Monday, July 29, 2019

Người Hồng Kông di dời sang ở Singapore vì khủng hoảng chính trị gia tăng


Băng Thanh/ Đại Kỷ Nguyên

Người đi bộ đi dạo qua khu mua sắm đường Orchard ở Singapore vào ngày 11 tháng 4 năm 2016. (Ảnh: AFP)
Nhiều người dân Hồng Kông đang tìm mua nhà và ghi danh cho con cái họ vào các trường học ở Singapore trong bối cảnh cuộc khủng hoảng chính trị ngày càng sâu sắc ở Hồng Kông, theo SCMP.
Clarence Foo, phó giám đốc nhóm tại công ty bất động sản OrangeTee & Tie cho biết các thắc mắc từ người dân Hồng Kông về bất động sản tại Singapore đã tăng khoảng 30 đến 40% trong 2 tháng qua.
“Singapore đã rất phổ biến đối với người Hồng Kông vì [nó gần Hồng Kông], nhưng các cuộc biểu tình gần đây chắc chắn đã có tác động, nó xúc tiến kế hoạch di dời hoặc cho họ lý do để làm như vậy”, Foo, người hiện có 5 khách hàng từ Hồng Kông cho biết.
Tại trường quốc tế ISS, nơi cung cấp chương trình đào tạo tú tài quốc tế, giám đốc truyền thông tiếp thị và tuyển sinh Paul Adamberry cho biết yêu cầu nhập học trong 2 tháng qua đã tăng 50 đến 60% so với đầu năm.
Adamberry cho biết 6 học sinh đến từ Hồng Kông sẽ tham gia chương trình học tập của trường vào tháng 8 tới, đây được coi là mức cao kỷ lục và tăng đáng kể so với trung bình 1 hoặc 2 học sinh trong những năm học trước.
“Những thắc mắc này được thực hiện chủ yếu bởi các gia đình phương Tây và Quảng Đông tại Hồng Kông, những người đang tìm cách chuyển đến Singapore vì lý do cá nhân… và họ đang tìm kiếm các lựa chọn thay thế cho tương lai của họ”, ông Adamberry nói.
Kể từ tháng trước, bất ổn chính trị đã làm rung chuyển Hồng Kông bắt nguồn từ một dự luật dẫn độ cho phép dẫn độ các nghi phạm sang các khu vực mà Hồng Kông không có thỏa thuận dẫn độ, trong đó có Trung Quốc đại lục.
John Hu, người sáng lập và cố vấn chính của Công ty tư vấn di cư John Hu có trụ sở tại Hồng Kông, cho biết các yêu cầu di cư đã tăng gấp đôi trong 2 tháng qua và công việc kinh doanh của ông đã được cải thiện 40%.
“Úc, Canada và Hoa Kỳ [trở thành] các điểm đến nhập cư chính với những lý do như [đi theo] liên kết gia đình”, ông Hu nói. “Những người khác là các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu như Ireland, Bồ Đào Nha, Malta và các nước châu Á như Đài Loan, Malaysia, Singapore”.
Gavin She, giám đốc tư vấn bất động sản Savills, Hồng Kông cho biết có một sự tăng đột biến người Hồng Kông hỏi về bất động sản Singapore.
“Tôi tin rằng một số người đã bắt đầu mở tài khoản tại các ngân hàng tư nhân ở Singapore nhưng tôi chưa thấy một số lượng lớn giao dịch bất động sản nào vì thuế trước bạ của người nước ngoài mua nhà ở Singapore tương đối cao”, Gavin giải thích thêm rằng chính sách nhập cư ở Singapore “rất nghiêm khắc”.
Chandran V.R., giám đốc điều hành của công ty bất động sản Cosmopolitan Real Estate cho biết những người mua tiềm năng từ Hồng Kông cảm thấy Singapore rộng rãi hơn. Khách hàng của ông, chủ yếu là các gia đình có một hoặc hai con – thường có ngân sách từ 5 triệu đô la đến 20 triệu đô la Singapore (từ 3,7 triệu USD đến 14,7 triệu USD) đã chọn mua nhà ở các khu dân cư trung tâm của Singapore.

The Pinnacle @ Duxton, dự án phát triển nhà ở công cộng 50 tầng của Ủy ban Phát triển và Nhà ở Singapore (HDB). (Ảnh: Roy Issa)
Đối với George Chan, người Hồng Kông, 38 tuổi, làm việc trong ngành tài chính, các yếu tố như tỷ lệ tội phạm thấp và không có thiên tai là một sức hút để anh cùng với vợ và đứa con trai 2 tuổi chuyển đến Singapore vào năm ngoái.
“Lớn lên trong một môi trường quốc tế sẽ giúp [con trai tôi] được trang bị tốt hơn cho tương lai ngày càng được toàn cầu hóa”, Chan nói, “sự hỗn loạn gần đây cũng khẳng định lại quyết định của tôi”.
-------------
Thm sát  Vancouver


Vụ án biệt thự Hoa Kiều rúng động nhất mà người dân thành phố Vancouver từng chứng kiến. Một ông bố trót "sống nhờ" nhà tỷ phú, ông bố họ Li suốt ngày phải nhịn nhục nhưng cơn tức giận bỗng vỡ òa khi "người cậu" họ Gang đòi cưới cô con gái xinh đẹp của mình, đã ra tay sát hại dã man người họ hàng giàu có này  . 

Sau khi phân xác nạn nhân hơn 108 mảnh để dễ phi táng hay để thỏa mãn cơn cuồng nộ của mình, Li Zhao tự nấu một gói mì cho buổi sáng. Nhưng ông ta đã không có cơ hội dùng bữa.

Thay vào đó, Zhao - một người đàn ông nhỏ nhẹ, di dân từ Trung Quốc - đang bị vây lấy bởi đội cảnh sát hình sự Vancouver (Canada). 

Theo camera an ninh cho thấy, người đàn ông đã giết hại Yuan Gang - tay tỷ phú sở hữu căn biệt thự 8 triệu USD, cũng là người bà con và là ân nhân từng giúp đỡ nhà họ Li.

Từ tầng trên của biệt thự, viên sĩ quan âm thầm quan sát ông Zhao thông qua lớp kính, nhìn thấy người đàn ông vẫn im lặng và tỉ mỉ rửa đi vết máu từ con dao dùng để phi tang xác. Suốt cả đời, Zhao đã luôn cặm cụi và bị người khác từ trên cao nhìn xuống như thế.

Thật ra Zhao từng có tham vọng và niềm tin vào một cuộc sống giàu có, tự tin ngẩng đầu làm người. 

Thế nhưng khi niềm tin trao lầm cho người bà con Yuan Gang nhiều tâm kế, mọi thứ đã nhanh chóng biến thành bi kịch.

