Tuesday, August 31, 2021

5 con khỉ và nải chuối


5 con khỉ và nải chuối trên thang

Chuyện kể rằng có 5 con khỉ bị nhốt trong phòng. Giữa phòng có một cái thang và 1 nải chuối đặt trên đỉnh thang. Mỗi khi có một con khỉ muốn trèo lên thang lấy chuối, người ta phun nước lạnh vào những con còn lại làm chúng khó chịu, khổ sở.

Sau một thời gian như vậy, những con bị phun nước tự động hợp sức ngăn cản con khỉ muốn lấy chuối leo lên thang vì chúng không muốn bị phun nước lạnh. Thậm chí, chúng còn tóm lấy con khỉ trèo thang rồi đánh cho một trận.

Lâu dần, không còn con khỉ nào trong số đó có ý định trèo lên thang nữa. Người ta bắt 1 con ra ngoài để thay thế con khác. Nhìn thấy nải chuối và cái thang, con khỉ mới thắc mắc không hiểu tại sao các con kia không trèo và thử leo lên. Tất nhiên bốn con kia xông vào đánh cho một trận. Con khỉ mới không hiểu vì sao bị đánh, tuy nhiên không dám trèo nữa.

Rồi một con nữa trong số 5 con đầu được thay thế. Chú lính mới lại định trèo và bị cả hội đánh tới tấp. Con khỉ vừa vào trước đó cũng tham gia đánh, đơn giản vì thấy bọn kia làm vậy, còn bản thân vẫn không hiểu vì ly' do gì.

Lần lượt 5 chú khỉ ban đầu được thay ra hết.

Bây giờ, 5 con khỉ mới ở trong phòng. Không có con nào từng bị dội nước. Nhưng cũng không con nào dám trèo lên thang. Và cả 5 sẵn sàng đánh nhừ tử bất kỳ con nào khác có ý định đó, mà không hiểu vì ly' do gì.

Có vẻ như trong trường hợp này, một thói quen mới đã được hình thành và cả 5 con khỉ đều tiếp nhận thói quen này như một điều mặc định. Dường như những chú khỉ – tức đối tượng “tiếp nhận” chỉ là người “kế thừa” và chấp nhận sự việc theo kiểu “nó phải như thế”.

Thay vì 5 chú khỉ cùng nhau hiệp lực xô ngã cái thang hoặc cùng giúp sức cho chú khỉ còn lại dễ dàng leo lên thang để lấy được nải chuối, chia đều cho tất cả thì chúng lại tìm cách ngăn cản đồng đội vì nỗi sợ cá nhân. Cuối cùng, chúng luôn sống trong nổi sợ hãi và không được quả chuối nào.

( Tường thuật từ trại súc vật )

Monday, August 30, 2021

Những bữa ăn không thể nào quên

Cuối cùng, tôi về hưu. Số tiền làm việc bấy lâu đủ để hùn với bà vợ mua một mobile home vùng Escondido. Chúng tôi muốn có một chỗ riêng để đón hai đứa cháu nội cùng với ba mẹ nó từ Bắc Mỹ lạnh lẽo trở về, mục đích quây quần bên nhau cho vui cửa vui nhà…

Tôi gọi điện thoại xù diện housing, trong lúc đã đúng thời điểm nhà nước ưu tiên cấp nhà. Tôi từ giã bạn bè vùng East San Diego đông đúc để lên núi ẩn dật, trúng với cảnh các bậc tiền nhân tìm chốn hoang vu ngâm thơ thưởng nguyệt. Ra đi, chân còn bịn rịn, chưa muốn lên xe. Vì hai mươi mấy năm ở đây, tôi đã quen từng căn apartment chật chội, quen tiếng guốc về khuya gõ khắc khoải lên cầu thang một cách vội vàng, quen bài ca vọng cổ Lan và Điệp mỗi đêm ngân vang từ giọng hát xế chiều của bà già lựu đạn mê karaoke ở tầng dưới, quen mấy ông già trời ơi đất hỡi mỗi sáng kéo nhau ra sân hút thuốc, trò chuyện inh ỏi cả chung cư.

Chẳng có ông già nào tỏ vẻ lưu luyến. Chẳng có bà già nào vẫy tay tạ từ. Họ coi chuyện đi và ở của tôi như chuyện thường tình. Như chuyện Sơn Tinh phải lên núi, Thủy Tinh phải về biển. Tôi đành rơm rớm nước mắt ngó ra con lộ một chiều 43. Con lộ một chiều như tình cảm một chiều của tôi – cô đơn và lặng lẽ. Nhưng không. Nếu đi ngược lại, tôi cũng có những kỷ niệm vô vàn. Khi City Height chưa đổi mới, khu này đầy cỏ dại và ổ gà. Các quán của người Trung Đông mọc lên như nấm rừng. Đi ngang qua, mùi trái cây chín thúi bốc lên nồng nặc và chua lét.

Đầu phố, có tiệm bánh mì của người Mễ. Sáng, bánh ra lò. Tối, bánh ra lò. Trùng với những bữa ăn của vợ chồng tôi, nên tôi thường lội bộ ra đây, mang về một túi bánh mì nóng giòn. Vượt qua ngã tư một chút, đối diện với khoảnh đất trống bỏ hoang, là nhà hàng châu Á. Tiệm này nổi tiếng mì thập cẩm. Nước súp rất béo, thơm. Húp vào là ghiền ngay. Và chắc chắn khách sẽ trở lại đều đều để thưởng thức hương vị đặc biệt của nó. Tôi cũng đã đến đây nhiều lần “to go” mì cho vợ khi nàng nhuốm bệnh cảm cúm, hoặc nhõng nhẽo đòi bỏ ăn. Rất tiếc, khi City Height trùng tu, hàng loạt tiệm quán đã bị phá vỡ, thay vào đó là các khu thương mại khang trang, thư viện và ngôi trường ESL bề thế dành cho di dân học Anh ngữ.

Trước khi định cư Mỹ, dù nghèo, những bữa ăn của gia đình tôi thường vui vẻ và thân mật. Vợ tôi làm bếp rất dở. Có lẽ nàng ít tiếp xúc với các món sơn hào hải vị. Quanh năm chỉ lòng vòng kho quẹt, rau luộc… hoặc khá hơn một chút: mắm kho, canh chua, cải xào… Nhưng không khí bữa ăn vui nhộn. Đáng kể là những bữa ăn đoàn tụ với anh chị em, với họ hàng thân thích. Thơ mộng nhất, lúc còn tình nhân, hai đứa thường dẫn nhau vào các quán ăn ở thành phố Mỹ Tho. Bữa ăn chiều rất thịnh soạn. Nào là canh chua cá bông lau, cá kho tộ, tôm lăn bột… Cả hai ăn ít, vì còn dành thì giờ để nói chuyện yêu đương, chuyện nhớ thương, xa cách.

Qua Mỹ, chúng tôi chỉ gặp nhau ở những ngày cuối tuần, hoặc những buổi lễ kỷ niệm, trong các bữa ăn có hẹn trước. Đời sống Mỹ quá cao, nên chi phí rất nhiều. Vợ chồng phải cùng làm. Con cái phải phụ thêm, mới mong trả đủ mọi thứ tiền hàng tháng. Bữa ăn trưa nơi sở làm vỏn vẹn chỉ có nửa tiếng. Mỗi người lủi vào một góc, lặng lẽ ăn vội vã. Bữa ăn chiều, mỗi nhà mỗi cảnh. Có khi vợ chồng đi làm hai ca khác nhau. Lúc vợ ngủ chồng làm. Lúc vợ làm chồng ngủ. Những bữa ăn tẻ nhạt và cô đơn, cứ thế diễn ra.

Tôi chỉ có độc nhất một đứa con trai. Khi qua Mỹ, nó vừa 19 tuổi. Sống với chúng tôi vài tháng, nó ngứa chân chạy theo bè bạn, lò dò sang tiểu bang khác kiếm sống. Cali nắng ấm ngập tràn. Mùa đông không tuyết. Có thể mặc áo ấm đi rong chơi khắp nơi, tìm lại hương vị Đà Lạt mến yêu mà chúng tôi bắt buộc phải rời bỏ. Thằng con lại có ý nghĩ khác. Nó muốn khám phá thêm Bắc Mỹ, muốn trầm mình trong giá lạnh mùa đông, muốn nhìn thấy tuyết chôn vùi trắng xóa một thành phố có tầm vóc của nước Mỹ, muốn đo lường cảm xúc của da thịt khi thời tiết xuống dưới âm độ, muốn để ba mẹ chìm ngập trong nỗi lo, trong nhớ thương bầm dập.

Rồi vài năm sau, nó lại trở về. Nó trở về dắt theo con vợ mới, mua xe mới và mướn một apartment xây dựng hạnh phúc riêng. Ở chưa nóng đít, nó lại ngứa chân dẫn vợ đi Florida lập nghiệp. Florida không chuộng người lạ. Nó đành trở về Bắc Mỹ, dừng chân lần nữa nơi ngoại ô Chicago lạnh lùng. Vợ chồng tôi phải bỏ nơi ở cũ, sang chỗ mới của nó để giữ đồ đạc và chiếc xe mới mua. Thế là chúng tôi phải trả thêm tiền nhà, đóng thêm tiền bảo hiểm.

Bây giờ, tôi đã hưu. Thằng con lại muốn kéo vợ về Cali đoàn tụ. Chúng dắt thêm đứa cháu nội kháu khỉnh. Tuổi già quây quần với cháu cũng là một niềm vui. Đó là lý do tại sao chúng tôi mua mobile home ở vùng Escondido. Khu mobile home vùng núi giống như ngôi chùa không Phật. Chẳng có bóng dáng một người Việt. Chỉ có người Mễ và người Mỹ già sống đìu hiu thầm lặng ở những dãy phía trong. Họ trầm mặc như tu sĩ.

Có điều họ không gõ mõ tụng kinh, không hình tượng, nhang khói. Những người trẻ thì hừng sáng đã lên xe đi làm, tới chạng vạng mới lọ mọ về. Các mảnh đường xẻ dọc xẻ ngang luôn vắng tanh, suốt ngày chỉ có tiếng chim ríu rít trên cây, chỉ có tiếng lá reo vang trước cơn gió lạ, hoặc tiếng hoa nở thầm thì dọc theo lối đi dẫn vào cửa nhà. Buổi trưa, tôi soi bóng tôi trên đường. Cái bóng cô đơn đến tội nghiệp. Tôi dắt bóng đi suốt đoạn đồi dài, rồi suốt đoạn đồi ngang. Cái bóng vẫn là cái bóng. Và tôi cũng chỉ là tôi. Mặc dù bên trong những dãy nhà, chắc chắn, người ta vẫn sinh hoạt gia đình một cách thân thiết.

Cuộc đoàn tụ chan chứa tình thương. Những bữa ăn đầy hải sản. Tiếng cười giòn tan của đứa cháu nội khiến niềm vui tràn lan căn nhà. Kết cuộc, bà nội dành rửa chén. Ông nội tự động bê các thức ăn thừa đổ xuống thùng rác. Hai vợ chồng thằng con ngồi nói chuyện thời sự. Trong khi bên ngoài khu mobile home vẫn vắng tanh bóng người.

