Thursday, April 23, 2026

Loạt bài Câu Chuyện Tháng Tư

Anh Huỳnh Công Ân từ Montréal, Canada viết một quyển hồi ký tựa là Từ Sài Gòn Tới Montreal: Theo Vận Nước Nổi Trôi. Dưới đây là một trích đoạn mà chúng tôi giới thiệu lại. Merci.

 Ký Ức Từ Quận 4

Điều xa xôi nhất trong quá khứ mà tôi còn nhớ là trận hỏa hoạn tại chợ Cầu Cống, quận 6 (Sau này là quận 4), Sài Gòn vào năm 1948, tức là khi tôi mới có 4 tuổi.

… Đám cháy ấy xảy ra ban đêm và vì đa số nhà cửa lúc đó lợp bằng lá, nên lửa hoành hành dữ dội. May là nhà tôi ở trong hẻm phía bên này của đường Matelot Manuel (Tôn Đản ngày nay) nên chỉ sợ tàn lửa bay sang gây cháy mà thôi. Ba má tôi dọn đồ đạc trong nhà ra sân banh phía sau hãng bóng đèn Khánh Hội để tránh lửa. Đêm đó, vì quá sợ bóng đêm và cảnh tượng hỗn loạn nên tôi đã khóc to, mãi đến khi đám cháy được dập tắt.

Một ký ức gần hơn của tôi, là tấm lịch có hình một người đẹp nào đó vào đầu năm Tân Mão 1951, treo ở một tiệm giặt ủi gần nhà. Chủ tiệm là một người miền Bắc. Vào thời buổi đó, vùng chợ Cầu Cống có một số người Bắc và họ thường hành nghề thợ may, thợ giặt ủi hay thợ hớt tóc. Họ được người dân trong vùng gọi là phó may, phó giặt hay phó cạo. Ba tôi là người miền Nam duy nhất làm nghề may tại đây.

Cạnh nhà tôi, phía bên phải là nhà họa sĩ Chí Bửu. Trong vườn nhà ông bày la liệt các bức tranh mà đa số là chân dung các thiếu nữ - Có cái nằm trên giá, có cái để dưới đất và dựa vách. Thời đó, kỹ thuật nhiếp ảnh còn sơ khai, để phóng to các ảnh chân dung người ta thường nhờ họa sĩ vẽ lớn lên. Nhờ ở cạnh nhà họa sĩ Chí Bửu, tôi học được cách kẻ ô vuông lên ảnh để phóng to hình.

Bên trái là nhà một bà cụ người Bắc bán vài thứ linh tinh trước cửa. Con bà là ông phó cạo có tiệm hớt tóc nằm phía sâu bên trong hẻm. Ông này thường thích gọi bất cứ cô gái nào mình thấy cũng là “ái nữ” cả. Vợ ông, bà phó thường giúp đỡ má tôi khi bà bệnh hay đi sanh các em tôi. Bà có một đứa con gái duy nhất, thường gọi là cái Hải mà bà thường đùa sẽ gả cho thằng em thứ tư của tôi khi chúng lớn lên. Ông phó sau này mắc bệnh điên, bỏ nhà đi lang thang. Có người nói gặp ông ăn xin ở bắc Mỹ Thuận. Cuối cùng ông mất tích luôn, không biết sống chết ra sao.

Phia sau nhà tôi là nhà ông Năm Bằng. Ông này không biết làm việc cho nhà nước Pháp hay là tay chân của Bảy Viễn (Lãnh tụ Bình Xuyên) mà có vẻ hống hách lắm. Ông thường chửi rủa gia đình tôi mỗi khi ai đó gây tiếng động. Ba tôi là người hiền lành và cô thế, nên luôn luôn nhẫn nhục chịu đựng.

