Monday, May 25, 2009

Pháo thủ Lê Châu Lộc nói chuyện về Tổng Thống Ngô Đình Diệm

Người viết bài này quen biết pháo thủ Lê Châu Lộc vì vừa là đồng nghiệp pháo thủ vừa cùng chung đơn vị với nhau trong những năm 1956, 57, và 58 tại Bình Thủy Cần Thơ, và Trảng Bàng Tây Ninh.

Anh là một Sĩ quan Pháo binh Việt Nam Cộng Hòa có quá trình phục vụ và thăng tiến khá đặc biệt. Tốt nghiệp Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức Khóa 5 - Vì Dân. Học Pháo Binh Tại Trường Pháo Binh Phú Lợi, tu nghiệp pháo binh ở Châlons-sur-Marnes (Pháp) và Fort Sill (Hoa Kỳ), từng là huấn luyện viên ở nhiều Trường Pháo Binh trong nước (Phú Lợi, Dục Mỹ) và ngoài nước (Fort Sill USA). Đơn vị chiến đấu đầu tiên Anh phục vụ là Tiểu Đoàn 21 Pháo Binh. Rồi Trường Đại Học Quân Sự, rồi Lữ Đoàn Liên Binh Phủ Tổng Thống. Cuối năm 1959 Anh là Sĩ quan Tùy viên của Tổng Thống VNCH Ngô Đình Diệm cho đến khi chấm dứt Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam, 1-11-1963. Rồi Pháo Binh Quân Đoàn III và Trường Pháo Binh.

Anh giải ngũ theo đơn xin năm 1965, thi tuyển vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh. Tốt nghiệp Đốc sự khóa 13 và Cao học Hành chánh khóa 5. Nghiên cứu hậu đại học về Quản Trị Phát Triển Xứ Nghèo tại các trường Đại học London, Oslo, Dublin. Tham quan các hệ thống Phát triển và Phòng vệ tại Do Thái và Ấn Độ. Là giảng viên Trường Quốc Gia Công Tác Xã Hội (Saigon). Cuối năm 1969 Anh tham gia Liên danh Bông Huệ của Luật sư Nguyễn Văn Huyền ứng cử vào Thượng Nghị Viện VNCH. Liên danh Bông Huệ đắc cử. Anh là Nghị sĩ cho đến 30 tháng Tư Đen, 1975.

Ra nước ngoài, trong suốt 23 năm (1975-1998), cựu pháo thủ Lê Châu Lộc hoạt động ở khắp Á, Âu, Phi, Mỹ cho công việc cứu trợ những người chạy giặc Cộng sản, từ Đông Dương tỏa ra khắp thế giới. Anh về hưu năm 1998 và an dưỡng tuổi già tại Hoa Kỳ. Mặc dầu Anh đang hưu trí, người ta vẫn thấy Anh xuất hiện trong các hoạt động truyền thông, xã hội, chính trị khi cái lão và cái bệnh không “hành hạ” Anh quá mức.

Người viết cũng như những ai từng quen biết Anh trong Pháo binh, trong Thượng viện, hoặc ở các lãnh vực hoạt động khác của Anh đều tìm thấy nơi Anh một người bạn, người cộng sự, người chỉ huy vui vẻ, từ tốn, năng động trong công việc, có tinh thần trách nhiệm, có đạo tâm, và đáng tin cậy.

Người viết nghĩ rằng bạn đọc cũng muốn biết nhân vật sẽ “nói” – dù chỉ là một vài việc đơn sơ về Tổng Thống Ngô Đình Diệm – là người thế nào. Lại nghĩ Binh Chủng Pháo Binh VNCH trước kia, có một pháo thủ như thế trong hàng ngũ, hẳn cũng là hảo sự. Vì muốn “tốt đẹp khoe ra” nên đã hơi dài dòng một chút về Anh Lê Châu Lộc.

Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một con người lịch sử. Ông là Tổng Thống đầu tiên của nền đệ nhất Cộng Hòa Việt Nam, sau chín năm cầm quyền đã bị thảm sát bởi chính kẻ đồng minh Ông tin cậy, bởi chính hàng khanh tướng Ông tạo ra. Khi Ông nằm xuống, những người mưu giết Ông và những kẻ thù ghét Ông đã bêu xấu Ông tàn tệ bằng những điều tiếng bịa đặt bỉ ổi, bằng những sự thật bị bóp méo để chạy tội, để lấp liếm những ý đồ xấu xa, những tâm địa phản phúc. Đến nay đã 45 năm qua, người đời vẫn còn nhắc tới Ông. Vẫn còn người không ưa, vẫn còn người thương tiếc. Vẫn cỏn lời bôi bác, vẫn còn lời bênh vực. Tuy nhiên những sự thật lịch sử liên quan tới Tổng Thống Ngô Đình Diệm đang dần được sáng tỏ nhờ những phát hiện từ nhiều tài liệu được giải mật, từ lời tuyên bố hoặc bài viết của những người phản tỉnh, và tiết lộ của nhiều nhân chứng đáng tin. Nhà biên khảo Minh Võ đã công phu gom góp rất nhiều những ý kiến trái ngược đó vào một cuốn sách đặc biệt: “Ngô Đình Diệm, lời khen tiếng chê” nhằm trình bày vàng thau trước công luận và trả lại công đạo cho một vị Tổng Thống mà đức hạnh ngời ngời không ai bôi đen được, và mục tiêu chính trị suốt đời chỉ là mưu cầu độc lập, tự chủ cho đất nước, tiến bộ, tự do cho người dân, và an lạc, thịnh vượng cho đời sống.

Đại úy Lê Châu Lộc được Tổng Thống Ngô Đình Diệm chọn làm Sĩ quan Tùy viên vào khoảng cuối năm 1959. Trong thời gian ở gần Tổng Thống, chắc chắn Anh thường được chứng kiến sinh hoạt hàng ngày của vị lãnh đạo quốc gia nhưng không thấy Anh viết ra hoặc kể lại. Hình như Anh không muốn dây dưa vào cuộc đôi co về người đã khuất mà Anh rất mực kính trọng. Đã nhiều lần tôi (người viết bài này – LVT) ngỏ ý muốn được Anh kể cho nghe những mẩu chuyện nhỏ Anh cỏn nhớ được vể Tổng Thống Diệm. Mãi gần đây Anh mới đồng ý.

Trả lời câu hỏi do đâu Anh trở thành Sĩ quan Tùy viên của Tổng Thống Diệm, Anh Lộc kể:

Chuyện bắt đầu từ khi Anh còn là trung úy, được đề cử tu nghiệp Pháo Binh tại Pháp quốc và Hoa Kỳ. Sau khi mãn khóa Pháo binh và làm Huấn luyện viên Pháo Binh cho các sĩ quan hiện dịch khóa 13 tại Fort Sill Hoa Kỳ, Trung úy Lộc được thuyên chuyển về Trường Đại Học Quân sự Sài Gòn với nhiệm vụ thu thập, soạn thảo, và phiên dịch các tài liệu liên quan đến Pháo binh để thành lập binh thư cho binh chủng này. Sau đó được thuyên chuyển về Liên Đội Pháo Binh thuộc Lữ Đoàn Phòng Vệ Tổng Thống Phủ và được lệnh trình diện Biệt Bộ Phủ Tổng Thống. Nơi đây đưa Anh đến trình diện Tổng Thống và đích thân Tổng Thống giao cho Anh công tác đi kiểm soát lại các địa mốc ranh giới Việt Miên Lào, từ Mỏ Vẹt Hậu Nghĩa cho đến Ashau Quảng Trị, so sánh chi tiết bản đồ và hiện thực, những chỗ thiếu thì thiết lập lại các mốc bằng ciment.

Trong chương trình phát triển an ninh lãnh thổ, khi tiếp nhận các mật khu của Cộng sản để lại, Tổng Thống đã chỉ thị áp dụng kế hoạch “gắp gai bỏ vào bao tử” bằng cách thiết lập một số tỉnh mới tại những mật khu mà đối phương đã gài cán bộ ở lại cũng như chôn dấu quân dụng trước khi rút ra Bắc. Di một số dân có kinh nghiệm về Cộng sản vào đó, tăng thêm đường xá giao thông để dân chúng di chuyển luôn luôn, có sự hiện diện của dân chúng thì sự có mặt của đối phương sẽ ngày một giảm đi. Trung úy Lộc được trao trách nhiệm thám sát vị trí đặt thị xã cho các tỉnh mới thành lập như Phước Long, Quảng Đức, v.v. Đến tận nơi, chọn lựa, và đề nghị những vị trí thiết lập các cơ sở công quyền, doanh trại quân đội, đường xá trong khu vực, hầu phong tỏa, vô hiệu hóa, và hủy diệt các mật khu của đối phương còn tồn tại. Khi được chấp thuận Trung úy Lộc cùng với các bộ, ngành phóng vị trí, đường xá, v.v.

Cũng trong thời gian này TT đã triệu tập một hội nghị gồm 7 Cụ học giả với sự có mặt của Tổng Thống Diệm suốt một ngày Chúa nhật tại dinh Độc lập để bàn và kiếm chữ đặt tên cho mấy tỉnh mới thành lập và thay đổi các tên tỉnh lỵ khAnh có ý nghĩa hay liên hoàn. Phục hồi ngũ Quảng tại miền Nam: Quảng Trị, Quảng Đức (là tên cũ của Thừa Thiên), Quảng Nam, Quảng Tín và Quảng Nghĩa (kiêng tên Ngãi nên đọc nhái là Nghĩa). Bây giờ dùng tên Quảng Đức cho tỉnh mới thành lập giữa Lâm Đồng và Ban Mê Thuột, Quảng Tín chia bớt đất của Quảng Nam,

Sau này mới biết tại sao Trung úy Lộc được gọi trình diện vì theo chỉ thị của Tổng thống, công việc cần một sĩ quan có sức khỏe, biết ngoại ngữ, và giỏi địa hình.

Cuối năm 1959, nhân dịp có hai sĩ quan tùy viên được phép trở về đơn vị theo đơn xin, chính Tổng thống ra lệnh chọn “Anh sĩ quan đen đen ấy”, là Đại úy Pháo binh Lê Châu Lộc, làm Sĩ quan Tùy Viên cho Tổng Thống.

Mời bạn nghe thêm vài mẩu chuyện sau đây:

Về thói quen
Tổng Thống có lối sống đơn giản của người độc thân, kê một giường ngủ ngay cạnh văn phòng, và Tổng Thống thường ngủ tại đó. Sáng sáng Tổng Thống tham dự thánh lễ.

Về tiền bạc
Tiền lương hàng tháng của Tổng Thống thì Ô. Võ Văn Hải, Bí thư đặc biệt của Tổng Thống lĩnh tiền và giữ. Tiền này thường được chi dùng cho các dịch vụ như trả tiền cơm cho Tổng thống, bà bếp đi chợ nấu ăn cho Tổng Thống và các nhân viên như: Ô Hải, các SQ tùy viên có mặt, v.v., thêm 50 đồng/ngày, và là tiền ủy lạo mỗi khi đi công cán, tặng cho binh sĩ, đơn vị và dân nghèo.

Về ăn uống
Thực đơn của bũa điểm tâm thường là cháo trắng, hột vịt muối hay cá kho và dưa món. Bữa trưa cũng chỉ là vài cái bắp luộc với tô nước trà bự rót nước nổi bọt, xong nghỉ ngơi độ nửa giờ. Buổi tối bữa ăn nhiều chuẩn bị hơn, cố nhiên là món miền Trung, họ hàng ở Huế vẫn thường gửi đồ ăn vào cho Tổng Thống như cá kho, … Bữa ăn tối nếu có người trong gia đình như các bà chị, Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục thì không khí vui vẻ hơn. Hôm nào buổi tối có dạ tiệc thết khách thì cố nhiên phải chuẩn bị thực đơn tương xứng, tuy nhiên vẫn có thức ăn thanh đạm riêng dành cho Tổng Thống được mang thêm ra.

Trang phục
Quần áo của Tổng Thống do tiệm may Chya đường Lê Thánh Tôn phụ trách và cung cấp, hàng ngày Ông Ẩn lo quần áo. Không có khách thì mặc khăn đống áo dài. Nếu có khách thì Ông Ẩn nhắc và chuẩn bị cho Tổng Thống.

Công việc
Mỗi sáng Tổng Thống nghe Sĩ quan Tùy viên trình đọc thời khóa biểu trong ngày, Bác sĩ Bùi Kiến Tín thăm hỏi tình trạng sức khỏe của Tổng Thống. Công việc thì do Ông Võ Văn Hải hay Ông Trần Sử trình, hay nếu quan trọng hơn thì chính Ông Phó Đổng lý Đoàn Thêm hay Ông Đổng lý Quách Tòng Đức, hay đích thân các Ông Bộ trưởng trình bầy. Tình hình Quân sự trong đêm là phần của Tham Mưu Biệt bộ.

Vi hành
Tổng Thống thường hay ra lệnh đột ngột đi thăm dân cho biết sự tình, đến các chợ, chùa, nhà thờ xóm đạo để tự tìm hiểu tình hình. Có những chuyến thăm Đô Thành mà không có Đô Trưởng tháp tùng. Một lần năm 1962 sau cuộc bầu cử tổng thống lần thứ hai Tổng Thống thức dậy lúc 5 giờ sáng, gọi Anh Lê Châu Lộc và tỏ ý muốn đến thăm Chùa Ấn Quang để cám ơn quí vị trụ trì đã tham dự cuộc bầu cử vừa qua. Tổng Thống muốn cuộc đi thăm này “không chính thức, tự nhiên, đơn giản, và thân mật”. Tổng Thống muốn đi sớm để tránh nạn kẹt xe cho Đô Thành. Tổng Thống chỉ thị cho Lộc “Anh lái xe, một xe theo sau là đủ rồi”. Cố nhiên vì an ninh cho Tổng Thống, Đại úy Lộc phải chuẩn bị đầy đủ để bảo đảm an toàn cho Tổng Thống. Đoàn xe đến chùa có xe Cảnh sát Đô Thành đi đầu không đèn chớp, không còi hụ, tiếp theo là xe Tổng Thống, có Tham Mưu Biệt Bộ và Sĩ quan Tùy viên Lê Châu Lộc, sau cùng là xe hộ tống. Đến Chùa thì thấy các thầy đã xếp hàng nghênh đón hai bên từ cổng vào. Tổng Thống ngạc nhiên về sự tiếp đón này và vào trước cửa thiền viện ngỏ lời cám ơn, thăm hỏi các tăng ni hiện diện. Tổng Thống quan tâm đến việc đào tạo các cán bộ của đạo, muốn hệ thống hóa thành một tổ chức qui củ, phát triển hữu hiệu. Nhân dịp, hòa thượng Thích Quảng Liên đến chào Tổng Thống và cám ơn vì đã được Tổng Thống đặc biệt gửi đi học Tiến Sĩ Giáo dục tại Michigan State University. Thượng tọa sau này làm Hiệu Trưởng Trường Trung Học Bồ Đề tại Cầu Ông Lãnh Sài Gòn. Một hòa thượng khác nói với Tổng Thống: ”Chúng tôi buồn Tổng Thống!. Tổng Thống quay lại hỏi :”Chuyện chi mà buồn”. Hòa thượng nói :Tổng Thống có tin vui mà không chia sẻ cho mọi người, chúng tôi còn biết năm 1959 Tổng Thống đã dành tiền thưởng 10.000.00 của Tổng Thống khi đoạt giải Massasay làm qùa tặng cho Đức Đạt Lai Lạt Ma. Tổng Thống chậm rãi giải thích :”Ừ, tôi đâu có dùng tiền nên biếu Đức Đạt Lai Lạt Ma xử dụng vào việc cần”. Có những việc Tổng Thống đã làm trong kín nhiệm, chính Tổng Thống muốn như vậy.

Thế có bao giờ Tổng Thống tỏ ra không bằng lòng không?.
Có chứ giận dữ là đàng khác. Hôm đó Tổng Thống đi kinh lý tỉnh Kiến Tường. Khi đáp xuống phi trường thì đã có dân chúng đứng chờ đón Tổng Thống, nhưng vì thấy chung quanh toàn lá cờ Công Giáo La Mả, Tổng Thống lệnh không xuống quay trở về Sài Gòn. Tổng thống giận cầm cây cane dộng xuống sàn máy bay rầm rầm và nói: ”Đây đâu có phải Vatican?”. Tuy nhiên chỉ ít phút sau, Ông Tỉnh Trưởng nhận lỗi vì không kiểm sóat nên sự việc đã xẩy ra, 15 phút sau các lá cờ Công giáo La Mã được thay thế bằng lá cờ quốc gia, cũng như biết dân chúng đã đứng chờ đón Tổng Thống từ sáng sớm nên Tổng Thống đã hết giận và xuống máy bay. Lần thứ hai cũng lá cờ, Tổng Thống đi qua đường Võ Tánh Phú Nhuận, có một cơ sở treo một lá cờ quốc gia quá cũ và rách, Tổng Thống lệnh mời Thiếu tá Xích Tỉnh trưởng Gia Định gập Tổng Thống. Khi trình diện Tổng Thống chỉ thị phải huấn luyện để người dân biết tôn trọng lá quôc kỳ, không thể treo quốc kỳ cũ và rách. Lần thứ ba Tổng Thống nhìn thấy một bức hình chụp ngoài Vũng Tầu bức hình tượng Phật ngồi rất đẹp mắt trong một tờ báo ngoại quốc, chung quanh toàn là cờ Phật giáo, không có một lá cờ quốc gia nào. Tổng Thống biên một cái note cho Ông Quách Tòng Đức nói đại ý, trong bất cứ chổ nào đều phải có cờ quốc gia kể cả Chùa, Nhà thờ tôn giáo, nhưng không chưng cờ tôn giáo ngoài khu vực chùa chiền, nhà thờ. Việc treo cờ phải theo qui luật quốc gia. Việc này Ông Quách Tòng Đức chưa chỉ thị thi hành thì biến cố Miện Trung bùng nổ.

Thế còn sở thích?
Tổng Thống thích đọc sách. Ngày nào Tổng Thống cũng đọc sách báo trước bữa ăn sáng, nhất là các sách photography và Reader’s digest.

Tổng Thống thích chụp hình. Tổng Thống có một bộ collection máy chụp hình. Sau này Tổng Thống thích xử dụng máy chụp hình Polaroid, có thể lấy hình sau mấy phút. Mỗi khi đi kinh lý, Tổng Thống đều dặn nhớ mang theo máy chụp hình. Có những lần chính Tổng Thống đã chụp hình cho các quân nhân, và cho họ những tấm hình đó để làm kỷ niệm. Tổng Thống nhìn anh em quân nhân vui thì Tổng Thống thích lắm.

Tổng Thống củng mê kiến trúc, Tổng Thống hay đàm đạo với Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ nhất là thời gian sửa dinh Độc Lập. Có khi nói chuyện qua đêm về kiến trúc. Tổng Thống thích đi thăm mấy con ngựa. Thỉnh thoảng sau bữa cơm tối, Tổng Thống đi ủng rồi rủ sĩ quan tùy viên đi thăm mấy con ngựa ở phía sau dinh độc lập. Tổng thống vuốt ve mấy con thú vật, đưa tay về phía sau, sĩ quan tùy viện biết là Tổng Thống đang cần đồ ăn cho ngưa, sĩ quan tùy viên bỏ vào tay Tổng Thống vài cục đường, xong Tổng thổng cho ngựa ăn, những lúc như vậy thấy vẻ mặt vui hiện rõ.

