Wednesday, November 11, 2009

NHỮNG KẺ PHẢN BỘI TRONG GIỚI TRUYỀN THÔNG .
Đoàn Trọng Hiếu

Ba chữ KẺ PHẢN BỘI chúng ta thường nghe rất nhiều trong cuộc sống hàng ngày, có khi là một anh chàng phản bội vợ hay một cô nàng phản bội chồng , hành động phản bội này thường chỉ gây tác hại trong phạm vi gia đình của chính bản thân họ, một kẻ phản bội bạn bè cũng chỉ làm cho bạn bè họ khinh chê xa lánh.Những hành động phản bội trên thường không gây ra những tác hại cho xã hội hoặc nếu có thì cũng trong một phạm vi nhỏ hẹp.

Trong phạm vi rộng lớn hơn đó là cộng đồng và đặc biệt là Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại cũng đã có những kẻ phản bội. Một ông chủ của cả một hệ thống bán đồ ăn nhanh làm giàu bằng sự mua bán với đồng hương nhưng sau đó lại thập thò đi lại với việt cộng , hành động này cũng chỉ làm cho đồng hương tiếc là đã mua hàng của hắn khiến hắn giàu lên. Một kẻ phản bội Nguyễn Cao Kỳ muối mặt đến với việt cộng bằng hai cái đầu gối cũng chỉ làm cho cộng đồng cảm thấy xấu hổ vì đã có một tên vô lại đứng trong hàng ngũ lãnh đạo miền Nam trước kia.

Tác hại khi người làm truyền thông phản bội.
Nhưng khi sự phản bội của giới truyền thông thì hậu quả của nó không lường được, vì ngày hôm nay truyền thông là vũ khí sắc bén để tấn công vào hang ổ của bọn việt cộng, đồng thời là phương tiện hữu hiệu nhất để củng cố , đoàn kết khối người Việt Quốc Gia,là một phương tiện thông tin nhanh nhất để phá xập bức tường bưng bít do bọn việt cộng dựng lên để ngăn cách người dân trong nước với thế giới bên ngoài.Hiểu rõ điều này hơn ai hết , nên việt cộng lâu nay vẫn cố gắng len lỏi vào những kẽ hở của nghành truyền thông để tạo sự chia rẽ trong cộng đồng, mua chuộc những tên hám danh hám lợi tấn công bôi bẩn những người Quốc Gia chân chính đang dấn thân cho công cuộc tranh đấu chung nhằm giải thể chế độ việt cộng buôn dân bán nước.

Hành động của ông chủ một tờ báo lớn (đã từng là một công chức bậc trung thời VNCH) ở California đã lén tiếp xúc với tên Nguyễn tấn Dũng khi tên này còn là phó thủ tướng ,cũng như đăng lên những bài viết những hình ảnh xúc phạm đến lá Cờ Vàng linh hồn của người Việt Quốc Gia đã gây xôn xao trong cộng đồng người Việt hải ngoại, đặc biệt vùng Cali , những cuộc biểu tình liên tục vẫn còn tiếp diễn cho đến ngày hôm nay, tuy nhiên cách thức phản đối cũng đã gây phân hóa trong cộng đồng, nhưng dù sao đây cũng chỉ là một tờ báo do một cá nhân hoặc gia đình làm chủ xuất bản báo bằng tiền túi của mình, hành động phản bội của bọn này cũng chỉ làm cho cộng đồng phỉ nhổ vào mặt chúng và tẩy chay không mua báo nữa, nhưng không làm suy sụp tiềm năng chống cộng của người Việt hải ngoại .Cũng như hành động của một người trẻ Hồ Văn Xuân Nhi của tờ Việt Weekly hoặc của anh họa sĩ họ Đoàn cũng chỉ làm cho cộng đồng nổi giận , nhưng đồng thời cũng là dịp để thế hệ cha anh uốn nắn lại những suy nghĩ lệch lạc của những thế hệ sau do cao ngạo tự mãn, cho rằng mình đươc hấp thụ một nền giáo dục tiên tiến hơn hẳn cha anh ,nên đã xem thường kinh nghiệm máu xương mà ông cha đã phải trả giá quá đắt đối với bọn việt cộng.

Gần đây nhất, một đài phát thanh ở vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn, có làn sóng phát thanh rộng rãi trên nhiều tiểu bang và sang tận Âu Châu, số lượng thính giả lên đến vài trăm ngàn người,tức là có thể chiếm đến khoảng từ 40% đến 50% số người Việt Quốc Gia chống cộng, nhiều cộng tác viên đã hợp tác hoàn toàn vô vị lợi, sự ủng hộ tài chánh từ phía thính giả mỗi năm lên đến hàng trăm ngàn đồng, đài đã trở thành cái gai đối với bọn cầm quyền việt cộng . Bằng một âm mưu thâm độc không những nhằm triệt hạ cho bằng được đài phát thanh này mà còn quan trọng hơn là làm sụp đổ tinh thần chống cộng của hàng trăm ngàn thính giả , một kế hoạch tinh vi đã được giao cho tên đệ tam tham tán đặc trách người Việt ở nước ngoài thuộc tòa đại sứ vc tại Hoa Thịnh Đốn thi hành.

Trong khi đó thì không hiểu vì vô tình hay hữu ý mà ông TNS Jim Webb, người mà năm 2003 với tư cách của một cựu chiến binh Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam đã từng lên án đám truyền thông thân cộng, đám chính trị gia chủ bại trong thời chiến tranh Việt Nam là “chăn gối với kẻ thù”, lên án ứng cử viên tổng thống năm 1972 Mc Govern là “đi với Hà Nội bằng hai đầu gối”. Thì năm 2007 sau khi đắc cử TNS liên bang ông lại kêu gọi người Việt hải ngoại và nhất là giới trẻ hãy tiếp xúc với việt cộng , đặc biệt là với tòa đại sứ việt cộng tại Hoa Thịnh Đốn để làm giảm bớt sự gay gắt, điều này đi ngược lại lập trường đấu tranh chung của người Việt Quốc Gia , không phải ông đã quên bài học”chăn gối với kẻ thù”nhưng vì ông là TNS Mỹ ông phải nói sao cho có lợi cho tư bản Mỹ,và dĩ nhiên là có lợi cho việt cộng , vậy mà ông tổng giám đốc đài tuyên bố là đài VNHN đang “invest” vào ông Jim Webb, ông “invest”để làm lợi cho việt cộng hay sao ? hay để có một cái văn phòng liên lạc của đài VNHN tại Việt Nam như lời ông nói? Ông đúng là kẻ mộng du giữa ban ngày.

Vậy mà khi nghe lời “xúi trẻ ăn cứt gà” của ông Jim Webb thì cũng đã có vài tên ngu xuẩn nhanh chân , cho đó là chủ trương của Mỹ nên đã hớn hở đến tòa đại sứ vc chào cờ đầu năm, riêng các ông bà giám đốc của đài VNHN thì đã có chủ đích riêng , vì tư lợi cá nhân mà vượt qua lằn ranh Quốc cộng , tổ chức tiệc tùng hết sinh nhật tại nhà hàng lại đến tất niên tại tư gia ( cũng cần nên nhớ là bọn việt cộng đi đâu cũng đi hai người trở nên và chỉ đến những nơi là cơ sở của chúng hoặc cảm tình viên tịn tưởng ) tiệc nào cũng (qua bạn bè?) mời mấy tên cán bộ gộc đến cho chúng ăn vài miếng rồi “giáo dục” chúng, “chiêu hồi” chúng, ôm chúng vào lòng như ôm đứa con hoang đàng trở về, bởi theo lời các ông bà giám đốc thì bọn việt cộng này còn bé dại dột nào có biết chi ( ngụy biện).

Thưa các ông bà giám đốc, mục đích của các ông bà cao cả như thế mà tại sao lại cứ lẩn tránh không dám đối chất công khai với kẻ tố giác là ông Hồng Phúc, các ông bà lại còn kéo bè kéo đảng lợi dụng có làn sóng để bịt miệng trấn áp những người dám lên tiếng tố giác phản đối mình, các ông bà có thể bịt miệng chúng tôi được nhưng không thể bịt miệng bọn việt cộng đươc , chúng có thể sẽ giăng thêm cái bẫy thứ hai cho triệu hồi về nước và hạ tầng công tác tên đệ tam tham tán với lý do đã chao đảo lập trường bị kẻ địch dụ dỗ để tăng thêm uy tín cho các ông bà giám đốc , lúc đó sẽ có nhiều tổ chức hội đoàn cũng như cá nhân sẽ lên tiếng ủng hộ hành động của quý vị , thế là thêm những con cá lớn như ban đại diện TCCĐ Washington v..v đút đầu vào lưới, mẻ lưới sẽ được kéo lên vào thời điểm cần thiết, tin tức hình ảnh các ông bà “chăn gối với kẻ thù” sẽ được truyền trên đài vtv4, tổn thất đến với Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia là điều không tránh khỏi. Thử tưởng tượng khi mẻ lưới đã đầy chúng sẽ kéo lên vào lúc một tên đại gộc nào đó sang gặp TT Mỹ, quý vị trong các TCCĐ , hội đoàn , liên hội đã chui đầu vào lưới có dám kêu gọi đồng bào đi biểu tình không ? và có ai nghe lời kêu gọi của quý vị không?

Nhưng may mắn thay lời tố giác của ông Hồng Phúc đã khiến cho hàng ngàn thính giả hiểu biết thấy được bản chất thật được che dấu dưới bộ mặt chống cộng giả hình của quý ông bà , nên tránh đươc sự sụp đổ niềm tin, vì thế cho dù lời tố giác của ông Hồng Phúc phát xuất từ động cơ xấu như các ông bà vẫn rêu rao thì lời tố giác ấy vẫn có giá trị và được trân quý .

Nói tóm lại, các ông bà là những KẺ PHẢN BỘI trong giới truyền thông, đang hủy hoại tinh thần chống cộng của đồng bào , lường gạt TÌNH (niềm tin, yêu) TIỀN(kêu gào ủng hộ) của đồng bào, tàn nhẫn hơn lại từ những cụ già sống nhờ tiền trợ cấp xã hội chắt chiu dành dụm gởi gấm đến quí vị với tất cả niềm tin yêu để chỉ mong sớm có ngày về được chết trên quê hương .Hành động này cần phải bị lên án và dập tắt .

"Đường về quê lại thêm xa lắc lê thê vì đã trót nghe theo lời u mê".

Viết từ vùng sa mạc New Mexico ngày 8 /11/2009

Đoàn Trọng Hiếu

Sunday, November 8, 2009

Đừng Coi Thường Các Dấu Hiệu Báo Trước.

Đỗ Văn Phúc

Chiều thứ Năm, 5 tháng 11, 2009, một vụ thảm sát tại Fort Hood gây một chấn động lớn trên toàn nước Mỹ. Fort Hood, cách thủ phủ Austin của Tiểu bang Texas chừng 40 dặm, là một căn cứ quân sự lớn nhất Hoa Kỳ. Đây là nơi đồn trú thường trực của hơn 60000 quân nhân lục quân, là nơi chuẩn bị quân số để tăng cường cho các chiến trường Afganistan và Iraq.

Thiếu tá Nidal Malik Hasan, theo Hồi giáo, đã bắn hơn 100 viên đạn để giết chết 12 quân nhân và làm bị thương 32 người khác khi những người này đang có mặt tại một Trung Tâm Y Khoa, nơi Hasan là bác sĩ tâm lý có nhiệm vụ chuẩn bị tinh thần cho binh sĩ trước khi lên đường tham chiến ở Trung Đông vào cuối tháng 11 này

Cũng như ba vụ thảm sát tại Đại Học Texas ngày 1 tháng 8, 1966, Trung Học Columbine ngày 20 tháng 4, 1999 và Đại học Virginia Tech ngày 16 tháng 4, 2007, mà ba thủ phạm Charles Joseph Whitman, Dylan Klebold, và Seung Hui Cho đã cướp đi mạng sống của tổng cộng 58 nguời; người ta chỉ nhắc đến các dấu hiệu báo trước liên quan đến bọn sát nhân sau khi thảm kịch đã xảy ra.

Các dấu hiệu báo trước này (warning signs) đã được gia đình, bạn bè phát giác từ những trang blogs, các điện thư, các đoạn băng ghi hình, nhật ký, sự chuẩn bị… mà các thủ phạm đã biểu lộ hàng tuần, hàng tháng trước khi hành động. Người ta cũng nhắc đến các hiện tượng tâm lý bất thường của hung thủ. Trong vụ Fort Hood, thì người ta đã đưa ra những đoạn văn mà Hasan đã ca tụng bọn khủng bố Ả Rập là anh hùng.

Nhưng có lẽ những chuyện này bị coi là “chuyện nhỏ”, nên người ta đã không quan tâm đến, cho đến khi nổ ra chuyện lớn làm chết hàng loạt người một cách oan ức.

Trong đấu tranh chính trị, ngoại giao, hay chiến tranh quân sự, nhiệm vụ các cơ quan tình báo và an ninh là theo dõi, phát hiện kịp thời những hành vi, dự mưu, khuynh hướng mà có thể dẫn đến hành động đối nghịch. Ngay cả trong lãnh vực pháp luật, tuy chưa kết tội khi chưa có phán quyết của Toà với bằng chứng cụ thể; các cơ quan FBI, Cảnh Sát cũng phải tìm cách ngăn ngừa ngay khi có những phát hiện sơ khởi của tội phạm.

Người có thẩm quyền không chỉ theo dõi những kẻ bất mãn, mà còn lưu tâm đến những người quá tích cực. Phải tìm hiểu cho thấu đáo cái động cơ nào đã khiến họ bất mãn, tiêu cực hay sốt sắng, tích cực quá mức mong đợi. Kinh nghiệm cho thấy những gián điệp giỏi, biết luồn sâu, lách kín vào tổ chức đối phương thường tỏ ra “bảo hoàng hơn vua”, tạo ra nhiều thành tích công trạng sáng chói để ngoi lên trong giới lãnh đạo trước khi thực hiện mưu đồ. Huỳnh Văn Trọng leo đến chức Cố Vấn của Tổng Thống, Phạm Ngọc Thảo được tin cẩn giao cho làm Tỉnh trưởng Kiến Hoà, Phạm Ngọc Ẩn có nhiều uy tín trong báo giới với cả phiá Hoa Kỳ lẫn Việt Nam. Ai dám nghi ngờ những người này là phe địch trước khi cơ quan an ninh có đủ bằng cớ để quy tội họ là gián điệp Cộng Sản. Đại tá Truyền Tin Nguyễn Văn Tý bán khoá đối chứng (mật mã truyền tin dùng trong Quân Lực VNCH) cho Việt Cộng bao nhiêu năm dài, làm lộ bí mật các cuộc hành quân dẫn đến nhiều thiệt hại trầm trọng cho quân ta.

Bỏ qua việc ông Dương Văn Hiệp và bà Lưu Lệ Ngọc từng đi về Việt Nam, đi thoải mái từ Nam ra Bắc với dự tính “thiết lập chi nhánh đài VNHN tại Việt Nam”, thì việc giao tiếp của họ với cán bộ Việt Cộng đã bị phanh phui từ hơn tháng qua là một đề tài rất đáng lưu ý. Nhất là sự giải thích gượng ép và bất nhất của họ càng không thể chấp nhận được.

Trong một lá thư của ban Giám Đốc đài VNHN ngày 20 tháng 9, 2009 có đoạn viết:

“… Trong buổi tiệc mừng sinh nhật chị Lưu Lệ Ngọc vào năm 2007 tại nhà hàng Hee Been ở Virgnia, một người bạn trong nhóm thân hữu đã đi cùng với 2 nhân viên tòa đại sứ Việt Cộng đến tham dự. Anh chị Dương Văn Hiệp đã không mời những người này….”

Rồi sau đó, cũng những vị này giải thích là tiếp xúc với VC để chiêu hồi (Thư từ chức của ông Hiệp và bà Lệ Ngọc ngày 15 tháng 10, 2009) như sau:

“… chúng tôi phải tiếp xúc với đủ mọi thứ người, nếu chúng tôi có phải tiếp xúc với DU HỌC SINH, với CÁN BỘ VIỆT CỘNG, là để TRANH LUẬN, là để GIÁO DỤC, là để TÌM HIỂU.. .hầu lấy đủ kiến thức thông tin…”

Thông thường, những tiệc tất niên, tân niên, sinh nhật là dành hạn chế cho gia đình, bạn bè thân thiết. Nếu ai đó vì lòng tham, muốn có thêm quà cáp; hay muốn chứng tỏ mình là người có tiếng tăm, giao thiệp rộng; thì cũng chỉ mời rộng thêm ra trong thân hữu, hay có quan hệ xã hội như đồng nghiệp, đồng hội, các lãnh đạo hội đoàn, hàng xóm… Khó có thể thông cảm được sự có mặt của những kẻ thù mà mình ghê tởm và hàng ngày lên án trong cái không khí ấm cúng thân thiện của các buổi tiệc gia đình như đã nói.

Đặc biệt, việc chiêu hồi, lấy tin là công tác của các điệp viên của những tổ chức chính đảng hay mặt trận đang đấu tranh. Các công tác này không thể là việc của những cá nhân cho dù giỏi đến mấy, và đang hoạt động trong lãnh vực nào.

Điều đáng buồn là đã có nhiều anh chị em trong tập thể cựu quân nhân, cựu tù nhân, cộng đồng đương nhiệm đã vì lý do nào đó mà lên tiếng bênh vực cho những việc làm sai trái này của hai vợ chồng ông Hiệp.

Một cách chính thức, ông Đỗ Hồng Anh, Chủ Tịch Cộng Đồng Hoa Thịnh Đốn, đã ra một thông cáo (ngày 5 tháng 11, 2009) coi như “huề cả làng”

Trong thông cáo có đoạn viết:

“Không thể chấp nhận trong lúc này bất cứ một cuộc tiếp xúc, giao du nào giữa người Việt quốc gia với cán bộ CSVN duới bất cứ hình thức nào, bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, với bất cứ lý do gì và trong bất cứ tình huống nào”

Dù là người ít học nhất, chúng tôi cũng hiểu ông Đỗ Hồng Anh sẵn sàng bỏ qua những việc giao tiếp với VC trong quá khứ, và có thể trong tương lai; mà chỉ “không chấp nhận trong lúc này”, tức vào thời điểm ông ra thông cáo 5/11/2009.

Ông Đỗ Hồng Anh đem thành tích của đài trong 12 năm qua để bảo đảm cho lập trường của ban Giám Đốc, mà ông quên rằng người ta chỉ nhắc đến vài cá nhân trong Ban Giám Đốc đã có hành vi ngược lại quan điểm của người Việt Tị nạn. Người ta không vơ đũa cả nắm tố cáo hết cả ban Giám Đốc nói riêng hay cả hệ thống đài VNHN nói chung. Tôi không rõ là những người bạn của ông Nguyễn Cao Kỳ có thể mượn cách lý luận này để bào chữa cho việc ông Kỳ giao du với Việt Cộng không?

Trong một đoạn đánh số 2, ông Đỗ Hồng Anh cho rằng “cho đến nay không thấy có một hậu quả nào có thể gọi là làm lợi cho CSVN và gây nguy hại cho công cuộc đấu tranh của người Việt quốc gia chúng ta”

Làm chính trị là tiên liệu. Đằng này triệu chứng đã phơi bày mà không có biện pháp ngăn ngừa; lại muốn chờ cho đến khi tai họa xảy ra mới thừa nhận thì than ôi! lại một lần thảm bại nữa!

Khi đọc đến phần chót, ông Đỗ Hồng Anh “Kêu gọi đồng hương và các hội đoàn hãy đề cao cảnh giác trước những âm mưu thừa nước đục thả câu, đánh phá cùng xúi giục các hội đoàn và cá nhân trong cộng đồng người Việt quốc gia nhằm triệt hạ uy tín và làm sụp đổ các cơ quan truyền thông là nơi có những tiếng nói chống cộng hữu hiệu để dọn đường cho công cụ tuyên truyền của CSVN xâm nhập và lũng đoạn hàng ngũ người Việt quốc gia theo Nghị Quyết 36 của chúng. “

Chúng tôi không khỏi không liên tưởng đến cách chụp mũ mà Cộng sản đã sử dụng trong chính sách cai trị, răn đe của chúng đối với công dân hay những người đối lập. Đối với chúng, quốc gia bị đồng hoá với đảng Cộng sản, nói trắng ra, đồng hoá bọn lãnh đạo đảng. Đảng là trên hết, đảng là tổ quốc vì “yêu nước là yêu Chủ nghĩa Xã Hội”, là chấp nhận sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng, là vân vân và vân vân. Người dân nào lên tiếng phê bình chính sách hay nhân sự của đảng đều bị coi là chống lại đất nước, là “xâm phạm an ninh tổ quốc”.