Đối diện nhà tôi là nhà ông Tư thợ bạc, một căn nhà có bề ngang rộng bằng bốn, năm căn nhập lại. Bữa trưa, khi ông ngủ, đứa trẻ nào trong xóm mà làm ồn thì bị ông quát mắng dữ dội. Trẻ nít trong xóm, ai cũng sợ ông ta. Con ông ta là chú Hai Phiến và cháu ông ta là bác Tư Cọc thì lại rất hiền lành. Gia đình ông Tư sống bằng nghề thủ công, làm trang sức giả. Sau này khi ông ngoại tôi từ Trà Vinh lên Sài Gòn trị bệnh lao, má tôi thuê một căn của ông Tư để ông ngoại tôi ở, nhằm tránh lây nhiễm cho chúng tôi.

Đầu hẻm, phía ông Tư là tiệm chạp-phô của một gia đình người Tàu mà mọi người gọi là tiệm “má con Siêu”. Tại đó, người ta có thể mua đủ thứ cần thiết trong nhà từ thực phẩm đến đồ dùng. Con gái lớn là con Siêu, con trai lớn là thằng Lẹo. Em trai của má con Siêu là chú Hai Nện, sau có gia đình, mua nhà ở đầu chợ Cầu Cống.

Kế tiệm má con Siêu, ở mặt đường Matelot Manuel là một tiệm thuốc Bắc cũng của người Tàu. Gia đình này vẫn còn sống tại đây đến ngày nay nhưng đã chuyển nghề từ bán thuốc Bắc sang bán bánh mì và bây giờ là bán tạp hóa. Nghe nói, trong gia đình này có một người con gái tự tử vì tình.

Cũng ngoài mặt đường, hướng xuống bến đò, từ tiệm thuốc Bắc đến cống - Khu này được gọi là “xóm cây Keo” - là nhà ông bán báo cụt tay, nhà ông Hộ Lắm có 2 cô con gái làm nữ trợ tá xã hội trong quân đội Pháp và ông Sáu Xuyến là cha của trùm du đãng Phước đen.

Giữa tiệm má con Siêu và nhà ông Tư là nhà bà Lào, người Bắc bán xe bánh mì trước cửa, có thằng con tên Trừ và nhà bà Thầy chuyên lên đồng bóng.

Đầu hẻm phía bên trái, ở mặt đường là một tiệm cà-phê. Nơi đó, ông chủ tiệm có một cái máy hát đĩa mà mỗi khi ông mở cải lương hay vọng cổ thì lối xóm hay kéo tới đứng phía ngoài để nghe. Kế tiệm cà-phê đó là mặt tiền nhà ông Năm Bằng, tiếp theo là nhà của bác Tám Tân, cũng theo Bình Xuyên. Tôi thường chơi với thằng A, con của bác Tám. Có lần, tôi lấy một miếng ván nhờ nó cưa dùm một cây súng gỗ để bắn pháo. Tôi mải chỉ cho nó cưa, suýt chút nữa nó cưa đứt cả ngón tay trỏ của tôi. Hôm đó tôi sợ mất vía vì máu ra quá nhiều.

Kế tiệm giặt ủi là nhà bác Tư Nhồng, làm việc ở bến tàu. Nhà bác có cái sân phía trước được rào kỹ vì bác có nuôi một con berger to. Bên cạnh nhà bác là chùa Tịnh Độ Cư Sĩ mà người ta gọi theo thứ của ông từ là chùa Ông Ba. Chùa có một xe cam-nhông nhỏ, dùng để chở lá cây về làm thuốc phát không cho bá tánh.

Đi sâu vào trong hẻm có tiệm hút á phiện của ông Năm Sú. Ông này có một đứa con gái lớn tuổi hơn tôi, tên là Muối, học chung với tôi ở trường Cao Văn. Nhà ông ở cạnh trạm y tế. Kế đó là ông Sáu Tiếu, ba của chú Hai A. Nhà ông trên một miếng đất rộng được rào kẽm, trong đó có một cái ao thật lớn thả rất nhiều cá mà ông nuôi chúng bằng bánh Tây. Tôi rất thích đứng ngoài rào nhìn cảnh cá trồi lên đớp bánh. Thích hơn nữa là tôi đợi đến mùa Vu Lan, ông Sáu cúng cô hồn rất lớn. Ông cho cắm cờ giấy, có dán một đồng bạc quanh hàng rào. Đứa nào đến sớm giữ một cây cờ, đợi đến khi ông cúng xong cho giật cờ thì nó hưởng được cây cờ đó để chơi và một đồng bạc để xài. Tôi nhớ lúc đó mỗi ngày đi học 2 buổi: Buổi sáng tôi được má cho 5 cắc, buổi chiều 3 cắc.

