Friday, September 3, 2021

BÍ ẨN MỘT CHUYỆN TÌNH

Tôi có thằng bạn nối khố. Nối khố đúng nghĩa, thân nhau từ nhỏ đến lớn. Cho đến bây giờ đầu hai thứ tóc mà vẫn mầy tao. Dĩ nhiên tôi phải gọi vợ hắn bằng chị một cách lễ phép. Chúng tôi sinh ra, lớn lên ở thành phố Hội An. Ðó là một thành phố cổ mà ai cũng biết. Cả mấy trăm năm mà hầu như ít có người sửa lại ngôi nhà của mình. Họ bảo thủ cũng có nhưng sửa để làm gì? Con cái lớn lên, đứa nào cũng tìm cách bay nhảy ra khỏi thành phố, vả lại nhà có hư, dột gì đâu? Nhà xưa, tường xây mấy lớp gạch dày, ngói lợp âm dương, sườn nhà bằng gỗ tốt, mấy cây cột nhà to tướng bằng gỗ lim, gõ...mối, mọt gặm gãy răng không ra. Có điều bất tiện là nhà nhiều cột quá. Tôi nhớ lúc nhỏ, khuya dậy đi tiểu, mắt nhắm mắt mở, hai tay quờ quạng phía trước, vậy mà cứ đập trán vô cột nhà hoài. 

Còn đường phố ở Hội An, ngay cả đường phố chính cũng chỉ rộng hơn đường hẻm ở Sài Gòn chút đỉnh, nghĩa là vừa cho chiếc xe hơi chạy một chiều. Có lẽ ngày xưa, cách đây khoảng bốn, năm trăm năm, người ta làm đường đủ cho hai chiếc xe ngựa tránh nhau mà thôi. Sau nầy, các con đường được mở tối đa, lấn đến sát thềm nhà, đến độ, bước ra khỏi cửa là đặt chân xuống lòng đường, khiến cho Hội An trông rất đặc biệt, như không có đường phố lớn và mọi nhà đều xây mặt ra hẻm. Hội An giống một cái túi, ra vào chỉ một con đường đi Vĩnh Ðiện, nối với Quốc lộ 1, cho nên con người ở đó loay hoay với nhau như trong tổ mối. Họ thân thiết nhau đến độ biết rõ gia phả mấy đời trước của nhau.

Tôi xin dài dòng, linh tinh một chút về bạn tôi. Bạn tôi tên Công, trong lớp, ngồi gần tôi vì cùng vần C. Nhớ năm đó có cô Lê thị Tường Loan, giáo sư Anh văn, mới ra trường. Cô Tường Loan trẻ và đẹp lắm. Mỗi khi cô vào lớp là bọn đệ tử chúng tôi ngồi ngắm cô sa đà, quên cả trời trăng. Cô đã đẹp còn diện hết sẩy, mỗi ngày một áo dài khác nhau. Bọn con gái còn đếm được cô có mấy chục áo dài tất cả, mà cô thì cứ may áo mới hoài. Mùa đông, hơi lạnh một tí là cô diện áo ấm vào, trông như nữ minh tinh Hồng Kông. Cô mới ra trường, chỉ hơn bọn đệ tử năm, bảy tuổi nên chúng tôi xem như cùng trang lứa, tuy kính nể nhưng cũng thích chọc ghẹo cô. Thế nên, hễ nghe cô gọi đến tên Công lên trả bài, làm gì cả lớp cũng nhao nhao “Công ngủ rồi, cô!” Cô ngạc nghiên hỏi hắn “Sao trong lớp anh lại ngủ?” Hắn ú ớ “Dạ, mấy bạn chọc em đó cô” Ðúng là cô giáo mới ra trường, ngây thơ chi lạ! Nhưng sau cô cũng hiểu. Lần sau, cô gọi hắn, đứa nào nói “Công ngủ rồi ạ!” là cô làm nghiêm, mặt đỏ lên, và cô hành cái thằng dại miệng đó chết xác luôn. Nhưng khổ nổi, hễ cô mà gọi đến tên Công là bao nhiêu cái miệng ngứa ngáy. Sau mới nghĩ cách khác, chúng mách cô “Công còn thức, cô!” Lần nầy các cậu cũng vẫn bị phạt mà cứ ngơ ngác không hiểu vì sao?! Kể ra, để thấy rằng, Công, bạn tôi chẳng có giá trị gì cả.