Có lẽ đất lành chim đậu. Hay nơi đây là ổ tình của những đôi tình nhân chán cảnh sông hồ, nên chỉ vài năm sau, vợ thằng con cho chào đời một thằng cháu nội kháu khỉnh nữa. Căn nhà thêm tiếng cười. Bà nội lại có thêm việc làm. Ông nội bớt làm thơ để có thì giờ đổ rác và chơi với các cháu. Hai vợ chồng thằng con thoải mái đi làm, ban đêm về chơi karaoke, cả hai đều ít bận tâm đến công việc nhà. Cho cháu ăn, cháu bú, cháu tắm, cháu ỉa… đều do đôi tay nhẫn nhục của bà nội đảm trách. Khi thằng cháu nội út biết bò, rồi biết đi chập chững, mẹ nó bỗng tha về một con chó con, dí vào tay bà nội.

– Mấy đứa nhỏ thích chó. Tụi nó cứ đòi mẹ tìm một con để làm bạn cho đỡ buồn.

Vợ thằng con khúc khích.

– Giờ con tìm được rồi. Giao cho mẹ đó!

Thế là bà nội đảm nhiệm thêm chức nuôi chó. Có nghĩa là: mỗi ngày cho chó ăn, hốt cứt, và tắm rửa. Công việc càng lúc càng nhiều. Việc này đẻ ra việc kia, khiến bà nội làm túi bụi và bực dọc kiếm chuyện gây gổ với ông nội.

Những bữa ăn cũng cạn dần thân mật. Cuối cùng mạnh ai nấy ăn, nhưng dọn dẹp sạch sẽ vẫn là bà nội. Tôi biết phận biết thân, nên tới giờ ăn bới một tộ cơm lưng, gắp vài lát thịt, rồi lẳng lặng vô phòng, khép kín cửa lại. Hai vợ chồng thằng con thích ăn ngon nên thường order thức ăn nhà hàng. Cuối tuần, lúc nào cũng chở con đi ăn hoặc về Santa Ana họp mặt vui chơi với anh chị em bên vợ. Những ngày lễ lớn, người Việt đi làm xa thường về đoàn tụ với cha mẹ. Họ có những bữa ăn rất vui vẻ bên nhau. Không khí gia đình, lúc đó, rất thân mật và đầy yêu thương. Những ngày này, thằng con tôi lại chở vợ con đi tìm nguồn vui khác, bỏ ba mẹ nó ngồi quạnh hiu trong căn nhà dẫy đầy hơi hướm hai đứa cháu nội. Bà nội đi ra đi vô, nhớ cháu, buồn quá.

– Ông chở tui tới nhà bạn tui chơi cho đỡ buồn. Con Vê Ly cứ mời tui hoài, mãi bận giữ cháu nội nên chưa bao giờ tới cho biết nhà nó.

– Bà ơi! Hôm nay là ngày đoàn tụ gia đình của người ta. Bà tới đó, ai tiếp bà? Chẳng lẽ người ta bỏ con cháu để đón mừng bà sao? Bà đừng có mơ…

Thế là chúng tôi lại cự lộn nhau. Rồi mạnh ai nấy về phòng, đóng sầm cửa lại, nghe cô đơn gặm nhấm từng mảng tâm hồn.

Ngày phóng thích con chó là ngày não nề nhất. Chẳng biết bà nội trong lòng có nhẹ nhõm không, vì vừa trút bỏ được gánh nặng. Nhưng riêng tôi thấy tội nghiệp con chó vô cùng. Vợ thằng con kéo nó lên xe, nhưng nó cứ trì lại, lom lom ngó tôi như không muốn chia tay. Vợ thằng con thích nuôi chó, nhưng không bao giờ săn sóc chó. Mỗi năm, con chó chỉ được đưa đến tiệm để cắt lông, gội rửa một lần.

Lúc đó con chó mới được sạch sẽ để vợ thằng con dắt đi biểu diễn vài vòng trên đường phố. Rồi sau đấy, vợ thằng con quên lãng luôn cho đến sang năm. Bà nội lo tất bật với công việc hàng ngày, lo các bữa ăn cho các cháu, lo vườn tược và nhất là luôn đau nhức, mệt mỏi ở tuổi xế chiều thì còn sức lực đâu lo đến con chó. Tôi thương chó, nhưng cũng chỉ biết ngậm ngùi nhìn nó sống cầm tù trong một góc sân, và thầm nghĩ đến phận mình, cũng từng bị cầm tù trong các trại giam hà khắc của cộng sản.

Ước vọng về hưu nhàn hạ của tôi đã tan như mây khói. Chuyện ngâm thơ thưởng nguyệt không thể diễn ra trong sinh khí gia đình như thế này. Hai đứa cháu nội la ó, khóc lóc, lúc đòi ăn, lúc đòi đồ chơi mỗi ngày đã làm điên đầu ông bà nội. Riết rồi, tôi phải tự lo cho tôi, tự độc diễn để có cơ hội sống còn. Bệnh già ập đến chỉ là bệnh đương nhiên. Bệnh mãn tính đi trước mới là điều đáng lo ngại. Hàng ngày phải ực trọn vẹn gần 10 viên thuốc.

Mỗi viên thuốc trị mỗi thứ bệnh. Mỗi thứ bệnh là mỗi nỗi đau riêng, chỉ có người đồng bệnh mới hiểu. Những bữa ăn bắt đầu nhạt dần, nhạt đến nỗi không có gì có thể nhạt hơn. Lúc cảm cúm, khi bật dậy, chỉ thấy nồi cháo trắng bạc phếch. Lúc bụng đói, mò vào bếp, khó tránh khỏi cặp mắt dò xét của bà nội. Bà sợ mất phần của cháu. Bà sợ con trai bà về không đủ món ăn. Rốt cuộc, muốn ăn phải lén lút. Múc gấp vài vá cơm. Gắp đại ít miếng thịt. Rồi lủi nhẹ về phòng, đóng nhanh cửa lại.

Tôi biết bà nội không thích thơ. Nhất là thơ giao lưu với đàn bà. Nhưng thơ không người đọc là thơ chết, thơ đóng băng, thơ để thẫn thờ với chính mình. Tôi đã làm thơ từ thời học trò. Làm thơ trước khi tôi gặp vợ. Trước khi tôi ngồi ăn với nàng những bữa cơm thịnh soạn có canh chua cá bông lau, có cá kho tộ trong những quán ăn sang trọng ở Mỹ Tho. Tôi chợt hiểu câu nói của ông bà già xưa. Một câu nói giản dị, nhưng rất thực tế. Muốn ăn phải lăn vô bếp.

Thế là muốn ăn, tôi phải làm bếp. Phải biết làm cá, làm thịt. Phải biết chiên xào, nêm, nếm. Phải biết dung hòa giữa đường, muối, nước mắm, dầu hào, bột nêm… Tôi nhớ ngày xưa tôi cũng đã từng chui vào bếp. Lúc còn đi học, Má đi Sài Gòn thăm Ba, giao cho tôi coi sóc hai thằng em. Ngày đó, tôi chỉ việc nấu nước cho thật sôi, chan vào mì ăn liền thay canh cho em tôi húp. Muốn ăn mặn thì bắc chảo lên, cho vào vài muỗng nước mắm, vặn lửa nhỏ, dùng đũa quậy cho đến khi sền sệt. Thế là có món kho quẹt. Lớn lên, khi bị cộng sản cầm tù, tôi cũng đã từng nấu bếp, sau khi ngán những lát sắn chua lè dội lên tận cổ họng. Nhưng cũng chỉ là rau dại, nấm rừng, cộng với vài loại củ hằm-bà-lằng-xắn-cấu, trộn chung lại thành một loại thập cẩm đặc biệt của người tù.

Ở Mỹ, không thể chơi kiểu giang hồ như vậy được. Tôi phải vào YouTube học các món ngon. Muốn như vậy, việc đầu tiên là chạy ù ra chợ mua một airfryer để tập dượt. Từ đó về sau, tôi tự đi chợ, tự nấu ăn và tự dọn dẹp cho riêng mình. YouTube đúng là nơi để các ông các bà thi thố nấu ăn. Tôi học được của một chị nhà hàng ở Cần Thơ món cháo cá hấp dẫn. Học của một anh nể vợ món xíu mại thơm lừng. Tôi làm thành công keo dưa leo ngâm nước tương và củ cải ngâm nước mắm. Cả hai món này, khi làm xong, cho vào tủ lạnh dành ăn dài dài. Càng để lâu càng thấm, càng thơm, càng ngon. Ai ai trong gia đình cũng đều thích thú.

Nói đến xíu mại, tôi chợt nhớ Má tôi. Ròng rã gần mười năm sống gần trại lính, Má tôi mở quán cà phê, buổi sáng có bán bánh mì xíu mại cho lính ăn lót dạ. Cái quán nhỏ xíu, chỉ có cái bàn duy nhất để mấy ông lính vây xung quanh. Không đủ chỗ ngồi, có ông phải đứng ăn, hoặc ngồi chồm hổm trước quán, trông rất tội nghiệp. Xíu mại Má tôi làm rất ngon, nhưng rất cực. Tối trước đó, Má tôi phải thức khuya băm thịt cho thật nhuyễn. Tiếng lụp-cụp-lạc-cạc đã đưa tôi vào giấc ngủ đêm đêm một cách nhẹ nhàng, để tờ mờ sáng hôm sau dậy thật sớm, ba chân bốn cẳng chạy đến lò bánh mì, vác đầy một bao nóng giòn về quán. Lúc đó, mùi cà phê và mùi xíu mại đã bốc lên thơm phức cả căn nhà. Má tôi chịu khó như vậy. Đều đặn như vậy. Mới nuôi nổi anh em tôi học hết trung học.

Má tôi lo cho con đến quên cả Má. Má tận tụy với công việc để có miếng ăn manh áo cho con ấm no, an bình trước phong ba cuộc sống. Bởi vậy, tôi không trách vợ tôi. Vợ tôi cũng quên cả nàng, quên cả tôi để lo cho thằng con, cho các cháu nội. Tôi chỉ trách vợ thằng con – một người đàn bà không có trách nhiệm. Sống vô tư như chưa hề có con, có chồng. Cô ta giống một người khách lạ đến trọ trong khách sạn. Chỉ việc tiêu pha, vui sướng. Xong rồi ung dung để lại những bề bộn, rác rến, và những thứ thừa mứa lộn xộn cho bồi phòng. Vợ tôi chính là người bồi phòng bất hạnh đó.

Những bữa ăn trong đời tôi khổ sở như vậy. Dù ở Việt Nam, ở Mỹ, ở chiến trường đẫm máu hay ở chốn ngục tù khỉ ho cò gáy, hoặc ở vùng lao động chó ăn đá gà ăn muối. Kẻ giang hồ như tôi, chắc chắn chẳng bao giờ nghĩ đến điều vật chất đó để buồn rầu. Tôi chỉ nghĩ đến cái tâm, cái phong cách, cái đạo đức của con người. Chẳng lẽ văn minh giúp cho con người bội bạc với nguồn gốc thiêng liêng của mình hay sao? Rồi đây thế giới sẽ đi về đâu, khi chủ nghĩa cá nhân bùng phát, khi thân xác được ca tụng, khi giá trị tinh thần bị hủy hoại hoàn toàn.

Tôi không bao giờ quên những bữa ăn thân tình của Má tôi, dù nó đã đi vào quá khứ, dù nó xa vời, cách đây mấy chục năm về trước. Những bữa ăn đó chỉ là những bữa ăn dân dã, thiếu thốn. Nhưng là những bữa ăn đầy tiếng cười, tràn ngập sức sống yêu thương. Lúc đó, Ba tôi đi làm nuôi cả gia đình. Má ở nhà, nội trợ, chăm sóc đàn con. Thường, Ba tôi về muộn. Vì chỗ làm rất xa, ông phải đạp xe từ ngoại ô vào đến trung tâm thị xã, mỗi ngày. Và buổi trưa, trời nắng gay gắt, Ba phải đạp xe trở về ngoại ô để ăn trưa. Biết thế, Má tôi vẫn đều đặn dành phần ăn cho Ba, rồi lấy lồng bàn đậy kín. Sau đó, Má mới dọn cơm lên chiếc bàn dài, gọi chúng tôi tụ lại ăn uống với nhau. Lúc nào Má cũng nhai nhỏ nhẻ, nhường thức ăn cho các con. Má rất vui khi chúng tôi nô đùa, yêu thương lẫn nhau. Và phần ăn của mỗi đứa, bao giờ cũng ngang nhau, không ai bị Má bỏ quên.