-Đừng nghĩ rằng Tổng Thống không biết sự thật, thường bị các nhân viên chung quan lường gạt để thủ lợi. Tổng thống đã dùng những chuyến đi thị sát để tìm hiểu sự tình, thăm dò tin tức giá cả qua bà bếp, nhân viên của nhà may Chya v.v. Có một lần đi thăm Ấp chiến lược miền Tây, Tổng thống đã đổi lộ trình và đến thăm một nơi công tác đang còn dang dở. Tổng Thống nhìn thấy nỗi lo âu của Anh Quân trưởng, đã an ủi rằng ”chưa xong hả, cần thêm thời giờ ?. Trình cho Ông Tỉnh Trưởng hỉ”. Lần nữa chính Tổng Thống đã chữa lại cho đúng lời Ông Đô trưởng định giá vật dụng 4 đồng trong khi người bán hàng nói với Tổng Thống 8 đồng.

Về chủ quyền quốc gia.
Chủ quyền quốc gia là điều Tổng Thống tuyệt đối tôn trọng và bảo vệ. Chính Tổng Thống đã biểu lộ ý chí đó bằng lời nói với Ông Đại Sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge khi Ông Lodge ngỏ ý đề nghị Tổng Thống thay đổi nhân sự trong guống máy của chính quyền: “Xin Ông Đại sứ biết rằng Ông Đại sứ đang đứng trước mặt Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa”. Tổng Thống cũng biết nếu cần nhờ vả và làm theo lời của Ông Đại sứ thì chắc chắn Tổng Thống đã có được sự đảm bảo an ninh cho Tổng Thống và người thân. Nhưng Tổng Thống đã dứt khoát từ chối xử dụng lối giải quyết như vậy. Tổng Thống không sợ.

Tổng Thống Diệm không muốn quân đội nước ngoài hoạt động trong lãnh thổ của mình. Chấp nhận như vậy thì chúng ta đâu còn chính nghĩa, làm sao đối đầu được với đối phương đã luôn tìm cách nói xấu mà lại thêm gian manh, nên Việt Nam đã có cuộc đảo chính và lật đổ Tổng Thống Diệm. Tổng thống đã cảm thấy trước ý đồ của chính phủ Hoa Kỳ ngay lúc Hoa Kỳ bằng lòng trung lập vùng Đông Nam Á theo đòi hỏi của Trung Cộng, nên nhất quyết không ủng hộ thể chế trung lập tại Lào, điều này đã làm xáo trộn chương trình và kế hoạch của Chính phủ Hoa kỳ tại Đông Nam Á. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ mất mặt và người trách nhiệm cố tình trả thù Tổng Thống Diệm bằng cách gởi về Hoa Thịnh Đốn những tờ trình ngụy tạo tình hình Việt Nam đặt chính phủ Hoa Kỳ vào cái thế phải quyết định thay thế Tổng Thống Diệm. Vụ đảo chính tháng 11- 1963 được Mỹ bật đèn xanh. Và những kẻ nhận tiền làm đảo chánh đã giết hai Ông Diệm, Nhu vì sợ hậu họa.

Về Quân Đội
Với Quân đội, Tổng Thống Diệm đã hết lòng lo lắng. Việc gửi Trung tá Nguyễn Văn Thiệu đi tham quan các trường Võ Bị Westpoint của Hoa Kỳ, Saint Cyr của Pháp và Trường Võ Bị của Anh quốc, là bước đầu trong ý định của Tổng Thống muốn xây dựng một Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (tại Dalat) mà khi tốt nghiệp, các tân Sĩ quan có trình độ và bằng cấp tương đương 4 năm đại học với kiến thức quân sự hiện đại, vững vàng. Tổng Thổng đã từng vào trường Võ Bị Quốc Gia ăn sáng với các Sinh Viên Sĩ quan khi có dịp ghé qua Đà Lạt. Tổng Thống cũng làm những cải tổ như vậy cho các trường Quốc Gia Hành Chánh và Học Viện Cảnh Sát.

Tổng Thống không chấp nhận việc Quân đội đánh lộn nhau như trong biến cố 1960 hay cuộc đảo chính 1963. Tổng Thống đã bị thảm sát trên đường tới Bộ Tổng Tham Mưu với ý định trao quyền hành cho Quân Đội, sau khi từ chối đi lên Cao nguyên lánh nạn đế phục hồi quyền lực dẹp đảo chính, và từ chối đề nghị xử dụng Lữ Đoàn Phòng Vệ phản công bắt các Sĩ quan trong lực lượng đảo chánh tại Bộ Tổng Tham Mưu gần Tân Sơn Nhất.

Tổng Thống Diệm không chủ trương thăng cấp bừa bãi. Ông muốn duy trì một Quân Đội có khả năng, thực lực, đáng tự hào. Quân nhân phải có trình độ tri thức, kinh nghiệm chỉ huy, tham mưu và chiến công trận mạc xứng đáng với cấp bậc mình nhận lãnh. Điều này đã làm cho một số sĩ quan bất mãn manh tâm tạo phản. Với Tổng Thống Diệm không có việc “ở lâu thành lão làng”. Sĩ quan chỉ có trình độ tiểu học mà đeo sao làm tướng chắc chắn làm giảm uy tín và năng lực của Quân Đội.

Nói thế có nghĩa là Tổng Thống Diệm không sai sót, lỗi lầm gì sao ?
Là người ai chẳng có lỗi lầm, sai sót. Tôi nghĩ rằng Tổng Thống Diệm quá hiền từ, nên đã có những người lợi dụng điều đó để mưu tư lợi. Nếu có trách thì trách những “nịnh thần” lợi dụng vị thế một thời được Tổng Thống tin cẩn, đã bày đặt ra chung quanh Tổng Thống những hình thức tiếp xúc phong kiến lỗi thời, ví dụ vào gặp Tổng Thống phải xưng hô Cụ - con, khi cáo từ phải đi dật lùi ra cửa. Cũng có người đã trông thấy có kẻ qùy, lạy Tổng Thống trong dịp lễ, Tết trong khi Tổng Thống thẹn đỏ mặt, ngượng nghịu, lúng túng nói không ra lời.

Trên đây là những mẩu truyện thật về Tổng Thống Ngô Đình Diệm do Pháo thủ Lê Châu Lộc, Sĩ Quan Tùy Viên của Tổng Thống kể theo những gì mắt thấy, tai nghe. Người viết ghi lại để những ai quan tâm tìm hiểu về Tổng Thống Diệm có tài liệu đọc thêm hoặc tùy nghi xử dụng.

Anh Lộc
Cám ơn Anh đã chia sẻ những điều mắt thấy tai nghe lúc Anh là Sĩ quan Tùy viên của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Đọc những trang giấy này cũng đã giúp chúng tôi xét lại nhiều vấn đề. Lúc nào Anh cũng giữ đúng tư cách của người Pháo Thủ đại diện cho binh chủng có gần một trăm ngàn người phục vụ dưới cờ: binh chủng Pháo Binh.
Chúng tôi hãnh diện vì Anh.


Cựu hoàng Bảo Đại: “Con rồng” trên chiếu bạc
Có lần, chỉ sau một đêm, cựu hoàng Bảo Đại đã bị ông trùm Hollywood Jack Warner "lột" mất 350 triệu Franc khiến sáng hôm sau, hàng loạt tờ báo quanh vùng Cannes đã phải đưa tin tít đậm.

Với kỳ vọng xứ An Nam thuộc địa xa xôi sẽ có một ông vua được giáo dục đầy đủ và trở nên hoàn hảo nhưng dễ bảo, năm 1922, chính quyền bảo hộ Pháp đã đưa hoàng tử Vĩnh Thụy mới 9 tuổi sang Paris nuôi dạy. Bốn năm sau, ngày 8/1/1926, sau khi vua Khải Định băng hà, hoàng tử Vĩnh Thụy đã được đặt lên ngôi, trở thành hoàng đế Bảo Đại.
Những nỗ lực của cả "nước mẹ đại Pháp" lẫn triều đình An Nam trong suốt 10 năm đã không thành công lắm trong việc tạo nên một ông vua có học vấn uyên thâm, đức cao vọng trọng.

Những bộ sưu tập:
Thuở nhỏ ông say mê sưu tập tem. Có lần, vì quá đam mê, ông hoàng vừa đăng quang nhưng chưa chấp chính đã đề đạt nguyện vọng với ông Charles, yêu cầu chính phủ Bảo hộ cấp cho ông một món tiền ngoài kế hoạch để mua một bộ sưu tập tem đắt tiền. Thay vì gửi tiền, nhà nước Bảo hộ đã hào phóng gửi cho ông hoàng trẻ con hẳn... một bộ tem!

Lớn lên, hầu như chẳng có môn thể thao quý tộc nào mà hoàng đế Bảo Đại không từng là tay chơi có hạng. Ông cưỡi ngựa điêu luyện như một kỵ sĩ Trung cổ, chơi golf, tennis giỏi như một quán quân hàng tỉnh, bơi thuyền các loại như một vận động viên Olympic...

Kể từ khi Bảo Đại đủ 16 tuổi trở về sau, ông Charles thường xuyên bị cảnh sát địa phương nhắc nhở bởi ông hoàng được ông giám hộ liên tục suýt gây tai nạn, do lầm tưởng những ngả đường trong hạt là đường đua xe hơi. Lớn hơn chút nữa, Bảo Đại lại tỏ ra là một tay có năng khiếu, có thể trở thành một phi công lái máy bay nhào lộn cừ khôi.

Nhưng ông không có nhiều thời gian để hưởng thụ, thi đấu và giật giải trong những môn thể thao cảm giác mạnh, bởi ông còn bận về nước làm vua, bằng lòng giết thời gian trong trò tiêu khiển săn bắn mà ông được xem như một tay thiện xạ.

Ngồi trên ngai rồng ở cố quốc, rồi trở thành Quốc trưởng sau khi Pháp xâm lược Việt Nam lần thứ 2, Bảo Đại không còn phải ngửa tay xin tiền nữa. Ông có nhiều cách khác, nhiều cơ hội khác để những bộ sưu tập vương giả đắt tiền ngày càng phong phú thêm.

Đầy hứng thú với những chi tiết cơ khí và những tiếng gầm rú của động cơ, tháng 7/1950, ông đặt mua một chiếc Mercedes to đùng, nặng 4 tấn, lắp kính dày 3cm, vỏ thép chống được đạn súng trường và súng máy 8 ly.

Thân hình khá to lớn, lực lưỡng so với những thần dân Việt Nam mà ông đang cai trị, Bảo Đại cũng đặc biệt say mê với những gì đồ sộ, hoặc kềnh càng quá khổ. Trong bộ sưu tập xe hơi của ông có tới 4 chiếc Limousine của Mỹ, gầm rú trên những con đường nông thôn Việt Nam mù bụi như những con quái vật.

Năm 1951, ông lại đặt mua thêm một chiếc Jaguar Mark II to vật vã, phía trước mũi xe có gắn một con báo Nam Mỹ bằng đồng. Đây là chiếc "con báo” duy nhất có mặt tại Việt Nam trong cùng thời điểm. Bảo Đại mua nó vì thích, sau đó dự định sẽ để dành làm quà sinh nhật cho hoàng tử Bảo Long.

Nhưng nổi hứng lên, ông đã đem tặng nó cho viên tướng lục lâm Lê Văn Viễn, như quà mừng vì tay này đã thâu tóm được sòng bạc Đại Thế Giới ở Chợ Lớn, hàng tháng đem lại cho Bảo Đại một số tiền cống nộp kếch xù.

Những chiếc xe kềnh càng thường được ông dùng đến khi đi săn hoặc đi xa. Còn bình thường loanh quanh trong thành phố Huế, hay Đà Lạt, ông thích lướt trên một chiếc Citroen dẫn động bánh trước, trông nhẹ nhàng và hợp cảnh hơn nhiều. Chiếc xe này ông không mua mà có được nhờ đánh bạc ở Biarrit vào năm 1939.

Ngoài ra, tại những lâu đài, khu nghỉ mát ở Pháp, ông còn có thêm nhiều chiếc Ferrari, Bently, Alfa Romeo kiểu thể thao đắt tiền khác. Nhiều chiếc trong số đó, ông chỉ sử dụng đúng một lần. Thế nhưng, ông lại thích ngắm vuốt chúng mỗi ngày hoặc kỳ cụi tháo ra lắp vào những chi tiết máy nhiều lần, dù tất cả những chiếc xe này đều mới toanh chẳng cần gì đến tay nghề chăm sóc của ông hoàng!

Niềm đam mê xe có lẽ là thứ duy nhất mà Bảo Đại truyền được trọn vẹn sang con trai. Sang Pháp năm 1949, hoàng tử Bảo Long cũng nhất quyết đòi sắm cho được một loạt xe hơi đắt tiền, gồm Roll royce, Fiat mui trần, Alfa Romeo và Siatia.
Khi Bảo Đại tặng con trai một chiếc Jaguar VII, Bảo Long đã lập tức đòi phải đổi ngay sang chiếc khác. Vẫn cùng một nhãn hiệu, song phải là kiểu thể thao seri XK 120, loại đầu tiên đạt vận tốc 120 miles/h (khoảng hơn 200km/h).

Với chiếc xe này, trong hai năm, từ 1949-1951, ông hoàng trẻ đã noi gương phụ hoàng gây ra 12 vụ tai nạn. Không lần nào cảnh sát kịp tóm anh ta tại hiện trường vì đơn giản là xe cảnh sát đuổi theo... không kịp!

Một đam mê đắt tiền khác của Bảo Đại là những chiếc du thuyền sang trọng. Khi còn đang học ở Paris, Hoàng đế An Nam đã là thành viên danh dự của Câu lạc bộ Du thuyền Yacht có động cơ. Nắm được sở thích này, tháng 6/1949, Thủ tướng Pháp Queuille đã quyết định tặng Quốc trưởng Việt Nam một chiếc Yacht hiệu Jajusy có tải trọng 50 ton (1 ton = 2,83 m3).

Một tùy viên Hải quân của Pháp tại Anh quốc được giao nhiệm vụ đặt mua chiếc du thuyền đặc biệt này để nước Pháp làm quà biếu. Cái giá 100 triệu Franc đã khiến tờ Le Soire (Buổi chiều) và người dân đóng thuế Pháp kêu ầm lên, phản đối sự hoang phí của chính phủ.

Nhưng chính phủ có cách nhìn khác. Để có được một "giải pháp Bảo Đại" cho nền chính trị đang sa lầy ở Đông Dương thì 100 triệu Franc không hề là cái giá quá đắt. Quả thật, chiếc thuyền buồm đã khiến Bảo Đại mê tít thò lò. Vì vậy, ngay sau đó, ông đã yêu cầu gửi ngay bảng giá và mẫu mã để đặt thêm... hai chiếc.

Ở cả Việt Nam lẫn trên đất Pháp, Quốc trưởng Bảo Đại đã có sẵn không ít những lâu đài, biệt điện bên cạnh những bờ biển đẹp. Đối với ông, không có du thuyền thì có... biển làm gì? Và yêu cầu mà ông gửi nhà sản xuất cũng khá đơn giản, đó là du thuyền đóng cho ông thì phải... cực sang, có thế thôi.

Một khoản tiền cực lớn cũng được Bảo Đại ném đi không thương tiếc để sở hữu cả một bộ sưu tập máy bay. Là Hoàng đế, rồi sau đó là Quốc trưởng của một đất nước nghèo nàn nên Bảo Đại không có chuyên cơ. Nói chính xác hơn thì chiếc máy bay nào của ông cũng là một chuyên cơ.

Ông có cả thảy 4 chiếc DC-3, một chiếc B.24, một chiếc B.29, một chiếc Libérator. Các máy bay này đều được thiết kế một cabin riêng làm phòng ngủ và một phòng ăn rộng đủ để chiêu đãi cùng lúc cả đoàn tùy tùng 15 người. Bình nhiên liệu được thiết kế đủ để bay liên tục một lèo 6.000km. Ngoài ra, để thỏa mãn niềm đam mê thể thao, cựu hoàng còn tậu thêm một chiếc thủy phi cơ hiệu Sealand, một chiếc Sea Oters, một máy bay nhào lộn Tiger Moth.

Áp phe kiểu vua:
Cần biết rằng, từ sau năm 1945, ông hoàng đã thoái vị sớm rất nghèo. Những ngày đảm nhiệm vai trò Cố vấn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Trùng Khánh và trốn sang Hồng Kông (tháng 4/1946), ông phải vay tiền của một thương nhân người Hoa tên là Wong Fu, sau khi lên làm Quốc trưởng năm 1949 mới trả. Tiếp đó, người tình Lý Lệ Hà phải rút hết khoản tiền tiết kiệm của cả một thời xuân sắc làm kỹ nữ để nuôi ông. Vậy thì sau đó, ông lấy tiền đâu ra?

Câu trả lời, theo Daniel Grandéclement, tác giả cuốn "Bảo Đại - ông vua cuối cùng của các triều đại phong kiến Việt Nam", là những cú áp phe thời chiến.

Tỷ giá hối đoái chính thức vào thời đó là 1 đồng Đông Dương ăn 8 đồng Franc Pháp. Để khuyến khích đầu tư làm ăn tại xứ thuộc địa đang trong tình trạng chiến tranh, chính phủ Pháp cho phép một đồng bạc đầu tư tại Đông Dương được thu đổi ăn 17 đồng Franc tại Paris. Tất nhiên, mỗi nhà kinh doanh chỉ được đổi theo tỷ lệ này trong một hạn ngạch nhất định. Nhưng là Quốc trưởng, Bảo Đại chẳng việc gì phải khai báo để xin hạn ngạch.

Từ trong nước, Thủ hiến Phan Văn Giáo rồi sau đó là tỷ phú người Hoa Lý Long Thân đã chuyển tiền Đông Dương sang cho Bảo Đại, được Quốc trưởng thanh toán bằng đô la Hồng Kông với tỷ lệ 1/8. Sau đó, ông đem những đồng bạc ấy đến Paris và đổi thành tiền Franc, theo tỷ lệ ưu đãi 1/17 và lại chuyển chúng về Sài Gòn.

Riêng phần của Phan Văn Giáo, ngài thủ hiến xuất thân là dược sĩ không chuyển tiền mà mua hàng chục hòm thuốc tây mang về tuồn ra chợ đen, thu lãi thêm một lần nữa.
Số thuốc tây này được vận chuyển bởi tàu của Hải quân thuộc quân đội quốc gia Bảo Đại nên tránh được sự khám xét của cơ quan đoan thuế. Về cảng Sài Gòn, chúng được xe cứu thương chở thẳng về nhà của chị gái bà hoàng hậu Nam Phương.

Mọi việc tiếp theo, Quốc trưởng không cần quan tâm, chỉ việc đợi các cận thần "cống nạp" lợi tức. Một điều khá lý thú là nhiều khi, số thuốc tây này được bán ra chiến khu cho... Việt Minh, lực lượng chính trị đối lập với phe quốc gia mà Bảo Đại đứng đầu.

Dĩ nhiên là nhà chức trách Pháp biết rõ những vụ buôn tiền này nhưng không thể ngăn chặn, đúng hơn là cố tình không ngăn chặn. Một lần, tại phi trường Tân Sơn Nhất, mật thám đã khám thấy trong vali của con gái Cao ủy Pháp Bollaert một khoản 600 ngàn Đông Dương.

Tuy nhiên, khi biết đó là tiền của ngài Chánh mật thám gửi chi trả cho phí lưu trú của Bảo Đại tại Hồng Kông thì mật thám tại sân bay đã buộc phải cho qua. Chỉ riêng vali tiền này, sau khi quay vòng cũng đã đem lại cho Bảo Đại số tiền lãi gần 5 triệu tiền đồng Franc Pháp!

Trong bộ hồ sơ về tỷ phú người Hoa Lý Long Thân xếp dày từ sàn lên đến nóc nhà, do cảnh sát Việt Nam Cộng hòa lập, hiện đang được lưu trữ tại Cục Lưu trữ ở Việt Nam, chúng tôi đã tìm thấy nhiều chi tiết thú vị việc tay tư sản mại bản này tiếp cận và lợi dụng cựu hoàng Bảo Đại để trục lợi.

