Thursday, May 31, 2018

TOP 10 đồ ăn Nhật bản đắt nhất thế giới.


Rất nhiều quốc gia có các thực phẩm đặc sản sang trọng và đắt đỏ nhất thế giới. Những có lẽ đồ ăn nhật bản chiếm rất nhiều vị trí trong danh sách thực phẩm đắt đỏ này. Dưới đây là 10 lựa chọn cho người sành ăn với giá cả thuộc vào hàng đắt đỏ ở cả Nhật Bản lẫn thế giới.

1. Sữa – 43 USD
Do nhà thực phẩm Nakazawa cung cấp. Thương hiệu sữa đặc biệt này được bán với giá 43 USD/lít (tương đương gần 1 triệu VNĐ/lít sữa). Đây là mức giá đắt gấp 30 lần so với các loại sữa bình thường. Nhắm vào nhóm “người lớn sống trong xã hội căng thẳng”, sữa Nakazawa có khả năng giảm stress đặc biệt. Sữa được lấy từ những con bò mỗi tuần một lần vào bình minh, tại thời điểm mà loài động vật này tạo ra nhiều melatonin nhất trong ngày. Melatonin là loại hóc môn được cho là có khả năng làm giảm sự lo âu, thậm chí là giảm cả một số loại bệnh trầm cảm ở con người.

2. Pizza thịt bò Kobe – 66 USD
Ở đất nước nổi tiếng với loại đặc sản thịt bò đắt tiền như Nhật Bản, không khó để tạo cho thực khách cảm giác được thưởng thức cao lương mỹ vị với cả một món ăn nhanh. Cụ thể, đó là chiếc bánh pizza đặc biệt tại chuỗi nhà hàng Domino, đi kèm với nó là thịt bò Kobe, những loại khoai tây, hành tây và nước sốt bít tết thượng hạng.



3. Cá nóc Fugu – 100 USD
Có một vấn đề nhỏ, fugu là một loại cá nóc có thể gây chết người. Nó có thể ăn được nhưng nếu không được chuẩn bị một cách cẩn trọng, hậu quả sẽ rất khó lường

Tuy vậy, fugu vẫn là một trong những món ăn nổi tiếng nhất Nhật Bản. Đầu bếp Nhật sẽ phải trải qua đào tạo và chứng nhận khắt khe trước khi được cho phép chuẩn bị món ăn cá nóc cho thực khách.


Fugu thường được lấy từ phần thịt cá ít độc nhất trong con cá. Một bữa ăn fugu khoa học và an toàn sẽ có giá tầm 100 USD/suất.

4. Dưa hấu vuông – 800 USD
Lý do tạo ra một quả dưa hấu vuông rất thực tế – không gian tủ lạnh của mỗi nhà quá chật hẹp để chứa một quả dưa hấu tròn chiếm rất nhiều diện tích. Người Nhật Bản đã thực sự tạo ra một quả dưa hấu vuông, và dù nó không hẳn phù hợp với cái tủ lạnh cho lắm thì tiện ích lớn nhất là có thể xếp chúng chồng lên nhau một cách gọn gàng. Việc này có lợi xét về mọi mặt.


Để có được một quả dưa hấu vuông, người ta đặt các quả non vào một lọ thủy tinh vuông

Giá bán dưa hấu vuông tại Nhật là khoảng 200 USD. Tuy nhiên, ở Moscow, những người Nga giàu có đang mua loại trái cây đặc biệt này với giá lên đến 800 USD.

5. Nấm Matsutake – 2000 USD
Trong những năm 80 và 90, nấm matsutake là một thực phẩm đắt tiền khá phổ biến. Tuy nhiên, hiện nay, đây là một thực phẩm khá hiếm do sự phá hoại của môi trường. Sản lượng nấm matsutake thu hoạch được hàng năm tại Nhật Bản ít hơn con số 1.000 tấn. Vì thế, giá của nấm matsutake phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng, tính hữu ích và nguồn gốc của nó. Loại nấm matsutake của Nhật Bản được thu hoạch vào đầu mùa có giá cao nhất, có thể lên đến 2.000 USD/kg tùy thuộc vào cung và cầu.



6. Thịt bò Wagyu – 2800 USD
Wagyu đồng nghĩa với thịt bò Nhật Bản, được biết đến như một loại gia súc có màu cẩm thạch đặc biệt. Tùy thuộc vào địa điểm và kỹ thuật chăn nuôi, thịt bò đặc biệt này sẽ có chất lượng khác nhau.


Loại bò này được mát-xa mỗi ngày, được cho uống rượu sake hoặc bia, mục đích nhằm tăng cường hương vị phong phú cho thành phẩm thịt. Wagyu cũng như Kobe là đặc sản duy nhất đến từ Nhật Bản. Một miếng thịt bò Wagyu có giá trung bình lên tới 500 USD, nhưng cũng có thể lên đến 2.800 USD.

7. Nho Ruby Roman – 4000 USD
Đây là giống nho được phát triển từ quận Ishikawa, Nhật Bản. Nó được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 2008. Giống nho này phải trải qua một đợt kiểm tra nghiêm ngặt nhằm đảm bảo chất lượng.

The Ruby Roman grapes like the ones pictured sold for about $480 per grape.
Mỗi quả nho có kích thước bằng một quả bóng bàn, màu đỏ, nặng tầm 20gram và có hàm lượng đường chiếm 18%

Một dòng nho thượng hạng hơn của giống nho này có quả nặng tầm 30gram và cả chum nho phải nặng tối thiểu là 0,7kg.

Năm 2010, chỉ có 6 chùm nho đủ điều kiện để xếp vào loại thượng hạng. Trong năm 2011, không có chum nho nào đáp ứng được yêu cầu chất lượng.

Vào tháng 7/2013, một lứa duy nhất của loại nho Ruby Rom được bán ra với giá lên đến 4.000 USD/chùm. Mỗi quả nho đầy đặn, đỏ thẫm đấy có giá khủng khiếp lên tới 110 USD

8. Dưa hấu đen Densuke – 6.100 USDGiống dưa này được trồng trên đảo Hokkaido của Nhật Bản. Đây là loại dưa hấu đen đặc biệt hiếm và nổi tiếng vì vị ngọt tinh tế và tuyệt vời của nó. Mỗi năm, Nhật Bản chỉ sản xuất được khoảng 10.000 quả.


Do nguồn cung ít ỏi trong thời gian thu hoạch ngắn ngủi, giá của mỗi quả dưa có thể tăng vọt trong các cuộc đấu giá. Trong năm 2008, một quả nặng khoảng 8kg được bán với giá 6.100 USD và là quả dưa hấu đắt nhất thế giới từng được bán ra.

9. Dưa Yubari – 26.000 USD
Loại dưa ruột vàng cam này được đánh giá là vua của loài dưa hấu. Nó được lai giống từ hai loại dưa đỏ, có vị ngon ngọt và có tỷ lệ hoàn hảo. Thường loại dưa này được bán theo cặp và được dùng để làm quà tặng hạng sang cho khách hàng.


Một quả dưa hàng đầu phải tròn một cách hoàn hảo và vỏ đặc biệt mịn. Phần cuống phải có tính thẩm mỹ cao. Tại Nhật Bản, các cặp dưa được bán với giá khoảng 50 – 100 USD. Tuy nhiên, tại một cuộc đấu giá, cặp dưa đặc biệt này đã được bán với giá 26.000 USD

10. Toro – ????? USD
Toro là phần bụng béo của loại cá ngừ và thường được sử dụng để làm món sushi. Toro chuẩn nhất là được làm từ con cá ngừ vây xanh, có màu cẩm thạch đặc biệt. Loại toro có giá trị nhất là otoro, được lấy từ phần bụng gần đầu của con cá. Kế đó là chutoro, là phần bụng ở giữa và gần đuôi cá, nó không có màu cẩm thạch đẹp như otoro.


Ăn toro là cách dễ nhất để đốt tiền cho ẩm thực, giá của nó cũng thay đổi theo giá thị trường và thường cũng không có giá hiện tại. Bạn chỉ có thể biết giá của nó khi bạn yêu cầu món ăn ở nơi phục vụ món mà thòi

Nguồn: baomoi.com.


Image may contain: 1 person, text
Viết cho người bạn đời:
Khi yêu nhau
lúc nào cũng là mùa xuân


Em,
Em còn nhớ không em?

Đầu mùa xuân trong những thập niên sáu mươi, điện thoại reo, khi nhấc lên nghe giọng nói của một người phụ nữ bên kia đầu dây nói tiếng Việt. Chuyện lạ là cộng đồng người Việt ở Pháp lúc bấy giờ bắt đầu nảy nở nhưng vẩn chưa có bao nhiêu, lạ hơn nữa là cách nói chuyện có vẻ xã giao nhưng không kém phần trang trọng; cô ngỏ ý muốn mời để cô phỏng vấn trong chương trình Việt Ngữ cô phụ trách trên đài phát thanh Pháp Office de la Radio Télévision Francaise (ORTF), như cô đã mời rất nhiều sinh viên Việt Nam đã thành tài, sắp ra tường hay những người đã thành công ở Pháp. Nghe ớn quá nên tôi lễ phép từ chối vì không biết mình có đủ từ ngữ cho cuộc phỏng vấn hay không, hơn nữa mỉnh có biết gì đâu để trả lời những gi cô sắp hỏi. Cô có vẽ thất vọng vì đến bây giờ chưa ai từ chối lời mời của cô! Trước khi chia tay tôi gặng hỏi: 

- “Làm sau cô biết số điện thoại của tôi để gọi.” 