Lúc còn học trung học đệ nhất cấp, mỗi lần nghỉ hè, Má tôi thường đưa tôi lên nhà Cô để học nghề sửa xe hơi. Cô Dượng tôi là một thương gia có tiếng ở Bạc Liêu. Cô giàu nhờ có tiệm sửa xe gần bến xe đò đi lục tỉnh. Bữa cơm nhà cô tôi rất ngon và cũng rất đông. Nhưng cũng có phong thái kẻ trên người dưới một cách đàng hoàng. Hàng chục công nhân ngồi ăn chung với Cô Dượng tôi quanh một chiếc bàn tròn. Người nào vai vế nhỏ nhất thì ngồi gần nồi cơm để sẵn sàng phục vụ cho các người khác. Tuy vậy, người vai vế nhỏ này được đền bù lại bằng cách có quyền ngồi ăn đến sau cùng, cho tới khi nào no bụng thì thôi. Tất cả các món đều có riêng một cái muỗng bên cạnh. Mọi người đều dùng muỗng đó để múc thức ăn, không ai được quyền thọc đũa mình vào thức ăn để gắp. Cách ăn này rất lịch sự và được truyền lại mãi cho đến đời cháu con.

Bây giờ, tôi không có cơ hội duy trì những bữa ăn thân mật, lịch sự và trật tự như thế. Nhưng tôi vẫn nhớ mãi cung cách của Má tôi, của Ba tôi, của Cô Dượng tôi trong những bữa ăn như vậy. Và mỗi lần nhớ lại, tôi thật sự ngậm ngùi, như đã đánh mất một cái gì đó quý báu trong đời sống thường nhật của mình.

Phạm Hồng Ân
Hãy tha thứ cho con 

Tôi không hề biết bố mù chữ, cho tới khi tôi học lớp bốn. Ðó là buổi chiều ngày thứ Sáu, ngày lãnh lương mỗi tuần.

Bình thường sau khi tan sở (lúc đó ngân hàng đã đóng cửa), bố ghé tiệm tạp hóa gần nhà, để đổi cái check ra tiền mặt vì bố cần tiền ngay, nên không thể chờ qua sáng thứ Bảy tới ngân hàng. Thứ Bảy, bố có vô số việc phải làm để kiếm thêm tiền chợ cho mẹ. Bố rất nhanh trí và khéo tay, việc gì bố cũng mày mò làm được. Cuối tuần là bố rất bận, không sửa xe cho người quen, thì cũng cắt cỏ trồng cây ngoài vườn cho mẹ.

Bố là thợ sửa xe rất giỏi, vậy mà không hề biết chữ, dù là tiếng Việt, nói chi đến tiếng Anh.

Bình thường, ghé đổi check xong, bố mới về nhà tắm rửa. Hôm đó không hiểu sao, bố lại về nhà tắm rửa, thay quần áo, rồi tự dưng bảo tôi đi theo, cho ra phố ăn cà rem. Tôi thích chí vỗ tay, chạy vào khoe với mẹ. Mẹ cũng cười, trách yêu:

– Sắp tới giờ cơm rồi, mà còn đi ăn kem. Bố con đi mau mau rồi về.

Bố cười hì hì:– Cây kem nhỏ xíu mà.

Tôi mừng quá, leo lên ngồi chễm chệ phía trước, cạnh ngay chỗ tài xế. Ðây là chỗ của mẹ! Mỗi khi theo bố mẹ đi chợ, tôi phải ngồi phía sau.

Ra khỏi nhà chút xíu là tới tiệm tạp hóa, bố bảo cứ ngồi trong xe, bố ra ngay. Nhưng tôi đang thích chí, nhõng nhẽo đòi đi theo.

Vừa thấy ông chủ tiệm là bố tuôn ra một tràng tiếng Việt, rồi khoe luôn cô con gái cưng. Chắc hai ông thân thiết nhau lắm, vì thấy cách nói chuyện của hai người. Tôi tò tò theo bố tới bàn của cô thu ngân, cô dùng ngón trỏ, chỉ chỗ ký tên đàng sau tấm check. Bố cầm cây bút gạch chéo chữ X, tôi hơi ngạc nhiên, vì bố tên là Trần Sâm mà, nhưng đang háo hức được ăn kem, nên cũng không thắc mắc.

Tôi quên bẵng chuyện bố gạch chữ X vào tờ check, cho tới một hôm lúc bố đi làm, tôi chợt nhớ ra, và hỏi mẹ:

– Bố tên Trần Sâm, mà sao viết chữ X?

Mẹ tôi buồn rầu nói, bố không được đi học, nên không biết chữ, dù là tiếng Việt. Không phải chữ X đâu, gọi là “đánh chữ thập», dành cho những người không biết chữ.

Không biết chữ?

Trẻ con thật là ngây thơ, cứ tưởng biết đi, biết nói là cũng biết viết.

Sau này khi lớn lên, tôi mới biết cuộc đời bố cơ cực như thế nào. Ông bà nội có 11 người con, bố là con cả. Quê bố ở Duyên Hải, một làng chài nghèo nhỏ bé ở phía Nam, ở đó hầu như nhà nào cũng sinh sống bằng nghề chài lưới. Vì nhà đông miệng ăn, nên bố phải đi theo phụ với ông nội lưới cá khi mới 10 tuổi.

Làng quê nghèo không có trường học (nếu có cũng rất xa). Thời gian cứ dần trôi lo chuyện cơm áo, bố lớn lúc nào không hay. Các em của bố cũng không được đi học nhiều, trong số đó có người bị khờ (thiểu năng), không làm gì được, chỉ ngồi ở xó nhà, ngơ ngơ ngác ngác.

Như định mệnh an bài, một buổi tối lang thang ngoài bờ biển, Bố thấy thấp thoáng nhiều bóng người, chạy lại gần, thì ra một nhóm người đang tính vượt biên. Họ nhờ bố khiêng thùng dầu chôn dưới lùm cây ra cái ghe gần đó. Khiêng ra tới nơi, sợ bị lộ, họ ép bố đi luôn.

Thế là bố vượt biên tình cờ, dù nhà rất nghèo, chạy ăn từng bữa.

Bố mẹ gặp nhau trên đất Mỹ, khi cả hai cùng bán hàng “chạy” trên lề đường ở New York. Gọi là hàng chạy, vì toàn đồ giả. Mặt hàng là đồng hồ, túi xách nhái những nhãn hiệu nổi tiếng, để bán cho khách đi đường. Hàng bày trên những tấm bạt nylon đặt ở vỉa hè, hễ thấy cảnh sát, là túm tấm bạt chạy qua phía khác, rồi len lỏi biến mất vào những ngõ hẻm khu dân cư. Cứ thế dân hàng chạy và cảnh sát chơi trò cút bắt, rượt đuổi mỗi ngày.

Sau một thời gian quen biết, mỏi mệt chuyện bán hàng chạy, muốn gây dựng gia đình, bố mẹ từ giã lề đường NY, dọn qua NJ.

Bố xin vô phụ việc trong một tiệm sửa xe có chủ người Việt. Dù không được đến trường, nhưng bố sáng dạ, học nghề rất nhanh. Bởi vậy khi người chủ phải đóng cửa vì bạo bệnh, bố xin được vô làm ở dealer Mỹ hẳn hoi, dù chẳng có mảnh bằng nào lận lưng.

Hình như do mặc cảm, hễ cầm bút là thấy bố có vẻ ngượng ngập, lóng ngóng chứ cầm búa, mỏ lết thì ôi thôi, không ai “ăn” được bố, khách hàng nào cũng muốn đưa xe cho bố, một người rất tận tâm chịu khó. Việc gì bố làm, ai cũng tấm tắc khen. Trong mắt tôi, bố thật tuyệt vời.

Vậy mà bố không biết chữ!

Lúc còn nhỏ, tôi không hề biết rằng, những chuyện do bản năng như đi đứng nằm ngồi thì không cần phải học. Còn lại không học thì không biết, bằng chứng khi học lớp hai, tôi đã biết đạp xe vù vù, trong khi nhiều bạn trong lớp cho tới lớp năm, vẫn chưa biết đạp xe.

Lớn lên ở vùng sông nước, bố cũng tập cho tôi bơi như con rái cá khi còn rất nhỏ, nên trong mắt các bạn tôi, bố thật cừ khôi.

Từ khi biết bố mù chữ, tôi không còn cười toe toét mỗi khi nghe các bạn khen bố nữa. Có một cái gì “lấn cấn” mà tôi không nói được: bực bội, mặc cảm, giận dỗi!

Bây giờ tôi rất ngại ngùng, khi đi cùng bố đến những nơi hội họp đông người, nhất là khi có mặt bố mẹ các bạn trong lớp. Bố của bạn này là bác sĩ, mẹ của bạn kia là cô giáo.

Bố không biết chữ, nhưng mẹ học xong trung học ở quê nhà. Trước khi sinh tôi, mẹ có học ESL buổi tối ở một trường tiểu học gần nhà. Nhờ vậy mọi sinh hoạt trong gia đình không bị xáo trộn. Trong nhà mẹ giữ phần chợ búa cơm nước, trả lời thư tín, hay viết check trả các hóa đơn, mọi thứ còn lại bố làm hết.

Mọi người trong khu phố ai cũng gọi nhà tôi là “túp lều lý tưởng”, vì có tất cả mọi tiện nghi cần thiết cho người lớn lẫn trẻ con đến vui chơi mà không phải đi xa. Cầu tuột, xích đu, nhà chòi trên cây, võng nhảy ngoài vườn.

Bố còn làm một cái bếp nhỏ cho mẹ ở góc vườn, gần bên có “khu thủy tạ” cho người lớn ngồi uống cà phê, trò chuyện. Ở đó, có một mái lá hình bát giác, có hòn non bộ, có hồ cá Koi, và vô số bụi hoa hồng thơm ngát.

Một nơi lý tưởng cho mọi người gặp gỡ vui đùa, mỗi khi có ngày nghỉ. Không ai có thể kiếm được cặp vợ chồng nào hiếu khách như bố mẹ tôi: chồng vui vẻ, hoạt bát, khéo tay; vợ nhỏ nhẹ, dịu dàng, biết nấu đủ thứ món ăn.

Còn hạnh phúc nào hơn, mà sao tôi cứ thấy lấn cấn trong lòng. Tôi còn muốn gì hơn, khi tôi cũng thừa hưởng gene di truyền từ bố. Trong lớp, tôi là học sinh xuất sắc… nhưng kiêu ngạo.

Khi tôi biết mình quá kiêu căng, hỗn láo với bố thì đã muộn! Nỗi ăn năn hối hận cứ giày vò tôi mỗi ngày khi nhớ lại những gì tôi đã làm.

Tôi nhớ mãi, một bữa kia bố nói với mẹ, bố cần phải tập ký chữ Trần Sâm, chứ không được đánh dấu thập nữa. Nhiều nơi làm giấy tờ không chấp nhận chuyện này.