Từ nhà ông Sáu Tiếu, cách con hẻm nhỏ là nhà ông thợ hàn. Ông này có một người em trai từng lẻn vào nhà tôi ban đêm để ăn trộm và tôi đã trông thấy mặt. Kế nhà ông thợ hàn ấy là nhà thầy Ba thư ký một hãng buôn có thằng con trai tên Nho, nhỏ tuổi hơn tôi và sau 75 cũng bị bắt đi học tập cải tạo như tôi. Bên hông nhà ông Tư thợ bạc là một hẻm cụt rất nhỏ, chỉ vừa đủ một người đi, giữa hẻm là nhà bác Sáu Cải làm mật thám cho Pháp, cuối hẻm là bác Tám Lé có con gái lớn là chị Marie, con trai kế là thằng René mà chúng tôi thường gọi là chị Ri và thằng Nê.

Bên kia hẻm là một gia đình người Bắc mà người chủ gia đình là lính thủy của Pháp. Năm 1956 cả nhà ấy đi về Pháp, để nhà lại cho người em tên là chú Hai Nha. Kế bên là nhà ông Sĩ, người Bắc chuyên bán guốc. Lại qua một con hẻm khác lớn hơn là tiệm chạp-phô của chú Hùng, người Tàu. Chú này sau bị cùi, nhưng không hiểu sao vẫn được con bảo lãnh sang Mỹ. Rồi đến tiệm cà-phê của ông Bảy Duồn, tay chân của Bình Xuyên. Những nhà kế tiếp là nhà thằng Voi, nhà bà Bảy Huê Kỳ mà ông chồng có xe chạy đường Phú Xuân.

Mồng Một tết năm Quý Tỵ, 1953, một đám cháy lớn gần chợ Xóm Chiếu thiêu rụi hơn 3.000 căn nhà. Hôm đó, nhà tôi dọn đồ đạc sang tỵ nạn ở sân nhà ông Ba Lầu bên kia đường Matelot Manuel.

Tôi học tiểu học ở trường Cao Văn (Sau đổi thành Công Danh) mà ông đốc cùng quê với má tôi ở Trà Vinh. Trường này ở trên đường Matelot Manuel, gần đường Jean Eudel.

Tôi còn nhớ mùa Hè năm 1954, tôi vừa học xong lớp nhì để chuẩn bị niên học tới lên lớp nhất, lần đầu tiên tôi bàn chuyện chính trị lúc 10 tuổi với đám trẻ nít trong xóm trước cửa chùa ông Ba về hiệp định Genève, khi được biết ngày 20/7 sẽ là ngày các bên thỏa thuận hạn chót để ký kết. Tháng 3/1955, công an xung phong Bình Xuyên đụng độ với quân đội quốc gia, gia đình chúng tôi di tản sang nhà cô tôi ở bên đường Mac Mahon, sau là đường Công Lý, Phú Nhuận. Cũng năm 1955, tôi thi đậu bằng Tiểu Học. Hôm xem kết quả ở trường tiểu học Vĩnh Hội, khi thấy tên mình không bị gạch đỏ, tôi mừng quá, đội mưa chạy về báo tin vui cho gia đình.

Cũng nên ghi lại một kỷ niệm: Khoảng 9 hay 10 tuổi gì đó tôi từng bị Tây bắt, không phải vì là thiếu nhi anh hùng tham gia kháng Pháp mà chỉ vì vi phạm giới nghiêm. Đêm đó tôi lén nhà đi với thằng bạn lối xóm tên Voi ra chỗ nhà thương Mụ Điếc (Nhà bảo sanh Đại Đức) ở mặt tiền đường Matelot Manuel để bắt dế cơm. Bất ngờ, tên biện Tây mặt đỏ nấp ở hẻm Ba Ta ngoắc vô, bắt lên xe xích-lô chở về bốt. Họ để chúng tôi nằm ngủ trên sàn gạch trong văn phòng, cho đến khi bác Sáu Cải và ba tôi đến lãnh về lúc nửa đêm.