Ly khai kháng chiến về đầu Tây, thủ lĩnh Bình Xuyên Lê Văn Viễn được gắn lon đại tá. Để cầu thân, Lý Long Thân đã bỏ một lúc 4 triệu Franc tổ chức một buổi "nhất dạ đế vương” tại hý trường Đại Thế Giới để chiêu đãi Bảy Viễn và đám tay chân tâm phúc.
Trong buổi tiệc, Lý đã khéo léo thu xếp để đặt vào vòng tay Bảy Viễn một vưu vật: cô ca sĩ kiêm Hoa hậu người Hoa Chợ Lớn Lý Bing Bing. Cả phần hồn lẫn phần xác của tay anh chị Bảy Viễn, sau buổi tiệc đã bị Lý Long Thân chinh phục hoàn toàn.

Đến đó, Lý đã đề nghị Bảy Viễn: đứng ra thầu lại sòng bạc Đại Thế Giới. Ban đầu, Bảy Viễn chối phắt. Đại Thế Giới đang thuộc quyền quản lý của Lâm Giống, một ông trùm cờ bạc Ma Cao. Mỗi ngày, sòng bạc phải chi ra 400 ngàn đồng Đông Dương để nộp cho chính phủ Nam Kỳ, chưa kể phải thêm khoảng 500 ngàn đồng nữa để mua sự an toàn của các thế lực ngoài sổ sách.

Lâm Giống được hậu thuẫn tài chính bởi cả một tập đoàn tư bản người Hoa, còn Bảy Viễn trơ trọi một mình, lại không thạo kinh doanh, lấy đâu ra số tiền lớn như vậy để lo lót hàng ngày, làm sao thắng được đấu thầu. Lý Long Thân trấn an: tiền, Lý sẽ lo, mỗi ngày Lý sẽ đóng cho chính phủ 500 ngàn đồng, cao hơn Lâm Giống 20%. Còn thế lực, sao không nhờ... Quốc trưởng?

Nhìn thấy trước những quyền lợi đầy hứa hẹn, Bảo Đại đã đích thân viết thư can thiệp với chính phủ Nam kỳ. Quả nhiên, tiền không mạnh bằng, lại chết khiếp uy thế của 3.000 tay súng dưới tay viên đại tá lục lâm, tài khóa 1950, Lâm Giống đành rút lui, nhường quyền khai thác Đại Thế Giới cho liên minh tiền - súng của Lý Long Thân - Lê Văn Viễn.

Ơn mưa móc của Quốc trưởng cựu hoàng được Lý Long Thân - Lê Văn Viễn bồi đáp bằng khoản tiền 240.000 đồng Đông Dương (bằng 24 triệu quan Pháp theo tỷ giá năm 1950) mỗi tháng!

Phấn khích vì quyền lợi, Bảo Đại đã can thiệp Bộ Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp phong hàm thiếu tướng cho Bảy Viễn, bất kể trong lý lịch tư pháp của gã vẫn còn nợ 8 năm tù khổ sai Côn Đảo chưa trả.

Chính tay Bảo Đại gắn lon tướng cho Bảy Viễn trước sự chứng kiến của đông đảo những nhân vật tai to mặt lớn cả Pháp lẫn Việt. Không những thế, Bảo Đại còn nhận Bảy Viễn làm em nuôi và từ Pháp ký sắc lệnh gửi về Việt Nam giao chức Giám đốc Cảnh sát quốc gia cho Lại Văn Sang, đàn em thân tín của Bảy Viễn!

Để nắm đường dây buôn tiền, Lý Long Thân đã dùng cả tiền lẫn vị thế của mình trong quyền lực bang hội người Hoa Chợ Lớn để đưa một thủ hạ khôn ngoan là Trang Trinh Nghi, tức Trang Tôn vào chức Hoa vụ kinh lý, kiêm mại bản (Compadore) phụ trách việc chuyển tiền của người Hoa ở Sài Gòn, Chợ Lớn về Trung Hoa Đại Lục và Hồng Kông.
Với vai trò này, Trang Trinh Nghi có đủ vị thế hợp pháp để thu gom và chuyển tiền mặt số lượng lớn, mục đích là chuyển sang Hồng Kông cho Bảo Đại đổi để ăn chênh lệch tỷ giá.

Thế đã mạnh, Lý Long Thân lại giới thiệu Mathew Fanchini, chủ nhân khách sạn Continental nổi tiếng nhất Sài Gòn với Bảo Đại và Bảy Viễn. Xuất thân là một tên vô lại người đảo Corse, Pháp, Mathew Fanchini trốn xuống tàu thủy làm bồi bàn và mò sang Việt Nam vào đầu thập niên 1920.

Có một điều kỳ cục, người dân thuộc địa đúng là cực kỳ nhẹ dạ. Bất kể gã Tây vô danh tiểu tốt nào mò sang Đông Dương cũng có thể được xem như một ông lớn, chỉ vì họ da trắng, mắt xanh, mũi lõ! Fanchini được một Đốc phủ sứ miền Tây gả con gái cho và được hưởng thừa kế hàng ngàn mẫu ruộng, khi cô vợ bỗng lăn ra chết chỉ dăm năm sau ngày cưới.

Bán hết điền sản, gã tậu khách sạn nổi tiếng Continental ở Trung tâm Sài Gòn, vừa kinh doanh, vừa làm ông trùm của những tên mafia đảo Corse và thành phố cảng Marseille tại Đông Dương.

Đầu năm 1951, tình báo Pháp lập nên một đội quân bí mật có danh xưng "Lực lượng biệt kích không vận hỗn hợp", viết tắt là GCMA trực thuộc Bộ Chỉ huy SDCDE (Cơ quan tình báo đối ngoại và Phản gián).

Nhiệm vụ của nó là tiếp cận và huấn luyện cho những đơn vị biệt kích tại các khu tự trị Thái, Mèo, Mông ở Tây Bắc Việt Nam và Đông Bắc Lào để thọc sườn, quấy rối khu giải phóng Việt Bắc và căn cứ kháng chiến của Lào ở Sầm Nưa. Khi trở về, các chuyến bay tiếp tế đều chở theo thuốc phiện.

Đến phi trường Tân Sơn Nhất, thuốc phiện được cảnh sát vũ trang hộ tống về thẳng kho của Bảy Viễn ở số 43 đường Lacaze (nay là đường Nguyễn Biểu, quận 5), cạnh cầu chữ Y. Từ đó, Lý Long Thân sẽ tiêu thụ một phần để cung cấp cho gần 2.500 tiệm hút do các băng đảng người Hoa kiểm soát ở Sài Gòn - Chợ Lớn và các vùng phụ cận.
Phần còn lại, lớn hơn nhiều được Bảy Viễn bán cho Mathew Fanchini để tay này chuyển về Marseille cho tập đoàn mafia của anh em Antoin Gurini, làm nguyên liệu điều chế heroin cung cấp cho thị trường châu Âu và nước Mỹ.

Những thương vụ mua bán này được thực hiên nhờ trung gian là thiếu tá phòng nhì Antonio Savani, một con cáo già của tình báo Pháp. Đưa được Bảy Viễn từ bỏ hàng ngũ Việt Minh kháng chiến về với quân đội Quốc gia của Bảo Đại chính là chiến công lớn nhất trong đời tình báo của tên này.

Tất cả công cuộc kinh doanh này, Bảo Đại đều biết rất rõ. Với quyền lực một Quốc trưởng, ông không hẳn đã tán thành, song cũng không ngăn cản, trừng trị hay chấm dứt những hành vi phạm pháp của Lý Long Thân, Bảy Viễn và Fanchini. Đổi lại, mọi yêu cầu của ông đều được tập đoàn tội phạm này đáp ứng ngay không chút mặc cả.

Có lần, nổi hứng lên, Bảo Đại không chịu nhận tiền Đông Dương mà đòi Bảy Viễn phải lo đủ nửa triệu đô la trong vòng 72 giờ. Không có sẵn đô la, Lý Long Thân và Bảy Viễn phải xua tay chân đi lùng vét mua với giá cao khiến Sài Gòn hết nhẵn tiền Mỹ!

Canh bạc đế vương:
Cuối tháng 10/1955, Ngô Đình Diệm tổ chức trưng cầu dân ý truất phế Bảo Đại. Tất cả tài sản của cựu hoàng đều bị tịch thu. Dù sao đó cũng chẳng phải là điều quá bi đát, bởi từ gần một thập niên trước, cựu hoàng chủ yếu sống và đầu tư tiền bạc tích lũy được ở nước ngoài.

Những biệt thự, nhà nghỉ trong nước, từ lâu ông không ghé đến, chắc cũng đã đổ nát, chẳng còn mấy giá trị so với khối bất động sản mà ông đầu tư ở Pháp và nhiều quốc gia khác. Đã từ lâu, đại bản doanh của ông đóng ở Côte d"Azur chứ không đóng ở Huế, Sài Gòn hay Đà Lạt.

Mất ngôi Quốc trưởng bởi một cựu thượng thư đại thần cũng không hề khiến ông bận tâm. Trong nhiều năm, ông chỉ mê mải với những canh bạc khét tiếng trong những casino hào nhoáng ở Cannes, ở Paris hay Monaco. Ngoài thời gian ở những sòng bạc này, ông đi đâu?

Ông bận đến với những sòng bạc khác ở Vitell, Evian, Nice hoặc đảo Corse. Nơi gần, ông tự lái chiếc Limousine tìm đến. Nơi xa, ông đến bằng chiếc máy bay riêng Libérator, có hoàng thân Vĩnh Cẩn tháp tùng.

Bạn bài bạc của ông cũng toàn những bậc đế vương, thường trực có Quốc vương Ai Cập Farouk, Hoàng đế Iran Hailé Sélassie, Quốc vương Anbanie Zogu, Quốc vương Arab Saudi Faycal, hoàng thân nước Ý Umberto... Thỉnh thoảng, đội quân này được bổ sung thêm một vai ông hoàng không ngai khác của những lĩnh vực kinh tế như dầu hỏa, thép hay điện ảnh.

Tất cả đều xúm xít bên những bàn đánh bạc to khổng lồ và đặt những cửa bạc khổng lồ. Dường như làm vua trong thời đại dân chủ cũng phiêu lưu, mạo hiểm không kém gì đánh bạc nên các bậc đế vương đều đặc biệt say mê trò đen đỏ.

Cựu hoàng Bảo Đại chỉ khác những ông đã bị phế truất hoặc sắp sửa bị phế truất khác ở một điểm nhỏ: ông hầu như không uống rượu, chỉ uống nước trà. Nếu phải so sánh thêm nữa thì Bảo Đại hầu như đánh chỉ toàn thua.

Cho dù đất nước Việt Nam xa xôi được biết đến như một xứ sở nghèo nàn thì cựu hoàng của xứ sở này vẫn khiến những con bạc đế vương phải ngả mũ vì "dám" chơi những trận bạc cực lớn. Có lần, chỉ sau một đêm, cựu hoàng Bảo Đại đã bị ông trùm Hollywood Jack Warner "lột" mất 350 triệu Franc khiến sáng hôm sau, hàng loạt tờ báo quanh vùng Cannes đã phải đưa tin tít đậm.

Thắng hay thua, Bảo Đại vẫn tỏ ra điềm tĩnh. Ông thường dành cho đội ngũ hồ lỳ, phục vụ bar và những cô vũ nữ xinh đẹp những khoản tiền "boa" rất sộp, đủ để nhiều năm sau họ vẫn nhớ và vẫn uống mừng sức khỏe của ông.

Nửa đầu thập niên 1950, tài chính rót vào túi ông như thác nhưng chảy ra còn mạnh hơn, Đến nửa cuối thập niên này, tiền vào không còn nhưng tốc độ chảy ra thì vẫn không đổi. Một phần khổng lồ khác bị ông ném, tứ tán vào những cuộc tình đủ kiểu - phải hàng kho sách mới ghi hết.

Chẳng bao lâu, ông khánh kiệt. Từ thập niên 1960, lâu đài, máy bay, xe hơi của ông lần lượt bốc hơi. Những cuộc tranh chấp ồn ào, đầy tai tiếng các món đồ gia bảo với hoàng tử Bảo Long cũng chẳng giúp cựu hoàng sung túc hơn. Về già, ông sống nhờ số tiền trợ cấp ít ỏi, lúc có lúc không của chính phủ Pháp. Sau thời của Tổng thống Giscard, ông được hưởng trợ cấp 8.000 Franc /tháng.

Chính phủ của Tổng thống Jacques Chirac hào phóng hơn, nâng mức trợ cấp lên mỗi tháng 20.000 Franc. Vĩnh biệt những tiệc tùng vương giả, ông dè sẻn chỉ dám ăn những bữa trưa giá 10 Franc trong những quán ăn nhỏ ở những khu phố tồi tàn.

Chỉ riêng sở thích, hay thói quen luôn có phụ nữ bên cạnh thì ông không thay đổi. Năm 1983, cựu hoàng lại "nạp thiếp". "Thứ phi" là bà Monique Baudot, quê vùng Lorraine, 30 tuổi, đẹp và ưa cau có. Bấu víu vào cánh tay của bà Monique, cựu hoàng Bảo Đại đã sống nốt những năm cuối đời nghèo túng và lặng lẽ tại một căn hộ nhỏ ở số 29, đường Fresnel, quận 16, Paris và mất tại đó ngày 31/8/1997.

Viết về cựu hoàng đế Bảo Đại, các tác giả dù thuộc phía nào cũng không tránh khỏi lúng túng. Không ai muốn tỏ ra bỡn cợt, thiếu tôn kính khi mô tả, đánh giá một ông vua. Nhưng người ta vẫn băn khoăn vì không cắt nghĩa được đầy đủ Bảo Đại đại diện cho khuynh hướng nào, vai trò thật sự của ông là gì. Có lẽ, cựu hoàng chỉ đại diện cho chính ông.

Dù thế nào đi chăng nữa, người ta cũng khó có thể chối bỏ được sự thật là ở Bảo Đại, năng lực và tai tiếng về những chuyện ăn chơi, hưởng thụ luôn tỏ ra vượt trội hơn nhiều so với tâm huyết và khả năng cai trị đất nước của một đấng quân vương, một Quốc trưởng như số phận đã buộc vào ông. Trong những trang hồi ký của mình, "đức kim thượng" cũng không hề giấu giếm chuyện bản thân ông là một tay chơi siêu hạng.
Sự hào nhoáng toát ra từ đó và bi kịch vương giả cũng bắt đầu từ đó.

Thursday, May 21, 2009

SÓNG BIỂN

Trọng Ðạt

(Viết để riêng tặng những kẻ đã chết trên con đường đi tìm Ðất Hứa)

Hầu như cuối tuần nào cũng vậy, khi màn đêm vừa buông xuống là tôi lại vội đến thăm ông bạn chí cốt ở gần nhà để hàn huyên tâm sự, bàn bạc những vấn đề thời sự chính trị, văn chương... Ðộ này chúng tôi hay bàn chuyện văn thơ, nghệ thuật, những buổi tọa đàm như vậy đã giúp chúng tôi giết thì giờ trong cuộc sống tha hương buồn tẻ. Người Việt ở đây cũng khá đông, bạn bè bà con cũng nhiều nhưng tôi vẫn cảm thấy một sự lạc lõng, bơ vơ... Có lẽ vì đây không phải là đất nước của mình. Xa xứ khá lâu nhưng mỗi lần tỉnh giấc, tôi vẫn biết rằng mình đang sống tại một đất nước xa lạ với những lối sống, tập quán mà đối với tôi, đến bây giờ cũng vẫn còn rất xa lạ. Tôi có cảm tưởng như mình vẫn chưa hoàn toàn hội nhập được vào xã hội mới. Những buổi đàm luận ấy cũng thật bổ ích vì khi trao đổi ý kiến, nó cũng mở mang tầm hiểu biết của chúng tôi hơn lên.

Tối nay, một tối mùa đông giá lạnh, tết tây đã qua, tết ta gần kề. Năm nay hên, ngoài trận tuyết mong manh hôm nọ người ta không phải nếm cái mùi băng giá thấu xương như năm ngoái. Ngoài các chợ Á Ðông, chợ Việt, chợ Tầu... hàng Tết đã bầy đầy cả ra từ mấy tuần trước. Thôi thì đủ thứ... nào bánh chưng, bánh tét, dưa món, kẹo, mứt, cây quất, cành mai, hoa đào, hoa cúc... Người mình cũng nô nức mua sắm hàng Tết đón Xuân, và mặc dù ai cũng cố giữ truyền thống dân tộc tổ tiên nhưng nó cũng không tránh khỏi cái vẻ lạc lõng như một thứ vui gượng, vì tất cả đang nằm giữa một ngoại cảnh, một nước non xa lạ. Ông bạn cũng đã mua sắm được một ít bánh mứt, hạt sen, trà tầu... đem ra đãi khách cho có chút hương vị dân tộc quê hương trong những ngày năm tận. Ông pha trà mời tôi nhấm nháp rồi đưa cuốn sách mới mượn ở thư viện ra bảo:

– Cuốn này viết về văn học miền Nam, phần tiểu sử các tác giả đầy đủ lắm, nhiều tác giả không có tên tuổi gì cũng được đề cập rất đầy đủ chi tiết. Một người bà con tôi là nhà văn ít ai biết, thế mà ông soạn giả này cũng biết rất rành. Tôi lấy làm lạ, ông ấy lấy tài liệu ở đâu mà biết rõ thế?

Tôi cầm cuốn sách ngắm nghía một lúc, xem sơ mấy trang rồi giở phần tiểu sử ở cuối ra xem, lật qua lật lại... bỗng tôi dừng lại ở một trang rồi lẩm nhẩm đọc:

Trần Ðại, sinh tại Bắc phần năm 1941, vào Nam năm 1954. Dạy đại học. Sau 1975, mất tích trên đường vượt biển tị nạn chính trị. Chuyến đi khởi hành ngày 2-10-1978.
Tác phẩm: Con đường (tựa của Vũ Hoàng Chương, 1963)

Tôi bèn đọc lớn cho ông bạn nghe rồi bảo:
– Chắc đúng là anh bạn tù cải tạo cùng tổ với tôi hồi 1975, 76, 77... Anh này có dạy ở một trường đại học Ðà Lạt, cỡ tuổi tôi, được về sớm, mấy người cùng trại với tôi nói anh chàng đi vượt biên mất tích cả gia đình từ 1978. Hồi ấy không nghe anh nói đã viết sách, nhưng các chi tiết khác đều đúng hết.

Tôi cứ tấm tắc khen ông soạn giả thật là kỳ tài, biết rõ cả chuyến đi vào ngày nào tháng nào nữa, mình là bạn anh ta mà cũng chỉ biết loáng thoáng thôi. Ông bạn bèn hớp một ngụm trà tầu đang bốc hơi nghi ngút rồi chép miệng than.

– Bao nhiêu tinh hoa của đất nước đã bị chôn vùi dưới đáy biển!

Từ đấy tôi cứ thắc mắc, ưu tư về cái tên Trần Ðại mãi. Nhớ hồi chàng được về hơn một năm, chúng tôi chuyển trại khác, một người bạn thân của Ðại - tên Bình - có nói với mọi người ngoài bãi lao động:

– Trời ơi! Ðại tốt lắm, anh chị có lại thăm vợ tôi, cho vợ tôi mượn một ngàn đồng. Tôi đã viết thư dặn vợ tôi, nếu anh ấy muốn mượn bất cứ cuốn sách gì cũng cho anh ấy mượn.