Chuyện tôi và hắn thời tiểu học thì cho qua đi, lên trung học, khoảng đệ tứ, đệ tam tâm hồn mới có vấn đề, nghĩa là tập tểnh đi tìm người đẹp để dâng quả tim. Thời đó, khoảng thập niên sáu mươi, tôi nhớ, Hội An có nhiều người đẹp. Cô Hà thị Tuyết ở gần chợ đẹp ngây thơ, hiền hậu, cô “Liên chuột bạch” đường Nguyễn thái Học rất dễ thương. Cô Lý tuyết Ánh đã đẹp mà hát bài “Mai Quế” nhạc tàu, hay lắm. Cô Tuyết Trinh nhà ở tiệm ảnh Huỳnh Sỏ hát bài “Tôi vẫn yêu hoa màu tím” còn hay hơn ca sĩ Lệ Thanh. Còn một cô nữa, rất đẹp mà hát cũng hay, không thể nói tên ở đây vì là nhân vật chính trong chuyện tôi sắp kể. Tôi xin tạm gọi là cô An. 

Bạn tôi “si” cô nầy như là một thứ bịnh tâm thần. Càng yêu, hắn như càng mất tinh thần trước cô. Mới thấy người đẹp đằng xa là chân tay cứ run lên, thở không ra hơi. Bạn tôi xấu trai. Dân thành thị mà đen thùi, mặt hắn chành bành như mặt ông địa múa lân, chân tay cục mịch, khi đi cứ bước thình thịch xuống mặt đường như trâu dậm. Ngữ hắn thì hy vọng gì trước cô An, đẹp như tiên, học giỏi, hát hay. Hắn thua sút các bạn cùng tuổi, chỉ có tâm hồn thì hơi lãng mạn. Hắn làm thơ. Làm thơ ca tụng em An. Thơ hắn thường thấy xuất hiện trên báo, báo ở Sài Gòn đàng hoàng. Hắn xứng đáng được gọi là “nhà thơ”, nhưng chút danh vọng đó cũng chẳng giúp hắn được cô An tỏ cử chỉ gì ưu ái hơn các bạn khác.

Vì yêu em hắn đã làm một chuyện lạ đời. Xưa nay chỉ có hắn là đến nhà thờ cầu Chúa rồi đến chùa lạy Phật cầu xin cho em yêu hắn. Hắn chỉ khấn có một câu “Lạy Phật (hoặc) lạy Chúa cho em An yêu con!”. Chỉ riêng tôi hắn mới nói sự bí mật đó. Hắn bảo rằng với lòng thành của hắn, Phật, Chúa ắt động tâm vì các đấng đã chẳng dạy chúng sinh phải yêu thương nhau là gì? Tôi không nói ra nhưng nghĩ rằng, các đấng ấy hơi đâu lo chuyện tào lao. Giúp đỡ, an ủi lũ chúng sinh bất hạnh mà thế gian vẫn chưa hết đau khổ, thì giờ đâu mà lo cho hắn?! Ấy vậy mà phép lạ xảy ra mới kỳ. 

Hắn được người đẹp nắm tay dẫn đi rồi còn nhảy tót vào ngồi trong vòng tay hắn và ôm hắn nữa. Nguyên nhân như thế nầy. Hè năm đó trường Trần Quí Cáp tổ chức đi chơi Ngũ Hành Sơn, đi, về trong ngày. Ngũ Hành Sơn, còn gọi là Non Nước, cách Hội An độ vài mươi cây số, ở ngoại ô thành phố Ðà Nẵng, gồm năm ngọn núi đá nhỏ, có một số hang động, có chùa chiền, có đường lên trời, đường xuống biển. Lúc bấy giờ có một hang động mới vừa tìm thấy, nên ai cũng tò mò muốn xem. Sáng hôm đó, xe đỗ học sinh trước động mới. Các thầy cô sắp xếp học sinh đi vào động. Con gái đi riêng, con trai đi riêng. Khi vào, đèn đuốc được thắp sáng lên, tất cả lần lượt đi rất trật tự. Nhưng vào bên trong thì vì chỗ nào cũng có những hình tượng kỳ lạ, nên lũ học trò trầm trồ, đi linh tinh, gọi nhau ơi ới, chẳng còn hàng lối gì cả. Bạn tôi nhân lúc lộn xộn, lẻn chen vào toán con gái, hắn đi theo người đẹp. Trong động thiếu ánh sáng, đèn đuốc chập chờn. Ai cũng lo ngắm nghía mấy cái thạch nhủ. Ða số các cô mắt cứ nghiêng ngó chung quanh, tay thì nắm tay bạn cho khỏi lạc. Một lần, cô An, người đẹp của hắn, mắt nhìn lên nóc động, tay quờ quạng phía sau để nắm tay bạn, gái, dĩ nhiên. Hắn đứng sau, lẳng lặng đưa tay ra, thế là người đẹp vô tình cứ nắm lấy tay hắn lôi đi. Chỉ mình tôi theo dõi chuyện đó. Tôi thấy lúc nắm tay hắn, cô hơi khựng lại. Hú vía! cô không quay nhìn hắn. Hắn để cho cô dẫn đi cả buổi mới rút tay lại và quay về toán con trai. Tôi hỏi hắn sao không tiếp tục, hắn bảo sợ người đẹp phát giác, vả lại có cô thầy đứng gần đó. 