Chẳng rõ ông Đỗ Hồng Anh có dám coi nhân sự của đài VNHN và nhân sự của Ban Chấp Hành Cộng Đồng là toàn hảo không, là không hề làm điều gì sai không? Và ông Anh có đủ bản lãnh dân chủ để đón nhận sự phê bình của người khác không? Hay hể ai đụng đến nhân sự của ông đều là hành vi mà ông gọi là “đánh phá”, “xúi dục” “nhằm triệt hạ uy tín” của các tổ chức mà ông bao che? Ông Anh cần lưu ý, là những người phê bình chỉ nhắm vào các thái độ, hành vi chính trị của những vị này. Đây là điều rất đáng khuyến khích và rất cần có trong một xã hội dân chủ.

Thưa ông Đỗ Hồng Anh, khi lên tiếng về việc giao du của vài nhân vật lãnh đạo trong đài VNHN, là chúng ta đã ngăn chặn sự “dọn đường cho công cụ tuyên truyền của CSVN xâm nhập” như ông đang lo ngại đấy. Còn việc lũng đoạn hàng ngũ người Việt quốc gia, là do ý thức của mỗi người – trong đó có ông và có tôi - biết tự chế, không để tình cảm cá nhân làm mờ lý trí, lạc hướng nhận thức về mối hiểm họa chính trị tương lai rất cận kề; làm cho chúng ta quay ra đánh phá nhau bằng những moi móc cá nhân nhỏ nhen trong khi dung dưỡng những hành vi sai trái. Nghị quyết 36 của Việt Cộng chỉ có thể thành công khi còn có những người lãnh đạo trong hàng ngũ Quốc gia quá ngây thơ, nhận thức non nớt và thiếu bản lãnh, kinh nghiệm đối phó.

Rất nhiều người đã tỏ ra vô cùng ngạc nhiên sau khi đọc bản thông cáo của ông Chủ Tịch Cộng Đồng vùng Hoa Thịnh Đốn. Chúng tôi thật tình không rõ trong cuộc đấu tranh chống Cộng, hai chân ông Chủ tịch đang đứng ở phía bên nào? Xin ông chọn một bên, bên nào cũng được, dứt khoát và rõ rang. Còn cứ đứng dạng hai chân hai bên thì vừa mỏi chân vừa có ngày ngã đau.
NGHỊ QUYẾT 36 THẮNG LỚN

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Bà Bút Vàng phát ngôn: tên Nguyễn Phương Hùng nói xấu giáo sư Vinh: ergo hắn là cộng sản. Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh phán: Tôi không nói anh (Nguyễn Phương Hùng) là CS, nhưng anh có những bài viết chứng tỏ anh là Việt gian. Còn nhà văn Chu Tất Tiến điểm mặt: Nam Nhân, Việt Thường luôn luôn đánh phá tất cả mọi người chống cộng, sure bọn này là CS. Đấy là vài ba điển hình tố cộng mà chúng tôi đọc được trên internet gần đây. Cả ba là những người có máu mặt trên báo chí, các diễn đàn, và trong cộng đồng. Những nhà chống cộng khác trong đám dân trên không chằng, dưới không rễ thì loạn trên các diễn đàn, không sao kể cho xiết. Thế nhưng, chuyện ông bà Dương Văn Hiệp, Lưu Lệ Ngọc, giám đốc của đài VNHN mời cán bộ tòa đại sứ VGCS tại Washington tới nhà ăn nhậu với cả đám nhân viên, bạn bè thì lại là chuyện bìn h thường, chả có con ma nào théc méc. May mà hai năm sau nhà báo Hồng Phúc mới khui ra. Giả như ông Hồng Phúc không ngứa miệng phun ra thì chuyện đã đi vào quên lãng. Các ông bà Ngô Ngọc Hùng, Dương Văn Hiệp, Lưu Lệ Ngọc vẫn nghiễm nhiên là các nhà chống cộng đầy thành tích. Chứ có ai rỗi hơi mà bới móc ra làm chi cho mệt xác, biết đâu còn mang họa vào thân. CS đặt tòa lãnh sự tại Houston , ai ai cũng nhoi nhoi phản đối. Các ông lãnh đạo chống cộng tại địa phương kêu gọi dân biểu tình trước một cái chợ. Đại thành công! Nghe đâu những 5 ngàn người. Biểu tình xong, ai về nhà nấy, thỏa mãn. Tự ái của đồng bào đã được vuốt ve: biểu tình những 5 ngàn người lận. Các nhà chống cộng lại ghi thêm được một thành tích hiển hách giữ làm credit để dùng cho sau này. Thằng CS vẫn cứ đặt tòa lãnh sự của chúng để tiện cấp chiếu khán cho đồng bào về nạp mãi lộ và du hí. Có sao đâu. Sự việc ồn lên một dạo, nhưng êm rồi. Lại đâu vào đấy: đường ta ta cứ đi, đường nó (VGCS) nó vẫn phăng phăng bước tới. Làm gì nhau đây! Chẳng lẽ đường lối hợp tác giai đoạn của nhà chống cộng Al. Hoàng với Việt Tân ép phê (effet) lẹ thế?

Hoạt cảnh chống cộng của chúng ta hiện nay đại khái là như vậy. Trước đây không có thế. Bây giờ thay đổi rồi. Người ta cho rằng đó là kết quả của Nghị Quyết 36 của VGCS. Ai tin cứ tin. Ai không tin thây kệ. Tự do mà! Dưới con mắt loạn thị của người viết thì quả thật nghị quyết 36 có vẻ đang thắng lớn. Nó thắng thế nào, thắng làm sao, và tại sao thắng, đó là những vấn đề chúng tôi muốn đem bàn đến ở đây.

Vài nét về Nghị Quyết 36

Phần lớn chúng ta có lẽ chỉ nghe nói Nghị Quyết 36 nhưng chưa thấy cái đồ quỉ này nó mặt ngang mũi dọc ra sao. Vâng, chính xác cái văn kiện này được gọi là Nghị Quyết 36/NQ-TW (Xin vắn tắt là NQ36) được Bộ CT đảng VGCS ban hành ngày 26-3-2004. Trước khi có NQ36, VGCS đã thử thời vận nhiều cách để nhử mồi người tỵ nạn ở nước ngoài. Nhiều tên trí thức ăn cơm quốc gia thờ ma CS như BS Bùi Kiện Tín ở Pháp, TS Phó Bá Long ở Canada (?) v.v. đã ra công khuyển mã giúp cho bọn VGCS, nhưng đều mang thất bại. Năm 1993, VGCS đã thử mở ra một cái gọi là Đại Hội Việt Kiều, Phó Bá Long xun xoe về tham dự có gởi kiến nghị xin VGCS bỏ chiếu khán cho Việt kiều về thăm nhà, dễ dãi việc mua nhà đất, và nhất là Long còn đề nghị VGCS ban lệnh đại xá cho tất cả mọi người bỏ nước ra đi tỵ nạn CS. Tội vạ gì mà đại xá đây, GS Long?

Cha đẻ của NQ36 là Phan Diễn. Phan Diễn đứng hàng thứ 15 trong Bộ CT đảng CS, bí thư thành ủy Đà Nẵng, một tên tham nhũng có hạng. Diễn là con Phan Thanh, cháu nội Phan Khôi. Cụ Phan Khôi là một nhà văn hóa lớn chủ trương Nhân Văn Giai Phẩm chống đảng nên bị thanh trừng và bị cô lập cho đến chết. Nếu Trường Chinh đấu tố bố mẹ đẻ ra hắn không làm chúng ta ngạc nhiên, thì chúng ta cũng chẳng nên lấy làm lạ chuyện Phan Diễn hoàn toàn vô cảm đối với việc người ông của hắn bị bạc đãi và bị đầy ải cho đến khi xuống lỗ. Đó là kết quả trăm năm trồng người của tên cáo già Hồ Chí Minh. Phan Diễn không những đã dửng dưng trước việc đảng đầy đọa ông nội hắn mà còn cúc cung tận tụy phục vụ CS bằng cách cuối đời đẻ ra cái NQ36 bất nhân mà chúng tôi đang nói đây.

NQ36 gồm có 4 phần. Phần cuối cùng phân công các cơ quan có trách nhiệm thi hành nghị quyết. Các phần 1 và 2 dành tâng bốc, vuốt ve, khuyến dụ, và hứa hẹn đủ điều với cộng đồng người tỵ nạn. Qua nghị quyết, VGCS công nhận người tỵ nạn, mà chúng đổi danh xưng gọi là người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài, thành công về nhiều mặt, có tiềm lực kinh tế lớn, có tinh thần yêu nước, gắn bó với quê hương. Chúng xác nhận có một số đã trở về đầu hàng VGCS và đóng góp cho chúng. Nhưng đồng thời chúng cũng không quên cảnh cáo rằng nhiều người vẫn còn ra sức chống phá CS. Tuy thế chúng lại nói đảng và Nhà nước luôn luôn coi cộng đồng người tỵ nạn là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, nên cần phải được săn sóc và giúp đỡ, nhất là trong các lãnh vực phát thanh, truyền hình và các nhu cầu về văn hóa. Chúng kêu gọi xoá bỏ mọi mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp tạo ra, xây dựng tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Chúng hứa hẹn nhà nước sẽ thỏa thuận với các nước hữu quan về khuôn khổ pháp lý để đồng bào ổn định cuộc sống và bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng ngưới tỵ nạn theo luật pháp, công ước và thông lệ quốc tế. Chúng khuyến khích người tỵ nạn mau chóng hội nhập để làm ăn, nêu cao tinh thần tự trọng và tự hào dân tộc, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hoá và truyền thống dân tộc Việt Nam, đoàn kết, đùm bọc, thương yêu nhau, giữ mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa bà con sinh sống với trong nước, tùy theo khả năng và điều kiện của mỗi người, góp phần xây dựng quê hương đất nước, đặc biệt nhấn mạnh là chủ động đấu tranh với các biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích chung cuả dân tộc, nghĩa đúng của lối nói này là chống lại VGCS.

Phần 3 mới là chủ yếu của nghị quyết, gồm có các điểm sau đây:

1. VGCS sẽ tiến hành đàm phán và ký kết các thỏa thuận cần thiết với các nước, trong đó có các hiệp định lãnh sự, hiệp định tư pháp, bảo vệ lợi ích của người tỵ nạn, giải quyết các yêu cầu của người tỵ nạn liên quan đến vấn đề quốc tịch. Hứa tạo điều kiện để đồng bào tỵ nạn về thăm quê hương, thân nhân. Cụ thể hóa và hoàn thiện các quy định về xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại ở trong nước của người tỵ nạn, thông thoáng và đơn giản hóa các thủ tục. Giải quyết nhanh chóng thủ tục cho người tỵ nạn hồi hương hoặc về làm ăn, sinh sống có thời hạn ở trong nước. Tiếp tục giải quyết những vấn đề tồn tại về mua nhà ở trong nước, thừa kế, hôn nhân gia đình, nhận con nuôi ... liên quan đến người tỵ nạn. Dành cho người tỵ nạn giá dịch vụ như công dân trong nước.

2. Hoàn chỉnh và xây dựng mới hệ thống chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, phát huy sự đóng góp của trí thức hải ngoại vào công cuộc phát triển đất nước. Xây dựng chế độ đãi ngộ đối với chuyên gia, trí thức hải ngoại có trình độ chuyên môn cao, có khả năng tư vấn về quản lý, điều hành, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật cao, góp phần phát triển nền văn hóa, nghệ thuật trong nước. Mở rộng hợp tác, thu hút sử dụng chuyên gia, trí thức hải ngoại tham gia các công việc ở trong nước, làm việc cho các chương trình, dự án hợp tác đa phương và song phương của Việt Nam với nước ngoài hoặc trong các tổ chức quốc tế có chỉ tiêu dành cho người Việt Nam và tư vấn trong các quan hệ giữa Việt Nam với đối tác nước ngoài.

3. Hoàn chỉnh và xây dựng mới các chính sách thu hút người tỵ nạn hoạt động đầu tư, kinh doanh ở trong nước. Mở rộng và tạo thuận lợi hơn nữa chính sách kiều hối. Phát huy khả năng của người tỵ nạn làm dịch vụ, thiết lập và mở rộng phong trào tiêu thụ hàng hóa của VN.

4. Đổi mới và đa dạng hóa các phương thức vận động, các hình thức tập hợp với mục đích khuyến khích những hoạt động hướng về quê hương của người tỵ nạn, nhất là của thế hệ trẻ. Chủ động mở rộng tiếp xúc với cộng đồng người tỵ nạn, kể cả với những người mà VGCS coi là còn có định kiến, mặc cảm với chúng.

5. Tích cực đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt cho người tỵ nạn, nhất là cho thế hệ trẻ. Xây dựng và hoàn chỉnh sách giáo khoa tiếng Việt cho người tỵ nạn, cải tiến các chương trình dạy tiếng Việt trên vô tuyến truyền hình, đài phát thanh và qua mạng Internet. Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể để giúp bà con học tiếng Việt. Tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh, thiếu niên tỵ nạn. Tổ chức cho các đoàn nghệ thuật, nhất là các đoàn nghệ thuật dân tộc ra nước ngoài biểu diễn phục vụ cộng đồng. Tạo điều kiện cho các nghệ sĩ tỵ nạn về nước biểu diễn và tham gia các đoàn VN đi biểu diễn quốc tế. Thường xuyên tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa, văn học, nghệ thuật, triển lãm, hội thảo, du lịch về cội nguồn, tức là về phục vụ cho VGCS.

6. Đổi mới mạnh mẽ và toàn diện công tác thông tin, tuyên truyền để bịt mắt người tỵ nạn về tình hình đất nước và chính sách của đảng CS. Đầu tư cho các chương trình dành cho người tỵ nạn của các đài phát thanh, truyền hình và Internet. Chú trọng đổi mới nội dung, hình thức. Hỗ trợ việc ra báo viết, mở đài phát thanh, truyền hình ở ngoài nước. Xây dựng thư viện trên mạng Internet để phục vụ người tỵ nạn. Hỗ trợ tiền bạc để vận chuyển và đơn giản hóa thủ tục đối với việc gửi sách báo, văn hóa phẩm ra hải ngoại để phục vụ cộng đồng tỵ nạn.

7. Hoàn chỉnh chính sách khen thưởng đối với người tỵ nạn có công đối với CS. Đồng thời có biện pháp đấu tranh phù hợp (tức là tiêu diệt) với những người có biểu hiện cố tình đi ngược lại với VGCS.

8. Củng cố và phát triển các tổ chức xã hội làm công tác vận động người tỵ nạn. Các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài có trách nhiệm coi công tác đối với người tỵ nạn là một nhiệm vụ chính trị quan trọng. Chủ động tăng cường tiếp xúc, vận động, truyền bá và phổ biến chủ trương, chính sách của đảng VGCS.

9. Tăng cường cán bộ chuyên trách về công tác đối với người tỵ nạn tại cơ quan đại diện ngoại giao của VGCS ở những nơi có đông người tỵ nạn sinh sống. Một số bộ, ngành và một số tỉnh, thành phố có quan hệ nhiều với người tỵ nạn cần có bộ phận giúp cơ quan lãnh đạo trong công tác đối với người tỵ nạn. Bổ sung kinh phí cho công tác này.

Xét về mặt thực hành, các chính sách nêu trên có tác dụng hai mặt. Một là nó tạo ra con đường cho CS xâm nhập và trà trộn vào cộng đồng hầu lũng đoạn, chinh phục, và nhuộm đỏ khối người tỵ nạn chúng ta. Và hai là nó cung cấp cho người tỵ nạn một thứ vũ khí rất lợi hại để chúng ta tự đánh đấm, chém giết nhau không cần đến bàn tay của bọn VGCS. Tác dụng gây lũng đoạn này báo chí quen gọi là “chụp mũ” hay là “đội nón cối”. Sống trong một cộng đồng chống cộng mạnh, kẻ bị đội nón cối rất khó được tín cẩn. Hậu quả thê thảm của việc đội nón cối lên đầu nhau là người ta coi nhau là kẻ thù cần phải tiêu diệt còn hơn là CS. Rất nhiều người nhân danh chống cộng để đội nón cối lên đầu người khác, mặc dầu thời đại này đối với VGCS, dép râu, nón cối là thứ trang bị cá nhân cho các cán bộ CS đã hoàn toàn lỗi thời rồi. Có thể nói đa số những người tố cáo và chụp mũ kẻ khác đều mang tinh thần phe phái và định kiến: kẻ không theo chúng tôi và hành động khác chúng tôi tất nhiên là CS. Hà mỗ này cũng đã từng là nạn nhân của việc bị úp chụp cái nón cối lên đầu, nên bây giờ cứ như con chim bị ná vậy. Ngay cái tựa đề của bài viết này chưa biết chừng cũng có thể có kẻ vin vào đó la toáng lên rằng chúng tôi ca tụng CS hoặc làm lợi cho CS. Nhưng bất chấp, chúng tôi viết trong tinh thần tự kiểm để biết mình, biết người. Thế thôi. Chúng tôi không viết theo lối xảo ngôn của một số nhà chống cộng hiện nay để lừa bịp và ru ngủ quần chúng. Có kẻ viết rằng CS đang dẫy chết. Người khác lại bảo Hànội đang hoảng lên vì đảng đang tan rã. Chừng nào thì VGCS mới dẫy chết? Nó dẫy chết nhưng nó đang sắp nuốt sống cộng đồng tỵ nạn rồi đấy. Mở banh mắt ra mà nhìn. Nó tan rã ư? Một năm có được mấy đứa phải trả thẻ đảng vì bị đào thải, so với hàng ngàn hàng vạn đứa khác đạp lên nhau để mong được vào đảng. Đó là sự thực. Hãy lương thiện với đồng bào. Hãy nói lên sự thật cho đồng bào nghe. Đừng phỉnh gạt, dấu giếm, lừa bịp, tội nghiệp đồng bào. Với một cái nhìn lương thiện thì NQ36 đang thành công lớn cả về hậu quả xâm nhập lẫn tác dụng gây phân hóa trong cộng đồng.

Hậu quả của xâm nhập

Có ai trong chúng ta còn nghi ngờ việc VGCS len lỏi xâm nhập vào hàng ngũ người tỵ nạn không? Chắc chắn là không, mặc dầu chúng ta chưa bao giờ bắt được tại trận một tên VGCS nào hết. Nhưng chúng ta tin và điều tin tưởng của chúng ta là thật, chỉ đơn giản dựa trên sự thật lịch sử là ngày xưa chúng ta có cả một chế độ vững chắc, một quân đội hùng mạnh, cùng với nhiều cơ quan an ninh dầy đặc mà còn có những tên VGCS trà trộn vào ở hẳn trong dinh Độc Lập được, thì bây giờ trong một cộng đồng phân hóa như hiện nay, VGCS đi vào sống giữa chúng ta là chuyện quá dễ dàng. Chúng có thể là du học sinh, là cán bộ đi tu nghiệp, là thương gia đi khảo sát thị trường, là người di tản buồn, là thuyền nhân, là diện ODP, diện con lai, diện bảo lãnh, thậm chí cả diện HO (lao) nữa. Nói tắt một câu, cán bộ CS len lỏi vào sống trong cộng đồng là điều không còn gì phải thắc mắc. Chúng ta không căn cứ vào đâu được để xác định tên A, tên B là VGCS. Nhưng nhìn vào một số lãnh vực sinh hoạt hàng ngày trong cộng đồng thì thấy rõ là có VGCS hiện diện giữa chúng ta thật, và ảnh hưởng của chúng đang mỗi ngày mỗi lớn dần. Sau đây chúng tôi xin nêu lên một số hiện tượng trong các lãnh vực sinh hoạt trong cộng đồng tỵ nạn chúng ta để mọi người thấy rằng VGCS đã xâm nhập vào trong cộng đồng đến mức nào rồi.

