“LÁ RỤNG VỀ CỘI” …
… Mẹ tôi thường nói lúc cuối khi kể chuyện cho tôi nghe trước khi ngủ với câu cuối “Mai mốt mi lớn rồi tau về Huế lại, ở làng có lăng ôn mệ mi!”. Câu này tôi gần như thuộc lòng và cũng không quên cải lại “Nhưng con ở Sài Gòn, con về Huế chi, mạ về đó chi?!”. Lúc đó, mẹ con tôi mỗi người một nơi, là chuyện “không thể chấp nhận được”! Mẹ tôi chỉ cười và nói “Ừ thì lúc đó vợ con mi ở với mi, mi lo chi! Chứ mi bắt tau đeo theo cục nợ ni hoài rứa?!”. Tôi bực mình với chữ “cục nợ” và thiếp đi trong làn gió mẹ tôi quạt.
Mẹ tôi theo ba tôi rời Huế vào Sài Gòn năm 1960 khi ba tôi “bị” thuyên chuyển để làm một dự án gì đó của bộ tài chính trong Đệ Nhất Cộng Hoà. Mẹ tôi kể đúng ra mẹ tôi không đồng ý đi, nơi mẹ tôi sống hơn 30 năm và sinh ra 3 đứa con, nơi “chôn nhau cắt rốn” với lăng ôn mệ, với tất cả những gì thân thương. Nhưng vì nể phục ông Diệm, với niềm tin nào đó và với một sự hăng hái, ba tôi cũng “dụ” được mẹ tôi mặc dầu ba tôi cũng vương vấn với cố đô.
Tất cả những gì về Huế, từ những đêm lạnh mùa mưa, ngoài đồng án, cái lạnh cắt da khi sáng sớm vo gạo nấu cơm cho người cắt lúa, tế Nam Giao, mỗi lần ôn đi triều, …. và đến cả những cảnh đói năm Ất Dậu, tôi được mẹ kể vào mỗi tối trước khi ngủ. Và dĩ nhiên tất cả những món ăn, bánh mứt Huế mẹ tôi đều nấu và làm ở nhà mỗi ngày và dịp tết hay kỵ (giỗ), đến nỗi tôi chỉ biết món canh chua miền nam khi tôi nằm chờ vượt biên ở miền tây với anh kế một mình (tôi rất tiếc phải công nhận canh chua miền nam ngon hơn rất nhiều và từ đó tôi chỉ thích ăn canh chua miền tây!). Nhưng mẹ tôi cũng mừng là không ở lại Huế sau tết Mậu Thân, khi tôi gần tròn một tuổi, vì không biết chuyện gì sẽ xảy ra cho ba tôi, kẻ thù trong mắt những người đồ tể, của “đàn con nay lớn khôn, mang gươm dao vào xóm làng” để lại “cầu Tràng Tiền bạc màu loang dòng máu”, (bài Cơn Mê Chiều của nhạc sĩ Nguyên Minh Khôi mà mẹ tôi mỗi lần khóc khi nghe).
Ước vọng trở về Huế của mẹ tôi không thành sau ngày bể dâu năm 1975, khi tất cả giấc mơ, tính toán cho tương lai biến đi, thay vào đó là tuyệt vọng, sống còn và sợ hãi. Ngay cả lăng ôn mệ nội và ngoại tôi cũng bị người thắng cuộc đập phá như mộ anh hai tôi ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Ba mẹ tôi rất buồn và mẹ tôi nói “Thôi về Huế chi, lấy chi mà sống, lăng ôn mệ tụi hắn cũng đã phá rồi, nói chi nhà!”. Tôi lại mừng khi nghe mẹ tôi nói như vậy lúc tôi khoảng 11 tuổi, cái tuổi chưa hiểu hết nỗi lo của người lớn, nhưng đã biết sợ những chuyện không lành xảy ra.
Ngày tôi rải tro ba mẹ và anh hai trên sông Hương sau hơn 30 năm tôi tự an ủi, ít ra tôi cũng thực hiện được một phần ước vọng của mẹ tôi, hay cả của ba và anh hai, mặc dầu khi trở về Huế chỉ còn là tro tàn.
Tôi còn đây nhưng tôi cũng muốn “rụng về cội” về Sài Gòn, về quận 3, về “con đường củ nên thơ” Lê Văn Duyệt.
FB Louis Mishima
No comments:
Post a Comment