Yuan Gang và sự giàu có chết người

Yuan Gang bị sát hại chỉ vài tuần trước sinh nhật lần thứ 42 của mình. Sinh ra trong một gia đình giàu có nhờ khai thác than đá ở tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc, Yuan sớm hưởng thụ cuộc sống của một đại công tử. 

Sau này, ông còn mở rộng việc kinh doanh và trở thành tỷ phú. Tuy vậy, Yuan cũng vướng vào không ít điều tiếng. 

Năm 2015 ông từng đối diện hàng loạt vụ kiện nhưng vào thời điểm tòa tuyên án thì đã sang Canada định cư gần 10 năm.

Sinh ra đã giàu, tự tay làm nên của cải lại càng giàu có - Yuan Gang đại diện cho tầng lớp "phú nhị đại" ngày càng xuất hiện nhiều ở Canada (Ảnh: Chris Johnson)

Đó là nhờ hồi tháng 9/2005, Yuan cưới vợ người Canada gốc Hoa và được bảo lãnh sang đất nước lá phong. Ông cũng nhanh chóng ly dị vợ vào năm 2007 - khoảng hai tháng sau khi được cho phép cư trú vĩnh viễn. 

Bước đi tiếp theo của Yuan là đầu tư vào nhà đất. 

Ông chi 35 triệu đô la Canada thâu tóm nhiều khu bất động sản đáng thèm khát ở British Columbia và Saskatchewan, nhanh chóng hòa nhập vào cộng đồng "phú nhị đại" (thế hệ thứ hai sinh ra trong gia đình người Hoa giàu có) đang ngày càng đông lên ở Canada. 

Đáng chú ý nhất là việc Yuan bỏ ra 8 triệu USD mua căn biệt thự số 963 King George's Way, nằm trong khu vực đồi núi trong lành và có địa thế đẹp. 

Chính căn biệt thự này là khởi đầu cho vụ án rúng động nhất từ trước đến nay ở Vancouver.

Căn biệt thự hào nhoáng (Ảnh: NY Times)

Kiếm được càng nhiều thì Yuan Gang lại tiêu càng lớn. Người đàn ông không ngại tái đầu tư vào hàng loạt khu nhà đắt đỏ nhất Vancouver cũng như sưu tầm siêu xe. 

Ngoài ra, ông mua đảo Pym làm nơi nghỉ dưỡng với giá 2 triệu USD cùng chiếc du thuyền sang trọng.

Nhưng, để tránh thuế trong trường hợp trao đổi mua bán sau này, vị thương nhân không muốn tất cả tài sản đều đứng tên mình. 

Đó cũng chính là lúc ông ngẫm lại các mối quan hệ họ hàng gần xa và muốn "giúp đỡ" những người bà con đang chật vật tìm kiếm một cuộc sống giàu có hơn.

Năm 2010, nhận được lời mời của anh họ Yuan Gang, bà Li Xiaomei cùng chồng mình - Li Zhao và con gái tuổi teen - Florence Li đã dọn đến Vancouver, sinh sống bên trong căn biệt thự đẹp như mơ. 

Để đổi lấy chuyện "ăn sung mặc sướng" trong nhà người bà con, ông Zhao hàng ngày phụ giúp chuyện kinh doanh cho Yuan, còn vợ thì làm quản lý tài chính và nấu ăn.

Phác họa bị cáo Li Zhao trước vành móng ngựa (Ảnh: SCMP)

Bản thân Zhao là một người đàn ông chỉ cao hơn 1m50, tính tình nhu mì ít nói. Cuộc đời của ông đã gặp nhiều bất hạnh từ năm 9 tuổi khi phải cách xa bố, sau đó còn bị bắt nạt suốt thời đi học. 

Tuy vậy vận may đã đến khi ông cưới người vợ Xiaomei khá giàu có, còn gặt hái được nhiều thành công sau khi khởi nghiệp một xí nghiệp in ấn. 

Dành dụm được một chút của cải, năm 2007, cả nhà di cư sang Canada với tham vọng đổi đời. 

Cuộc sống nơi đất khách quê người khó khăn hơn họ tưởng, 3 năm đầy trắc trở ở Montreal khiến kinh tế gia đình ngày càng suy kiệt. 

Vậy nên khi nhận được lời mời của Yuan Gang, cả nhà không thể chối từ. Họ bèn khăn gói đi đến căn biệt thự ở King George's Way, Vancouver.

Vị ngọt chưa nếm trải được bao lâu thì Zhao lại cảm thấy nhiều điều chua chát bên trong căn biệt thự. Sau thời gian phất lên như diều gặp gió, chuyện kinh doanh của Yuan Gang bắt đầu lao đao ở quê nhà Trung Quốc. 

Ông ta ngày càng quá quắt, xét nét và đòi hỏi vô ly' từ phía nhà họ Li. Tại công ty, Yuan cũng không giữ sĩ diện cho Zhao mà nhiều lần quát tháo ông ngay trước mặt các nhân viên khác.

Thế nhưng mọi bi kịch chỉ bắt đầu khi con gái rượu của Li Zhao - Florence - lột xác trở thành một mỹ nữ đôi mươi, khí chất sang trọng như vốn được sinh ra trong nhung lụa. 

Tận dụng sắc đẹp và cả căn biệt thự xa hoa của người bà con làm bàn đạp, Florence xây dựng hình ảnh như một đại tiểu thư đích thực, lấy nghệ danh là Flo-Z để bước chân vào ngành thiết kế thời trang.

Florence Li xinh đẹp. (Ảnh: Handout)

Năm 26 tuổi, Florence tham gia vào một chương trình thực tế phát sóng trên YouTube mang tên "Ultra Rich Asian Girls" (Những cô gái siêu giàu châu Á). 

Chương trình tập trung vào 4 nàng thiên kim tiểu thư tại Vancouver với cuộc sống thượng lưu khó ai bì kịp. 

"Chúng tôi không giới hạn bản thân trong những tiêu chuẩn của người khác, và thật tuyệt vời khi đủ khả năng để làm điều ấy" - Florence nói trong một tập phát sóng.

Florence trong show thực tế "Những cô gái siêu giàu châu Á" khá nổi tiếng ở Vancouver. (Ảnh: HBICtv)

Cô gái trẻ còn thoải mái cho ghi hình và giới thiệu cuộc sống sang trong đáng mơ ước của mình trong căn biệt thự. 

Florence dẫn đoàn làm phim lướt qua bể bơi, quay lại những chiếc Rolls Royce và cả hòn đảo tư nhân mà cô luôn miệng khẳng định là của gia đình mình, cho biết "sẽ nghỉ ngơi tại đó mỗi lần muốn né tránh thị phi".

