín rằng với sự phù hộ của thần linh, họ có thể vượt qua dịch bệnh.

Dịch bệnh bùng phát, người chết như rạ, những người giàu đã đáp máy bay riêng trốn sang châu Âu để hưởng thụ tiếp, để lại những người nghèo vật lộn với dịch bệnh ở vùng đất thảm họa này.

Cầu nguyện cho họ, cầu nguyện cho một đất nước đáng yêu, đáng nhớ và huyền bí.

Phó đức An

Tuesday, August 25, 2026

Lý do tôi đã không trình báo ngay với công an

Lý do tôi không trình báo sự việc với công an ngay lập tức là vì những tổn thương tâm lý mà tôi đang phải trải qua và, trên hết, là những áp lực liên tục từ những người trong nhóm và gia đình Hiếu. Tôi liên tục được nói rằng những người liên quan có đủ tiền bạc, quyền lực và tầm ảnh hưởng để khiến cơ quan chức năng không xử lý vụ việc một cách đúng đắn, bằng chứng có thể biến mất và vụ việc của tôi có thể bị dập xuống.

Lần đầu tiên tôi gặp nhóm bạn này là tại một quán trà sữa. Tôi không biết văn hóa ở Việt Nam như thế nào, và tôi cũng không hiểu tại sao những người vừa mới gặp tôi lại có thể thoải mái đến vậy khi nói về tiền bạc, quyền lực và tầm ảnh hưởng của gia đình họ. Tôi được Vân và Hưng mời tham gia chuyến đi. Đây là lần đầu tiên tôi công khai nhắc đến tên của họ. Khi tôi hỏi liệu tôi có thể trả phần chi phí khách sạn của mình hay không, họ nói không cần vì bố của Đức Minh là chủ khu nghỉ dưỡng.

Trong thời gian ở đó, Quang, một người trong nhóm, nói với tôi rằng bố của Quang làm việc trong cơ quan nhà nước và có người đưa tiền riêng cho ông ấy để các dự án của họ được phê duyệt. Tôi nhớ lúc đó mình thấy lạ khi những người tôi vừa mới gặp lại có thể thoải mái kể với tôi những chuyện như vậy. Nhưng vào thời điểm đó, tôi không biết liệu đây chỉ là sự khác biệt về văn hóa hay những chuyện như vậy được xem là bình thường khi nói đến ở Việt Nam.

Hưng cũng nói rất cởi mở về tiền bạc và công việc kinh doanh của gia đình mình. Hưng nói với tôi rằng công ty Madoka thuộc sở hữu của bố Hưng và một ngày nào đó Hưng sẽ thừa kế công ty và kiếm được rất nhiều tiền từ đó. Hưng nói về tình hình tài chính của gia đình, những dự án lớn mà gia đình đang tham gia, tài sản của bố mẹ và số tiền mà Hưng dự kiến sẽ được thừa kế trong tương lai.

Tôi thấy lạ khi Hưng lại cởi mở kể cho tôi tất cả những điều này. Tôi chưa bao giờ gặp một người vừa mới quen mà lại chia sẻ nhiều đến vậy về tài chính và công việc kinh doanh của gia đình mình. Lúc đó, tôi không nhìn thấy động cơ nào đằng sau việc Hưng kể cho tôi những chuyện này. Tôi không biết liệu đó chỉ là sự khác biệt về văn hóa hay đơn giản là Hưng rất tự hào về gia đình mình và những gì gia đình đã gây dựng được.

Bây giờ nhìn lại, tôi hiểu những điều đó theo một cách khác. Tôi tin rằng họ muốn tôi hiểu rằng họ xuất thân từ những gia đình rất giàu có và có tầm ảnh hưởng. Sau khi tôi kể cho Vân và Hưng về những gì đã xảy ra với tôi vào ngày 5 tháng 7, những cuộc nói chuyện về tiền bạc, quyền lực và các mối quan hệ trở nên có ý nghĩa hoàn toàn khác, bởi vì sau đó tôi liên tục được nói về những điều mà các gia đình này có thể làm bằng tiền bạc và tầm ảnh hưởng của họ.

Sau khi tôi kể cho Vân và Hưng về những gì đã xảy ra với tôi vào ngày 5 tháng 7, họ bắt đầu nói với tôi nhiều hơn nữa về tiền bạc, công việc kinh doanh, tầm ảnh hưởng và các mối quan hệ của những gia đình xung quanh tôi. Hưng nói với tôi rằng gia đình mình có khối tài sản lớn và bố Hưng có tài sản khoảng 50 triệu USD. Hưng kể với tôi về một dự án phát triển lớn gồm nhiều khu căn hộ và số tiền mà họ dự kiến sẽ kiếm được từ dự án đó.

Tôi cũng được kể về mối quan hệ làm ăn giữa gia đình Hưng và gia đình Hiếu. Tôi được nói rằng bố của Hiếu, ông Hùng, có tài sản khoảng từ 5 đến 10 triệu USD. Họ nhắc lại với tôi rằng bố của Đức Minh là chủ khu nghỉ dưỡng nơi sự việc xảy ra. Tôi cũng được nói rằng vì bố của Quang làm việc trong cơ quan nhà nước nên một người có thể trả cho ông ấy 25.000 USD để khiến một vấn đề biến mất.

Lúc đó, tôi không hiểu tại sao họ lại nói với tôi tất cả những điều này ngay sau khi tôi vừa kể cho họ chuyện đã xảy ra với mình. Bây giờ nhìn lại, tôi tin rằng họ đang tác động vào tâm lý của tôi và khiến tôi sợ phải lên tiếng. Đây không phải là những thông tin mà người ta ngẫu nhiên kể cho một người vừa mới chia sẻ rằng mình đã trải qua một sự việc gây tổn thương nghiêm trọng. Khi một người đang hoảng sợ và bị sang chấn tâm lý liên tục được nghe về tiền bạc, các mối quan hệ trong chính quyền, quan hệ làm ăn và tầm ảnh hưởng của tất cả những người xung quanh, đồng thời lại được nói rằng tiền bạc và các mối quan hệ có thể khiến bằng chứng hoặc một vụ việc biến mất, những điều đó sẽ đi vào tâm trí người đó và khiến họ sợ phải lên tiếng.

Điều khiến những lời nói đó càng đáng sợ hơn đối với tôi là khi mọi việc tiếp tục diễn ra, nhiều điều họ đã nói với tôi về các mối quan hệ, sự kết nối và khả năng tác động đến tình hình dường như cũng được phản ánh qua những gì tôi đang trực tiếp trải qua. Vì vậy, tôi không thể đơn giản coi những điều họ nói chỉ là khoe khoang hay những lời nói suông.

Họ cũng nhiều lần nhắc đến việc sự việc xảy ra tại khu nghỉ dưỡng thuộc sở hữu của bố Đức Minh. Điều đó khiến tôi càng sợ hơn vì những người trong nhóm này và gia đình của họ có mối liên hệ với nhau thông qua tình bạn, quan hệ gia đình, công việc kinh doanh và các mối quan hệ trong chính quyền. Tôi bắt đầu lo sợ rằng bằng chứng tại khu nghỉ dưỡng có thể bị xóa hoặc biến mất và những người trong nhóm có thể quay lưng lại với tôi nếu tôi trình báo công an.

Sau sự việc ngày 5 tháng 7, tôi được chẩn đoán mắc PTSD, trầm cảm, lo âu nghiêm trọng và căng thẳng nghiêm trọng. Tôi gặp khó khăn trong việc ăn uống và sinh hoạt bình thường, sức khỏe tinh thần lẫn thể chất của tôi ngày càng suy giảm. Tôi đã nói với họ về những gì đang diễn ra trong đầu mình, bao gồm cả việc tôi có những suy nghĩ về tự tử và gần như không thể ăn uống.

Thay vì coi tình trạng tâm lý của tôi là một vấn đề nghiêm trọng, cô Tâm, mẹ của Hưng, và ông Hùng, bố của Hiếu, đối xử với tôi như thể bệnh tâm lý không phải là một căn bệnh thực sự. Họ nói rằng tôi có thể nhận tiền, đi du lịch và rồi cuối cùng mọi lo lắng của tôi sẽ biến mất. Tôi đã giải thích với họ rằng tôi đang đau khổ về cả tinh thần lẫn thể chất đến mức nào, nhưng tôi cảm thấy tình trạng của mình bị xem nhẹ thay vì được nhìn nhận một cách nghiêm túc.

Tôi tin rằng trạng thái tâm lý dễ bị tổn thương của tôi lúc đó khiến những cuộc nói chuyện liên tục về tiền bạc, quyền lực, tầm ảnh hưởng và các mối quan hệ càng khiến tôi sợ hãi hơn. Vân và Hưng đã nói với tôi về tầm ảnh hưởng và các mối quan hệ của tất cả những người xung quanh. Lúc đó, tôi cứ tự hỏi tại sao họ lại nói với tôi tất cả những điều này. Bây giờ nhìn lại, tôi có thể thấy những thông tin đó đã tác động sâu sắc đến tâm lý của tôi như thế nào. Khi nói với một người đang bị sang chấn rằng những người xung quanh họ đều giàu có, quyền lực, có nhiều mối quan hệ và có khả năng khiến các vấn đề biến mất, điều đó có thể khiến người đó tin rằng việc lên tiếng là vô ích hoặc thậm chí nguy hiểm.

Nhóm này không biết tôi là ai hay bố tôi là ai. Tôi lớn lên với lời dạy của bố rằng tôi không được đi khắp nơi nói với mọi người về tiền bạc, xuất thân hay tầm ảnh hưởng của ông, bởi vì đó không phải là con người của tôi. Đó là những gì thuộc về ông. Những thành tựu và các mối quan hệ của bố tôi không định nghĩa tôi là ai.

