KỶ NIỆM ĐAU BUỒN THÁNG TƯ ĐEN 1975
*Tòa Hành Chánh -Long Khánh trước 1975.
Hồi ấy tôi đang phục vụ tại tỉnh Long Khánh với chức vụ Phó quận trưởng quận Xuân Lộc. Buổi sáng ngày 8 tháng 4,1975 ba Sư đoàn Việt cộng bất thần pháo kích, toan tấn công vào tỉnh lỵ. Lúc ấy Sư đoàn 18 do tướng Lê Minh Đảo chỉ huy đã đáp trả mãnh liệt nên chúng chỉ bao vây thị trấn Xuân Lộc trong 12 ngày đêm. Cuối cùng, đêm 20 tháng Tư, quân dân cán chính địa phương cùng Sư đoàn 18 triệt thoái khỏi mặt trận, vượt qua mật khu Bình Giã của Việt Cộng, về đến Bà Rịa, tỉnh Phước Tuy an toàn. Tuy nhiên, cũng có nhiều quân nhân đã hy sinh trong cuộc di tản này, trong đó có Tiểu khu phó Long Khánh bị tử trận, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng bị thương và bị địch bắt.
Tôi về đến Sài gòn vào buổi xế trưa hôm ấy. Sau đó tôi lái xe đưa các các nhân viên ra bến xe bus để họ về nhà. Chúng tôi lưu luyến chia tay nhau; để rồi từ đó, hơn bốn mươi năm trôi qua, tôi không gặp lại họ - những nhân viên đã đồng cam cộng khổ với tôi trong suốt thời gian xảy ra trận chiến Xuân Lộc, cũng như trong đêm di tản sau đó.
* * *
Không khí tại Sài Gòn vào những ngày cuối tháng Tư thật căng thẳng. Đêm đêm VC từ bên kia sông Sài gòn pháo kích vào thành phố.
Ban ngày người dân hối hả tìm cách ra nước ngoài, kể cả tràn vào toà Đại sứ Mỹ chen lên máy bay di tản. Một buổi tối, bố vợ tôi báo tin sắp được ông bạn thân cho di tản cùng gia đình ông ta trên chiếc tàu mới mua. Tuy nhiên đến phút chót, vì đông người quá nên đại gia đình chúng tôi đành ở lại .
Những ngày sau đó, tôi đi lang thang đến nhà bạn bè, hy vọng gặp vận may để tìm đường di tản. Vô vọng, tôi bước vào rạp Cinê Nguyễn Văn Hảo trên đường Trần Hưng Đạo, xem một phim Pháp. Như thường lệ, trước khi xem phim, khán giả đứng lên nghiêm chỉnh chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà.
Nhìn lá cờ thân yêu đang phất phới trên màn ảnh lớn trước mắt, bỗng nhiên tôi nhớ đến lá cờ vàng ba sọc đỏ phất phới trên trụ cờ văn phòng quận. Trong ánh lửa pháo kích của địch sau lưng chúng tôi, lá cờ như vẫy chào từ biệt, khi chúng tôi rút khỏi chiến trường Xuân Lộc trong đêm di tản.
Hôm nay, chào lá quốc kỳ thân yêu trong một rạp hát ở Sài gòn, tôi có linh cảm mình lại phải di tản một lần nữa, trước khi Cộng Sản vào đây. Nhưng đi đâu, bằng cách nào ? Nghĩ đến đó, hai giòng lệ ứa ra, nhạt nhoà đôi mắt kính cận của tôi! Tôi không còn lòng dạ nào xem hết cuốn phim, liền bước ra khỏi rạp với tâm trạng lo lắng bồn chồn!
Chiều ngày 26-4, tôi đứng trước nhà nghe ngóng tin tức, bên cạnh vợ đang bế con gái út mới hai tháng tuổi. Các anh chị của bé đang quây quần quanh mẹ. Ông Đại úy Hải quân đi làm về, hối hả đậu xe jeep nhà binh trước nhà, đến nói nhỏ với tôi:
-Tàu thủy chúng tôi sắp rời bến đêm nay. Ông và gia đình có muốn đi, hãy chuẩn bị sẵn sàng. Khoảng mười lăm phút nữa, tôi sẽ xuống đây đưa ông bà đi ngay…
Thấy tôi do dự, ông ta nói tiếp:
-Bằng mọi cách, mình phải đi thôi ! Sĩ quan như tôi, công chức như ông, chúng nó vào đây sẽ giết hết! Tôi di cư từ Bắc vào Nam năm 54, đã từng nếm mùi Cộng Sản rồi ông ạ. Đi thôi, đừng do dự gì cả!