Tuy nhiên theo bạn bè chia sẻ, điều Florence muốn né tránh nhất là việc ở gần Yuan Gang - người cô gọi là "cậu". 

Florence khẳng định ông ta là "kẻ săn lùng gái đẹp" và nuôi giữ mối ác cảm, bất chấp việc cô hoàn toàn tận hưởng cuộc sống giàu sang ảo mộng do chính "cậu Yuan" đem lại.

Phát súng đoạt mạng bất ngờ của ông bố hay âm mưu được toan tính?

Hàng ngày chịu nhiều sỉ nhục ở nơi làm việc, về nhà còn thấy ánh mắt háo sắc của Yuan Gang dành cho con gái mình, Li Zhao đã ôm hận trong lòng. 

Vào một ngày thứ Bảy rực nắng tháng 5/2015, Yuan và Zhao cãi nhau lần cuối cùng. Khi đó, Yuan nói bằng mọi giá sẽ cưới con gái của Zhao làm vợ.

Khai nhận trước tòa, Zhao cho biết mình đã vô cùng tức giận khi nghe thấy lời đề nghị táo tợn và đáp lại: "Cậu thật chẳng khác nào loài cầm thú, còn tệ hơn cả cầm thú". 

Nghe vậy, Yuan cũng trở nên cuồng nộ và dùng búa tấn công Zhao. 

Zhao vội phản công bằng cách nổ liên tiếp 2 phát súng nghiệt ngã, sau đó phân xác nạn nhân. "Tôi đã từng nghe người ta nói về những con gấu và cách làm thịt gấu" - trích lời khai đáng sợ của Zhao trước tòa án khi được hỏi về thủ đoạn tàn độc.

Hiện trường án mạng năm 2015. (Ảnh: CBC)

Tại tòa án, luật sư biện hộ của Li Zhao cho rằng thân chủ bị kích động trước lời hỏi cưới nên mới buông lời sỉ nhục Yuan Gang, sau đó bắn chết ông ta để tự vệ. Từ đó, luật sư đề nghị khép Zhao vào tội ngộ sát thay vì mưu sát.

Thế nhưng Chris Johnson - luật sư của gia đình Yuan Gang - lại cho rằng động cơ là vì tiền. Zhao vốn ôm nỗi căm phẫn vì không được chia phần trong 1 mảnh đất nông trang mà Yuan sắp sửa bán đi. 

Bằng chứng mà luật sư đưa ra là vào 2 ngày trước án mạng, Li Xiaomei - vợ của Zhao - đã âm thầm chuyển 2 triệu USD của Yuan Gang vào tài khoản của mình. 

Bà Li bị cáo buộc tội trộm cắp. Trước đó, Zhao cũng được nhìn thấy đang lái chiếc xe sang Bentley của nạn nhân đi một vòng khắp thị trấn. 

Phía luật sư của Yuan Gang cho rằng, nhà họ Li đã dàn dựng tất cả để chiếm đoạt tài sản của người bà con giàu có.

Dù án mạng đã diễn ra năm 2015, đến nay phán quyết cuối cùng vẫn chưa được tuyên bố. Các phiên tòa tiếp theo sẽ diễn ra trong vài tháng tới, thu hút sự chú ý của dư luận ở cả Canada lẫn Trung Quốc.

Nói về căn biệt thự nơi Yuan Gang cùng nhà họ Li đã chung sống suốt 5 năm, cũng là hiện trường nơi Yuan bị giết hại và phân xác, khối bất động sản này đã liên tục xuống giá trầm trọng. 

Sau cùng, công ty môi giới phải "làm giả" địa chỉ, che đi số 963 bên ngoài cổng và dán giấy, sửa lại thành số 961. Trước đó, hộp thư của ngôi biệt thự chất nghẹt những hóa đơn mà nhà họ Li không thể thanh toán.

Cuối cùng, căn nhà đẹp nhất nhì vùng Vancouver đã sang tay cho một gia đình đến từ Iran. "Không, không người Hoa nào muốn sống ở đây sau tất cả mọi chuyện đã xảy ra. 

Họ cho rằng nó sẽ đem đến vận xui" - luật sư Johnson khẳng định khi ông lo chuyện giấy tờ để bán đi biệt thự, nơi từng chất chứa sự xa hoa lộng lẫy nhưng cũng có lắm bi kịch và tội ác tày trời.

Người Việt quốc gia tại Hàn Quốc


Nghe tin thằng em cùng chí hướng sắp về Mỹ, không biết khi nào hai anh em tôi mới được gặp lại. Chúng tôi hẹn gặp nhau rồi đi đến thành phố Siheung ở tỉnh Gyeonggi~do. Ở tỉnh đó, có một quán ăn của hai vợ chồng người Việt Nam làm chủ. Tôi chọn dùng cơm ở quán ăn xa lắc xa lơ này, vì đây là quán ăn đầu tiên của người VN làm chủ và quán có treo cờ Tổ Quốc.

Hai anh em bắt xe đi gần 2 tiếng đồng hồ mới tới quán. Đúng vậy, khi tiến dần vào quán, tôi đã nhìn thấy màu sắc quen thuộc của lá cờ vàng ba sọc đỏ treo trước cửa quán, trong lòng tôi rộn rã niềm vui khôn tả.

Hai anh em kiếm bàn ngồi và xem thực đơn họ có những món gì. Những món quen thuộc nào là như bánh xèo, bánh mì, phở, v.v... Hai anh em tôi chọn món phở, bánh mì, chả giò, và món mực viên chiên.

Khi thức ăn được đem ra, hai anh em tôi đầu tiên húp thử hương vị nước lèo của món phở như thế nào. Chu choa ui, cái nước lèo thơm phức thoang thoảng mùi quế, hồi, gừng và hành. Món phở này nấu theo vị của người miền Nam.

Theo lời của hai vợ chồng chủ quán thì đa số khách đến ăn là người Hàn Quốc. Họ thích cách nấu của quán này vì khẩu vị rất hợp cho họ. Đa số những quán ăn VN do người Hàn Quốc hoặc người Việt nấu theo hương vị của người miền Bắc nên họ, người bản xứ không thích lắm. Còn nấu theo hương vị của người miền Nam thì họ thích hơn.

Các món anh em tôi chọn, món nào cũng ngon. Ở bên đây đã 10 năm mà hôm đó tôi mới thật sự được thưởng thức những món ăn truyền thống của người VN.

Tôi được biết hai vợ chồng chủ quán quê họ ở Bình Thuận, họ rất ghét cộng sản. Một điều vô cùng thú vị là business card cho tên quán Hồng Hạnh của họ, họ làm nền lá cờ vàng ba sọc đỏ. Card lại được nổi bật và trông thật mềm mại hơn khi góc bên trái phía trên có hình chân dung cô gái Việt búi tóc, mặc áo dài đội nón lá.