- “Tôi có phỏng vấn rất nhiều người trong chương trình này, trong dịp đó mấy tuần trước đây tôi có phỏng vấn Bác sĩ Phát, ông bảo có người anh đang làm việc cho nhà xuất bản nổi tiếng ở Paris nên ông cho tôi cơ hội để gọi ông” Cô trả lời.
Ngẩn ngơ, bất ngờ khiến cho tôi trở nên tọc mạch nên xin hẹn gặp cô. 
- “Mà gặp ở đâu và bao giờ hè?”
- “Tám giờ sáng ngày chủ nhật tại quán café “Les Deux Magots”. Trên đại lộ Saint Germain, Saint Germain des Près.
Lẽ dĩ nhiên là phải ở quán Café “Les Deux Magots” là nơi tề tựu thường xuyên các văn nghệ sĩ nổi tiếng, các họa sĩ đã thành danh hay các đại văn hào như Jean Paul Sartre và Simone de Beauvoir v. v. . .
Ở ngoại ô Paris, phải mất ít lắm nửa tiếng đồng hồ lái xe thành ra phải dậy sớm và đến sớm hơn giờ hẹn vì sự tế nhị không muốn người nữ đến trước chờ.
Đầu mùa xuân, lá non xanh đã đôm đầy cành trên hàng cây dài theo đại lộ Saint Germain, nắng ấm nên chọn chổ ngồi bên ngoài để có dịp ngắm ông đi qua bà đi lại cũng như để cho các ông đi qua bà đi lại có dịp nhìn mình. Chuyện lạ là sáng chủ nhật dân Paris dậy rất trễ vì tối thứ bảy là họ thường vui chơi đến gần sáng nhưng ở đây chưa tám giờ mà quán “Les Deux Magots” đã đông đầy người. 
Image may contain: 1 person, smiling, shoes and outdoor
Ngồi không bao lâu thì thấy từ đằng xa dáng vóc người phụ nữ Á đông mạnh dạng tiến bước, y phục đơn giản, gọn gàng nhưng rất thanh lịch và tự nhiên, không phấn son, dáng điệu dễ thương rất mignonne, không có cái gì để gọi là sắc đẹp giả tạo, vì từ trong con người có một cái gì tỏa ra với một mãnh lực thu hút một cách lạ thương. Tay cầm cái cặp thay gì cái bóp sách tay như bao nhiêu người phụ nữ khác. Hai người chưa bao giờ gặp nhau nhưng khi cô đến gần, tôi đứng lên thì cô vui mừng chào hỏi, xong tự giới thiệu như có sự thâm tâm tương đắc làm cho chúng tôi có cảm tưởng như đã biết nhau từ lâu. Tôi lén liếc nhìn đồng hồ thì đúng tám giờ, đúng giờ hẹn là một điểm đáng nể và tự nghĩ cô là người làm việc nghiêm chỉnh.
Đây là lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau, đoán cô cùng lứa tuổi nên tôi gọi bằng chị và chỉ biết chị là nhân viên của đài phát thanh mà thôi, ngoài ra không biết chi về quá trình hay đời sống của chị cả. Trong khi trao đổi những lời xã giao người hầu bàn mà người ta thường gọi “garcon” đến hỏi chúng tôi muốn dùng chi buồi sáng, Tôi xoay qua hỏi “Chị dùng chi?” - “Cà phê sữa và một phần bánh bébé croissants. Bébé Croissant ở đây ngon lắm”. Cô nói tiếp làm tôi tự nghĩ “Cô này có vẻ sành điệu quá và tự an ủi, mình cũng ở Paris khá lâu nhưng làm sao biết hết những bí mật của Thủ đô ánh sáng này. Tôi xoay lại người garcon: “Cho chúng tôi 2 cappuccini (cà phê sữa) và hai phần bébé croissants”. (Bébé croissants là loai bánh mì “sừng trâu”, chỉ lớn bằng ngón tay cái mà thôi). Sau đó chúng tôi vào đề ngay về việc phỏng vấn trên đài. Tôi cảm thấy thoải mái hơn sau khi một vài vấn để được giải tỏa và sung sướng chấp nhận cuộc phỏng vấn. Trong lúc uống cà phê và ăn croissants - rất đặc biệt và có ngon thật” - Cô lấy các dữ kiện cần thiết để làm thẻ vào đài phát thanh. Chúng tôi từ giả sau khi ăn xong và hẹn cô sẽ cho biết ngày giờ cho cuộc phỏng vấn. Hai ngày sau, điện thoại reo vang, cô cho biết ngày giờ và địa điểm. Để tránh sự vất vả phải đi Métro đến đài nên tôi đề nghị đến rước cô ở đường Chantier, Paris V. Một lần nữa rất đúng giờ và lần này cô mặc áo dài, lại là một con người khác; dịu dàng dễ thương của người Á Đông.
Trước khi đến phòng thu thanh, chúng tôi phải đi qua nhiều văn phòng, ai cũng vui vẻ chào đón cô, thậm chí các bạn đồng nghiệp còn trêu ghẹo một cách thân mật như “Ô lala quel beau couple!” ( Chao ôi thật là đẹp đôi!). Họ nói nhỏ với nhau nhưng cố tình nói đủ lớn để cho chúng tôi nghe. Những lời trêu ghẹo có thể là vô thưởng vô phạt nhưng có biết đâu nó có tác dụng tâm lý không chờ đợi; có thể xâm nhập vào trong thâm tâm của hai người chăng?
Cuộc nói chuyện trên đài diễn tiến một cách tốt đẹp là do người biết phỏng vấn cho nên cuộc nói chuyện trở nên sống động, nửa tiếng đồng hồ qua rất mau. Được cô bảo là thành công và cho tôi ngày giờ đế đón nghe. Tôi đề nghị mời cô dùng cơm trưa nhưng bị ừ chối vì cô phải ở lại làm việc tiếp trên đài. Hai ngày sau nghe lại bài phỏng vấn trong chương trình Việt ngữ, tôi cảm thấy xấu hổ vì trong câu chuyện lắm khi tìm không ra chữ nên phải dùng tiếng Pháp xen vào, mặc dầu mình hết sức cố gắng chỉ dùng tiếng Việt, cũng may là đối với Cộng đồng người Việt ở Pháp họ tha thứ và chấp nhận dể dàng hơn. Chúng tôi từ giả một cách bình thường tại đài radio sau cuộc phỏng vấn, nghĩ rằng mình sẽ gặp lại nhau trong nay mai, không ngờ sau một vài tuần hinh ảnh của cô gái xinh xinh đó cứ mãi áp ù và quấy rầy trong đầu. Điện thoại mãi hầu mong gặp lại cô nhưng không ai trả lời đến độ tôi phải gọi nơi cô làm việc thì mới biết đài truyền hình Pháp đã gởi cô đi công tác ở phương xa! 

Từ đó chúng tôi không còn liên lạc với nhau cho đến năm 1972 gần sáu năm sau! Như một phép lạ, điện thoại reo, với giọng quá quen thuộc mà tôi mãi chờ đợi từ lâu, bên kia đầu dây, rất vui mừng nhưng lại hỏi một câu không đúng chổ, vô cùng vô duyên, thốt lên một cách tự nhiên mà không nghĩ đó là những lời trách móc đối với người bên kia đầu dây: 

- “Ủa chị còn nhớ tôi sao?” 

Các cô các bà phần đông rất nhậy cảm, hiểu ngay lời trách và cũng hiểu ắt phài có lý do tình cảm gì đó mới trách mình như thế. 

- Anh không phải là người thứ nhất mà hầu như tất cả các bạn tôi đều trách tôi như thế. Vì chuyến đi quá đột ngột nên không thông báo cho ai được cả.

- Rồi bây giờ? Tôi hỏi.

- Rồi bây giờ tôi sẽ ở lại Paris một thời gian nhưng bận rôn lắm.
Con người này quá bí mật, Tôi nghĩ thầm với sự tế nhị nên không hỏi cô đã đi đâu và làm gì trong mấy năm qua, bây giờ lại xuất hiện mà còn cho biết cô rất bận rộn trong lúc tình hình chánh trị cũng khá xôn xao ở Paris. Tôi cảm thấy hơi táo bạo nhưng không sao kìm hãm được câu hỏi:
- Bao giờ mình có thể găp lại nhau?
- Một ngày gần đây.
Câu trả lời của cô làm tôi càng thêm tọc mạch nhưng rất vui vì coi như một lời hứa nên kiên nhẩn chờ mãi đến mấy tuần sau ngày 27 tháng giêng năm 1973 là ngày Hiệp Định Paris được ký kết. Điện thoại reo, kỳ này tôi được mời tham dự một buồi họp gồm có anh hội trưởng cùng một số đông các anh em của Tổng Hội Sinh Viên tại Paris và một vài nhân vật trong Cộng đồng người Việt ở Thủ đô, cộng thêm hai nhân vật của Hoàng gia Lào làm cho buổi họp càng thêm trang trọng. 

Trong một gian phòng rộng lớn, đông chật người. Chủ đề buổi họp là “Làm thế nào tái thiết quê hương sau Hiệp Định Paris” mà chính cô là người chủ xướng, nghĩ rằng sau Hiệp Định Paris thì sẽ có hòa bình! Buổi họp vô cùng sôi nổi, bắt đầu từ 6 giờ chiều, với một chủ để to lớn như thế này, cứ bàn mãi chuyện này sang chuyện kia, câu hỏi này đến câu hỏi khác v. v. . . và không bao giờ kết thúc được nhưng phải tạm ngưng vì khi nhìn lại là gần một giớ sáng ai ai cũng phải ra về để lấy chuyến Métro cuối cùng là 1 giờ khuya. 

Như một cơn gió lốc chỉ có mấy phút, gian phòng rộng lớn đông nghẹt trở nên trống rỗng, chỉ còn lại ông chủ gia và hai đứa chúng tôi vì chờ đưa cô về, nhưng không; ngày làm việc của cô chưa chấm dứt, cô còn phải đi gặp những người bạn của cô ở ngoại ô Paris, họ đang chờ. Bước ra bên ngoài để chứng kiến thành phố Paris phủ lên một lớp tuyết trắng gần hai tất và tuyết vẩn còn rơi, đã một giờ sáng mà vẫn hân hoan đưa cô đi gặp các bạn ở ngoại ô Paris. Trước khi đến nơi, còn phải đi bộ qua một quãng đường dài, cô cập lấy tay tôi một cách tự nhiên, tôi cảm thấy rất hạnh phúc, trước bối cảnh mờ mờ ảo ảo của công viên phủ một lớp tuyết trắng, dưới ánh trăng vô cùng lãng mạn. Khi thở hơi nước phì ra như khói, không biết cô đang nghĩ gì trong đầu, hai người chỉ bước đi trong im lặng, trong bầu không khí giá băng. Đến nơi, đèn trong nhà vẫn còn sáng các người bạn của cô vẫn đang chờ. Tôi trao cô cho các bạn vui mừng chào đón cô như sứ mạng hoàn được tất (mission accomplie) nhưng khi cô xoay qua phía bên tôi có lẽ để tõ lời cám ơn thì các bạn của cô tế nhị khép cửa lại để cho chúng tôi có một vài giây phút riêng tư với nhau, không chờ đợi cô vừa nói “Cám ơn anh” vừa đặt đôi môi lạnh buốt trên má mình. Chuyện hôn trên má đối với người Âu là chuyện bình thường nhưng sao tôi cứ mãi nhớ!
Cá nhân tôi không biết chi về nhân vật vô cùng bí ẩn này làm tôi càng thêm tò mò, tìm hiểu về sự xuất hiện của cô rồi biến đi một thời gian rồi lại tái xuất hiện một lần nữa, vì sau khi đưa cô đến nhà những người bạn của cô, giữa đêm ở ngoại ô Paris, cô lại bặt vô âm tín, biến đi đến cả năm sau! Điện thoại mãi mà không ai trả lời. Trong lúc thời cuộc ở quê nhả càng ngày càng nóng bỏng, bỗng nhiên được thơ cô gởi về từ Indonesia, ngắn gọn chỉ có mấy chữ “Em sẽ về...” như trong bài hát “Em không đi nữa, em sẽ về, em sẽ về ôm anh, em sẽ về ôm lại quê hương mình…“ Ngạc nhiên nhưng sung sướng vì cô xưng “Em” trong thơ.
Một thời gian không lâu sau biến cố 30 thang tư 1975, điện thoại reo với những lời tha thiết kêu cầu cứu: “Em nhờ anh giúp em một tay” Cách xưng hô “Anh Em” đến một cách tự nhiên vào lúc nào cũng không biết. Thì ra cô và một vài người bạn khác lo giúp đồng bào tỵ nạn áo ạt đến ở các trung tâm dành riêng cho người tỵ nạn mà các tổ chức thiện nguyện cũng như các cơ quan chánh quyền bị bất ngờ tràn ngập. Ai lo được gì thì lo, tùy theo khả năng của mình, một nhóm lo xin quần áo cũ để phân phát cho những người mới tới, mặc dù đã là tháng 5 trời ấm nhưng vẩn cảm thấy lạnh đối với những người mới tới từ xứ mặt trời, nhóm khác lo việc thư từ tìm liên lạc các thân nhân gần xa cầu cứu hay cho biết họ đã đến bờ tự do an toàn hay giúp làm thủ tục định cư v. v... 
Trong mấy tuần lễ liên tiếp chúng tôi sát cách bên nhau trong việc làm giúp đỡ đồng hương, ngày nào cũng đến tối mới xong việc. Một hôm trên đường vế khi đi ngang qua công viên Tuileries chúng tôi dừng xe lại để tìm một chút thời gian thư giãn, không ngờ là nơi chúng tôi trao đổi nụ hôn đầu tiên và từ đó chúng không bao giờ xa nhau nữa. Sau một thời gian sinh hoạt chung chúng tôi nhận ra đã tìm ở nhau người đồng chí hướng và tư nay chúng tôi nắm tay nhau cho một cuộc hành trình mới cho đến cuối cuộc đời. Ở bên nhau từ ngày trao đổi nụ hôn đầu tiên cho đến ngày nay chúng tôi thường đùa với nhau, thường đi ngược thời gian trong những lúc uống trà mỗi buổi sáng. Có không biết bao nhiêu chuyện kể cho nhau nghe nhưng chuyện tôi muốn biết là cô đã thầm yêu tôi từ bao giờ và tại sao. Cô đồng ý với điều kiện là tôi cũng phải cho cô biết phần bên tôi.
- Khi gặp anh lần đầu tiên, đứng trước con người cao lớn làm em chú ý.
- Ha! Ha! C’est un coup de foudre = Ha Ha tình yêu sét đánh!
- Không không em chỉ để ý thôi, trong công việc của em, em tiếp xúc rất nhiều nhân vật đặc biệt, khác nhau.
Khi kể tâm tình cho nhau nghe thường có những trận cười trêu ghẹo. Cô kể tiếp với vẻ nghiêm nghị.
- Anh còn nhớ không? Buồi họp có Tổng Hội Sinh Viên và nhiều hội đoàn khác. Cử chỉ trượng phu của anh là người duy nhất nhận đưa em đến nhà bạn ở ngoại ô Paris lúc một hai giờ sáng, trên đường bao phủ đầy tuyết rất nguy hiểm, làm em cảm động và sau cùng khi sinh hoạt bên cạnh anh, em nhận ra là em đã thầm yêu anh, yêu con người chân thật, cùng đồng chí hướng mà em có thể trao gởi cuộc đời của em.
- Thôi thôi, to lớn quá, quan trọng quá anh không dám nhận đâu, còn phần của anh thì rất đơn giản: Anh đã lộn mèo yêu em (Head over heels in love) khi em đặt đôi môi lạnh buốt trên má anh, trong đêm khuya, băng giá và anh phải đợi mấy năm sau mới được em hồi đáp tại công viên Tuileries!
Chúng tôi nhớ lại là khi chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên là lúc đầu xuân mãi cho đến suốt mấy năm sau mới nhận ra chúng tôi đã thầm yêu nhau ở cuối mùa xuân. Nay tuổi đã cao, quí báu từ giây phút được ở bên nhau, không ngần ngại nói lên anh yêu em hay em yêu anh, em nhớ anh hay anh nhớ em khi xa vắng. Chúng tôi nghĩ rằng khi hai người tha thiết yêu thì lúc nào cũng là mùa xuân. 

