MÓN QUÀ CHO CHA
Ba kính mến,
Con viết thư này trên e-mail, để chuyển đến Ba món quà sinh nhật - một đoá hoa cúc vàng thật đẹp - và những tình cảm thương mến của đứa con gái út đi học xa, đang nhớ về Ba. Con hy vọng Ba còn thức để đọc những lời thương mến của con. Ngày mai, sinh nhật của Ba, Ba có nhớ không? Mẹ đang bận chăm sóc cháu ngoại mới chào đời ở tiểu bang xa, còn các anh chị ở nhà bận đi làm, có thì giờ tổ chức lễ mừng sinh nhật cho Ba không?
Trời đêm nay thật lạnh. Các bạn cùng nhà trọ với con đã ngủ cả. Chỉ có một mình Con còn thức để nói chuyện với Ba, hy vọng Con sẽ bớt lạnh lẽo cô đơn trong đêm nay.
Ðây không phải là lần đầu tiên Con sống xa Ba. Ngay từ ngày còn bé, Con đã không có Ba bên cạnh. Vì khi Con ra đời, đất nước đã thay ngôi đổi chủ, và Ba đã phải đi vào trại “ cải tạo” Miền Bắc trong hơn năm năm. Con còn nhớ trong thời gian đó, Con thật buồn vì không có người cha bên cạnh như các đứa bạn khác.
Rồi bỗng một hôm, có người đàn ông gầy ốm, xanh xao, mang một túi hành trang đã sờn rách bước vào nhà. Cả nhà mừng rỡ, bảo Con gọi đến chào Ba. Con đã không nhận ra Ba, vì từ khi bắt đầu hiểu biết, Con có bao giờ thấy Ba của mình đâu! Nhưng về sau, theo thời gian chung sống dưới mái gia đình, Con cảm thấy thương yêu Ba.
Con thường nghe Ba nói với Mẹ: Ba phải thương yêu con thật nhiều vì trong suốt những năm tháng xa nhà, Con thiếu tình phụ tử. Phải chăng Ba cảm thấy thiếu bổn phận làm cha trong suốt những năm dài ấu thơ của Con?
Riêng con, đôi lúc nhớ lại lúc Ba mới trở về, tinh thần Ba còn giao động, buồn nản, mà con lại tỏ ra xa lạ với Ba, con cảm thấy thật xấu hổ! Có phải những tình cảm phức tạp và tế nhị của cả hai, khiến Ba và Con càng ngày càng hiểu biết và thương yêu nhau nhiều hơn không ?
Ba thường đọc cho các con nghe những bài thơ, trong đó Con thích nhất bài “Vòm Trời Cao Trên Mái” mà Ba đã dịch từ một bài thơ tiếng Pháp mà con không nhớ tên(1)
Vòm trời ấy vẫn cao trên mái
Xanh làm sao, yên tĩnh làm sao
Cành cây trên mái lao xao
Nhẹ ru trước gió đưa vào giấc mơ
Tháp chuông ấy lưng trời in bóng
Vẫn dịu dàng vang vọng ngân nga
Trên cành, cất tiếng xót xa
Con chim chợt hót khúc ca não nùng
Thượng đế hỡi, dòng đời bên ấy
Sao đơn sơ, sao lắm hiền hòa
Từ nơi phố thị xa xa
Tiếng ồn vang vọng, la đà xôn xao
Mà người hỡi làm chi chốn ấy?
Lệ chan hòa thánh thót khôn nguôi
Ðời anh tuổi trẻ đẹp tươi
Chôn chân mãi mãi nơi này làm chi?
Bài thơ thật nhẹ nhàng và thật buồn. Trong hoàn cảnh mất tự do của một người tù bên Pháp, cách đây hơn hai trăm năm, có lẽ đã khiến Ba nhớ lại thân phận mình trong những năm trong trại “cải tạo” ở Miền Bắc.
Khi Ba mới về, đôi lúc Con đã tỏ ra ngang bướng, không vâng lời, khiến Ba phải dùng roi vọt dạy dỗ Con. Con đã không khóc khi Ba đánh đòn, chỉ lén bẻ gãy cây roi để lần sau Ba không đánh đòn Con nữa. Con nhớ Ba kể về một câu chuyện trong “Nhị Thập Tứ Hiếu” bên Tàu ngày xưa. Người mẹ vẫn thường đánh đòn con mỗi khi con không vâng lời dạy dỗ; và những khi ấy, người con im lặng chịu đòn, không dám khóc.