Nói xong ông ta vội vã vào nhà trong cư xá.
Tôi quay sang vợ đang lo lắng nhìn tôi. Tôi nhìn ba đứa con nhỏ từ năm, bốn, đến hai tuổi đang đứng quanh mẹ chúng, cười nói vô tư. Đứa con gái út mới hai tháng, còn lim dim ngủ. Tôi phân vân do dự. Đi hay ở?
Cuối cùng, tôi cả quyết nói với vợ:
-Các con còn bé quá, làm sao chịu nổi sóng gió mà đi. Hơn nữa Em mới sinh xong, còn yếu lắm…!
Vợ tôi im lặng trao con bé út cho bà ngoại, bước lên lầu bỏ ít quần áo tôi vào chiếc túi xách du lịch. Đoạn nàng tháo chiếc nhẫn vàng đeo vào tay tôi, nói nhỏ:
-Anh cứ để mẹ con em ở nhà với ông bà ngoại. Đừng lo lắng chi cả! Anh cứ đi một mình. Việt Cộng vào đây, anh sẽ bị nguy như ông Đại úy nói đó anh!
Tôi nhìn người vợ đã từng lo lắng chờ đợi tôi gần nửa tháng, khi địch quân bao vây quận Xuân Lộc. Hôm nay, nàng lại nẩy ra ý tưởng muốn hy sinh cuộc sống chính mình và bốn con thơ để tôi ra đi. Đã ra đi, làm sao có thể trở lại, khi mà quê hương đất nước bị Cộng sản thống trị. Có bao giờ chúng nguôi lòng căm hận chúng tôi ? Vợ chồng sẽ chia lìa mãi mãi. Các con sẽ không bao giờ gặp lại người cha thương yêu. Thế thì tôi ra đi làm chi…?
Khi ông Đại úy trở lại, hỏi tôi đã chuẩn bị xong chưa để ra đi, tôi im lặng lắc đầu. Ông nhìn tôi, ánh mắt ưu tư lẫn buồn rầu. Đó là lần cuối cùng chúng tôi nhìn nhau, thông cảm hoàn cảnh của nhau…
****
Sài gòn vào những ngày gần cuối tháng Tư bỗng trở nên hoảng loạn. Tin tức chiến sự bi quan từng ngày. Đêm 25 tháng 4, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu xuất hiện trên TV, đổ lỗi cho người Mỹ không viện trợ đầy đủ cho Việt Nam Cộng Hoà để ngăn chặn làn sóng xâm lăng Cộng sản. Sau đó ông cùng đoàn tùy tùng lên máy bay của Đại sứ Mỹ ra đi. Những ngày kế tiếp người ta đến hôi của các nhà giàu đã di tản ra nước ngoài.
Đến sáng ngày 30 tháng Tư, một người chú của tôi- người đã chạy trốn Việt Cộng từ Miền Trung vào, vội đến hốt hoảng nói với tôi:
-Cháu ơi! Việt Cọng đã vào đến Hoà Hưng rồi. Liệu tìm đường mà chạy đi thôi!
-Nhưng thưa chú, chạy đi đâu bâu giờ?
Chú cháu nhìn nhau, đau buồn và tuyệt vọng.
Đến 10 giờ rưỡi, nhạc trên đài phát thanh Sài gòn vụt tắt. Có tiếng nói của tướng Dương Văn Minh, nhân danh Tổng thống và Tổng tư lệnh quân lực Việt Nam Cộng Hòa ra lệnh cho các đơn vị quân đội buông súng đầu hàng. Sau đó là tiếng hát, tiếng đàn ghi ta của Trịnh Công Sơn, vang lên ca khúc phản chiến “Nối Vòng Tay Lớn”. Tôi ngồi phịch xuống giường, nhìn trừng trừng vào chiếc Radio vừa phát ra những lời kêu gọi đầu hàng, nước mắt chảy dài . Tôi cay đắng nghĩ thầm: Cuộc chiến đấu bảo vệ Tự do của quân dân cán chính Miền Nam đã kết thúc nhanh chóng và tủi nhục như thế này sao?