Tất cả những gì nhóm này biết là tôi đến Việt Nam để thực tập cho chương trình học của mình. Trong mắt họ, tôi đơn giản chỉ là một sinh viên đang cố gắng hoàn thành chương trình cao học.

Tôi không cảm thấy mình chỉ đang đối mặt với một hoặc hai gia đình giàu có. Tôi cảm thấy mình đang phải đối mặt với cả một nhóm những gia đình giàu có, quyền lực và có nhiều mối quan hệ, trong khi con cái của họ đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Tôi đã liên tục được nghe về công việc kinh doanh, tiền bạc, mối quan hệ giữa các gia đình, các mối quan hệ trong chính quyền và tầm ảnh hưởng của họ. Vào thời điểm đó, tôi cảm thấy như mình bị bao quanh bởi cả một mạng lưới những người có nhiều quyền lực và nguồn lực hơn tôi rất nhiều.

Tôi tin rằng đáng lẽ tôi phải có thể tự đứng lên bảo vệ mình mà không cần đến bố, xuất thân hay bất kỳ mối quan hệ nào của ông. Nhưng sau tất cả những gì tôi được nghe về nhóm này và gia đình của họ, tôi trở nên sợ hãi và cảm thấy mình không thể một mình đối mặt với tất cả những điều đó.

Trước khi họ biết bất cứ điều gì về bố tôi hay gia đình tôi, tôi cảm thấy họ đối xử với tôi như thể tôi không quan trọng. Tôi cảm thấy họ đối xử với tôi như rác rưởi bởi vì, trong mắt họ, tôi không có tiền bạc, quyền lực hay tầm ảnh hưởng giống như những gì họ vẫn liên tục nói với tôi rằng họ có.

Cách suy nghĩ đó là không thể chấp nhận được. Chỉ vì một người cho rằng người khác không có quyền lực không có nghĩa là họ có thể gây áp lực, đe dọa, dùng tiền để khiến người đó biến mất hoặc đối xử với người đó như thể tiếng nói của họ không có giá trị.

Sau khi cha mẹ biết chuyện đã xảy ra với tôi, cô Tâm, mẹ của Hưng, và ông Hùng, bố của Hiếu, đã sắp xếp một cuộc gặp với tôi. Họ nói rằng họ rất sốc về những gì Hiếu đã làm với tôi, nhưng họ không quan tâm đến việc lắng nghe câu chuyện của tôi hay nghe tôi kể những gì tôi thực sự đã trải qua. Tôi cố gắng giải thích về những đau đớn mà mình đã phải chịu đựng, nhưng thay vì lắng nghe, cuộc nói chuyện lại tập trung vào tiền bạc và việc bồi thường. Tôi cảm thấy họ quan tâm nhiều hơn đến việc đưa tiền cho tôi để giải quyết sự việc hơn là hiểu những gì đã xảy ra với tôi và những hậu quả mà nó đã gây ra cho cuộc sống của tôi.

Tôi nói với họ rằng tôi nghĩ mình nên đến Đại sứ quán Hoa Kỳ. Họ nói không. Họ nói rằng nếu tôi làm vậy thì mọi chuyện sẽ trở thành một vấn đề đau đầu cho tất cả mọi người và khuyên tôi nên dành thêm thời gian để suy nghĩ lại.

Sau khi nghe Hiếu có vẻ rất hối lỗi trong đoạn ghi âm và đọc lá thư, tôn giáo, đức tin và mong muốn đối xử với người khác bằng sự bao dung của tôi đã ảnh hưởng đến cách tôi nhìn nhận tình hình. Tôi nghĩ rằng vì Hiếu đã xin lỗi tôi, có lẽ Hiếu thực sự có sự hối hận.

Trong khi đó, cô Tâm, mẹ của Hưng, và ông Hùng, bố của Hiếu, vẫn tiếp tục nói với tôi rằng những chuyện như vậy là chuyện bình thường và tôi không nên khóc nhiều đến thế. Họ thừa nhận rằng những gì xảy ra với tôi là một chuyện lớn, nhưng nói rằng tôi có thể biến chuyện lớn thành chuyện nhỏ bằng cách giải quyết và nhận tiền. Tôi được nói rằng những chuyện như vậy xảy ra với rất nhiều người ở Việt Nam và nhiều người đơn giản là không nói ra.

Họ hỏi tôi liệu tôi có muốn làm gia đình mình xấu hổ hay không. Tôi cảm thấy mình liên tục bị đổ lỗi với tư cách là nạn nhân. Tôi được nói rằng vì tôi đã uống rượu nên những gì xảy ra bằng cách nào đó cũng là lỗi của tôi. Tôi bị trách vì ngay từ đầu đã tham gia chuyến đi. Tôi nói với họ rằng nếu tôi biết chuyện gì sẽ xảy ra với mình thì tôi đã không bao giờ đi.

Việc đổ lỗi cho nạn nhân diễn ra liên tục. Sự thao túng và áp lực cũng diễn ra liên tục. Tôi liên tục bị khiến cho cảm thấy rằng những gì xảy ra bằng cách nào đó là lỗi của mình và rằng tiền bạc đáng lẽ phải đủ để khiến mọi chuyện biến mất.

Vân và Hưng nhiều lần nói với tôi rằng gia đình họ và những gia đình khác xung quanh họ có quyền lực và tầm ảnh hưởng lớn đến mức nào. Tôi liên tục được nói rằng tiền bạc, các mối quan hệ và tầm ảnh hưởng có thể dập vụ việc của tôi xuống. Những điều đó được nói với tôi hết lần này đến lần khác, và vào thời điểm đó, tôi đã coi những lời nói đó là nghiêm túc.

Tôi nói với Vân rằng tôi muốn trình báo công an, và Vân hỏi tôi: “Chị có thật sự muốn kéo tất cả mọi người vào chuyện này không? Chị biết công an sẽ phải vào cuộc. Chị biết chuyện này sẽ trở thành vấn đề đau đầu cho tất cả mọi người. Chị sắp về Mỹ rồi. Tại sao chị không nhận tiền rồi đi?”

Tôi đã cảm thấy xấu hổ, bị sang chấn và sợ hãi. Tôi không nói ngay với bố mình bởi vì tôi sợ ông sẽ nghĩ gì và liệu những gì xảy ra với tôi có khiến gia đình tôi xấu hổ hay không. Hiếp dâm vẫn là một chủ đề vô cùng khó khăn và nhạy cảm để nói đến, và vào thời điểm đó, chính tôi cũng đang cố gắng hiểu và xử lý những gì đã xảy ra với mình.

Đúng, ban đầu tôi muốn giải quyết chuyện này một cách riêng tư. Tôi sợ phải nói với cả thế giới về những gì đã xảy ra với mình, và tôi liên tục bị thao túng và gây áp lực bởi những người trong gia đình này cũng như những người xung quanh họ. Vào thời điểm đó, tôi thực sự nghĩ rằng đây là chuyện tôi có thể tự mình giải quyết mà không cần phải để bố tôi tham gia.

Tôi không muốn nói với bố vì tôi cảm thấy xấu hổ về những gì đã xảy ra với mình. Tôi sợ bố sẽ nghĩ gì về tôi, và tôi nghĩ rằng đây là chuyện mình phải có khả năng tự giải quyết. Tôi muốn giữ kín những gì đã xảy ra và giải quyết chuyện này một cách riêng tư mà không kéo gia đình mình vào.

Nhưng thực tế không phải như vậy. Tôi càng cố gắng giải quyết mọi chuyện trong im lặng và riêng tư, tôi càng phải đối mặt với nhiều áp lực, sự thao túng, đổ lỗi cho nạn nhân và những cuộc nói chuyện về tiền bạc, quyền lực và tầm ảnh hưởng. Cuối cùng, tôi nhận ra rằng mình không thể tiếp tục một mình đối mặt với tất cả những điều này. Việc ban đầu tôi muốn giải quyết chuyện này một cách riêng tư không có nghĩa là những gì xảy ra với tôi ít nghiêm trọng hơn. Điều đó có nghĩa là tôi đã sợ hãi, xấu hổ, bị sang chấn và đang cố gắng tìm cách đối mặt với một chuyện mà tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ phải trải qua.

Nhiều người cho rằng tôi công khai câu chuyện này vì tôi không nhận được số tiền mà mình muốn. Điều đó không đúng.

Ban đầu, tôi được đề nghị 200 triệu đồng, khoảng 8.000 USD. Tôi được nói: “Chị may mắn lắm mới được số tiền này. Nhiều nạn nhân ở Việt Nam còn không nhận được như vậy, nên chị cứ nhận tiền, đi du lịch và quên chuyện này đi.”

Sau đó, khi tôi đã trình báo sự việc với công an, họ hiểu rằng tôi không còn sợ phải lên tiếng nữa. Họ hiểu rằng họ không còn có thể thao túng tôi, tác động vào suy nghĩ của tôi hay gây áp lực khiến tôi im lặng. Sau đó, tôi được đề nghị 100.000 USD để giữ im lặng.

Điều ảnh hưởng sâu sắc đến tôi chính là cách họ đối xử với tôi.
Chuyện này chưa bao giờ là việc 8.000 USD hay 100.000 USD có đủ hay không. Tôi không muốn đặt một cái giá lên những gì đã xảy ra với mình. 

Điều khiến tôi đau lòng là cảm giác tiền bạc liên tục được sử dụng như một cách để khiến sự việc biến mất và khiến tôi ngừng lên tiếng.

Tôi mất khoảng hai tuần mới có thể lên tiếng vì tôi sợ. Tôi sợ gia đình mình sẽ nghĩ gì. Tôi sợ những gì xảy ra với tôi sẽ khiến gia đình tôi xấu hổ. Tôi đang phải vật lộn về tâm lý, đồng thời liên tục được nghe về tiền bạc, tầm ảnh hưởng và các mối quan hệ của những người mà tôi sẽ phải đối mặt.