Rồi tự nhiên tôi lại tò mò đi điều tra xem có đúng người trong cuốn sách này là anh bạn tù xa xưa của tôi không, y như một nhà thám tử đi điều tra một vụ án. Tôi bèn tìm hỏi Bình - hiện cũng đang sống tại Mỹ - cho Bình biết chi tiết trong cuốn sách. Anh ta đáp:

– Vậy thì đúng hắn rồi! Ðại có ra một tập thơ, anh ấy tốt nghiệp cao học ở Ðà Lạt, đậu thủ khoa được nhà trường giữ lại để giảng dậy. Sau có làm cho bộ văn hóa, xã hội... gì đấy. Hồi anh ấy sắp đi vượt biên có cho vợ tôi mượn một ngàn đồng, một ngàn hồi ấy lớn lắm, mỗi lần thăm nuôi tụi mình chỉ có mấy chục hay một trăm thôi. Nói đến anh ấy bà xã tôi xúc động lắ. Em của Ðại cũng đang sống ở Mỹ.

Thế là cuộc điều tra của tôi coi như hoàn tất. Ðúng là anh ấy rồi! Và trong ký ức tôi, Ðại tự nhiên sống dậy y như một cuốn phim cũ nay được đem ra chiếu lại.

... Tôi nhớ lại hồi 1975, công chức chúng tôi ra trình diện cải tạo được đưa lên trại Long Thành. Năm đầu có một số đợt thả về khá đông, nghe nói Ủy Ban Quân Quản Thành Phố Sài Gòn Gia Ðịnh ăn hối lộ đã cho những người chạy tiền về trước. Chừng một năm sau trại được chuyển giao cho Bộ nội vụ, cái thòng lọng ngày càng xiết chặt. Sau nhiều đợt chuyển tù công chức cao cấp và trung cấp đi Bắc, chúng tôi còn vài trăm người được giữ lại, dọn nhà hai ba lần và sau cùng ở một căn nhà rộng bằng gỗ gọi là nhà 13.

Ðại ở chung đội rồi chung tổ với tôi, không thân lắm nhưng tôi có cảm tình với hắn vì tính hiền lành. Ðại hay đùa giỡn trêu chọc tôi, có lần cáu quá tôi la lối hắn um cả lên, thế mà hôm sau hắn lại vui vẻ vỗ vai tôi bảo:

– Tớ có chọc gì cậu đâu mà cậu la tớ dữ vậy? Tụi nó chọc cậu mà sao cậu không la tụi nó, cậu lại la tớ!

Ðại y như ông Bụt vậy, không biết giận biết ghét ai bao giờ, hắn thích trêu chọc tôi nhưng chỉ đùa vui chứ không bao giờ có ác ý. Ngoài bãi lao động hắn hay kể chuyện vui, có khi bàn chuyện kinh tế ngoài xã hội, Ðại có vẻ người hiểu biết.

Tôi còn nhớ một buổi chiều tối, hồi ấy tù còn được tự do thoải mái, tôi và Ðại pha trà uống ngoài sân kể chuyện ngày xưa, anh thích kể lại những ngày còn giảng dạy ở trường đại học Ðà Lạt và có vẻ tiếc nhớ cái thời vàng son của mình.

Chúng tôi cải tạo được hơn hai năm thì bỗng có đợt thả về khoảng mười sáu người, đa số có bảo lãnh hoặc quá trình nhẹ, không liên hệ đến an ninh chính trị là mấy. Ðại may mắn có tên trong danh sách đợt này... Thế rồi hơn một năm sau chúng tôi chuyển trại đến một khu rừng âm u, nhân một buổi lao động Bình có nhắc đến Ðại, khen anh là người bạn tốt đã cho vợ Bình mượn một ngàn đồng để thăm nuôi chồng, sự thực Ðại muốn để lại cho bạn số tiền lớn ấy trước khi lên đường đi tìm Tự do và Ðất hứa. Trước khi ra đi anh còn làm được một việc tốt cho xã hội, còn giúp được một người bạn tù.
Ðược thả về giữa cái xã hội nghèo đói xơ xác, đâu đâu cũng chỉ thấy toàn là những cảnh áp bức hăm dọa, bắt bớ ghê sợ của công an cảnh sát, Ðại không còn cách nào khác hơn là phải tìm cách thoát thân ra khỏi vũng lầy. Hồi ấy người ta đổ xô nhau tìm đường xuất ngoại, ai nấy thu vét tiền bạc trong nhà để nạp cho bọn tổ chức vượt biên, hy vọng thoát thân tới được bờ bến mới.

Và rồi vào chuyến đi ngày 2-10-1978, Ðại đã cùng gia đình lênh đênh qua cửa Cần Giờ... Theo thống kê cũng như lời xác nhận của dân tỵ nạn, số người bỏ xác trên đường vượt biển phần lớn là do hải tặc Thái Lan đâm chìm tầu, chúng cướp bóc hãm hiếp, bắt đàn bà con gái rồi đâm chìm tầu để phi tang...

Thế rồi tôi lại mường tượng ra cảnh biển cả rộng mênh mông bát ngát, có một con tầu gỗ mỏng manh lềnh bềnh trôi trên làn sóng, rồi trận phong ba bão táp nổi lên hay tầu hải tặc xông tới cướp bóc hãm hiếp rồi đâm chìm thuyền tỵ nạn... Tôi thấy Ðại và bao nhiêu người khác đang cố vùng vẫy trên mặt biển. Bản năng tự vệ sinh tồn khiến con người phải cố sức chống lại cái chết đến cùng dù chỉ là để sống thêm được một vài giây phút nữa, để rồi cũng từ từ chìm sâu dưới làn nước biếc...

... Tất cả không còn gì trừ sóng biển. Ðại dương mênh mông bát ngát đã chôn vùi không biết cơ man nào mà kể những kẻ bất hạnh đi tìm Ðất Hứa. Biển cả đã chôn sâu cái hy vọng cuối cùng của đời Ðại, của hàng nghìn, hàng vạn những người tỵ nạn khác, những kẻ đã chết trên con đường đi tìm Tự do và Ðất hứa, nhưng vẫn còn sướng hơn làm nô lệ. Biển cả cũng đã chôn vùi biết bao tinh hoa của đất nước, biết bao người tài trí đã bỏ nước ra đi và cũng đã có biết bao người không hẹn ngày về.

Hôm được trả tự do, các bạn tù vẫy tay chào Ðại và mười mấy người khác bước lên xe vận tải, bọn ở lại nhìn những kẻ diễm phúc bằng cặp mắt thèm thuồng tuy trong lòng có chút mừng thầm cho họ, ngày trở về của Ðại tươi đẹp và hạnh phúc biết bao.

... Ngày trở về anh bước lê trên quãng đường đê đến bên lũy tre, nắng vàng hoe vườn rau trước hè chờ đón người về...

Anh đã ra khỏi trại giam và còn phải ra khỏi nước, bởi trại giam chỉ là nhà tù nhỏ, đất nước, xã hội là nhà tù lớn. Ðại xây dựng nhiều mộng đẹp, hy vọng lập lại cuộc đời mới ở xứ tự do, ở miền Ðất Hứa, với những giấc mộng đẹp và rực rỡ như nắng mùa hè...
Thế rồi tất cả ước mơ, hy vọng của anh chỉ là những toà lâu đài xây trên bãi cát, những ảo tưởng vĩ đại, những mơ mộng hão huyền của kẻ tuyệt vọng đi tìm Ðất hứa. Biển cả đã chôn vùi mộng đẹp của anh, của muôn vạn kẻ bất hạnh cùng đường tuyệt vọng khác.

Ðối với các nhà nghệ sĩ, biển cả thật là mỹ miều thi vị dưới những tên thật là gợi hình, bóng bẩy, nào là Biển Nhớ, Hoàng Hôn Trên Bãi Biển, Bãi Biển Nương Dâu... nhưng đối với bọn thuyền nhân khốn khổ đi tìm tự do, biển cả mênh mông chỉ là mối nguy khốn hãi hùng cho họ. Một hình ảnh vĩ đại bao la bát ngát kinh hoàng vì nó đã từng chôn vùi biết bao sinh linh vô tội. Nhiều người đã định cư tại bờ bến mới mấy chục năm nhưng mỗi lần nghĩ lại, họ vẫn còn rùng mình ghê sợ.

Thế rồi tuần sau, tôi lại đến thăm ông bạn vào một ngày năm cùng nguyệt tận, tối ấy nhiều người đã lên chùa, đến nhà thờ để chuẩn bị đón Giao thừa. Thế là lại thêm một cái Tết nơi đất khách quê người, rồi lại xuân tha hương... tuổi đời cứ chồng chất thêm trên mái tóc, ngày tận cùng của đời người cứ từ từ tiến lại.

Tối nay ông bạn bầy một bàn tiệc nhỏ để đãi người tri kỷ: một đĩa bánh chưng đã cắt làm nhiều miếng, một bát dưa món, mấy đĩa mứt sen, mứt gừng, mứt bí.... một chai rượu nho mầu chiều tím gọi là có chút hương vị quê nhà trong mấy ngày thiêng liêng dân tộc. Khi ấy tiếng hát thanh tao dịu dàng của cô ca sĩ bỗng vang lên trong máy ngoài phòng khách:

Em như cô gái hãy còn xuân
Trong trắng thân chưa lấm bụi trần
Xuân đến hoa mơ hoa mận nở...

Ðể mở đầu buổi đàm luận tối nay, tôi nói cho ông ta biết Trần Ðại, tác giả tập thơ Con Ðường đúng là người bạn tù của tôi hai mươi mấy năm trước đây. Ông bạn vừa rót rượu vừa ra giọng triết lý bảo:

– Thế gian như một cái quán trọ, con người chỉ là khách qua đường.

Chúng tôi nâng ly chúc mừng năm mới. Uống xong một hớp rượu xuân tôi bèn thở dài đáp:

– Cuộc đời chỉ là giả tạo, cái chết mới là có thật! Ôi một đời người! Sinh ra ở miền Bắc, lớn lên di cư vào Nam, học hành xuất chúng, làm giáo sư, công chức cho chính phủ... rồi vào tù, được thả về, mang nhiều mộng đẹp, lên đường đi tìm Tự do, Ðất hứa... Biển cả đã chôn vùi cái hy vọng cuối cùng của đời anh. Một đời người đã hết, chẳng còn một vết tích gì, chẳng để lại đến một mảnh xương tàn, chỉ còn lại một vài dòng tiểu sử trong một cuốn sách nói về văn học miền Nam...

source:www.thegioimoionline.com

Wednesday, May 20, 2009

Người Việt Hải Ngọai: Miếng Mồi Ngon Của Việt Cộng Nhưng Khó Nuốt?

• Luật sư Lê Duy San

- Việt Cộng đánh gía Người Việt Hải Ngoại như thế nào ?
- Những chính sách của Việt Cộng để dụ dỗ Người Việt Hải Ngoại.
- Những trò lưu manh của Việt Cộng để phá hoại sự đoàn kết của Người Việt Hải Ngoại.

Sau khi nuốt trọn được miền Nam Việt Nam vào năm 1975 và áp đặt một chế độ độc tài đảng trị trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam, bọn Cộng Sản Việt Nam đã đưa cả trăm ngàn quân nhân và công chức của chế độ VNCH mà chúng coi là thành phần tối nguy hiểm vào nhà tù mà bọn chúng gọi là trại cải tạo. Chưa đủ, để tịch thu nhà cửa và ăn cướp tài sản của đồng bào, chúng còn đẩy cả triệu đồng bào mà chúng coi là thành phần hút máu mủ nhân dân hoặc ăn bám xã hội lên rừng núi mà chúng gọi là vùng kinh tế mới hoặc ra biển cả làm mồi cho cá.

Nhưng sau một thập niên quản trị đất nước (1975-1985) với chính sách hộ khẩu và hợp tác xã, chúng đã đưa Việt Nam vào danh sách những nước nghèo đói nhất thế giới. Để cứu đói và cũng là để cứu đảng, chúng đã phài cởi trói chính sách kinh tế của chúng phần nào, cho phép dân chúng làm ăn, buôn bán nhỏ, chấp nhận tiền bạc cũng như đồ đạc của người Việt Hải Ngoại gửi về cho thân nhân.

Mặc dù cởi trói đã được 5 năm (1985-1990) tình trạng nghèo đói của đất nước vẫn không khá hơn, vì bọn Việt Cộng vẫn ngoan cố, nên vẫn bị Hoa Kỳ cấm vận. Nhận thấy, tinh thần chống Cộng của người Việt đã giảm sút, không còn cao như lúc Măt Trận Hoàng Cơ Minh mới ra đời, nhất là từ khi ông Hoàng Cơ Minh đã bị Việt Công giết. Việt Cộng không còn lo ngại gì nữa, nên đã xuống nước và chấp nhận bang giao với Hoa Kỳ để được hủy bỏ cấm vận.

Kể tứ năm 1991, sau khi được Hoa Kỳ hủy bỏ cấm vận, các nước ùn ùn vào đầu tư tại Việt Nam. Tuy nhiên ăn được tiền của ngoại quốc cũng không phải là dễ. Người ngoại quốc nào bỏ tiền ra đầu tư ở Việt Nam cũng mong mang được lợi nhuận về nước. Họ đầu tư ở Việt Nam, chẳng qua họ thấy nhân công ở Việt Nam rẻ chứ không phải vì họ yêu nước Việt Nam. Trái lại, bọn Việt Cộng nhận thấy, người Việt Hải Ngoại dù ra đi vì bất cứ lý do gì, cũng không bao giờ ghét bỏ tổ quốc. Ai mà chẳng sinh ra ở Việt Nam ? Ai mà chẳng có họ hàng, thân thích, bạn bè ở Việt Nam ? Chỉ số tiền hàng năm Người Việt Hải Ngoại đem về tiêu ở Việt Nam hoặc gửi về giúp đỡ thân nhân, bạn bè và người nghèo khổ cũng đã lên tới 4 tỷ đô la. Chỉ cần 1% số người này đem tiền về Việt Nam làm ăn, hay đem chất xám về giúp nước, mỗi năm Việt Cộng sẽ kiếm thêm được bao nhiêu tỷ nữa? Đây qủa là một miếng mồi ngon của Việt Cộng.

Chính vì vậy, ngay từ khi Hoa Kỳ vừa hủy bỏ cấm vận, bọn Cộng Sản đã dùng ngay chiêu bài Hoà Hợp, Hòa Gỉai để dụ dỗ những người Việt Hải Ngoại vẫn còn thơ ngây về hợp tác hoặc làm ăn với chúng. Thực ra bọn Việt Cộng có bao giờ thực tâm muốn Hòa Hợp, Hòa Gỉai với ai. Chúng chỉ muốn Hoá Giải những sự chống đối, chúng chỉ muốn lùi một bước để rồi sẽ tiến hai bước. Chỉ tiếc rằng người Việt Quốc Gia, vì ngu dốt, vì ham danh, hám lợi, nên dù đã từng bị lừa bịp nhiều lần rồi mà vẫn bị lừa. Tuy nhiên số người này không phải là nhiều, nên ngày 26/3/04, Bộ Chính Trị của Việt Cộng đã phải ban hành nghị quyết 36 đối phó với người Việt Hải Ngọai.

A/ Việt Cộng đánh giá người Việt Hải Ngoại như thế nào?

Sau 15 năm sống còn nhờ vào tiền của người Việt Hải Ngoại gửi về, bọn lãnh đạo Việt Cộng không còn dám coi thường những người mà bọn chúng trước kia gọi là những thành phần đĩ điếm, tay sai đế quốc Mỹ nữa, trái lại chúng “đánh giá” rất cao, coi cộng đồng người Việt Hải Ngoại là “là khúc ruột ngàn dậm, là một bộ phận không thể tách rời khỏi dân tộc”.

Chúng đã phải nhìn nhận 80% những người Việt Hải Ngoại, không những đã ổn đinh được cuộc sống mà còn có vị trí trong đời sống kinh tế, xã hội và chính trị trong nước họ định cư. Nhiều người có tiềm lực kinh tế, có khả năng quan hệ với các doanh nhân bản xứ để làm cầu nối cho các doanh nghiệp trong nước cũng như cho bọn chúng.

Tuy nhiên, chúng cũng nhận thấy rằng hầu hết người Việt Hải Ngoại không tin vào sự đổi mới của chúng, không tin vào sự Hòa Giải, Hoà Hợp của bọn chúng, không những thế, nhiều người khác vẫn còn chống đối và vạch trần sự lừa phỉnh, bịp bợm của bọn chúng.

B/ Những chính sách của Việt Cộng để dụ dỗ người Việt Hải Ngoại.

Nhận thấy tầm quan trọng của người Việt Hải Ngoại cũng như tinh thần chống Cộng của người Việt Hải Ngoại vẫn còn mạnh mẽ, trong nghị quyết 36, bọn Việt Cộng đã phải đưa ra một số chính sách đối phó để đánh phá và lôi cuốn những thành phần ham danh, hám lợi nhưng vẫn chưa rứt khoát tin tưởng ở chúng.

1/ Biện pháp I: Chiêu bài Hoà Hợp, Hoà Gỉai.

Như đã trình bầy ở trên, thực ra bọn Việt Cộng không bao giờ chúng thực tâm muốn Hoà Hợp, Hoà Giải vì bọn chúng đang ăn trên ngồi trốc, đang nắm độc quyền quản trị đất nước, đời nào chúng lại dại dột nhường ghế, chia quyền cho người khác? Chẳng qua đây chỉ là một phương thức để Hoá Gỉai những sự chống đối của những thành phần chống đối nhưng không có lập trường chống Cộng vững chắc, còn ham danh, hám lợi, cũng như để dụ dỗ những thành phần trí thức ngu muội, chỉ biết chủ nghĩa Cộng Sản qua sách vở mà không hề biết trên thực tế, chủ nghĩa Cộng Sản đã được bọn chúng thực thi ra sao.

Biện pháp Hoà Hợp, Hoà Giải đã được bọn chúng đem ra áp dụng từ lâu. Từ năm 1945-1946, chúng cũng đã đem ra áp dụng để thành lập chính phủ Liên Hiệp. Rồi năm 1974-1975, chúng cũng đưa ra để dụ dỗ những người quốc gia nhẹ dạ. Năm 1990-1991 chúng cũng đưa ra và cho đến bây giờ chúng cũng vẫn đưa ra. Tóm lại, bất cứ lúc nào chúng muốn hóa giải việc gì, là chúng lại đem chiêu bài Hòa Hợp, Hòa Giải ra áp dụng. Bởi vì chúng biết lòng căm thù của người Việt Hải Ngoại mỗi ngày một giải đi theo thời gian. Vì vậy chiêu bài Hoà Hợp, Hoài Gỉai của chúng lúc nào đem ra áp dụng cũng vẫn có gía trị.

2/ Biện phái II: Chính sách Giao Lưu Văn Hóa.

Nhược điểm của người Việt Hải Ngoại, tức những người xa quê hương nhớ nhà, nhớ quê hương. Càng xa lâu, càng nhớ nhiều. Lợi dụng nhược điểm này, chúng tung ra hải ngoại sách báo, băng nhạc và phim ảnh gọi là Giao Lưu Văn Hóa.

Lúc đầu, chúng còn đưa ra nhưng phim ảnh có mục đích tuyên truyền. Nhưng sau chúng thấy bất lợi vì không nhưng không được đồng bào Hải Ngoại hưởng ứng mà còn chống đối kịch liệt nên sau chúng chỉ đưa ra những phim ảnh vô thưởng, vô phạt, không những hoàn tòan có tinh cách giải trí, mà nhiều khi còn cố ý chỉ trích chính quyền, nhưng chỉ về vấn đề tham nhũng, một vấn đề không thể dấu diếm được để tỏ ra ta đây (chính quyèn Cộng Sản) cũng tự do, dân chủ để lừa gạt những người Việt Hải Ngoại nhẹ dạ, dễ tin.

Thực ra có bao giờ chúng chiụ Giao Lưu Văn Hóa với người Việt Hải Ngọai? Thử hỏi đã có cuốn sách nào nói về tự do, dân chủ, nói về nhân quyền của ngoại quốc, chứ đừng nói tới của người Việt Hải Ngoại, được chúng cho lưu hành trong nuớc? Ngay người trong nước, chỉ cần dịch một tài liệu của ngoại quốc rồi đăng trên diên đàn điện tử cũng bị coi là phản động và cho đi tù.