Buổi trưa tôi bước ra ngoài để xem quang cảnh náo động trên đường phố. Người ta đổ xô đi làm quen với những “chú bộ đội”, với dép râu nón cối, súng AK kè kè bên hông. Người ta ngắm nhìn họ như những “sinh vật lạ” mà lâu nay chỉ nghe, chứ chưa thấy tận mắt. Người ta hỏi những câu ngô nghê chỉ cốt làm quen với “đám chủ mới của đất nước”, đầy quyền uy với súng đạn và bạo tàn!
Trên đường phố, xe nhà binh chạy qua lại, chở đầy những tên “cách mạng giờ thứ 25” đeo băng đỏ trên cánh tay, mồm la hét qua những chiếc loa cầm tay, làm náo động cả thành phố! Có tin đồn về một cảnh sát viên của chế độ cũ vừa tự tử ở “ngã tư quốc tế”. Rồi một sĩ quan tự kết liễu đời mình cạnh bức tượng Thủy Quân Lục Chìến ở cuối đường Lê Lợi, Sài Gòn.
Khi trở về nhà, tôi gặp một người láng giềng từ cư xá bước ra. Anh này trước đây thỉnh thoảng chào hỏi tôi mỗi khi tôi từ quận về phép. Hôm nay mặt lạnh như tiền, anh ta chỉ chiếc xe Jeep Willys đậu trước nhà tôi:
-Anh là chủ chiếc xe này phải không ?
Tôi nhìn chiếc của quận tôi lái về đây hôm di tản từ mặt trận Xuân Lộc, rồi đáp:
- Đó là công xa của quận Xuân Lộc, mang số ẩn tế. Tôi làm gì có tiền mua xe?!
Anh ta lên giọng hách dịch bảo tôi:
-Anh liệu mà giao nộp sớm cho “cách mạng”, không thì rắc rối lắm đó nhé!
Lúc ấy tôi ngạc nhiên về thái độ của anh ta, chóng thay đổi chẳng khác màu da con tắc kè. Sau này tôi mới biết anh ta là “Việt Cộng nằm vùng”, là tai mắt của “cách mạng” từ lâu.
Nhìn chiếc công xa quận, tôi sực nhớ những đến giấy tờ, khuôn dấu của quận Xuân Lộc mang về còn để trong nhà. Tôi không muốn “giao nộp cho cách mạng”, bèn bỏ tất cả vào túi, đón xe bus ra bờ sông Sài gòn.
Theo sử sách ghi chép, trong trận vua Quang Trung đại phá quân Thanh năm 1789, tướng Tàu Tôn Sĩ Nghị vội vã một mình một ngựa, không kịp mang giáp trụ, trốn chạy cùng đám loạn quân, bỏ lại cả ấn tín. Còn chúng tôi, mặc dù phải rút lui khỏi trận địa Xuân Lộc, vẫn trật tự nghiêm chỉnh, vẫn mang theo cả ấn tín cùng giấy tờ quan trọng, quyết không để chúng rơi vào tay kẻ địch! Bởi đó là biểu tượng cao quý của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà tại địa phương Xuân Lộc chúng tôi.
Nay Sài gòn đã sụp đổ, Miền Nam đã mất, tôi muốn mượn giòng nước sông Sài gòn để chôn vùi biểu tượng cao quý đó. Tôi nhìn giòng nước cuồn cuộn chảy, nhận chìm những khuôn dấu đã từng quen thuộc trong hơn hai năm làm việc tại văn phòng quận Xuân Lộc, tôi cảm thấy lòng đau như cắt!
Tôi đến ngồi trên ghế đá bên bờ sông Sài gòn, tôi liên tưởng đến buổi chiều mùa đông âm u bên bờ sông Vệ ở Quảng Ngãi cuối năm 1954. Hồi ấy gia đình chúng tôi đang trên đường trốn chạy Việt Minh. Khi hối hả bước xuống thuyền để sang bên kia sông - nơi quân đội Quốc Gia Việt Nam đang tiếp thu, tôi nhìn thấy lá cờ vàng đang phất phới tung bay trong gió đông như vẫy tay đón chào. Nó gợi trí tò mò lẫn ước mơ của cậu thiếu niên đã sống chín năm tăm tối trong vùng Việt Minh! Bên kia sông chắn hẳn cuộc sống ấm no, hạnh phúc đang mong chờ cậu và gia đình cậu.