Cô chủ còn kể, khi cô làm card và treo cờ vàng ba sọc đỏ, có một số người đã nhạo báng cô nhưng không điều gì làm lay chuyển ý định vợ chồng cô đã chọn.

Hai anh em chúng tôi đại diện cho nhóm Người Việt Tự Do tại Hàn Quốc đã tặng cho quán họ hai lá cờ vàng ba sọc đỏ. Họ treo cờ liền lập tức và chụp hình lưu niệm.

Hôm đó là một ngày đẹp và khó quên của hai anh em tôi. Hy vọng trong tương lai có những quán ăn VN khác sẽ treo cờ Tổ Quốc như hai vợ chồng đáng yêu này.

Jin Su Hyun
Thủ đô Seoul, Đại Hàn Dân Quốc
2019.07.30
Đại sứ cuối cùng của VNCH tại Úc ông Đoàn Bá Cang qua đời


Cựu Đại sứ tại Canberra trong những ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa, ông Đoàn Bá Cang vừa qua đời tại Sydney, hưởng thọ 91 tuổi.

Sinh ngày 18 tháng 8 năm 1928 tại Bến Tre, ông Đoàn Bá Cang tốt nghiệp Luật tại Paris University năm 1953-1954 và bắt đầu làm việc ở Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1954.
Đầu tiên ông làm Tham vụ trong Tòa Đại Sứ VNCH tại Paris từ 1964-1965.
Năm 1965 ông Cang phụ trách khu vực Âu Châu và Phi Châu của Bộ Ngoại giao. 
Ông làm Tham vụ trong Tòa Đại Sứ VNCH tại Tokyo từ 1965-1967, làm Phó Đại sứ tại Paris 1968-1970.
Sau đó ông Cang trở về nước làm Bộ trưởng Bộ Thủ tướng dưới thời Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc trong năm 1967-1968.
Năm 1970-1972 ông Cang làm Công sứ rồi Đại sứ của VNCH tại Nhật, trước khi được cử sang làm Đại sứ tại Wellington New Zealand.
Cuối năm 1974 ông Cang được bổ nhiệm làm Đại sứ của VNCH tại Canberra.
Trong một cuộc phỏng vấn hiếm hoi cách đây bốn năm với SBS Việt ngữ, ông Cang nhớ lại sau khi Hiệp định Paris được ký kết tháng Giêng năm 1973, Tổng thống Thiệu đã triệu tập tất cả các đại diện ngoại giao của VNCH về họp.
"Tôi nhớ là hình như vào đầu tháng 2 năm 1973, thì lúc đó cuộc họp tại Dinh Độc Lập buồn lắm nếu như những ai đã đọc cái văn bản Hiệp định Paris.
"Sau khi họp xong tôi đi thăm Phó Thủ tướng Trần Văn Hương, ổng khóc, ổng kêu tôi bằng cháu, ổng nói cháu biết không, hết rồi, mất rồi..."
Ông Cang từng ở trong phái đoàn đàm phán Hiệp định Paris năm 1968-1969.
"Lúc đó tôi cũng gặp tụi CIA định kỳ để trao đổi tin tức. Có một lần năm 69 họ mời tôi đi ăn trưa và nói hồi nào giờ ông hợp tác với chúng tôi rất tốt, nhưng sao hai ba tháng nay ông thường vắng mặt?"
"Tôi nói các ông qua để giúp bảo vệ cái mảnh đất đó, nhiệm vụ của tôi là phải hợp tác với ông, nhưng tôi thấy bây giờ tình hình khác rồi."
"Tết Mậu Thân chúng tôi không có thua. Mùa Hè lửa đỏ chúng tôi không có thua. Trên mặt quân sự không có thua. Vậy mà bây giờ ông sửa soạn ông đi, thì làm sao tôi có thể ngồi nói chuyện với ông hoài được?"
Ông Cang nhớ lại lời chống chế của đại diện CIA rằng người Mỹ đâu có đi, lúc đó làm cho ông nổi giận. 
"Không phải ông đi mà ông chạy... You are running away!" ông Cang kể với SBS Việt ngữ.
Sau khi Sài Gòn thất thủ, chính phủ Úc Gough Whitlam lúc đó đã thiết lập bang giao với Hà Nội, không cho ông Cang  tị nạn mà chỉ được lưu lại 6 tháng. 
Tháng 11 năm 1975 là lúc hết hạn ông Cang phải rời Úc thì cũng là lúc Thủ tướng Whitlam bị Toàn quyền Sir John Kerr cách chức.
"Bữa đó tôi mua tờ báo Australian tôi đọc thấy 'Whitlam dismissed'. Chuyện gì lạ vậy? Tôi chạy đi mua tờ báo khác thấy cũng tựa lớn 'Dismissed', chuyện thiệt rồi. Tôi cười, vậy là Trời cho tui ở lại đây rồi," ông Cang nhớ lại.
SỰ THẬT NƠI ĐÁY GIẾNG...

Đây là bức tranh nổi tiếng của hoạ sĩ người Pháp Jean Leon Gerome (1824-1904), mang tên “The Truth Coming Out Of Her Well“ - Tạm dịch là SỰ THẬT NƠI ĐÁY GIẾNG.

Bức tranh này được vẽ năm 1894 dựa trên một câu chuyện dân gian như sau:

Chuyện kể rằng có một ngày hè, Sự Thật và Dối Trá tình cờ gặp nhau.

Dối Trá nói: "Hôm nay trời đẹp quá!".

Sự Thật ngước nhìn lên và đúng như lời Dối Trá đã nói: Trời rất trong xanh, tràn ngập nắng vàng, từng cụm mây trắng lững lờ trôi thật đẹp... 

Rồi cả hai lại đến bên một cái giếng. 

Dối Trá nói: "Giếng trong mát quá. Chúng mình hãy tắm đi!". 

Sự Thật mới đầu còn nghi ngại, nhưng khi nhìn xuống giếng, thấy nước trong mát thật, bèn trút bỏ bộ quần áo đẹp và nhảy xuống giếng tắm cùng Dối Trá. 

Chỉ chờ có thế, Dối Trá leo nhanh lên khỏi miệng giếng, khoát vào người bộ y phục đẹp đẽ của Sự Thật rồi bỏ chạy thật nhanh. 

Sự Thật hốt hoảng leo lên miệng giếng, bối rối đuổi theo để giành lại bộ quần áo. Nhưng nàng đuổi tới đâu cũng có đám đông hai bên đường túa ra chỉ trỏ, cười nhạo vì nàng hoàn toàn loã thể. 