1. Làm ăn thương mại
Trước kia không người tỵ nạn nào dám hở miệng nói ra là họ có dính líu làm ăn buôn bán với CS. Nhưng bây giờ, nhiều con buôn tỵ nạn công khai giao dịch với cán bộ CS không cần giấu diếm. Chúng ngang nhiên đến dự tiệc chiêu đãi của Nguyễn Minh Triết, của Nguyễn Tấn Dũng. Chúng mời cán bộ CS về nhà ăn nhậu mà chẳng thèm sợ ai đàm tiếu. Còn hơn thế nữa, bọn cán bộ trong nước dám công khai tạo mãi các khu thương mại trên đất Mỹ ngay tại khu vực đông người tỵ nạn để chúng ta làm giầu cho chúng. Chẳng còn ai nghi ngờ về chuyện bọn mafia CS mua những cơ sở thương mại và dịch vụ tại hải ngoại để kinh doanh, hoặc do con cái của chúng đang ở ngoại quốc đứng tên, hoặc do người tỵ nạn là bà con đứng tên dùm. Có trường hợp được được nhận diện, nhưng nhiều trường hợp khác còn được giấu kín. Người tỵ nạn đem tiền về VN tiêu xài hay gởi tiền về trong nước dưới nhiều hình thức. Tiền này chui vào túi các cán bộ CS. Đồng tiền đó lại được bọn tư bản đỏ đem ra nước ngoài kinh doanh buôn bán. Đây là một chuyến đi khứ hồi của đồng dollar Mỹ. Thử hỏi xem có ai trong chúng ta coi đó là một thách đố không? VGCS kêu gọi người tỵ nạn đem tiền về đầu tư, nhưng chính chúng lại đi đầu tư ở ngước ngoài. Sự thể cho thấy là một mặt bọn VGCS không còn tin tưởng vào tương lai của chế độ, nhưng mặt khác chúng đạt được thành công trong việc biến khối người tỵ nạn thành những kẻ làm giầu cho chúng. Người tỵ nạn tự nhiên trở thành những con bò cho bọn mafia CS vắt sữa ngay trong những cái chuồng mà đồng bào tạo dựng nên. Lợi nhuận do việc đầu tư này VGCS dùng để tài trợ cho các hoạt động đánh phá người tỵ nạn, một phần chúng nuôi bọn chống cộng cò mồi ở hải ngoại. Mối nhục lớn cho cộng đồng là các nhà chống cộng của chúng ta cứ mỗi khi hoạt động lại phải ngửa tay xin tiền từ các tên VGCS hoặc những kẻ làm ăn với chúng. Nếu bỏ chút ít tiền bạc ra mướn lũ cò mồi chống cộng cho vui thì tại sao chúng không làm. Chúng có thiệt hại gì đâu. Cuộc đấu tranh chống cộng vì có lũ cò mồi đã trở thành trò hề lố bịch. Lãnh tiền của CS để chống cộng. Tiếu lâm thật, nhưng lại là thực tại muôn thuở.

2. Văn hóa, văn học
Sách báo tuyên truyền của VGCS bầy công khai trong các tiệm sách, thư viện, những nơi có đông người tỵ nạn. Các cuộc trao đổi giáo sư, sinh viên diễn ra hầu như thường xuyên giữa các đại học trong và ngoài nước. Con em người tỵ nạn về trong nước học hỏi được cái gì từ đỉnh cao trí tuệ VGCS? Hiện tượng giao lưu văn hóa qua cái gọi là hội thảo chuyên đề của các nhà trí thức trong và ngoài nước cũng đã thấy lai rai xẩy ra. Điều đáng ngạc nhiên là các nhà trí thức tại hải ngoại lại không hề nghĩ là mình đang tự chui vào cái tròng hoà hợp hòa giải của VGCS. Bằng cấp cao nhưng trí đoản của bọn school smart (mọt sách) là như thế. Thực tế đang diễn ra, đám khoa bảng thường lại là những kẻ có tinh thần chủ bại và đầu hàng trước nhất. Người bình dân về VN thăm nhà nhưng tinh thần chống cộng vẫn quyết liệt. Trái lại bọn trí thức sẵn sàng HHHG với VGCS dưới các chiêu bài mầu mè. Ai là người chịu trách nhiệm để cho các loại văn hóa phẩm và tài liệu tuyên truyền xâm nhập. Người bình dân bận làm ăn rất ít đọc sách. Tuổi trẻ trình độ Việt ngữ đủ đâu vào đâu mà đọc tiếng Việt. Vậy thì ai vào đây, ai thích đọc và ai cần đọc sách của CS?

3. Tổ chức, đoàn thể
Cán bộ CS xâm nhập để lũng đoạn, làm ung thối, và phân hóa các đoàn thể, tổ chức của người quốc gia là chuyện xưa như trái đất rồi. Trước năm 1975, CS len lỏi trà trộn vào quân đội, cảnh sát, đảng phái, báo chí, cả đến các tôn giáo bằng đủ mọi hình thức. Ngày nay cũng sách đó thôi. Không đoàn thể nào, tổ chức nào, cộng đồng nào không bị chia năm sẻ bẩy do CS và tay sai xâm nhập phá hoại. Lạ lùng thay, nhóm nào cũng có người theo, người ủng hộ. Rõ ràng là đồng bào không có khả năng phân biệt được ai là CS, ai quốc gia, ai chống cộng thiệt, ai chống cộng cuội, mà chỉ a dua theo cảm tính. Ai là kẻ đứng sau lưng để phá nát các cộng đồng, đoàn thể? Không ai cả, mà chỉ toàn thấy rặt là những nhà chống cộng rất hăng say và to tiếng. Nếu cứ tính công sức những nhà chống cộng này đổ ra cho công cuộc chống cộng thì chắc chắn bọn CS nằm vùng đã không còn đất sống, thậm chí cái chế độ của chúng ở trong nước cũng đã bị tiêu ma lâu rồi. Nhưng kết quả ngược lại, CS càng ngày càng xâm nhập sâu hơn vào các cộng đồng đủ mọi ngành nghề, mọi sinh hoạt, và càng ngày chúng càng tung hoành trắng trợn hơn, mọi người đều thấy nhưng không làm gì được, bởi vì có nhiều người theo chúng. Người nặng đầu óc mê tín thì cho rằng NQ36 là một thứ bùa ngải rất linh. Nó có sức trấn áp mọi phương pháp chống lại nó. Nhưng người không tin vào bùa ngải quyết đoán rằng không có bùa ngải gì cả, chẳng qua là tại bọn VGCS học mót cái bí quyết quốc truyền của tổ phụ Washington của nước Mỹ thôi. Bí quyết này đã được chứng minh là cực kỳ hiệu nghiệm. Nó có thể đạp đổ những thần tượng cao ngạo nhất. Nó ngồi một chỗ mà với tay ra tận ngàn dặm giết chết lãnh tụ của một nước khác dễ như chơi. Nó còn có khả năng như một nhà ảo thuật đại tài, làm biến mất một quốc gia khỏi bản đồ thế giới. VGCS có tiền rừng bạc bể lại nắm được bí quyết này trong tay, hèn chi mà cộng đồng tỵ nạn không rã như vôi vữa gặp mưa.

4. Từ thiện, bác ái
Đây là mặt NQ36 xâm nhập mà người tỵ nạn khó đối phó nhất. Trước những thiên tai bão lụt và những khó khăn thiếu thốn của đồng bào trong nước, nếu chúng ta bỏ mặc thì chính chúng ta tự cảm thấy nhẫn tâm. Nhưng đã có quá nhiều kinh nghiệm cho thấy lòng bác ái của người tỵ nạn đã bị lợi dụng quá đáng. Có thể nói không có đồng tiền nào của chúng ta bỏ ra cứu giúp đồng bào nghèo trong nước mà không bị chia năm sẻ bẩy, đến được tay đồng bào thì ít, chui vào túi bọn cán bộ thì nhiều. Đấy là chưa kể gặp phải bọn lưu manh lấy công việc từ thiện như một nghề sinh sống. Tình trạng này vô tình biến nhiều người vốn có lòng hảo tâm trở thành ích kỷ, và bọn tay sai CS đội lốt làm từ thiện mặc sức lộng hành.

5. Văn nghệ và truyền thông
Phải nói tác hại lớn nhất mà NQ36 đưa đến là việc san bằng lằn ranh quốc cộng trong lãnh vực văn nghệ và truyền thông. Về văn nghệ, như chúng ta thấy hiện nay, ca sĩ trong nước hoàn toàn thoải mái khi ra hát tại hải ngoại, nếu không muốn nói là còn được nâng niu chiều chuộng rất mực nữa là khác. Đổi lại, ca sĩ hải ngoại về trình diễn trong nước cũng được đón tiếp niềm nở. Sự khác biệt ở chỗ là ca sĩ hải ngoại trở về hầu như không em nào không nói vài cầu bợ đỡ CS để lấy lòng. Hèn và đê tiện. Xướng ca vô loài, người xưa đánh giá không sai. Trong khi đó bọn con hát trong nước ra lại thường kênh kiệu lên mặt. Có đứa còn lớn lối đe dọa chôn sống cộng đồng tỵ nạn. Vô giáo dục. Cũng lại là xướng ca vô loài nữa. Một đứa hèn vì sợ bóng sợ gió, một đứa mất dậy với tâm lý đắc thắng cho thấy sự hiệu lực của tác dụng đồng hóa trong lãnh vực ca nhạc tới mức nào.

Đồng hóa là bước kế tiếp chủ yếu sau bước xâm nhập. Đồng hóa cũng có nghĩa là hòa hợp hòa giải (HHHG), nhưng nó gỡ bỏ được cái rào cản ý thức hệ của người Việt hải ngoại một cách tự nhiên và êm thấm hơn. Ban đầu người tỵ nạn còn chống các con hát từ trong nước ra, nhưng dần dần nhiều người đã không còn muốn chống vì ghiền giọng rên của bọn con hát trong nước đến nỗi không nghe nhớ chịu không nổi. Các trung tâm băng nhạc và các tay cai thầu văn nghệ biết rất rõ tâm lý đó nên đã mặc tình thao túng. Bọn này rất hăng hái vinh danh QLVNCH nhưng lại âm thầm làm công cụ của NQ36. VGCS không đứng ra làm công việc hòa hợp này mà để cho người tỵ nạn tự làm lấy qua trung gian các trung tâm băng nhạc và bọn cai thầu văn nghệ. Chính sách dùng người của địch để thôn tính và cai trị địch đã có từ thời Triệu Đà xâm lăng Âu Lạc của Thục An Dương Vương, được gọi là “Dĩ di công di”. Hiện nay bọn Tầu cộng cũng áp dụng chính sách Dĩ di công di để xâm lăng nước ta.

Chính sách Dĩ di công di càng trở nên hiệu nghiệm khi VGCS dùng văn nghệ tỵ nạn, nói chung là nền ca nhạc thời chinh chiến để hội nhập người tỵ nạn với CS một cách rất tài tình mà ít người nhìn ra. Thật vậy, cuộc chiến đấu tự vệ của nhân dân miền Nam sở dĩ còn được lưu hương cho đến ngày nay ngoài việc nó có chính nghĩa, mà còn đặc biệt nhờ tính chất vừa bi hùng vừa lãng mạn của nó nữa. Nói chiến tranh mà lãng mạn thì có lẽ là nghịch lý. Nhưng đúng chứ không sai. Bóng dáng người lính chiến đậm nét phong sương nhưng kiêu hùng đã một thời là mơ ước của các cô gái miền Nam . Người lính chiến trở thành một thứ thần tượng trong trái tim của phần lớn thiếu nữ trẻ. Thật vậy, không có gì đẹp bằng hình ảnh một chàng trai lãng tử vừa ôm súng gác vừa làm thơ, giết địch xong là ngồi xuống viết thư tình, trong giao thông hào vẫn kể chuyện tình sử cho nhau nghe, về đến doanh trại là ba chân bốn cẳng dọt đi thăm người yêu … Trên thế gian này không có thứ lính tráng nào kiêu hùng và lãng mạn đến như thế. Và tất nhiên cũng không có cuộc chiến nào tàn khốc nhưng lại đẹp và nên thơ như thế. Nét đẹp đó chỉ tìm thấy trong cuộc chiến đấu chống CS xâm lược của nhân dân miền Nam được diễn tả qua hàng ngàn ca khúc rất mê hoặc. Những giá trị văn học nghệ thuật này đã trở thành bất tử, và sẽ còn tồn tại và lưu truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ đời nọ qua đời kia, thời gian chắc chắn không thể nào bôi xóa được. VGCS biết rất rõ điều đó. Chúng muốn xóa đi nhưng không xóa nổi nên đành phải thả lỏng cái thứ văn nghệ “phản động” này với ý đồ tương kế tựu kế để chinh phục người tỵ nạn. Đó là lý do tại sao có chuyện ca sĩ vẹm cũng hát nhạc lính trên những sân khấu hải ngoại, chỉ trừ những ca khúc mang tính chiến đấu cao và quá rõ rệt. Ngày nay, những ca khúc thời chinh chiến bị trộn lẫn với loại nhạc “mì ăn liền” đang thịnh hành tại hải ngoại và được biết trong nước cũng thế. Nó vừa trở thành cái cần câu cơm cho bọn con buôn văn nghệ (và cả cho lũ VGCS nữa), đồng thời còn là phương sách rất tự nhiên và hữu hiệu để đồng hóa người tỵ nạn. Hát nhạc lính để vinh danh QLVNCH thì ai bắt bẻ và chống đối được. Nhưng điều trớ trêu là người ca sĩ mới về nước hát ca tụng CS, vừa trở ra lại hát vinh danh người lính VNCH. Người quân nhân QLVNCH cần bọn thợ hát vô luân này vinh danh sao? Điều bất nhân không thể tha thứ được là có trung tâm băng nhạc của người tỵ nạn hoặc cai thầu văn nghệ đã tự ý sửa lời của một số ca khúc để được VGCS chấp nhận cho hát.

Truyền thông cũng giống như văn nghệ. Có thể nói truyền thông cũng là lãnh vực xâm nhập thành công nhất của NQ36. Rất nhiều người cho rằng VGCS đã mua được hầu hết các cơ quan truyền thông của người Việt tỵ nạn. Cũng không sai lắm. Một số chương trình phát thanh và báo chí lấy lý do chống Tầu cộng, công khai kêu gọi người tỵ nạn hòa hợp hòa giải với VGCS. Điều lo ngại này có cơ sở dựa trên hai lý do. Thứ nhất là vì cái bụng. Thực tế là rất ít có tờ báo nào hoặc đài phát thanh nào tự trang trải được chi phí nhờ vào quảng cáo. Ở Mỹ, tiền mướn đài tính theo giá Mỹ, trong khi quảng cáo tính theo giá VN. Nhân viên, biên tập viên, xướng ngôn viên thường phải sinh sống bằng nghề khác. Nhiều người làm truyền thông không lương vì yêu nghề. Thực trạng đó bắt buộc người chủ đài phải nghĩ đến chuyện kiếm tiền bằng cách khác để nuôi sống đài, và nhất là nuôi sống bản thân và gia đình. Việc họ sa vào tay bọn VGCS hay những thế lực đen tối khác là điều dễ hiểu. Người Mỹ nói đúng, kẻ nắm túi tiền, người đó điều khiển. Lý tưởng này, lý tưởng nọ đành phải gác qua một bên. Thứ hai là ỷ vào cái lá chắn tự do. Ở các nước phương Tây, nhất là tại Hoa Kỳ, tự do ngôn luận và tự do thông tin thường được coi là vô giới hạn, được luật pháp bảo vệ. Sự lạm dụng tự do quá trớn là cánh cửa lớn cho CS xâm nhập và những con buôn trong ngành truyền thông ruớc CS vào. Chúng ta thấy rất rõ nhưng đành chịu bất lực, không làm gì được.

Trên đây chỉ là một số khía cạnh trong đời sống hàng ngày của người tỵ nạn mà bọn VGCS đã thọc bàn tay vào một cách rõ rệt qua NQ36. Còn rất nhiều mặt khác chưa dám quyết đoán, nhưng đã có những dấu hiệu đáng nghi ngờ. Chắc chắn thời gian sẽ trả lời.



(còn tiếp)

Wednesday, October 21, 2009

Bạch Diện Thư Sinh

Ôi! Phận nước sao điêu linh, khốn khổ đến nỗi vận mạng toàn dân, toàn quân miền Nam lại bị rơi vào tay những cấp lãnh đạo như thế đấy!

* Chuyện 1: Làm thế nào PTT Nguyễn Cao Kỳ đã cứu sinh viên VC Huỳnh Tấn MẪM

Vài hàng lịch sử để hiểu rõ động cơ

Cơ may đưa hai Tướng Thiệu, Kỳ lên nắm chính quyền
Chính phủ Phan Huy Quát chấp chính ngày 18 tháng 02 năm 1965.

Cuối tháng 5, đầu tháng 6, có sự bất đồng lớn giữa Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quạt Cuối cùng ông Phan Huy Quát tuyên bố từ chức, giải tán chính phủ và giao quyền lãnh đạo đất nước vào tay giới quân nhân một lần nựa

Ngày 12 tháng 6 năm 1965, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia do Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch (coi như Quốc trưởng) và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương do Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch (coi như Thủ tướng) được thành lập

Ngày 19 tháng 6 năm 1965, Tướng Nguyễn Cao Kỳ ra mắt nội các chiến trạnh

Cuối tháng 2 năm 1966 nổ ra Biến động Miền Trụng Nguyên do là sự bất hòa giữa Tướng Nguyễn Chánh Thi và các tướng lãnh khác trong Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, phối hợp với sự chống đối của Phật giáo miền Trung do TT Thích Trí Quang cầm đầu đã bị CS xâm nhập lèo lại. Họ phát động đấu tranh bạo loạn tại Huế và Đà Nẵng kéo theo cả một số quân nhân vô kỉ luật, quyết lật đổ chính quyền của hai ông Thiệu - Kỳ bằng mọi giạ

Chính phủ trung ương phải đưa quân ra miền Trung để đối phó tình hình đã trở nên quá tồi tệ Nhờ cuộc hành quân này, đến cuối tháng 5 năm 1966, trật tự an ninh được vãn hồi tại thành phố Đà Nặng Hết tháng 6 năm 1966, tình hình tại Huế mới yện

VNCH đang dần dần đi vào ổn định

Cuối tháng 2 năm 1967, Quốc Hội Lập Hiến soạn thảo xong và biểu quyết chấp thuận bản dự thảo Hiến Pháp mới còn gọi là Hiến Pháp Đệ Nhị Cộng Họa

Ngày 10 tháng 3 năm 1967, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia duyệt bản dự thảo Hiến pháp lần chót và chấp thuận Hiến pháp mới tôn trọng hơn nguyên tắc phân quyện

Từ đây phải tuân thủ Hiến pháp cho nên sẽ tiến hành bấu cử Quốc hội Lập pháp và Tổng thộng

+ Liên danh Thiệu-Kỳ

Cuộc vận động bầu cử Tổng thống sẽ bắt đầu vào tháng 7 năm 1967. Bên ngoài đã biết cả hai ông Thiệu và ông Kỳ đều nhất quyết sẽ ra tranh cử chức vị Tổng thộng

Xét về khả năng đắc cử thì ông Kỳ là Thủ tướng đương nhiệm cho nên nắm được guồng máy chính quyền từ trung ương xuống tới xã ấp toàn quốc, đồng thời được nhóm tướng tá trẻ đang nắm giữ những vị trí quyền lực then chốt ủng hộ. Đang khi đó, ông Thiệu với cá tính chín chắn, thâm trầm nên được nhiều người cho là đáng tín cẩn hơn, vả lại dân miền Nam dễ thiên về ông Thiệu là người Phan Rang ở giáp ranh với Lục tỉnh ‘Nam Ky’ hơn là ông Kỳ là dân gốc ‘Bắc Ky’(1).