Nhưng có một hôm sau khi chịu đòn, người con quỳ xuống thưa với mẹ: hôm nay mẹ không khỏe trong người sao? Người mẹ gật đầu và hỏi: vì sao con biết? Người con chí hiếu lúc ấy mới ôm mặt khóc và thưa rằng: vì hôm nay mẹ đánh đòn Con nhẹ quá, chắc là mẹ yếu trong người; hay mẹ không còn muốn dạy dỗ Con nữa?
Trong câu chuyện Ba kể, không có phần kết luận: từ đó người mẹ còn dạy đứa con ngỗ nghịch bằng roi vọt không? Nhưng với Ba, dần dần Ba không tỏ ra nóng giận, và đánh đòn chúng con nữa. Có lẽ những năm tháng dài trong trại tập trung “cải tạo”, cuộc sống đói khổ, đau buồn, đã lưu lại lại trong lòng Ba những uất ức, phẫn nộ. Mãi sau một thời gian sau, khi đã trở lại cuộc sống bình thường, ấm êm của gia đình, Ba mới trở nên vui vẻ yêu đời.
Trong những năm đầu định cư ở Mỹ, Con ở gần Ba, hướng dẫn Ba ghi danh vào học ở trường College mà con đã trải qua hai năm học nơi đây. Từ đó, Con thấy Ba thích đọc sách, thích sáng tác, thích gợi lại những kỷ niệm xưa. Có lẽ thế hệ những người lớn tuổi chỉ muốn sống lại dĩ vãng, muốn đem dĩ vãng về bổ túc cho cuộc sống hiện tại. Còn thế hệ trẻ chúng con, chỉ muốn sống cho hiện tại, nỗ lực làm việc để bồi đắp tương lai.
Có lẽ Con hiểu Ba, thông cảm những nỗi buồn phiền của những người lớn tuổi- thường hay hoài niệm về những kỷ niệm xưa. Cho nên Ba thường cảm xúc khi viết lại những mẫu chuyện thời thơ ấu, những mối tình trong sáng ở tuổi học trò. Sau khi viết xong một chuyện ngắn, Ba thường đưa cho con xem.
Con thường hỏi Ba: vì sao Ba say mê sáng tác như thế? Ba đã tâm sự rằng Ba làm công việc của người thợ săn đã về già, một hôm ngồi nhìn ngắm bộ sưu tập đã săn bắn trong thời trai trẻ, để kiểm điểm lại cuộc đời hoạt động trong quá khứ của mình.
Có thể những bộ sưu tập ấy chẳng có giá trị gì với khách thưởng ngoạn. Nhưng với ông ta, mỗi bộ da có thể gợi lại hình ảnh đẹp của con thú, hình ảnh của khu săn bắn, và cảm xúc của ông ta khi tham dự cuộc săn bắn đó. Với Ba, khi về già, Ba có thể giải sầu bằng những mẫu chuyện gợi lại cảm xúc thời thanh xuân, giống như người thợ săn ấy chăng?
Ngày Con dự định thi vào một trường Dược ở miền Bắc California này, Con cứ đắn đo mãi. Nếu Con đi học xa, ai săn sóc Ba Mẹ lúc trái gió trở trời, khi Ba Mẹ ốm đau? Chị cả đã đi lấy chồng xa, mãi tận Seattle miền tây bắc nước Mỹ; rồi chị thứ hai đi học Dược tận New York ở miền Ðông xa xôi. Và giờ đây, chị đã ra trường, về làm việc gần nhà, nên cả gia đình sum họp ấm cúng. Nay lại đến lúc Con phải đi học xa .
Hôm khai giảng, Con mời Ba Mẹ đi tham dự lễ “Mặc Áo Choàng Trắng Truyền Thống” của Trường. Chưa bao giờ Con thấy nét mặt Ba thay đổi nhiều như buổi sáng hôm ấy. Ba đã tươi vui và trang trọng trong bộ quần áo dạ hội, cùng Mẹ cùng Con và các anh chị đến Trường. Ba ngắm ngôi trường một cách thích thú, hãnh diện bước vào cùng cô gái cưng, tân sinh viên của trường này.
Gần một trăm sinh viên tuần tự bước đến trước các giáo sư để trình diện, giới thiệu tên họ và nơi phát xuất đến đây. Họ là những nam nữ thanh niên ưu tú đến từ các thành phố ở California, ở các tiểu bang khác. Nguồn gốc chủng tộc của họ khác nhau, nhưng có chung một hoài bão: tận tâm phục vụ bệnh nhân, phục vụ nước Mỹ mà họ đã chọn làm quê hương thứ hai. Sau đó họ được trao áo choàng trắng, có gắn huy hiệu của trường, rồi mặc vào để làm lễ tuyên thệ.