Quận 4 là quận nghèo nhất của Sài Gòn, thời đó chỉ có những nhà mặt đường lớn mới có điện. Nhà tôi cũng như các nhà khác ở trong hẻm phải xài đèn dầu. Lúc đó, quận 4 còn nhiều đồng ruộng trồng lúa, còn khu dân cư thì nhiều ao, vũng nên về đêm muỗi rất nhiều. Tôi còn nhớ mỗi tối tôi chơi trò dùng miệng kêu u u để muỗi bu lại, rồi dùng hai bàn tay đập vào nhau để giết muỗi, mỗi lần như vậy lòng hai bàn tay tôi đầy xác muỗi và máu tươi.

Nhà tôi là tiệm may, mỗi năm gần Tết khách đặt hàng nhiều nên phải thức đêm may cho kịp. Những đêm đó, ba tôi cho đốt đèn măng-xông để mấy chú thợ cỏ đủ ánh sáng làm việc. Đó là những lúc tôi vui nhất vì được thức khuya chơi.

Những buổi trưa Hè được nghỉ học, tôi trốn ngủ trưa theo các bạn đi vô ruộng phía trong chợ Cầu Cống (Nay thuộc phường 14) hay phía hẻm 122 đường Tôn Đản ngày nay, để bắt cào cào hay cá lia thia. Có khi tôi đi xem phim ở rạp Nam Tiến, đường Bến Vân Đồn ngày nay, gần nhà thờ cầu Ông Lãnh. Những phim tôi thích nhất lúc đó là: Tarzan, Zorro, Superman, cao bồi. Khán giả đa số là con nít nên mỗi lần Tarzan được con khỉ báo tin nàng Jane lâm nạn, đu dây đi giải cứu người yêu; hay Zorro tuốt kiếm đuổi theo quân lính của tên lãnh chúa; hoặc anh ký giả đeo kính cận thay bộ đồ bay có chữ S trước ngực; rồi chàng cao bồi phi ngựa nghênh chiến với mọi da đỏ thì chúng tôi vỗ tay rần rần như để hoan hô những người hùng trên màn bạc. Những khán giả nhỏ tuổi này hồi ấy dễ dãi chấp nhận những khuyết điểm của rạp như chỉ có một máy chiếu, một phim có thể gồm 2 hay 3 cuộn nên hết một cuộn thì rạp lại bật đèn sáng để thay cuộn kế tiếp. Hoặc rạp rất khai mùi nước tiểu, ghế có nhiều rệp. Tệ nhất là có một thằng câm, chắc do chủ rạp dung túng, khi bọn trẻ chen lấn mua vé thì nó đánh đập, khi bọn trẻ vào rạp thì bị nó dọa nạt đuổi không cho ngồi. Tôi cũng là một nạn nhân của nó. Nhưng vì mê coi phim và mê những thần tượng điện ảnh, nên tôi đành nhẫn nhục chịu đựng.

Lúc nhỏ, tôi kén ăn nên thân hình ốm nhách. Tuy nhiên, tôi cũng đua đòi chúng bạn đi đá banh ở sân cát thuộc Kho 11. Nhưng tôi đá dở quá nên thường bị bạn bè đuổi xuống giữ gôn. Tôi còn trốn nhà đi tắm sông ở Bến Súc. Tắm xong, tôi ngồi phơi nắng cho tóc khô mới dám về nhà.

Sau vụ hỏa hoạn Tết 1953, chính quyền phóng đường, biến con hẻm nhà tôi thành đường nối thẳng tới đường Hoàng Diệu và đặt tên là Đỗ Thành Nhân. Con hẻm bên chợ Cầu Cống là đường Đỗ Thành Nhân nối dài. Bấy giờ, ông Ngô Đình Diệm đã lên nắm chính quyền nên ông cho đổi tên các con đường tên Tây sang tên Việt. Đường Matelot Manuel thành đường Tôn Đản, đường Jean Eudel thành đường Trịnh Minh Thế, tên một ông tướng Cao Đài về quy thuận với ông Diệm, bị trúng đạn chết ở cầu Lăng Tô tức cầu Tân Thuận, ở cuối đường Jean Eudel.