Dư luận lúc đó cho là phía dân sự sẽ có nhiều liên danh ứng cử tổng thống, chẳng hạn như liên danh Trần Văn Hương, liên danh Trương Đình Dụ, nếu bên phía quân nhân, hai ông Thiệu và Kỳ mỗi người đều ra ứng cử tổng thống thì có thể bị phía dân sự đánh bại Để có thể thắng, các tướng lãnh phải tìm cách để chỉ có một liên danh quân nhận Giữa lúc dư luận đồn đoán về ưu thế của Tướng Kỳ trong cuộc tranh chấp này thì đột nhiên sau cuộc họp tướng lãnh vào ngày 30 tháng 6 năm 1967, chỉ một ngày trước khi hết hạn nộp đơn ứng cử, liên danh Thiệu - Kỳ ra đợi. Chẳng những ông Thiệu không rút lui mà ông Kỳ còn phải đứng Phó trong liên danh của ông Thiệu.

Theo tác giả Võ Long Triều trong hồi kí Cái Mốc Lịch Sử kể lại thì chính ông Nguyễn Cao Kỳ đã xác nhận với ông trong một bữa cơm tại nhà ông Kỳ ở Hacienda, Los Angeles, về biến cố này như sau:

‘Moa cho triệu tập tất cả tướng lãnh về Tổng Tham Mưu họp để bàn về việc của moa và ông Thiệu cùng tranh cử chức vị Tổng Thộng Mọi việc được sắp xếp trước hết rội Chiều hôm trước anh em thỏa thuận để cho ông Thiệu ra ứng cử với tư cách tư nhân và dân sự Có nghĩa là phải giải ngũ để ra ứng cử Tổng Thộng Điều này chắc chắn đã lọt vào tai ông ta rội Ngày hôm sau các Tướng Lãnh họp tại Tổng Tham Mưu, moa ngồi ngoài không tham dự để cho anh em thảo luận không phải ngại ngùng vì sự có mặt của mọa Mục đích phiên họp là giao quyền Lãnh Đạo Quốc Gia lại cho Cao Văn Viên Xử Lý Thường Vụ Có biên bản đường hoạng Vì biết trước kết quả rồi nên Nguyễn Văn Thiệu chần chừ không đến, đợi phải có người mời đến ghi nhận kết quả thì “lủy” mới chịu đện (tiếng Pháp: Lui có nghĩa là nó, ổng). Trước mặt moa ông ta nói mà rơm rớm nước mắt, anh em quyết định sao thì ông ta chịu vậy Ông ta xin anh em cho phép ở lại với quân đội’

Cao Văn Viên sắp đọc biên bản, Kỳ ngang nhiên khoát tay bảo: ‘Không cần, tôi nhường cho anh Thiệu ứng cử lần này, kỳ sau sẽ đến lượt tội Nhưng tôi yêu cầu anh Thiệu phải duy trì Hội đồng Quân nhận Mọi quyết định quan trọng yêu cầu anh phải tham khảo ý kiến của các Tướng Lạnh’

Thiển nghĩ ông Thiệu có nằm mơ cũng không thể ngờ rằng ông Kỳ nhường vị trí ứng cử tổng thống cho ông dễ dàng đến thế, vì vậy bây giờ ông Kỳ có đưa ra bất cứ điều kiện gì thì ông Thiệu cũng chấp nhận ngạy

Thật ra ông Kỳ còn đưa ra một điều kiện nữa là Thủ tướng sẽ do ông chọn lựa (Dó là Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc sau này).

Khi kể lại chuyện này, ông Kỳ không dấu diếm: ‘Diều moa hối hận nhứt trong đời là nhường quyền ứng cử và chịu đứng phó cho Nguyễn Văn Thiệu’ (2).

Ông Kỳ nói ông ‘hối hận nhất trong đời’ là phải, bởi vì ông đã đem tình cảm vào để giải quyết chuyện chính trị hệ trọng tầm cỡ quốc gia đại sự Khi ông ‘quân tử tầu’ chịu đứng phó cho ông Thiệu, ông đâu có ngờ những điều kiện ông đưa ra để ‘thủ thế’ sẽ không có cái nào thực hiện được hầu bảo vệ ộng Bởi vì từ khi đắc cử tổng thống, ông Thiệu đã dựa vào Hiến Pháp mà làm việc Trong ‘mọi quyết định quan trọng’ ông không cần hỏi ý ‘Hội đồng Quân nhân’ nào cả, và rồi ra sẽ thấy ông Kỳ không đương nhiên được ‘dến lượt’ra ứng cử lần sạu Nếu ông Kỳ muốn ứng cử thì cứ chiếu theo luật pháp mà ứng cự Còn vị thủ tướng do ông Kỳ tuyển chọn là Ls Nguyễn Văn Lộc thì không thành tích, không đủ tài cán cho nên chỉ tồn tại được một thời gian ngặn

Ngày 3 tháng 9 năm 1967, là ngày bầu cự Có 6 triệu cử tri thì 5 triệu thực sự đi bỏ phiếu, đạt tỉ lệ 80% . Hai ngày sau, tổng kết số phiếu: liên danh Thiệu - Kỳ đắc cử với 35% tổng số phiếu, về nhì là liên danh Trương Đình Du được 17% số phiệu

+ Rạn nứt lớn

Quyền hạn của một tổng thống do Hiến pháp quy định đã cho phép ông Thiệu dần dần củng cố được quyền lực, loại bỏ tay chân của ông Kỳ và khi ở thế mạnh ông ta không ngần ngại chèn ép ông Kỵ Cả miền Nam lúc đó biết rõ ràng có sự rạn nứt trầm trọng
trong hàng ngũ lãnh đạo cao nhật Sự rạn nứt ấy làm suy yếu nội lực quốc giạ

Theo Ks. Võ Long Triều, nhân vật từng có mối giao hảo đặc biệt với ông Kỳ, thì đã có tới 2 lần Tướng Kỳ muốn làm đảo chánh lật đổ ông Thiệu: Một lần sau Tết Mậu Thân 1968, lần thứ hai sau khi Tướng Kỳ tham dự Hòa đàm Paris trở về (3).

Dĩ nhiên, ông Kỳ đã không làm được điều ông muộn Những toan tính loại này chỉ biểu lộ cá tính hay ‘bốc’ của ộng Muốn lật ông Thiệu phải coi xem ông có bản lãnh hơn ông Thiệu không và phe ông có còn mạnh hơn phe ông Thiệu như trước nữa không; vả lại
còn một yếu tố hết sức quan trọng, đó là người Mĩ muốn cái gì và chọn ai để có thể thực hiện kế hoạch của họ

Tóm lược bối cảnh lịch sử trên đây sẽ giúp người đọc hiểu rõ nguyên do câu chuyện đau lòng có liên quan tới Phong trào Sinh viên đấu tranh xấy ra vào năm 1971. Đó là chuyện ông Kỳ, vì thù ghét ông Thiệu cho nên muốn lợi dụng bọn sinh viên VC để ‘chơi’ ông Thiệu, đã ra tay giải thoát cán bộ thành đoàn Huỳnh Tấn Mẫm và cho bọn Mẫm dùng Dinh Quốc khách của Phó Tổng thống để làm trụ sở hoạt động chống phá bầu cự

+ Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ đã cứu sinh viên VC Huỳnh tấn Mẫm như thế nào

Ngày 20 tháng 6 năm 1971, liên danh Lý Bửu Lâm (khuynh hướng quốc gia) đắc cử trong cuộc bầu cử Ban chấp hành Tổng Hội Sinh Viên Saigon, đánh bại liên danh của nhóm sinh viên VC, chấm dứt một thời gian dài tổ chức sinh viên này bị Thành Đoàn khống
chế (4).

Bị thất bại trong cuộc bầu cử Tổng hội SVSG, ngày 28 tháng 7 năm 1971 tại Trụ sở Tổng vụ Thanh niên Phật tử số 294 đường Công Lý, Thành đoàn chỉ đạo lập ra cái gọi là Ban Chấp hành lâm thời Tổng Hội Sinh Viên Miền Nam VN xưa nay chưa từng có tổ
chức này), gồm có Huỳnh Tấn Mẫm làm Chủ tịch, Tổng thư kí là Nguyễn Thị Yến, Phó Chủ tịch ngoại vụ là Lê Văn Thuyên (Chủ tịch Tổng hội SV Huế), Phó Chủ tịch Nội vụ là Phạm Văn Xinh (Chủ tịch Tổng Hội SV Cần Thơ). Lễ ra mắt tổ chức tại Huế kết thúc bằng một cuộc biểu tình tuần hành phá phách, chống quân sự học đường, chống bầu cử độc diễn, đòi Mĩ rút về nước, đòi hòa bình cho VN.

Trong phần trình bầy sơ lược bối cảnh lịch sử trên đây, chúng ta đã thấy sự rạn nứt trầm trọng giữa hai ông Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và ông Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ, đến nỗi ông Kỳ nuôi ý đồ lật đổ ông Thiệu

Lẽ tất nhiên Thành đoàn biết rất rõ sự rạn nứt giữa ông Kỳ và ông Thiệu Nhất là với sự hiện diện của Dân biểu thân Cộng Hồ Ngọc Nhuận trong buổi họp bàn chuyện đảo chánh của ông Kỳ tại trại Phi Long (Hồi kí Cái Mốc Lịch Sử của Võ Long Triệu
Tập I, kỳ 6) thì chắc chắn qua ông dân biểu thân Cộng này, Thành đoàn càng biết rõ ông Kỳ thâm thù ông Thiệu đến đâu, hơn nữa họ còn biết cả những gì ông Kỳ đang âm mựu Vì thế Thành đoàn chỉ đạo cho Huỳnh Tấn Mẫm ‘tranh thủ’ ông Kỵ Họ không gặp khó khăn gì vì cũng chính dân biểu thân Cộng Hồ Ngọc Nhuận đã giúp cho họ được ông Kỳ tiếp kiến tại tư dinh trong trại Phi Lọng Cuộc tiếp kiến diễn ra vào khoảng đầu tháng 9 năm 1971. Phái đoàn sinh viên học sinh VC do Huỳnh Tấn Mẫm cầm đầu còn có Nguyễn Thị Yến (Văn khoa), Hạ Đình Nguyên (Văn khoa), Võ Như Lanh (Vạn Hạnh), Lê Văn Nuôi (học sinh Cao Thắng) (5), Phạm Văn Xinh và Trần Hoại

Chắc chắn ông Kỳ đã từng được báo cáo về các hoạt động phá rối của bọn Huỳnh Tấn Mẫm, cho nên mở đầu ông hỏi ngay: ‘Các anh chị có phải là VC khổng’ Mẫm thấy khó trả lời cho nên y đặt ngược một câu hỏi thăm dò: ‘Thưa Phó Tổng thống, theo Phó
tổng thống thì chúng tôi có phải là VC khổng’ Ông Kỳ hỏi chỉ là để hỏi, ông không cần câu trả lợi Lúc này đối với ông, bọn Huỳnh Tấn Mẫm là ai không quan trọng cho bằng bọn chúng có khả năng quậy phá đối thủ của ông là TT. Nguyễn Văn Thiệu

Thấy ông Kỳ vui vẻ và không theo đuổi câu hỏi, Huỳnh Thấn Mẫm chớp thời cơ nêu kiến nghị bãi bỏ Chương trình Quân sự Học đường, viện cớ nay chiến sự đã lùi ra khỏi Thủ đô và sinh viên cần thời giờ học thị Chương trình Quân sự Học đường do ông Kỳ thành lập cho nên ông không chấp nhận bãi bỏ, nhưng để lấy lòng bọn Huỳnh Thấn Mẫm, ông hứa sẽ cho hoãn quân sự học đường vào mùa Hè là mùa thi cự

Mặc dù liên danh Lý Bửu Lâm đã đắc cử Ban Đại Diện Tổng hội SVSG mãi từ ngày 20.6.1971 nhưng ông Kỳ vẫn rút ra tờ truyền đơn tranh cử của liên danh Lý Bửu Lâm, Lê Khắc Sinh Nhật và nói ông không ủng hộ liên danh này vì là liên danh thân chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và không có thực lực bằng bọn Huỳnh Tấn Mẫm cho nên ông vẫn tiếp tục ủng hộ nhóm Huỳnh Tấn Mậm

Biết được thâm ý muốn lợi dụng của ông Kỳ, Mẫm đưa yêu sách xin ông Kỳ cấp cho bọn họ một trụ sở, bởi vì trụ sở Tổng hội SVSG số 207 đường Hồng Bàng, Chợ Lớn đã bị Cảnh Sát Quận 5 phong tọa

Ông Kỳ bảo ông không có nhà để cấp cho bọn Mẫm, nhưng ông có thể cho họ mượn một phần trong Dinh Quốc khách số 4 đường Tú Xương thuộc quyền xử dụng của Phó Tổng thống ngằy nay là Nhà Văn hóa Thiếu nhi thành phố) để họ dùng làm trụ sợ

Thành đoàn đánh giá họ đã đạt được thắng lợi trong cuộc gặp gỡ với ông Kỵ Để chứng tỏ họ có sức mạnh, 2 ngày sau cuộc hội kiến, Thành đoàn chỉ thị cho bọn Mẫm tổ chức một cuộc xuống đường xô xát mạnh với Cảnh sát Dã chiến trên đường Cường Đệ Nghe tin có biểu tình, ông Kỳ lái trực thăng tới ‘lược trận’ Ngay ngày hôm sau, ông Kỳ giao Dinh Quốc Khách cho bọn Mẫm, lại còn cung cấp máy đánh chữ, giấy in truyền đơn; nguy hiểm hơn nữa, theo yêu cầu của họ, ‘nhóm tham mưu của Kỳ’ còn cấp cho họ cả lựu đạn MK3 để phá các thùng phiếu (lựu đạn MK3 thường được dùng để huấn luyện, tiếng nổ
lớn, không gây sát thương) (6).

Ngày 19 tháng 9 năm 1971, bọn Mẫm phối hợp với Tổng hội SV Vạn Hạnh và Tổng đoàn Học sinh Saigon tổ chức cuộc biểu tình từ trong khuôn viên Đại học Vạn Hạnh đường Trương Minh Giạng Toán xung kích ném lựu đạn MK3 vào địa điểm bầu phiếu, dùng bút lông sửa các bích chương liên danh ứng cử tổng thống Thiệu - Hương: liên danh ‘1’ thành liên danh ‘lì’, ‘dân chủ’ thành ‘dân chửi’ và ‘Thiệu’ thành ‘Thẹo’ Họ còn đốt vỏ xe, dựng lên những bàn chông, hình đầu lâu và lựu đạn với hàng chữ cảnh cáo ‘nguy hiểm chết người không vượt qua’ làm cho giao thông tắc nghẹn

Để vãn hồi trật tự, Giám đốc Cảnh sát Đô Thành Trang Sĩ Tấn ra lệnh tấn công vào trường Vạn Hạnh dẹp tan cuộc biểu tịnh

Tuy biết những trò chơi nguy hiểm của ông Kỳ nhưng vì gần tới ngày bầu cử, phía chính quyền không muốn gây thêm chuyện với ộng Cảnh Sát chỉ muốn bắt giữ tên đầu xỏ Huỳnh Tấn Mậm

Cuối tháng 9.1971, Huỳnh Tấn Mẫm tới khách sạn Caravelle đường Tự Do để trả lời phóng vấn đài BBC. Sau đó Mẫm trở về Trụ sở Tổng vụ Thanh niên Phật tử số 294 đường Công Lí năy là Nam Kì Khởi Nghĩa). Vì biết đang bị theo dõi, cho nên vừa về tới Trụ sở Tổng vụ, Mẫm chạy vội lên tầng cao nhất, nhưng Cảnh Sát đã kịp thời bao vây chung quanh trụ sợ Mẫm đang lúng túng tìm cách thoát thân thì Ngô Thế Lý, Đoàn trưởng Đoàn sinh viên Phật tử Đà Lạt, tới đưa Mẫm vào một căn phòng và khóa kín y ở trong đọ

Thấy nguy cho Mẫm, Nguyễn Thị Yến vội gọi điện thoại cầu cứu dân biểu Hồ Ngọc Nhuận và dân biểu Kiều Mộng Thụ Ông Nhuận gọi ngay cho Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ xin giúp giải vây cho Mậm Ông Kỳ liền phái 2 sĩ quan cấp tá lái 2 xe ‘jeep’ tức tốc
tới Trụ sở Tổng vụ Thanh niên Phật tự Hồ Ngọc Nhuận cũng đi xe LaDalat tợi Cảnh Sát không dám ngăn cản xe quân đội của 2 viên sĩ quan cấp tá và xe của một vị dân biểu cho nên cả 3 vào được bên trong Trụ sở Tổng vụ

Hai sĩ quan lên lầu tìm Mậm Ngô Thế Lý mở khóa phòng nơi Mẫm đang trộn Một sĩ quan khoác vội cho Mẫm một cái áo nhà binh rồi đưa y và một số sinh viên lên 2 chiếc xe ‘jẹep’ Xe của dân biểu Hồ Ngọc Nhuận che kín làm ‘kế nghi binh’ để nhử Cảnh sát
đuổi theo, kì thực trên xe không có sinh viên nạo Cả 3 chiếc xe vội vã ra đị Xe ông Nhuận ra trước, kế là chiếc ‘jeep’chở Mẫm, cuối cùng là chiếc ‘jeep’thứ hại Họ chạy về hướng phi trường Tân Sơn Nhật Xe Cảnh Sát hụ còi bám sạt Tới ngã tư Trương Tấn Bửu năy là Trần Huy Liệu, rồi Đỗ Tấn Phong), chỉ mình xe dân biểu Nhuận tiếp tục chạy về hướng Lăng Cha Cả, còn 2 xe ‘jeep’ghẹo trái về hướng Trương Minh Giảng năy là Lê Văn Sỹ), rồi chạy thẳng về trung tâm thành phộ Đoàn xe Cảnh Sát cũng chia hai đuổi thẹo

Trời sắp tối, chiếc ‘jeep’di sau cố ý lạng qua lạng lại cản không cho xe Cảnh Sát vượt lện Chiếc ‘jeep’di trước, trên có chở Mẫm, vọt lẹ bỏ xa xe Cảnh Sạt Tới khu chợ Bến Thành đông người, viên sĩ quan thả Mẫm xuộng Mẫm mau chóng len lỏi giữa chợ và tìm tới nấp vào trong quầy bán trái cây của ‘má’ Tám Ảnh ở cửa Bắc chợ Bến Thằnh7). ‘Má’ Tám liền phái người đi báo cho ‘má’ Văn Hoa là chủ tiệm may Văn Hoa số 100 đường Lê Thánh Tôn để chuẩn bị cho Mẫm được tá túc qua đêm ở đấy (8).

* Chuyện 2: ĐẠi tướng Dương Văn Minh đã cưu mang Huỳnh Tấn Mẫm 6 tháng trời

Diễn tiến

Tại tiệm may Văn Hoa, Mẫm gọi điện thoại kêu Nguyễn Thị Yến nhờ dân biểu Hồ Ngọc Nhuận tìm chỗ trú ẩn cho ỵ Dân biểu Nhuận vội gọi văn phòng Tướng Dương Văn Mịnh Đến trưa hôm sau, Tướng Minh phái Thiếu tá Trịnh Bá Lộc mặc thường phục lái xe tới đón Mẫm tại điểm hẹn ngã tư Nguyễn Trung Trực - Lê Thánh Tôn, cách nhà may Văn Hoa độ 100 mét và đưa thẳng về Dinh Hoa Lan của Tướng Minh số 3, Trần Quý Cạp Tướng Minh cho Mẫm ở trong một căn phòng tương đối đầy đủ tiện nghi, có cả điện thoại và nhà vệ sịnh. Để bảo mật, Mẫm không tiếp xúc với bất cứ ai trong dinh, ngoại trừ Thiếu tá Trịnh Bá Lộc là người ‘cung cấp thực phẩm’ cho ỵ.

Trong bài Huỳnh Tấn Mẫm và Cái Gọi Là ‘Saigon et Moi’, Thiếu tá Trịnh Bá Lộc xác nhận: ‘Về Sinh Viên Huỳnh Tấn Mẩm: Tôi được biết anh Mẫm vào thời gian ở VN đang
chuẩn bị vận động bầu cử Tổng Thống VNCH nhiệm kỳ II, năm 1971. Lúc đó anh là Chủ Tịch Tổng hội Sinh Viên Saigọn Anh hoạt dộng chống chánh quyền của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu Anh bi truy nạ Một nhân vật trong Bộ Tham mưu chánh trị của Đai Tướng
Dương Văn Minh giới thiệu anh và xin cho anh được lánh nạn trong căn nhà dùng làm văn phòng trong thời gian hoạt động tranh cử của Đại Tướng Dương Văn Mịnh Đề nghị được chấp thuận với điều kiện anh không được đi ra ngoài và không được liên lạc
với bên ngoài khu vực số 3 Trần Quý Cáp Saigọn Vì nhà tôi cũng ở trong khu vực này nên tôi được yêu cầu của cấp trên cung cấp thực phẩm cho ạnh Do đó, chúng tôi có dịp tiếp xúc hàng ngày trong các bữa cơm gia đình’ (9).