Em còn nhớ không em?
(L'amant de Paris, dédié à celle que j'aime, Nguyễn Quang).---------------------------------------------------------------------------------------------------

Wednesday, May 30, 2018

Sinh viên Ấn Độ dùng lò xo bút bi cứu mạng hành khách bị tiểu đường

Một sinh viên Học viện Công nghệ Ấn Độ đã dùng kiến thức mà mình học được trong những năm đầu ở trường đại học để cứu mạng một hành khách mắc bệnh tiểu đường trên máy bay.

Sinh viên nhanh trí dùng bút bi cứu mạng hành khách trên máy bay - Ảnh 1.
Karttikeya Mangalam, chàng sinh viên ngành kỹ thuật điện tử ở Học viện Công nghệ Ấn Độ – (Ảnh: IIT Kanpur)

Trên chuyến bay từ Geneva (Thụy Sĩ) về New Delhi (Ấn Độ), sau khi máy bay cất cánh được vài tiếng, chàng sinh viên Karttikeya Mangalam 21 tuổi nghe thấy tiếng tiếp viên hỏi rằng trong số các hành khách đang có mặt trên máy bay, liệu có ai là bác sĩ hay không, đang có một trường hợp y tế khẩn cấp cần cứu chữa.
Theo lời kể của Karttikeya, vài phút sau, có một người đàn ông trung niên vội vàng bước ra lối đi, dường như ông ấy là bác sĩ, và người đàn ông đang cần sự chăm sóc y tế ngồi cách anh hai hàng ghế. Là một người đồng hành trên chuyến bay nên Karttikeya đã đi đến chỗ người bệnh để xem có thể giúp đỡ được gì không. Người đàn ông này khoảng 30 tuổi, bị mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 từ năm 11 tuổi và luôn mang theo máy bơm Insulin bên mình, nhưng người này đã bỏ quên tại khay kiểm tra an ninh ở sân bay, đã 5 giờ trôi qua kể từ liều Insulin cuối cùng bơm cho anh ấy và chỉ số đường huyết đã tăng lên rất cao.
Vị bác sĩ đã cố gắng trấn tĩnh anh ấy và giải thích cho phi hành đoàn rằng anh ấy cần Insulin khẩn cấp hoặc anh sẽ chết vì suy đa cơ quan hoặc tệ hơn, hay chết trong tình trạng hôn mê. Anh ấy có mang theo một số hộp Insulin ngắn hạn, tác dụng nhanh mà anh thường dùng, nhưng anh cần một thiết bị để tiêm.
Điều trùng hợp là bản thân vị bác sĩ này cũng là một người mắc bệnh tiểu đường và sử dụng một bút tiêm Insulin để tự tiêm cho mình. Tuy nhiên hộp Insulin của bác sĩ dày hơn nên ống tiêm không vừa với hộp Insulin của người bệnh này. Bên cạnh đó hộp Insulin của bác sĩ là loại dài hạn, tác dụng chậm, khác biệt về mặt hóa học so với những gì mà người bệnh này thường sử dụng.
Không thấy còn giải pháp nào khác và trong tình huống khẩn cấp như vậy, nên người bệnh và bác sĩ đã đồng ý sử dụng Insulin của bác sĩ để tiêm. Một tiếp viên hàng không đã hộ tống họ đến một không gian riêng ở phía sau máy bay và mọi người đều nghĩ rằng tình trạng khẩn cấp đã được giải quyết.
Nhưng một giờ sau đó, phi hành đoàn thông báo rằng chuyến bay sẽ hạ cánh tại một số sân bay ở khu vực Afghanistan-Kazakhstan vì một trường hợp cấp cứu y tế. Khi hỏi xung quanh, Karttikeya biết được rằng người bệnh tiểu đường lúc nãy đang trong tình trạng sùi bọt mép trắng. Vị bác sĩ giải thích rằng trong những năm qua bệnh nhân này có thể đã phát triển một sức đề kháng hóa chất đối với Insulin dài hạn, vì vậy người này đang trong tình trạng rất nghiêm trọng, trừ khi anh ấy được tiêm loại Insulin đúng càng sớm càng tốt.
Tuy nhiên, ống tiêm của bác sĩ lại không lắp vừa hộp Insulin của người bệnh. Vị bác sĩ biết một cách để điều chỉnh khoang chứa ống Insulin nhưng khi thực hiện thì kim tiêm lại không nhúc nhích, nên ông đã yêu cầu phi hành đoàn hạ cánh khẩn cấp để cứu người. Tiếp viên hàng không cho biết việc hạ cánh sẽ mất ít nhất một tiếng rưỡi, và máy bay đang bắt đầu giảm dần độ cao.
Chàng sinh viên Karttikeya đã yêu cầu tiếp viên cho dùng WiFi chỉ dành cho hành khách hạng thương gia của máy bay để tải xuống bản thiết kế của ống tiêm Insulin. Sau đó anh nghiên cứu các thành phần của ống tiêm và phát hiện ra là thiếu một lò xo nhỏ ngay sau khoang chứa của ống.
Karttikeya yêu cầu các hành khách trên máy bay cho mượn bút bi, và trong một vài phút, anh đã nhận được 4-5 chiếc bút. Khi thử lắp lò xo của các bút, anh đã tìm thấy một cái hoàn toàn phù hợp với ống tiêm Insulin. Anh nhanh chóng lắp ráp lại và đưa nó cho bác sĩ. Vị bác sĩ đã tiêm Insulin thành công cho người bệnh.
Khoảng 15 phút sau, bác sĩ thông báo rằng lượng đường trong máu của bệnh nhân đã ngừng tăng và đang giảm xuống. Ông đã nói với phi hành đoàn rằng máy bay không cần phải hạ cánh khẩn cấp nữa vì người bệnh sẽ tỉnh lại trong một thời gian. Các tiếp viên hàng không dường như nhẹ nhõm khi nghe điều này.
Karttikeya cho biết, sau khi chuyến bay hạ cánh xuống New Delhi, người bệnh được đưa đến bệnh viện Medanta để kiểm tra và mua một bơm Insulin mới. Anh ấy đã cảm ơn Karttikeya và nói với chàng sinh viên trẻ này rằng hãy đến thăm anh ấy ở Amsterdam, nơi anh ấy sở hữu một nhà hàng cùng một nhà máy bia và Karttikeya sẽ nhận được thức ăn và bia miễn phí bao nhiêu cũng được.
Sau sự kiện này, Karttikeya chia sẻ rằng anh nhận ra tầm quan trọng của các kỹ năng mà chúng ta được dạy trong năm đầu tiên ở đại học. Anh rất biết ơn Học viện Công nghệ Ấn Độ ở Kanpur đã giúp anh có đủ khả năng để xử lý được một tình huống nguy kịch như vậy.
Bạch Vân
Theo DKN.tv
Đức Cha Gebhard Furst của giáo phận Rottenburg-Stuttgart phê bình linh mục đeo khăn đội đầu giống như phụ nữ Hồi Giáo trong thánh lễ

Đặng Tự Do/Vietcatholic


Cha Wolfgang Sedlmeir và lãnh tụ Alice Weidel

Linh mục Wolfgang Sedlmeir của giáo xứ Đức Maria tại Aalen (ở nước Đức) đã bị Đức Cha Gebhard Furst của giáo phận Rottenburg-Stuttgart phê bình sau khi vị linh mục này đeo một khăn đội đầu giống như các phụ nữ Hồi Giáo trong thánh lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống gây công phẫn trong các giáo dân.
Ngày 16 tháng 5, Alice Weidel, lãnh tụ của đảng Alternative für Deutschland, một đảng có khuynh hướng cực hữu tại Đức đọc một diễn văn tại Quốc Hội, trong đó có những lời như sau:
“Tôi có thể nói với bạn rằng mấy cô gái mặc burqas [một kiểu áo dài trùm kín toàn thân], đeo khăn trùm đầu và mấy tên đàn ông trang bị dao đang sống nhờ trợ cấp xã hội, những kẻ đó sẽ không mang lại thịnh vượng và sự tăng trưởng kinh tế của chúng ta và thậm chí còn làm giảm phúc lợi của quốc gia chúng ta nữa”.
Những nhận xét của Weidel, được đưa ra trong một cuộc tranh luận trong quốc hội Đức, đã làm cha Sedlmeier tức giận. Để phản đối những gì ngài cảm nhận là “những lời nhận xét xúc phạm và cực đoan”, ngài phủ lên đầu ngài một chiếc khăn choàng đầu Hồi giáo khi đang giảng trong thánh lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống.
Cha Sedlmeier giải thích: “Bất cứ ai phân biệt đối xử với những người có đức tin và choàng khăn trên đầu theo niềm tin của họ, là chống lại phẩm giá con người và tinh thần của ngày lễ Ngũ Tuần”.
Các cơ quan truyền thông Ả rập nói những nhận xét của cha Sedlmeier đã được anh chị em giáo dân tán thưởng, trong khi theo nguồn tin của Catholic Herald nhiều anh chị em giáo dân đã bày tỏ sự công phẫn của họ.
Tờ Cruz thì nói rằng cha Sedlmeier không chỉ đeo trong lúc giảng nhưng còn trong khi cử hành phần Phụng Vụ Thánh Thể sau đó. Theo tờ Cruz “Các cử chỉ đã gây ra một cơn bão phẫn nộ và nhạo báng trên các phương tiện truyền thông xã hội, bao gồm cả Twitter và Facebook, và trên internet cha Sedlmeier được tặng biệt danh là ‘Headscarf Priest.’”
Phát ngôn viên giáo phận nói hành vi của cha Sedlmeier là không phù hợp nhưng ông cũng không hài lòng trước phản ứng dữ dội của các phương tiện truyền thông. Ông nói:
Choàng lên đầu một chiếc khăn như thế trong một Thánh Lễ chắc chắn là rất bất thường đối với Giáo Hội Công Giáo”.
Phản ứng chung chung vô thưởng vô phạt này xem ra yếu quá nên Đức Giám Mục Gebhard Furst của Rottenburg-Stuttgart đã phải đích thân lên tiếng chỉ trích cách phản đối của cha Sedlmeier.
Hình thức [phản đối này của cha này Sedlmeier] chắc chắn là vượt quá giới hạn và không phải là một lựa chọn tốt. Vì vậy, tôi sẽ bắt đầu một cuộc đối thoại rõ ràng với ngài trong những ngày tới.”
______
------------
Gián điệp của FBI