Nhà cửa trong khu xóm tôi được cất lại khang trang hơn, nhưng đa số cũng chi là vách ván, mái tôn. Nhà tôi cũng cất lại và có một cái gác gỗ. Trên đó, buổi trưa nóng như một cái lò lửa. Tiệm may của ba tôi từ trước đến nay chưa có tên nên sau khi cất lại nhà, ông cho vẽ bảng hiệu, lấy tên là Huỳnh Tân. Khi hẻm nhà tôi trở thành đường thì một số người bán nhà đi chỗ khác và một số người mới đến. Họa sĩ Chí Bửu bán nhà cho một người miền Bắc làm bồi cho nhà hàng Continental bên quận Nhất. Có một người gốc ở Thủ Đức đến thuê căn dưới nhà làm tiệm vàng, sau này ông ta mua lại căn nhà của bà Thầy phía đối diện, cất lên tiệm vàng Kim Phát. Còn nhà bà Lào thì bán lại cho má con Siêu. Nhà ông Tư thợ bạc chia nhiều căn bán cho các tiệm vàng Hữu Tín và Kim Trang. Nhà bà cụ bên trái nhà tôi cho thuê căn dưới, bác Hai Hè làm tiệm hớt tóc một bên và chú Ba sửa đồng hồ một bên. Tiệm cà-phê đầu đường bán cho bà mẹ của chú Tư Kim Trang làm tiệm vàng Kim Hoa.

Mùa Hè 1955, sau khi đậu bằng tiểu học tôi được cha mẹ dẫn về quê nội, sinh quán của tôi: Ấp Bến Đồng Sổ, quận Bến Cát, tỉnh Thủ Dầu Một bằng tuyến xe lửa Sài Gòn Lộc Ninh. Chỉ có bằng tiểu học mà khi tôi về đến quê, mọi người nhìn tôi như một ông nghè, ông cống vinh quy bái tổ. Ở Sài Gòn từ nhỏ nên ở quê có mấy ngày, tôi đã nhớ cuộc sống đô thành vui nhộn và đòi ba má tôi đưa về Sài Gòn.

Cũng như bao đứa trẻ khác cùng lứa tuổi, tôi cũng tham gia nhiều trò chơi của tuổi thơ như bắn bi, tạt lon, đánh đáo. Không có tiền nhưng chúng tôi cũng đánh bài ăn nắp chai, bao thuốc. Tôi thường đi bộ ra tận cột cờ Thủ Ngữ, nơi có nhà hàng Tour D'Argent (Ngân Đình) mà thực khách thời đó toàn là Tây nên họ uống những loại rượu đắt tiền và hiếm để tôi lượm được những nắp chai lạ, được chúng bạn định ra mệnh giá cao. Tôi cũng tham gia nhiều trận xung đột giữa xóm tôi với các xóm khác. Xóm tôi được gọi là xóm Hòa Bình vì có rạp hát Hòa Bình của ông Chín Độ. Chúng tôi thường xáp trận bắn nhau bằng dây thun với các xóm chợ Cầu Cống, xóm Cây Bàng hay xóm Ba Ta.

Tôi còn nhớ, phía bên kia đường đối diện nhà tôi, đi về hướng chợ Xóm Chiếu có một cái cổng chào ỏ đầu con hẻm mang tấm bảng Hòa Hiệp Tự. Trong hẻm đó có một ngôi chùa, nghe nói do ông Chín Độ, hình như làm cặp-rằng (Đốc công) ở bến tàu, nhà ở trong chợ Cầu Cống, xây nên. Sau này, ông cất thêm phía trước chùa một rạp hát để mỗi năm, đến mùa lễ chùa các gánh hát bội đến hát. Những đêm chùa có hát bội, tôi liều mạng trốn đi xem dù chỉ đứng ngoài xem qua khoảng hở giữa hai người lớn. Tối về nhà gọi mở cửa thì ba tôi cầm sẵn cây roi ra, quất cho tôi một trận đòn nên thân. Về sau, thấy để rạp hát trống khi không có hội lễ chùa thì quá phí, ông Chín Độ đặt tên Hòa Bình cho rạp và cho các đoàn cải lương nhỏ thuê để hát. Nếu không có đoàn nào thuê, ông cho chiếu phim bán vé. Nhưng phim ở rạp Hòa Bình cũ và không hay, nên tôi thích đi xem phim ở rạp Nam Tiến hơn. Ông Chín Độ có hai người con trai lớn tên Răng (Jean) và Tròn. Bọn con nít chúng tôi rất ngưỡng mộ hai người này, họ có vẻ công tử với cách ăn mặc chải chuốt và xài tiền hào phóng.