Nhờ có điện thoại riêng, Mẫm dùng ngụy danh là Hoàng để tiếp xúc với đồng bọn bên ngoại Tướng Minh chứa chấp Huỳnh Tấn Mẫm gần 6 thạng Mẫm chỉ bí mật rời Dinh Hoa Lan vào đầu tháng 01.1972 để ra ngoài chuẩn bị cho cuộc bầu cử Ban Đại diện Sinh viên Y khoa niên khóa 1971 - 1972.

Ngày 05.01.1972, sau phiên họp tại Y khoa, Nguyễn Văn Lang (Phó Chủ tịch Ban Đại diện Y khoa) chở Mẫm về Đại học xá Minh Mạng Vừa tới ngang cổng Bệnh viện Hồng Bàng năy là Bv. Phạm Ngọc Thạch) Mẫm bị nhân viên công lực chận bắt được

Thời gian tung hoành chống phá của Mẫm (1969-1972) coi như chấm dứt từ đậy

Mẫm bị giam giữ cho tới khi có Hiệp định Paris 1973 thì được đưa lên Lộc Ninh để trao trả cùng với Huỳnh văn Trọng, Nguyễn Long,Cao Thị Quế Hương, Trần Thị Lan, Trần Thị Huệ, Nguyễn Thành Cộng Nhưng do VC còn muốn lợi dụng Mẫm hoạt động với tư thế
hợp pháp công khai cho nên họ không nhận Mẫm, lấy lí do Mẫm không thuộc ‘thành phần quân sự’ nghĩa là tù binh, còn chính Mẫm phải miễn cưỡng chấp hành mệnh lệnh cho nên đã nại ra lí do chỉ là sinh viên thuần túy và kiên quyết đòi thả y về với gia định Mẫm chỉ thật sự được tự do vào sáng ngày 29.4.1975 khi chính tướng Cảnh Sát Bùi Văn Nhu đích thân lái xe đưa Mẫm tới tư dinh tướng Dương Văn Mịnh

* Động lực nào khiến ông Dương Văn Minh chứa chấp Huỳnh Tấn Mẫm

Nếu lí do tướng Kỳ cứu Huỳnh Tấn Mẫm là vì thù ghét và muốn ‘phá đám’ Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thì lí do khiến Tướng Minh cưu mang Huỳnh Tấn Mẫm chẳng những vì muốn chống TT. Nguyễn Văn Thiệu, mà còn vì ông Minh tin vào giải pháp hòa giải dân tộc, ngả sang tả và sẵn sàng bắt tay với phía CS.

01.11.1963, Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng do Trung tướng Dương Văn Minh lãnh đạo đảo chánh giết chết Tổng thống Ngô Đình Diệm

30.01.1964, khi Tướng Nguyễn Khánh từ vùng I I về làm cuộc ‘chỉnh lí’ thành công thì ‘Tam đầu chế’ xuất hiện ở cấp lãnh đạo Miền Nam, gồm có Tướng Dương Văn Minh, Tướng Trần Thiện Khiêm và Tướng Nguyễn Khạnh. Vì tham vọng nắm trọn quyền lực cho nên, ngày 01.10.1964, Tướng Khánh tìm cách ép buộc Tướng Khiêm phải đi làm đại sứ tại Hoa Kị

Ngày 12.11.1964 đến lượt Tướng Minh phải rời Saigon để ‘công cán ngoại quốc’, thực ra là đi lưu vong tại Thái Lạn

Trong cuốn Hồi Ký Không Tên, tác giả cựu dân biểu đối lập Lý Quí Chung kể lại, nhân chuyến đi Bangkok Thắi Lan) để dự Hội nghi APU (Hiệp hội Dân biểu Nghị sĩ Á châu), ông đã gapTướng Dương Văn Minh để chuyển lời của Cụ Trần Văn Hương yêu cầu Tướng Minh lên tiếng ủng hộ liên danh ứng cử tổng thống Trần Văn Hương - Mai Thọ Truyền (Lý Quí Chung là đại diện báo chí cho liên danh Trần Văn Hương trong kì bầu cử này).

Có lẽ vì ơn nghĩa đó cho nên năm 1969, Phó Tổng thống Trần Văn Hương mới can thiệp để Tướng Dương Văn Minh được hồi hượng Tướng Minh cư ngụ tại tư dinh có biệt hiệu là Dinh Hoa Lan trên đường Hồng Thập Tự (nguyễn Thị Minh Khai). Về đây, ông Minh tiếp tục mê 3 thứ: chơi hoa lan, cá kiểng và đánh quần vợt

Từ 1970, nơi đây trở thành trung tâm quy tụ những nhân vật mang lập trường phản chiến, chủ hòa không tưởng, mĩ danh là ‘hòa hợp hòa giải dân tộc’ Nhóm này đề nghị Tướng Minh ra tranh cử tổng thống vào năm 1971 và ông đã chấp nhận

Nhóm ông Minh công khai đối lập với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, chống sự can thiệp của Mĩ ở VN, chủ trương hòa hợp hòa giải dân tộc, đòi thi hành Hiệp định Parịs

Nhóm này gồm có những nhân vật chính yếu như sau: Ls. Trần Ngọc Liễng, Gs. Vũ Văn Mẫu, Tướng Mai Hữu Xuân, Gs. Lý Chánh Trung (10), Bs. Hồ Văn Minh, Lm. Nguyễn Ngọc Lan (11), Dân biểu Lý Quí Chung, Dân biểu Nguyễn Hữu Chung, Dân biểu Dương Văn Ba, cán bộ công đoàn Nguyễn Văn Cước, cựu chủ tịch Tổng hội SV Saigon 1963-64 Nguyễn Hữu Thái (12)...

Về chủ trương và gốc gác thành phần của nhóm được Lý Quí Chung thuật lại như sau: ‘ Xét về ‘gốc tích’ thành phần của nhóm ông Minh lộ ra sau 1975, chúng ta sẽ không ngạc nhiên về sự chuyển dịch lập trường của nhóm ông Minh từ ‘ở giữa’ chuyển sang tả, rồi hướng đến sự sẵn sàng thỏa hiệp, liên kết với Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTDTGPMN) và Hà Nội Gần phân nửa thành viên trong nhóm có quan hệ với MTDTGPM như ông Cước, anh Nhuận, giáo sư Trung, linh mục Lan, luật sư Liệng khi
Hiệp định Paris được ký kết, nhóm ông Minh ủng hộ triệt để sự thi hành Hiệp định Bản thân tôi cũng tham gia Lực lượng Hòa giải Dân tộc (HGDT) do luật sư Vũ Văn Mẫu đứng đầu; lực lượng này được Phật giáo Ấn Quang hậu thuẫn và có chủ trương đòi tổng thống Thiệu tôn trọng và thi hành Hiệp định. Lực lượng HGDT tổ chức nhiều cuộc hội thảo và thuyết trình về Hiệp định Paris tại chùa Ấn Quang và tại nhiều địa điểm khác tại miền Trung như Huế, Đà Nẵng, Quảng NgậiLuat sư Liễng thì thành lập Tổ chức đòi thi hành Hiệp định Paris với sự tham gia của linh mục Nguyễn Ngọc Lan, thẩm phán Triệu Quốc Mạnh, nhà văn Thế Nguyên bắo Trình Bày), nhà hoạt động công đoàn Nguyễn Văn Cước v.v...’ (13).

Với lập trường chính trị chủ hòa thiên tả, việc ông Minh cưu mang sinh viên VC Huỳnh Tấn Mẫm đương nhiên phải xẩy ra bởi vì ông đang đóng vai hợp pháp công khai để bao che, bảo vệ một ‘người anh em’, một ‘dồng chị’ Thực ra lúc đó ông Minh không
chỉ chứa chấp sinh viên VC Huỳnh Tấn Mẫm, ông còn cho 2 cựu dân biểu thân Cộng Dương Văn Ba và Phan Xuân Huy, kí giả Kỳ Sơn (Nguyễn Đình Nam) đang bị truy nã và cán bộ CS hoạt động công đoàn Nguyễn Văn Cước ẩn náu tại tư dinh của ộng

* Nhận xét

Cả hai ông Kỳ và Minh đều là những nhân vật chức cao quyền trọng một thời, thuộc hàng lãnh đạo quốc giạ Việc làm và tư tưởng của họ có ảnh hưởng tới nhiều người, có thể là nhiều thế hệ Vấn đề là cả hai ông này dường như không có lập trường (?). Bởi vì lập trường thì khó thay đội Xem ra hai ông chỉ có những quan niệm và thái độ chính trị Quan niệm và thái độ có tính cách giai đoạn, giai đoạn sau trái ngược
hẳn giai đoạn trước, nói cách khác là tiền hậu bất nhất, gió chiều nào che chiều ấy cho nên nhận xét về họ không đơn giạn Chúng ta đã được đọc nhiều tác giả viết về hai nhân vật nạy

Hai câu chuyện vừa kể trên tuy là chuyện nhỏ nhưng phần nào phản ánh tính khí, bản chất và tinh thần trách nhiệm ra sao của hai ông đối với quân dân miền Nam tự dọ

Ks. Võ Long Triều từng sát cánh với ông Kỳ nhận xét: ‘Những gì tôi biết, hình như có hai Nguyễn Cao Kỳ, một Nguyễn Cao Kỳ phản bội đồng đội, phản bội chính mịnh Và một Nguyễn Cao Kỳ Từ 1966 đến 1975, có lòng với đất nước, muốn đội đá vá trời nhưng không thành, vì thiếu hiểu biết việc quốc gia đại sự, biến chuyển quốc tế, thế chiến lược toàn cầu, vai trò của VN trong hoàn cảnh đó và nhứt là vì những đàn em dựa hơi
phá bĩnh hay nhóm “Lương Sơn Bạc” cùng ăn thề uống máu với ông ỷ thế làm hư việc’ (14).

Về ông Minh, Kissinger đã từng phê ông ‘là con người yếu mềm nhất trong các bộ mặt chính trị’; còn TT. Thích Trí Quang lại bảo ‘Ông Minh không phải là một người làm chính trị sắc bẹn’ Vậy mà hoàn cảnh nghiệt ngã của đất nước đã mấy phen đưa ông trở thành kẻ phất cờ, kẻ cầm lái mặc dù ông không biết phất cờ, cũng không biết bến bờ con thuyền quốc gia phải tới! Thậm chí ngay cả khi ông không còn quyền lực, ông vẫn hưởng ‘dặc miễn’ là kẻ bất khả xâm phạm, bất chấp luật pháp quốc giạ Đúng như Lý Quí Chung, kẻ thân tín của ông, đã viết: ‘Dù biết rất rõ Dinh Hoa Lan đã trở thành trung tâm hoạt động nhằm lật đổ mình, nhưng ông Thiệu và tay chân vẫn không làm gì để vô
hiệu hóa trung tâm nạy Ông Thiệu có thể tố cáo Dinh Hoa Lan chứa chấp nhiều phần tử đang bị chính quyền truy nã và có thể xin lệnh tòa án lục soát Dinh Hoa Lan để làm ‘bể mặt’ ông Mịnh Nhưng ông chẳng làm gì hệt Tại sảo sự im lặng của ông Thiệu có thể được giải thích: Ông Minh là tướng lãnh đàn anh của ông Thiệu dù gì ông vẫn phải nhân nhượng; mặt khác ‘tấn công’ vào Dinh Hoa Lan là một xì căng đan chính trị hoàn toàn bất lợi cho ộng Ông Thiệu biết rằng ‘dụng" vào Dinh Hoa Lan sẽ không
được tòa đại sứ Mỹ tán đồng và làm bùng nổ sự chống đối ông mạnh mẽ hơn’ (15).

Miền Nam tự do mất đã hơn 30 năm, mỗi khi có dịp nhắc lại những chuyện như thế này, bản thân ‘thất phu’ chỉ còn biết thốt lên lời tuyệt vọng bi phẫn:

Hãy khóc lên hỡi quê hương yêu dấu!

Ôi! Phận nước sao điêu linh, khốn khổ đến nỗi vận mạng toàn dân, toàn quân miền Nam lại bị rơi vào tay những cấp lãnh đạo như thế đấy!

Chú thích:

1. Về cá tính mỗi nhân vật đã được chính khách nổi bật thời đó là cựu Đại sứ Bùi Diễm nhận xét như sau: ‘Ông Kỳ còn trẻ, hăng say, do đó mà nhiều khi thiếu thận trọng Nhưng ông là người bộc trực, ngay thẳng, hiểu việc nhanh và sẵn lòng chấp nhận những ý kiến mợi Những người chỉ trích ông thì cho rằng ông thích đóng vai ‘người hùng’ và ‘diếc không sợ súng’, song vì đã có dịp làm việc bên cạnh ông, tôi nghĩ rằng mặc dầu có vài khuyết điểm, ông không thiếu thiện chí và cũng không có ác ý với ại Ông có thể chấp nhận thử thách mà không suy nghĩ nhiều đến hậu quả sau này đối với bản thận Và ông cũng tin rằng phải xây dựng một chính phủ hợp hiến và cải cách xã hội, những điều mà ông đã mạnh dạn trình bầy ở hội nghị Honolụlu.

Trái lại, ông Thiệu đa nghi tính toán hợn Nhẫn nại, biết nhường nhịn nếu cần và chịu đựng nhất thời, ông được thiên hạ gán cho một đặc tính gọi mỉa mai là đặc tính ‘lị’
Ông chịu khó nghiên cứu tỉ mỉ mọi vấn đề lớn nhỏ và thói ‘lì’ của ông có thể là một lợi khí chính trị, nhưng về khả năng lãnh đạo thì dường như ông không muốn nhìn xa trông rộng để vượt lên trên những mưu tính nhỏ nhặt và thủ đoạn tầm thượng Tóm lại, ông không phải là nhân vật mà đất nước đang cận’ (Bùi Diệm Hồi ký chính trị Gọng Kìm Lịch Sự Cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, 2000. Trang 325).
2. Võ Long Triệu Hồi kí Cái Mốc Lịch Sự Tập I I, kì 3.
3. Võ Long Triệu Hồi kí Cái Mốc Lịch Sự Tập I, kì 5 và 6.
Thực ra đến ‘giờ thứ 25’ của Miền Nam, ông Kỳ còn tính đảo chánh ông Thiệu một lần nữa (Lý Quí Chụng Hồi Ký Không Tện Nhà xuất bản Trẹ Trang 341).
4. Tiền thân bí mật của Thành Đoàn vào khoảng 1960-1964 là các Ban Cán sự Sinh viên, Ban Cán sự Học sinh Khu Saigon - Gia Định; mặt nổi là Hội Liên Hiệp Thanh niên Sinh viên Học sinh Giải phọng
Thời gian 1965 - 1967: công tác SVHS do Khu Đoàn Thanh Niên Nhân Dân Cách Mạng Khu Saigon - Gia Định lãnh đạo, gồm có các Đoàn ủy sinh viên, Đoàn Ủy học sinhThẹo Trần Bạch Đằng thì năm 1966,chính Nguyễn Văn Linh (Phó Bí thư Trung Ương Cục kiêm Bí thư Khu Saigon - Gia Định) đã khai sinh ra Thành Đoàn với nhiệm vụ đặc trách công tác vận động thanh niên, sinh viên, học sinh nội thành Săigon - Gia Định). Tên gọi chính thức là Thành Đoàn Thanh Niên Lao Động HCM năy là Thành Đoàn Thanh Niên CS HCM).
5. Năm 1970 tròn 18 tuổi, Nuôi được Thành Đoàn đưa ra chiến khu ở Mĩ Tho để kết nạp vào đảng CS. Sau 30.4.1975, Nuôi được bầu làm đại biểu Quốc hội CSVN khóa VI, đồng khóa với Huỳnh Tấn Mẫm, rồi Bí thư Thành Đoạn
6. Lê Văn Nuội Dùng Vũ Khí Nguyễn Cao Kỳ phá bầu cử tổng thống (Theo Nhịp Khúc Lên Đạng Nhà xuất bản Trẹ Trang 433).
7. ‘Má’, ‘các má’ là danh xưng sinh viên học sinh tranh đấu dùng để gọi các phụ nữ cũng ở trong tổ chức của VC hoặc là cảm tình viên đã cung cấp thực phẩm cho họ trong các cuộc tranh đấu kéo dài, hoặc là đang bị giam giữ; có khi những phụ nữ này làm
công tác giao liên, tàng trữ vũ khí, tài liệu, truyền tin hoặc cùng tham gia biểu tình, tuyệt thực, v.v...(‘các má’ tiêu biểu như: ‘Má ni sư’ Huỳnh Liên, ‘má’ Tư Điền (mẹ của 2 sinh viên VC Trần Thị Lan và Trần Thị Huệ), ‘má’ Ngọc Điền, ‘má’ Tám Anh,
‘má’ Mười (tức ‘má Mười 36 chợ’), ‘má’ Năm Đình, ‘má’ Thái Hòa, ‘má’ Phùng Đinh, ‘má’ Văn Hoa, ‘má’ Ngọc Hoa, ‘má’ Tư Nguyễn Trãi, ‘má’ Văn Vân (chủ tiệm ảnh Văn Vân đường Bùi Thị Xuân), ‘má’ Nguyễn Thị Chúc, ‘má’ Chín Bình, ‘má’ Nguyễn Long (vợ Ls. Nguyễn Long), ‘má’ Liên (vợ nhà văn VC Vũ Hạnh), ‘má’ Hai Bàn Cợ Ngoài ra còn có ‘các ba’, ‘các ngoại’ nựa
8. * Xin xem Diệu Ận Huỳnh Tấn Mẫm Một Đời Sôi Nội Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội, 2008. Trang 116.
* Đọc thêm Lê Văn Nuội Bài đ
* Tác giả Nguyễn Văn Lục trong bài Mặt Trận Văn Hóa Và Những Thủ Tiêu Ám Sát Trí Thức Miền Nam (motgoctroicọm) đã trích bản thảo hồi kí Đời của cựu dân biểu thân Cộng Hồ Ngọc Nhuận, trang 142, cũng kể vắn tắt về câu chuyện ‘Nguyễn Cao Kỳ ‘xớt’
Huỳnh Tấn Mẫm’ này, chỉ khác vài chi tiết nhỏ: ‘Huỳnh Tấn Mẫm một lần nữa bị bao vây, truy bặt Trung tâm sinh viên Phật tử một lần nữa dậy sọng Một chiếc jeep nhà binh, ngay sau khi tôi “diệu” hết cảnh sát về Tân Sơn Nhứt, chúng tôi đã ập vào trung tâm Quảng Đức, bốc Huỳnh Tấn Mẫm chạy thẳng về dinh Quốc khách ở góc đường Công Lý và Hiền Vương, nay là Trung tâm văn hóa thiếu nhi, góc đường Nam Kỳ khởi nghĩa-Võ Thị Sạu Chiếc jeep ập vào bốc Mẫm là của Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ và dinh quốc khách lúc bấy giờ cũng thuộc quyền Phó tổng thong.Tiếp tay cho CS, như vậy, không chỉ có mình tội Và lần này vai chánh không là tôi, mà là tướng Nguyễn Cao Kỵ’
9. * Thiếu ta Trịnh Bá Lộc là tùy viên của ông Minh từ 58 - 64 và từ 68 tới chiều 29 tháng 4 năm 1975. Chiều 29.4.1975, ông Lộc di tản sang Mĩ; nay đã liên lạc lại với Huỳnh Tấn Mẫm (từ 2005). Trong bài viết, ông Lộc làm như không biết Mẫm là một VC thuộc Thành Đoàn, có nhiệm vụ hoạt động nội thành trong môi trường đại học (Xin đọc Trịnh Bá Lộc SV Huỳnh Tấn Mẫm và Cái Gọi Là ‘Saigon et Moi’ trên Calitodaycọm) .
* Xin đọc Diệu Ận Sd Trang 128.
10. Trong loạt bài 20 Năm Giới Trẻ MNVN, tác giả Nguyễn Văn Lục cho biết năm 2005, chính Lý Chánh Trung tiết lộ hồi 1968 ông Trung đã được bí mật đưa vào Khu gặp Huỳnh Tấn Phát và từ đó hoạt dộng mặt nổi cho MTGPMNV N.
11. Nguyễn Ngọc Lan (cựu linh mục) vào khu năm 1968 gặp Trần Bạch Đằng cùng đợt với gs. Châu Tâm Luân, Cao Hoài Hà, nhà văn Thiếu Sơn, gs. Nguyễn Văn Chì, Lê văn Chi,Trần Bạch Đặng Cuộc Đời Và Ký Ực Nhà xuất bản Trẹ Trang 186). Khi ông Lan
chết, Trần Bạch Đằng viết điếu văn tuyên dương công trạng như sau: ‘Từ năm 1968 cho đến 30 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Ngọc Lan trước sau vẫn có mặt trong đội ngũ xung kích của những người yêu nước tại thành phố ’.
12. Trong bài ‘30.4.1975, Ông Dương Văn Minh Và Tôi’, tác giả Nguyễn Hữu Thái xác nhận mình là người Mặt Tận Giải Phóng đưa ra tranh cử dân biểu Quảng Nam, nhưng thất cự
13. Lý Quí Chụng Hồi Kí Không Tện Trang 270.
14. Võ Long Triệu Hồi Kí Cái Mốc Lịch Sự Tập I, Kì 16.
15. Lý Quí Chụng Hồi Kí Không Tện Trang 306.
Bún Bò Huế

Bún không phải chỉ đơn thuần là một món ăn truyền thống của Huế, nhưng đối với người Huế, bún còn là một phần lối sống “Kiểu Huế”. Kiểu Huế là nghèo mà vẫn sang, vui rộn rã mà vẫn man mác buồn, ngoài mặt phẳng lặng mà trong lòng dậy sóng, không soi bóng mình trong gương mà soi bóng mình trong đôi mắt của người thương, bè bạn, xóm giềng.. Người ngọai quốc như ông Foulon cũng nhận xét về sự mâu thuẫn của Huế: “Tóc tang cười nụ, vui mừng thở than!”(Lê Văn Lân dịch).