Ðàn ông con trai, già trẻ gì cũng giống nhau, yêu ai, nhất là yêu thầm, coi người đó như thần tượng, rất tôn quí, rất cao xa. Như bạn tôi yêu cô An, bỗng dưng được người đẹp nắm tay, thử hỏi có thứ hạnh phúc nào sánh bằng? Hắn mừng lắm, khoe với tôi rằng tay em dịu dàng, mát rượi. Rồi hắn cứ hôn mãi bàn tay (của hắn) đã được em nắm dẫn đi. Khi ra khỏi động, mọi người ngồi rải rác để thở vì ngộp và nóng. Thấy cô An ngồi hơi xa các bạn trên một tảng đá, hắn làm như vô tình đến ngồi bên cạnh.

Thực ra học sinh, trai gái ngồi cạnh nhau là bình thường, nhưng với hắn, được ngồi bên em là một biến cố lớn. Hắn muốn gợi chuyện nhưng cứ đực ra, không dám mở miệng. Bỗng hắn thấy một con sâu róm đang bò đến gần tay người đẹp, hắn bảo.

-Có con sâu...

Cô An quay lại hỏi hắn. -Công nói gì?

Vừa lúc con sâu bắt đầu bò lên ngón tay của cô, hắn chỉ con sâu và bảo.

-Con sâu kìa!.

Cô nhìn thấy và hét lên một tiếng khủng khiếp, mặt xanh lè, nhào ngay vào lòng hắn, một tay ôm hắn, tay kia cứ đưa ra ngoài, vẫy lia lịa. Ðúng là tiếng kêu “vang dội núi rừng”, khiến mọi người giật mình quay nhìn. Hắn ngớ người ra, chưa kịp “enjoy” cái hạnh phúc bất ngờ thì người đẹp đã bỏ chạy đến với các bạn gái. Thế là hắn hoàn toàn mất hồn, miệng cứ lẩm bẩm với tôi.

- Chắc tao chết mất! Ðội ơn Phật, đội ơn Chúa!

Từ đó hắn rất siêng đi ngang qua nhà người đẹp, đôi khi cũng có gặp nhau, em cũng chào hỏi, chuyện trò vớ vẫn với hắn như một người bạn bình thường. Ấy vậy mà hắn lại thơ mộng hóa những lần gặp gỡ đó trong những vần thơ của hắn, tưởng như người đẹp cũng có yêu hắn một cách thầm kín. Thi tú tài hai xong, bọn tôi rủ nhau thi vào trường Hành Chánh. Sau bốn năm đèn sách, thi tốt nghiệp, hai đứa tôi học dỡ quá, ít điểm, nên khi chọn nhiệm sở, mấy chỗ ngon lành, bọn học giỏi chiếm cả, chỉ còn mấy tỉnh khói lửa mịt mù như Phước Long, Quảng Trị, Pleiku, Kontum...Hắn rủ tôi về Quảng Trị, có lẽ để dễ về Hội An thăm người đẹp.

Về Quảng Trị, mỗi đứa lãnh một chức phó quận ở miền quê, nhưng chiều nào cũng về nhà trọ ở thành phố Quảng Trị. Cơm hàng cháo chợ xong, hai đứa về nằm nói chuyện khào. Ðề tài hắn nói hoài không chán là chuyện em An, nhất là mỗi khi về thăm em, hắn kể say sưa em đẹp ra sao, chuyện trò những gì với hắn. Tôi khuyến khích hắn tỏ tình, hắn bảo.

-Tao khớp quá! Chỉ sợ em nói “Anh hiểu lầm sự tử tế của An rồi” là tao hết hy vọng. Vả lại...

Hắn không nói tiếp nhưng tôi biết hắn mặc cảm xấu trai, nên giải thích.