Trong chợ Cầu Cống có ông Ba Cao chuyên tổ chức sòng tài xỉu, nhất là vào các dịp tết. Các người có máu cờ bạc đều sạch túi vì sòng tài xỉu này. Có nhiều bà nội trợ đi ngang qua đã gửi trọn số tiền chợ vô đó để về nhà chịu cho chồng mắng mỏ. Tôi được nghe đám tổ chức đánh bạc này gian lận bằng cách dán bằng keo một sợi chỉ nhỏ vào một trong ba hột xí ngầu, để đầu dây ló ra ngoài chén đặt hột. Khi mọi người đã đặt xong, người lắc hột nhìn 2 cửa đánh xem bên nào đặt ít, bên nào đặt nhiều đồng thời hô to: "Tay" (tức lấy tay ra không đặt nữa để nhà cái dở chén). Khi đó, nếu người chơi đặt bên xỉu nhiều thì người lắc sẽ kéo dây để có một mặt lục hiện ra. Như vậy chỉ có 3 khả năng ra xỉu nếu hai hột thứ nhất và thứ hai lần lượt ra 1-1, 1-2 và 2-1, còn lại 3 khả năng là ra tài, hầu như chắc chắn nhà cái sẽ lời. Ngược lại nếu những người chơi đặt bên tài nhiều, người lắc sẽ kéo dây cho một mặt nhất hiện ra. Thời đó trong toán học chưa có môn xác xuất và phần tôi đến mười năm sau mới học môn đó trên đại học. Nhưng nhờ chú ý lần nào ra xỉu đều có mặt nhất và ra tài đều có mặt lục cũng như luôn luôn cửa đặt ít tiền đều thắng, nên tôi canh me đặt tiền vào phút chót bên đặt ít tiền. Tôi thắng liên tiếp vài bàn thì có người đến bên tôi nói: "Ê thằng nhóc, mày ăn bao nhiêu đủ rồi, đi chỗ khác chơi nếu không tao lấy lại hết!". Những Casino hay những trò xổ số ngày nay trên thế giới cũng vận hành theo nguyên tắc gian lận đó nhưng tinh vi hơn nhờ sự phát triển của điện tử. Ai tìm được kẽ hở của trò chơi, thắng được họ thì bị cấm cửa không cho chơi nữa. Ai tin vào sự may rủi thì máu say mê cờ bạc sẽ đưa họ đén chỗ bần cùng. Cũng nói thêm, hai chú cháu Bảy Xi và Năm Cam đều xuất thân từ lò Ba Cao.

Cũng trong chợ Cầu Cống có một nhân vật nổi tiếng khác là ông Năm Phương. Ông này có cái bụng to như bụng ông Địa và thường ngồi trước cửa nhà chọc ghẹo các cô gái đi ngang. Ai chỉ chỏ và cười nhạo cái bụng bự của ông thì bị ông chửi mắng dữ dội.

Còn một số nhân vật nổi tiếng ở khu này và cả quận 4 là các ông Ba Lầu, Sáu Tùng, Bảy Duồn. Nghe nói họ là tay chân thân tín của Bảy Viễn, rất giàu có nhờ nắm những hoạt động ở bến tàu. Dãy nhà lầu của họ ở mặt tiền đường Tôn Đản, gần đầu chợ Cầu Cống với tường rào chung quanh, ngạo nghễ như dinh thự của các quan lớn. Ông Ba Lầu còn làm chủ công ty khai quan thuế Triệu Tiết gần ngã ba Tôn Đản và Trịnh Minh Thế.