Vũ Linh/ Báo Thế Giới Mới
Cuộc điều tra của công tố Mueller liên quan đến việc ứng cử viên Trump ‘thông đồng’ với Nga để giành thắng lợi trong cuộc bầu cử tổng thống vừa qua, chẳng ai biết đã đi đến đâu, công tố đã khám phá ra chuyện gì, ai đã làm gì? Ai cũng biết công tố Mueller đã truy tố một ít người, nhưng không kể 13 công dân Nga bị truy tố, còn tất cả những người Mỹ bị vồ thì hiển nhiên đều vì những tội chẳng liên quan xa gần gì đến mục tiêu cuộc điều tra.
Chuyện quái lạ là công tố càng điều tra thì lại càng lòi ra những chuyện lem nhem không phải của ban vận động của ông Trump hay của cá nhân ông Trump, mà của ban vận động của bà Hillary và những viên chức cao cấp nhất trong FBI và bộ Tư Pháp của chính quyền Obama.
Từ cả mấy tháng nay, thiên hạ đã bàn về vụ có người –không biết là ai – tạo dựng vụ ‘Hồ Sơ Nga’, tức là tạo dựng câu chuyện ông Trump cách đây mấy triệu năm đi Nga thuê vài chị em ta tè lên giường của TT Obama trong một khách sạn Moscow. Tin tào lao, bá láp, vớ vẩn nhất, nhưng lại trở thành một đề tài và lý cớ cột trụ để ban vận động của bà Hillary dùng để đánh ông Trump trước cũng như sau bầu cử, với sự tiếp tay của chính quyền Obama, và cả vài ông CH chống Trump.
Hồ sơ được vận động để FBI trình cho TT Obama, nhờ đó, có đủ ‘uy tín’ để CNN tung ra công chúng. Rồi cũng nhờ đó mà FBI có cớ đi xin trát tòa FISA để theo dõi một cố vấn cao cấp trong ban vận động của ông Trump.
Mỗi ngày, chi tiết cuộc theo dõi lại đẻ ra vài tin bất ngờ, lòi ra sự can dự của hết nhân vật này đến nhân vật khác của chính quyền Obama. Từ giám đốc FBI Comey đến giám đốc An Ninh Quốc Gia Clapper, từ phó giám đốc FBI McCabe đến hai luật sư của công tố Mueller, Peter Strzok và Lisa Page, từ gián điệp Anh Steele đến viên chức bộ Tư Pháp Ohr bị giáng chức, từ tổ chức Fusion GPS đến tổ chức Penn Quarter Group, từ thượng nghị sĩ McCain tới thượng nghị sĩ Feinstein,… Kết quả là cho đến nay, thiên hạ hoàn toàn mù tịt, chẳng ai hiểu ai can dự vào chuyện gì nữa. Một thứ bùi nhùi chồng chéo không ai gỡ được.
Nghe nói bộ Tư Pháp đang kín đáo điều tra, chẳng biết có hay không, và nếu có thì đã đi đến đâu? Mai mốt có công bố kết quả gì không? Nếu khám phá ra có người có tội, có bị đưa ra tòa gì không? Hay là chúng ta bao che cho nhau, xù hết cho yên chuyện?
Hỏa mù dầy đặc chưa tan thì lại thêm mây mù kéo tới nữa.
Tin mới nhất là FBI đã cài người nằm vùng trong ban vận động của ứng cử viên CH, Trump. Nghe thì có vẻ giản dị, nhưng thật ra, lại rối bù hơn cả chuyện lấy trát tòa FISA.
Ta xem qua diễn tiến
Báo phe ta Washington Post xì ra tin FBI đã cài một người ‘nằm vùng’ đi dò la tin tức trong nội bộ ban vận động của ông Trump. Ngay sau đó, báo New York Times cũng tiếp theo, phổ biến tin này với nhiều chi tiết hơn. FBI cảnh giác ngay việc xì tên của người này ra rất nguy hiểm vì đe dọa an toàn cho họ và nhiều người đang hợp tác, cung cấp tin tức cho FBI về rất nhiều cuộc điều tra khác của FBI. Hai tờ báo vin vào lý do ‘bảo đảm an toàn cá nhân’ này để biện giải việc họ không thể tiết lộ tên của người này ra.
Đúng là chuyện… bá láp, chỉ phản ảnh tính giả dối của hai tờ báo cấp tiến, tự cho là lãnh đạo khối TTDC. WaPo và NYT đưa ra rất nhiều chi tiết như tay gián điệp này đã gặp ai, ở đâu, khi nào, đã gửi email cho ai, ngày nào,… Với những chi tiết này, không cần công bố tên tuổi, bất cứ anh nhà báo tập sự Mỹ nào cũng chỉ cần năm phút là có thể truy ra tên ngay lập tức. Y như rằng, một ngày sau khi hai tờ báo tung tin ra, hầu hết các báo và đài TV công bố cho cả nước biết tay gián điệp đó là một giáo sư đã hồi hưu của đại học Cambridge, Stefan Halper.






Đại khái câu chuyện là khoảng tháng 6 năm 2016, gần nửa năm trước bầu cử, ông Halper móc nối với anh George Papadopoulos, một nhân viên trong ban vận động của ông Trump, tìm cách dò la xem ban vận động có ‘thông đồng’ với Nga không. Anh Papapopoulos là một sinh viên, tình nguyện làm việc trong ban vận động, trong khối ngoại giao. Anh này bị công tố Mueller truy tố về nhiều tội nói láo và đang chờ ngày hầu tòa. Công tố Mueller vồ anh này với hy vọng anh sẽ khai báo nhiều tin hậu trường mà công tố có thể dùng để truy bắt ông Trump về một tội gì đó. Anh này chỉ là một nhân viên tép riu, sinh viên tình nguyện làm việc không lương, nhưng khi anh bị truy tố, TTDC muốn bi thảm hoá vấn đề, truy phong cho anh ta lên chức ‘cố vấn ngoại giao’ của ông Trump ngay.
Ông Halper chính thức nhờ anh Papadopoulos viết một tiểu luận nghiên cứu về một mỏ dầu khí trên biển Mediterranean, là đề tài chuyên môn của anh sinh viên này. Tự nhiên được nhờ viết bài nghiên cứu, được trả tiền, anh ta nhận lời ngay. Chưa hết. Anh lại còn được GS Halper mời qua Luân Đôn để ‘bàn về đề tài nghiên cứu’, tất cả mọi chi phí do ông giáo sư chịu, cộng thêm 3.000 đô thù lao.
Anh sinh viên này hý hửng qua Luân Đôn, gặp ông giáo sư và khám phá ra ông này toàn là hỏi chuyện Nga có quan hệ gì với ban vận động của Trump. Nói trắng ra, cái chuyện viết tài liệu nghiên cứu về mỏ dầu khí và cuộc du hý Luân Đôn chỉ là cái mồi câu cá Papadopoulos. Người ta đoán chừng tài liệu nghiên cứu của anh Papadopoulos, dài có khoảng 1.500 chữ, tức là chưa bằng nửa bài bình luận này, có lẽ đã được vào thùng rác ngay sau khi ông Halper nhận được.
Anh Papadopoulos chẳng trả lời gì nhiều trước những dò hỏi của ông Halper. Có thể là vì anh ở cấp tép riu không biết gì, hay cũng có thể anh biết nhiều chuyện nhưng không mắc bẫy, không khai gì. Có lẽ anh biết ít nhiều chuyện nhưng không tiết lộ, do đó mới bị công tố Mueller vồ, với ý định vắt vài tin từ anh ta.
Tin tức loan truyền ra còn cho biết ông giáo sư này đã gặp ít nhất là hai hay ba nhân viên khác trong ban vận động của ông Trump, trong đó có tướng Flynn, cố vấn an ninh, và ông Carter Page, cố vấn đối ngoại của ông Trump khi đó.
Có một chi tiết khá lạ. Ông giáo sư này đã gặp cố vấn Carter Page đầu tháng 7, 2016, trong khi ông Comey khai báo với quốc hội là cuộc điều tra về ban vận động của ông Trump bắt đầu cuối tháng 7 đó. Tức là ông Halper đã gặp hai ông Papadopoulos và Page trước khi ông Comey mở cuộc điều tra? Thế thì ông Halper gặp mấy ông này với tư cách gì? Để làm gì? Hay là ông Comey đã nói láo, đã thuê ông Halper làm gián điệp cả tháng trước khi mở cuộc điều tra?
Ông Halper có quan hệ như thế nào với FBI? Theo NYT, FBI trả tổng cộng gần nửa triệu đô cho ông giáo sư từ tháng 7-2016 (một tháng sau khi ông giáo sư đi gặp anh Papadopoulos) tới tháng 9-2017 (một tháng sau khi tân giám đốc FBI Christopher Wray nhậm chức và chấm dứt quan hệ với ông giáo sư). Nửa triệu để làm những gì? Chẳng lẽ để đi hỏi hai ba người hai ba câu hỏi sao? FBI cũng xác nhận ông Halper đã là chỉ điểm viên ‘informant’ cho FBI và CIA từ mấy chục năm nay.
Lạ lùng hơn nữa, anh Papadopoulos cũng đã gặp ông Alexander Downer, đại sứ Úc tại Luân Đôn. Ông đại sứ này, ngẫu nhiên thay, là bạn thân của bà Hillary, tin báo chí cho biết ông đã ủng hộ bà Hillary và Quỹ Clinton Foundation đâu 25 triệu đô. Ông đại sứ cũng tìm cách hỏi dò quan hệ của ban vận động của ông Trump với Nga. Kiểu như hỏi có người Nga nào tiếp xúc với ai, khi nào, bàn chuyện gì, v.v… Sau đó, ông đại sứ có viết một phúc trình về cuộc gặp gỡ này, gửi cho FBI!
Trên căn bản, ông đại sứ là người nước ngoài, cho dù không phải là nước thù địch. Sự can dự của ông đi bao xa? Có vi phạm luật cấm người ngoại quốc –bất kể Nga hay Tàu hay Úc- can dự vào bầu cử Mỹ không? Nếu có thì lại là câu hỏi lớn khác: FBI biết là có luật cấm người ngoại quốc can dự, sao lại có chuyện ông đại sứ Úc này gặp anh Papadopoulos, hỏi chuyện can dự của Nga, rồi viết báo cáo cho FBI? Bộ Ngoại Giao Mỹ (John Kerry), Úc và Anh có biết về chuyện này không? Đã có một sự thông đồng giữa ba chính phủ này để cản ông Trump và giúp bà Hillary không?
Bây giờ, trong cái trận thiên la địa võng bà Hillary dàn dựng chống ông Trump, ta thấy thêm hai tên tuổi mới, ông giáo sư và ông đại sứ. Người ta biết ông giáo sư là gián điệp của FBI, nhưng vẫn chưa hiểu ông đại sứ đóng vai trò gì.
TT Trump đã rất mau mắn tuýt ào ào, tố cáo FBI cài gián điệp vào ban vận động của ông, một chuyện phạm pháp còn lớn hơn vụ Watergate dưới thời TT Nixon.
Việc ông ta nằm vùng theo dõi ông Trump nếu đúng như WaPo và NYT báo cáo thì quả là chuyện phi pháp 100%. Tức là FBI của TT Obama đã làm chuyện phạm pháp. FBI phạm pháp thì ai bắt FBI bây giờ đây?
Hai tờ báo phe ta đều gân cổ biện hộ cho việc làm của FBI
Báo WaPo cho rằng FBI cần theo dõi ban vận động của ông Trump vì FBI đã được tin Nga đã cho người móc nối với một vài người trong ban vận động của ông Trump, nên cần gửi người đến tìm cách ‘bảo vệ’ ông Trump chống lại những can dự của Nga, và việc này nằm trong phạm vị hoạt động phản gián của FBI. Nga can dự vào ban vận động của ông Trump có hay không thì không ai biết, nhưng ai cũng biết khi đó ban vận động của bà Hillary la hoảng là họ đã bị Nga thâm nhập, lấy cắp emails của Ủy Ban Quốc Gia của Đảng DC –National Committee-, và lấy cắp toàn bộ các emails của ông John Podesta, giám đốc ban vận động của bà Hillary. Như vậy, FBI khi đó có cài người vào ban vận động của bà Hillary để bảo vệ bà không? Cho đến nay, không có tin tức gì về chuyện này, có thể hiểu là không, FBI không cài người nằm vùng để bảo vệ bà Hillary. Tại sao lại không ‘bảo vệ’ bà Hillary khi bà la toáng đang bị Nga thâm nhập, mà lại lo ‘bảo vệ’ ông Trump khi ông này chẳng khiếu nại gì về Nga?