Không biết mẹ đã kèm cho bố bao lâu, nhưng một hôm khi đi học về thấy bố đang ngồi học. Trước mặt là bảng chữ cái, và nghe bố phát âm: a, b, c… Tôi cau mày: What?

Thật sự ra tôi chỉ biết nói tiếng Việt, chứ không biết đọc tiếng Việt. Bởi vậy tôi không hề biết bố đang phát âm các mẫu tự theo tiếng Việt. Nhưng vốn kiêu ngạo (và hỗn láo), tôi chỉ nói trống không: What?

Tôi đi lại chỗ Bố, cũng nói trống không (chẳng thưa gởi gì cả): ê, bi, xi…no a bê cê.

Mẹ tôi lí nhí: Mẹ chỉ bố đọc theo tiếng Việt.

Tôi bỗng dưng nổi giận: For what?

Rồi tuôn ra một tràng:

He needs to study English not Vietnamese. This is America.

Mẹ tôi phân bua: Bố cần tiếng Việt hơn tiếng Anh, để đọc được sách báo tiếng Việt, và hát karaoke những bài ca tiếng Việt.

Tôi gào lên: He needs to know English.

Rồi bật khóc nức nở, khi nhớ lại, hôm bố vào văn phòng Nha sĩ, cô thư ký hỏi DOB (dĩ nhiên bằng tiếng Anh đi ô bi). Bố bối rối ngoái đầu ra phía cửa (cầu cứu), vì hôm đó có tôi đi theo. Thấy bố không hiểu câu hỏi, cô thư ký chỉ vào tờ lịch rồi hát happy birthday to you. Bài hát quá phổ biến hầu như ai cũng biết. Giờ thì bố đã hiểu, bố không biết chữ, nhưng biết chút ít về số. Tôi bước vào văn phòng khi cô thư ký còn đang vỗ tay hát bài ca sinh nhật.

Xấu hổ thành giận dữ, tôi giật tờ giấy trong tay bố, điền một mạch các chi tiết rồi đưa lại cho cô thư ký. Mặt tôi hầm hầm, môi mím lại, cầm tờ giấy hẹn từ cô thư ký, tôi bước thẳng ra ngoài.

Thấy tôi nổi giận, bố cũng buồn hiu lặng lẽ đi theo.

Bố nào muốn mình mù chữ, không được đi học đâu phải là cái tội. Bố có làm gì sai trái trong quá khứ, để bây giờ tôi phải xấu hổ? Phải chi Bố giết người cướp của, hay lừa gạt ai đó, đằng này bố là người lương thiện, một đứa con ngoan, một người anh tận tụy, hết lòng lo cho các em. Bằng cớ là từ khi qua được xứ Mỹ, ông nội thảnh thơi lúc tuổi già nhờ những thùng quà bố gửi về giúp gia đình. Các cô chú cũng có công ăn việc làm ổn định hơn lúc trước.

Dù nghèo và dốt, chưa bao giờ bố làm gì sai trái. Ở nơi làm, ông chủ người Ý rất giàu, có vài cái dealer vừa sửa vừa bán xe. Các bạn làm chung nhiều người có bằng đại học mà sao ai cũng yêu quý bố. Ðâu có ai khinh rẻ, coi thường chỉ vì bố mù chữ.

Giẻ rách cũng đỡ lấm tay! Huống chi một con người giỏi giang, lúc nào cũng vui vẻ tươi cười, hòa đồng với mọi người.

Nhân cách tạo ra phẩm chất con người. Khi tôi biết điều này thì đã muộn, chỉ vì kiêu ngạo tôi đã bao lần buông chữ “stupid” khi chỉ cho bố dùng những thiết bị điện tử của thời new technology.

Trăm hay không bằng tay quen.

Người phát minh ra cái smart phone, cái tablet không vênh váo, kẻ thừa hưởng những công trình sáng tạo lại “lên mặt” với đời.

Phật bảo rằng: Bất hiếu là tội lớn nhất của kiếp người.

Hoa hậu Thái Lan sau khi đoạt vương miện, đã trở về quê nhà, quỳ lạy cha là một người sống bằng nghề quét rác. Cô quỳ lạy cha ngay trên đường phố để tạ ơn người đã cho cô ánh hào quang của ngày hôm nay.

Bố không giàu, nhưng vẫn có một mái nhà êm ấm, còn hơn biết bao kẻ vô gia cư. Việc bố không biết chữ đâu làm tôi thiếu thốn cái gì, nếu không muốn nói tôi còn may mắn hơn biết bao bạn có bố và mẹ đều là trí thức.

Tôi là kẻ vong ơn, chính cái mặc cảm vô minh mù quáng đã làm tôi dần dần rời xa bố. Tôi lên đại học, chọn trường xa nhà và mắc tiền. Tự ý điền đơn, bố mẹ chỉ biết trả tiền học mỗi tháng, chứ không hề biết rằng nếu học trường công của chính phủ, trong tiểu bang, tiền học sẽ ít hơn.

Tôi là đứa vênh váo, ngạo mạn, tôi đã cố tình lừa dối cha mẹ để thoả mãn lòng kiêu hãnh. Chẳng cần biết bố mẹ phải làm sao để trang trải cho tôi tiền học, tôi cần danh tiếng của ngôi trường đào tạo. Cho tới khi học xong, tôi mới biết, nhờ người giải thích bố bằng lòng trả hết tiền học, dù trường cho phép, tôi được quyền mượn nợ. Vì tôi đã trên 18 tuổi, số tiền này tôi sẽ trả dần khi học xong.

Bố mẹ đã dùng tất cả số tiền để dành trong quỹ tiết kiệm để trả cả tiền học, lẫn tiền ở cho tôi trong suốt 5 năm đại học.

Gặp tôi trong ngôi trường danh tiếng đắt tiền, người yêu tôi không bao giờ biết bố tôi chỉ là ông thợ sửa xe, mù chữ. Tôi giấu biệt tông tích gia đình, bởi vì người yêu tôi xuất thân từ một gia đình khoa bảng, giàu có.

Ngày tháng dần trôi, tôi lập gia đình rồi có con, nhưng cũng ít khi về thăm bố mẹ. Chính tôi đã tạo ra sự ngăn cách này, nhất là khi biết bố mù chữ, biết bố có một người em khờ, biết nhà ông bà nội là một căn nhà rách nát ở làng chài nghèo Duyên Hải.

Tôi không ngờ, giấu tông tích cha mẹ ruột là một điều sai lầm. Trong cuốn phim nổi tiếng” Imitation of life”, tiếng Việt dịch là Ảo ảnh cuộc đời. Cô con gái khóc nức nở đi sau chiếc xe tang, đưa mẹ về lòng đất. Cô là giọt máu của bà người làm da đen, với ông chủ da trắng. Nhưng cô sinh ra da không đen, nên nhiều người tưởng cô là dân da trắng. Chính cái tát của người bạn trai khi biết mẹ cô gốc là người đen nô lệ, đã khiến mẹ cô phải tránh mặt, lui về một nơi thật xa, để cô không còn mặc cảm. Thời đó kỳ thị vẫn còn nhan nhản khắp nơi trên đường phố. Người ta coi như đó là ưu quyền của màu da, thứ mà khi sinh ra không ai có quyền chọn lựa.

Chúng ta sinh ra được làm người đã là người may mắn. Nhưng lại muốn xinh đẹp, giỏi giang, giàu có, chứ không muốn nghèo hèn, tật nguyền hay ngu dốt.

Chính con người có trí óc khác loài thú, nhưng con người đã (tự mình) tạo ra nhiều vật cản: kỳ thị. Chỉ có con người mới kỳ thị, thú vật không biết kỳ thị. Mèo giết chuột, cọp rình mồi đó là bản năng, tạo hóa sinh ra (bắt) chúng như thế.

Nhưng con người đã tạo ra biết bao hệ lụy, do chính sự suy nghĩ sai trái khi đối xử trong cộng đồng xã hội.

Tôi cũng vậy, không ai khinh rẻ bố mẹ ít học. Chính tôi đã tạo ra hố ngăn cách, chính tôi là kẻ vong ơn gây nhiều buồn khổ cho bố.

Khi tôi bừng tỉnh thì bố đã không còn trên cõi đời này. Tôi gục đầu bên áo quan, nhìn khuôn mặt hiền từ của bố mà nước mắt như mưa.

Hãy tha thứ cho con, bố ơi! Chính sự kiêu ngạo đã làm con mù quáng, con đã không trả ơn dưỡng dục sinh thành, mà còn gây buồn khổ cho bố mẹ.

Tất cả những gì con có được ngày hôm nay đều nhờ công lao khó nhọc của bố mẹ.

Lương tâm con dằn vặt, xốn xang mỗi khi thấy người ta hạnh phúc khi có cha bên cạnh vào ngày Father’s Day.

Con có một người cha đáng kính, đã dạy cho con biết bao bài học về nhân cách, dù không một ngày đến trường. Còn con thành công rực rỡ ngoài đời, nhưng lại là đứa con vong ơn, bất hiếu.

Không, ngàn đời không. Mảnh bằng, địa vị cao trong xã hội vẫn không tạo ra nhân cách con người.

Hãy tha thứ cho con, bố ơi!

Con gái thân yêu của bố. Khi con đã nhận ra lỗi lầm, cũng là lúc lương tâm con đã sống lại. Bố không bao giờ oán hận con mình.

Nếu con muốn chuộc lại lỗi lầm, hãy chăm lo cho mẹ trong những ngày còn lại của cuộc đời.

Hãy đối xử tốt với cha mẹ chồng, và đừng khinh rẻ người ít học, chỉ vì họ kém may mắn hơn ta.

Trên hết tất cả, con hãy chăm lo dạy dỗ các con của con, để truyền thống gia đình luôn luôn tốt đẹp. Ðó là điều mong mỏi của bố.

Nay con đã nhận ra lỗi lầm, đó là điều đáng khen. Con gái thân yêu của bố.

Bố đã tha thứ cho con.”

Tôi choàng tỉnh và chợt thấy mặt đầm đìa nước mắt. Tôi đã gặp và khóc nức nở, xin lỗi bố trong giấc mơ. Bố đã ôm chặt tôi như những ngày thơ dại, rồi hôn tôi trên trán: Bố rất hãnh diện có cô con gái là bác sĩ nổi tiếng, làm việc ở ngay chỗ mình sinh sống.

Con tạ ơn bố. Muôn đời nhớ ơn bố.

Ngày mai là ngày Father’s Day, các cháu sẽ ghé thăm ông ngoại.

Con gái của bố.

Lại Thị Mơ
Vườn thủy tinh trên đất Mỹ của kỹ sư gốc Việt⁩

Những tiểu cảnh thủy tinh nghệ thuật xen kẽ với các loài hoa được trồng khéo léo khiến ai nhìn thấy vườn của anh Khánh Vũ cũng phải trầm trồ.

Nhà anh Khánh Vũ, 44 tuổi, ở thành phố Auburn, tiểu bang Washington. Từ khu vườn sau nhà, anh có thể nhìn bao quát phong cảnh thành phố, dãy núi Cascade - nơi có ngọn núi tuyết Rainier nổi tiếng

Anh Khánh làm vườn từ lâu, nhưng 2 năm trước, khi nghỉ việc ở hãng Intel ra làm tự do, anh có nhiều thời gian hơn nên đã quyết định cải tạo lại khu vườn. Vì nhà ở trên đồi, rất dốc, anh phải san phẳng, xếp gạch đá và đổ thêm đất. "Tôi đã dùng khoảng 600 cục gạch (30 kg mỗi cục) và đổ thêm 15 tấn đất để tôn vườn lên. Mất 3 tuần thì hoàn tất", anh chia sẻ. Đến nay khu vườn đã rộng khoảng 1.900 m2.