Nhưng sau cách họ đối xử với tôi, trong lòng tôi cảm thấy có điều gì đó không đúng. Tôi liên tục được nói rằng mình chỉ cần nhận tiền và quên đi những gì đã xảy ra. Tôi được nói rằng những chuyện như thế này đã xảy ra với những người khác. Tôi bắt đầu tự hỏi tại sao mọi người lại nhanh chóng muốn giải quyết những gì đã xảy ra bằng cách trả tiền để tôi im lặng thay vì lắng nghe những gì tôi đã trải qua.

Ngay cả khi tôi ngồi trước mặt họ, nước mắt chảy dài trên mặt và cố gắng giải thích những đau đớn về tinh thần và thể chất mà mình đang phải chịu đựng, tôi vẫn cảm thấy họ quan tâm đến việc làm cho sự việc biến mất hơn là thực sự hiểu những gì đã xảy ra với tôi.

Đó là lý do tại sao tôi đã sợ phải lên tiếng. Không phải vì tôi muốn tiền. Trong một trong những giai đoạn đau đớn và tổn thương nhất của cuộc đời mình, tâm lý của tôi rất dễ bị tổn thương, tôi liên tục bị đổ lỗi, bị gây áp lực phải giải quyết bằng tiền và liên tục được nói rằng tiền bạc, quyền lực, tầm ảnh hưởng và các mối quan hệ có thể khiến vụ việc của tôi biến mất.

Bây giờ nhìn lại, tôi hiểu tại sao việc nghe tất cả những thông tin đó lại ảnh hưởng đến tôi sâu sắc đến vậy. Lúc đó, tôi không hiểu tại sao những người gần như chưa quen biết tôi lại kể cho tôi quá nhiều về tiền bạc, công việc kinh doanh, các mối quan hệ trong chính quyền và tầm ảnh hưởng của mọi người xung quanh. Tôi chưa bao giờ gặp những người thoải mái đến mức nói với tôi về tài sản của bố mẹ họ, những công ty mà họ sẽ thừa kế và liên tục nhấn mạnh gia đình họ có bao nhiêu tiền và tầm ảnh hưởng lớn đến mức nào.

Bây giờ tôi nhìn những cuộc nói chuyện đó theo một cách khác. Theo cách nhìn của tôi, đó không phải là những thông tin ngẫu nhiên. Đó là những thông tin đã đi vào suy nghĩ của tôi và khiến tôi sợ hãi. Bây giờ tôi tin rằng họ muốn tôi hiểu rằng họ xuất thân từ những gia đình rất giàu có và có tầm ảnh hưởng. Khi một người đang bị sang chấn liên tục được nói rằng tất cả những người xung quanh họ đều giàu có, quyền lực và có nhiều mối quan hệ, rồi lại được nói rằng tiền bạc có thể khiến bằng chứng, vấn đề hoặc một vụ việc biến mất, điều đó sẽ tạo ra nỗi sợ về những gì có thể xảy ra nếu họ lên tiếng.

Không một ai nên bị đối xử như thể tiếng nói của họ chỉ có giá trị sau khi người khác biết gia đình họ là ai. Không một nạn nhân nào nên bị đối xử như thể chỉ cần trả tiền là họ có thể bị khiến cho biến mất chỉ vì người khác cho rằng họ không có quyền lực. Đó chính xác là kiểu suy nghĩ mà tôi tin rằng cần phải thay đổi.

Tam Nguyen

Friday, August 21, 2026

Màu Vàng Của Gió














LTS: Sau khi bài viết này được đăng vào hôm qua, ngày 14 tháng 8, tòa soạn và giải thưởng VVNM nhận được tin tác giả Biển Cát đã giã biệt chúng ta vào một ngày tháng Sáu. Đây là bài cuối cùng tòa soạn nhận được từ tác giả, chỉ vài ngày trước khi bà đột ngột ra đi. Ban tuyển chọn VVNM và tòa soạn Việt Báo xin trân trọng thắp nén hương tưởng nhớ tác giả và gửi lời cầu nguyện, phân ưu đến các cháu và tang quyến.

Tác giả tên thật là Trần Hương Thủy, từng sống tại South Carolina. Bà bắt đầu tham giải thưởng VVNM vào tháng bảy năm 2022, nhanh chóng trở thành một trong những cây bút được yêu mến và đọc nhiều nhất trong giải thưởng VVNM. Bà đã nhận giải Vinh Danh Tác Phẩm 2023 và mới đây tiếp tục nhận giải Vinh Danh Tác Giả 2025. Bài viết mới nhất (và cuối cùng) của bà gửi cho tòa soạn là câu chuyện buồn về một người mẹ lần theo màu vàng của hoa dã quỳ để tìm mộ đứa con trai yêu dấu, một người lính trẻ VNCH đã ngã xuống trong những ngày cuối tháng 4 -1975 trên chiến trường Pleiku-Việt Nam.

***

Ở lại nhé anh
Đồi dã quỳ dập dờn vàng màu gió
Tan vào hư không
Tuổi mười tám rạng ngời “ (BC)

Mùa đông ở vùng ngoại ô Virginia không có khái niệm về sự dịu dàng. Nó là một khối xám xịt của bầu trời mọng nước, chuẩn bị đổ xuống những cơn mưa tuyết mù mịt. Trong căn bếp nhỏ của gia đình, bà Liên ngồi bên bậu cửa sổ, nhìn ra hàng rào sắt đang đóng một lớp băng mỏng.

Bà đã sống ở đây gần năm mươi năm, nhưng dường như tâm hồn bà chưa bao giờ thực sự đi qua khỏi cửa sân bay. Bà sống trong một “ốc đảo” của riêng mình. Trong căn bếp đó, mùi nước mắm kho cá luôn đánh vật với mùi lavender từ chiếc máy xịt phòng tự động mà chị Hai gắn trên tường. Trên tivi, những bản tin tiếng Anh của đài CNN trôi qua tai bà như tiếng gió hú ngoài khe cửa.

Chị Hai thường gọi thói quen của bà là “hội chứng tích trữ của người di dân”. Trong tủ bếp, bà xếp ngay ngắn hàng chục chiếc hộp thiếc cũ: hộp bánh quy gỉ sét, hộp đựng trà, hay những chiếc lọ thủy tinh rỗng. “Mẹ giữ mấy thứ này làm gì cho chật nhà?” – Chị Hai vừa hỏi vừa vứt một xấp quảng cáo vào thùng rác.

Bà Liên chỉ im lặng, bàn tay nhăn nheo vuốt ve cạnh sắc của một nắp hộp. Bà không biết giải thích sao cho con hiểu. Bà giữ chúng vì bà luôn có cảm giác mình đang chờ đợi một thứ gì đó để đựng. Một nhúm đất quê nhà? Một kỷ vật từ quá khứ? Hay chỉ đơn giản là bà sợ nếu không có những chiếc hộp này, những ký ức mong manh của bà sẽ tan biến hết vào cái không gian lạ lẫm, thơm mùi xà phòng và lạnh lẽo này của nước Mỹ.

Nhưng có một thứ không chiếc hộp nào đựng nổi: Màu vàng. Dạo gần đây, bà bắt đầu mơ thấy màu vàng thường xuyên hơn. Không phải màu vàng của nắng Virginia – thứ nắng yếu ớt và nhợt nhạt – mà là một màu vàng đặc quánh, rực rỡ đến đau đớn. Đó là màu hoa Dã quỳ trong lá thư cuối cùng của Bình.

Bà nhớ về buổi sáng cuối năm 1974 ấy, khi lệnh tổng động viên ập đến nhà như một cơn lũ dữ. Bình khi đó mới mười tám tuổi, cái tuổi mà người ta nên mơ về những giảng đường đại học hay những cái nắm tay thẹn thùng.

Bà nhớ bức hình duy nhất Bình chụp gửi về trong bộ quân phục. Nó quá rộng. Bình gầy quá. Đôi cầu vai như xệ xuống, trông anh không giống một người lính đi bảo vệ đất nước, mà giống một đứa trẻ đang mặc trộm đồ của người lớn để đi chơi hội.

“Con đi rồi con về. Mẹ nhớ giữ chiếc radio cho con nhé, con mới thay cái tụ điện nửa chừng,” Bình nói, nụ cười có chiếc răng khểnh hiện ra dưới làn bụi mịt mù khi chiếc xe Honda của chị Hai nổ máy chở anh đi.

Chiếc radio đó vẫn nằm trong hộc tủ ở Virginia, hỏng hóc và im lìm. Bình đã không bao giờ trở về để hoàn thành nốt mối hàn còn dở. Cuộc di tản cuối tháng Tư năm đó đã cuốn bà đi, để lại Bình ở phía bên kia đại dương, trong một vùng sương mù mang tên Pleiku. Tin báo tử đến với bà trên một trại tị nạn ở đảo, khô khốc và ngắn ngủi đến mức bà không tin đó là sự thật. Làm sao một chàng trai mười tám tuổi, người vẫn còn hay quên tắt đèn trước khi đi ngủ, lại có thể tan biến vào đất đá nhanh đến thế?

“Hai à,” bà Liên gọi, giọng bà khàn đặc nhưng kiên định. “Mẹ phải về. Mẹ phải tìm nó.” Chị Hai dừng tay trên bàn phím laptop, thở dài: “Mẹ lại nói chuyện đó. Đã gần năm mươi năm rồi, bây giờ về đó biết tìm ở đâu? Pleiku đâu có nhỏ, rừng núi không chứ có phải cái sân sau nhà mình đâu mẹ?”

“Mẹ không tìm rừng núi,” bà Mỹ nhìn vào chiếc hộp thiếc rỗng trên tay, đôi mắt mờ đục bỗng sáng lên một tia sáng lạ lùng. “Mẹ tìm màu vàng. Bình nó nói hoa Dã quỳ ở đó đẹp lắm. Nó đang đợi mẹ ở đó.”