Cái vô lý thứ hai trong lời ngụy biện của WaPo là nếu cho người điều tra về can dự của Nga để bảo vệ ông Trump, sao lại giấu nhẹm không cho ông Trump biết để đề phòng? Đúng ra, nếu FBI biết được Nga đang tìm cách thâm nhập và ông Trump đang là ‘nạn nhân’ cần được ‘bảo vệ’ thì FBI đã phải thông báo ngay cho ông Trump biết, và thông báo luôn là FBI sẽ tìm cách bảo vệ ông. Chứ sao lại lén lút hỏi dò người của ông Trump?
Báo NYT thì biện minh ông giáo sư là người đang tiếp tay FBI ‘điều tra’ chứ ông không phải là ‘gián điệp’ như TT Trump tố cáo. Định nghiã của chữ ‘gián điệp’ là ‘lén lút thâm nhập, không ai biết, để lấy tin’. Đây chính là việc ông giáo sư Halper đã làm. Nếu chỉ là FBI điều tra thì FBI là tổ chức có đầy đủ thẩm quyền điều tra tất cả những gì họ muốn, tại sao không cho nhân viên FBI đi điều tra, mà lại lén thuê một người ngoài, bí mật đi lòng vòng hỏi dò mà không khai báo gì cho ai biết hết? Sao lại làm việc mờ ám vậy?
TTDC giải thích dùm FBI, cho rằng việc điều tra cần giữ bí mật vì khi đó là thời điểm tranh cử, thiên hạ nghe ban vận động của ông Trump bị điều tra sẽ bất lợi cho ông. Má ơi, FBI điều tra vụ emails bà Hillary rùm beng trong khi lại giữ bí mật về cuộc điều tra ông Trump? Làm như thể FBI về phe với Trump hại bà Hillary vậy. Hơn nữa, ông Halper là giáo sư hồi hưu, lấy tư cách gì đi điều tra ai?
Phản ứng của CNN? Chỉ là ‘tin đồn’ –rumor- vô căn cứ. Một cụ tỵ nạn mau mắn làm thông ngôn cho CNN ngay, gửi email tứ tung ‘báo cáo’ cho bà con tỵ nạn “chỉ là tin đồn không có bằng chứng gì hết”.
CNN tố cáo tin của WaPo và NYT là tin đồn vô bằng chứng, tin phịa, fake news? ‘Phe ta’ chống ‘phe mình’ rồi sao? Cái gian trá của CNN? Trong nguyên bài phân tích của CNN, không có một chữ nào viết nguồn gốc của cái tin FBI cài gián điệp là từ WaPo và NYT, không có một chi tiết nào như WaPo và NYT mô tả, cũng như không hề nêu tên ông giáo sư. Đọc phân tích của CNN, người ta có cảm tưởng toàn bộ câu chuyện do TT Trump phịa ra, chứ không phải là do hai anh phe ta WaPo và NYT khui ra.
Lạ lùng thay –hay phe đảng thô bạo hơn- là phản ứng của ông James Clapper, cựu giám đốc An Ninh Quốc Gia của TT Obama, trước đây đã từng hùng hổ phản bác chuyện FBI hay CIA theo dõi ban vận động của ông Trump, bây giờ trước bằng chứng đành rành, đổi giọng ngay, và huỵch tẹt cho rằng việc FBI theo dõi ông Trump như vậy là rất tốt.
Vài tiếng nói DC và TTDC mau mắn bênh việc cài gián điệp này, cho rằng CH đang làm rùm beng chuyện này chỉ để gây khó dễ cho cuộc điều tra của công tố Mueller. Xin thưa với những vị đó là nếu quả thực FBI đã cài người vào làm gián điệp trong ban vận động của một ứng viên tổng thống thì coi như đã làm một việc phạm pháp cực kỳ quan trọng, mà ông Comey sẽ phải hầu tòa ngay, và nếu bà bộ trưởng Loretta Lynch hay TT Obama ra lệnh làm, hay biết mà không cản, thì ngay cả hai người này đều có triển vọng vác chiếu ra hầu tòa và đi tù luôn. Luật Mỹ tuyệt đối cấm dùng FBI hay CIA theo dõi đối lập chính trị, nhất là khi việc theo dõi có tác động đến cuộc bầu cử tổng thống. FBI không phải là Gestapo hay Công An Nhân Dân đâu.
Tin mới nhất, TT Trump đã yêu cầu bộ Tư Pháp điều tra vụ này, nhất là truy ra ai là người đã ra lệnh này. Vì tính nghiêm trọng, bộ Tư Pháp không thể từ chối. Thứ trưởng Rosenstein đã yêu cầu Tổng Thanh Tra bộ Tư Pháp điều tra ngay việc FBI dùng giáo sư Halper để thu thập tin tức trong ban vận động của ông Trump xem việc này như thế nào, có hay không và nếu có, có vi phạm luật gì không.
Nhiều câu hỏi cần câu trả lời. FBI trả ông giáo sư bao nhiêu tiền? Nhiệm vụ của ông là gì? Ai lấy quyết định cài giáo sư vào ban vận động của ông Trump? Tiền trả cho chuyến du hành và thù lao cho tài liệu nghiên cứu phịa của anh Papadopoulos, ai trả?
Quan trọng hơn cả là câu hỏi TT Obama biết gì về chuyện này? Nếu ông ta biết, thì đã có đồng ý không? Có nghĩa là cuộc điều tra mới này bắt buộc sẽ dây dưa qua việc điều tra luôn về vai trò của TT Obama. Vậy mới vui! Một là TT Obama đã chấp nhận việc cài gián điệp của FBI, hai là ông không kiểm soát được FBI đang làm chuyện phạm pháp, đâu là sự thật?
Cho dù TT Obama không biết gì thì tối thiểu ông Comey khi đó cũng đã phải xin phép bà bộ trưởng Tư Pháp Loretta Lynch, chứ không thể tự ý làm chuyện động trời một mình được. Tức là phải điều tra về bà này luôn.
Toàn bộ câu chuyện khét lẹt. Khét mùi chính quyền Obama cấu kết sao đó với ban vận động của bà Hillary để tìm cách chặn phá ông Trump.







Tin lạ lùng mới nhất là ông Mark Penn, cựu cố vấn chiến lược của bà Hillary [quý vị không đọc lộn đâu, cố vấn của bà Hillary đó] đã viết một bài báo khá dài, lên án công tố Mueller với những lời lẽ nặng nề nhất, tố cáo ông công tố đã đi câu cả năm trời, chẳng đi đến đâu, không có gì, nhưng vẫn nghiến răng nghiến lợi mò cho ra chuyện để truy tố người này người kia, mà lại truy tố những chuyện chẳng dính dáng gì đến chuyện ‘thông đồng’ với Nga. Ông Penn kêu gọi công tố Mueller chấm dứt điều tra ngay vì các hoạt động của ông mang tính cách một cuộc ‘đảo chánh’, đe dọa nền tảng chính quyền Mỹ, sau này sẽ không ai dám tham gia vào các cuộc tranh cử hay tham gia vào chính quyền nữa. Công tố Mueller đang đánh không phải chỉ một mình TT Trump, mà đánh phá cái định chế tổng thống –presidency institution-, tức là toàn thể tất cả các tổng thống. (Quý độc giả có thể đọc nguyên văn bài viết của ông Mark Penn trên trang ‘Báo Mỹ’ tuần này)
Toàn bộ câu chuyện tranh cử tổng thống vừa qua hình như đang trở thành xì-căng-đan chính trị lớn nhất lịch sử Mỹ. Công tố Mueller, Hạ Viện, Thượng Viện, bộ Tư Pháp, FBI,… không biết bao nhiêu cuộc điều tra đang tiến hành. Tiêu biểu cho thể chế dân chủ ‘ma-dzê in USA’. Điều tra, điều tra, điều tra,… không ai có thể lem nhem chuyện gì. Nghe như hỗn loạn hơn nồi cháo lòng, nhưng vẫn còn hơn là trong những chế đố độc tài, tất cả bị dấu nhẹm, bao che cho nhau.
Vũ Linh, 
26/5/2018

Tuesday, May 29, 2018

Tô hủ tiếu và ba tôi


Lâm Vân An/nguoi-viet

Với những người con xa xứ sống ở nước ngoài mà cha mẹ anh chị em còn hết ở Việt Nam như tôi, được đón ba mẹ qua thăm nhà là một niềm vui lớn. Tháng đầu tiên hai vợ chồng tôi mua được nhà riêng bằng tiền dành dụm sau hơn chục năm lang bạc, tôi hồ hởi mời ba tôi qua thăm (má tôi không đi được vì lúc đó còn trong năm học, bà phải dạy).
Vừa từ phi trường về đến nhà, mắt ba tôi sáng lên, lấp lánh niềm vui. Ba thích thú đi xem hết căn nhà mới tinh của con gái mình, căn nhà còn thơm mùi sơn mới, kiến trúc vuông vức, 100% làm bằng gỗ, nhỏ xíu so với tiêu chuẩn vĩ đại của Texas (‘Everything is big in Texas’) nhưng có sân vườn, có hai cây sồi non trước nhà, sân sau đủ rộng để trồng bông trồng kiểng.
Mấy ngày đầu tiên ba tôi như một em bé được lạc vô chỗ nào hào hứng lắm, ông cứ đi vòng vòng dòm căn nhà từ trong ra ngoài, từ ngoài vô trong, ngưỡng mộ cách người Mỹ xây nhà. Ông nhìn thiết kế rồi khen phòng ốc chỗ này, chỗ kia uốn lượn quá đẹp, có lúc ông ngồi thụp xuống đất coi cách họ đóng tủ, làm kệ, gõ cộp cộp vào sàn lót gỗ, rồi ông ra ngoài coi hệ thống điện nước ga, tưới tiêu bên ngoài, xong ông cứ luôn miệng “Đẹp quá” làm vợ chồng tôi vui sướng, cười toe toét.
Ba siêng lắm, ông làm líp, đánh luống đất bên hông nhà rồi trồng cho tôi đủ thứ rau thơm, húng lủi, dấp cá, tía tô, húng cây, rau răm, mà còn rào dậu cẩn thận để chúng không nhảy lan ra ngoài.
Đến Chủ Nhật của tuần cuối cùng trước khi ba về Việt Nam, sau bốn tuần sang Mỹ, đang trong bếp nấu ăn thì tôi nghe con gái nhỏ bốn tuổi của tôi hỏi “Ông ngoại ơi, ông ở đây có vui không? Món gì mẹ con nấu mà ông ngoại thích nhứt?” Phải nói thêm là trong thời gian ba tôi ở với chúng tôi, tôi tranh thủ “trình diễn” cho ba tất cả những tuyệt chiêu mà tôi học lóm được qua youtube, qua các cooking shows, mà toàn là đồ ăn… Châu Á, vì cũng như phần lớn những người già Việt Nam khác ba tôi không chịu được đồ ăn Mỹ. Đi ăn tiệm thì mỗi tuần ba tôi chỉ có thể kham một hai lần vì ông không thích ăn bên ngoài. Nói nhỏ, không phải tôi tốt đẹp, hiếu thảo gì nhưng nghĩ lại những năm còn con gái, tôi nấu nướng vụng về, ba má tôi phải cố gắng tột bực để… nuốt đồ ăn tôi làm mà không dám ca thán gì. Cho nên dịp này khi ba qua thăm và nội công tôi đã thâm hậu hơn hồi xưa một chút, tôi cố gắng nấu món này món kia để xóa hình ảnh xấu xí trong mắt ba. Bữa phở gà, bữa hủ tiếu Nam Vang, bữa bún mọc, bánh canh, bú́́n riêu, bún bò huế, bò xào, bò xáo, nem nướng cá nướng cuốn rau, bú́́n mắ́́́m, bánh xè̀̀o, đủ̉ thứ́ hế́́́́t.
Ba tôi chậm rãi trả lời cháu ngoại “Hủ tiếu Nam Vang, món đó ông ngoại thấy má con nấu ngon nhứt.”
Tôi im lặng, cười, giả bộ không nghe thấy. Món hủ tiếu đó tôi nấu đơn giản, chỉ là hầm nước lèo xương ống, không quên bỏ thêm một nắm tôm khô và vài con mực khô cho ra mùi nước lèo hủ tiếu. Ba tôi thích hủ tiếu dai, nên tôi mua hủ tiếu bột lọc, trụng bánh vừa tới. Tôm, mực, tim gan, thịt nạc tôi luộc nhanh cho khỏi dai, thịt bằm tôi cũng xào thiệt nhanh cho không bị xác. Tôi trộn hủ tiếu với dầu ăn và một thứ nước sauce bí mật. Vậy là tô hủ tiếu đã xong. Bên trên tô hủ tiếu là vài miếng tôm mực tim gan thịt băm, vài cọng hành ngọ, vài lát hành phi. Tôi múc cho ba tô nước lèo riêng, bên trong chén nước lèo có rau tần ô, vài cọng hẹ, miếng xương heo và cần tàu thơm nhẹ. Chỉ đơn giản vậy mà ba tôi xin thêm tô thứ hai, rồi thứ ba… “Cho ba chút xíu bánh thôi.” Đó cũng là món mà ba tôi ăn được tới ba tô mà không than ngán. Nấu được món ba thích, nhìn ba ăn món mình nấu ngon lành, theo tôi đó là thành công lớn nhất trong chuyến thăm nhà đầu tiên của ba với mình.
Lần đầu tiên ba ăn xong hủ tiếu tôi nấu, tôi hỏi ba “Ba có nhớ kỷ niệm tô hủ tiếu hồi lúc mình còn nghèo không ba?” Ba tôi nói “Ủa, con cũng nhớ hả?” Tôi gật đầu “Hồi đó khổ ha ba!”Ừ.” Rồi ba và tôi cùng nhau nhớ lại. Đó cũng là kỷ niệm đặc biệt riêng của tôi với ba. Trong lòng tôi, nó là một trong những điều ngọt ngào nhứt về cha mình, hết sức thiêng liêng mà gần gũi.
Lúc đó tôi chừng 7-8 tuổi, thời gian đó má tôi bị hen suyễn phải vô bệnh viện nằm một thời gian dài, ngoại tôi phải chạy ra chạy vô bệnh viên với má và ngoại đưa thằng em ba tuổi của tôi về ngoại để tiện việc chăm sóc. Nhà còn lại tôi, ba và em gái. Em gái kế của tôi 5 tuổi không biết tại sao cũng bị viêm họng sốt li bì, tôi phải nghỉ học ở nhà chăm nó.
Tôi nhớ hôm đó là xế chiều, ba tôi đi làm về sớm, ông dạo qua một vòng nhà, thấy nhà cửa trống lỏng, cái chạn thức ăn (ba má tôi gọi là garde manger) cũng trống lỏng, không có món gì để bỏ bụng, em tôi nằm tòng teng trên võng hâm hấp sốt. Ba ngán ngẩm mở bóp, tôi dòm vô không có đồng nào ngoài tờ 2 đồng lớn hơn tay tôi một chút. Suy nghĩ một hồi, ba rút nó ra đưa tôi “Con đi mua tô hủ tiếu cho em đi.”
Trời, tôi còn nhớ lúc đó tôi nghĩ, sao em tôi sướng quá, bịnh được ăn hủ tiếu, hay giờ mình cũng than bịnh giống nó. Nhưng tôi không muốn làm ba tôi lo lắng vì tôi cũng đã thấy ba tôi đâu còn đồng nào để mua thêm một tô hủ tiếu nữa.
Thế là tôi xách tô sành chạy một mạch trên quãng đường đất dài gần cây số, nắng hầm hập. Nhà tôi lúc đó ở khu khỉ ho cò gáy, xa chợ, chợ lại họp buổi sáng, tôi chỉ có nước ra hợp tác xã. Trên đường đi tôi tính toán nếu mua tô hủ tiếu 2 đồng, em tôi ăn hết thì tôi và ba tôi sẽ không có gì để ăn. Tôi quá rành cái garde manger trống trơn ở nhà tôi… vì tôi mở nó ra ngày hơn chục lần. Có thể tôi sẽ bị ăn cơm với nước tương. Hay là mình mua tô 1.5 đồng vậy. Nhứt định vậy đi. Hai cô bán hàng hợp tác xã nghe tôi nói tô hủ tiếu 1.5 đồng thì nhăn mặt kêu không bán, “giá 2 đồng là thấp nhút rồi bé.”
“Thôi, cô bán cho con tô 2 đồng, và làm ơn cho con mua thiếu ổ bánh mì không được hông, em con đang bị sốt, nhà con không có gì ăn,” tôi nài nỉ.
Không biết ai nhập mà tôi nói ro ro hay y như trong kịch Kim Cương, tôi còn nhìn hai người lạ với cặp mắt con nít buồn bã nhứt. Chắc nhìn tôi thương quá, hai cô bán hàng dòm nhau rồi quyết định làm cho tôi tô hủ tiếu, tặng luôn cho tôi ổ bánh mì không. Tôi nhớ là tô hủ tiếu có nước, một ít bánh, đúng 4 lát thịt heo mỏng dính, một hai miếng tóp mỡ, giá hẹ có vài cọng bên trên vậy mà nhìn ngon quá đỗi. “Coi chừng đổ nha bé.” Tôi bưng tô hủ tiếu đi dưới trời nắng gắt, đất đỏ lục sục vào chân, hai tay tôi bưng chậm chậm, chốc chốc tôi phải dừng lại để tô hủ tiếu qua một tay cho tay kia đỡ mỏi. Ổ bánh mì hai cô bán hàng bọc trong giấy, tôi kẹp vô… nách. Tôi thèm hủ tiếu đến mức trên đoạn đường gần cây số về nhà, cả trăm lần tôi nâng cả tô lên mặt, hít hít. Lâu lâu không ngăn được cám dỗ tôi lè lưỡi liếm miếng nước lèo sóng sánh mép tô… nhưng tuyệt đối cả quãng đường dài tôi không ăn miếng thịt nào và tôi hết sức tự hào vì điều đó.
Cuối cùng cực hình tra tấn cũng kết thúc. Về đến nhà, tôi tự hào đưa ba tôi tô hủ tiếu. Ba tôi đang đắp khăn cho em bớt sốt, ông xoa đầu tôi “Con giỏi lắm!” rồi ông dòm ổ bánh mì không xẹp lép đầy mồ hôi của tôi, ánh mắt ngạc nhiên. Tôi nói “Còn ổ cuối, mấy cô đó cho con, ba chiên trứng gà cho con ăn đi. Con biết 3-4 cái trứng là để mai ngoại đem vô bệnh viện cho mẹ mà con thèm quá ba ơi.
Ba tôi không nói gì, ông dòm tôi, ánh mắt ông dâng lên tia nhìn đầy tội nghiệp. Sau đó ông dựng em tôi dậy cho nó uống thuốc rồi đút nó ăn. Rồi ba đi mở garde manger làm món trứng ốp la cho tôi với mấy cái trứng gà nhà đẻ. Tôi sung sướng giơ tay, đón lấy cái chảo con, bên trong có 2 cái trứng gà tròng đỏ nhiều ơi là nhiều. Tôi xịt nước tương vô chảo xong bưng cái chảo ra hàng hiên ăn ngon lành, vừa ăn vừa dòm cây xoài lúc lỉu trái non, thấy cuộc đời không đến nỗi đau khổ lắm. Lúc ăn xong tôi đã hả hê, định vô nhà coi tình hình thì ngay bậu cửa, tôi thấy ba tôi vừa bưng mâm khỏi chỗ em nằm, dọn qua bàn ăn. Cái mâm trống trơn, chỉ có tô hủ tiếu tôi mới mua hồi nãy đã hết sạch cái, còn chút nước lèo lỏng bỏng. Ba không trông thấy tôi, ông đang mở nồi cơm nguội. Ông xúc một vá đầy cơm, bỏ cơm vô phần nước lèo còn sót lại của tô hủ tiếu.
Và ba tôi ngồi xuống, bắt đầu bữa tối của mình.
Tôi vội vàng lùi lại, quay ra hàng hiên. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi biết khóc khi cảm nhận tình phụ tử. 