3/ Biện pháp 3: Cho hưởng một vài quyền lợi.

Để dụ dỗ người Việt Hải Ngoại về nước du lịch hay làm ăn, hợp tác nhiều hơn, Việt Cộng đề ra nhiều chính sách, chủ trương nhằm tạo điều kiện dễ dàng như về gía cả, không còn phân biệt người trong nước với người nước ngoài. Chấp thuận cho người Việt Hải Ngoại mua nhà đất trong nước với một vài điều kiện nào đó. Quy chế miễn visa, miễn thị thực chữ ký. Cho phép người Việt Hải Ngoại được phép kinh doanh hoặc mở một vài công ty cũng như hợp tác vào vài hoạt động khoa học, văn hóa v.v…Vinh danh một số trí thức và thương gia về nước phục vụ cho chúng.

Cả ba biện pháp trên đều thất bại bởi vì chúng không có thực tâm mà chỉ là để dụ dỗ, tuyên truyền. Hơn nữa, tình trạng tham nhũng ở Việt Nam bây gìơ đã hết thuốc chữa. Tham nhũng từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, không ai bảo đươc ai, nên số người Việt Hải Ngoại về nước làm ăn hay kinh doanh mỗi ngày một ít. Tuy nhiên bọn chúng vẫn giả ngây, giả ngô và tổ chức một cuộc hội thảo tại thành phố Saigon ngày 28/12/08 giữa bọn chúng và một số Việt Gian Hải Ngọai trong số đó có Giáo Sư Tạ Văn Tài để tìm hiểu nguyên nhân dưới đề tài “Làm sao để phát huy nguồn lực trí thức Việt Kiều đóng góp vào công cuộc phát triển đất nước ?...”

Gần 30 bài tham luận từ nước ngoài đã được gửi về đóng góp ý kiến và 16 tham luận viên đã tới để trực tiếp trình bày. Nhưng những lý do, những nguyên nhân thực sự như: vì chế độ hiện tại của Việt Nam là một chế độ độc tài chuyên chế, một chế độ trị nước không phải bằng luật pháp mà là một chế độ công an trị, vì chế độ hiện tại của Vịệt Nam là một chế độ không tôn trọng nhân quyền , không đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết v.v…nên không ai muốn về nước giúp cho một chế độ như vậy. Các tham luận viên chỉ nói tới những lý do vớ vẩn như vì quen sống ở những nước văn minh, có đủ tiện nghi vật chất, không được đãi ngộ xứng đáng, môi trường làm việc không được đầy đủ phương tiện kỹ thuật, còn nghi ngờ về cách đối xử “giở giăng, giở đèn” của nhà cầm quyền VN v.v…

C/ Những chiến thuật của Việt Cộng để phá hoại Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại.

Không chiêu dụ được, không dụ dỗ được, bọn Việt Cộng đã dùng những chiến thuật sau để phá hoại Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại.

1/ Chiến thuật “Tầm ăn dâu”.

Phần lớn các Hội Đoàn lập ra đều có mục đích xã hội và vô vị lợi. Vì thế chúng thường dùng chiêu bài làm việc xã hội, từ thiện để dễ dàng được các Hội Đoàn hỗ trợ. Rồi từ đó, chúng dần dần để lộ ra bộ mặt thật của chúng để làm cho Hội Đoàn đã hỗ trợ chúng bị chia rẽ để chúng dễ dàng xâm nhập và quậy phá.

Các Hội Đoàn, lúc đầu thường do các người có lập trường chống Cộng, có nhiệt huyết lập ra, nên lúc đầu sự hoạt động rất hăng say và có quy củ. Nhưng sau một thời gian hoạt đông bắt đầu mệt mỏi, nên sự hoạt động cũng lỏng lẻo. Bọn Việt Cộng bắt đầu xâm nhập hoặc cho tay sai vào nằm vùng, chờ cơ hội hoạt động. Lúc đầu có thề chúng chỉ già vờ vô tình đưa ra một vài lời tuyên bố có lợi cho Cộng Sản, rồi sau đó, chờ cơ hội thuận tiện, chúng có thể đưa ra cả một bài tuyên truyền cho Cộng Sản. Thế là Hội đoàn đó có thể tách ra làm hai hoặc tan rã hoặc ở trong tình trạng tê liệt.

Trên các diễn đàn điện tử, báo chí cũng vậy, chúng cũng luôn luôn tim cách xâm nhập để gây chia rẽ và xáo trộn.

2/ Chiến thuật “Cá mè một lứa”

Sau ngày 30/4/1975, bọn chúng đã ăn cướp được của đồng bào miền Nam không biết bao nhiêu tiền của nhờ vào chính sách đổi tiền, đánh tư sản mại bản, cải tạo công thương nghiệp, vùng kinh tế mới và sau này, ăn cướp đất đai của đồng bào, chúng trở thành bọn tư bản đõ. Nhưng để dân chúng nửa tin, nửa ngờ, chúng tung ra một danh sách có cả tên của những người đã từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa cũ mà nhiều người biết chắc không thể nào giầu có được.

Đối với những người Việt Hải Ngoại chống Cộng cũng vậy. Chúng luôn luôn tìm cách ly gián và gây sự nghi ngờ lẫn nhau.

Thực vậy, số người Việt Hải Ngoại chống Cộng đã hiếm, mà số người có khả năng chống Cộng bằng ngòi bút lại càng hiếm hơn. Vì vậy, một người chống Cộng, khi đọc bài của một người khác thấy họ có tinh thần chống Cộng rất cao thì rất mừng, săn sang kết nạp, mời mọc tham gia, công tác. Nhưng sau một vài bài chống Cộng, họ viết một bài cũng chống Cộng, nhưng trong đó có lồng vào một vài câu hay một vài đọan họ đả kích một người quốc gia có uy tín hay có lập trường chống Cộng cao. Nếu ta vì quá tin tưởng họ, không đọc kỹ mà phổ biến thì sự việc sẽ ra sao?

Những người chống Cộng thực sự và họ biết ta, không bao giờ họ lại ngây thơ mà chỉ trích ta, cùng lắm họ chỉ lưu ý ta mà thôi hoặc nếu cần, họ sẽ viết một bài để vạch mặt thẳng tên Việt Công nằm vùng đã viết bài kia. Nhưng những người chống Cộng khác, họ không biết ta, tính lại nóng nẩy sẽ chụp ngay lấy để mạt sát, để chụp mũ. Cho nên chúng ta đừng lấy làm ngạc nhiên khi thấy người chống Cộng thì ít mà kẻ chống người chống Cộng lại nhiều. Vì thế, bọn Việt Cộng đã khai thác triệt đề khía cạnh này để đưa Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại tới chỗ “Cá Mè Một Lứa”, chẳng còn biết ai là người chống Cộng, ai là Việt Gian Cộng Sản nữa.

Mong rằng tất cả những người Việt Hải Ngoai có tinh thần chống Cộng cao, hãy đề cao cảnh giác và luôn luôn phải bình tĩnh, đừng để xa vào cái bẫy của Việt Cộng.

Tuesday, May 19, 2009

29 Loại Thực Phẩm Tốt Cho Sức Khoẻ

Thanh Diệp sưu tầm

Dưới đây là danh sách 29 loại thực phẩm có thể cung cấp cho bạn nhiều chất dinh dưỡng nhất và giúp bạn tránh được rủi ro bị những bệnh hiểm nghèo như ung thư, tiểu đường và tim mạch.

TRÁI CÂY (FRUITS)

1. TRÁI MƠ (APRICOTS)
Beta-carotene giúp chống lại các gốc tự do và bảo vệ mắt. Cơ thể cũng biến beta carotene thành vitamin A có tính cách ngăn chặn ung thư đặc biệt là ung thư da. Một trái mơ chứa 17 calori, 0g chất béo, 1g chất sơ
Ăn trái mơ phơi khô, hoặc nếu thích ăn tươi thì mua trái mơ hãy còn cứng vì khi đã mềm trái mơ mất nhiểu chất dinh dưỡng

2. TRÁI BƠ (AVOCADOS)
Acid oleic, một chất béo không bảo hoà giúp hạ mức cholesterol toàn phần và tăng mức cholesterol tốt HDL. Trái bơ cỏn chứa nhiều chất sơ .Một lát trái bơ chứa 81 calori, 6g chất béo và 3g chất sơ. Khi ăn burger bạn hãy thay thế sốt mayonnaise bằng vài lát trái bơ

3. TRÁI DÂU RỪNG (RASPBERRIES)
Acid ellagic chặn đứng sự tăng trưỡng các tế bào ung thư. Các trái raspberries cỏn chứa nhiều vitamin C và nhiều chất sơ nên có khả năng ngăn ngừa cholesterol cao vả bệnh tim. Một cóng raspberries chứa 60 calori, 1 g chất béo và 8 g chất sơ
Bạn hãy dùng yogurt ít chất béo hoặc lúa mạch oatmeal với raspberries tươi

4. TRÁI XOÀI (MANGO)
Một trái xoài trung bình chứa 57mg vitamin C, gần bẳng phân lượng cần thiết mỗi ngày. Chất chống oxi hoá này giúp phòng ngừa bệnh viêm khớp, thúc đẩy vết thương chóng lành và tăng cường hệ miễn dịch. Trái xoài còn chứa tới hơn 8,000IU vitamin A (dưới dạng beta carotene) Một trái xoài chứa 135 calori, 1g chất béo và 4g chất sơ. Cắt lát và ăn với rau lá xanh

5. TRÁI DƯA TÂY (CANTALOUPE)
Nửa trái dưa tây chứa 117g vitamin C (gấp đôi liểu lương cẩn thiết mỗi ngày) và beta carotene, cả hai đều là chất chống oxy-hóa có khả năng bảo vệ các tế bào chống lại tổn thương do các gốc tự do gây ra. Ngoài ra nửa trái dưa tây chứa 853g potassium (nhiểu gấp hai lẩn một trái chuối) có công dụng hạ huyêt áp. Nửa trái dưa hấu tây chứa 97 calori, 1g chất béo và 2 g chất sơ. Cắt thành miếng vuông rổi đông lạnh để làm nước trái cây pha trộn với đá (ice smoothie)

6. NƯỚC ÉP TRÁI NHAM LÊ (CRANBERRY)
Giúp chống nhiễm khuẩn bàng quang bằng cách ngăn chặn sư phát triển của các vi khuẩn có hại. Một ly nuớc ép cranberry chứa 144 calori, 0 g chất béo và 0g chất sơ. Bạn có thể mua nước ép nguyên chất và pha vào nước uống trong ngày không cẩn cho đường

7. TRÁI CÀ CHUA (TOMATO)
Lycopene, một trong những chất carotenoid mạnh nhất, động tác như một chất chống oxy-hóa. Nghiên cứu cho thấy là cà chua nếu ăn đều mỗi ngày có thễ giảm đi phân nửa rủi ro ung thư bàng quang, dạ dày và kết tràng. Một trái cà chua chứa 26 calori, 0g chất béo va 1g chất sơ. Rưới dầu ô-liu trên các lát cà chua vỉ lycopene được hấp thu tốt hơn khi có mặt một chút chất béo

8. NHO KHÔ (RAISINS)
Nho khô là môt nguổn cung cấp chất sắt giúp máu chuyển oxygen (Nhiều phụ nữ bị thiếu chất này). Một nửa chén nho khô chứa 218 calori, 0g chất béo vả 0g chất sơ. Rắc nho khô lên bột lúa mạch hay các ngũ cốc, rất tốt cho phụ nữ trong thời kỳ thấy kinh.

9. TRÁI SUNG (FIG)
Trái fig không những là một nguổn cung cấp potassium và chất sơ mà còn chứa vitamin B6 có công dụng thúc đẩy việc sản xuất serotonin, giảm cholesterol và chống lại việc giữ nước trong cơ thể. Thuốc ngừa thai làm mất B6 nên phụ nữ dùng thuốc này phải thêm vitamin này vào thực chế.
Một trái fig có 37-48 calori, 0g chất béo và 2g chất sơ. Các trái fig tươi nướng cùng với thịt heo mểm và trái fig khô dùng làm món ăn chơi khi tập thễ dục thì tuyệt

10. TRÁI CHANH (LEMONS/LIMES)
Trong chanh có các chất limonene, furocuramin, và vitamin C tất cả các chất này đều giúp chống ung thư. Một miếng chanh chứa 2 calori, 0g chất béo và 0g chất sơ. Vắt chanh lên sà lách, cá, đậu, và rau tăng thêm vị cho món ăn

RAU (VEGETABLES)

11. HÀNH TÂY (ONION)
Quercetin là một trong những chất chống oxi-hóa thiên nhiên mạnh nhất giúp chống lại ung thư. Một cóng hành tây thái nhỏ chứa 61 calori, 0 g chất béo và 3g chất sơ. Ăn hành thái nhỏ để có tối đa các chất dinh dưỡng thực vật, nếu sợ cay mắt thì chiên với ít dẩu ô liu rồi ăn với cơm hay rau

12. ÁC-TI-XÔ (ARTICHOKE)
Ac-ti-xô chứa silymarin một chất chống oxi-hóa ngăn chặn ung thư da và chất sơ giúp kiểm soát cholesterol. Một ac-ti-xô cỡ trung bình chứa 60 calori, 0g chất béo và 7g chất sơ. Hấp ac-ti-xô từ 30-40 phút, vắt chanh lên rồi lấy tay ngắt từng lá và dùng răng cào hết lớp da bùi ngọt. Cuối cùng là tới phẩn ngon nhất ỡ giữa: đó là tim trái ac-ti-xô

13. GỪNG (GINGER)
Gingerol làm dịu cơn buồn nôn. Còn có những hợp chất khác chống bệnh nhức nửa đầu và viêm khớp bẳng cách ngăn chặn các prostaglandins gây viêm. Một muỗng nhõ củ gừng tươi giã nhỏ chỉ có 1 calori, 0g chất béo và 0g chất sơ. Gọt lớp vỏ nâu cứng bên ngoài rổi xắt lát hay nghiền vụn

14. CẢI HOA (BROCCOLI)
Trong cải hoa có indole-3-carbinol và sulforaphane giúp chống ung thư vú. Ngoài ra cải hoa còn chứa nhiều vitamin C và beta carotene. Một cóng cải hoa (xắt nhỏ) có 25 calori, 0g chất béo và 3g chất sơ. Đửng nấu quá chin, chỉ nên chạy microwave hay hấp hơi nước đôi chút đễ giữ các chất dinh dưỡng thực vật. Vắt thêm chanh để tăng hương vị.

15. RAU DỀN (SPINACH)
Lutein và zeaxanthin, carotenoid ngăn chặn bệnh thoái hoá điểm vàng, nguyên nhân chính gây mù lòa cho các ngưởi già. Ngoài ra rau dển đươc biết là có thể làm lui một số dấu hiệu lão hóa. Môt cóng chứa 7 calori, 0g chất béo và 1g chất sơ. Có thể dùng lá sống để trộn sà-lách hoặc xào với chút dẩu ô-liu và tỏi

16. CẢI TÀU (CHINESE CABBAGE/BOK CHOY)
Loại cải này là một vũ khí mạnh chống ung thư vú nhờ vào chất brassinin (ngăn chặn các cục bướu vú) cộng thêm các chất indole và isothiocyanate (giảm mức estrogen). Một cóng chứa 158mg can-xi (16% nhu cầu vể can-xi mỗi ngày) giúp chống bệnh loãng xương. Một cóng (rau đã luộc) chứa 20 calori, 0g chất béo và 3g chất sơ. Xắt các đọt cải xanh và ngọt rổi xào như rau dền

17. TRÁI BẦU (SQUASH: butternut, pumpkin, acorn)
Trái bầu có lượng lớn vitamin C và beta carotene có thể giúp chống ung thư màng trong tử cung. Một cóng (bẩu nấu chín) có 80 calori, 1 g chất béo và 6g chất sơ. Cắt làm đôi, moi hết hột ra rổi nướng lò hay chạy microwave cho tới khi mềm sau đó rắc bột quế.

18. CẢi XÀ-LÁCH-SON (WATERCRESS & ARUGULA)
Các chất phenethyl isothiocyanate cùng với beta carotene và vitamin C, E có thể gíúp kiểm chế bệnh ung thư. Một cóng xà lách-son chứa khoàng 4 calori, 0g chất béo, 1 g chất sơ. Đừng nấu chín, nên để sống cho vào bánh sandwich hay sà lách

19. TỎI (GARLIC)
Các hợp chất sulfur làm tỏi có mùi cay nồng cũng có công dụng làm hạ mức cholesterol xấu (HDL), giảm huyết áp và giảm rủi ro bị ung thư dạ dày và kết tràng. Một củ tỏi chứa 4 calori, 0g chất béo và 0g chất sơ. Nướng lò nguyên nhánh tỏi trong 10 hay 20 phút cho tới khi mềm và thơm rồi phêt lên bánh mì thay cho bơ

HẠT/ĐẬU/TRÁI HỒ ĐÀO (GRAINS/BEAN/NUTS)

20. QUINOA
Nứa cóng hạt quinoa luộc chin chứa 5g protein (một số lượng nhiểu hơn bất cứ loại hạt nào khác), thêm cả chất sắt, riboflavin và magnesium. Một nửa cóng quinoa chứa 318 calori, 5g chất béo và 5g chất sơ. Cho vào súp đễ tăng số lượng protein. Chà cho sạch trước khi dùng vì nếu không có vị đắng

21. MẦM LÚA MÌ (WHEAT GERM)
Một muỗng canh mầm lúa mì cung cấp khoảng 7 phần trăm lương magnesium cần cho mỗi ngày, giúp ngăn chặn bệnh cứng cơ. Ngoài ra mầm lúa mì cũng là nguổn cung cấp vitamin E. Một muỗng canh mầm lúa mì chứa 27 calori, 1g chất béo vá 1g chất sơ. Rắc một chút lên yogurt, trái cây hay ngũ cốc

22. ĐẬU LĂNG-TIN (LENTILS)
Đậu lăng-tin có chứa isoflavone ngăn ngừa bệnh ung thư vú do estrogen, chất sơ tốt cho tim và một lượng khả quan 9 g protein cho mỗi nửa cóng. Một nửa cóng đậu lăng-tin nấu chín chứa 115 calori, 0g chất béo và 8g chất sơ. Isoflavone không bị phân hủy trong tiến trỉnh biến chế, nên có thể mua đậu lăng tin đóng hộp, phơi khô hay đã trộn vào súp

23. ĐẬU PHỌNG (PEANUTS)
Đậu phọng chứa hầu hết chất béo tốt (không bão hoà) nên có thể giảm rủi ro bị bệnh tim tới 20 phần trăm. Một ounce đậu phọng có calori, 14g chất béo và 2g chất sơ. Nên mang theo môt gói đậu phong để ăn sau khi tập thể dục hay ăn lai rai vào buổi chiều đễ đỡ đói bụng trước bữa ăn tối

24. ĐẬU PINTO (PINTO BEANS)
Một nửa cóng đậu pinto cung cấp hơn 25 phần trăm lượng folate cẩn cho mỗi ngày để chống lại bệnh tim và giảm rũi ro tật bẩm sinh. Một nửa cóng đậu pinto (đóng hộp) có 103 calori, 1g chất béo và 6g chất sơ.

25. YOGURT ÍT CHẤT BÉO (LOW FAT YOGURT)
Các vi khuẩn có mặt trong yogurt nuôi cấy hoạt tính giúp chống lại nhiểm khuẩn do men và can-xi giúp xương cứng cáp hơn. Một cóng yogurt có 155 calori, 4 g chất béo và 0 g chất sơ. Mua loại yogurt “plain” rối tự trộn thêm trái cây vào để tránh bớt đường và calori

26. SỮA (MILK)
Riboflavin (vitamin B2) rất quan trọng đối với thị lực, và cùng với vitamin A giúp cải thiện eczema và dị ứng. Ngoài ra uống sữa còn có thêm can-xi và vitamin D. Một ly sữa có 86 calori, 0g chất béo và 0g chất sơ.