- Thời chiến tranh, hành chánh dù sao cũng đỡ hơn nhà binh, mầy không tiến tới, em lấy chồng, mầy chổng mỏ la trời.

Hắn nghe trúng ý nên hăng hái.

- Tuần sau, tao về nói đại, xem sao?

Tuần sau, hắn về Hội An, khi trở ra, tôi hỏi hắn.

- Kết quả ra sao?

Hắn làm thinh. Hỏi mãi, hắn mới bảo.

- Tao về, nghe người ta đồn rằng có một tên bác sĩ đang nhờ người mai mối.

- Em chịu không?

- Tao không biết, nhưng so với hắn, tao lép vế rõ ràng! Thế nên tao không ghé vào thăm em nữa.

Khuya đó, tôi thức giấc, thấy hắn ngồi đốt thơ. Ðúng là hình ảnh “chàng thi sĩ thất tình đốt thơ” Trầm tư, lặng lẽ, đau khổ âm thầm...trong ánh lửa bập bùng, khi tỏ, khi mờ của những bài thơ đang đi vào khói mây của dĩ vãng! Từ đó hắn biếng ăn, nhác uống, thân thể ốm o, mặt hắn đang tròn lại dài ra, hai má tóp lại, trông càng quái dị. Nhưng rồi một lần, tôi về Hội An thăm gia đình, khi ra Quảng Trị, tôi báo cho hắn một tin đáng cho hắn tiếp tục nuôi hy vọng. Em từ chối lời cầu hôn của anh chàng bác sĩ nọ. Hắn lý luận.

- Có lẽ em yêu một tên nào rồi, chứ không phải tao.

Tôi khuyến khích hắn.

- Dân hành chánh có cái phong thái riêng, vừa có vẻ ngạo mạn, tự tin lại vừa thanh cao, lãng mạn như một thư sinh.

Hắn coi bộ lên tinh thần, nhưng còn mặc cảm xấu trai.

- Tao chẳng thấy tao khác ở chỗ nào, e còn tệ hơn.

Tôi lại phải tái khẳng định.

- Mấy bài thơ trên báo đủ làm tim em rung động và yêu mầy. Mầy phải tự tin mà nhào vô kẻo trễ.

Lần nầy thì hắn cương quyết.

- Ðược, tao sẽ làm như mầy nói, nhưng để thong thả, tao phải lạy Phật, cầu Chúa... để lấy can đảm.

Sau cái tin vui đó, hắn ăn uống bình thường trở lại. Mặt hắn lại tròn, giống mặt cô Thúy Vân, em gái Thúy Kiều, trông không đến nỗi, và hắn lại tiếp tục chương trình ngày rằm, mồng một đi chùa, chủ nhật đi nhà thơ, trên cổ, hắn đeo sợi dây chuyền có tượng Phật và tượng Chúa Giê Su. Có lẽ cứ bị làm rộn hoài và cũng vì tội nghiệp hắn nên các Ngài (Chúa và Phật) định đem hồ sơ của hắn ra cứu xét thì vừa lúc Miền Nam sập tiệm. Quan lớn, quan nhỏ đi tù cả nút, dĩ nhiên tôi và hắn, cũng vô tù. Sau khi ra tù, tôi ở lì tại Sài Gòn, hắn thì về Hội An có lẽ để được gần người đẹp. Một lần về Hội An thăm nhà, tôi gặp hắn hành nghề chạy xe thồ, nghĩa là cứ ra bến xe Hội An đón khách với chiếc xe đạp, ai đi đâu thì hắn chở phía yên sau, kiếm tí tiền còm. Chẳng thấy hắn mặc cảm gì cả, gặp ai cũng cười hề hề. Lâu quá mới gặp, chúng tôi mừng rỡ kéo nhau vào quán nước trò chuyện. Tôi hỏi.

- Mầy còn siêng đi nhà thờ, đi chùa không?

Ý tôi muốn hỏi còn yêu cô An không? Hắn trả lời.

- Vẫn đi đều đều!

- Em bây giờ ra sao, ở đâu?

- Em vẫn ở đây. Bây giờ khá lắm. Ông bố với thằng em vượt biên, ở Mỹ, gởi hàng về, sống phây phả.