(Lâm Vân An)
Dấu chân Người Lính Pháo Thủ Mũ Xanh

PT Mũ Xanh Phạm Thành Nhân 

Năm tôi mười tám tuổi đang đi học thì xảy ra trận tổng công kích của Việt cộng vào thủ đô Sài Gòn và một số tỉnh lỵ khác của VNCH vào dịp tết Mậu Thân năm 1968. Lệnh tổng động viên được ban hành, vào tuổi cuả một thanh niên mới lớn chưa hiểu rõ về cuộc đời chỉ biết sách vở và bạn bè nay bỗng dưng đi vào quân đội tôi cảm thấy lòng mình đầy hoang mang và bỡ ngỡ.

Chiến tranh đã kéo dài đến thế hệ cuả chúng tôi với một quê hương điêu linh và đổ nát, những người đi trước vẫn còn miệt mài và bây giờ thì đến lượt chúng tôi. Chiến tranh đã đi vào đến thành phố, Sài Gòn đã có những đêm tiếng đại bác vang vọng về rất gần, người dân Sài Gòn cũng đã một phần nào biết đến chiến tranh, một cuộc chiến dai dẳng chưa biết bao giờ mới chấm dứt.

Trường Hạ Sĩ Quan nung chí người trai, Đồng Đế đêm ngày nghe sóng vỗ. Tôi vào quân trường Đồng Đế một buổi chiều khi hoàng hôn vừa tắt, vũ đình trường được bao bọc xung quanh bằng những hàng thông rì rào bởi những luồng gió thổi từ ngoài biển vào, phía sau quân trường, trên đỉnh núi, tượng người lính mầu trắng đứng trong tư thế thao diễn nổi bật trong dẫy núi chập chùng mầu xanh thẫm nổi tiếng với hai câu thơ:

Anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ,
Em nằm xõa tóc đợi chờ anh.

Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu, máu chưa đổ nhưng mồ hôi thì hầu như lúc nào cũng đẫm chiếc áo trận. Đồng Đế có một bãi huấn luyện về chiến thuật cạnh bờ biển rất đẹp đó là bãi Tiên, không biết ai đặt tên nhưng tiên đâu chẳng thấy chỉ thấy những cán bộ huấn luyện dữ như những hung thần: nhất Sử nhì Vinh tam Hùng tứ Cảnh,bốn vị Sĩ quan huấn luyện viên này có những lối phạt rất là văn nghệ, thơ mộng nhưng chết người như:

Tình ca người đi biển: Cả đại đội khóa sinh dàn hàng ngang súng giơ cao khỏi đầu lội xuống biển cho đến khi nào ngập đầu.

Hái hoa rừng cho em: Một tiếng còi thổi cả Đại đội chạy từ dưới chân đồi chạy lên đỉnh rồi một tiếng còi chạy xuống trong tay mỗi người phải cầm một cành hoa nhưng không được rụng cánh.

Những đêm đi ứng chiến ở cầu Xóm Bóng, Ba Làng nghe sóng vỗ rì rào, trời sáng tinh mơ thấp thoáng những bóng con thuyền trở về với đầy ắp cá chuồn. Câu lạc bộ cuả tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng có người con gái cố tình quên không tính tiền cho những chàng khóa sinh với ánh mắt đầy trìu mến như cảm nhận rằng thương người chiến binh. Những ngày cuối tuần đi phép người cán bộ đứng ngay cổng hỏi khóa sinh rằng từ doanh trại tiểu đoàn khóa sinh (Bảng tên của mỗi Tiểu đoàn khác nhau) ra đến cổng quân trường có bao nhiêu gốc thông ở hai bên đường?

Rồi 6 tháng quân trường cũng trôi qua, chàng thư sinh bây giờ trở thảnh một người chiến binh dạn dày phong sương bỏ lại sau lưng Đồng Đế với những ngày gian khổ nhưng đầy kỷ niệm.

Thành phố miền thùy dương cát trắng vẫn níu chân tôi, rời Đồng Đế tôi qua trường pháo binh ở Dục Mỹ để học thêm về ngành chuyên môn. Trường pháo binh nằm cạnh trung tâm huấn luyện Biệt Động Quân nổi tiếng với chương trình huấn luyện rừng núi sình lầy, thời gian học tại trường pháo binh thật là nhàn hạ, chỉ trừ những lúc khảo hạch về chuyên môn, những chiều cuối tuần có xe cuả trường chở ra thành phố Nha Trang dạo phố nhưng riêng tôi cũng chẳng thấy xa lạ gì bởi mới vừa rời Đồng Đế, quần áo lúc nào cũng ủi hồ thẳng nếp, sách vở trên tay, đi học ngoài bãi đều có xe chở cho nên chúng tôi thường gọi đùa với nhau bọn mình là “Lính hoàng gia”. Có một kỷ niệm tôi không bao giờ quên đó là những chiều cuối tuần hết tiền ra Nha Trang cả bọn lùa dê đực và dê cái cuả ông Trung tá già Lê Huy Nghiêu Chỉ huy phó vào sam (Nơi ngủ của khoá sinh) đóng hết cửa lại cho chúng làm tình, sáng thứ hai sau buổi chào cờ tại Vũ đình trường những tên tham dự trò chơi đó bị đứng phạt dưới chân cột cờ và trong đó có tôi. Câu lạc bộ số một có cô Ngân xinh đẹp si tình một chàng Sĩ quan căn bản pháo binh khoá 2/68, đến ngày mãn khoá chàng phải lẩn trốn (Đây là lời cuả Sĩ quan pháo binh Phan Kim Bổng khoá 2/68/TĐ kể lại cho tôi ).

Sau khi tốt nghiệp, tôi về phục vụ tại một đơn vị pháo binh và làm việc trong trung tâm hành quân cuả Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô, công việc cũng nhàn hạ, ngoài giờ trực tôi thường hay lang thang đường phố Sài Gòn, những chiều cuối tuần vẫn nhộn nhịp mặc dù dấu tích đổ nát cuả chiến tranh còn đó. Thỉnh thoảng có những thằng bạn học cũ aó hoa rừng mũ đỏ, mũ nâu trở về thành phố kể lại những trận đánh mà chúng nó tham dự. Ôi, đời lính nhiều gian nguy nhưng cũng đầy hào hùng và thời gian ngắn sau đó tôi tình nguyện sang pháo binh Thủy Quân Lục Chiến, cũng kể từ đó dấu chân người lính bắt đầu đi khắp nẻo đường đất nước.

Tôi theo đơn vị hành quân tại vùng Kiến Hòa, thị xã Trúc Giang với những hàng dừa rợp bóng hai bên đường, những cô gái thị xã e ấp trong chiếc aó bà ba đơn sơ và giản dị khiến tôi chợt nhớ đến hai câu thơ của một người bạn học cũ trong nhóm thi văn đoàn sông Hậu:

Tôi thương chiếc áo bà ba,
Tôi thương thị xã mang tà áo em.

Qua bắc Hàm Luông là Mỹ Lòng, tại chợ Mỹ Lòng có một loại rượu đế màu vàng óng uống muốn cháy cổ họng nhưng rất ngon, có lần bọn tôi năm đứa đã ngất ngưởng từ đó để về đến vị trí pháo đội đóng tại Đồng Gò, có những buổi chiều ngồi bên cạnh con lộ nhìn những cánh đồng bao la bát ngát tôi thấy đất nước mình đẹp quá, nếu không có chiến tranh thì quả là tuyệt vời với bức tranh đồng quê. Đứa trẻ mục đồng trên mình trâu lững thững đi về trong khói lam chiều, nhưng cảnh thanh bình ấy vẫn còn xa tầm tay với cuả những người nông dân hiền hòa và chất phác.