Vốn là một kỹ sư nên khi làm vườn anh Khánh cũng bỏ rất nhiều thời gian tìm hiểu đặc tính các loại hoa mình sẽ trồng, từ yêu cầu về ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, chiều cao, khi nào bón phân, khi nào ra hoa...

Sau đó anh sắp xếp cây theo từng loại để chúng nở hoa đồng loạt. Khi trồng, anh cũng chia các loại cây, hoa thành bốn tầng, tùy theo độ cao để chúng hài hòa với nhau.

Một bí quyết khác khiến cho vườn đẹp là khả năng pha màu. Anh Khánh đã phối hoa/lá đột phá để làm nổi cho nhau - chẳng hạn như trắng, vàng tím - nhưng giữ cùng tông để không chọi nhau.

"Tôi đã học được cách sắp xếp hoa và pha màu trong một lần ghé thăm khu vườn nổi tiếng Butchart Garden bên Canada. Chính vì thế mà có khách ghé thăm vô tình nhận xét vườn của tôi có nét giống Butchart, tôi thầm vui trong lòng", anh chia sẻ.

Vùng này có bốn mùa rõ rệt, nên anh Khánh cũng muốn trồng hoa, cỏ thay đổi theo mùa để vườn lúc nào vườn cũng có màu sắc. Mùa xuân tiết trời hơi ảm đạm, anh đã trồng tulip, mẫu đơn, thủy tiên, lily... làm vườn luôn tươi sáng.

Sang hè có hồng, dạ yến thảo, cẩm tú cầu và nhiều loại khác. Mùa thu là thược dược và cúc ngự trị. Anh cũng pha vào các loại cỏ kiểng để vườn giữ được sắc xanh cho mùa đông.
Một điểm nhấn khác lạ của vườn anh Khánh là cách pha các tác phẩm thuỷ tinh nghệ thuật (art glass) vào cây cỏ. Vùng Tây Bắc nước Mỹ có nhiều nghệ nhân thủy tinh, đặc biệt là Dave Chihuli với khu vườn thủy tinh nghệ thuật nổi tiếng nên anh Khánh có cơ hội mua được những tác phẩm của họ.

Bắt đầu sưu tầm từ năm 2013, tới nay anh sở hữu được khoảng 100 miếng thủy tinh, mỗi miếng dao động từ dưới 100 USD tới vài nghìn USD tuỳ vào tên tuổi của nghệ nhân.

Khi mua hay đặt những tác phẩm, anh thích mua riêng lẻ từng mảnh, sau đó về sắp đặt và kết hợp theo ý riêng của mình. "Trước lúc mua một miếng nào đó, tôi cố gắng hình dung trong đầu cách dùng và bài trí ở đâu trước. Sau đó thì pha phối với dáng hoa, màu sắc hoa cho phù hợp", anh cho hay. Chủ vườn này thường thích những kiểu có màu sắc thay đổi, đường cong tự nhiên, dễ hòa vào hoa lá.

Bên trái là tác phẩm anh Khánh thích nhất hiện tại. Màu sắc và dáng nó chuyển động từng giờ theo ánh nắng, như "ngọn lửa đam mê". Bên phải là tác phẩm anh lên ý tưởng, kết hợp với một nghệ nhân để làm, trên thị trường hiện chưa bán.

Các tác phẩm thuỷ tinh nghệ thuật tạo cho vườn của người kỹ sư gốc Việt một cá tính khác biệt với các vườn đẹp khác. Khi trời nắng, chúng lung linh trong tia nắng và biến đổi theo hướng nắng, mây.

Đêm xuống, tất cả chìm vào bóng tối thì đèn chiếu vào những mảnh thủy tinh làm không gian thêm huyền ảo.

Những ngày mây mưa ảm đạm hay mùa đông hoa tàn, những mảnh thuỷ tinh nghệ thuật này vẫn giữ lại được chút màu sắc cho vườn. Nhất là ở khu Seattle, nơi mưa phùn lất phất suốt mùa đông, các mảnh thủy tinh nổi bật trên nền tuyết trắng xóa.

Niềm vui hàng ngày của anh Khánh là ngồi ngoài vườn vào sáng sớm, với ly cà phê, ngắm ánh bình minh, nghe chim hót và hít thở không khí trong lành. "Rất bình yên và thanh thản khi được sống chậm lại", anh nói.

Đây là mặt trước của nhà anh Khánh. Hàng xóm và bạn bè rất thích thú khi có dịp ghé thăm vườn. Lần nào anh Khánh chia sẻ ảnh vườn hoa cũng "náo động" cõi Facebook, với hàng trăm bình luận như: "Thì ra bồng lai tiên cảnh là có thật", "Y như đang sống ở xứ sở thần tiên", "Tưởng mấy cái nhà đầy hoa như thế này chỉ có trong tranh thôi"... 

 

SỰ CÔ LẬP ĐÃ DẠY CHO TA... 

- Dzogchen Ponlop Rinpoche- 

Trong đại dịch này, chúng ta trải nghiệm nhiều về nỗi nhớ. Thông thường, chúng ta muốn độc lập, không phụ thuộc. Nhưng có lẽ bây giờ, ta thừa nhận rằng con người thực sự phụ thuộc vào nhau. Không chỉ là bỏ lở cuộc đi dạo với bạn hoặc chơi thể thao. Có vẻ như không ai thích tình huống gọi là phong tỏa.

Trước đây, ta nói: -"Sao không để tôi yên, một mình?" Khi thất vọng, ta sẽ nói, -"Tôi đi vào phòng đây" và đóng sầm cửa lại. Nhưng giờ đây, chúng ta nhận ra việc ở bên cạnh người khác quý giá ra sao.

Tôi đã xem một câu chuyện trên TV, về một tù nhân. Bị cô lập, tù nhân này đã tìm ra cách có thú cưng. Đó là một con gián. Bất cứ khi nào gián đến, người này cho nó vụn bánh mì hoặc các mẩu thức ăn, bất cứ điều gì anh có thể chia sẻ.

Đó là câu chuyện về cảm nhận của con người, về cảm xúc tinh thần, cảm giác bình ổn, hay tình cảm, đối với một sinh vật khác. Chúng ta không thể biết con gián nghĩ gì.

Tù nhân đó đã làm cho bạn gián xinh đẹp. Có rất nhiều truyền thông xã hội chống lại gián; mọi người trên toàn cầu đều ghét chúng, ngoại trừ anh này. Những câu chuyện về tình thương và tình cảm như vậy cho thấy: tất cả chúng ta cần nhau như thế nào - bạn và tôi.

Và tại thời điểm này trong đại dịch, chúng ta đã có chút kinh nghiệm trực tiếp về nỗi nhớ nhung khi không thể ở bên nhau. Có lẽ đây là lần đầu tiên, chúng ta bắt đầu yêu thương người khác hơn bản thân một chút. Thông thường, chúng ta phàn nàn về y tá và bác sĩ, nhưng bây giờ đang chứng kiến hành động quên mình của họ.

Chúng ta bắt đầu có ý thức, trân trọng người khác hơn. Không chỉ từ cái đầu, mà cả từ trái tim, ta thực sự cảm kích. Và đó quả là một món quà tuyệt vời.

Vì vậy, những gì học được từ trải nghiệm của mình trong đại dịch - tất cả những điều đó - đều là trí tuệ. Bây giờ đã thấy rõ trí tuệ tuyệt vời mà chúng ta đã thu thập trong năm qua, không được lãng phí nó. Phải đưa sự khôn ngoan đó vào hành động có thể mang lại lợi lạc cho bản thân mình và cho thế giới này.

-----------------------------------------------------------
ISOLATION HAS TAUGHT US --Dzogchen Ponlop Rinpoche-
During this pandemic situation, we experience how much we miss others. Usually, we want to have independence, not dependence. But maybe now we are able to admit that we are actually dependent on each other, instead of independent.

It’s not only taking walks with our friends that we miss, or playing sports. It also seems that no one likes this situation we call lockdown. Before, we'd tell people, “Why don’t you leave me alone?” When we got frustrated, we’d say, “I’m going to my room” and slam the door. But now, we realize how precious it is to be with other people.

I watched a story on TV a while ago, about someone in a prison. They are isolated, but this prisoner found a way to have a pet. How? It was a cockroach. Whenever it came around, this person fed the cockroach little breadcrumbs or other bits of food, whatever they had to share. And that is a story of how one being felt, emotionally and mentally, a sense of calmness, or affection, towards another being. We don’t know what the cockroach was thinking.

So that prisoner made a beautiful cockroach friend. There is very bad social media against cockroaches; everybody around the globe hates them, except for this one person. Such stories of love and affection show how we all need each other- you and me.

And at this point during the pandemic, we have had a bit of direct experience of how much we miss others when we’re unable to be together. Perhaps for the first time, we’re beginning to love others a little bit more than ourselves. Usually, we complain about the nurses and doctors, but now we are seeing their selfless actions.

We’re beginning to have a greater sense of appreciation for others. Not just from our head, but from our heart, really feeling that appreciation. And that’s really a beautiful gift.

So, everything that we’ve learned from our experiences of the pandemic -all of that- is wisdom. We can see clearly now, the great wisdom we have gathered this past year. We must not waste it. We must bring that wisdom into action that can be of benefit to ourselves and to the world.
CON ĐẶT ĐÂU CHA MẸ NGỒI ĐÓ

Một buổi chiều Chúa Nhật, vợ chồng tôi chở các con đi tham dự buổi đấu bóng rổ chung kết giữa các trường Công Giáo ở Hoa Thịnh Đốn và vùng phụ cận về; vừa bước chân vô cửa đã nghe tiếng chuông điện thoại reo inh ỏi.. Vợ tôi nhấc điện thoại, nói chuyện trong giây lát rồi quay sang bảo tôi:

- Anh Dũng muốn nói chuyện với anh. Bà cụ Thanh đang hấp hối ở bệnh viện George Washington.

Tôi vội vàng đến cầm điện thoại:
- Hello anh Dũng. Cụ bị sao vậy anh?

- Bà cụ nhà tôi bị mệt vài tuần nay đã nhập viện được mấy hôm rồi. Sợ không qua khỏi. Anh chị sắp xếp lên một tý được không? Bà cụ muốn gặp vợ chồng anh. Các em tôi cũng tề tựu đây cả.

- Vâng. Chúng em lên ngay.

Vừa lái xe từ nhà lên Washington, DC tôi vừa tưởng nhớ lại kỷ niệm quen biết bà cụ Thanh từ mấy tháng nay...

Tôi đến phi trường Chicago – Illinois vào một buổi tối mùa Đông. Ngoài trời gió thổi vù vù và tuyết vẫn tiếp tục rơi... Hôm đó chuyến máy bay của tôi đến trễ hơn một tiếng đồng hồ vì bão tuyết. Tôi biết mình đã lỡ chuyến bay chuyển tiếp để trở về Washington D..C. nên chạy vội vàng tìm văn phòng lo thủ tục đổi vé. Khi biết tôi là người Việt Nam vì mang họ Nguyễn, cô nhân viên của hãng Delta đã nhờ tôi làm thông dịch viên để nói chuyện với một bà cụ khoảng 80 tuổi đang ngồi ủ rũ bên quầy bán vé. Bà cụ Thanh cũng bị lỡ chuyến bay về Maryland, nhưng vì không nói được tiếng Anh nên Cụ không biết phải làm sao, cứ ngồi lim dim, lặng lẽ đọc kinh lần chuỗi...