ĐỒ BIỂN (SEAFOOD)
*
27. HÀO HẾN (SHELLFISH)
Vitamin B12 tăng cường chức năng của thần kinh và não. Ngoài ra còn có cả chất sắt và các khoáng chất khó kiếm như magnesium và potassium. Ba ounce chứa 126-146 calori, 2-4g chất béo và 0 g chất sơ

28. CÁ HỒI (SALMON)
Cá nước lạnh như cá hồi (salon), cá thu (mackerel) và cá tuna là những nguồn cung cấp acid béo omega-3 rất tốt giúp giảm rủi ro bị bệnh tim. Một phần ăn 3 ounce cá nấu chín chứa 127 calori, 4g chất béo và 0 g chất sơ.

29. CUA (CRAB)
Cua là nguổn cung cấp nhiều vitamin B12 và chất kẽm (zinc) giúp tăng cường hệ miễn dịch. Môt phẩn ăn 3 ounce cua có 84 calori, 1 g chất béo và 0g chất sơ.
PHÁP CHỮA BỆNH BÁT NHÃ KHÍ CÔNG

Thứ nhất là ăn uống điều độ. Tránh ăn muối, đường, chiên xào… Nên ăn gạo lứt, hay bánh mì nâu (oat, whole grain, multigrain…), ăn trái cây nhiều, uống nước prune juice hàng ngày… Buổi tối đừng ăn, buổi chiều ăn nhẹ.

Thứ nhì là tập pháp Bát Nhã Khí Công.
Pháp Bát Nhã Khí Công này là vô tướng, nhưng giữ gìn sức khỏe rất linh diệu. Có những người vừa nghe vài phút là làm được, nhưng có người nghe cả năm cũng không hiểu, không tập được. Tất cả đều nằm sẵn trong Thiền. Chỉ cần 2 khẩu quyết nên nhớ nằm lòng.

Câu đầu (1) là nói về thể, về tánh, về chân không, về vô tướng. Vô Hình.
Câu sau (2) là nói về dụng, về tướng, về diệu sắc, về hữu tướng. Hữu Hình.

Khẩu quyết:
(1) “Có ai không? Không ai hết.” (Vô ngã, vô tướng, vô chiêu, vô hình)
(2) “Khi thấy chỉ có cái thấy, khi nghe chỉ có cái nghe, khi đi chỉ có cái đi, khi ngồi chỉ có cái ngồi…” (Chứ không hề có ai thấy, ai nghe, ai đi, ai ngồi… Nhưng là một lực có ứng dụng, có hữu tướng, hữu hình)

Tập như thế này: Trước tiên là thở đều đặn, thở dịu dàng, giữ cảm giác về hơi thở, giữ cảm giác về môi trường chung quanh. Khi nghĩ tới bài Bát Nhã Tâm Kinh, sẽ thấy không có ai đang thở, không có mũi đang thở, lập tức thấy làn da toàn thân đang thở, thì là Thai Tức, hay Anh Nhi Tức, là phép thở của bào thai trong bụng mẹ.
Ngay khi vừa nhẩm trong đầu câu số (1) rằng không hề có ai trong thân ngũ uẩn của mình, lập tức có thể cảm nhận rằng thân mình là một khối năng lực đang sinh diệt (nói theo nhà võ là chuyển biến giữa lực âm dương, yin yang.) Khi đó, đưa tay ra nhè nhẹ là thấy liền “không hề có ai đưa tay ra, mà chỉ là một khí lực đang chuyển động.” Tương tự, khi nhúc nhích lưng là thấy “không hề có ai nhúc nhích lưng,” mà thấy liền khí lực chạy chạy sưởi ấm sau lưng.

Cứ giữ cảm giác về luồng khí lực vô ngã đó hoài cả ngày, tức là Khí Công Tối Thượng của Bồ Đề Đạt Ma, chữa vô số bệnh. Tập được là khó lắm, vì đây thực sự là Thiền Tông. Ai tập được, trong vài ngày là thấy tiến bộ liền. Tập cả Động Công suốt ngày, và Tĩnh Công (ngồi Thiền, chỉ cần thẳng lưng, chân xếp thoải mái) nửa giờ mỗi ngày. Ban đêm, nằm trên giường ngủ, hình dung toàn thân thư giãn, lặng lẽ, y hệt như chết, sẽ thấy không có ai đang nằm, chỉ thấy hơi thở lặng lẽ vô thường. Tập vài ngày, sẽ thấy giảm rất nhiều bệnh.

Phần nói trên là Vô Chiêu. Phần sau là Hữu Chiêu, là pháp tập thể dục. Viết ra giấy thế này sợ là khó hiểu. Cần phải biết cách đưa tay ra dẫn khí lực cho cụ thể.
(Sưu tập bởi cư sĩ N.G.)
Hiểu Đời

Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già. Chẳng dám nói hiểu hết mọi lẽ nhân sinh nhưng chỉ có hiểu đời thì mới sống thanh thản, sống thoải mái.

Qua một ngày mất một ngày
Qua một ngày vui một ngày
Vui một ngày lãi một ngày

Hạnh phúc do mình tạo ra.. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc là cảm giác, cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng.

Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng quá coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng mang đến, khi chết chẳng mang đi. Nếu có người cần giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn. Nếu dùng tiền mua được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua? Nếu dùng tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ! Người khôn biết kiếm tiền biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền, đừng làm tôi tớ cho nó.

“Quãng đời còn lại càng ngắn thì càng phải làm cho nó phong phú”. Người già phải thay đổi quan niệm cũ kỹ đi, hãy chia tay với “ông sư khổ hạnh”, hãy làm “con chim bay lượn”. Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc, cần chơi thì chơi, luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống, hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già.

Tiền bạc là của con, địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, sức khỏe là của mình.
Cha mẹ yêu con là vô hạn; con yêu cha mẹ là có hạn.
Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhòm một chút hỏi vài câu là thấy đủ rồi.
Con tiêu tiền cha mẹ thoải mái; cha mẹ tiêu tiền con chẳng dễ.
Nhà cha mẹ là nhà con; nhà con không phải là nhà cha mẹ.
Khác nhau là thế, người hiểu đời coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, không mong báo đáp.
Chờ báo đáp là tự làm khổ mình.

Ôm đau trông cậy ai? Trông cậy con ư? Nếu ốm dai dẳng chẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu (cửu bệnh sàng tiền vô hiếu tử). Trông vào bạn đời ư? Người ta lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng không làm nổi.
Trông cậy vào đồng tiền ư? Chỉ còn cách ấy.

Cái được, người ta chẳng hay để ý; cái không được thì nghĩ nó to lắm, nó đẹp lắm. Thực ra sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn.
Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình (tỷ thượng bất túc tỷ hạ hữu dư), biết đủ thì lúc nào cũng vui (tri túc thường lạc).

Tập cho mình nhiều đam mê, vui với chúng không biết mệt, tự tìm niềm vui.
Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc giúp người làm niềm vui.
Con người ta vốn chẳng phân biệt giàu nghèo sang hèn, tận tâm vì công việc là coi như có cống hiến, có thể yên lòng, không hổ thẹn với lương tâm là được. Huống hồ nghĩ ra, ai cũng thế cả, cuối cùng là trở về với tự nhiên. Thực ra ghế cao chẳng bằng tuổi thọ cao, tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui thanh cao.

Quá nửa đời người dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho vui thì sống, việc nào muốn thì làm, ai nói sao mặc kệ vì mình đâu phải sống vì ý thích hay không thích của người khác, nên sống thật với mình.

Sống ở trên đời không thể nào vạn sự như ý, có khiếm khuyết là lẽ thường tình ở đời, nếu cứ chăm chăm cầu toàn thì sẽ bị cái cầu toàn làm cho khổ sở. Chẳng thà thản nhiên đối mặt với hiện thực, thế nào cũng xong.

Tuổi già tâm không già, thế là già mà không già; Tuổi không già tâm già, thế là không già mà già. Nhưng xử lý một vấn đề thì nên nghe già.

Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức. Ăn uống quá thanh đạm thì không đủ chất bổ; quá nhiều thịt cá thì không hấp thụ được. Quá nhàn rỗi thì buồn tẻ; quá ồn áo thì khó chịu…. Mọi thứ đều nên “vừa phải”.

Người ngu gây bệnh (hút thuốc, say rượu, tham ăn tham uống….)
Người dốt chờ bệnh (ốm đau mới đi khám chữa bệnh)
Người khôn phòng bệnh, chăm sóc bản thân, chăm sóc cuộc sống.
Khát mới uống, đói mới ăn, mệt mới nghỉ, thèm ngủ mới ngủ, ốm mới khám chữa bệnh…. Tất cả đều là muộn.

Chất lượng cuộc sống của người già cao hay thấp chủ yếu tùy thuộc vào cách tư duy, tư duy hướng lợi là bất cứ việc gì đều xét theo yếu tố có lợi, dùng tư duy hướng lợi để thiết kế cuộc sống tuổi già sẽ làm cho tuổi già đầy sức sống và sự tự tin, cuộc sống có hương vị; tư duy hướng hại là tư duy tiêu cực, sống qua ngày với tâm lý bi quan, sống như vậy sẽ chóng già chóng chết.

Chơi là một trong những nhu cầu cơ bản của tuổi già, hãy dùng trái tim con trẻ để tìm cho mình một trò chơi ưa thích nhất, trong khi chơi hãy thể nghiệm niềm vui chiến thắng, thua không cay, chơi là đùa. Về tâm và sinh lý, người già cũng cần kích thích và hưng phấn để tạo ra một tuần hoàn lành mạnh.

“Hoàn toàn khỏe mạnh”, đó là nói thân thể khỏe mạnh, tâm lý khỏe mạnh và đạo đức khỏe mạnh. Tâm lý khỏe mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao thiệp; đạo đức khỏe mạnh là có tình thương yêu, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung, người chăm làm điều thiện sẽ sống lâu.

Con người là con người xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong hoạt động xã hội, thể hiện giá trị của mình, đó là cuộc sống lành mạnh.
Cuộc sống tuổi già nên đa tầng đa nguyên, nhiều màu sắc, có một hai bạn tốt thì chua đủ, nên có cả một nhóm bạn già, tình bạn làm đẹp thêm cuộc sống tuổi già, làm cho cuộc sống của bạn nhiều hương vị, nhiều màu sắc.

Con người ta chịu đựng, hóa giải và xua tan nỗi đau đều chỉ có thể dựa vào chính mình.. Thời gian là vị thầy thuốc giỏi nhất. Quan trọng là khi đau buồn bạn chọn cách sống thế nào.

Tại sao khi về già người ta hay hoài cựu (hay nhớ chuyện xa xưa)? Đến những năm cuối đời, người ta đã đi đến cuối con đường sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói xa vời, đã đứng ở sân cuối, tâm linh cần trong lành, tinh thần cần thăng hoa, người ta muốn tim lại những tình cảm chân thành. Về lại chốn xưa, gặp lại người thân, cùng nhắc lại những ước mơ thuở nhỏ, cùng bạn học nhớ lại bao chuyện vui thời trai trẻ, có như vậy mới tìm lại được cảm giác của một thời đầy sức sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành là một niềm vui lớn của tuổi già
Nếu bạn đã cố hết sức mà vẫn không thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó! Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được, quả ngắt vội không bao giờ ngọt.

Sinh lão bệnh tử là quy luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình một dấu châm hết thật tròn.

Wednesday, May 13, 2009

CON ĐƯỜNG CHÚNG TA ĐI
* Đinh Lâm Thanh *

Khi bước chân xuống tàu vượt biên hay lên phi cơ đi tỵ nạn, thâm tâm mỗi người chúng ta ai cũng đều mơ ước ra xứ ngoài sẽ làm một điều gì cho đất nước, hay một ngày nào đó sẽ quay về cùng toàn dân giải phóng quê hương thoát khỏi chế độ cai trị độc tài đảng trị của Cộng sản. Ngày ký tên xin hưởng quy chế tỵ nạn, tất cả đã long trọng xác nhận rằng bản thân cũng như gia đình không thể quay về sống dưới chế độ Cộng sản. Như vậy những người bỏ nước ra đi đã xem Cộng sản là kẻ thù không đội trời chung thì giờ đây phải dứt khoát lập trường việc chống Cộng, lấy chính nghĩa tự do, nhân quyền và hạnh phúc của toàn dân Việt Nam để xác định con đường tranh đấu.

A. MỘT CUỘC TRANH ĐẤU CÓ CHÍNH NGHĨA :
Mục tiêu tranh đấu dứt khoát là tập đoàn Cộng sản phải bị tiêu diệt hoàn toàn. Không bắt tay hòa giải hòa hợp với kẻ thù và chọn con đường Tự Do để cứu dân tộc thoát khỏi xiềng xích mà chế độ Cộng sản đã bần cùng hóa, ngu muội hóa và nô lệ hóa dân chúng để cai trị gần 33 năm qua. Trời, Đất không thể gần nhau, thiên thần và ác quỷ không thể làm bạn, nước với lửa không thể kết hợp thì hai chế độ Tự Do và Cộng sản cũng không thể chung đụng, hợp tác, liên hệ hay bắt tay sống chung hòa bình. Giữa Quốc Gia và Cộng sản bắt buộc phải có một làn ranh dứt khoát rõ ràng. Mầm mống Cộng sản là một loại siêu-vi-khuẩn vô cùng nguy hiểm, một khi đã diệt thì bắt buộc phải giết tận gốc. Nếu khinh thường, chúng nó sẽ hồi sinh và quật phá trở lại mạnh mẽ gấp trăm nghìn lần như trường hợp chích ngừa chưa đủ dung lượng hay con bệnh truyền nhiễm chữa trị không đúng cách.

Hành trang của một người tranh đấu cần phải dứt khoát, xác định lập trường con đường đang đi. Một khi lý tưởng đã rõ ràng là phải đánh đổ bạo quyền Hà Nội thì hành động chống Cộng phải nhiệt tình và liên tục. Không lưng chừng hay quay chiều đổi hướng vì quyền lợi vật chất. Không mượn con đường chính trị để mưu cầu lợi ích vinh thân phì gia cho gia đình cá nhân hay phe nhóm, như vậy lý tưởng của chúng ta sẽ trở nên trong sáng, là ngọn nến, là ánh đuốc để thu phục người thân, bạn bè, đồng đội và những người chung quanh.

Hành động chống Cộng đòi hỏi phải rõ ràng, thiết thực và hiệu quả. Muốn vậy, cần phân định bạn, thù thật minh bạch, không thể lẫn lộn trắng đen, không thể nhập nhằng hòa giải hòa hợp để xây nền đắp móng giúp chế độ Cộng sản càng ngày càng vững chắc. Nếu vô tình hà hơi cho Cộng sản thì đây là một hình thức hợp thức hóa hành động tội ác cũng như của cải tài sản mà chúng đã bóc lột của người dân.

Cần ghi nhận, cuộc tranh đấu nào cũng gian nan vất vả, muốn đạt được thắng lợi, điều tất yếu, phải cam đảm, bền chí và sáng suốt nhắm thẳng mục đích, chọn con đường chính trực và lương thiện để tiến tới. Không thể lương lẹo theo đường tắt, móc ngoặc hoặc đi đêm với kẻ thù để tìm phương tiện, tiền bạc và mưu đồ quyền lực. Như vậy kẻ nào có hành động mờ ám chính là người đâm sau lưng cộng đồng người Việt Quốc Gia. Ngoài ra việc chống Cộng không phải độc quyền dành riêng cá nhân, đoàn thể hay một đảng phái nào mà chính là bổn phận của tất cả mọi người, vậy phải biết hổ trợ nhau, tạo thế mạnh và đồng loạt tiến tới. Trên cùng chuyến tuyến không thể thọc gậy bánh xe người bạn bên cạnh, xô ngã bạnđồng hành, bôi xấu chụp mũ đồng đội để chen lên hàng đầu, cướp công sức, tạo tiếng vang với âm mưu lập công cho cá nhân, gia đình và phe nhóm…

Việc chống Cộng là trách nhiệm của tất cả chúng ta, không thụ động, không tiêu cực mà cần chủ động trong giai đoạn quyết liệt nầy. Tùy môi trường, khả năng và hoàn cảnh của mỗi người để góp công chung sức. Được như vậy mỗi người trong chúng ta sẽ thắp lên một ngọn nến nhỏ, thì hàng vạn, hàng triệu ngọn nến sẽ soi sáng cả một bầu trời. Nhờ đó mà kẻ thù của chúng ta, thành phần cò mồi đón gió trong cộng đồng cũng như toàn thế giới sẽ thấy rõ con đường chính nghĩa của chúng ta đang đi.

Kính đề nghị tất cả nghiên cứu kỹ trước mỗi hành động để lúc ra tay khỏi rơi vào mê hồn trận của kẻ thù đang giăng ra. Thủ đoạn của Cộng sản bao giờ cũng nhập nhằng và tráo trở, chúng tung hỏa mù, đổi đen thành trắng để dụ dỗ, lôi kéo những ai hời hợt hấp tấp nghe theo. Tôi xin đơn cử một vấn đề nóng bỏng hiện nay là việc Trung Cộng chiếm hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa của chúng ta. Với tinh thần yêu nước cao độ, ai cũng đau lòng trước cảnh nước mất nhà tan, tất cả mọi người hải ngoại đã xuống đường ủng hộ các cuộc biểu tình tại quốc nội đồng thời lên án Cộng sản bán nước và Tàu Cộng xâm lăng. Cũng vì quá nhiệt tình, đôi lúc chúng ta đã vô ý đi đúng kế hoạch của Cộng sản tung ra. Chúng khôn khéo chuyển mũi dùi chống đối vào quân ngoại xâm Trung Cộng để khỏa lấp tội dâng đất dâng biển cho quan thầy bằng giấy trắng mực đen. Nhiều cộng đồng hải ngoại không biểu tình trước tòa đại sứ Việt Cộng để kết tội kẻ bán đất nhượng biển mà tập trung trước sứ quan Trung Cộng ! Không đập kẻ ký giấy bán nước, rước giặc vào nhà mà lại chú tâm đá đảo người mua đến nhận hàng !

Mục đích Cộng sản tung ra là muốn người Việt hải ngoại đồng loạt bắt tay với du sinh dưới cờ Đỏ Sao Vàng để kết án Trung Cộng chiếm đất…Từ chỗ nầy, chúng ta đã thấy hai điểm nhập nhằng có lợi cho Cộng sản : Khỏa lấp tội bán nước của chúng và chúng có cơ hội rêu rao rằng Cộng sản quốc nội và Tự Do hải ngoại bắt tay nhau để chống ngoại xâm trong tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc.

B. PHẢI LÀM GÌ TRONG HIỆN TẠI ?
Để góp ý vào việc tranh đấu, tôi xin đưa ra vài đề nghị : Con đường tranh đấu cần sự góp mặt tất cả các thành phần, hướng về một mục tiêu và bắt tay nâng đở nhau tạo sức mạnh để vượt qua những trở ngại. Nhưng không nên quên một điều tối cần cần thiết : Phân biệt bạn, thù và các thành phần nguy hiểm đang vây quanh chúng ta. Cổ nhân đã dạy ‘biết mình biết ta, trăm trận trăm thắng’ câu nói nầy có thể áp dụng vào trận chiến không giới tuyến của chúng ta hiện nay.