Huế mâu thuẫn từ buổi mới vào đời, đài các từ ngày mới có tên. Tên đất thì nhỏ như nốt ruồi son: Ô, Rí, Huế... mà tên người lại dài lướt thướt như mái tóc mây dài chấm gót: Công Tằng Tôn Nữ Thị Sông Hương, Nguyễn Khoa Hoàng Thành, Tôn Thất Quỳnh Phương... Huế quá trầm lặng và chật như cái bể cạn mà phải chứa những tâm hồn bão nổi sông hồ, nên dân Huế ngoài mặt hiền khô mà trong lòng cưu mang những bến bờ viễn xứ, sẵn sàng phản kháng và rực lửa đấu tranh “dấy loạn” như Lục Vân Tiên ra đường thấy việc bất bằng chẳng tha. Cái dấy loạn bão liệt nhưng nên thơ và lý tưởng quá đà của những tâm hồn lãng mạn kiểu Huế chỉ làm cho Huế thành đất dấy nghĩa nhưng không thể nuôi lớn Huế thành căn cứ địa, chiến khu như Tân Sở, Ba Lòng. Xưa vua Hàm Nghi và vua Duy Tân chỉ có những phút huy hoàng và chợt tắt ở Huế, để rồi suốt canh thâu le lói ở phương nào.

Tô bún bò Huế cũng là một biểu hiện của văn hóa Huế vì đây cũng là một sự “dấy nghĩa” trong truyền thống nấu ăn khi cho bò nổi heo chìm trong cùng một nồi, trộn lẫn hai tính chất mâu thuẩn “bò nấu thì teo, heo nấu thì nở” thành một thể hài hòa. Huế đã dùng sả để “chuyên trị” thịt bò chứ không dùng ngủ vị hương để chuyên trị như truyền thống lâu đời ở Trung Hoa và miền Bắc. Tô bún Huế mang hưong vị “rất Huế” để mà cảm nhận và thưởng thức như cảm nhận và thưởng thức mùi khói sóng buổi chiều trên sông Hương. Tự nhiên như: “Nó ngon thì tại nó ngon. Có chồng thì phải nuôi con, thờ chồng”. Cái dễ giận nhất của người Huế là "mình cảm thấy..." mà không cần lý luận. Bởi vậy, hình như càng đem lý tính để phân tích các món ăn Huế, cái hiểu về hương vị thực tế càng xoải cánh bay xa...

Bún Bò Huế. Ai ở xa nghe như thể Huế là vùng đất thổ sản của bò, giống miền Nam Mỹ Texas . Thật ra, tìm một trại bò trên đất Huế cũng khó như tìm lá Diêu Bông của Hoàng Cầm. Tô bún bò Huế cũng là phản ánh cái tham vọng thu nhỏ của người Huế vì muốn dùng cái “lượng” giới hạn để đạt tới cái “phẩm” vô cùng. Bởi vậy, ngoài những chất liệu cay chua ngọt bùi của trần gian, tô bún Huế còn được “nêm” thêm ít nhiều gia vị vô hình của cái tâm chủ quan và cái linh của hoàn cảnh Bà Bún.

Suốt cả thời thơ ấu, tôi sống ở làng, quanh năm chỉ có “Đây xóm nghèo quê tôi khi nắng lên...” là đẹp nhất.
Hàng năm, sau dịp Tết, người trong làng lại bắt đầu chuẩn bị lễ đầu năm. Mẹ tôi lễ vào ngày 19 tháng giêng để kịp ngày 20 đi coi giò gà và dự lễ tế Bà Bún tại làng Vân Cù.

Mỗi năm, tôi được ăn bún khá nhiều lần nhưng hai lần trọng đại nhất và ngon nhất là trong dịp lễ đầu năm của mẹ tôi và trong ngày lễ tế Bà Bún tại Vân Cù.

Làm sao tôi quên được những buổi sáng hai mươi tháng giêng. Từ sáng tinh mơ còn lạnh cóng, mẹ tôi đã cẩn trọng nhúng bộ giò gà khô queo trong tô rượu trắng, gói trong giấy bổi, lâm râm cầu nguyện rồi chuẩn bị lên đường bói quẻ đầu năm.. Tôi là con trai út, nên được thương nhất nhà và thường bị gọi là “cái đuôi của mạ” vì mẹ tôi đi đâu tôi cũng lon ton dòi chạy theo.

Sau vụ coi giò gà tại nhà thầy Kiên ở Hương Cần thì mặt trời đã lên quá đọt tre. Mẹ tôi tiếp tục cuộc hành hương cuốc bộ đầu năm về làng Vân Cù. Từ Hương Cần về Vân Cù phải qua một cánh đồng lúa rộng, tôi phải chạy lúp xúp theo mẹ mướt mồ hôi, mặc dầu trời tháng giêng trên quê tôi lạnh đến nỗi “giêng hai cắn tay không ra máu!”. Sau nầy tôi bỗng khám phá ra thêm một bí mật về cái ngọn tuyệt vời của bún xáo Vân Cù trong ngày lễ Bà Bún một phần cũng là do cánh đồng trống nầy vì vượt qua cho được dặm trường thiên lý nầy thì cái bụng đã trống trơn.

Muốn nói đến Bún Bò Huế thì đừng quên trước hết phải nói đến con bún, vì tô bún là một tổng hợp hài hòa giữa con bún và nước bún. Thiếu một trong hai là kể như có Adam mà không có Eva, có Phạm Lãi mà thiếu Tây Thi! Và, nói đến con bún Huế thì không thể không nhắc đến chiếc nôi của bún là làng Vân Cù.. Làng Vân Cù nằm cạnh sông Bồ, là con sông ăn thông với sông Hương qua nhánh sông Đào. Vân Cù cách Huế chừng 10 cây số về phía Tây Bắc. Từ xưa, Vân Cù là lò bún tập thể cung cấp bún cho cả Huế, Thừa Thiên, ra tới Quảng Trị và có khi vào đến Quảng Nam, Đà Nẵng. Hầu hết người làng Vân Cù tuy sống về nghề nông nhưng ai cũng có lò bún trong nhà.

Cũng như rất nhiều nghề thủ công khác ở Huế như nghề Thợ Rèn ở Làng Hiền Lương, nghề Đan Thúng Mủng ở làng Bồ La, nghề Thợ Vàng ở làng Kế Môn, nghề Nuôi Tằm ở làng Dương Sơn, nghề Chằm Nón ở làng Hương Cần, nghề Đan Nôi Bội ở làng Liễu Hạ, nghề Gạch Ngói ở làng Nam Thanh... nghề Làm Bún ở làng Vân Cù là một công việc làm ăn truyền thống và độc đáo riêng của từng đơn vị sản xuất gia đình trong làng, có tính cách cha truyền con nối từ đời nầy qua đời khác. Tất cả dây chuyền sản xuất đều làm bằng tay với những dụng cụ thô sơ, nhưng thành phẩm thường đạt đến mức tinh luyện mà người khác làng khó lòng bắt chước nổi.

Thủy tổ của nghề làm bún tại Vân Cù là một bà, tục gọi là Bà Bún. Thời gian đã xoá nhòa danh sách của những người muôn năm cũ nên chẳng còn ai nhớ tên thật của Bà Bún. Trong những câu chuyện dân gian truyền miệng về cuộc đời của Bà Bún, tôi còn nhớ mãi chuyện kể của bác Cửu Am với mẹ tôi rằng:

Vào một thời xa lắc xa lơ, khi có những người Đàng Ngoài theo chân chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào Nam lập nghiệp, có một nhóm người đến định cư trong vùng những Tháp Chàm cổ xưa đã đổ nát nên sau nầy có tên là làng Cổ Tháp, thuộc huyên Hương Điền. Trong số đó có một người thiếu nữ đẹp, có lẽ cũng mắt lá răm, môi cắn chỉ, má lúm đồng tiền... nên rất được nhiều người mến chuộng. Trong lúc mọi người chuyên sống bằng nghề canh tác làm ruộng thì người thiếu nữ nầy miệt mài chuyên nghề làm bún. Bún nàng ngon quá hay vì nàng xinh quá mà làm cho bao người ăn quên cả đường về. Rượu không say bún say mới ngại... Vì vậy nên nhiều người ganh tỵ. Rồi một dạo dân trong vùng bị mất mùa liên tiếp 3 năm. Người ta cúng, tế cầu thần linh cứu giúp. Gặp cơ hội nầy, kẻ xấu bụng tung tin rằng, mất mùa là do thần linh quở phạt vì Cô Bún đã đem gạo là “hạt ngọc của Trời, phơi mao ngậm sữa” ra mà ngâm, mà chà, mà xát, mà nghiến nát ra để làm bún. Thế là nhà nông bắt đầu nổi giận. Hội Đồng Thị Tộc của làng họp bàn và ra lệnh cho Cô Bún phải bỏ nghề làm bún hay sẽ bị trục xuất ra khỏi làng, nhưng Cô Bún quyết sống chết với nghề nên chấp nhận ra đi.

Vì bản chất hiền lương và thuần hậu nên Cô Bún được làng ban ân cho phép chọn lựa hướng đi và cử năm người thanh niên mạnh nhất trong làng theo áp tải. Mỗi thanh niên sẽ cõng cái cối đá làm bún của Cô đi một chặng đuờng cho đến khi mệt đuối sức thì người khác tới thay cho đến hết người thứ năm là vùng đất mới của Cô Bún. Cứ thế, đoàn người đi về hướng Đông cặp theo sông Bồ không nghỉ. Nơi người trai làng thứ năm khuỵu xuống với cái cối đá trên vai là làng Vân Cù sau nầy. Nơi đây đã trở thành “đất lành chim đậu” cho Bà Bún lập nghiệp và truyền nghề làm bún đời đời qua bao nhiêu biến cố thăng trầm của đất nước và dân tộc..

Người ta thường ví von “mềm như bún” nhưng cái mềm Đông Phương lại là cái dẻo dai bền bỉ để sống còn trên bước đường vạn dặm. Thân gái dặm trường, Bà Bún đã vượt Hoành Sơn vào Huế. Chim đã về núi, Bà đã về dất nhưng Bún Huế vẫn còn tươi rói với nhân gian như có người đã hát nửa chơi, nửa thiệt: “Hoành sơn nhất đái chim về cội. Vạn đại dung thân đọi bún bò”.

Một “xưởng bún” điển hình ở làng Vân Cù thường bao gồm một cái xay để xay bột, một cái cối có chày đạp, lò nấu , chảo lớn, rây bột, khuôn bún và một số dụng cụ để khuấy, vớt, đong, đựng bột và bún trong từng chặng đường sản xuất.

Từ hột gạo măng tơ biến ra con bún nõn nà cũng phải cần đến bàn tay, không phép mầu nhưng cũng phải khéo léo và cần cù, của bà tiên lao động. Sợi bún bắt đầu từ hột gạo. Gạo trắng ngâm nước lạnh qua đêm sẽ “mục” ra và được đem xay hay giã nhuyễn thành bột. Tiếp theo, bột gạo được “rây” để lọc ra phần mịn nhất tinh bột của gạo. Bột gạo nguyên chất được rưới nước sôi để nhồi thành một khối bột gọi là “trái bột”. Trái bột gạo được luộc chín sơ, rồi vớt ra và đem trộn với bột lọc theo tỷ lệ cứ 30 lon gạo (khoảng 10 ki-lô), trộn với 2 ki-lô bột lọc. Tổng hợp bột gạo và bột lọc nầy lại được giã, trộn rất nhuyễn cho tới khi trái bột đạt tới mức “vừa đai, vừa đẻo” là đuợc. Giai đoạn cuối cùng là khối bột mượt mà và dẻo quẹo được đưa vào khuôn bún. Dưới sức ép, những đường bột tuôn ra theo lỗ đục sẵn dưới đáy khuôn bún, rơi vào nồi nước sôi và chín thành bún. Bún được vớt ra, xả sạch với nước lạnh và sẵn sàng để ăn.

Bún tự nó đã là một món ăn thanh đạm của người Huế, nhất là vùng quê. Bún Vân Cù được làm ra dưới ba hình thức: Bún con, bún lá và bún mớ.

Bún con hay bún vắt là một lọn bún quấn lại với nhau, dài vừa nắm tay như cuộn chỉ thêu, rất tiện lợi cho việc ăn uống đơn giản và đạm bạc trên nương, ngoài đồng, giữa đường. Chỉ cần một chút nước mắm ớt và năm, bảy con bún vắt thì bác nông phu trên đường về, chị chủ quán rộn ràng giữa chợ, em bán hàng rong lang thang... có thể tay cầm con bún chấm vào nước mắm ăn ngon lành ngay trên “hiện trường” vừa ngon miệng, vừa ấm lòng, vừa khỏi lơ là công việc..

Bún lá là một lớp bún trải trên lá chuối tươi, cuộn tròn cỡ bằng cái bánh tráng trung bình. Bún trắng nổi trên lá xanh mang vẻ đẹp trinh nguyên nên vừa bắt mắt, vừa bắt miệng. Bún lá thường là đơn vị bún cho cá nhân và gia đình: Mỗi người một rá, mỗi lá một tô.

Bún mớ, còn gọi là bún “ngảo” hay bún kí-lô. “Ngảo” là cái rổ nhỏ thường dùng như một đơn vị đo lường ở các vùng quê của Huế trong khi “kí lô” là đơn vị đo lường mới xuất hiện sau này. Bún mớ là bún sản xuất đại trà với số lượng lớn để buôn bán, đổi chác trên thị trường.

Thật ra cả ba loại bún cơ bản là giống nhau, đều có màu ngà đục khi sống và màu trắng trong khi đã luộc chín. Người ta thường dùng danh từ “bún tươi” để chỉ bún mang trực tiếp ra từ lò và “bún luộc” để chỉ con bún được luộc chín từ bún khô. Con bún Huế điển hình có độ dai vừa phải, không “đai hoai” như bột lọc nhưng cũng không bở rệt như bột gạo. Thường người ta dùng đinh 3 phân ( khoảng 1/8 inch) để đục lỗ thoát trong khuôn bún hay để ước lượng độ lớn của con bún. Trong thực tế, bún lớn hay nhỏ là do bàn tay khéo léo của người cầm “rây”. Muốn sợi bún nhỏ, ngay khi những con bún sống đang chảy xuống nồi nước sôi để thành bún chín, chỉ cần đưa cái khuôn đầy bột lên cao; muốn có con bún to thì hạ khuôn xuống thấp. Bún nhỏ là bún kim để làm bún khô hay bún Tàu dùng nấu canh và bún to hơn là bún thô dùng để xào trộn thức ăn trong những dịp giỗ, Tết. Bún con và bún lá thường được cho là ngon hơn có lẽ vì được sản xuất đầu nước nên láng lẩy và tươi tắn hơn: “Bún đầu nước thì ngon, con đầu nước thì dại (?)”.

Ngoài cơm và khoai sắn, có thể nói rằng, bún nói chung là món ăn truyền thống được phổ biến rộng rãi nhất đối với người Việt Nam ở trong nước cũng như khắp năm châu. Các loại bún truyền thống miền Bắc thì có bún riêu, bún thang, bún mộc, bún ốc.... Bún từ Đàng Ngoài đã theo bước chân Nam tiến đi vào Đàng Trong, rồi chọn đất Thuận Hóa làm nơi nghỉ bước và đâm chồi nẩy lộc thành bún Huế. Bún Huế gồm nhiều loại, mỗi loại có một lịch sử và tính chất độc đáo khác nhau: Bún nước mắm, bún mắm nêm, bún giấm nuốc, bún riêu, bún xáo, bún măng, bún thịt nướng, bún chả tôm, bún bò, bún giò... và bún bò giò heo. Bún bò Huế, tức là bún bò giò heo được ưa chuộng và phổ biến nhất.

Theo thời gian và không gian, bún bò Huế có lúc và có nơi chỉ còn là một cái tên nhưng phẩm chất, đặc tính, mùi vị... đã hoàn toàn biến đổi. Nhiều người vẫn tẩn mẩn tự hỏi, không biết tô bún bò Huế thời vua Gia Long lên ngôi năm 1802 và tô bún thời vua Bảo Đại thoái trào năm 1954 có gì khác nhau trong cung đình và ngoài phố chợ. Có điều rõ ràng là khách ăn bún Huế sẽ cảm thấy tô bún An Hoà khác hẳn tô bún An Cựu, nơi nầy có thêm lát chả, nơi kia có thêm miếng huyết, nơi nọ có chút rau thơm và chuối cây xắt mỏng lơ thơ. Càng đi xa, tô bún ở Đà Nẵng không giống tô bún Sài Gòn; tô bún Huế Ca-li khác xa tô bún Huế Texas .

Trước 1975, tôi có một người ông bà con, quê ở làng Lương Quán, Nguyệt Biều. Mọi người kêu ông là “Ôn Tứ”, có lẽ vì ông làm quan tứ phẩm của triều đình. Cứ một năm vài ba lần, ông sai tôi chở qua cung An Định để vấn an “Đức Từ”, đó là bà Từ Cung, thân mẫu của cựu hoàng Bảo Đại. “Ôn Tứ” tuổi trên 70 mà vẫn còn đẹp lão như một tiên ông với da dẻ hồng hào và tóc trắng như mây, nhưng hễ cứ mỗi lần tôi khen ông là ông lại nói với giọng nửa như tự hào, nửa như ăn năn:

- Ôn sống thọ đây là tại trời đày vì tội phạm thượng, dám ăn đồ ăn của vua!

Ai cũng biết thuở trước, ông là người hầu cận thân tín của vua Bảo Đại từ Việt Nam qua đến Pháp.. Tôi nghe lạ, hỏi ông, ông giải thích:

- Ngài Ngự làm vua, nhưng là người Tây học. Ngài xử sự công bằng và lịch sự với tất cả mọi người. Hồi còn ở trong Đại Nội, thường có các cận thần hay hoàng thân quốc thích nấu đủ món sơn hào hải vị dâng lên Ngài ăn khuya. Ngài nhận, nhưng sau đó sợ bị mập nên Ngài cứ đưa hết cho ôn ăn. Con coi, ôn ăn hoài cao lương mỹ vị của hoàng đế, “tội to” như rứa mà Trời không phạt răng được!