Sự Thật trần trụi thấy xấu hổ quá nên không đuổi theo Dối Trá nữa mà chỉ bưng mặt trèo lại xuống đáy giếng, lặn trốn mất tăm.

Kể từ đó, loài người không còn ai nhìn thấy được Sự Thật nữa. Họ chỉ thấy Dối Trá ung dung hiện diện ở mọi nơi, mọi lúc. Họ luôn tán dương nó, vuốt ve nó, say mê nó, học đòi theo nó, chỉ vì vẻ ngoài hào nhoáng và đẹp đẽ mà nó đã ăn cắp từ Sự Thật. 

Sự Thật dẫu có tốt thì vẫn luôn là trần trụi, Dối Trá dẫu xấu xa nhưng lại vô cùng quyến rũ! 

Chừng nào loài người còn say mê trước những ngọt ngào và kiều diễm, thì chừng nấy Sự Thật còn lặn rất sâu.

MỘT XÂU CHUỖI

Có một ngôi chùa, nhân vì thờ một xâu chuỗi Phật Tổ từng đeo mà nổi tiếng.

Nơi thờ phụng sợi chuỗi chỉ có thầy trụ trì và 7 đệ tử biết.

7 người đệ tử đều rất có ngộ tính, thầy trụ trì cảm thấy tương lai đem y bát truyền cho bất kỳ người nào trong bọn họ, đều có thể làm rạng rỡ Phật Pháp. Không ngờ, xâu chuỗi đột nhiên biến mất.

Thầy trụ trì bèn hỏi 7 đệ tử: “Các ngươi ai đã lấy xâu chuỗi, chỉ cần trả về vị trí cũ, ta sẽ không truy cứu, Phật tổ cũng không trách tội”.

Các đệ tử đều lắc đầu.

7 ngày trôi qua, xâu chuỗi vẫn không được trả về. Thầy trụ trì lại nói: ”Chỉ cần ai đó thừa nhận, xâu chuỗi sẽ thuộc về người đó“. 

Lại trải qua 7 ngày, vẫn không ai thừa nhận.

Thầy trụ trì rất thất vọng : “Ngày mai các người hãy rời khỏi chùa xuống núi hết đi, riêng kẻ đã lấy xâu chuỗi ta cho phép ở lại đây".

Qua ngày hôm sau, 6 đệ tử thu dọn xong hành lý, thở nhẹ một hơi dài, nhẹ nhàng ra đi. Chỉ có một người ở lại.

Thầy trụ trì hỏi đệ tử ở lại :
– Xâu chuỗi đâu ?

– Bạch thầy, con không lấy.

– Vậy tại sao chịu mang lấy tiếng trộm cắp?

– Bạch thầy, mấy ngày nay các huynh đệ đều nghi ngờ lẫn nhau, nếu có người đứng ra, mới giải thoát cho chuyện này.

Lại nói : – Xâu chuỗi tuy mất, Phật vẫn còn đây.

Thầy trụ trì cười, lấy xâu chuỗi từ tay áo mình ra, đeo vào tay người đệ tử.

Đây là câu chuyện làm tôi cảm ngộ rất lâu. Không phải mọi việc đều cần nói rõ ràng, cái quan trọng hơn nói rõ ràng đó là: có thể gánh vác, có thể hành động, có thể hóa giải, có thể sắp xếp, có thể thay đổi, nghĩ về mình, càng phải nghĩ cho người khác, đây chính là Pháp. 

Người hiểu bạn, không cần phải giải thích, 
Người không hiểu bạn, giải thích cũng vô ích. 

Đây không chỉ là một loại cảnh giới, mà hơn hết là một loại đại trí huệ.
Yêu Rồi Chết

Minh Karlsson

minh họa lễ hội hóa trang Carnevale di Venezia

Tường Vi: 

Một bàn tay hắn đặt trên lưng tôi, hơi ấm chuyền qua làn vải áo. Bàn tay kia hắn vân vê nhè nhẹ những đầu ngón tay tôi. 

Hắn cao lớn, mang chiếc mặt nạ Bauta Barocco một nửa mạ vàng có viền đen quanh hốc mắt. Nửa kia đen tuyền, hốc mắt viền kim nhũ vàng. Chiếc mũi nhọn như mũi diều hâu của mặt nạ hắn thỉnh thoảng cọ nhẹ vào trán chiếc mặt nạ Colombina Mezza của tôi màu tím nhạt có vẽ những chiếc lá màu cam và đỏ, hai hốc mắt viền đen bí ẩn. Chúng tôi bước theo điệu nhac The Second Waltz của Dmitri Shostakovich. 

Đại sảnh rộng lớn. Những chùm đèn pha lê huyền ảo. Nhạc dìu dặt. Áo xiêm lã lướt. Khung cảnh dễ làm say lòng người. Mà tôi thì vốn đã say suốt ngày hôm nay. Say những chiếc thuyền hoa tưng bừng trên giòng Grand Canal. Say những bộ y phục lộng lẫy ở quảng trường San Marco. Say những đôi mắt huyền bí nấp sau những chiếc mặt nạ đủ hình sắc lạ kỳ. Không khí của mùa lễ hội Carnevale di Venezia làm tôi say ngây như đang sống trong mơ. 

Vợ chồng tôi cùng mấy người bạn đến đây để dự hội và cũng để mừng sinh nhật tôi vào đầu tháng ba sắp tới. Vì công việc của chàng, tôi “ăn sinh nhật" sớm trước hai ngày. Đêm nay là đêm cuối cùng của chúng tôi ở Venice. Ngày mai chúng tôi phải trở về Paris. 

Hắn nhẹ nhàng dìu tôi vào một góc khuất rồi dừng lại. Từ tốn gỡ chiếc mặt nạ của hắn và của tôi. Hắn nói, giọng trầm đục. 

- Tên tôi là Mateo. Tôi đến từ Argentina và đang làm việc ở Paris. Tôi đến đây để gặp em. Ngừng một giây, hắn thì thầm: It’s pre-ordained. 

Tôi như bị bùa mê. Mặc kệ người ta đi Valse, hắn dìu tôi đi Slow. Như phim quay chậm. Những chiếc mặt nạ đã được tháo gỡ. Hai khuôn mặt rất gần nhau. Mắt nhìn sâu vào mắt. Hắn có cặp mắt sáng như hai viên ngọc trai xám đậm nằm dưới đôi mày rậm và rõ nét. Chiếc miệng rộng với đôi môi đầy đặn quyến rũ. Chân râu mới cạo xanh xanh trên mép và quanh cằm. Một khuôn mặt đầy cá tính. 