Chị Hai nhìn mẹ, rồi nhìn ra cơn mưa tuyết đang bắt đầu nặng hạt bên ngoài. Chị nhận ra rằng, nếu không đưa mẹ về, thì mùa đông trong trái tim bà sẽ không bao giờ kết thúc.

Trong lòng người mẹ, sự chờ đợi âm ỉ dấu kín từ bao năm đã trở thành nỗi nôn nóng, thúc giục. Bà bảo chị Hai đặt vé về Việt Nam ngay trong tháng. Một mặt, bà chuẩn bị hành lý. Hành lý của bà không cần nhiều quần áo, nhưng có những thứ Bình thích ngày nào: một hộp kẹo chocolate, một hộp bánh đậu xanh, cái quần jean xanh lúc đó bà hứa mà chưa kịp mua cho con, một chiếc áo len bà đan dở định gửi cho con – nhưng không kịp. Và còn nữa. Một chiếc khăn tay trắng để Bình lau nước mũi, vì anh hay bị dị ứng.

Cả ngày, bà cứ săm soi chiếc vali, thỉnh thoảng lại hỏi chị Hai:

– Con coi còn thiếu món nào cho nó không?

Mấy lần chị Hai định buột miệng nói – má đem lỉnh kỉnh làm gì cho nặng. Nó đâu còn mà dùng những thứ đó. Nhưng nhìn ánh mắt bà, chị lại nuốt tiếng thở dài vào trong.

Những ngày ở Pleiku trôi qua trong một thứ thời gian lỏng, không đầu không cuối. Bà Liên và chị Hai đi từ nơi này sang nơi khác, từ văn phòng cũ kỹ sang những ngôi nhà mới xây, nơi người ta lắc đầu nhiều hơn là trả lời. Thành phố đã thay da đổi thịt. Những con đường đất đỏ ngày xưa Bình nhắc trong thư nay đã tráng nhựa, phẳng lì và xa lạ. Rừng bị đẩy lùi. Đồi trọc lởm chởm những móng nhà.

Tin tức về những ngày tàn cuộc chiến chỉ còn là những mảnh rời rạc, truyền miệng, mờ như sương sớm. Người nhớ người quên. Tên Bình không ai nhận ra. Có người bảo có, rồi lại lắc đầu. Có người chỉ tay về một hướng mơ hồ, như thể chỉ về một giấc mơ đã cũ.

Mỗi buổi tối, bà Liên ngồi lặng bên cửa sổ nhà trọ, nhìn ra những dải đèn vàng kéo dài trên phố. Màu vàng ấy không phải thứ bà tìm. Nó lạnh và xa lạ, không có mùi gió thơm nồng quyện lao xao tiếng lá. Trong lòng bà, một nỗi trống trải lan ra chậm rãi, như nước thấm vào đất khô.

Hết tuần thứ hai, chị Hai nói nhỏ:
– Mẹ… mình về thôi.

Bà Liên không trả lời. Bà biết. Bà đã biết từ lâu. Nhưng vẫn có điều gì đó trong bà chưa chịu buông.

Sáng hôm ấy, trên đường đi bộ ra đường cái để đón xe về, gió từ đâu thổi tới, mang theo một mùi ngai ngái quen thuộc. Bà Liên chậm lại. Rồi dừng hẳn. Bên con đường đất nhỏ, khuất sau một hàng rào gỗ cũ, là một khu vườn dã quỳ rực rỡ. Những bông hoa vàng đặc quánh, chen chúc, nghiêng mình trong gió. Màu vàng không nhợt nhạt. Không lẫn lộn. Nó sáng đến nhức mắt – đúng thứ màu bà đã mang theo suốt nửa thế kỷ trong ký ức. Đôi chân bà như không còn nghe lời. Bà bước vào, bươn bả, lặng lẽ, như người mộng du. Chị Hai gọi với theo.

Nhưng bà Liên không nghe thấy. Bà như người mất hồn. Gió từ thung lũng thổi ngược lên, mang theo một thứ mùi ngai ngái của đất ẩm và một mùi hương thanh khiết, hăng hắc mà bà đã không ngửi thấy suốt mấy mươi năm. Bà bắt đầu bước đi. Bước chân của người đàn bà gần tám mươi tuổi bỗng trở nên hối hả, như thể có một sợi dây vô hình đang kéo bà đi về phía một khu vườn nhỏ nằm khuất sau rặng thông.

Đó là một biển hoa Dã quỳ. Chúng không mọc lố nhố vài bông như bên đường, mà dầy đặc, kết thành một bức tường vàng rực rỡ dưới nắng chiều. Màu vàng đó mạnh đến nỗi nó làm bà lóa mắt. Bà bước vào giữa những tán hoa cao quá đầu người. Chị Hai chạy theo sau, miệng không ngừng gọi mẹ, nhưng rồi cũng phải im bặt khi nhìn thấy ngôi nhà nhỏ nằm im lìm giữa lòng hoa.

Một người phụ nữ trung niên bước ra khỏi hiên nhà, trên tay là một rổ đầy những đài hoa khô. Cô nhìn bà Liên, nhìn bộ quần áo quá lịch sự so với vùng đất này, rồi nhìn vào đôi mắt đỏ hoe của bà. Bà Liên lắp bắp khen hoa đẹp, đẹp lạ lùng, không giống bất cứ vườn hoa nào bà từng thấy. Người phụ nữ mỉm cười, rồi kể, như thể đã kể câu chuyện ấy rất nhiều lần.

Ngày xưa, mấy chục năm trước, những ngày cuối cùng của cuộc chiến, có một thanh niên trẻ gục xuống trước cửa nhà. Cha cô thương tình, đem chôn phía sau vườn. Từ đó, dã quỳ mọc lên, lan ra, phủ kín mảnh đất ấy. Hoa năm nào cũng nở rộ, bất chấp nắng mưa.

Bà lặng người, quay nhìn ra cổng, tưởng như nhìn thấy con đang nằm đó, máu chảy từ lồng ngực loang đỏ áo, thấm từng giọt vào lòng đất. Người phụ nữ dẫn họ ra sau nhà. Ở đó, có một khoảng đất trống nhỏ được bao quanh bởi những gốc Dã quỳ cổ thụ, thân to như cánh tay người lớn. Giữa những gốc hoa là một nấm mồ đất thấp, không ốp gạch, không có những vòng hoa sặc sỡ, chỉ có một tấm bia xi măng nhỏ đã mọc rêu xanh. Trên đó, dòng chữ khắc bằng tay đã mờ đi nhưng vẫn đủ để đọc được: 25.04.1975.

“Cha tôi kể lại,” người phụ nữ vừa thắp nén nhang vừa nói, “vào cái ngày cuối tháng Tư đó, khi đoàn quân tan rã chạy qua đây, chợt một người lính trẻ gục xuống ngay cổng. Anh ấy không có giấy tờ tùy thân, chỉ có một lá thư viết dở gửi về cho mẹ ở Sài Gòn. Cha tôi thương tình, đưa vào đây chôn cất. Cha nói: Người sống có cái nhà, người chết có nấm mồ. Đừng để chú ấy nằm lạnh lẽo bên đường.”

Bà Liên quỵ xuống. Bà không khóc thành tiếng, mà là một tiếng nấc nghẹn từ sâu trong lồng ngực. Bà chạm tay vào nấm đất. Đây rồi. Đứa con trai mười tám tuổi của bà, người đã hứa sẽ về sửa nốt chiếc radio, người đã bị chiến tranh vặn vẩy và ném sang một bên chỉ vài ngày trước khi tiếng súng ngưng hẳn. Lúc này, bà mới thấy cuộc chiến vô lý đến mức nào.

Bình nằm đây, dưới gốc hoa này, trong khi bà ở bên kia đại dương, ngày ngày nhìn ra tuyết trắng. Anh đã ở đây năm mươi năm, cô độc dưới một nắm mồ không tên tuổi. Máu anh đã đổ xuống thấm sâu vào đất, để nuôi dưỡng cho cái màu vàng rực rỡ đến nhói lòng.

Một cơn gió từ thung lũng thổi qua, làm những cánh hoa Dã quỳ rung rinh. Từ trong nấm mộ, một hạt bụi nhỏ li ti – có lẽ là tro nhang, có lẽ là phấn hoa, hay có lẽ là một mảnh linh hồn – bay lên. Nó xoay vòng trong không trung một lát rồi nhẹ nhàng đậu xuống, bám vào một sợi tóc bạc sát vành tai của bà Liên. Bình thì thầm trong tiếng gió : “Con về đây với mẹ rồi. Mẹ đừng tìm con trong những chiếc hộp thiếc nữa…”

Chị Hai nghẹn ngào cúi xuống cắm nén nhang trên mộ Bình. Ánh mắt chị dừng lại trên tấm bia không tên trơ trọi.

Chị thì thầm trong nước mắt:
– Bình ơi, chị sẽ khắc thêm dòng chữ Nguyễn Thanh Bình vào đây nhé. Từ nay em không còn vô danh nữa. Em đã tìm lại tên mình rồi.

Trên chuyến bay rời Việt Nam, khi máy bay bắt đầu lăn bánh, bà Liên nhắm mắt. Trong tiếng động cơ trầm đục, bà mơ hồ nghe một tiếng thì thầm quen thuộc. Gió lướt ngang mặt bà, ấm và nhẹ, như một nụ hôn vội.

– Mẹ về bình an nhé. Con phải ở lại đây… cùng bạn bè. Mảnh đất này đã thấm máu của chúng con.

Khi máy bay cất cánh, hạt bụi nhỏ rời khỏi mái tóc bà, trôi ngược vào không trung, theo gió quay về khu vườn dã quỳ. Ở đó, màu vàng tiếp tục nở, tiếp tục lay động – không để giữ, mà để nhớ.