Trong những lần ngồi đợi ông vấn an đức Từ Cung, trong cái mát lạnh thâm u của cung An Định, tôi có dịp nghe các cuộc mạn đàm của giới thân cận cung đình về các món ăn Huế mà giới quý tộc quan tâm. Bún bò Huế vẫn thường được nhắc đến nhiều nhất. Đặc biệt là cuộc thi nấu các thức ăn đem ra đấu xảo tại chợ Tết Gia Lạc có từ thời Minh Mạng, do Định Viễn Công Nguyễn Phước Bình, con thứ tư của vua Gia Long lập ra. Chợ Gia Lạc nằm giữa chợ Mai và chợ Nam Phổ ngày nay và cũng là vùng đất có Tùng Thiện Vương và Tuy LýVương, hai vị hoàng thân nghệ sĩ đã vang bóng một thời. Lúc đầu chợ chỉ mở ra cho các người trong thân nhân phủ đệ, sau thấy đông vui hấp dẫn, dân thường trong vùng lân cận như Dương Nổ, Nam Phổ, Thế Lại, Ngọc Anh... tìm đến và cũng được các ông hoàng bà chúa cho vào tham gia buôn bán và tổ chức các trò chơi. Hàng năm đến ngày 23 tháng Chạp, chợ Mai đông buổi sáng và chợ Nam Phổ đông buổi chiều để nhường chỗ cho chợ Gia Lạc tưng bừng vui hội Tết. Đông vui và nhộn nhịp nhất là trong ba ngày mồng một, mồng hai và mồng ba Tết Nguyên Đán. Đây là phiên chợ của hàng con vua cháu chúa, nhưng đồng thời cũng mở rộng ra cho bàng dân thiên hạ đến vui Xuân. Theo tương truyền, trong một năm, món bún bò giò heo của Mệ Lựu đã chiếm giải nhất và được phê là “Thập toàn. Ngũ đắc”. Thập toàn là mười diều hoàn thiện của một món ăn ngon, đại khái như: ngọt ngào, thơm tho, đậm đà, bổ dưỡng, tinh khiết, bắt mắt, khéo chọn, khéo tay, khéo nấu, khéo bày, bún bò Huế còn được đánh giá cao là vì tính chất bình dân và phổ thông trong bá tính: Mọi người ai cũng biết được, ai cũng ăn được, ai cũng nấu được, ai cũng tìm được vật liệu ngay tại địa phương, ai cũng có thể có dịp mua được (ngũ đắc). Phải chăng vì bún bò giò heo cũng mang tính truyền thống dân gian như bánh chưng, bánh dày thuở trước.

Nếu gặp một người Huế nào đó ở vào lứa tuổi trung niên hoặc già hơn mà hỏi thăm thế nào mới thật là bún bò Huế và bún bò nơi mô ở Huế là ngon nhất, chắc chắn sẽ có hơn chín mươi phần trăm trả lời là, "bún bò Mụ Rớt".
“Bún bò Mụ Rớt có nêm sâm nhung quế phụ vô hay răng mà ngon dữ rứa?”. Một lần nào đó đã có người tò mò lên tiếng. Rồi cũng có người đáp lại, “Có chi mô, mụ Rớt cũng ra chợ Đông Ba mua rau, mua thịt như mình nhưng mụ nấu ngon vì có hoa tay”. Hoa tay? Hoa tay của ông đồ Vũ Đình Liên là để thảo những nét chữ như rồng bay, phượng múa, nhưng hoa tay của mụ Rớt là để nấu những tô bún bò thanh nhã, ngọt ngào “ăn ngậm mà nghe”.

Chừ ri hỉ....!
Cứ tưởng tượng mình đang ở Huế.
Vừa thức dậy sau giấc ngủ trưa, một buổi trưa không biết ở thời nào, một buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao, có cu gáy và bướm vàng nữa chứ... Và, có tiếng ve đất cuối mùa kêu sau vườn nhưng nghe như xa lắc. Nắng xế cuối mùa của Huế thường phai như màu tóc muối tiêu. Rồi có tiếng xe đạp của ai đó phanh lại trước sân, ba bốn đứa bạn thân rủ nhau đi ăn bún. Con đường Chi Lăng dẫn về Gia Hội chen giữa hai hàng phố cũ với những căn nhà xưa kiểu Tàu pha một căn hai chái, cột mệ cột con đề huề trông thâm nghiêm nhưng thấp bé một cách tội tình. Trước khi rẽ qua đuờng Ngự Viên đi ngang "mả ông trạng" sau lưng chùa Diệu Đế, hãy ghé lại một căn nhà dãy phố bên phải: Đó là tiệm bún bò Mụ Rớt. Huế làm ăn theo lối "hữu xạ tự nhiên hương", không bảng hiệu, không quảng cáo mà chỉ cần nghe tiếng tìm vào.

Khách vô tiệm tự nhiên và lặng lẽ như ghé lại bến đò. Cứ tìm bàn nào trống, ngồi xuống trên chiếc ghế đẩu không có chỗ dựa lưng, ngó một loáng bâng quơ người quen và người lạ, sẽ có người hỏi:
- Mấy o, mấy cậu thời bún chi?

Khách chỉ có lựa chọn giữa bún khô và bún nước:
- Dạ, cho mấy tô bún nước

Lát sau, mấy tô bún bò giò heo bốc khói, mùi thơm tỏa ra dìu dịu, được bưng ra đặt trên bàn. Bún được nấu nướng từ sau bức tường của dãy nhà ngang trông vào có vẻ phòng the hơn là bếp núc.

Tô bún bò Huế mới thoạt nhìn, có vẻ đạm bạc và thanh lịch như chiếc áo dài phin trắng nõn nà. Tô bún chỉ lớn hơn bàn tay búp măng xoè ra một tí. Nước bún trong để lộ những tép bún trắng nằm sóng soãi vươn lên miệng tô. Nước bún không mỡ màng, không bị vẩn đục vì gia vị. Vài loáng ớt màu đỏ nhạt, quyện với dầu sả nổi đốm sao trên mặt tô không che được miếng giò heo búp, mỏng bằng hai phần lóng tay. Miếng giò heo trắng ngả màu vàng với lớp da mỏng, ôm khoanh thịt nạc và mảnh xương tròn ở giữa như nhụy hoa nằm bắt mắt và mời gọi, nửa chìm nửa hở trong tô bún. Che mái cho tô bún là ba bốn lát thịt bò bắp xắt mỏng, những lát bò bắp với thớ thịt chắc nịch nâu đỏ và những đường vân vàng nhạt của nạm, gầu, gân, sách.

Trên bàn đã có sẵn đũa tre, muỗng sành, nước mắm, ớt tương và rau hành chanh múi. Một dĩa nhỏ hành củ trắng phau và hành lá, rau thơm xanh mưót điểm thêm ngò ta xắt mỏng để rắc lên mặt tô bún cho thêm nồng nàn hương vị. Rau hành của bún không phải là rau sống cuả phở, rau chỉ đóng vai trò “nước hoa” cho tô bún. Trên một góc dĩa là ớt tươi xắt lát. Cái cay của ướt tươi là đậm đà, mọng nước, đủ sức khống chế những cao thủ ớt đã nếm đủ vị giang hồ mà vẫn còn thấy nhạt. Cạnh đó là dĩa ớt tương nhỏ xíu màu huyết dụ; ớt tương của bún bò Mụ Rớt cũng được liệt vào hàng "gia vị bún bò bắc đẩu", nhìn thì có cái vẻ mềm như nhung với màu đỏ sẫm, điểm những hột ớt vàng hoe nhưng nếm vào mới biết thế nào là cái “hiền” của Huế. Gắp một tí ớt tương đầu múi đũa bỏ vào tô là ớt từ từ bung ra như nhụy hoa trên mặt nước bún. Hoa hồng thường có gai, nên nhụy hoa bún cũng làm cho biết bao người cay giọt ngắn, giọt dài!

Cung cách nêm tô bún trước khi ăn cũng thể hiện phần nào phong thái của người ăn. Vẻ e dè chờ đợi của khách mới, dáng khoan thai của giới nhàn du, sự xông xáo của người đói bụng, cách lịch lãm của kẻ từng quen... là những biểu hiện thường tình trước tô bún.

Khi đã nêm xong, húp một muỗng nước bún khai vị để cảm nhận được cái chất ngọt thanh pha đủ mùi gia vị. Mùi sả, mùi ruốc, mùi xương hầm, mùi thịt luộc, mùi chanh, mùi rau, mùi tiêu hành nước mắm... đã biến chất, đã quyện vào nhau tạo thành mùi bún bò có sức hấp dẫn lạ lùng riêng của nó. Miếng giò heo thanh nhã trong tô bún với lớp da mỏng có bìa da úp quanh miếng thịt nạc như đài hoa chưa nở nên thường gọi là giò “búp”. Cắn miếng giò, những sợi thịt trắng vừa béo, vừa ngọt vẫn còn thơm mùi thịt tươi mới chín nhẹ nhàng bốc hơi trên hai cánh mũi. Gắp lát thịt bò bắp. Lát thịt bò mỏng với những đường gân, sứa thịt và viền mỡ dòn tan giữa hai kẻ răng và vị ngọt béo miên man trên đầu lưỡi. Tô bún bò Huế vơi dần nửa như thách thức, nửa như mời gọi khách rằng, chưa cạn hết tô chưa gác đũa.

Tô bún bò Mụ Rớt được xem là đặc trưng cho tô bún Huế là vì nó mang những nét thanh đạm và đơn giản. Có thể nói cái thanh của bún Huế ví như những nét đan thanh của tà áo trắng, tà áo dài mỏng manh cửa đóng then gài ngỡ như là tử cấm thành của phái đẹp thần kinh, nhưng lại kín đáo phô bày trọn vẹn những nét đẹp trên thân thể của người mặc. Người mặc áo Kimono của Nhật chỉ cần một khuôn mặt đẹp, nhưng người mặc áo dài Việt Nam khó mà che dấu được những nét mỹ miều hay thô thiển của thân hình.. Cũng tương tự như vậy, một tay nấu bún “hạng lông” có thể nấu một tô bún thập cẩm với tấp nập thịt thà rau cải rềnh rang như chiếc áo Kimono, nhưng lại khó có thể nấu một tô “bún-bò-áo-trắng” kiểu Huế thoạt nhìn tưởng như là quá đơn giản mà ẩn dấu lắm công phu.

Linh hồn của tô bún bò Huế là nước bún. Nước bún là nước được hầm từ xương heo, xương bò, gà tươi, và có khi là cây, củ... Phần khó nhất trong việc nấu nước bún là giữ cho nước trong, ngọt thanh, không mỡ màng, không lềnh bềnh gia vị. Những “trường phái” bún bò khác nhau ở Huế thường dấu bí quyết nấu nước bún vừa trong vừa ngọt, nhưng tất cả đều có điểm cơ bản khá giống nhau là cách chọn xương hầm, cách luộc tái rồi đổ nước đầu tiên, cách vớt và lọai bỏ bọt thải đúng lúc, đúng điệu, thường là yếu tố quyết định trình độ cao thấp của “tay nghề”.
Bún sợi thật sự là bún tươi, trắng ngà, có độ dẻo và độ lớn vừa phải.

Thịt heo trong tô bún chỉ đơn giản một lát giò có đủ da, đủ nạc và xương. Giò luộc vừa chín, không quá lửa làm cong queo, mềm nhũn, thoang thoảng gia vị vừa ăn; thơm nhưng không mất mùi thịt heo nguyên thủy.
Thịt bò trong tô bún là bò bắp luộc vừa chín, xắt lát mỏng, xào nhẹ lại với đồ màu và tránh tình trạng quá lửa làm “bò teo, heo nở”.

Gia vị chủ lực của bún bò Huế là sả, ruốc và ớt, nước mắm. Tinh dầu của cây sả có mùi thơm rất nồng, đủ mạnh để làm trung hòa mùi ruốc và giúp cho mùi thịt trộn tiêu hành nước mắm trở nên dịu và ngào ngạt hơn. Dầu sả nhẹ hơn dầu mỡ nên làm cho nước bún nổi sao óng ánh, tránh được những váng mỡ nặng nề làm cho người ăn ái ngại. Một cây sả tươi cần chọn đoạn giữa vừa thơm, vừa phong phú tinh dầu. Đừng quên sả gốc nồng và chát, sả ngọn ít thơm và dễ làm cho nước bún nhiễm màu xanh của lá.

Trong nồi bún, nếu sả quyết định cho hương thì ruốc quyết định cho vị. Ruốc phải đánh loãng và thải hết chất bã. Ruốc nêm lúc nước còn lạnh để khỏi nặng mùi. Ruốc nêm đúng phân lượng sẽ làm cho nước bún có vị ngọt đậm đà và mùi thơm phảng phất chất mắm muối quen thuộc của đồ ăn Việt Nam. Ruốc nêm thiếu, nước bún sẽ “ỏn”, nghĩa là lạt lẽo, kém vị, thiếu mùi như nước ốc. Ruốc nêm thừa, nước bún sẽ “hăng”, nghĩa là mùi vị nặng nề, không tỏa ngát quanh tô bún mà có vẻ như chìm lỉm trong nồi nước bún.

Bên cạnh kỹ thuật và kinh nghiệm của người nấu, chất liệu cũng đóng một vai trò quan trọng cho hương vị của tô bún Huế. Chẳng hạn như thịt heo nấu bún Huế thường lấy từ thịt heo cỏ. Đó là giống heo nhỏ nuôi bằng rau, chuối nấu với cám gạo cốt để vừa lấy phân, vừa lấy thịt. Heo càng lớn càng dài ra và thịt rắn lại chứ không phát triển “sồ sề” như giống heo mẹo nuôi trong kỹ nghệ lấy thịt sau nầy. Giò heo do đó vừa chắc, vừa thơm, vừa ít mỡ. Giò heo lý tưởng cho tô bún là giò sau: “Nấu giò sau, cho nhau giò trước”.

Ngoài ra, rau hành, gia vị... thường được các bà Huế nêm theo kiểu “luyện công” nên mọi thứ đều được tính toán chi li vừa đủ phân lượng cần thiết. Có dịp nhìn một bà Mỹ vào bếp với dáng kích động như muốn nhảy “Disco” với soong chảo, một bà Nam nếm đồ ăn trên lò, miệng chưa tắt nụ cười vui sau câu cải lương mùi mẫn.... mới thấy được hình ảnh tay cầm đũa, mắt đăm đăm, môi chút chíp nêm đi nếm lại như đang “truyền tâm ấn” của một bà Huế trước nồi bún đang sôi là “thục nữ thần kinh”. Chính yếu tố địa phương, hoàn cảnh và tâm lý đã làm cho tô bún bò Huế trở thành ngon và độc đáo hơn vì nó được chuẩn bị, phục vụ và thưởng thức trong mức độ vừa đủ về lượng cũng như về phẩm.

Sự dễ dãi về hoàn cảnh sinh hoạt và phong phú về điều kiện vật chất có vẻ như có một tác dụng nghịch chiều cho tiến trình tạo nên cái vẻ thanh nhã truyền thống của tô bún bò Huế. Bún bò Huế càng tiến về Nam càng được thêm thắt như tà áo trắng biến thành áo gấm với phượng vẽ rồng thêu. Bún Huế chỉ cần vượt đèo Hải Vân vào Đà Nẵng là đã đổi khác: Tô lớn hơn, mỡ màng và thịt, gân, rau hành nhiều hơn. Bún Huế tiến vào Sài Gòn thành tô “phở bún” xe lửa tàu bay với nước béo, rau sống, giá sống, thịt chả ê hề. Chính bún bò Mụ Rớt Huế vào Nam cũng đã chuyển mình thành “bún bò Mụ Rớt Nam Bộ”. Bún bò Huế càng được chiếu cố rộng rãi chừng nào, sự “sáng tạo” và biến thể càng nẩy mầm trăm hoa dua nở chừng đó. Đến nỗi, một người thích “khảo” về các món ăn miền Trung gần đây như ông Đinh Miên đã phải lên tiếng “xóa óa” khi nhắc về bún bò Huế tại Mỹ trong bài “Cơm Việt, Quê Người”: “Đi đâu cũng nghe bún bò Huế chính gốc mà không biết gốc gì, nên gốc gì cũng đặng!” (Việt IX - 95). Ông Đinh Miên thuộc về trường phái “chịu chơi” khi luận về bún Huế. Ông cởi mở đón nhận sự chuyển mình của tô bún với vẻ cười cợt hồn nhiên như người đã biết là không thể tắm hai lần trên cùng một giòng sông. Cũng có người muốn “ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng” lên tiếng cho rằng, tại sao những món ăn truyền thống của thế giới như Pizza của Ý, Kabob của Ba Tư, Taco của Mễ, Kentucky Fried Chicken của Mỹ, Mì Triều Châu của Tàu... đi đâu cũng nghe cùng một hương vị, mà Bún Bò Huế lại có người nấu Sở kẻ nêm Tần như vậy, sợ một ngày kia “mất giống” tìm đâu!? Có lẽ không ai trả lời được câu hỏi đó vì món ăn là một phần của văn hóa mà gốc của văn hóa là con người. Khi đất nước và con người còn đó thì ngại gì tô bún đổi thay.

Tuổi già của Huế thích lui về sống ẩn dật với quê hương, gần gũi với bà con làng xóm và mồ mã tổ tiên, nhưng tuổi trẻ lại thích bay xa tới những phương trời mơ ước. Niềm ước mơ của một đứa trẻ lớn lên sau lũy tre làng như tôi là làm sao được lên Huế học. Thành phố Huế cách làng tôi chưa đầy một giờ đi xe đạp nhưng đối với tôi thời nhỏ nó vừa thực vừa mộng như một vùng đất hứa. Có những buổi chiều đứng đầu ngõ nhìn những người lên Huế sắm hàng với các món đồ gói trong giấy, trong hộp đầy màu sắc gọi là “đi Dinh mới về”, tôi ước chi mình sẽ được lên Dinh
Tuy không có quy định thành văn nhưng con đường duy nhất để được lên Dinh ăn học đối với tuổi trẻ ở làng như tôi là phải thi đậu “Càng Cua” (concours) trước đã, đó là kỳ thi tuyển học sinh vào lớp đệ thất trường công mà trong toàn tỉnh Thừa Thiên chỉ có thành phố Huế mới có. Mẹ tôi thường nhắn gởi: “ Chuyến ni mà con thi đậu "càng cua", cực mấy mạ cũng gắng lo cho con lên Dinh học”.

Mẹ tôi dắt tôi lên Huế hai ngày trước khi thi “càng cua”, đi qua đi lại trước trường Hàm Nghi (ngày xưa là Quốc Tử Giám) nhiều lần cho quen đường đi nước bước. Tôi ở lại nhà chị Quyến tôi nơi đường Ô Hồ. Buổi sáng ngủ dậy, chị kêu gánh bún vào ăn điểm tâm.. Gánh bún õng ẹo trên đôi vai o gánh bún, có khói và hơi bốc nhè nhẹ xung quanh như một đầu máy xe lửa xuống đèo. Nghe chị đặt hàng, tôi có cảm giác hơi là lạ:

- O múc cho tô “trung”, bún vừa, nước xắp xắp thôi. Cho giò nạc búp, thêm cái ngoéo. Đổi huyết lấy bò bắp xắt vô. Khoát bớt ớt màu, bỏ hành rau răm rươi rươi thôi, ớt tương nước mắm bỏ riêng...

Người bán bún chừng như đã quá quen thuộc với lối đặt hàng rắc rối đó nên làm thinh múc bún. Nồi bún nóng thân tròn, miệng uốn trông như chiếc lư đồng cổ không nắp không chân, đặt trên lò lửa riu riu đỏ. Tay o cầm cái vá cán dài, quây một vòng trong nồi bún với dáng tay nhẹ nhàng và điệu nghệ như cô vũ nữ Thái múa điệu cánh sen. Cái vá dừng ở đâu trong nồi nước bún là “bắt” được ngay miếng thịt, miếng giò đang cần, chính xác như ra-đa tìm thủy lôi.