Lo xong thủ tục giấy tờ cho hai người, tôi quay sang:
- Để con dẫn Cụ đi nhận phòng ngủ rồi kiếm gì ăn tối. Sáng mai mới có máy bay, Cụ ạ.

- Cám ơn cậu. Cậu gì nhỉ ?

- Dạ con tên Huy. Cụ để con xách hành lý cho. Con dẫn Cụ lên phòng Cụ trước, rồi con tìm phòng con sau. Sắp xếp xong con sẽ qua dẫn Cụ đi ăn tối.

- Cậu cho tôi ở chung với được không? Tôi không biết tiếng Mỹ, làm sao ở một mình trong nhà trọ được.

Tôi dở khóc dở cười trước đề nghị của bà cụ; nhưng đã nhận lời vì nghĩ tới mẹ tôi. Cụ Thanh làm tôi nhớ Mẹ thật nhiều với những lần đưa Mẹ đi đây, đi đó thăm anh em bà con lúc Mẹ tôi qua Mỹ du lịch...

Tôi dẫn bà cụ về phòng trọ. Cũng may trong phòng có sẵn hai chiếc giường đôi. Tôi gọi điện thoại về nhà báo tin cho vợ con biết hôm sau mới về được vì bị bão tuyết. Sau khi nói chuyện với vợ con xong, tôi quay sang hỏi cụ Thanh:- Cụ có mang theo số điện thoại của các anh chị không? Con giúp Cụ gọi điện thoại về báo tin máy bay bị trễ tới mai, kẻo các anh chị ấy lại lo lắng.

Cụ Thanh mở "ruột tượng", lần mãi mới lấy ra một xấp tiền và mấy tờ giấy cuộn tròn trao cho tôi:
- Cậu Huy coi rồi giúp dùm tôi nhé.. Tôi có biết số nào ra số nào đâu.

Tôi mở xấp giấy ra xem, có cả một tờ giấy ghi sẵn bằng tiếng Anh phòng khi gặp trở ngại thì trao cho nhân viên ở phi trường để xin giúp đỡ...

Tìm ra tờ giấy đánh máy số điện thoại của nhiều người, tôi hỏi Cụ:- Con nên gọi cho ai bây giờ?

- Nhờ cậu gọi về Texas cho con Lành dùm tôi. Vợ chồng nó thương tôi nhất, chỉ tội nghèo. Đi đâu tôi cũng nói chuyện với nó, rồi nó nói lại với mấy đứa khác, nhất là với vợ chồng thằng Dũng ở Thủ Đô vì hôm nay tôi về trên đó.

- Nếu thế con gọi thẳng về Maryland cho anh chị Dũng luôn cũng được.

- Tuỳ cậu.

Tôi để lại lời nhắn trong máy cho anh chị Dũng và hẹn hôm sau sẽ gọi lại cho biết chuyến bay và giờ giấc bà cụ về tới phi trường BWI - Baltimore Washington Internation Airport để họ ra đón. Phần tôi sẽ bay về phi trường National Airport nên không đi chung chuyến bay với Cụ được.

Sau khi tắm rửa, tôi mời Cụ đi ăn, nhưng Cụ từ chối vì trong xắc tay đã có sẵn vài nắm cơm vắt với muối mè và giò lụa. Thay vì ra ngoài kiếm gì ăn, tôi đã nhận lời ngồi lại ăn cơm nắm, muối mè và giò lụa với bà cụ Thanh...Tối hôm đó, tôi đã thức trắng đêm nghe bà Cụ tâm sự.

- Tôi mới qua Mỹ được gần 2 năm nay thôi cậu Huy à... nhưng tôi cứ phải đi lung tung nhiều chỗ vì con cháu mỗi đứa một nơi và chúng nó cứ đẩy qua đẩy lại làm tôi chóng cả mặt. Tôi buồn lắm, chỉ muốn về Việt Nam, nhưng không biết phải làm sao. Hơn 70 tuổi đầu tôi mới học được điều này là con cháu sang Mỹ khác xưa nhiều lắm. Trước đây ở Việt Nam, Cha Mẹ đặt đâu con ngồi đó, còn bây giờ qua Mỹ thì... ngược lại: Con đặt đâu Cha Mẹ ngồi đó! Cậu nghĩ tôi nói có đúng không?

Tôi đang nằm mơ mơ màng màng nhớ Mẹ, chưa kịp lên tiếng trả lời, bà cụ Thanh lại tiếp tục:
- Vợ chồng tôi có 5 người con; cứ đứa trai rồi đứa gái cách nhau 3 tuổi. Nhờ trời thương, gia đình làm ăn cũng khấm khá nên đứa lớn được ông nhà tôi gởi đi du học bên Mỹ từ năm 70, rồi lấy vợ và ở lại luôn bên này. Năm 75, vợ chồng đứa con gái kế đưa thêm được thằng út nhà tôi đi, bây giờ đang ở bên Ca-li. Thằng thứ ba đi lính ngoài Trung, lấy cô vợ người Huế, rồi làm mai cho ông anh vợ lấy con em gái kế nó. Hai thằng đi cải tạo về rồi cũng sang Mỹ theo diện H.O.. và định cư ở Texas. Vợ chồng tôi có giấy tờ bảo lãnh từ lâu, nhưng ông nhà tôi nhất định không đi; và tôi cũng chẳng ham muốn gì chuyện đi Mỹ, chỉ mong thỉnh thoảng chúng nó đưa các cháu về thăm là mãn nguyện lắm rồi.. Nhưng hơn 4 năm trước, Chúa đã gọi ông nhà tôi về với ông bà. Chúng nó cứ thúc ép mãi, nhưng tôi cũng không đi. Ngày giỗ mãn tang ông nhà tôi, vợ chồng thằng lớn về thăm quê hương và tìm đủ lý lẽ thuyết phục tôi đi Mỹ vì “xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” nên tôi đành “nhắm mắt đưa chân”.

Ngày đặt chân đến Mỹ phải nói là ngày hạnh phúc nhất trong đời tôi, cậu Huy ạ. Con cháu dâu rể tề tựu đông đủ hết, cả cô bồ của thằng út Đức cũng bay sang mừng ngày đoàn tụ của gia đình tôi. Nếu như chúng nó chỉ khóc chứ đừng nói gì như lúc gặp nhau ở phi trường thì chắc tôi còn vui nhiều nữa. Đằng này, vừa gặp tôi, thằng Đức đã xì lồ xì lào có một câu ‘hi mom’ rồi lo quấn quýt với con bồ người Mỹ của nó. Tôi thấy chướng mắt quá, chỉ muốn chửi cho nó một trận, nhưng con Hoa đã phân trần cho em:

- Con xin Mẹ đừng giận cậu út... Nó sang Mỹ từ nhỏ, chúng con lại bận rộn công ăn việc làm nên không có thì giờ dạy cho em nó hiểu phong tục tập quán của mình. Mẹ thấy đó, từ cách đi đứng, nói năng, cử chỉ của em Đức đều đúng y chang là một thanh niên người Mỹ, chỉ khác có màu da. Mẹ đừng buồn.

Cậu Huy nghĩ coi làm sao mà tôi không buồn cho được. Tôi thương thằng Đức nhất nhà vì nó là út đã đành, nhưng vì nó phải xa tôi từ lúc mới 6 tuổi đầu. Hơn 20 năm trời mới gặp Mẹ mà có cứ lo xà nẹo với con bồ Mỹ trước mặt tôi và các anh chị nó... và nhất là các cháu nhỏ. Coi chướng mắt hết sức! Tôi thất vọng quá cậu Huy à. Nhưng đó chỉ là bước đầu...

Suốt một tuần liền chúng nó lôi tôi đi chụp hình khắp thủ đô, rồi mạnh đứa nào bay về chỗ đứa đó, giam tôi một mình trong căn nhà rộng thênh thang của thằng Dũng. Vợ chồng nó đi làm suốt ngày. Hai đứa con cũng đi học và ở luôn trong trường mà nếu bọn nhỏ có ở nhà cũng chẳng nên cơm cháo gì vì chúng nó chỉ nói toàn tiếng Mỹ! Tôi ngồi một mình suốt ngày nhìn ra đường, lúc nào cũng "vắng như chùa bà đanh" nên tôi cứ nghĩ mình đang bị tù cậu Huy ạ. Riết rồi tôi chịu không thấu nên ngã bệnh. Vợ chồng thằng Dũng đưa tôi đi khám Bác sĩ, lấy thuốc uống.... Rồi không biết vợ chồng nó bàn nhau sao đó, tự động mua vé máy bay đẩy tôi sang Ca-li ở với vợ chồng con Hoa. Lúc ở bên nhà, tôi cũng nghe nói Ca-li có nhiều người Việt, có khu chợ Việt Nam rất sầm uất, không khác chi Sàigòn nên tôi cũng mừng trong bụng. Thêm vào đó, tôi cũng muốn được ở gần thằng út để hướng dẫn nó được tý nào hay tý đó. Gần 30 tuổi đầu rồi mà cứ lang thang, không chịu cưới vợ gì cả... Nhưng vợ chồng con Hoa lại ở đâu miệt phía bắc, nghe nói phải lái xe cả ngày mới tới vùng Quận Cam nên tôi lại buồn hơn vì vợ chồng thằng Dũng đi làm công sở, khoảng 6 giờ chiều đã về nhà. Đàng này vợ chồng con Hoa mở cái tiệm gì đó, tối nào cũng nửa đêm mới về.. Con cái thì mạnh đứa nào đứa đó lo, đi học về là chui ngay vào phòng riêng. Tôi muốn vào nói chuyện với các cháu thì tụi nó không cho, lại còn nói tiếng Mỹ với nhau tỏ vẻ nhạo báng bà ngoại cổ hủ, lỗi thời, không tôn trọng "xi xi" gì đó (privacy).

Tôi tủi thân chỉ biết ngồi khóc một mình. Tôi sang đó cả tuần cũng không gặp được thằng út. Mãi sau này tôi mới biết là nó thuê "pạc-măng" (apartment) ở riêng với con bồ Mỹ chứ chẳng cưới xin gì hết. Chúa Nhật cũng không thấy đi lễ đi lạy gì cả. Tôi khổ tâm lắm, bắt con Hoa gọi nó về, chửi cho một trận. Nhưng tôi nói gì mặc tôi, nó cứ ngồi trợn mắt ngó lên trần nhà chứ có hiểu tôi nói gì đâu!

Quá thật vọng với mấy đứa con và các cháu ở Ca-li, tôi nói với cái Lành mua vé máy bay cho tôi về Texas ở với chúng nó và vợ chồng thằng Hiền. Cậu biết đó, chúng nó mới sang sau này theo diện H.O.. nên còn nghèo lắm; được cái là hai anh em lấy hai chị em nên chúng nó hòa thuận thương yêu nhau. Hai gia đình chung nhau mua một cái nhà khá lớn vì cả hai đều đông con.

Thằng Hiền và thằng Khanh đi làm cho một hãng cuốn chả giò vì không có nghề nghiệp chuyên môn. Hai con vợ nhận hàng về nhà may tối ngày sáng đêm. Nhà đông người, lại chất đầy vải vóc, kim chỉ... Thôi thì bụi bậm, rác rưởi không thua gì mấy khu vực lao động bên Sàigòn. Tôi bảo chúng nó là thằng Dũng và con Hoa đều giàu có, sao không kêu anh chị giúp vốn cho mà làm ăn buôn bán cho đỡ vất vả... Tôi nói mặc tôi, chúng nó không đứa nào trả lời trả vốn gì hết.