Hơi thở hắn nóng ấm thoang thoảng mùi kem cạo râu. Hắn ôm sát tôi vào người. Nếu không có lẽ tôi ngã quỵ. Toàn thân tôi hừng hực như thiêu như đốt. Cổ họng tôi khô rát. Tôi hốt hoảng ngoái đầu tìm bóng chồng. Chàng đang ngồi kia, khuôn mặt tươi sáng, vô tư nói cười với bạn bè. 

Chàng lúc nào cũng vậy, vô tư, tự tin ở mình và tin người, hoàn toàn lơ đãng với những sự dối trá lừa lọc chung quanh. Hơi thở chàng cũng thơm tho, buổi sáng lại thơm mùi trà đen Earl Grey và chanh tươi. Nhưng tôi đã hưởng hơi thở đó hơn mười lăm năm nay. Chàng quá quen thuộc. Chàng quá thân thiết và cũ kỹ. Hắn mới mẻ, xa lạ, lôi cuốn. 

Hắn đưa hai ngón tay đỡ dưới cằm tôi, xoay mặt tôi lại đối mặt hắn. 

- Đừng nhìn đi nơi khác. Hãy nhìn tôi đây. - Don’t look away. Look at me. Look at me. 

Ánh đèn chuyển sang mờ ảo. Những bộ dạ phục lộng lẫy và những chiếc mặt nạ hình thù quái dị với những hố mắt đen ngòm chờn vờn chung quanh tôi như cười cợt, như răn đe. Những bức họa trên trần xoay quanh, màu sắc nhòe nhoẹt. Tôi hoảng sợ bứt người ra khỏi tay hắn chạy ra ngoài, xuống những bậc thềm, qua khoảng sân rộng, đến bên bờ nước. Ngoài kia giòng Grand Canal nước mông mênh. Sóng rào rạt muốn tràn bờ. Như sóng trong lòng tôi, rạt rào, thôi thúc. 

Tôi hít thật sâu khí lạnh vào buồng phổi. Rồi thở ra thật dài. Thầm nghĩ mình đã thoát. Đúng giây phút ấy, khuôn mặt hắn không hiểu từ đâu ra, không hiểu bằng cách nào, bỗng ập vào mặt tôi đột ngột. Cái hôn vừa quyết liệt vừa nâng niu. Mùi kem cạo râu thoang thoảng. Tôi rơi tự do trong bầu trời đen huyền ảo. Địa ngục? Thiên đường? Tất cả đều không thật. Chỉ có tôi và hắn. Không cần ăn. Không cần ngủ. Không cần cả không khí. Sá chi ước lệ đời thường. Chỉ cần hơi thở nóng ấm thơm tho của hắn. Và lửa thiêu đốt tôi. 

Hắn kéo tôi chạy xuống chiếc water taxi đậu dưới bến. Hắn hét tên khách sạn: 

- Danieli! 

Tên lái thuyền không nói không rằng, mở máy cho thuyền chạy. 

Tôi nhìn lên: bóng chàng hiện ra trước cửa đại sảnh. Ánh đèn màu loang lóang sau lưng. Chàng chạy vội xuống thềm, kêu tên tôi: Tường Vi! Tiếng kêu của chàng vang lên cùng nhịp với tiếng hét của hắn. 

Danieli! 

Tường Vi! 

Tiếng kêu tan vào không trung. 

Vào khoảng gần sáng hắn thức giấc. Vuốt nhè nhẹ lên cánh tay tôi, hắn thì thầm. 

-Em ở lại đây với tôi hôm nay. Ngày mai chúng ta về Paris với nhau. 

Vâng, tôi sẽ ở lại đây với hắn. Không thể khác. Mùi kem cạo râu của hắn vẫn còn vương vấn trên da thịt tôi. Đam mê nồng nàn của hắn vẫn còn nóng hổi trong tôi. Chúng tôi vẫn chưa nguôi khao khát nhau. Tôi không thể nào đối mặt với chồng tôi lúc này. Hoan lạc và đau khổ làm tôi bứt rứt. Hôm nay chàng sẽ đáp máy bay về lại Paris. Chàng sẽ không đợi tôi. Sẽ không đi tìm tôi. Chàng đã thấy tôi cùng hắn đi xuống thuyền. 

"Tên tôi là Mateo. Tôi đến từ Argentina và đang làm việc ở Paris. Tôi đến đây để gặp em. It’s pre-ordained." 

Pre-ordained? 

Hắn là ai? Là định mệnh của tôi. Như gã đánh bạc có đôi bàn tay kỳ diệu là định mệnh của người đàn bà trong quyển tiểu thuyết của Stefan Zweig đã ám ảnh tôi một thời? 

Tường Vi! 

Danieli! 

Tường Vi! 

Danieli! 

Tiếng kêu cứ vang dội trong đầu. Tôi òa khóc. Hắn kéo tôi vào lòng, ôm thật chặt. Em nhức đầu kinh khủng. Tôi nói. 

Mateo: 

Tôi sinh ra và lớn lên ở Santa Rosa, thủ phủ của tỉnh La Pampa, khỏang 600km về phía tây của Buenos Aires. Santa Rosa chỉ là một thành phố bậc trung có vài viện bảo tàng, vài shopping malls mà khi bắt đầu bước vào tuổi mười sáu, tôi thấy nó buồn tẻ, chán phèo. Ngoài những giấc mơ về đàn bà, tôi mơ ước được đi phiêu du đây đó đến những chân trời xa lạ trên thế giới. 

Ở tuổi mười sáu, mười bảy, tôi mơ tưởng đàn bà triền miên. Tôi thích Martina, bạn học cùng lớp và chúng tôi đi chơi với nhau nhiều lần nhưng con bé chỉ cho tôi vuốt tóc và hôn môi chứ không chịu tiến xa hơn. Con bé làm cao lắm. Vừa học giỏi vừa đẹp mà. 

Tóc màu hạt dẻ. Mắt xanh lục ngọc bích. Cặp môi nũng nịu nhìn chỉ muốn cắn. Tôi thích nhất là thân hình thon nhỏ mà bộ ngực tròn đầy đặn vồng lên dưới những cái áo T-shirt hiệu Esprit mà nó hay mặc. Nhưng nó cứ ngủng ngoẳng nói không hoài làm tôi điên tiết. Tôi muốn dứt tình với nó cho rồi nhưng thôi kệ, có còn hơn không. Vậy mà cũng cù cưa kéo dài đến mấy tháng. 

Rồi may phước thay, tôi gặp Sofia. Tôi gặp nàng ở một đêm chợ phiên có khiêu vũ. Nàng đẹp mê hồn trong đôi mắt trai mười bảy là tôi. Nàng đúng là một “người đàn bà lý tưởng” mặc dù tôi chưa bao giờ có trong đầu một mẫu người đàn bà lý tưởng nào cả. 