Được một thời gian thì đơn vị di chuyển xuống Giồng Trôm, quê hương cuả ông già Ba Tri đầy huyền thoại, chợ Giồng Trôm nằm bên cạnh chi khu có những buổi trưa Hè trong vọng gác người lính nghĩa quân ôm súng ngồi uể oải, bóng dáng của những người lính mũ xanh, áo rằn ri xuất hiện làm cho khu chợ trở nên sôi động, thấp thoáng đâu đó một vài anh lính ngồi trò truyện với những ánh mắt đầy trìu mến cuả cô thôn nữ. Người lính Việt Nam Cộng Hoà là thế đó, họ chiến đấu thật can đảm khi đối diện cùng quân thù nhưng cũng rất lãng mạn trong tình yêu, thời gian đóng quân tại đây quá ngắn ngủi cho nên mọi người cũng nuối tiếc mảnh đất đầy hiền hoà này, ngày chuyển quân rồi cũng đến và cuộc chia ly nào cũng đầy nước mắt nhưng cuộc chia tay cuả một người lính trong khẩu đội cuả tôi với người con gái Giồng Trôm thì vĩnh biệt bởi sau đó người chiến binh này đã nằm xuống tại mặt trận Quảng Trị vào muà Hè đỏ lửa năm 1972.

Đồn 23 nằm cạnh quốc lộ số 4 thuộc tỉnh Định Tường là căn cứ cuả một trung đoàn bộ binh thuộc Sư Đoàn 7 bị đặc công VC tấn công đêm qua. Khi chúng tôi đến thì những đám cháy vẫn còn và xác người nằm la liệt. Ôi! đau thương nào cho bằng một cảnh tượng đầy xác chết của những đàn bà và trẻ thơ vô tội, một người lính bộ binh nước mắt lưng tròng ngồi ôm xác vợ con mình. Chiến tranh thì sẽ có thiệt hại nhưng đây là sự khát máu, bạo tàn vô lương tâm của con người cộng sản, trái lại người lính Việt Nam Cộng Hòa lúc nào cũng sẵn sàng bảo vệ sinh mạng cuả người dân điều đó đã nói lên tính nhân bản và chính nghĩa cuả người lính VNCH và tính độc ác, bạo tàn, khát máu của Cộng Sản.

Từ đồn 23 theo quốc lộ số 4 chạy xuống đến ngã ba Cái Bè, quẹo trái là vào chợ Cái Bè nằm dọc theo con sông chảy ra cầu Thông Lưu, gần chợ có một căn nhà ngói màu đỏ thỉnh thoảng theo chuyến xe tiếp tế cuả pháo đội tôi ghé vào thăm một ông già, ngồi nhâm nhi cùng ông ly rượu đế và nghe ông kể chuyện đời xưa. Trước ngày chuyển quân, tôi đến chào từ giã ông, nắm tay tôi giọng run run ông nói:

– Thằng cháu đi mạnh giỏi nếu có dịp đi ngang qua đây nhớ ghé thăm “Qua”.

Ôi! tiếng “Qua” cuả một ông già miền Nam sao mà thân thiết quá! Phải chăng miền Nam với ruộng lúa phì nhiêu, thẳng cánh cò bay, tôm cá đầy đồng đời sống dễ dàng nên tính tình người miền Nam cũng cởi mở và chân tình, miền Nam với những trăng sáng đêm thanh tiếng giã gạo xen lẫn tiếng hò cảnh thanh bình, thịnh trị cuả thưở xa xưa. Nhưng rồi chiến tranh đã đưa tôi đi đến những vùng đất xa lạ khác, tôi không còn có dịp ghé về chốn cũ để thăm ông nhưng hình ảnh cuả ông vẫn mãi mãi trong tôi.

Đơn vị nằm chờ lệnh hành quân tại Bắc Mỹ Thuận, những người lính độc thân lại được dịp tỏ tình với những người đẹp bến phà, dòng sông Cửu Long đục nước phù sa lững lờ trôi kéo theo những đám lục bình, chiếc phà chở xe cộ, hành khách sang bên Vĩnh Long như con thoi, tâm hồn tôi chợt nhớ về miền sông Hậu, Cần Thơ nơi tôi đã có vài năm học ở đó. Thành phố có bến Ninh Kiều, những đêm trời sáng trăng tôi thường hay ra ngồi ghế đá nằm cạnh con sông để nhìn sang bên kia là Xóm Chài với con đò đưa khách sang sông dưới ánh trăng lấp lánh hay những buổi nghỉ học cùng với đám bạn bè chèo xuồng qua bên kia cồn để hái trái cây, khung trời Tây Đô với những con đường đầy kỷ niệm.

Kampuchia, một nước nghèo nàn và xác xơ mặc dù chiến tranh mới chỉ thấp thoáng ở một vài nơi gần biên giới Việt Nam, những chiếc tàu vận tải trung hạng cuả quân vận đổ chúng tôi xuống một vùng đất thoai thoải một cù lao nhỏ trồng toàn bắp, xa xa vài căn nhà thưa thớt như những nhà sàn cuả người Thượng trên vùng Cao Nguyên. Cứ 3 ngày, từng đoàn tầu quân vận chở lương thực và đạn dược đến tiếp tế cho chúng tôi.

Con sông trước mặt đục ngầu, thỉnh thoảng có những xác người không đầu theo dòng nước, và được biết đó là những xác cuả người Việt Nam. Những ngày rảnh rỗi một số anh em chúng tôi cũng đi sâu vào làng dân, họ cũng hiền hoà như các dân tộc khác nhưng không hiểu tại sao lại có mối thù truyền kiếp giữa hai dân tộc. Sau 2 tháng ở xứ người, đơn vị tôi đuợc lệnh di chuyển về Châu Đốc và trở về hậu cứ tại Rừng Cấm Thủ Đức. Một buổi tiệc liên hoan đã được tổ chức và đặc biệt hơn nữa là đến màn vũ Sexy anh em binh sĩ la ó ồn ào nhưng vị Tiểu đoàn trưởng cuả chúng tôi đứng ở một góc cuối hội trường chỉ mỉm cười với ánh mắt thật bao dung, ông hiểu rồi mai đây trong cuộc hành quân sắp tới có còn đầy đủ khuôn mặt như hôm nay? Bởi vì: “Xưa nay chinh chiến mấy ai trở về!”. Xin cám ơn lòng nhân hậu của người anh cả chúng tôi Trung tá Trần Thiện Hiệu.

Sau cuộc hành quân Kampuchia lần thứ hai, đơn vị lại chuẩn bị cho cuộc hành quân sắp tới, ngoài quân trang, quân dụng chúng tôi còn được cấp phát thêm áo trấn thủ, tôi đoán sẽ đi hành quân ở vùng Cao Nguyên, nhưng không biết chỗ nào? Bởi vì theo lệnh cấp trên trong phạm vi cuả khẩu đội, tôi kiểm soát lại tình trạng khẩu đại bác, dụng cụ và nhân viên khẩu đội, thời gian chuẩn bị hành quân cũng đã gần đến, tôi muốn trở về thành phố trước khi đơn vị lên đường.

Đêm Sài Gòn vẫn như mọi đêm khác, thành phố rực ánh đèn mầu, tiếng nhạc văng vẳng từ những vũ trường, phòng trà, người dân thành phố vẫn thản nhiên ăn chơi trong khi cuộc chiến mỗi ngày một khốc liệt! Ngồi trong quán cà phê với thằng bạn đêm cuối của Sài Gòn trước khi lao vào vùng lửa đạn, lòng tôi thoáng chút bồi hồi bởi vì không biết có còn được trở lại thành phố này nữa hay không? “Còn đây đêm cuối này, đàn ai réo rắc nhạc lòng chia ly”, tôi chưa có một bóng hồng cho đời, chỉ có một thằng bạn thân chia tay đêm nay, nhưng cũng cảm thấy yên lòng cho kẻ ra đi, mai đây phương trời xa xôi ấy, có kẻ ra đi sẽ quay về?

Chiếc phi cơ C-130 cuả Không lực Hoa Kỳ đổ chúng tôi xuống phi trường Ái Tử với những luồng gió thổi thật buốt giá. Phi trường nằm cạnh quốc lộ số 1, chung quanh là bãi cát trắng hoang vu không một mái nhà, không biết ngày xưa người mẹ già đã từ đâu đến để ngồi trên chiếc cầu Ái Tử này khóc nhớ thương con? Nước dưới chân cầu ngập ngừng trôi như muốn niú lại những giọt nước mắt cuả người mẹ già Ái Tử cuả thưở xa xưa. Màn đêm buông xuống, chiếc lều Poncho không ngăn được gió lạnh, trong đêm trường không tiếng ru Hời năm xưa mà chỉ nghe tiếng gió thổi vi vu lạnh lẽo, lần đầu tiên trong đời tôi mới biết được cơn lạnh cuả miền Trung.

Trời mờ sáng pháo đội được lệnh di chuyển lên Đông Hà một thị xã của vùng giới tuyến, “Đi dăm phút đã về chốn cũ”, khu buôn bán chỉ quanh quẩn với vài con đường, một nhà ga hoang tàn, sân ga cô đơn vắng bóng con tàu kể từ khi cuộc chiến gia tăng. Tôi nhớ về căn ga nhỏ nằm cô đơn giữa đường từ Nha Trang đến Ninh Hòa trong một truyện ngắn cuả Thanh Nam “Buồn Ga Nhỏ”, nhưng dù sao căn ga đó vẫn còn có niềm hạnh phúc với những con tàu đến và đi.

Ngã ba Đông Hà nếu chạy thẳng lên hướng bắc cuả quốc lộ 1 thì sẽ đến Gio Linh, còn quẹo trái là quốc lộ số 9 chạy đến biên giới Việt-Lào. Đường đi khúc khủyu quanh co, một bên là vách núi, một bên là vực sâu và nhiều lần phải đi ngang qua những con suối gập ghềnh thật gian nan vất vả, khẩu đại bác 105 ly nhiều lúc muốn chực lật nhào, quần áo mặt mũi bám đầy bụi đỏ, không biết những cô sơn nữ của Nhạc sĩ Trần Hoàn như thế nào chứ chúng tôi toàn thân hầu như được rắc lên một lớp bột mầu đỏ. Vách núi cheo leo, vực sâu núi thẳm, đoàn quân di chuyển với tiếng động cơ cuả xe phá sự yên tĩnh cuả dãy Trường Sơn hoang vu, pháo đội dừng quân bên cạnh một con suối, mọi người thay phiên nhau đi tắm rửa rồi nghỉ qua đêm.

Đêm ngủ bìa rừng, trên bầu trời đen tối lấp lánh vì sao, tiếng xào xạc của lá, thèm ly cà phê, điếu thuốc, nhớ mông lung về mái ấm gia đình, cha mẹ, anh em, nhớ đến lời dặn dò cuả người cha già, người mẹ ngồi trước bàn thờ tụng kinh cầu mong cho thằng con mình trở về bình yên, bạn bè đã có vài thằng ra đi khi tuổi còn thanh xuân, Minh “õng ẹo” TĐ/21BĐQ ra trường 26 ngày thì tử trận, Đồng “nhà quê” SĐ25 chết khi mối tình đầu được đúng tròn năm, Kính “con” Nhảy Dù cố gắng về, nhưng về nghiã trang! Ôi, chinh chiến đã mang đi nhiều bạn bè, ngựa hồng chưa mỏi vó nhưng đã chết trong rừng già, cánh đồng hoang vu.

Khe Sanh, nơi được cả thế giới biết đến khi một trung đoàn TQLC Mỹ và Tiểu Đoàn 37/BĐQ lừng danh cuả QLVNCH bị nhiều sư đoàn Cộng Sản Bắc Việt bao vây, bây giờ lại một lần nữa được nhắc nhớ đến khi những đoàn quân của tinh nhuệ cuả QLVNCH, Sư Đoàn 1 Bộ Binh, Sư Đoàn Nhẩy Dù, Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến và Biệt Động Quân đặt bản doanh trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 tiến sang phần đất Hạ Lào. Những hố bom do B52 thả xuống chung quanh chân đồi đầy rẫy, đã có một lần vào đêm tối trời tôi đã bị rơi xuống hố, khó khăn lắm mới leo lên được. Pháo đội trong tình trạng nằm trừ bị tại Khe Sanh và bắn yểm trợ cho quân bạn, hàng ngày những loạt hoả tiễn 122 ly cuả Cộng quân rớt vào vị trí pháo đội nhưng không sự thiệt hại nào đáng kể.