Tôi chờ tới hôm thằng Dũng và con Hoa gọi điện thoại hỏi thăm mới la cho một trận là tại sao không giúp đỡ các em. Cả hai đứa đều nại đủ lý do phải chi tiêu khoản này khoản nọ, không có khả năng để cưu mang cho ai. Con Hoa lại còn kể công đã nuôi thằng Đức bao nhiêu năm từ ngày thằng út mới đi học lớp một! Tôi mở hết hầu bao, có vài ngàn bạc để dành từ Việt Nam, tôi giao hết cho con Lành, nói nó dùng làm vốn mở tiệm gì đó buôn bán cho đỡ cực hơn làm nghề may khoán. Lúc đó tôi mới biết là số tiền vài ngàn bạc ở Mỹ này chẳng làm được gì hết!

Ở chung với vợ chồng con Lành và thằng Hiền được mấy tháng thì bệnh suyễn của tôi tái phát. Bác sĩ bắt tôi phải đi ở chỗ thoáng mát, tránh bụi bậm ô nhiễm... Thằng Dũng đã không biết thương em thì chớ, lại chửi chúng nó là không biết lo cho Mẹ, tự động mua vé máy bay bắt con Lành đưa tôi trở về.

Tôi ở nhà vợ chồng đứa con trai trưởng mà cứ nghĩ như mình bị đưa đi tù vậy đó, cậu Huy à. Nó giam tôi từ mùa thu cho tới mùa Xuân, cứ ngồi trong cửa sổ nhìn lá vàng rồi lá rụng, tuyết xuống phủ đầy sân rồi tuyết tan... Tôi cứ thui thủi một mình lần chuỗi suốt ngày, ngoại trừ Chúa Nhật nó chở tôi đi lễ ở nhà thờ Mỹ gần nhà. Tới mùa hè, vợ chồng nó bàn nhau đi "cu" đi "cụ" gì đó (cruise) 3 tuần trên biển, nên gọi cho con Hoa nói sẽ gởi tôi về bên đó vài tháng. Tôi quá thất vọng với con cháu bên Mỹ nên cũng chẳng thèm nói năng gì, mặc kệ chúng nó. Tôi lại lạch cạch khăn gói về Ca-li. Mới ở được vài tháng chúng nó lại "tống" cổ tôi về Houston vì "không có thì giờ để hầu mẹ"!

Tôi chỉ muốn chết đi cho xong, nhưng mình là người Công Giáo đâu dám nghĩ chuyện làm bậy. Không biết vợ chồng hai đứa "nghèo" bàn nhau làm sao mà tôi mới về ở được vài tuần, chúng nó nói sẽ đi mướn một một chỗ riêng cho tôi ở để bệnh suyễn của tôi không phát lại vì bụi bậm trong nhà nó. Tôi thương các con, các cháu còn nghèo nên đòi về lại "nhà tù" của thằng Dũng chịu khổ một mình hơn là gây thêm gánh nặng cho mấy đứa nhà nghèo. Cực chẳng đã, chúng nó đã phải mua vé máy bay cho tôi trở về với thằng Dũng giữa mùa đông như thế này. Cũng may mà gặp được cậu...

Bà cụ Thanh bật khóc nức nở. Tôi không biết phải làm gì nên cứ để cụ khóc một lúc cho nguôi ngoai... Và chợt nhớ tới khu "nhà già" của các cụ cao niên ở gần nhà thờ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, nên nhỏ nhẹ nói với Cụ:

- Để mai về bên đó con liên lạc với anh Dũng xem có thể sắp xếp gởi Cụ tới ở chung với các Cụ trong Hội Cao Niên bên giáo xứ chúng con cho vui. Vừa có bạn bè người Việt, vừa có các bạn trẻ tới chở đi lễ nhà thờ Việt Nam...

- Được thế thì còn gì bằng. Mà ở đó có gần nhà cậu Huy không?

- Cũng gần Cụ ạ. Và cũng không xa chỗ anh Dũng lắm đâu, tuy là 2 Tiểu bang khác nhau nhưng chỉ cách con sông Potomac...

- Thế cậu Huy giúp dùm tôi nhé. Tôi chẳng trông mong gì nơi vợ chồng thằng Dũng cả..

- Vâng. Đàng nào con cũng đã ghi số điện thoại anh Dũng đây rồi, cuối tuần con sẽ nói chuyện và nếu tiện con sẽ chở vợ con sang thăm Cụ cho vui; và thỉnh thoảng chúng con xin phép đón Cụ sang bên này đi lễ Việt Nam cho biết..

- Giêsu Lạy Chúa tôi. Được thế thì có chết tôi cũng mãn nguyện. Tôi đi nhà thờ Mỹ cứ như vịt nghe sấm chứ có hiểu gì đâu. Tôi nói vợ chồng nó chở đi nhà thờ Việt Nam nhưng chúng nó bảo giờ giấc không thuận tiện nên chưa bao giờ đưa tôi đi cả cậu ơi!

- Cũng gần sáng rồi, Cụ nghỉ một lát cho đỡ mệt rồi còn sửa soạn ra phi trường.

- Cậu nghỉ đi, tôi già cả rồi có cần gì ngủ nghỉ. Tôi làm khổ cậu thức suốt đêm. Xin Chúa Mẹ thay tôi báo đáp công ơn cho cậu.

Sau khi trở về Virginia, tôi đã liên lạc với vợ chồng anh Dũng. Anh chị ấy đã mời chúng tôi qua chơi ngay cuối tuần đó để cám ơn tôi giúp đỡ bà Cụ hôm bị lỡ máy bay ở phi trường Chicago. Tôi nói sơ qua về việc gởi Cụ vào "nhà già" bên Virginia cho có bạn, có bè... nhưng anh đã kịch liệt phản đối vì sợ các em trách là "vợ chồng anh đẩy Mẹ vô viện dưỡng lão"! Tôi giải thích mãi là mình chỉ muốn sắp xếp làm sao cho Cụ vui lúc tuổi già, nhưng anh chị ấy cũng không nghe theo. Cuối cùng tôi chỉ xin phép đón Cụ sang nhà tôi chơi với mấy đứa nhỏ vài lần vào dịp cuối tuần và chở Cụ đi nhà thờ Việt Nam..

Ôi thôi, Cụ mừng như đứa trẻ mới lớn, lần đầu được Mẹ cho đi chợ sắm quần áo mới và sách vở đi học lớp vỡ lòng! Lần nào tôi chở về lại nhà anh Dũng cụ cũng rươm rướm nước mắt, nhưng chúng tôi cũng không biết phải làm sao hơn được. Vợ chồng tôi bàn nhau, nếu mùa hè này Mẹ tôi qua Mỹ du lịch lần nữa, chúng tôi sẽ xin phép anh Dũng để cho hai bà đi chơi với nhau một thời gian cho Cụ đỡ buồn... Nhưng mùa hè chưa tới !
Vợ chồng tôi vừa bước vào khu vực ICU - Intensive Care Unit, khu chăm sóc đặc biệt ở nhà thương George Washington đã gặp vợ chồng anh Dũng và mấy người nữa đang ngồi nơi hành lang phòng chờ đợi - waiting room.
Anh Dũng chạy tới bắt tay tôi:

- Cha tuyên uý đang làm các phép cho bà Cụ nhà tôi... Chắc cũng sắp xong rồi. Tôi sẽ dẫn anh vào ngay cho Cụ gởi gắm ít lời. Cụ nhắc anh mãi. Họ chỉ cho vào mỗi lần 2 người thôi. Bác sĩ nói chắc bà Cụ nhà tôi không qua khỏi đêm nay. Cụ đang nuối anh đó, anh Huy à. Tôi là con mà không lo được cho Cụ như vợ chồng anh..

Nói rồi anh Dũng giới thiệu vợ chồng tôi với gia đình các em của anh. Chúng tôi ngồi chờ mấy phút thì Cha tuyên uý đi ra. Ngài nói vài lời an ủi gia đình rồi lại vội vàng đi xức dầu cho một bệnh nhân ở lầu dưới. Anh Dũng kéo tôi đi vào gặp bà Cụ... Đôi mắt Cụ sáng hẳn lên khi nhìn thấy tôi và anh Dũng bước tới bên giường.

Cụ thều thào:- Dũng con. Mẹ chỉ còn một ước muốn cuối cùng và mẹ muốn con hứa với mẹ truớc mặt cậu Huy là con sẽ...
- Vâng, con sẽ nghe lời Mẹ. Con xin Mẹ tha thứ cho chúng con đã làm Mẹ buồn lòng.

- Mẹ không buồn giận các con. Hai năm nay, Mẹ đã đi đông, về tây theo sự sắp xếp của các con... Các con đặt đâu Mẹ ngồi đó ! Nhưng sau khi Chúa cất Mẹ về, Mẹ xin con một điều... con cho Mẹ được về nằm bên cạnh mộ Cha con bên Việt Nam... Cậu Huy, tôi mang ơn vợ chồng cậu nhiều lắm... đã cho tôi được hưởng sự ấm cúng của một gia đình bên Mỹ. Xin Chúa Mẹ trả công cho... gia... đình...

Tôi đang thầm thì kêu Tên Cực Trọng: "Giêsu, Maria, Giuse.... Xin Ba Đấng gìn giữ và đón tiếp linh hồn Anna" thì nghe anh Dũng òa lên khóc nức nở. Tôi nhìn qua thấy bà cụ Thanh miệng vẫn như mỉm cười nhưng hơi thở đã tắt !

Nguyễn Duy-An

*
Bạn đọc thân mến:

Ai trong chúng ta cũng có Mẹ, có Cha. Sau khi đọc những tâm tình trên đây, nếu Bạn là người may mắn vì Cha Mẹ còn sống, hãy dành một ít phút tự vấn lương tâm, xét lại thái độ, cử chỉ hay lời nói của mình đối với Cha Mẹ. Hãy làm một việc gì “nho nhỏ” cho Cha Mẹ vui lòng.

Nếu Cha Mẹ không còn, hãy đọc một bài kinh cầu nguyện cho các Cụ được về hưởng nhan thánh Chúa trên trời.

Con ra đời có mẹ cha
Là trời cao biển lớn bao la
Từng ngày qua giữa tuổi ngọc ngà
Con là nụ hoa bé nhỏ trong nhà
Nhờ công cha, nhờ nghĩa mẹ
Con khôn lớn trong muôn lời ca.
Xin ơn trên đổ xuống chan hòa
Giúp mẹ cha ngày tháng an hòa
Bao nhọc nhằn sinh trái đơm hoa
Xin cho con ở giữa gia đình
Sống làm sao đền đáp ân tình
Ơn biển trời ghi khắc trong tim.
Nuôi con bằng sữa tình thương
Và dạy con bằng tiếng thương yêu
Là nụ hoa bé nhỏ dại khờ
Con nhờ mẹ cha mới trở nên người
Bàn tay cha, giòng sữa mẹ

Xin ghi nhớ không bao giờ quên.Trích Bài Hát "Cầu Cho Cha Mẹ" của Phanxicô Nguyễn Đình Diễn
Nỗi niềm giữa đêm

LTS: Nỗi nhớ của cô bé thiểu năng về người cha đã suốt đời săn sóc cho cô. Đến khi ông lâm bệnh giai đoạn cuối, mới đem cô gởi cho mẹ. Những tiếng đàn piano nhớ thương cha giữa đêm đã khiến người mẹ biết mình có một đứa con gái…

Nguyễn Đại Hoàng

Ngày nọ, anh hẹn chị ra quán cà phê trước nhà ga chính của thành phố Bremen.

Chị nói ra vẻ bực bội:
– Ông lại bán xe rồi hay sao mà đi tàu lên đây?