B1. Bạn đồng chí hướng : Bất luận cá nhân, đoàn thể, đảng phái nào cùng chung một lý tưởng, dứt khoát chống Cộng và quyết tâm đánh đổ đảng Cộng sản bằng mọi giá đều có thể xem là bạn đồng hành. Dù đường lối tổ chức, phương thức hành động có cách biệt nhau nhưng mục đích chính vẫn xem Cộng sản Việt Nam là kẻ thù cần phải tiêu diệt thì đó là bạn, người cùng hội cùng thuyền mà chúng ta phải phụ lực, nâng đở để cùng tiến tới mục đích. Đừng vì một vài dị biệt, đố kỵ cá nhân rồi mượn phương tiện truyền thông để bôi nhọ lẫn nhau, như vậy chúng ta đã vô tình rơi vào âm mưu đen tối của Cộng sản. Cũng xin đừng nên xét đoán đường lối hoạt động của từng đảng, từng hội đoàn để có một lối nhìn lệch lạc và làm suy yếu khí thế chung. Có thể đơn giản để nhận được ai là bạn qua những lần góp mặt dưới cờ, xuống đường tranh đấu. Ai đã dành thời gian công sức cho sinh hoạt chung dưới cờ Vàng Ba Sọc Đỏ thì có thể xem họ là người đồng hành, ít ra đã mang sẵn trong người một tinh thần cộng tác, một lý tưởng trong sáng.

B2. Kẻ thù : Đủ người đủ mặt đang vây quanh chúng ta. Trước hết phải nêu đích danh là chính tập đoàn lãnh đạo Việt Cộng trong nước, bọn hưởng quyền đặc miễn ngoại giao tại các sứ quán. Đây chính là kẻ thù rõ ràng, dễ nhận diện để người Việt Quốc Gia đối phó, tùy cơ ứng biến trong các hoàn cảnh và môi trường khác nhau.

B3. Thành phần nguy hiểm : Bạn và thù thì dễ nhận mặt nhưng khó xác định đối với thành phần lơ lửng một khi chúng chưa xuất đầu lộ diện. Tôi xin phép chia thành phần nầy làm năm nhóm, tính theo mực độ nguy hiểm từ trên xuống dưới : Nằm vùng, đối lập cuội, trở cờ đón gió, dính chàm và trí thức mất gốc.

B31. Nằm vùng : Thành phần nguy hiểm là những tên Cộng sản nằm vùng. Chúng được huấn luyện kỹ về tuyên truyền, giao tế, kiều vận, đặc công để len lỏi vào các đoàn thể đảng phái của chúng ta. Bình thường những tên nầy lúc nào cũng tỏ vẽ chống Cộng nhiệt tình, hăng say nhưng nếu tinh ý chúng ta sẽ thấy những cái sơ hở khi chúng giận dử bất mãn, lúc no say hay bốc đồng không kịp kềm chế như một số đã bị cộng đồng lột mặt nạ đưa ra ánh sánh. Chúng có mặt trong nhiều lãnh vực và ẩn mình len lỏi vào các cơ cấu tổ chức của người Việt Quốc Gia. Chúng nghiên cứu từ mục tiêu, tổ chức, đường lối, nhân sự, khả nàng tài chánh, môi trường và phạm vi hoạt động của từng cơ sở một để báo cáo cho các sứ quán và trung ương để nơi đây vạch ra cho chúng chương trình phá hoại. Các thành phần nầy không hẳn là những tên Cộng sản chính hiệu mà đa số là những người nằm vùng từ thời trước, ra nước ngoài xin tỵ nạn để tiếp tục phục vụ chế độ Cộng sản. Cần lưu ý nhiều tên còn ẩn danh một cách kín đáo, chưa bị các cộng đồng lật tẩy trong các đoàn thể, đảng phái và tôn giáo. Giai đoạn tranh đấu quyết liệt mà địch hành động qua nghị quyết 36 là Cộng sản chỉ thị cho các sứ quán đẩy mạnh chương trình phá rồi cộng đồng qua phương tiện tuyền thanh, truyền hình, báo chí cũng như kiều vận nhắm vào thành phần trẻ.

Một số đã bị lật tẩy như tên cựu thiếu tá quận trưởng ở San Diego, hoạt động giấu mặt ẩn danh từ hàng chục năm qua. Cũng gần đây nhiều cơ quan báo chí núp dưới những danh từ chống Cộng thật kêu nhưng bị lộ diện sau khi chúng phải ra mặt thi hành lệnh của sứ quán. Dù chúng thanh minh bào chữa cách nào cũng không thể qua mặt được cộng đồng người Việt Quốc gia vì cái kim nằm lâu trong túi cũng có ngày lòi ra.

Trong các tháng vừa rồi, nhiều cơ quan truyền thông đã vạch mặt chỉ tên nhiều sư Đỏ do Hà Nội bổ sung cho nhóm nằm vùng qua chương trình tu nghiệp, du học, thuyết pháp hoặc du lịch dài hạn… Những sư ông sư bà nầy được Cộng sản bố trí trong các chùa từ Mỹ, Âu qua Úc…Nhiều sư có đảng tịch, có vợ chính vợ chui với hàng triệu mỹ kim trong ngân hàng…

B32. Đối lập cuội : Nhiều người do Cộng sản huấn luyện để đóng vai đối lập rồi tung ra hải ngoại thi hành nhiều chiêu bài khác nhau. Tôi xin đưa ra vài khuôn mặt điển hình : Hoàng Minh Chính, Nguyễn Tiến Trung và Bùi Tín là những con rối do Cộng sản dàn dựng qua các lá bài đối lập mà Hà Nội đã gởi đi chiêu dụ người Việt hải ngoại :

Hoàng Minh Chính, sư tổ chủ nghĩa Marx-Lênin, đảng viên lãnh đạo đảng Cộng sản với lá bài một chính phủ hòa hợp ba thành phần. Hoàng Minh Chính qua Mỹ lén lút họp với đám cò mồi dưới danh nghĩa ‘Tiểu Diên Hồng’ mà trước đây trong một số bài viết tôi gọi là ‘kiềng ba chân’.

Du sinh Nguyễn Tiến Trung, còn trẻ, từ Pháp đi một vòng thế giới vận động một cách ồn ào và láo khoét với các cộng đồng qua chiêu bài ‘Nối Vòng Tay Lớn’, lập ‘kiến nghị van xin’ ân huệ với nhà cầm quyền Cộng sản !

Bùi Tín đảng viên gộc được phép bỏ đảng trở thành đối lập để tiếp tục công tác nằm vùng dưới vai trò một người tỵ nạn chính trị tại Pháp !.

Đến đây xin mở một dấu ngoặc, bất cứ ai, dù trước đây thuộc thành phấn nồng cốt của Cộng sản nhưng nay tỉnh ngộ quay trở với chúng ta là một điều may mắn cho vận nước. Nhưng điều kiện tiên quyết là phải đến với sự sám hối, lòng chân tình và quyết tâm hợp lực với chúng ta trong công cuộc tranh đấu cho công bằng tự do dân chủ. Đằng nầy, mấy tay Cộng sản gộc nhận lệnh ra ngoài hô hào chống Cộng sản, kêu gọi lật đổ chế độ một thời gian rồi trở về, vẫn nhà cao cửa rộng, vẫn lãnh tiền lương tháng, tiền hưu bổng và hưởng tất cả ân huệ của đảng. Lúc đau ốm lại được điều trị trong bệnh viện dành riêng cho lãnh tụ thì chỉ có những kẻ mù mới tôn sùng hạng người nầy như ngọn đuốc của phong trào tranh đấu !

B33. Trở cờ đón gió : Tiếp đến là thành phần chính trị có mồi, trở cờ theo gió, đổi trắng thay đen tùy theo tình hình thời thế. Một khi bỏ nước ra đi tỵ nạn, họ đã hiểu biết thế nào là Cộng sản nhưng vẫn cúi đầu làm nô lệ cho kẻ thù thì không thể tồn tại trong cộng đồng người Việt Qưốc Gia. Lý thuyết Cộng sản bây giờ không còn quyến rũ được ai nhưng một vấn đề vẫn làm cho con người mờ mắt, đó là Tiền. Một người vì tiền, và chỉ vì đồng tiền mà có thể đổi trắng thay đen như cắc kè kỳ nhông thì chúng có thể bán đứng cả cha mẹ vợ con là chuyện bình thường. Lý tưởng quốc gia, hạnh phúc dân chúng không đánh động được lương tâm và trái tim hạng người nầy vì họ là những khối thịt biết đi, cuộc đời vỏn vẹn chỉ có dollars, đôi đũa và chiếc giường ! Thành phần cò mồi đón gió chính là mục tiêu để Cộng sản áp dụng nghị quyết 36 qua chương trình kiều vận. Với hàng trăm triệu ngoại tệ chúng sẵn sàng nuôi dưỡng một số tay sai để thi hành kế hoạch đánh phá người Việt Quốc gia hải ngoại. Những chuyện đau lòng vừa xảy ra trong cộng đồng người Việt tại Mỹ đã chứng minh những điều tôi trình bày ở trên.

Người chống Cộng hăng say trước kia nay vì chiếc bánh vẽ của kẻ thù đã quay mặt phản bội chúng ta, trở về bưng bô cho địch như Nguyễn Cao Kỳ. Cao bồi nầy được Cộng sản huấn luyện hai năm tại Sàigon, trở về Mỹ kêu gọi hoà giải hòa hợp với chiêu bài ‘một chính phủ hai thành phần’ mà trước đây tôi gọi là ‘thế hai cẳng’. Dù một người chống Cộng ngày xưa nay quay về bưng bô cho kẻ thù hay tên mất nết Phạm Duy cũng như những tên ca sĩ tham tiền trở về giả lả tuyên bố vung vít để xin hát kiếm tiền độ nhật… đều là thành phần phản bội, bị đồng tiền làm mờ mắt thì không thể có mặt trong cộng đồng hải ngoại.

Hạng cò mồi đón gió trên không nguy hiểm bằng những ông bà trí thức đang sinh hoạt trong cộng đồng người Việt Quốc gia trên khắp thế giới. Họ có khả năng, có tiền và có môi trường hoạt động, nhưng tiếc thay họ dùng chất xám và vật chất để đầu tư cho một mưu đồ đen tối.

B34. Dính chàm : Nếu những vị trí thức hay sĩ quan, công chức chạy trốn Cộng sản sau ngày mất nước, hoặc nín thở qua sông sau nhiều năm tù tội dưới chế độ mới thì những người nầy chắc chắn đã nếm mùi Cộng sản. Với kiến thức sẵn có, lẽ ra họ còn chống Cộng hơn những thành phần khác nhưng tại sao lại âm thầm chống đối những người đang nổ lực tranh đấu cho nhân quyền tự do dân chủ Việt Nam ? Điều nầy cho phép cộng đồng người Quốc Gia nghĩ rằng một số ít quý vị đã ‘dính chàm’. Cộng sản nắm được một vài yếu điểm thầm kín nào đó để buộc những người nầy thi hành kế hoạch nằm trong nghị quyết 36. Trường hợp nầy thì hết thuốc chữa, một khi đã dính chàm thì không bao giờ rửa sạch vết dơ hay thoát khỏi những đòn thâm độc của Cộng sản.

Người đi tù hàng chục năm dưới chế độ Cộng sản trước kia chưa chắc là người chống Cộng ngày nay mà có thể họ đã dính chàm và nằm trong kế hoạch trồng người. Hãy đọc thật kỹ hồi ký của họ, trong đó bưng bít bằng nhiều cảnh tưởng tượng, viết sai sự thật, đánh bóng với những sự kiện nghịch lý mà những ai đã ở tù Cộng sản đều nhìn thấy rõ. Tôi đã đọc nhiều hồi ký cải tạo, có người tự cho mình là anh hùng, nhà lãnh tụ đã đứng từng lên chống Cộng sản, tổ chức chính phủ cứu nguy dân tộc ngay từ trong nhà tù !

Dưới ánh sáng mặt trời tất cả đều không có gì lạ. Có những anh tù cải tạo về, viết sách nói những chuyện không tưởng để rồi bị những bạn tù ngày trước tố cáo và chính ngòi bút vung vít đã đốt cháy họ thành tro. Thường những anh nào thường lớn tiếng chống đối chế độ ngay trong tù thì chính là ‘ăng ten’ hạng nặng trong các trại giam để được hưởng một vài quyền lợi vật chất nào đó.

B35. Trí thức mất gốc : Đối với một số trí thức hải ngoại thuộc thành phần du học trước năm 1975, chúng tôi xin nhấn mạnh một số ít, là thành phần cô chiêu cậu ấm con cái công chức cao cấp của hai nền Cộng Hòa trước đây. Muốn trốn lính thì con đường du học là giải pháp độc nhất để tránh trách nhiệm người trai thời chiến. Như vậy có thể gọi họ thuộc thành phần trốn quân dịch. Khi ra nước ngoài lại ăn phải bả Cộng sản, đứng vào hàng ngũ Việt Kiều Yêu Nước, quay ngược chống phá chế độ, phản bội những người đã nằm xuống. Những vị nầy đã được nuôi dưỡng đùm bọc bằng tài sản quốc gia, bằng mồ hôi nước mắt, bằng xương máu của nhân dân Miền Nam nhưng đã quay lưng trở lại chống chế độ và chống ngay cả cha ông của họ đang phục vụ dưới cờ Tự Do. Hình ảnh Cộng quân tiến chiếm Miền Nam gây đau thương chết chóc cho hàng chục triệu nhân mạng, bóc lột tận cùng xương tủy người dân, đem đất dâng cho quan thầy Trung Cộng, bán thanh niên nam nữ làm nô lệ, cung cấp gái điếm cho năm châu cũng chưa đủ cho họ sáng mắt hay những vị nầy đã ngậm phải bùa ngải của Cộng sản ? Nếu bây giờ những ông bà trí thức cò mồi vẫn thấy rằng chế động Đỏ là nôi của loài người, là đỉnh cao của nhân loại sao không về phục vụ Cộng sản như Tôn Nữ Thị Ninh mà còn sống bám vào Cộng Đồng người Việt hải ngoại ? Quan niệm chính trị là quyền tự do của mỗi người, nhưng trong cao trào tranh đấu dân chủ cho Việt Nam, nếu những người nầy không ủng hộ, không tham gia thì xin hãy im lặng đứng qua một bên để chúng tôi làm việc. Nếu lãnh tiền của địch để phá hoại thì xin hãy nghĩ lại, chính cộng đồng là môi trường đã đùm bọc và nuôi dưỡng để được vinh thân phì gia ở quê người.

C. TRẬN CHIẾN NGÀY HÔM NAY
Trận chiến ngày nay giữa hai ý thức hệ Quốc Gia và Cộng sản, đối với chúng ta, có thể nói đã nằm ngoài quy ước của một cuộc chiến tranh cổ điển. Hơn nữa chúng ta không có vũ khí, máy bay, tàu chiến, súng đạn để đánh thẳng vào hang ổ Cộng sản. Tây phương (Mỹ, Châu-Âu) không có xứ nào dại dột kéo quân đến kiếm chuyện giúp chúng ta, trừ khi Việt Nam nằm trên những mỏ dầu vĩ đại giống như các xứ Á-Rập thì các cường quốc Tây Phương mới nhảy vào gây chiến.

Đừng nghĩ đến việc người Việt Quốc Gia hải ngoại có thể trở về đánh đuổi Cộng sản giành lại đất nước mà động lực chính để triệt hạ Cộng sản Việt Nam chính là nổ lực từ bên trong.

Một cuộc cách mạng từ trong nước cũng không dễ dàng bùng nổ cùng một lúc mà phải qua ba giai đoạn. Từ thời kỳ mở đường đến giai đoạn quyết liệt và cuối cùng là giây phút dứt điểm. Thành phần mở đường của giai đoạn đầu là việc xuống đường từ Nam ra Bắc, từ thành thị đến thôn quê của thanh niên, sinh viên, công nhân, dân oan, Phật tử và giáo dân. Qua giai đoạn quyết liệt là sự góp mặt đứng dậy của toàn dân dưới sự lãnh đạo các đảng phái đối lập trong nước và giai đoạn cuối để dứt điểm, chính là do thành phần Cộng sản thực sự phản tỉnh từ trung ương đến địa phương cũng như lực lượng quân đội nhân dân bất mãn.

Phải thành thật nhìn nhận rằng Người Việt Quốc Gia hải ngoại chưa thực hiện hết khả năng của mình trong việc góp công, góp sức cho phong trào tranh đấu quốc nội. Chúng ta chưa có chương trình, kế hoạch cấp thời, ngắn cũng như dài hạn để giúp đở quốc nội. Nói riêng hải ngoại, cũng chưa có đường lối chống trả đòn phép do Cộng sản tung ra mà thường thấy những hành động chắp vá. Tình trạng nầy có thể ví như cảnh mất trâu mới làm chuồng hoặc nước lụt đến đâu thì đắp đê đến đó.

Mới đây một vài đoàn thể đã đem lại phấn khởi cho cộng đồng hải ngoại qua chủ trương chống nghị quyết 36. Nhưng phải thành thật mà nói kết quả chưa mang lại gì nhiều, vì các tổ chức nầy, ngoài vài văn bản kêu gọi vận động quần chúng cũng như vạch trần thủ đoạn âm mưu của nghị quyết, các tổ chức nầy chưa có kế hoạch thiết thực để chống lại những thủ đoạn của Cộng sản đang tung ra dưới nhiều lãnh vực. Kêu gọi, tố cáo suông chưa đủ mà cần những hành động thiết thực cấp thời, ngắn cũng như dài hạn.

Trong lúc Cộng đồng Người Việt Quốc Gia đánh Cộng sản theo lối ‘chạy theo’ thì Hà Nội đã và đang dồn tất cả nổ lực đánh phủ đầu và trực diện chúng ta một lượt về hai lãnh vực :
Tinh thần : Từ tuyên truyền, tôn giáo, truyền thông, giáo dục, văn hóa nghệ thuật đến việc phá rối, móc nối, cấy người, mua chuộc, chụp mũ, chia rẽ và hăm dọa.. Cộng sản không bỏ sót một lãnh vực nào. Những hành động dưới đây đã chứng minh những gì cộng đồng người Việt Quốc Gia đã gặp trong thời gian qua :

Tuyên Truyền : Một số báo mà thành phần chủ trương cũng như ban biên tập đều có liên hệ hay nằm trong tổ chức Cộng sản. Các đài phát thanh được thành lập bởi nguồn tài chánh từ Việt Nam hay các tổ chức kinh tài nằm vùng và do thành phần cò mồi đón gió đứng tên điều hành.

Tôn Giáo : Đảng viên Cộng sản đội lốt nhà sư xuất hiện trong chùa. Cha Cố qua Mỹ vắt sữa giáo dân. Nhà Phật không còn là nơi linh thiên thờ phượng mà biến thành ổ dung thân an toàn cho Cộng sản, chỗ kinh doanh của chế độ trong nước. Ngoài ra Cộng sản đở đầu thành lập những giáo hội Phật Giáo quốc doanh để mưu đồ thay thế giáo hội Phật Giáo chân chính. Cán bộ nằm vùng trở thành giáo dân và Phật tử, đóng vai cò mồi vét túi con chiên và thiện nam tín nữ. Những việc mua bán, quyên tiền một cách công khai trắng trợn trong các nơi thờ phượng vì những cò mồi của Sư, Cha đã biến Chùa, nhà thờ thành cái chợ. Bước chân vào chùa là phải chi tiền, không cúng dường thì phải đóng góp ủy lạo, giúp thiên tai nạn lụt, kẻ nghèo cùng bất hạnh hay phải mua lộc hoặc món ăn mang về để làm vui lòng các vị trụ trì. Sư Cha ngày nay, nhất là ở các xứ tự do, mặt mày thân mình không còn khắc khổ đạo hạnh như ngày trước mà ông nào cũng phì nộn với cái bụng nước lèo vì quá độ dinh dưỡng.