Đối với tôi lúc ấy chỉ cần là đàn bà và "trông ngon mắt" là đủ. Nhưng Sofia đẹp thật. Mắt nàng to và sâu. Đôi môi dày gợi cảm. Tóc dài xõa xuống nửa lưng. Thân hình nàng khêu gợi trong chiếc áo đầm ngắn màu đen bó sát người, cổ khoét sâu. Một chiếc “little black dress" cổ điển. 

Trông thấy tôi nhìn đắm đuối, nàng mỉm cười độ lượng và ra hiệu cho tôi khiêu vũ với nàng. Tôi nhảy vụng về luống cuống nhưng nàng khen tôi xinh trai và nàng thích tôi. Tôi sướng mê tơi. Thế là Sofia trở thành người đàn bà đầu tiên trong đời tôi. Tôi như đi trên mây, quên béng cô bé Martina đỏng đảnh có đôi mắt màu lục ngọc bích. 

Qua những lần hẹn hò lúc chồng nàng đi công tác xa, rất thường xuyên, Sofia thủ thỉ kể chuyện. Nàng lấy chồng năm hai mươi tuổi. Chồng nàng lớn hơn nàng hai mươi ba tuổi. Nàng không yêu chồng. Sau mười lăm năm chung thủy tận tụy với chồng, nàng tự cho là mình đã trả hết được những món tiền, rất lớn, mà ông ta đã bỏ ra cho nàng và gia đình nàng. Bây giờ nàng muốn sống cho mình. Nàng đi tìm tình yêu và lạc thú trước khi tuổi già ập đến. Nếu có cả hai cùng một lúc thì càng tốt, nàng nói. 

- Tôi không muốn chết mà không biết yêu đương là gì. Em có khinh tôi không, Mateo? 

Ồ không! Tôi không bao giờ khinh nàng. Tại sao khinh đã chớ? Nàng là người đàn bà xinh đẹp nhất, độ lượng nhất, dịu dàng nhất trên thế gian, chỉ thua có mỗi mẹ tôi thôi. Tôi nói với nàng như thế và nàng cười, bẹo má tôi:

-Em dễ thưong quá, Mateo. Ngộ nghĩnh như một chú bê con. Mi corderito. 

Tôi yêu nàng lăn lóc và đau khổ vô biên khi phải xa nàng để lên Buenos Aires học đại học. Nàng dứt tình với tôi cái rụp. Không thư từ, không điện thoại. Tôi viết cho nàng, không có hồi âm. Nhắn tin qua điện thoại cũng vậy. Tôi nghĩ có lẽ nàng đã có một con bê khác, hay ngon lành hơn, một người đàn ông đã trưởng thành và sành sõi hơn tôi. 

Tôi nghĩ đến nàng với niềm trìu mến và tôi cầu chúc nàng may mắn. Mấy tháng đầu tiên tôi buồn và nhớ nàng da diết nhưng rồi việc học hành và những mối tình với mấy cô sinh viên cùng lứa làm tôi nguôi ngoai dần. 

Thủ đô Buenos Aires thích hợp với tôi hơn là Santa Rosa quá êm ả. Đây là “Paris của Nam Mỹ”, đầy sinh động, tưng bừng với nhiều bản sắc văn hóa khác biệt, những kiến trúc tráng lệ, những buổi hòa nhạc... Tôi sống những năm tháng nhiều ưu tư thao thức nhưng cũng đầy nhiệt tình và sôi nổi của tuổi trẻ ở Buenos Aires. 

Bây giờ tôi ba mươi bảy tuổi, có việc làm tốt ở Paris. Tôi đã đi chu du nhiều nơi trên thế giới như ngày xưa từng ao ước. Tôi có một cô bạn gái xinh đẹp, thành đạt, tự tin. Khuyết điểm của Isabelle là nàng quá cứng rắn với nguyên tắc, trong công việc cũng như trong cuộc sống. Chúng tôi bồ bịch đã bốn năm nhưng ai ở nhà nấy, mỗi tuần đến với nhau vài ngày. Tôi chưa xác định được mình có muốn ràng buộc với nàng suốt đời không. 

Tôi không nghĩ là tôi có thể sống chết vì nàng. Tim tôi không cháy bỏng vì yêu, chỉ ấm áp vừa phải. Chúng tôi cảm thấy yên ổn bên nhau, quý mến và tin cậy nhau. Hình như chỉ có thế. Với tôi, như thế chưa đủ. Isabelle có đề cập việc sống chung nhưng tôi ậm ừ. Nàng hiểu và không hề mè nheo. Nàng vẫn chung thủy với tôi, kể cũng lạ. 

Hôm thứ ba vừa qua, khi đến phòng ăn của sở để lấy một tách cà phê, mắt tôi bỗng ngừng lại ở bức tranh vẽ cảnh Grand Canal của Venice trên tường. Nó nằm đó không biết từ bao giờ, một bức tranh tầm thường, tôi không để ý đến. Nhưng hôm ấy nhìn nó, tôi bỗng thấy xốn xang kỳ lạ, hình như có một sự thôi thúc mơ hồ. Tôi nghĩ, ừ mình nên qua Venice vài ngày để thay đổi không khí. Vậy là tôi lấy ngày nghỉ, bay sang Venice. 

Tôi đã đến đây vài lần với Isabelle nhưng lần này tôi không mời nàng. Tôi gởi text message cho nàng biết tôi đi Venice. Nàng text lại cho tôi chúc đi chơi vui. Không hề thắc mắc. Đã nói là Isabelle rất độc lập, rất tự tin, không bao giờ mè nheo. 

Đó là một ngày quang đãng, nắng đẹp. Công trường San Marco nhộn nhịp những tiếng những hình những sắc của mùa lễ hội Carnavale di Venezia. Tôi không quan tâm mấy đến sự hội hè. Tôi đến đây chỉ để thay đổi không khí, vậy thôi. Một chút nắng cũng đủ làm tôi hài lòng. 

Tôi ngồi ở một quán cà phê ngoài trời nhìn người qua lại. Và tôi nhìn thấy nàng. Nàng đứng với hai người đàn ông và một người đàn bà. Họ nói chuyện bằng tiếng Anh giọng Mỹ. Bầy bồ câu luẩn quẩn bên chân họ. Nàng mặc áo len đen cổ cao bó sát người, váy màu vàng sẫm ngắn trên đầu gối một chút. Vớ đen và bottines đen. Tóc nàng suông mượt thả xuống vai. Đôi mắt nâu vừa ngây thơ vừa thoáng nét u hoài. Nhưng khi nàng cười, cái cười thật tươi, nét u hoài biến mất, khuôn mặt nàng tỏa sáng một hạnh phúc trẻ thơ. Nàng không đẹp theo tiêu chuẩn cổ điển nhưng có một sức thu hút lạ lùng. 