Bà Liên ngồi yên cho đến khi tiếp viên nhắc cài dây an toàn. Bà không quay đầu nhìn lại. Có những cuộc chia tay, nếu ngoảnh lại, sẽ không thể đi tiếp được nữa. Chiếc vali nhỏ nằm dưới chân bà. Những món đồ bà mang theo cho Bình vẫn còn nguyên, nhưng bỗng dưng không cần trao nữa. Chúng đã hoàn thành chuyến đi của mình. Và xếp cạnh bức thư cuối cùng của anh như những kỷ vật không thể nào thất lạc.

Bên ngoài cửa sổ, mặt đất thu nhỏ dần, màu xanh chồng lên màu nâu, rồi tan vào mây trắng. Bà Liên đặt bàn tay lên ngực, nơi có một khoảng trống vừa đủ để thở.

Lần đầu tiên sau rất nhiều năm, bà hiểu rằng: con bà không lạc mất. Con đã làm tròn bổn phận của một người chiến sĩ – nằm xuống và ở lại cùng mảnh đất quê hương.

Biển Cát
"Thời kỳ lạ"  sau 1975

Nhìn lại những năm tháng mà chúng ta phải làm quen để theo kịp đà tiến lên xã hội chủ nghĩa, kinh nghiệm để đời, để không ngây thơ khờ dại, để không bị ru ngủ….

Đây là hậu quả….

Đó là một thời kỳ lạ xuất hiện sau năm 1975 ở miền Nam vì chưa bao giờ diễn ra như vậy. Cuộc sống khó khăn ập đến, hiện diện mỗi ngày trong từng gia đình. Mọi nhu cầu đều phải co lại, chỉ còn ưu tiên ăn và mặc.

Thời đó, sợ nhất là bị trộm quần áo. Phơi đồ trên dây sát hàng rào luôn phải trông chừng không chút nào ngơi vì có thể bị móc trộm. Nhà nào có được cái quần jean từ nước ngoài gửi về mà bị mất là méo cả mặt. Loại quần này bận đến bạc phếch vẫn đẹp, rách vẫn có thể tận dụng vải để may nón, túi xách, không bỏ chút gì. Áo sơ mi bận lâu bị sờn cổ hay bị ố vàng vì mồ hôi, sẽ có người nhận lộn cổ áo lại nhìn như mới, hoặc đem nhúng vào dương giấy cho có màu xanh lơ thay vì màu vàng cũ do giặt bằng xà bông đá 65 phần dầu.

Vài cô thợ may nhận vá mông quần của khách bị rách bằng những đường chỉ tạo thành hình vuông hay tròn đồng tâm rất khéo, rất nhuyễn. Nhà nào trong nhà còn trữ đồ lính Việt Nam Cộng Hòa do cha anh để lại thì rất may mắn cho mấy cậu con trai. Quần đem sửa lại cho vừa, nhuộm đen, vừa đẹp vừa bền. Chỉ có điều bất tiện, khi giặt phải để riêng, nếu không màu nhuộm sẽ thôi ra quần áo khác, và khi ủi xong phải lau mặt bàn ủi cho sạch màu đen.

Học trò đi học, sau khi dùng nát mấy cái cặp da, cặp giả da từ mấy năm trước của cha anh bỏ lại, giờ đi học bằng túi vải may từ vải bố. Anh nào giữ thói quen mang khăn mùi xoa trong túi quần thì nhờ người thân cắt miếng vải vuông từ lưng áo cũ, may viền bốn cạnh là có cái khăn lịch sự thỉnh thoảng móc ra chậm mồ hôi trên trán lấy le. Ai giữ được vài xấp vải xoa Pháp, tergan hay dacron là yên tâm để nếu cần đem ra may bận đám cưới, hoặc có thể bán ra mua gạo mà ăn.

Còn ăn uống thì có gì ăn nấy từ số lương thực phân phối, là bột mì, bo bo, khoai mì, khoai lang… ăn không nổi thì đem đổi gạo dù phải chịu thiệt. Mọi gia đình tìm đủ cách xoay xở cho bữa cơm gia đình. Vai trò của phụ nữ trong nhà nổi lên, khi đàn ông vắng nhà đi cải tạo, hoặc thất nghiệp.

Những người đang bước vào tuổi sáu mươi, ai cũng có câu chuyện của mình khi đã trải qua thời gian đó. Câu chuyện của anh Hùng, bạn tôi trong một buổi họp mặt khiến mọi người như trở lại thời mình mới hơn mười tuổi mà dư vị của một thời quá đậm đà không quên được.

Hùng kể căn nhà của anh ở Bà Quẹo lúc đó có tới mười ba người, ba mẹ và các con. Trong đó, chỉ có vài người anh chị của Hùng đi làm công nhân viên với lương và nhu yếu phẩm bèo bọt. Ba đang lái xe buýt thì sau 1975 bị thất nghiệp vì không còn xăng. Má bán ngoài chợ nhỏ, xoay xở đủ mọi cách để có bữa ăn cho mười ba miệng ăn.

Chị của Hùng kể lúc ra phía Lăng Cha Cả có gặp một chị bạn hồi trung học lang thang ngoài đó bán khoai lang luộc, đi cùng một cô bạn. Chị ấy trước năm 1975 đang học đại học Luật, gia đình sống trong cư xá dành cho sĩ quan cảnh sát ở Phú Nhuận. Hai chị đó đi bán mà không ai mua, buồn tình đi ngắm chợ trời, ở đó có bán đủ thứ món của Sài Gòn tư bản lấy ra từ các nhà người Mỹ bỏ đi trước ngày 30 tháng 4, hoặc chính người trong nhà đem ra bán để đổi lấy gạo hay quần áo, có từ cái đồng hồ Nhật, Thụy Sĩ đến tủ bàn ghế, máy Akai, dĩa hát, xe đạp, dụng cụ nhà bếp… Chị ấy kể nhiều bữa phải ôm rổ khoai lang bán ế thất thểu ra về, bụng hai chị em đói meo mà không dám mua món gì để ăn.

Ở nhà Hùng, má xoay đủ mọi cách để có bữa cơm tạm được cho cả nhà. Má mua đầu cá thác lác về kho với nước dừa, ngon và béo ngậy, rất hao cơm. Hôm nào chị Hai mua được đầu tôm càng về kho tàu (thân tôm để xuất khẩu) là càng tốn cơm với đám con đang lớn. May là có vườn nhà bà Năm kế bên, hôm nào thiếu thức ăn chỉ cần làm tô nước mắm kho quẹt, ra vườn hái mớ rau để chấm là đủ bữa cơm. Ngon nhất là rau càng cua, đem vô rửa sạch trộn với dấm và trứng luộc xắt khoanh mỏng. Đến Tết, nấu được nồi thịt kho thì bỏ vô nhiều đợt trứng cho thấm hết chất nước giàu đạm và béo, đến khi cạn nước mới thôi.

Kế bên nhà của Hùng có một khoảnh vườn nhỏ của bà Năm, người trong dòng họ. Bà Năm ở xa nên nhờ ba má Hùng trông giùm khoảnh vườn này. Ở đó, má trồng bông huệ, bông vạn thọ đợi lớn đem ra chợ bán, xoay đủ kiểu để kiếm tiền lo ba bữa cơm. Ba không khỏe, các anh chị lớn đều đi làm nên không thể khai thác được miếng vườn nhiều hơn. Vườn tược trở nên hoang sơ, tối gió thổi lồng lộng vào nhà, đầy tiếng mèo hoang hơn chục con kêu gào từ đó vọng vào.

Một hôm, Hùng vừa bước vào bếp bỗng thấy cả đám mèo từ bên vườn dò dẫm bước qua gian bếp. Trong tủ bếp, má để dĩa cá cho chị Hai đi làm ca về trễ ăn bữa cơm tối muộn. Hai ba con mèo tinh quái dùng tay khều cái chốt tủ gạc-măng-giê, mở toang cửa và lôi con cá ra thật nhanh. Hùng chạy tới thì cá đã bị mèo ngậm mang đi.

Tối đó, ba và mấy ông anh ngồi tính toán bàn với nhau. Mấy con mèo phá quá, kêu gào, ăn vụng đủ thứ. Đang lúc khan hiếm chất đạm, thịt mèo cũng là loại thịt ăn được, thì phải tính. Thế là vài hôm sau ông anh lớn mang về một cái bẫy bằng lưới kim loại, nhìn giống bẫy chuột nhưng lớn hơn. Chỉ cần chút mồi là bắt được một con. Mấy anh em xúm lại nhổ lông, làm thịt. Món ragout, xào, rô ti… nấu bằng thịt mèo khá ngon, thịt mèo ngọt, ăn ngon khi còn nóng. Có người hàng xóm còn qua xin gan mèo về làm phá lấu ăn với bánh mì, cho con ăn chữa bệnh suyễn.

Đợt ăn thịt mèo hoang đó diễn ra khoảng năm 1980. Anh em nhà Hùng ăn mấy đợt, lúc đầu thấy ngon miệng nhưng ăn riết cũng ngán. Nhưng nhờ vậy cả nhà đỡ hốc hác vì thiếu dinh dưỡng. Năm 1980, Hùng thi đậu vào đại học cũng nhờ ăn đủ chất, có sức thức khuya.

Cuộc sống có lúc như vậy, nhưng khó khăn vẫn hoàn khó khăn. Một hôm, chị Hai của Hùng đi làm về đến nhà, chở phía sau poọc ba ga xe đạp của chị một cái bao rất lớn nhưng có vẻ nhẹ bổng. Mấy đứa em háo hức mở ra, ỉu xìu ngay vì trong đó chỉ là những cụm bông gòn phế phẩm xỉn màu mà chị xin ở công ty Bạch Tuyết nơi làm việc. Chị Hai mỉm cười, bảo để yên cho chị. Tối đó, chị giở tờ báo Khoa học Phổ thông mượn của ai đó, cắm cúi đọc trong ánh đèn điện leo lét của những năm thời bao cấp, may là hôm ấy điện không bị cúp.