Một lát sau o mới hỏi:
- Ai ăn rứa?

Chị tôi trả lời một cách hãnh diện:
- Thằng em tôi dưới làng lên ở lại thi “càng cua”.

Tự nhiên o bán bún coi bộ quan tâm:
- Nì, nói chuyện vô duyên chơ học trò đi thi không nên ăn giò búp: búp hoài không nở thì mần ăn chi nữa. Để tui múc cho một cặp giò ngoéo: ngoéo trước, ngoéo sau thì rớt đi mô được, thi đậu chắc nụi!

Chị tôi coi bộ cảm động ra mặt vì gặp được “Thầy”... bún, nên nhiệt liệt ủng hộ ngay:
- May có o nhắc chớ không thì khổ em tui rồi. Rứa! Múc ngoéo vô đi o!

Thật tôi không ngờ bún Huế “linh” như vậy, nên hôm đó ăn tô bún Huế mà cảm thấy trân trọng và ngất ngây như uống rượu thánh.

Về làng, tôi thường ăn bún với nước mắm ớt.. Mẹ tôi có mấy lu ruốc bự bành ky để ở nhà dưới, nước mắm nhĩ trong vắt nằm một lớp trên mặt. Đem lúa đổi lấy bún vắt hay bún lá, rồi múc nước mắm nhĩ từ trong lu ruốc, ra vườn hái ớt xé vào. Bún tươi chấm với nước mắm nhĩ pha thêm ớt trái mùa Xuân ăn ngon “nhức răng”. Thêm vào đó, một năm đôi ba lần được ăn bún với nước xáo lòng gà, thịt bò nên chú bé quê trong tôi cũng đã bằng lòng lắm với cuộc đời đầy đãi ngộ nầy rồi. Nay được ăn tô bún Huế với những thịt thà thơm phức, với cách nấu bún công phu, cách múc bún điệu nghệ... làm cho tôi cảm thấy được “lây” cái văn minh sang cả của người thành phố.

Ngày đi thi, tôi dậy sớm trước khi gà gáy lại, hồi hộp chờ trời sáng để tới trường thi, nhưng trong lòng cũng cảm thấy thinh thích khi nghĩ đến tô bún Huế với cặp giò ngoéo có lớp da mềm mềm bao quanh những thớ gân dòn tan như ăn ổi đỏ ở làng. Hình như mới có hai buổi sáng trôi qua mà tôi nghe như đã bị phố phường cám dỗ. Buổi sớm tôi nghe mẹ tôi bàn bạc to nhỏ với chị tôi, rồi tiếp theo đó có người gánh gánh xôi vào trước hiên. Nhìn dĩa xôi đậu xanh chấm muối mè bày ra trước mặt, tôi bắt đầu hoang mang. Mẹ tôi hối:
- Ráng ăn xôi đậu muối mè đi con!

Khi tôi ngao ngán ngáp dài kêu mệt quá và muốn ăn bún chứ xôi đậu, muối mè khô khan quá nuốt không vô, mẹ tôi dịu dàng an ủi:
- Con thi xong rồi, ưng ăn bún cả gánh mạ cũng cho. Con di thi “càng cua” mà ăn bún vô trơn, nói trời không nghe lỗ miệng, chớ nó truột di thì thi hỏng mất! Lúc trước mấy cậu con thi chi hỏng nấy là vì không nghe lời mệ ngoại, cứ dè ngày thi cử mà ăn bún không kiêng cử nên thi trợt tuốt luốt, phải xếp sách vở về quê đi cày. Chừ con gắng ăn xôi đậu, xôi muối mè dính mô chắc nấy, trời mới cho con đậu.

Tôi rướn cổ nuốt cho hết dĩa xôi mè vì thương mẹ hơn là sợ thi trượt. Tới ngày treo bảng, nghe loa đọc tên nhưng tôi không tin là mình đậu “càng cua” thứ nhì trường Hàm Nghi trong số hơn một nghìn thi sinh dự tuyển và có hai trăm trúng tuyển năm đó.

Suốt một đời, tôi không làm sao quên được hình ảnh mẹ tôi với hai hàng nước mắt sung sướng chảy dài trên đôi má phong trần vì lặn lội gieo neo nuôi con. Mẹ tôi nói như đã nắm được bí mật cuộc đời:
- Chộ chưa! Con nghe lời mạ, ăn xôi đậu nên mới thi đậu. Còn thằng Tý xóm Bàu, thằng Rô xóm Cụt, Thằng Lúi lò rèn to béo xắp hai con, nghe nói mỗi đứa ăn hai tô bún để đi thi nên trượt tuốt luốt..

Tôi muốn nói cho mẹ tôi biết bọn thằng Tý, thằng Rô, thằng Lúi... suốt cả mùa Xuân trốn học, thu sách vở trong bụi tre lá ngà đầu làng đi chơi; trong khi tôi học thuộc cháo sách Sử Ký của Trần Đinh, giải hết 1000 bài toán đố của Một Nhóm Giáo Viên, đọc nhuyễn 50 Bài Luận Mẫu và Tâm Hồn Cao Thượng của Hà Mai Anh... Thế nhưng nghỉ sao tôi lại thôi, vì mẹ cũng có một khung trời riêng của mẹ mà tôi chỉ dám núp sau áo mẹ để lặng im chiêm ngưỡng chứ không dám thả cánh chim lý luận làm huyên náo khung trời đó và làm mẹ buồn lòng.

Từ đó về sau nầy, tôi thường cố “cữ” ăn bún mỗi lần có thi cử. Ngay cả hơn 30 năm sau, khi tóc đã điểm bạc trên bước đường lưu lạc ở quê người, có những lần đi thi chuyên môn, đi phỏng vấn việc làm, đi thi tốt nghiệp trong trường đại học Mỹ, tôi vẫn “kiêng” ăn bún nhưng chỉ tìm cách né tránh âm thầm chứ không dám nói ra vì sợ bị chọc quê. Thật ra, mỗi lần đụng đến thi cử là tôi lại nhớ mẹ đến quặn lòng, nên tôi cử ăn bún để được cái cảm giác ấm áp thiêng liêng như hôm đó mình đang có mẹ thật gần

Đến khi lên Huế học, những huyền thoại về bún bò Huế càng có vẻ mọc cành mọc lá sum sê hơn. Thế giới học trò cũng nhỏ bé và xinh xinh như thành phố. Phía sau trường Hàm Nghi của tôi là Viện Bảo Tàng và nhà thờ Nguyễn Phước Tộc hay là Tôn Nhân Phủ.. Bên kia đường là cửa Hiển Nhơn vào Đại Nội. Kế đó, có hai trường văn nghệ nhất Huế, đó là trường Quốc Gia Âm Nhạc và Cao Đẳng Mỹ Thuật mà lũ học sinh nghịch ngợm của chúng tôi thường chọc mấy anh chị sinh viên bằng cách gọi là “Trường Kèn” và “Trường Cọ”. Sinh viên hai trường Kèn Cọ thường la cà ở quán cà phê Tôn, nơi đó, thật ra chỉ là một chiếc xe kiểu xe sinh tố đặt mé trái trước Tôn Nhân Phủ do vợ chồng bác Tôn đứng bán bún bò và cà phê. Giới nghệ sĩ lang thang thường bàn luận một cách công khai rằng, ngày nào vợ chồng bác Tôn không cãi nhau là ngày đó bún bò không ngon vì thiếu đi cái “tinh thần hào sảng” của cặp vợ chồng bác Tôn khi nấu bún.

Giới văn nghệ sĩ cà phê Tôn còn đi xa hơn khi kháo nhau rằng nếu lỡ một mai kia, lịch sử thành thơ đưa họ lên làm lãnh tụ, thì họ sẽ đặt tên con đưòng từ Vỹ Dạ lên Ga Huế là "Đường Cơm Hến" và đường từ cầu An Cựu lên cầu Trường Tiền là "Đại Lộ Bún Bò" vì mỗi buổi sáng tinh sương, dọc trên con đường nầy có cả đoàn bún gánh phát xuất từ An Cựu tỏa ra khắp thành phố Huế. Khói xanh đun nồi bún bay phơ phất trên đường như một sự mời gọi êm đềm: Bún bò An Cựu, cơm hến Đò Cồn, trứng lộn Chợ Dinh, bánh canh Nam Phổ... Cũng may hay cũng buồn, lịch sử không phải là thơ nên tuy Huế có những con đường tình cảm mang tên kỷ niệm và giai nhân bất thành văn như đường Hàng Me, đường Áo Trắng, nhưng vẫn chưa có tên đại lộ Bún Bò.

Bản thân tôi từ một vùng quê ruộng đồng lên tỉnh học, sau mấy năm học đòi văn hóa Huế, cũng bị nhiễm bún bò rất nặng.. Tôi đã ưu tư nhiều về sự hiện diện của bún bò giò heo kể từ khi làm quen với một cô hàng xóm nhân dịp cô đi xe đạp, vạt áo dài tung bay phất phới và cuốn theo chiều gió mà quấn vào trong giây "sên", trong "ổ líp". Tôi bèn ra tay cứu khổn phò nguy gỡ áo em ra và không quên bôi thêm dầu sên lên tay lên mặt cho ra vẻ lẫm liệt, can trường. Tên cô là Mộng Hoàng, tất nhiên có cái họ đi trước rất chi là thế gia vọng tộc. Chỉ mới cái tên thôi cũng đủ biến tôi thành Trương Chi bên cạnh Mỵ Nương đi xe đạp mất rồi. ễ làng, tôi đi từ xóm trong ra xóm ngoài để sưu tầm những tên giai nhân đẹp nhất thì cũng chỉ có những Nguyễn Thị Gái, Trần Thị Chắt, Lê Thị Dẹp... đào đâu ra có Mộng, có Hoàng.

Những buổi sáng, tôi và Hoàng vẫn đạp xe đạp song song chung đường từ Thành Nội, qua cầu Trường Tiền, rồi Hoàng vào Đồng Khánh và tôi vào Quốc Học. Đôi ba lần Hoàng quay sang phía tôi cười, một phiến ớt màu bún bò tí ti đỏ chói nằm trong góc chiếc răng khểnh trắng nõn nà của Hoàng. Tự nhiên tôi cảm thấy hơi mất đi cái cảm giác thanh thoát khi nhìn sự hiện diện vô duyên của ớt màu nằm trên chiếc răng khểnh duyên dáng đã làm tôi xao xuyến bao lần. Tôi lên tiếng, nhẹ nhàng như nắng, sợ làm vỡ những giọt sương tình cảm long lanh. Rồi cả hai đứa dừng lại, đứng khuất sau gốc cây long não, tôi xé mảnh giấy trắng nhất trong tập vở học trò, vo lại thành cây tăm và nín thở khêu chút ớt màu bún bò vô tình nằm chênh vênh không đúng chỗ. Hai đứa nói nhỏ như ngại hàng long não đứng nghe.. Hoàng vùng vằng sợ tôi nhìn sâu hơn đáy mắt:
- Ngó dữ chưa tề, dị chết!

Tôi thanh minh như Vương Tử Trực:
- Coi tề, không ngó chộ mô mà khêu!

Khi lên xe đạp đi tiếp, Hoàng phàn nàn, cái phàn nàn mà tôi cho rằng đáng lẽ ra là một sự biết ơn:
- Me phiền dễ sợ! Sáng mô cũng bắt Hoàng ăn bún bò ớn phát sợ luôn.

Cái "ớn phát sợ" của Hoàng lại là cái ước mơ ngoài tầm tay của đám học trò nghèo như tôi. Cứ tưởng tượng mỗi buổi sáng, khi trời Huế còn lành lạnh mà được ăn một tô bún bò giò heo, có váng mỡ vàng mơ ngã hồng trên mặt, nêm thêm một "múi đũa" ớt tương màu huyết dụ chắc sẽ sáng mắt sáng lòng mà học một nhớ mười. So với một chén cháo gạo với muối trắng của tôi hay một chén cơm chan chút nước mắm ớt của tụi bạn cùng hoàn cảnh ăn điểm tâm trước khi đi học, tự nhiên một cảm giác hơi buồn buồn pha chút tủi thân lặng lẽ dâng lên trong lòng. Bún bò tự nó không có giai cấp, nhưng giai cấp tự nó có bún bò: Phận nghèo bấm bụng nằm co. Giàu thời nem chả, bún bò giò heo!

Tuổi trẻ của Huế êm đềm và dễ hòa diệu sống như giòng sông Hương. Tôi đã quên rất nhanh hình ảnh tô bún bò của Hoàng và chén cháo gạo của tôi. Hai đứa chưa bao giờ dám nói thương nhau mà chỉ lửng lơ nói chuyện đã cùng "thương con đường đi học".. Mỗi cô gái Huế đều có một bà chúa trong hồn và mỗi cậu con trai Huế đều có một ông hoàng trong bụng. Bà chúa thì thích sang mà ông hoàng thì thích ngọt, cho nên tôi đã nhẹ dạ nghe Hoàng dỗ ngọt mà hẹn hò lần đầu lên chùa Thiên Mụ và về ăn bún bò Kim Long. Chúng tôi đã phạm vào hai điều tối kỵ làm tan vỡ bao nhiêu mối tình đầu đẹp như mơ của Huế: Đó là hẹn hò lần đầu không được lên chùa Thiên Mụ và không được ăn bún. Đồi Linh Mụ là đất thần kinh, nơi để chiêm bái chứ không phải là nơi tính chuyện ân tình hò hẹn.. Tình cảm trai gái chớm mầm trên đất thánh thì sẽ không bén rễ trong tim người. Còn ăn bún là trơn tru, không níu kéo như gừng cay muối mặn, nên cuộc tình rồi cũng theo bún mà trôi đi! Rất có thể bà Linh Mụ đã nhìn thấy tôi và Hoàng hò hẹn, cho nên mới "xui" về Kim Long ăn bún. Bởi vậy, nên tới Hè, Hoàng giã từ Đồng Khánh, chuyển qua Jeanne d'Arc để chuẩn bị đi Tây.

Kỷ niệm chia tay cũng êm đềm mà nhức buốt như những cơn mưa phùn tháng Giêng của Huế. Hoàng gởi cho tôi cuốn sổ lưu bút có giấy pơ-luya màu xanh, màu trắng, màu hồng; có thắt nơ tím với câu thơ tiếng Tây quá quen thuộc với tuổi học trò của Huế ghi nắn nót ở trang đầu: "Partir, c'est mourir un peu!... Ra đi là chết trong lòng một ít. Biết nói sao bây giờ?!". Tôi là học trò ban B (Toán - Lý Hóa toàn ròn) nên trong đầu lúc nào cũng lùng bùng ròng những đạo hàm và ẩn số của thầy Trần Tuệ và thầy Hồng Giũ Lưu. Huế lại là vùng đất ưa hò vay trả. Đào đâu cho ra chút văn chương man mác nòi tình mà đáp lại cho Hoàng đây. Tôi bỏ cả việc đi trại Hè để cố đào cho ra dăm câu thơ nếu không “ác liệt” thì ít ra cũng có vẻ môn đăng hộ đối với Hoàng. Bên tê dẫn thơ Tây thì bên ni phải trích thơ Mỹ. Tôi vô thư viện, tìm mục thơ tình lãng mạn để kiếm vài câu làm thuốc. Thơ tình chết tiệt rủ nhau trốn đâu mất cả. Bí quá, bỗng vớ được vài câu thơ đề tựa cuốn sách của Helen Steiner Rice, tôi thấy như mở cờ trong bụng: “Somebody loves you than you know. And will always be with you wherever you go!” (Ai nào thấu hết tình ai.. Chân mây góc biển thương hoài ngàn năm). Và, để phụ đề Việt ngữ tôi chọn hai câu thơ của Hàn Mặc Tử, đọc đi đọc lại đắc ý nổi da gà: “Người đi một nửa hồn tôi mất, Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ!”.
Kèm với thơ thẩn là cái lược bằng gỗ trầm hương, vật kỷ niệm của mẹ, tôi xin và tặng lại cho Hoàng mà bỗng tự cảm thấy mình sâu sắc như một người tình trong chuyện thần thoại;Năm 1992 về lại con đường cũ, đọc thơ Xuân Hoàng mà nhớ bâng khuâng đốm ớt bún bò và nét cười răng khểnh:

Tôi đi trên đường Lê Lợi dọc sông Hương
Nắng trong suốt lọc qua hai hàng long não
Đất nước đổi thay qua bao mùa giông bão
Con đường xưa vẫn dáng dấp diệu kỳ...

Hơn mười năm, tôi mới có dịp trở lại chen chân trên đường phố Huế vào một buổi chiều 29 Tết. Đi trong nắng cuối Đông dìu dịu thương quen của Huế mà cứ ngỡ như mình mới xa Huế hôm qua. Nghĩ đến mai xa Huế tự nhiên tôi có cảm gíác như mình là kẻ phụ tình với Huế. Huế vẫn lặng lẽ chờ đợi như người tình trăm năm mà tôi thì cứ dứt áo ra đi lang bạt kỳ hồ.

Rồi quả đất cũng tròn và thế giới nầy cũng nhỏ nên “những kẻ phụ tình với Huế” vẫn có lúc gặp nhau ở quê người như một sự tình cờ của định mệnh. Hơn 30 năm sau, rất tình cờ, tôi gặp lại Mộng Hoàng ở Little Sàigòn, Quận Cam Ca-li. Tôi nhận ra Hoàng, bà chủ tiệm ăn có tên vừa Tây vừa Huế, nhờ chiếc răng khểnh "thương bắt chết" vẫn tô điểm cho nụ cười duyên dáng ngày xưa. Tất nhiên, tôi từ phương xa ghé vào đây cũng vì món "bún bò Huế chính gốc". Nhắc chuyện cũ, cả hai đứa cùng cười ngặt nghẽo. Giọng Hoàng tuy phảng phất một chút âm vang trời Tây nhưng vẫn chưa phai màu Huế:
- Thời nớ, răng tụi mình dễ thương dễ sợ hí!

Tôi cười cười nhắc lại:
-Sau nớ, còn ai khêu ớt trên răng cho Hoàng nữa không?

Mắt Hoàng bỗng thoáng một chút trầm tư "nhắc làm chi sương khói thuở xa xăm" và ánh lên màu kỷ niệm:
- Lạ chưa tề. Nhắc chi nữa, dị chết!

Tôi nhìn Hoàng. Mắt bâng quơ đậu trên vài ba sợi tóc loà xòa điểm bạc. Hoàng biết và ngúng nguẩy che đi. Hoàng nói thật bất ngờ, giọng trang đài như đọc câu thơ tình thời cổ:
- Chải lược trầm hương nên sớm thành tóc bạc!

Tôi hiểu Hoàng nói gì nhưng phản ứng như anh học trò cả ngố:
- Thơ của ai rứa Hoàng?

Hoàng trả lời “mần đày”:
-Thơ ai? Thơ ông cai bến đò!

Đàn bà Huế mà đã “mần đày” thì Tần Thủy Hoàng cũng phải biết rằng mình đã lỡ vô tình, cần lẳng lặng chui vào ổ rơm nằm ngủ qua đêm.

Rứa đó! Dân Huế suốt đời vẫn là những đứa trẻ thơ mỗi lần nhớ Huế, nhớ những kỷ niệm đã thiu thiu ngủ trong ký ức và trên quê mẹ của mình.

Xa quê, rủ nhau ăn một tô bún bò Huế nấu bằng heo Mỹ, bò Anh, ruốc Tàu, bún Nhật.... Miếng ăn có thể khác nhau vì ngon hay dở, nhưng nỗi nhớ quê nhà thì vẫn hiu hắt giống nhau trong cùng thẳm của mỗi tấm lòng. Bún bò Huế đã vượt sông Mỹ Chánh ra Bắc, vượt đèo Hải Vân vô Nam, vượt trùng dương sang Âu tới Mỹ. Giữa những phố phường xa lạ quê người, đọc trên một tấm biển của một tiệm ăn nào đó có ghi “Bún Bò Huế”, người Việt tha hương nào mà khỏi thấy lòng mình ấm lại. Bún Bò Huế không còn là riêng của Huế mà hương sả nồng, vị ớt cay, mùi ruốc mặn đã thấm vào mạch đất quê hương và lòng dân tộc Việt đầy yêu thương nhưng cũng lắm đoạn trường chưa có ngày sum họp.

Xuân Hoàng

Blog Archive