Truyền Thông : Cộng sản đặt nặng vấn đề truyền thông và đưa lên hàng đầu trong chương trình kiều vận của nghị quyết 36. Thế giới càng văn minh tiến bộ thì vai trò truyền thông ảnh hưởng càng lớn. Dân từ các đô thị đến những vùng thôn quê có thể nghe, đọc tin và xem hình của thế giới bằng một cái bấm nhẹ trên con chuột máy vi tính. Tại sao Cộng sản lợi dụng tối đa truyền thông ? Vì đây là phương tiện tuyên truyền đa dạng, lợi dụng để thông tin một chiều, gây hoang mang nghi ngờ, đánh phá đối phương bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần một vấn đề nào đó. Trong thời gian qua, nhiều sự việc xảy ra trên đất Mỹ đã chứng minh Cộng sản nhúng tay vào các cơ quan truyên thông của người tỵ nạn bằng cách xử dụng báo chí, truyền thanh nằm vùng để đánh phá cộng đồng dưới nhiều lãnh vực.

Giáo Dục : Già Hồ đã dạy cho đệ tử ‘trồng cây mười năm, trồng người trăm năm’, nhưng đứng trước tình thế cấp bách, bọn đàn em đã rút ngắn thời gian trồng người không còn thời gian trăm năm mà phải chủ trương ăn vội. Chúng phải xử dụng một số cò mồi non trong các trường trung-đại-học cũng như các tay nằm vùng chưa thông suốt bài bản để đáp ứng với tình thế mới. Do đó, những tay non nầy đã bị lộ chân tướng khi đối đầu với tập thể Cộng đồng. Nhưng vẫn còn một vấn đề rất quan trọng là Cộng sản đang đẩy mạnh các chương trình giáo dục mầm non cũng như giới trẻ hải ngoại. Chúng xử dụng ngoại tệ, gài người vào trong các công tác giáo dục trẻ em cũng như giới trẻ bằng nhiều hình thức, nổi bật nhất là chúng len lỏi vào các chương trình dạy tiếng Việt cũng như mua chuộc sinh viên tại các trường đại học.

Văn Hóa Nghệ Thuật : Một điều nhức nhối của cộng đồng người Việt hải ngoại, Việt Cộng đưa ra nước ngoài nhiều đoàn hát, trình diễn văn nghệ, phô trương áo dài và tuyển chọn hoa hậu với mục đích dùng các chương trình văn hóa để tuyên truyền ru ngủ và kêu gọi đồng bào về thăm quê hương, đem chất xám và tiền bạc phụng sự đất nước. Những hoạt động kiều vận phát xuất từ trong nước đã bị tẩy chay tại Úc, Âu sang đến Mỹ. Việt Cộng đổi ngay cách làm việc, dùng những tay cò mồi, ham tiền ở nước ngoài làm những công việc thay chúng. Một việc không tốn công tốn của mà còn đem lại nhiều thành quả tốt. Đó là những buổi trình diễn văn nghệ tưởng niệm vinh danh cũng như tạ ơn Cộng sản và những thành phần đối lập cuội, nằm vùng đã chết…

Kinh Tế : Lãnh vực thứ hai thật quan trọng nhưng người Việt Quốc Gia nước ngoài ít đặt nặng trọng tâm, đó là vấn đề kinh tài của địch. Việt Cộng khai thác triệt để, không chừa một khía cạnh nào để rút tiền của người Việt nước ngoài. Từ các lãnh vực nhỏ như thực phẩm, ăn ở, phục sức, những nhu cầu tinh thần qua sách báo phim ảnh, văn nghệ đến những chương trình rộng lớn như mua bán bất động sản, lập cơ sở đầu tư. Kết quả tất cả mồ hôi nước mắt của người tỵ nạn trước sau gì cũng chạy vào túi kẻ thù.

Có thể kết luận, Cộng sản đang lo sợ trước hai sức mạnh của cộng đồng người Việt tỵ nạn : Tinh thần đoàn kết và túi tiền của đồng bào nước ngoài. Vậy người Việt Quốc Gia đã có chương trình kế hoạch gì để đối phó ? Không thể ra vài thông cáo phản đối hay biểu tình dài hạn để chống đối hành động của thành phần nằm vùng ? Có can đảm cắt hẵn hồ bao hay vẫn tiếp tục làm giàu cho Cộng sản ? Có can đảm ngưng đổ tiền vào các tổ chức kinh tài, xử dụng bay Vietnam Airlines hoặc bơm tiền đầu tư về Việt Nam ?

D. NHỮNG VẤN ĐỀ NÊN LƯU TÂM :
D1. Ngồi lại với nhau : Đặt quyền lợi chung lên trên, hãy tạm quên cái tôi ích kỷ, cái quá khứ hão huyền ngày trước để ngồi lại với nhau. Có ngồi lại được trong tinh thần hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau thì mới hy vọng tạo được một sức mạnh. Cộng đồng chúng ta đã bị kẻ thù phân hóa, chia năm xẻ bảy để trở thành những nhóm tạp nhạp để rồi đánh phá, bôi nhọ lẫn nhau. Rốt cuộc không một đoàn thể, đảng phái nào còn thực lực và uy tín lãnh đạo. Một khi những tổ chức lớn không đoàn kết được với nhau thì khó kêu gọi dân chúng kết hợp thành một khối.

D2. Nuôi kẻ thù : Không một binh pháp nào cho phép vừa đánh địch vừa tiếp tế cho địch, nhưng đa số người Việt hải ngoại đều mắc phải lỗi lầm trầm trọng nầy. Xuống đường biểu tình chống đối Việt Cộng ngày trước thì ngay hôm sau lên máy bay Vietnam Airlines về Việt Nam chi tiền cho chúng. Đây cũng là một lối tranh đấu cuội. Một khi chấp nhận đứng vào hàng ngũ chống Cộng sản, tất cả chúng ta phải tự kềm chế hoặc hy sinh, không nhiều thì ít một một cái gì, một phần nào cho chương trình tranh đấu chung. Xin làm một bài tính, năm vừa qua Việt kiều gởi 6 tỷ ngoại tệ về Việt Nam một cách chính thức qua các ngân hàng. Đó chưa kể số gởi chui hoặc cầm tay về thì số tiền từ trên trời rơi vào tay đảng Cộng sản là một con số lớn. Nếu tính thêm các gia đình người Việt nước ngoài hằng ngày chi dùng mua sắm qua các cơ quan kinh tài chìm nổi của Hà Nội thì con số thu vào của địch là bao nhiêu ? Nếu thiếu số tiền khổng lồ nầy Việt Cộng sẽ chết không kịp trối !

D3. Cảnh giác : Đừng bị mắc lừa bởi chiêu bài hòa giải hòa hợp, phải dứt khoát loại bỏ hẳn Cộng sản ra ngoài. Chống là chống đến cùng, loại kẻ thù ra khỏi vòng chiến, không thể nhập nhằng ‘Van’ ‘Xin’. Nếu cúi đầu van xin Cộng sản thì chúng ta tự đặt mình vào thế yếu, quay lại bưng bô cho Cộng sản, không khác gì tiếp tục giúp Cộng sản duy trì con đường sắt máu để thống trị dân tộc Việt Nam.

Cộng sản với trăm mưu ngàn kế, gặp nhau vừa đưa tay ra bắt là tay mình đã ‘dính chàm’ không lý do nầy thì cũng chuyện khác. Nạn nhân không có lối thoát mà lẩn quẩn trong vòng kềm tỏa của Việt Cộng để phải thi hành những chỉ thị của chúng. Những bài học để đời vẫn còn đó, mấy ai đã bắt tay với chúng rồi được chúng thả cho đi một cách an toàn !

Một vị trí thức tại Mỹ đở đầu cho hai du sinh Việt Nam đã trả lời báo chí khi họ đặt câu hỏi hành động của ông có sai trật hay lầm lẫn gì không, thì vị nầy trả lời một câu thật gọn như sau ‘Giả sử ủng hộ có trật chút xíu hay lầm lẫn thì mình chẳng mất mát gì đâu” !!! Đúng là một câu nói của một ông bác sĩ làm chính trị ! Tôi nghĩ rằng ông bác sĩ nầy đã quên câu sau : Người làm thương mãi mà sai lầm, dù tính là cách gia đình, cũng bị sập tiệm. Người cầm quân ra trận sai lầm thì chỉ có việc thí quân. Người làm văn hóa sai lầm là giết chết một thế hệ còn nếu làm chính trị mà sai lầm thì đưa quốc gia dân tộc đến chỗ diệt vong.

D4. Lầm lẫn : Có người cho rằng phải trở về Việt Nam ứng cử, tham gia vào quốc hội để dùng lá phiếu của mình thay đổi chế độ. Cần có mặt trong quốc hội để soạn thảo hiến pháp...Không hiểu những người nầy nghĩ gì khi quyết tâm về Việt Nam ứng cử ? Đó chỉ là một trò bịp, lật lọng, biến trắng thành đen của Cộng sản Sau mỗi lần bầu cử, có được bao nhiêu người đối lập thật sự trong quốc hội ? Ví dụ có vài người được Cộng sản cho phép trúng cử vào đây thì cũng chỉ là con số vô nghĩa giữa đám đảng viên Cộng sản chiếm trên chín mươi phần trăm. Chắc chắn những người làm cảnh nầy sẽ được chiếu cố tận tình bằng kẽm gai, bằng tiền, bằng gái và bằng hứa hẹn. Trường hợp không mua chuộc được thì chúng vẫn còn trăm mưu ngàn kế như cho xe rơi xuống đèo, chết trong động mãi dâm hay bị báo chí vạch đời tư từ giòng họ nội ngoại cho đến con cháu. Làm luật đâu chưa thấy nhưng các đại biểu đối lập nầy sẽ trở thành những khối thịt ngồi im lãnh tiền và gật đầu ‘nhất trí’ còn nhanh hơn những tên cộng sản gộc nữa là đằng khác. Ai cho các ông có ý kiến, ai thèm nghe các ông nói, nếu bọn Cộng sản còn ngự trị trên đất nước Việt Nam, còn nắm quyền lực từ trong ra ngoài và từ trên xuống dưới. Trước đây một số trí thức nước ngoài có ý định hiến chất chất xám cho đất nước, đầu tư giúp công ăn việc làm cho dân nghèo đã hăm hở quay về Việt Nam. Họ được nhà nước tiếp đón trọng thể và sau đó một thời gian vắt xong tiền bạc và chất xám, nhà cầm quyền mời đến cho xem những đoạn phim ngắn quây trong khách sạn mà vai chính là những ông bà Việt kiều về đầu tư. Sau đó có nhiều ông bà trở ra lại nước ngoài và hoàn toàn im lặng không bao giờ dám hé răng ! Đáp ứng lời mời của Cộng sản trong một phạm vi nhỏ, các ông bà tự nguyện về đóng góp chất xám và tiền của cho Tổ Quốc mà đã bị gài bẫy thê thảm như vậy, huống gì các vị trở về để làm luật (!) thay đổi chế độ thì đúng là chuyện cóc ngồi đáy giếng, đội đá vá trời một khi chế độ Cộng sản vẫn còn đó.

D5. Không dựa hoàn toàn vào người Mỹ : Chúng ta cần sự ủng hộ tinh thần và vật chất nhưng không thể phải lệ thuộc toàn diện vào nước ngoài. Anh tư bản nào cũng giống nhau, giúp đở, bảo trợ, chỉ huy lúc đầu không ngoài mục đích sẽ khống chế và cai trị sau nầy. Mỹ là chim đầu đàn khối tự do, họ thường tự hào về bổn phận với đối với những ai cần đến, nhưng quyền lợi của nước Mỹ và dân tộc Mỹ vẫn là mục đích của hành động. Không ai bắt dân mình thắt lưng buộc bụng, móc hồ bao biếu không cho một dân tộc khác. Không chính phủ nào đem dân mình làm bia đở đạn bảo vệ cho một quốc gia nào đó mà không có dụng ý. Người Mỹ đã bảo vệ và nuôi dưỡng chúng ta gần 33 năm nay nhưng đừng quên họ đã hai lần phản bội đồng minh nhỏ bé chúng ta. Muốn đem quân vào Việt Nam thì giết Ngô Đình Diệm và khi muốn rút ra thì hạ bệ Nguyễn Văn Thiệu. Những người làm chính trị dựa hơi vào quyền lực Mỹ hãy lấy đây làm bài học để đời.

D6. Yểm trợ quốc nội : Không thể vác súng về chống Cộng như ngày trước mà vai trò của chúng ta là yểm trợ cả hai mặt, tinh thần lẫn vật chất. Vấn đề tinh thần thì tôi đã trình bày ở trên, duới đây xin đề cập đến việc yểm trợ vật chất bằng cách thiết lập một ‘quỹ tranh đấu’ theo pháp lý, ngôn chính danh thuận, việc tổ chức, điều hành, kinh tài phải do tổ một chức lớn, rành mạch, trong suốt như một đại công ty theo luật thương mãi của Mỹ. Quỹ nầy sẽ yểm trợ cho công cuộc tranh đấu tại quê nhà cũng như đài thọ giúp đở những gia đình gặp khó khăn trong quá trình tranh đấu. Cần nên tránh những hành động đánh bóng của cá nhân, đoàn thể, đảng phái. Trường hợp có người gởi tiền về giúp cá nhân người tranh đấu trong nước nhưng lại phổ biền rộng rãi và nhiều lần trên internet, việc nầy gây khó khăn cho những người thụ hưởng. Chỉ vài trăm bạc không đi đến đâu nhưng vì thói ham danh của người dốt làm chính trị mà hành động của họ trở thành con dao để kẻ thù giết hại những người tranh đấu trong nước !

E. CHUẨN BỊ GÌ CHO TƯƠNG LAI ?
Trước một vài biến cố như Mỹ ký hiệp thương trực tiếp với Việt Cộng, Mỹ mời ít người vào tòa Bạch Ốc nói chyện thì một số tự xưng là lãnh tụ hoặc vài đoàn thể đảng phái hiện thời đang nghĩ rằng thời cơ đã đến và cờ đang ở trong tay. Họ rầm rộ chuẩn bị một cuộc đổi đời, nhưng hành trang là cái gì để gầy dựng lại quê hương ? Gia tài Mẹ Việt Nam đã rách nát tang thương sau 60 năm cai trị bởi một nhóm người dốt nát và tham nhũng. Mai đây khi lấy lại quê hương, nếu không có chính nghĩa, lập trường và nhất là một chương trình hành động thì đất nước cũng rơi vào tình trang hổn độn và tồi tệ còn hơn dưới thời Cộng sản hiện tại.

Người làm chính trị mà lý tưởng lệch lạc, không có kế hoạch, không có sách lược thì chẳng khác gì một anh mù xem voi hoặc người đi biển không có địa bàn. Nếu vận nước nằm trong tay những người nầy, chắc chắn đất nước chúng ta lại rơi vào tình trạng bất ổn chính trị, kinh tế lủng đoạn và xã hội rối loạn như thời kỳ hậu đảo chánh, khi các tướng lãnh giết xong tổng thống Ngô Đình Diệm. Rồi nạn bè phái, móc nối chèn ép, tranh dành quyền lực, bôi nhọ đâm chém lẫn nhau, tham lam vơ vét chẳng khác gì tình trạng dưới chế độ Cộng sản bây giờ.

Chúng ta cần những người có thực lực, đủ khả năng và đức độ để xóa cũ làm lại từ đầu, hầu đổi đời cho tám chục triệu dân. Xét qua số lãnh tụ đang ra mặt ồn ào hiện giờ thì một số ít không có khả năng, thiếu tầm vóc, mất tư cách, tự vung vít đánh bóng và ngồi chờ lệnh của ‘nhà trắng’ thì họ cũng là những phường chèo chẳng làm nên tích sự gì.

Chúng ta đã có lý tưởng trong sáng và tinh thần tranh đấu nhiệt tình nhưng vẫn chưa đủ để đánh bại chế độ bạo quyền Công sản mà phải cần thêm hai yếu tố quan trọng :

E1. Một kế hoạch cấp thời để cùng đồng bào trong nước đứng dậy đánh đổ bạo quyền Cộng sản và một chương trình trung hạn để tái thiết sau khi kết thúc trận chiến. Phần nầy xin đề nghị những nhà chính trị, nhân sĩ học cao hiểu rộng, những người làm luật cũng như kinh tế để ý đóng góp với những tổ chức tranh đấu có thực lực, quy mô và uy tín.

E2. Một ngọn đuốc soi sáng con đường đang đi. Đó là thuyết Dân Tộc Sinh Tồn. Những điều cần thiết tôi trình bày ở phần trên có thể tìm thấy trong chủ thuyết Dân Tộc Sinh Tồn của nhà Cách Mạng Trương Tử Anh. Một bộ sách gối đầu giường của những người đang tranh đấu cho Tự Do Dân Chủ Việt Nam. Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn là một hệ thống tư tưởng về triết học và chính trị do nhà cách mạng Trương Tử Anh công bố ngày 10.2.1938. Nhân dân Việt Nam phải tự hào về một chủ thuyết dân tộc do người Việt Nam đề xuất, vì quyền lợi của nhân dân và tổ quốc Việt Nam. Ở ngưỡng cửa thế kỷ 21 nầy, vào lúc chủ nghĩa ngoại lai Cộng sản đã phá sản nhưng vẫn còn ngoan cố, chủ nghĩa tư bản trong thời kỳ quá khích lại nhân danh tự do gây xáo trộn trật tự xã hội thì Dân Tộc Sinh Tồn phải chiếm lĩnh vị trí ý thức hệ chỉ đạo để hồi phục đất nước trên mọi lãnh vực, nhất là xây dựng lại niềm tự hào dân tộc và dân chủ tự do.

Dân tộc Việt Nam mang giòng máu bất khuất trong người, đầu óc thông minh sáng tạo với những đức tính cần cù nhẫn nại. Nhưng tiếc thay, một ngàn năm bị Tàu đô hộ, một trăm năm Tây xâm chiếm và sáu mươi năm quằn quại dưới ách thống trị của Cộng sản, trong đó hai hơn mươi năm Hà Nội đã gây ra biết bao tội ác chiến tranh, hủy hoại từ nhân lực cho đến tài sản để đưa đất nước đi vào con đường chậm tiến, lạc hậu bần cùng đói rách và phụ thuộc vào khối Cộng quốc tế.

Kinh tế Việt Nam trông hào nhoáng bên ngoài nhưng thực chất là giả tạo, văn hóa đỏ phát triển tăng theo hướng suy đồi trụy lạc. Mai đây con cháu chúng ta phải gánh lấy tất cả hậu quả do tập đoàn Cộng sản vừa dốt nát vừa tham nhũng để lại.
Đáng lý với 80 triệu dân chúng ta đã là một cường quốc về quân sự lẫn kinh tế tại Châu Á sau gần 33 năm ngưng tiếng súng. Nhưng Cộng sản đã làm được gì hay chỉ biết dùng súng đạn bảo vệ quyền lực để vơ vét cho bè đảng, bản thân và gia đình. Một mai đất nước quay trở lại chế độ tự do thì gia tài của Mẹ chỉ là một đống rác với nợ nần chồng chất. Lãnh đạo đất nước sau thời hậu chiến là gánh một trách nhiệm cựu kỳ quan trọng. Chúng tôi chưa nghe một ‘Chính Phủ Lưu Vong’, ‘Chính phủ Tỵ Nạn’, ‘Một Chính Phủ Lâm Thời’ một đảng phái, đoàn thể hay cá nhân nào chuẩn bị một chương trình thiết thực để đối đầu với tình trạng đất nước sau thời hậu chiến mà chỉ nghe những sáo ngữ rập theo sách vở thoát ra từ miệng của những nhân vật mang nhiều tiếng xấu !

Trước khi kết thúc buổi nói chuyện hôm nay, tôi xin quý vị ghi nhận bài tham luận ‘Con Đường Chúng Ta Đi’ không phải là một đề tài để khuyên nhủ hay nhắn gởi đến ai. Đây chỉ là những ý nghĩ thô sơ của một người tranh đấu để tâm tình với những người tranh đấu dưới một lá cờ.

Paris,
Vào Thu 2007

Blog Archive