Cuối tuần, chị Hai lần dò sang vườn bà Năm kế bên nhà. Trên sàn xi măng, chị trải một lớp bông gòn xuống và rắc một lớp meo nấm rơm mà chị đã mua sẵn. Cứ một lớp bông gòn lại đến một lớp meo, xong dùng vải đậy lại cho kín. Đợi một thời gian, mở ra thấy một lớp như màng nhện màu trắng nổi lên là biết thành công, chỉ đợi nấm chui ra. Đến ngày rằm, chị thu hoạch nấm và đem ra chợ bán. Sau, không biết có ai chỉ, vài người thương lái từ Chợ Lớn gặp chị và đề nghị cho đến nhà chọn nấm để mua.

Năm 1983, cả nước còn ăn độn mà chị Hai làm nấm một vốn tới sáu lời, giá một ký nấm mắc hơn một ký thịt. Nấm được người ta đưa đi bán nhiều lần, riết mà thành thương hiệu “Nấm Bà Quẹo” một cách tự nhiên mà ai cũng biết là của chị. Bà con gần đó thấy làm ăn được quá, đến xin học nghề. Chị Hai không trồng trực tiếp nữa mà chuyển sang dạy nghề, bán meo, bán gòn. Hãng bông Bạch Tuyết biết chị Hai lấy bông gòn phế phẩm làm meo nấm, làm ăn khá nên họ chỉ bán, không cho lấy nữa. Nhờ chuyện làm nấm của chị mà cả nhà có một khoảng thời gian cả năm sống tươm tất hơn, bữa cơm đỡ ăn độn và có thịt có cá.

Bây giờ nhớ lại, Hùng bảo có cho vàng cũng không dám ăn thịt mèo. Nhưng câu chuyện một thời như vậy, cần phải được nhớ và kể lại cho những thế hệ sau về cách cha anh họ đã tận dụng mọi cách để tồn tại, đã vượt qua khốn khó thế nào khi gặp phải một chính sách quản lý sai lầm.

Phạm Công Luận
Báo Người ta Đô Thị



NHỮNG CƠN ĐÓI CỦA VŨ

Truyện ngắn của Đỗ Duy Ngọc
(Tặng bạn tôi để nhớ một thời)

Chú thich: Sáng nay đi tái khám ở bệnh viện, người đông nên chờ hơn hai tiếng đồng hồ. Gặp người bạn cũ cũng đi khám bệnh. Lúc đầu tôi không nhận ra hắn. Bởi ngày xưa hắn ốm o chẳng khác gì tôi, thuê nhà trọ chung ở kênh Nhiêu Lộc. Giờ hắn mập kiểu béo phì, da dẻ hồng hào, láng bóng. Tướng của cán bộ thời nay. Đi cùng hắn là một cô gái trẻ, chừng hơn tuổi ba mươi, hắn giới thiệu là vợ. Ui trời! Tôi với hắn đã tuổi U80, kiếm đâu ra vợ trẻ đẹp thế.

Hắn dân Quảng Ngãi, cũng đói ăn như tôi, hồi đó hai thằng lặn lội kiếm sống, tìm đủ thứ việc để qua ngày. Hắn học Luật, suốt ngày cứ hát mãi câu: “Người từ trăm năm, về ngang trường Luật. Người từ trăm năm, về ngang trường Luật….Đau lòng ta muốn khóc.” Khóc đến đầu năm thứ tư thì hắn mất tiêu. Có tin hắn về quê và lên rừng theo Việt Cộng. Có lẽ tin này chính xác vì ba nó tập kết ra Bắc từ năm 1954. 

Giờ nhìn hắn không ra, bệ vệ, phương phi như đại gia. Hắn chào tôi trước, tự giới thiệu tên tôi mới nhớ ra. Gần 55 năm trôi qua rồi. Biết bao đổi thay, biết bao dâu bể. Theo lời hắn kể là sau khi bỏ học nửa chừng, hắn được đường dây đưa ra Bắc rồi đi học Liên Xô. Về nước hắn làm cán bộ ở Hà Nội. Sau đó vào Sài Gòn làm quan to. Tôi cũng không hỏi hắn làm cơ quan nào mà chỉ nhắc thuở hai thằng còn đói nghèo ở căn phòng nhỏ trên kênh Nhiêu Lộc. Nhưng hắn phủ nhận quá khứ, bảo không nhớ gì của thời gian đó. Tôi nản quá nên bắt đầu ậm ừ, lạnh nhạt. Sau hơn nửa thế kỷ, gặp lại người cũ, tôi lại mất một người bạn thuở hàn vi.

Về nhà, nhớ lại những ngày đói rách ấy, tôi tìm đọc lại câu chuyện này, đăng lại để nhớ.

o0o

NHỮNG CƠN ĐÓI CỦA VŨ

Có một thời Vũ đói, đói rạc cả người, hình hài như xác ve. Cứ thử tưởng tượng một thằng thanh niên mười tám tuổi, cao một mét sáu sáu mà chỉ nặng bốn mốt kí lô là hình dung ra Vũ thời kỳ ấy. Đói liên tục, nhiều khi cả tuần không có chút cơm vào bụng, chỉ toàn khoai lang, khoai mì, bánh ít lề đường, gặp gì ăn nấy, vơ vét được vài ba đồng mua đại thứ gì rẻ nhất bỏ vào mồm. Đói đến độ nhiều bữa đi ỉa chẳng có phân, toàn vỏ khoai với nước lỏng bỏng. Mặt xanh rớt, chỉ còn đôi mắt sáng ương ngạnh lại càng to hơn vì hai má lõm. Cũng may giòng giống nhà Vũ không có miệng vẩu, nếu không chắc hàm răng kẻ đói cũng đưa ra như mái hiên nhà. Tóc phủ chấm vai, dáng lừ đừ như thằng nghiện.

Điều khó cho Vũ là gia đình vốn không phải là nhà nghèo, từ bé đến tuổi đó Vũ chưa bao giờ có khái niệm cái đói, nên bây giờ luôn giấu giếm cái đói của mình, sợ bị cười chê và những câu hỏi tò mò của người tọc mạch. Vũ bắt đầu nếm mùi đói khi tự ý bỏ nhà đi học theo ngành học mà Vũ ưa thích. “Ừ! Muốn vậy thì tự lo cái thân mày nhé!”. Bố Vũ nổi sùng kết thúc buổi nói chuyện, Vũ lặng lẽ xách túi vào Sài Gòn. Lúc đó y vẫn nghĩ, làm giàu mới khó chứ cơm ngày ba bữa thì khó khăn gì. Nhưng vào rồi mới biết, kiếm được miếng cơm không phải là điều dễ dàng.

Mấy tháng đầu mới vào lơ ngơ, chẳng biết kiếm gì để sống. Chiếc đồng hồ đeo tay, món phần thưởng hồi học lớp nhất lên đường đầu tiên. Lúc đầu chỉ định cầm ở tiệm cầm đồ của vợ chồng anh lùn ở chợ Trương Minh Giảng, nhưng nghĩ lại làm quái gì có tiền mà chuộc nên đem ra chợ trời Hàm Nghi bán luôn. Cũng chẳng có chút ngậm ngùi nào dù Vũ đeo nó đã được bảy năm, suốt thời trung học. Cứ nghĩ đến bữa cơm tươm tất có chút thịt là kỷ niệm với kỷ vật đều quăng vào sọt rác. Tằn tiện cũng được hơn tháng, lại bán từng cuốn sách ăn từng bữa. Hồi còn ở nhà, mê văn chương nên khi nào có chút tiền là mua sách đọc, bây giờ cơm không có ăn, văn học nghệ thuật chẳng còn giá trị gì, đem đổi cho qua cơn đói. Hết sách, lại đến giày, rồi áo, rồi quần lần lượt ra đi. Chỉ còn bộ đồ trong người và đôi giày để đến lớp. Hôm nào ngủ nhờ nhà bạn thì giặt, vắt thật kỹ, phơi dưới gió cho mau khô, mai lại tiếp. Bữa nào không có chỗ qua đêm thì lẻn vào trường, len lén vô phòng sinh hoạt sinh viên, tắm một phát, giặt cái áo, chỉ áo thôi vì quần dễ dấu vết dơ, mà lại lâu khô, đôi khi thì chỉ vò sơ hai ống quần. Giặt xong thì ở trần, ngồi co ro trong bóng tối đập muỗi chờ áo hơi ráo xếp thật kỹ làm gối, tìm xó nào ngủ qua đêm.

Vũ sống như thế hơn ba tháng đầu của năm thứ nhất. Chẳng mấy ai biết y đói, nhưng có người nghi y chơi xì ke. Rồi cũng chẳng còn gì để bán, mới vào học nên cũng không dám bỏ học kiếm việc làm, sợ thi rớt đi Thủ Đức. Lần đó Vũ đói đến tám ngày, mấy hôm đầu còn thèm ăn, thấy gì cũng thèm, từ viên kẹo cho đến trái chuối, ổ bánh mì chan nước xốt cứ lởn vởn, bụng cứ sôi sùng sục. Lúc nào cũng ngửi có mùi món ăn thoang thoảng. Sáng lừ đừ đến quán bà Vú bên hông trường, mấy thằng bạn uống cà phê, Vũ chỉ rót trà từ bình thiếc qua ly, len lén lấy chút đường trong hủ, khuấy nhè nhẹ, uống chậm rãi, nuốt tới đâu nghe tới đó. Cầm cự đến hôm thứ tư thì chẳng còn thấy đói, chỉ thấy mệt, gió hiu hiu cũng thấy gai gai người, cũng có một bữa được miếng khoai thằng bạn mua ăn dở, cầm miếng khoai khới nhẹ, dè dặt vì sợ lủng bụng, nhai khoai ra nước rồi nuốt. Đến ngày thứ tám thì y đứt hơi, ngã quỵ trên cầu thang đi lên giảng đường, vẫn tỉnh táo nhưng không bước nổi, thấy trời đất, con người cứ quay vòng vòng như đèn cù, mọi người la ơi ới, có ai đó xốc nách, giữ chân Vũ khiêng xuống phòng y tế. Nhiều sinh viên bu quanh, tò mò cũng có mà rảnh rỗi quá cũng có. Y tá Đào chạy lăng xăng đi kêu bác sĩ. Bác sĩ Đỏ đến, dáng lùn lùn của ông, Vũ nhìn như ông đi dưới sương mù mờ ảo. Ông khua tay bảo: “Các bạn giãn ra cho người ta thở nào. Trúng gió thôi, có gì mà bu lắm thế???” Y còn chút tàn hơi, thều thào: “Không phải trúng gió. Đói. Tám ngày rồi không ăn”. Có tiếng cười rộ lên của một vài người. Y tá Đào bị sai đi kiếm bánh mì và li sữa. Chơi hết hai món, Vũ lại tỉnh như sáo.