Ðứng giữa các bạn người Mỹ cao lớn, Con cố vươn người nhìn về phía hàng ghế dành cho phụ huynh sinh viên, và con đã nhìn thấy Ba. Ba nhìn Con, miệng mỉm cười mà nước mắt rưng rưng. Có phải Ba đã xúc động vì niềm sung sướng thấy đứa con gái út đã từng sinh ra trong cảnh đất nước đổi thay, gia đình nghèo túng, thiếu sữa, thiếu ăn đến còm cõi..; và đau thương nhất là thiếu tình phụ tử trong hơn sáu năm trời?
Giờ đây, Con đã trở thành người nữ sinh viên áo trắng tại nước Mỹ Tự Do này, thực hiện được giấc mơ đẹp nhất của đời Con, và chắc rằng Ba cũng rất vui mừng, hãnh diện. Có lẽ đây cũng là món quà sinh nhật đặc biệt, vô hình nhưng cũng vô giá mà Con muốn kính gởi Ba, nhân ngày sinh nhật của Ba. Con mong Ba luôn vui mạnh, tìm lại niềm hạnh phúc trong sáng tác, tìm lại những cảm xúc thuở thanh xuân, mà đã một thời tưởng như mất đi vì những thống khổ triền miên cuộc đời...
Con của Ba,
Stacey
****
Ông Tân đọc xong bức điện thư con gái vừa gửi, mỉm cười định tắt máy; nhưng ông kịp ngưng lại. Ông còn phải lưu giữ những lời tâm sự mến thương, lưu lại đoá hoa cúc vàng thật đẹp kèm theo thư này.
Ông hé cửa nhìn ra vườn sau, nơi đó có chậu cây cúc mới nở hoa, khoe sắc dưới ánh đèn đêm. Ông chợt nhớ đến bài thơ Hoa Cúc Vàng của cố thi sĩ Nguyễn Hữu Nhật. Nhà thơ ấy đã diễn tả nỗi buồn sau lần người vợ (nữ sĩ Nguyễn Thị Vinh) đến thăm Ông trong trại tù “cải tạo”:
Chỗ anh đứng chờ em ra
Bây giờ thiên hạ trồng hoa cúc vàng
Mỗi lần có dịp đi ngang
Nhớ em anh tưởng áo vàng lụa bay
Nghĩ hoài sống mũi cay cay
Mấy năm chẳng được một ngày gần nhau
Hạnh phúc thường hay qua mau
Vắng nhau thì thấy ở đâu cũng buồn
Tự dưng thương ghế thương bàn
Nơi em đã để cho làn hương rơi
Anh muốn kêu lên em ơi
Nhớ gì nhớ đến chết người như không
Tay vò hoa cúc nát lòng
Vàng phai hay ý chờ mong nhạt dần.
Bài thơ này đã được một bạn đồng tù ở trại Thanh Cẩm phổ nhạc năm 1979 và được anh em đồng cảnh thầm hát trong những lúc nhớ nhà ở Miền Nam xa xôi.
Ngày ra tù được trở về nhà, Ông Tân thường ngâm nga những câu thơ của nhà thơ nổi tiếng ấy - người cùng hoàn cảnh tù “cải tạo” như Ông. Không ngờ nó đã khiến cho cô gái út, sau những ngày đầu lạ lẫm với người cha “xa lạ” mới về, bỗng thích thú lắng nghe!
Hôm nay, những đoá hoa cúc vàng cuối thu bỗng khơi lại trong lòng Ông những cảm giác năm xưa. Mấy mươi năm mà cứ ngỡ hôm nào - ngày còn nằm trong trại tù “cải tạo” CS, nhớ nhà ngâm nga hát thầm bài Hoa Cúc Vàng, mong một ngày trở về Miền Nam. Để tìm lại chút hạnh phúc đơn sơ, ấm áp của gia đình. Để ngắm nhìn hoa mai, hoa cúc nở rộ trong dịp Tết Nguyên Đán như những ngày thanh bình và hạnh phúc năm xưa…
ĐINH BÁ TÂM (ĐS12)
(1) CHÚ THÍCH ( của tác giả ĐBT)
Le ciel est par-dessus le toit ( Paul Verlaine)
Le ciel est, par-dessus le toit,
Si bleu, si calme!
Un arbre, par-dessus le toit,
Berce sa palme.
La cloche, dans le ciel qu’on voit,
Doucement tinte.
Un oiseau sur l’arbre qu’on voit
Chante sa plainte.
Mon Dieu, mon Dieu, la vie est là,
Simple et tranquille.
Cette paisible rumeur-là
Vient de la ville.
– Qu’as-tu fait, ô toi que voilà
Pleurant sans cesse,
Dis, qu’as-tu fait, toi que voilà,
De ta jeunesse?
No comments:
Post a Comment