Từng đoàn trực thăng tải thương mang những thương binh trở về từ mặt trận, bệnh viện dã chiến đầy nghẹt không còn chỗ chứa, bên cạnh đó là những bao đựng xác người nằm đầy ngang hông bệnh viện! Trận chiến mỗi ngày một khốc liệt, bởi vậy số thương vong cũng lên cao, thằng bạn thoát về được mừng tủi kể lại trận đánh và cũng có những thằng bạn của Đồng Đế năm xưa đang im lìm nằm trong bao xác! “Ngày mai trong đám tử sĩ ấy, có kẻ đi về nơi nghiã trang”! Cuộc hành quân chấm dứt, tôi mất đi một số bạn bè và người quen, kỷ vật cho người còn sống là ngôi mộ vừa được lấp kín trong nghiã trang, em hỏi anh bao giờ trở lại? Câu trả lời chỉ là đau thương và mất mát.

Động Ông Đô mây mù dày đặc, thỉnh thoảng có những ngày bầu trời trong sáng, xa xa dãy Trường Sơn chập chùng xanh thẫm khiến tôi nhớ về nơi quân trường cũ có tượng người lính và Dục Mỹ với những ngày kéo súng đi thực tập ở xạ trường có đồi núi chập chùng vây quanh, con suối Dục Mỹ róc rách chảy len lỏi qua những tảng đá làn nước lung linh lấp lánh dưới ánh mặt trời, người tình cũ khi chợt nhớ về cố nhân đã thầm mong một lần nào đó cho gặp lại nhau, riêng tôi, mong một ngày nào đó cho tôi trở về miền thuỳ dương cát trắng năm xưa để nghe sóng vỗ Đồng Đế, tiếng suối chảy cuả Dục Mỹ và ngồi lặng yên trên bãi cát trắng với những con sóng nhấp nhô ngoài khơi cuả Nha Trang ngày về, mười hai tháng anh đi, đi mãi chưa biết bao giờ trở về.

Đỉnh núi Sarge cao ngất, nhìn xuống là quốc lộ số 9 chạy ngoằn ngoèo như con rắn, Cộng quân bắt đầu pháo kích dồn dập vào vị trí pháo đội để gây trở ngại việc yểm trợ cho quân bạn đang bị chúng tấn công bên căn cứ Bá Hổ. Khẩu đại bác của tôi bị 3 trái đạn súng cối 82 khiến hai bánh súng trúng mảnh đạn bị xẹp, chúng pháo tới tấp, vừa chạy vào hầm thêm 2 trái nổ tung trên nóc hầm, tôi không bị thương nhưng hai tai thì ù đi, nghe tiếng rên la của một người lính, tôi nhào đến xem, máu chảy ướt đẫm trên vai, tôi báo cáo lên đài tác xạ cho y tá xuống băng bó cho người lính bị thương và cũng cho biết tình trạng khẩu đại bác, thằng bạn làm trưởng đài tác xạ hỏi một câu thật ngớ ngẩn:

– Súng còn có thể tác xạ được không?

Tôi nổi nóng văng tục, chán quá! Sau cuộc pháo kích cuả Cộng quân, kiểm điểm lại quân số thì có 3 binh sĩ bị thương, không có thương vong nhưng khẩu đội cuả tôi thì bị nặng nhất bởi ngay tầm bắn của chúng và ngay ngày hôm sau một toán quân cụ được trực thăng bốc lên núi để sửa chữa lại khẩu đại bác và gỡ một trái đạn không nổ còn nằm dưới gầm súng.

Đầu mùa Xuân năm 1972, pháo đội đóng trong căn cứ C1 Gio Linh, Gio Linh nghèo nàn, xơ xác, cứ mỗi buổi sáng từng đoàn người kể cả trẻ em dẫn nhau lên núi, và vào khoảng xế bóng ra về với những bó củi trên lưng, thấy vậy tôi xin phép cấp trên những ống đựng đạn được quấn bằng giấy dầu không thấm nước thay vì đem đổ đi thì nên cho họ, được sự chấp thuận nên cứ mỗi lần khui đạn những ống đựng đạn đó tôi nói với người tài xế cuả khẩu đội mang ra cho họ. Chiều ba mươi Tết cuả miền điạ đầu giới tuyến, mặt trận tạm yên, hưởng không khí mùa Xuân với đồng đội trong khi những người dân Gio Linh vẫn từng đoàn người lầm lũi vào dẫy Trường Sơn để kiếm sống. Ôi, quê hương Việt Nam sao có những nơi lầm than đói khổ như thế này!

Quảng Trị muà Hè đỏ lưả bắt đầu khi những sư đoàn Cộng quân Bắc Việt cùng với xe tăng đại pháo vượt sông Bến Hải ồ ạt tấn công miền địa đầu giới tuyến. Những căn cứ tiền đồn lần lượt thất thủ! Trong thời gian ấy, đơn vị chúng tôi đang đóng trong căn cứ cuả một trung đoàn bộ binh, vị trí pháo đội bị Cộng quân pháo tới tấp nhưng chúng tôi vẫn cố gắng bắn yểm trợ cho những đơn vị bạn, bất ngờ khẩu đội được lệnh chuyển hướng bắn và mục tiêu là cầu Đông Hà. Cầu Đông Hà trong tầm mắt nhìn nên tôi thấy khói và bụi mù tung trời sau đó được lệnh kéo súng về vị trí mới. Trên đường đi, dọc theo quốc lộ số I, từng đoàn người dân gồng gánh nối đuôi nhau chạy về Huế. Từ căn cứ Hoà Mỹ, pháo đội yểm trợ suốt đêm cho một đơn vị bạn trong căn cứ Phượng Hoàng đang bị Cộng quân tấn công bằng xe tăng và đại pháo.

Vì áp lực cuả địch, chúng tôi về đóng tại cây số 17 (Thời gian này Sư Đoàn Dù chưa ra tham chiến) là một căn cứ cũ cuả quân đội Mỹ và con sông Mỹ Chánh trở thành tuyến đầu cực Bắc cuả miền Nam. Vị Lữ Đoàn Trưởng của LĐ/369/TQLC, Đại Tá Phạm Văn Chung, đã chận đứng được sự tấn công cuả cộng quân tại con sông này. Cảnh hỗn loạn chấm dứt, trật tự đã được tái lập và sau đó cũng từ con sông Mỹ Chánh này Thuỷ Quân Lục Chiến Việt Nam đã làm nên lịch sử khi cắm lá quốc kỳ cờ vàng ba sọc đỏ trên cổ thành Quảng Trị lừng danh trong quân sử. Hải Lăng, một đoạn đường dài hơn 10 cây số đầy xác người nằm trên mặt lộ và hai bên đường bởi cuộc phaó kích cuả giặc thù! Giới truyền thông Tây phương đâu rồi? Cô đào chiếu bóng Jane Fonda đâu rồi? Cả bọn mất dạng bởi cảnh tượng tàn sát khủng khiếp dã man trong loài người do những “người bạn” cuả đám phản chiến gây nên, đoạn đường này sau đó đã được một nữ ký giả Việt Nam gọi là: “Đại Lộ Kinh Hoàng” và người đó là nhà báo Trùng Dương.

Từ hương lộ 555, pháo đội tôi di chuyển đến đóng tại cầu Vân Trình, sau đó di chuyển qua đóng bên cạnh con sông Vĩnh Định để bắn yểm trợ cho các đơn vị TQLC đang tiến về thành phố Quảng Trị. Trận chiến mỗi ngày một gay go. Vào một buổi chiều khi trời vừa chập choạng tối, Cộng quân pháo trúng kho đạn cuả pháo đội, tiếng đạn nổ long trời cho đến gần nửa đêm mới dứt. Một số đồng bào đồng bào được giải thoát từ phiá Bắc chạy về hướng vị trí pháo đội, tất cả mọi người đã được anh em chúng tôi mang lương khô gạo xấy ra phân phát.

Dòng sông Vĩnh Định vẫn trôi chảy hiền hoà nhưng trận chiến thì mỗi ngày một đẫm máu, đoàn người lánh nạn vẫn mong mỏi chiến trận lắng dịu để họ trở về nơi quê cha, đất tổ cho dù trong cảnh hoang tàn và đổ nát,Việt Nam ơi! Hoà Bình ơi! người người đã trông đợi từ lâu và biết bao giờ đến.

Qua cầu Phong Điền, hướng lên phía Bắc, bên tay trái có một con đường mòn dẫn lên ngọn đồi nhỏ là nơi pháo đội tôi đóng quân, đang gióng hướng súng thì Cộng quân pháo kích tới tấp, người nhắm viên cuả khẩu đội bị một mảnh đạn đại bác 130 ly ghim vào đầu, óc văng tung toé! Tôi chạy đến xem, trên khuôn mặt cuả người nhân viên, bầy nhầy máu và óc, một bên mặt đã mất chỉ còn là một lỗ sâu hoắm, anh nằm xuống như một lần vào viễn du! Không phải như vậy, bởi vì anh đã chết, chết một cách thảm khốc cho cuộc chiến này, “Ngọn đồi máu” đúng vậy, vì trước đó vài ngày một thằng bạn học của thời niên thiếu cũng đã chết tại ngọn đồi này. Cơn mưa bất chợt đổ xuống, những giọt mưa ướt đẫm trên mặt xen lẫn nước mắt để khóc thêm lần thứ hai cho hai người vừa nằm xuống trên cùng một địa điểm. Ở một phương trời xa xôi của đồng bằng sông Cửu Long, có một người vợ trẻ vừa trở thành goá phụ khi hình hài người chồng đang trở về trong “Hòm gỗ cài hoa”.

Tôi trở về Sài Gòn với tấm giấy phép thưởng hành quân 7 ngày, bước lên thềm nhà, người mẹ già ngỡ ngàng nhìn con, thằng con lính vừa từ mặt trận trở về. Tin tức về chiến sự hàng ngày đã làm bà lo sợ, có lần một thằng bạn bị thương trước khi được chuyển về bệnh viện Lê Hữu Sanh, tôi có nhờ nó đến nhà để báo cho gia đình tôi biết là tôi vẫn bình yên, nó chống nạng khập khiễng đến gõ cửa, thấy bóng dáng người lính Mũ Xanh áo rằn ri, mẹ tôi ngất xỉu. Vài ngày ở Sài gòn, Sài gòn hoa lệ, Sài gòn muôn mầu vẫn sống trong cơn thác loạn trong khi đó thì trên những đèo cao hút gió, rừng sâu núi thẳm, từng giây phút trôi đi có những người lính vô danh âm thầm gục ngã rải rác trên khắp mảnh đất quê hương.

Cơn mưa Sài gòn bất chợt đổ xuống, tôi chui vào một quán cà phê trú mưa, tiếng hát của cô ca sĩ đang ca ngợi lính, không biết nàng hát cho lính loại nào? Một giấy tính tiền được đưa ra có tính thêm khoản tiền uỷ lạo chiến sĩ tiền tuyến, ôi sao quái đản thế này! Một thằng lính từ mặt trận trở về lại phải uỷ lạo tiền tuyến! Tôi nổi nóng thật sự, không phải cái khoản tiền uỷ lạo mà là lối làm ăn quái gở của ngành Chiến tranh Chính trị.

Tôi đến gõ cửa nhà bạn, mẹ bạn bước ra với ánh mắt thật buồn, im lặng không nói chỉ đưa mắt nhìn lên bàn thờ, áo hoa dù trong khung hình bán thân lung linh theo làn khói hương, bạn tôi đó! Một thời ngang dọc với những địa danh đẫm máu, bị thương ba lần không chết, mỗi lần gặp nhau trong cơn say nghêu ngao hát “Anh không chết đâu em!” và bây giờ thì nó không còn để mà hát điệp khúc này nữa, thắp cho bạn nén nhang, khói nhang màu trắng đục bay tỏa lững lờ như hồn nó đang chập chờn trong nghiã trang có tượng người lính Thương Tiếc. Bạn tôi đó đang say ngủ yên và bạn nó những người còn sống vẫn miệt mài với cuộc chiến đầy đau thương và thảm khốc này.

Giọt nắng soi ngang thềm nhà, người mẹ già yên lặng ngồi đó đã lâu, đã bao nhiêu lần như vậy cứ mỗi lần thằng con trở lại chiến trường bà đều ngồi âm thầm khấn nguyện. Bóng dáng người lính Mũ Xanh áo rằn ri khuất lần sau cánh cổng, người mẹ già vẫn còn đó, bà mong mỏi bước chân bình yên cuả con mình sẽ theo dấu lối về, cuộc chiến này sẽ có ngày tàn nhưng rồi có biết bao người đi và mấy người trở lại?

Viết để tưởng nhớ đến những đồng đội, bạn bè của tôi đã nằm xuống cho một cuộc chiến đầy máu lửa đau thương này. 

PT Mũ Xanh Phạm Thành Nhân
TĐ.3/PBTQLC.

Blog Archive