Nhưng từ đó, y vào trường như thằng bị bệnh tự kỷ, nhìn thấy ai cũng có cảm giác họ biết chuyện đói đến xỉu của mình, đi cứ cúi gằm mặt xuống đất, tránh ánh nhìn của mọi người. Lúc đó mới bắt đầu thấm thía nỗi nhục của kẻ đói ăn.

Suốt thời gian dài sau đó, Vũ chẳng dám làm quen với cô gái nào và cũng chẳng dám nghĩ đến chuyện yêu ai. Thời kỳ này, nhà trường tổ chức Câu lạc bộ sinh viên, có bán cơm giá rẻ cho sinh viên. Mỗi người lãnh một khay có chia nhiều ô, có món canh lỏng bỏng và một ô nước mắm có lúc kèm trái chuối nhỏ. Thức ăn thì theo tiêu chuẩn, nhưng cơm thì tự do. Khi có chút tiền, Vũ mua phiếu ăn bình thường, lúc không có, Vũ nhờ mấy đứa bạn thân ăn xong không dọn khay mà để yên trên bàn và bỏ đi, Vũ sẽ vào thế chỗ, ung dung cầm khay cơm đi đến lấy cơm thêm. Có lúc cũng còn chút món mặn thằng bạn thương tình để lại, nhưng thường thường là ăn với nước mắm hoặc trái chuối. Cũng còn hơn là đói.

Bỗng một bữa, nhạc sĩ Mỹ, trưởng phòng Văn Thể Mỹ gọi vào, bảo trong phòng cần người viết các poster thông báo các sinh hoạt sinh viên, biết Vũ chữ đẹp nên nhờ Vũ làm và phòng gởi cho Vũ mỗi tuần mười phiếu cơm của Câu lạc bộ.

Đồng ý thôi, từ nay khỏi lo chuyện cơm, nhưng Vũ thắc mắc sao cả tuần mà chỉ có mười phiếu năm ngày, thắc mắc trong bụng thôi, chứ không dám hỏi. Thôi thì tuần được từng đó cũng tốt quá rồi.

Trung tâm sinh viên cũng thường hàng tuần có chuyến đi các làng cô nhi, giúp chúng vệ sinh thân thể, hớt tóc cho chúng, dạy chúng hát ca. Vũ siêng tham gia vụ này lắm, thường được mọi người khen là siêng năng, tích cực. Nhưng thật ra, y tham gia không phải vì tấm lòng với trẻ, mà vì đi vậy thì trưa chủ nhật có được ổ bánh mì, khỏi lo bữa trưa, còn đem về một ổ cho bữa tối. Bởi thế, mỗi khi được khen, Vũ lấy làm mắc cỡ, áy náy trong bụng lắm. Ăn thường xuyên ở câu lạc bộ, nhưng Vũ rất sợ những ngày lễ với mấy ngày hè. Những lúc đó, quán cơm không mở cửa, nhiều bữa y đành nhịn đói, có hôm ki cóp vài đồng, lại ra chợ Trương Minh Giảng vào quán cơm bên hông chợ, kêu dĩa cơm trắng, xin chút nước tương ăn đỡ. Nhiều lần như vậy, cô gái bán cơm hỏi: “Sao không thấy anh ăn thức ăn mà ăn toàn nước tương thế?”. Y quê, nên lấp liếm: “À. Tui ăn chay, nên không ăn cá thịt được.” Từ hôm đó, khi nào anh ăn cơm ở quán, luôn ở dưới lớp cơm trắng thường có miếng tàu hủ kho hay miếng trứng chiên. Thấy thế, Vũ ngại, nên lúc cần y bỏ qua quán trước chợ, đành phụ lòng tốt của cô chủ quán từ tâm và dễ nhìn.

Biết là sẽ bế tắc khi cuộc sống khó khăn, ngay từ đầu Vũ ghi danh thêm lớp dự bị Đại học Văn khoa, định là lấy được chứng chỉ dự bị, sẽ thi vào Đại học Sư phạm vì ở đó học có học bổng tháng gần chục ngàn, có thể an tâm học hành cho đến lúc tốt nghiệp. Y quanh quẩn khu cầu Trương Minh Giảng vì bạn bè trọ học đông ở đó, kẹt quá thì vào trường cũng ổn. Nhưng cũng chính vì vậy mà chuyện học cùng lúc hai trường sinh ra lắm chuyện khó xử. Phải biết chọn giờ nào học bên nào, hơn nữa lớp dự bị các ban học chung, nên sĩ số sinh viên ghi danh rất đông, đi trễ là không có ghế ngồi. Nhà xa, không có phương tiện di chuyển, muốn lên Văn khoa Vũ phải mất hai chuyến xe buýt, ít tiền, y thường đi lậu, lên cửa trước chạy ra cửa sau ngồi, tránh mặt mấy người soát vé. Học được thời gian Vũ để ý nhận thấy các nàng thường tập trung tán gẫu khi giờ trống, hay nói chuyện bói toán, bói bài. Ở trường kia y bị mang danh kẻ đói nên mặc cảm, nhưng ở đây chẳng ai biết chuyện đó nên y tự tin hẳn. Vũ lò dò đến làm quen với các nàng, nhất là các em ở ban Văn chương Việt Nam và ban Sử địa, dở trò xem bói toán, chỉ tay, chỉ chân tá lả, toàn nói tào lao mà các nàng vẫn tin mới lạ. Từ đó, muốn đến lớp, Vũ cứ tà tà, các nàng đến sớm xí chỗ cho y, đôi khi kèm trong hộc bàn có thêm ổ bánh ngọt, thanh chocolat, hoặc trái xoài, trái cóc…

Trong đám các nàng, có Bích Anh rất đẹp, ăn mặc đúng mốt, chắc hẳn là con nhà giàu có. Vũ biết thân biết phận của mình, nên biết Bích Anh hình như có chút cảm tình với Vũ, y cũng ngậm đắng mà tảng lờ như chẳng biết gì.

Ngay chân cầu Trương Minh Giảng có quán cơm của Vú Hai. Lâu lâu, có chút tiền, Vũ ra đó ăn cơm. Vú nấu nhiều món ăn ngon, nhưng với Vũ, giá hơi cao. Một bữa, Vũ đến quán hơi trễ, khách vắng, Vú Hai đang ngồi kiểm tiền, thấy Vũ liền nói: “Trời ơi, Vú kiếm con mấy bữa rày, có khách mới đặt cơm tháng, hơi xa chút mà Vú neo người quá. Vú định nhờ con, nếu con đồng ý thì Vú ưu tiên con ăn trưa miễn phí”. Vũ bảo: “Ồ! Được thôi. Vú tốt với con quá! Nhưng thưa Vú, con không có xe đi”. Vú ngẩn người một chút rồi bảo: “Thì con lấy xe của Vú đi, xe đạp cũ thôi, nhưng đạp nhẹ lắm.”

Thế là Vũ nhận lời. Địa chỉ ở lầu ba đường Bà Huyện Thanh Quan, Vũ đạp một lèo là tới. Lên lầu, bấm chuông, oái ăm thay, người nhận cơm là Bích Anh. Cô trố mắt nhìn y, y cũng ngạc nhiên tột độ, nhưng trấn tĩnh ngay, y làm mặt lạ:
“Bà Vú bảo cô ăn xong khỏi rửa, cứ để yên trong gà mên, chiều tui đến tui mang về”. Bích Anh chẳng nói tiếng nào, cứ ngước mắt nhìn chăm chú vào Vũ. Y chào và chạy nhanh xuống cầu thang, mặt đỏ như gấc. Vũ bỗng thấy chán nản, muốn bỏ hết đầu quân, y sợ không tiếp tục học hành được nữa và Vũ cũng đành từ chối công việc đưa cơm.

Tuần sau gặp Bích Anh ở hành lang, Vũ làm như chẳng biết gì, vẫn bình thường như không, nhưng ánh mắt Bích Anh cứ nhìn vào Vũ, khiến y chột dạ. Bích Anh mượn cours của Vũ, chuyện lâu nay vẫn thường xảy ra, nhưng hôm sau khi trả, Vũ phát hiện nhiều tờ tiền năm trăm đồng kẹp giữa trang vở. Y cảm thấy bị xúc phạm, y cảm thấy bị coi thường, Vũ hậm hực đến trường định chửi nàng một trận, nhưng rồi khi gặp Bích Anh, nhìn thấy đôi mắt của nàng nhìn y, y không nỡ. Để cuốn tập lên bàn, Vũ nhìn rất nhanh vào mắt Bích Anh rồi quay đầu bỏ đi thẳng. Và Vũ cũng bỏ trường Văn Khoa từ bữa đó, bỏ luôn mong muốn thi vào Đại học Sư phạm. (Sau này, trong một chuyến đi Úc, Vũ được tham dự ngày hội Văn Khoa, Vũ có gặp lại Bích Anh đang định cư ở Úc. Hai người nói chuyện với nhau cả buổi chiều, nhưng tuyệt nhiên, cả hai không ai nhắc đến những tờ tiền kẹp trong tập vở của hơn năm mươi năm trước, dù cả hai biết rằng, không ai quên chuyện đó).