Hai mươi mốt năm sau, vào buổi chiều cuối tháng 4 năm 1975, tôi ngồi bên bờ sông Sài Gòn, nhìn làn nước đục trôi đi mà nghĩ đến thân phận mình, tương lai gia đình mình, đến những người bạn “đồng cảnh ngã ngựa” không biết ngày mai những “kẻ thắng cuộc” sẽ ra đòn thù với chúng tôi thế nào đây?
* * *
Một buổi sáng đầu tháng Tư, nơi tôi tỵ nạn đã hơn ba mươi năm, nắng vàng rực rỡ chan hoà trên miền Nam California. Tôi đi giữa đại lộ Bolsa (có tên Việt: Đại Lộ Trần Hưng Đạo) mà nhớ đến những ngày tháng cũ khi chiến trường Việt Nam sôi sục vào thời điểm 1975. Chiến tranh đã tàn từ lâu. Tuy nhiên những ám ảnh của ngày tháng u buồn năm xưa vẫn theo đuổi tôi suốt một thời gian dài gần nửa thế kỷ; suốt một quãng đường dài gần nửa vòng trái đất.
Tôi đã sống sót từ trại tù Cộng sản ở miền Bắc Việt Nam trở về. Để rồi mười lăm năm sau, từ một đất nước mất cả độc lập, dân chủ lẫn tự do, tôi được đến tỵ nạn ở một xứ sở ấm no hạnh phúc, tự do và nhân ái. Xứ sở ấy cách xa cách quê hương cũ của tôi một Thái Bình Dương bao la bát ngát. Tôi đã nhận nơi này làm quê hương thứ hai, với tất cả sự cảm mến và biết ơn chân thành…
Khi tôi đậu xe trước khu chợ đông đảo khách hàng người Việt trên đường Bolsa, bỗng thấy một người hát rong ôm đàn, hát một ca khúc mà từ lâu tôi tưởng chừng đã quên . Ca sĩ hát rong là một thanh niên gốc Việt trẻ tuổi, đứng bên chiếc xe hơi đã cũ, trên mui có một loa thùng lớn. Tay anh cầm chiếc micro và say sưa hát bài Một Mai Giã Từ Vũ Khí của cố nhạc sĩ Nhật Ngân.
Tiếng hát người ca sĩ trẻ đầy cảm xúc, vang vang trong khu đậu xe vắng vẻ vào buổi sớm tinh sương, giữa lòng phố chính khu Little Sài Gòn. Tôi im lặng đứng nghe, lòng rưng rưng nức nở theo tiếng ca trầm bổng sâu lắng của anh:
Rồi có một ngày, sẽ một ngày chinh chiến tàn
Anh chẳng còn chi, chẳng còn chi
Ngoài con tim héo em ơi
Xin trả lại đây, bỏ lại đây
Thép gai giăng với lũy hào sâu
Lỗ châu mai với những địa lôi
Ðã bao phen máu anh tuôn, cho còn lại đến mãi bây giờ…
Chàng trai trẻ kia, khi cuộc chiến đã tàn, có lẽ hãy còn bé lắm.
Nhưng bố anh, người chiến sĩ can trường của những ngày cuộc chiến sôi sục trước năm 1975, đã nằm xuống khi chiến cuộc chưa tàn! Máu ông đã tuôn rơi, với ước mơ về “một ngày chinh chiến tàn”. Để rồi khi tiếng súng ngưng ngoài chiến trận, đất nước thống nhất, máu người dân lại tiếp tục tuôn rơi trước mũi súng đàn áp bạo tàn của “chính quyền cách mạng”! Và rồi hàng triệu người đã tìm cách bỏ nước ra đi, kể cả gia đình chàng ca sĩ trẻ này!
Tiếng hát của chàng ca sĩ hát rong gợi lại trong tôi vết thương lòng năm mươi năm chưa hết rỉ máu. Tôi bước đến bên anh ta để ngỏ lời cám ơn và muốn nhắn nhủ cho các bạn cùng thế hệ với anh.
“Hãy hát lên đi, hát nữa lên đi, hỡi những chàng trai đất Việt. Hát lên đi để xoá tan nỗi u hoài, đớn đau của ngày Sài gòn sụp đổ. Hát lên đi để xua đi những tăm tối nơi quê nhà , để thắp lên ánh sáng huy hoàng cho đất nước Việt trong tương lai. Nơi đó sẽ không còn độc tài tham nhũng, không còn gông cùm đấu tố, không còn áp bức bạo tàn”…
Tam Bách Đinh Bá Tâm, ĐS12
No comments:
Post a Comment