Từ khu nhà lầu của ông Ba Lầu, qua đầu hẻm Ba Ta đến trường tiểu học Cao Văn là một dãy kho hàng có tên kho Ba Ta hay “kho cộng sản” vì trước đó chính quyền Pháp dùng nó để nhốt tù Việt Minh. Tôi còn nhớ những đêm kinh hoàng khi bọn Tây gõ cửa từng nhà trong giờ giới nghiêm để bắt hết đàn ông trong nhà ra ngồi xếp hàng trước kho đó. Ba tôi và cậu tôi cũng bị dẫn đi trong nỗi sợ hãi, lo âu của má tôi và tôi. Ra tới kho, Tây dẫn một người bị trùm bao bố từ đầu đến chân, chỉ khoét hai lỗ ở hai con mắt đến trước từng người đang ngồi chờ. Hễ người bao bố gật đầu thì người bị nhận mặt được dẫn ngồi riêng ra. Số phận người đó đã được định đoạt. May mắn lần nào ba tôi và cậu tôi cũng được thả về an toàn.

Lúc nhỏ, tôi vui nhất là hôm nào được ba má tôi dẫn anh em tôi qua chợ Cũ ăn cơm thố và đi xem chớp bóng hoặc má tôi dẫn tôi đi xem cải lương tại rạp Nguyễn Văn Hảo, đường Trần Hưng Đạo. Má tôi thích xem đoàn Hoa Sen của ông bầu Bảy Cao với những tuồng như Đoàn Chim Sắt, Mộng Hòa Bình... có xen kẽ những màn chớp bóng bắn súng đùng đùng. Có lần ba tôi và bác tôi dẫn tôi đi xem đoàn Thanh Minh ở rạp Thành Xương, một tuồng nào đó có cô đào nhí Thanh Nga đóng. Cô đào Thanh Nga lớn hơn tôi 2 tuổi. Gần Tết, ba tôi dẫn tôi và thằng em kế đi mua giày. Bàn chân nó rất đặc biệt, chiều dài thì ngắn nhưng mu bàn chân lại cao nên không thử vừa đôi nào cả dù đi khắp các tiệm ở quận 4 và quận 1. Cuối cùng, ba tôi phải cho em tôi đo đặt theo ni như giày người lớn.

Khi tôi lên 10 tuổi thì tôi bắt đầu đi chơi xa, Sở Thú hay vườn Tao Đàn. Tôi đến Sở Thú không chỉ đi xem những loài thú hoang dã mà còn bẻ lén lá Thuộc bài để đem về nhét trong tập, như vậy tôi sẽ học bài mau thuộc. Ở vườn Tao Đàn, tôi đã trông thấy nghệ sĩ Trần Văn Trạch đang hát nhạc bằng tiếng Pháp cho khán giả ngồi phía dưới, toàn là ông Tây, bà Đầm trong hội Kỵ Mã.

Một người chị bà con tôi ở Trà Vinh được gia đình gửi lên nhà tôi học, mà tôi gọi là chế Khỏe. Chị học cùng lớp với tôi ở trường Cao Văn, chung với con gái của ông thầy thuốc Nam Võ Tấn Phước là Cẩm Hồng, nhà bên cạnh nhà bảo sanh Con Cò, gần ngã ba Tôn Đản và Trịnh Minh Thế. Hồi nhỏ tôi rất nhát gái, mỗi lần Cẩm Hồng đến chơi với chế Khỏe, tôi đều trốn lên gác. Ở trong lớp thầy Năm, ông đốc trường Cao Văn thường phạt tôi ngồi giữa 2 đứa con gái mỗi khi tôi phạm lỗi. Lúc đó, tôi ngồi im không dám nhúc nhích. Còn nữa, sau này cậu Tư tôi làm thầy giáo ở trường này, mỗi trưa thường bắt tôi cởi quần áo để ông tắm cho tôi trước mắt các bạn học, có cả con gái!





No comments:

Blog Archive