Anh cúi đầu, trả lời lí nhí, hổ thẹn:
– Ừ… thì bán rồi! Vì cũng không cần nó lắm!

Chị sầm mặt xuống:
– Ông lúc nào cũng vậy! Suốt đời, không ngóc đầu lên được! Hẹn tôi ra đây, có chuyện gì vậy?

Khó khăn lắm anh mới có thể nói với chị điều mà anh muốn nhờ chị. Chị cũng khó khăn lắm mới có thể từ chối anh:
– Nhưng mà gia đình tôi đang yên lành! Nếu đưa con bé về, e sẽ chẳng còn được bình yên nữa!

Anh năn nỉ và nói:
– Con bé đã đến tuổi dậy thì. Anh là đàn ông, không thể gần gũi và dạy dỗ nó chu đáo được. Anh chưa bao giờ cầu xin em điều gì, chỉ lần này thôi, giúp anh nửa năm hay vài ba tháng cũng được. Là phụ nữ, em gần nó, hướng dẫn và khuyên bảo nó trong một thời gian để nó tập làm quen với cuộc sống thiếu nữ. Sau đó, anh lại đón nó về.

Chị thở dài:
– Ông lúc nào cũng mang xui xẻo đến cho tôi! Thôi, được rồi, ông về đi, để tôi bàn lại với chồng tôi đã. Có gì, tôi sẽ gọi điện thông báo cho ông sau.

Anh nhìn chị với ánh mắt biết ơn, rồi đứng dậy, cúi đầu xuống như có lỗi, tiễn chị ra xe, thở dài, lủi thủi bước vào nhà ga để trở về Hamburg.

Trước kia, anh và chị là vợ chồng. Họ yêu nhau từ hồi còn học phổ thông. Anh đi lao động ở Đông Đức. Chị học Đại học Sư phạm Hà Nội. Ngày bức tường Berlin sụp đổ, anh chạy sang Tây Đức. Chị tốt nghiệp đại học và về làm giáo viên cấp 3 ở huyện Thái Thụy, Thái Bình. Họ vẫn liên lạc và chờ đợi nhau.

Khi đã có giấy tờ cư trú hợp lệ, anh về cưới chị, rồi làm thủ tục đón chị sang Đức. Vừa sang Đức, thấy bạn bè của anh đều thành đạt, đa số có nhà hàng, hay cửa tiệm buôn bán, chỉ có anh vẫn còn phụ bếp thuê cho người ta.

Chị trách anh vô dụng. Anh không nói gì, chỉ hơi buồn vì chị không hiểu rằng, để có đủ tiền lo thủ tục cho chị sang được đây, anh đã vất vả và tiết kiệm mấy năm trời, mà không dám bỏ tiền ra làm ăn.

”Đồ cù lần, đồ đàn ông vô dụng…”, đó là câu nói luôn miệng mà chị dành cho anh sau khi anh và chị có bé Hương.

Bé Hương sinh thiếu tháng, phải được nuôi bằng lồng kính đến hơn nửa năm mới về nhà. Khi bác sĩ thông báo cho vợ chồng anh chị biết bé Hương bị thiểu năng bẩm sinh, giông tố bắt đầu thực sự nổi lên. Chị trách anh: ”Một đứa con cũng không làm cho ra hồn, thì hỏi làm được gì chứ.”

Anh ngậm đắng, nuốt cay, nhận lỗi về mình và dồn hết tình thương cho đứa con gái xấu số.

Bé Hương được ba tuổi mà chưa biết nói. Cũng rất thương con, nhưng chị bận bịu làm ăn nên việc chăm sóc đứa bé hầu hết là do anh. Vì vậy mà con bé quấn quít bố hơn mẹ.

Biết vậy nên chị rất yên tâm và nhẹ nhõm nhường quyền nuôi dưỡng con bé cho anh khi làm thủ tục ly hôn.

Ly dị được gần một năm thì chị tái giá. Chị sinh thêm một đứa con trai với người chồng mới.

Bremen là thành phố nhỏ. Người Việt ở đó hầu như đều biết nhau. Chị cảm thấy khó chịu khi thỉnh thoảng bắt gặp cha con anh đi mua sắm trên phố.

Chị gặp anh và nói với anh điều đó. Anh thông cảm chị nên chuyển về Hamburg sinh sống.

Không phải là người vô tâm, thỉnh thoảng, chị gởi tiền cho anh nuôi dưỡng con. Trong những dịp năm mới hay Noël, chị cũng có quà riêng cho con bé. Nhiều năm, nếu có thời gian, chị còn đến tặng trực tiếp quà cho con bé trước ngày Lễ Giáng Sinh.

Giờ đây, con bé đã sắp trở thành thiếu nữ. Chị biết con bé lớn lên trong tật nguyền, nhưng anh rất thương nó. Chị cũng biết con bé gặp vấn đề trong giao tiếp, phải đi học trường khuyết tật. Nhưng nó rất ngoan. Anh cũng không phải vất vả vì nó nhiều. Nó bị bệnh thiểu năng, trí tuệ hạn chế, phát âm khó khăn. Tuy vậy, nó vẫn biết tự chăm sóc mình trong sinh hoạt cá nhân. Thậm chí nó còn biết giúp anh một số công việc lặt vặt trong nhà.

Chồng chị đồng ý cho chị đón con bé về tạm sống vài tháng với điều kiện: trong thời gian ấy, anh không được ghé thăm nó. Chị cũng muốn thế vì cảm thấy hổ thẹn khi phải tiếp xúc vẻ mặt đần đần, dài dại của anh.

Vợ chồng chị đã mua nhà rộng nên con bé được ở riêng một phòng. Chị xin cho con bé theo học tạm thời ở trường khuyết tật gần nhà. Con bé tự đi đến trường và tự về được. Ở nhà, nó cứ thui thủi trong phòng. Đứa em trai cùng mẹ với nó, mẹ nó và bố dượng nó rất ít khi quan tâm đến nó. Niềm vui duy nhất của nó là chờ điện thoại của bố. Nó phát âm không chuẩn và nói rất khó khăn nên hầu như nó chỉ nghe bố nói chuyện. Bố dặn dò nó rất nhiều và thỉnh thoảng còn hát cho nó nghe.

Em trai nó học thêm piano nên nhà mẹ nó có cái đàn piano rất đẹp để ở phòng khách. Có lần, nó sờ và bấm bấm vài nốt. Mẹ mắng nó và nói không được phá đàn của em. Nên, từ đó, nó không dám đụng đến đàn nữa. Có hôm, anh gọi điện thoại cho nó, nó nghèn nghẹn nói lỏm bỏm: ”Đàn… đàn… klavia… con muốn…” Anh bèn thở dài và hát cho nó nghe.

Tháng đầu, hầu như ngày nào anh cũng gọi điện thoại cho nó. Rồi thưa dần, thưa dần. Cho đến ngày nọ, anh không gọi cho nó nữa. Sau một tuần, không nghe anh gọi điện thoại, con bé bỏ ăn và nằm bẹp ở nhà, không đi học. Chị chẳng biết gì, cứ mắng nó dở chứng. Một đêm, chị bỗng bật choàng dậy khi nghe tiếng đàn piano vang lên. Chị chạy ra phòng khách, thấy con bé đang ngồi đánh đàn say sưa. Nó vừa đánh, vừa hát thì thầm trong miệng. Chị cứ há hốc mồm, kinh ngạc. Chị không thể tưởng tượng nổi là con bé chơi piano điêu luyện như vậy. Chị chợt nhớ ra là có lần anh nói với chị rằng con bé học đàn piano ở trường khuyết tật, cô giáo khen con bé có năng khiếu. Lần đó, tưởng anh kể chuyện để lấy lòng chị nên chị không quan tâm.

Chị đến gần sau lưng nó và lặng lẽ ngắm nhìn nó đánh đàn. Chị cúi xuống, lắng nghe con bé hát thầm thì cái gì. Chị sởn cả da gà khi nghe con bé hát rõ ràng từng tiếng một, mà lại bằng tiếng Việt hẳn hoi: 

“… Nhớ những năm xa xưa ngày cha đã già với bao sầu lo… sống với cha êm như làn mây trắng… nhớ đến năm xưa còn bé, đêm đêm về cha hôn chúng con… với tháng năm nhanh tựa gió… ôi cha già đi cha biết không…”

Chị choàng tay ra trước cổ nó và nhẹ níu, ôm nó vào lòng. Lần đầu tiên, chị ôm nó âu yếm như vậy. Chị thấy tay mình âm ấm. Nó ngừng đàn, đưa tay lên ôm riết tay mẹ vào lòng ngực. Nó khóc. Chị xoay vai nó lại, nhìn vào khuôn mặt đầm đìa nước mắt của nó. Nó chìa cho chị một tờ giấy khổ A4 đã gần như nhàu nát. Chị cầm tờ giấy và chăm chú đọc, rồi thở hắt ra, nhìn nó và hỏi: ”Con biết bố con bị ung thư lâu chưa?” Nó chìa bốn ngón tay ra trước mặt mẹ. Chị hỏi: ”Bốn tháng rồi hả?” Nó gật đầu.

Chị nhìn chăm chăm vào tờ giấy và, từ từ ngồi thụp xuống nền nhà, rũ rượi, thở dài. Con bé hốt hoảng, đến bên mẹ, ôm mẹ vào lòng, vuốt mặt mẹ rồi, vừa ấp úng, vừa ra hiệu cho mẹ. Đại ý là nó diễn đạt rằng: “Bố lên ở trên Thiên Đường rồi, mẹ yên tâm, con đã xin vào nội trú ở trường dưới Hamburg. Ngày mai, con sẽ về dưới đó, con không ở lại đây lâu để làm phiền mẹ và em đâu! Con về ở tạm đây là vì bố muốn thế, bố muốn mình ra đi được nhẹ nhàng và yên tâm là có mẹ ở bên con.”

Chị cũng ôm nó vào lòng, vỗ vỗ vào vai nó và nói: ”Con gái ngoan của mẹ, ngày mai, nếu mẹ sắp xếp được công việc, mẹ sẽ đưa con về Hamburg…”

Lời kết:

Tôi nghe người ta kể lại câu chuyện đó khi dự cuộc biểu diễn nghệ thuật của học sinh khuyết tật và khiếm thị. Khi thấy em gái đệm đàn piano cho dàn đồng ca, cứ khăng khăng đòi phải đàn và hát bài “Người Cha Yêu Dấu” bằng tiếng Việt trước, sau đó mới chịu đệm đàn cho dàn đồng ca tiếng Đức. Quá kinh ngạc, nên tôi cứ gạn hỏi mãi người trong ban tổ chức. Cuối cùng, họ kể cho tôi nghe câu chuyện như vậy.

Câu chuyện đơn giản, không nhiều tình tiết, đã lấy đi nước mắt của nhiều người đọc. Tôi hình dung cảnh người cha Việt Nam gầy ốm, bệnh hoạn và đứa con gái tật nguyền tội nghiệp của anh trên đất khách quê người.

Tôi thấy được hình ảnh đứa con gái tưởng nhớ người cha – mà em biết đã mất rồi – qua tiếng đàn piano. Tiếng đàn ấy đau đớn biết bao. Tôi nghe được cả lời ca nghẹn ngào của em…

Nhớ những năm xa xưa, ngày cha đã già với bao sầu lo… sống với cha êm như làn mây trắng… nhớ đến năm xưa còn bé, đêm đêm về cha hôn chúng con… với tháng năm nhanh tựa gió… ôi cha già đi cha biết không…

Nguyễn Đại Hoàng

Blog Archive