Tôi chăm chú theo dõi từng cử chỉ của nàng. Nàng vén tóc vào sau vành tai. Nàng nheo mắt đá nhẹ vào chân người bạn gái. Nàng nhắm mắt và ngửa mặt lên như muốn thu hết ánh nắng của một ngày tươi đẹp. Mà quả thật nàng đã thu hết ánh sáng của Venice về mình. Tôi không còn thấy ai ngoài nàng. 

Khi bắt gặp tôi nhìn nàng đăm đăm, nàng không quay đi. Đôi mắt nàng cầm giữ cái nhìn của tôi. Chúng tôi nhìn nhau như thế, thật lâu, thật lâu. Tôi chợt hiểu tại sao tôi đến Venice. Tôi biết cuộc gặp gỡ này đã được sắp đặt trước. Do ai, tôi không biết, không muốn biết, vì tôi là kẻ vô thần. Nhưng chắc chắn là thế. Pre-ordained. 

Một trong hai người đàn ông, có lẽ là bạn trai hay chồng nàng, nắm tay nàng kéo đi. Bọn họ đi về hướng Calle del Dose và bước vào khách sạn Novecento. 

Tôi chạy về khách sạn của mình, tắm rửa, cạo râu, thay áo rồi trở lại khách sạn của họ. Tôi ngồi ở quán cà phê gần đó, ở một bàn ngay trên lề đường để dễ quan sát. 

Tôi uống hết một ly café latte rồi một chai S. Pellegrino 500ml mà vẫn chưa thấy bóng nàng đi ra. Thế nào họ cũng phải ra chớ? Không ai tới Venice để đóng cửa đi ngủ sớm trong khách sạn. 

Tôi kêu thêm một tách espresso. Vội vã đi vào phòng vệ sinh (chai S. Pellegrino 500ml chết tiệt!), vừa tiểu vừa nhấp nhổm sợ nàng ra đi trong lúc tôi đang làm cái việc bần tiện này. 

Cuối cùng họ cũng bước ra. Nàng mặc áo đầm lụa đỏ mềm mại hở vai dài tới gót, choàng khăn thật mỏng trong suốt màu tím nhạt. Mặt nạ của nàng màu tím có vẽ vài cánh lá vàng và cam. Người đàn ông, có-lẽ là-bạn-trai-hay-chồng-nàng, quàng tay ôm eo nàng trong khi nàng khoác tay người bạn gái. 

Họ đi đến một đại sảnh có dạ vũ hóa trang. Tôi vào một cửa tiệm gần đó mua một chiếc mặt nạ "Bauta Barocco" một nửa mạ vàng có viền đen quanh hốc mắt, nửa kia đen tuyền, hốc mắt viền kim nhũ vàng. 

Tôi bước vào đại sảnh. Dàn nhạc đang chơi bản "My Sweet and Tender Beast" của Eugen Doga. Điệu nhạc êm đềm tha thiết làm tôi muốn ôm nàng trong tay. Nhưng nàng đang nhảy với người đàn ông có-lẽ-là-bạn-trai-hay-chồng nàng. 

Đợi bản nhạc chấm dứt tôi đi thẳng đến bên nàng. Tôi đưa tay mời nàng, người đàn ông lịch sự rút lui. Tuy cả hai đều mang mặt nạ nhưng nàng nhận ra tôi ngay. Đôi mắt nàng mở to, ngạc nhiên, hoảng hốt, và reo vui. 

Chúng tôi bước theo điệu nhac "The Second Waltz" của Dmitri Shostakovich. Ôm nàng trong tay, tôi nghe hơi ấm của nàng chuyền vào thân thể tôi như nước triều ấm phủ vào người khi tôi tắm biển đêm mùa hè ở Mar del Plata. Tôi nhận biết cảm xúc của nàng, sự run rẩy, dù rất nhẹ, của nàng. Chúng tôi đã nhận biết tín hiệu của nhau. 

Tôi dìu nàng vào một góc vắng, gỡ hai chiếc mặt nạ bỏ xuống đất. Hai khuôn mặt rất gần. Mắt nhìn sâu vào mắt. Tôi nói : 

- Tên tôi là Mateo. Tôi đến từ Argentina và đang làm việc ở Paris. Tôi đến đây để gặp em. 

Nàng nhìn tôi hoảng hốt như một con nai bị sập bẫy. Vùng ra khỏi vòng tay tôi, nàng bỏ chạy. 

Tôi tìm thấy nàng bên bờ nước. Không nói một lời, chúng tôi hôn nhau. Tôi kéo nàng xuống một chiếc water taxi. Khách sạn của tôi gần đó nhưng chúng tôi không muốn mất thời giờ, không đủ kiên nhẫn. 

Sau một trận tình đắm đuối và một giấc ngủ ngắn nhưng êm đềm, chúng tôi cùng thức giấc vào lúc gần sáng. Nằm trong tay nhau, nhìn nhau, thì thầm chuyện trò, hạnh phúc. 

Tên nàng là Tường Vi. Nàng gốc gác Việt Nam nhưng sinh ra và lớn lên ở Mỹ. Chồng nàng người Mỹ đang làm việc ở Paris. Tôi bập bẹ gọi tên nàng. Nàng cười, vuốt má tôi: 

- Hãy gọi em là Vi, như thế dễ hơn. 

Ôi, những người đàn bà trong đời tôi, sao mà độ lượng! Tôi nói với nàng: 

-Em ở lại đây với anh hôm nay. Ngày mai chúng ta về Paris. Cho anh vài ngày để thu xếp rồi mình về Argentina sống. Như thế nhé. 

Nàng nhìn tôi đăm đăm thật lâu, không nói. Rồi nàng bật khóc. Ôm nàng trong tay, tôi biết là tôi sẽ sống chết vì nàng, sẵn sàng đánh đổi tất cả, chịu đựng tất cả. Tôi biết chúng tôi sẽ không bao giờ xa nhau. Trời, tôi chưa từng yêu ai đến thế! Yêu chết bỏ! 

Yêu người xong 
chết được ngày mai 

Quả thật như thế. Họ chết bên nhau ngày hôm sau trong chuyến bay từ Venice đến Paris, khởi hành từ phi trường Marco Polo, chỉ còn hai mươi phút là đáp xuống phi trường Orly, máy bay bỗng nổ tung trên không phận Villeneuve-le-Roi. 

Pre-ordained. Tiền định. 

March 2019

Minh Karlsson

Blog Archive