Sau khi bỏ học ở Văn khoa, Vũ đi học đều hơn ở Vạn Hạnh, lại bắt đầu làm thơ, viết văn gởi báo. Mười bài gởi đi, cũng có đôi bài được đăng, tiền nhuận bút cũng giúp cho Vũ có miếng ăn đều đặn hơn. Lâu lâu nhờ một chị ở Phòng Sinh viên vụ giới thiệu bán được bức tranh, mừng như cha chết sống lại, có ăn được một thời gian, không sợ đói.

Nhưng rồi, Vũ lại bị một trận đói nữa. Đó là lúc Tết, bạn bè đa số về quê, quán cơm sinh viên nghỉ Tết, trước Tết cũng gắng kiếm nhiều việc lặt vặt, cũng được chút tiền, nhưng lại đến kỳ đóng học phí học kỳ hai, nên hết ráo, Tết chỉ còn trong túi vài đồng tiền lẻ. Đói tới ngày thứ hai thì Vũ lên kế hoạch kiếm cơm. Đầu tiên, Vũ đi đến nhà người anh họ ở Chợ Lớn, cũng lại đi buýt lậu thôi. Tết nhất, chắc nhà nào cũng có thịt, Vũ nghĩ đến thịt và nước miếng ứa ra đầy miệng.

Vừa đến nơi, chưa kịp chúc Tết, chưa kịp nhìn miếng thịt Xuân, vợ chồng ông anh họ bảo phải đi thăm chúc Tết họ hàng, thế là phải đi về thôi. Bụng lại sôi sùng sục, hình ảnh miếng thịt béo ngậy hiện ra trong mắt Vũ, chập chờn như muốn trêu ngươi. Vũ lục trí nhớ, phát hiện quanh đây còn mấy người quen, bèn chậm rãi bước. Chậm vì đã thấy mệt. Chậm vì không biết có hy vọng chi không? Nhưng tới rồi mới biết chứ! Thế là lại nhanh chân bước được thêm một chút. May quá, vừa đến cửa thì gặp anh bạn cùng trường, hắn học ban Anh văn, cũng khá quen nhau. Vũ chắc mẩm phen này có cơm ăn, lại hy vọng có thêm chút bia bọt vì tay này chịu nhậu lắm. Thế nhưng gặp Vũ, hắn tay bắt mặt mừng, hỏi đủ thứ chuyện, nhưng vẫn đứng nơi cánh cửa sắt giáp đường. Nói loanh quanh nhưng chẳng mời vào nhà, Vũ đã thấy thất bại nên đành dứt ngang câu chuỵện, chào đi.

Trưa bắt đầu nắng, nắng xuân không chói chang như mùa hè, nhưng cũng làm người ta mệt. Nhất là Vũ đang đói. Y thất thểu qua ngã tư, vượt một đoạn nữa là đến nhà cậu Bảy, cậu bà con bên ngoại của Vũ. Lâu nay tuy không gặp thường xuyên, nhưng cũng gắn bó qua những ngày giỗ kỵ. Gặp nhau, cũng tay bắt mặt mừng, hỏi han đủ chuyện. Ngồi ở salon, kếnđó có bàn ăn, trên có đậy một cái lồng bàn. Vũ ngửi được mùi xôi, mùi gà luộc với mùi bánh chưng. Hít sâu vô chút nữa, y nhận ra mùi thịt kho tàu, những tảng thịt lớn màu vàng nâu béo ngậy, những quả trứng vịt và nước thịt kho sóng sánh trong đầu Vũ. Người cậu cứ huyên thuyên chuyện Tây qua đến chuyện Tàu, cứ liên tục châm nước vào bình và rót trà vào chén. Uống được bốn ly, Vũ nghe đắng họng, thấy hơi say say. Thì bụng rỗng, ngồi uống trà đặc, làm gì không say. Chờ hoài không thấy một lời mời ăn, Vũ thấy thất bại rồi, ngã nghiêng đứng dậy, xin rút. Y thấy mệt và chán. Cơn đói lại râm ran trong bụng. Ra cửa thều thào một câu chào, lại một lần nữa, trớt quớt. Chiếc xe buýt bỗng dừng trước mặt, Vũ leo lên mà chẳng biết mình sẽ đến đâu. Cũng may chuyến xe chạy về cầu Công Lý. Tần ngần bước xuống, chưa biết phải làm gì thì Vũ nhớ đến anh Tư Vạn. Anh cùng ngoài quê giạt vào đây, hơn Vũ đôi ba tuổi, một vợ hai con, nghèo sát đất, cắm đại mấy cọc gỗ trên kinh Nhiêu Lộc, làm cái nhà sàn nhỏ như cái lỗ mũi, cả gia đình ở chung vởi bùn sình và mùi hôi lưu cửu của con kinh nước đen. Vũ lâu lâu cũng tạt qua đây, nằm nghĩ một chút rồi đi, nhiều bữa muốn ăn với anh miếng cơm mà rồi ngại vì thấy anh nghèo quá. Thôi thì nhân ngày Tết qua thăm anh, nằm nghĩ chút chứ đã thấy mệt lắm rồi. Vũ rút trong túi mấy đồng bạc lẻ nát nhàu, vuốt ngay ngắn rồi xếp đôi, định bụng sẽ lì xì cho hai đứa con anh, chẳng bao nhiêu nhưng không lẽ ngày Tết đến tay không. Không ngờ anh Tư lại ở nhà có một mình, vợ con đi về ngoại ở Long Khánh, mình anh ăn Tết trên này. Vũ bước vào, đầu phải cúi để khỏi va vào khung cửa. Anh Tư Vạn lăng xăng, cười cười trên khuôn mặt xạm nắng gió. “Ngồi chơi, ngồi chơi nghe. Có mấy con cá khô, tui nướng lên rồi làm tí nước mắm kho quẹt ăn với bầu luộc, làm miếng cơm ngày Tết”. Vũ định từ chối, nhưng cơn đói ngăn anh lại, đồng thời làm sao ngăn được cái nhiệt tình của anh. Hoá ra, lòng tốt nhiều khi nằm ở người nghèo nhất, bần cùng nhất, bởi họ thông cảm rồi đồng cảm với người nghèo như họ, họ biết người bạn nghèo của họ đang đói, họ sẵn lòng chia với bạn. Còn mấy người dư dả, giàu có, họ không nghĩ đến hoàn cảnh của người nghèo, thiếu thông cảm nên thờ ơ với mục đích của người khác đang đến với họ, cho nên họ hời hợt, cho nên họ vô tâm. Bữa ăn đó là bữa cơm Tết ngon nhất của mùa xuân năm đầu tiên xa nhà của Vũ.

Mùa xuân đi qua nhanh, mùa hè đang tới. Vũ lại đói, có công việc nho nhỏ ở nhà in, đang làm ngon trớn thì bị đuổi vì đánh nhau với đám thợ montage, nói đánh nhau cũng không đúng nữa, chỉ hụ hợ lấy không khí thôi. Sự việc vỡ lở, chủ đuổi. Lại đói. Ba ngày rồi, chỉ có nước lã, lần này lại run người. Cố lết đến cổng xe lửa số sáu, có mấy đứa bạn cùng quê đang học Kỹ sư Phú Thọ ở đó. Đám này có gia đình gởi tiền hàng tháng, lúc nào cũng có cơm. Ở chung nhau năm thằng, thay phiên nhau đi chợ nấu ăn. Lúc Vũ đến, cơm chiều đã nấu, nhưng có lẽ có đứa nào trúng áp phe gì đấy, rủ nhau đi nhậu, bỏ cơm. Rủ Vũ cùng đi, Vũ tiếc bữa cơm, nên tình nguyện ở nhà ăn cơm kẻo bỏ uổng. Hôm đó, một mình y ăn phần cơm của năm người sạch bách. Đám đi nhậu về thấy thế trợn mắt ngạc nhiên. Vũ cũng trợn mắt vì no quá. Nằm ngửa cũng tức, nằm nghiêng thì cấn, nằm xấp là không ngóc dậy được. Đi cũng đau, đứng cũng đau. Bụng như trống chầu, nặng nề. Vũ bỗng sợ chết khi y nghĩ đến chuyện “Một bữa no” của nhà văn Nam Cao, kể chuyện một bà vì sau khi đói được ăn no nên chết.

Vũ sợ chết, mồ hôi đổ như tắm. Sao đói lại không chết mà bây giờ no lại sắp phải chết. Mà kiểu này chắc chết rồi. Bụng cứng ngắc rồi. Năm tên trong phòng nhìn Vũ ái ngại. Thằng thì kiếm dầu thoa, thằng kiếm thau bắt ói. Vũ bắt đầu rên, rồi ngủ với một dáng ngủ rất kỳ khôi. Cũng may, chắc nhờ sức trẻ, y còn sống cho đến bây giờ.

08.8.2016

Viết thêm về chuyện cũ: Căn phòng của năm người bạn ấy gồm:
Thọ, Bính, Chi, Dưỡng và người anh của Chi. Đến nay 4 người đã mất, đó là: Thọ, Chi, Bính, anh của Chi. Chỉ còn bạn Dưỡng đang còn ở Sài Gòn. Bỗng dưng hôm nay nhớ các bạn quá, nằm khóc suốt trưa nay.
Vũ.

DODUYNGOC
(Trong tập truyện ngắn Bước không qua số phận. NXB HỘI NHÀ VĂN.2021.)




Blog Archive