Kể ra có một người đẹp để tôn thờ cũng là một thú vui thanh tao, đâu cần được đáp lại, miễn người đẹp biết nhưng không tỏ vẻ khó chịu là tốt rồi. Trước kia hắn lép vế vì xấu trai, nay hắn tụt xuống hạng cùng đinh, thì dù hắn có lạy đến sói trán trước đức Phật hay quì mòn đầu gối trong nhà thờ cũng chẳng hy vọng gì. Theo chuyện cổ tích, sau khi gặp Mỵ Nương, Trương Chi tiếp tục hát đến khan cổ mà người đẹp không thèm nghe, nay hắn cũng vậy, những bài thơ tình trên báo của hắn trước đây cũng tương tự tiếng hát vô vọng của anh Trương Chi, chẳng có tác dụng gì. Ôi, thơ với thẩn! Thực tế vẫn tàn nhẫn, vẫn phủ phàng. Hai cậu (hắn và Trương Chi) chăng có nghề ngỗng gì ra hồn, làm không đủ bỏ mồm, lấy gì nuôi vợ con nên hai nàng làm lơ cũng đúng thôi. Thế mà, lúc còn ở Sài Gòn, bỗng nhiên tôi được tin hắn cưới cô An làm vợ?! Tôi nêu giả thuyết, cô bị xe tung sứt tay, gãy gọng, bị hỏa hoạn cháy nám mặt mày hoặc cô linh tinh với ai lỡ mang bầu cần hắn đứng ra “nôm” thì tôi nghĩ hắn vẫn lời chán. Hắn có gì để trao đổi với cô An đâu?! Tôi nhớ rõ, chuyện hắn cưới cô An xảy ra trước tin đồn bọn tù cải tạo sẽ được đi Mỹ nên lý do cô thích đi Mỹ mà ưng hắn cũng không đúng.

Hôm đến sở di trú làm giấy tờ, phỏng vấn, vợ chồng tôi gặp vợ chồng hắn. Thấy cái lối săn sóc chồng đến độ âu yếm của vợ hắn, tôi nghĩ, cô An si mê hắn nhiều hơn là hắn si mê cô ta. Hắn có hai đứa con nhưng tôi vẫn hỏi.

- Ðứa nào là con của mầy?

Ý muốn biết cô An có con riêng không?

- Hai đứa nầy đây.

Cha con hắn giống nhau như khuôn đúc, cô An cũng vẫn đẹp như trước đây.

Ðến Mỹ, chúng tôi tuy ở khác tiểu bang, nhưng vẫn thường gọi nhau thăm hỏi. Rồi hắn bảo tôi qua tiểu bang hắn chơi ít hôm, tôi đồng ý. Thăm hắn cũng có nhưng mục đích chính là hỏi cho ra cái lý do hắn được cô An lấy làm chồng. Vợ chồng hắn ra đón chúng tôi tại phi trường. Về nhà đã có sẵn một bàn đồ nhậu. Khi đã ngà ngà say, tôi hỏi.

-Hai ông bà kể cho tụi nầy nghe cái nguyên nhân đưa đẩy hai người đi đến “sống chung hòa bình” Chị An nói cho tụi nầy biết. Thằng bạn tôi đây, ở tù về, chẳng ai dám giao thiệp, vậy mà chị lại chọn hắn ta, là cớ làm sao?

Vợ hắn mới kể.

- Bà cụ (tức mẹ của cô An, vợ hắn) bị bịnh ung thư. Khi phát giác ra thì đã quá trễ. Bịnh ung thư của đàn bà, đến thời kỳ trầm trọng thì có mùi hôi khó chịu, chẳng nhờ được ai phụ giúp cả. Gia đình chỉ có mình tôi, mà bà cụ thì cứ rên la suốt ngày đêm, chỉ vài tháng là tôi đã kiệt sức, e chết trước bà cụ mất! Cũng may, gặp ổng. Ổng xung phong đến thức đêm canh chừng bà cụ, tôi mới ngủ được chút đỉnh. Bà cụ thấy ổng tận tâm, không hề tỏ vẻ khó chịu nên bà cụ cảm động, trước khi mất, bắt hai đứa tôi làm lễ thành hôn, coi như cưới chạy tang. Nói là đám cưới chứ thực ra chỉ có lễ vật sơ sài, nhang đèn rồi lạy cáo tổ tiên, ông bà trước sự chứng giám của bà cụ mà thôi.

Vợ tôi nửa đùa nửa thật.

- Dám anh chị tò tí nhau, bà cụ bắt gặp, coi như ván đã đóng thuyền, thì cho “Thuyền ra cửa biển” luôn, phải không?

Bạn tôi đính chính.

- Lúc đó tôi coi bả như thiên thần, chéo áo cũng không dám động đến, mỗi ngày được gặp mặt người đẹp, lại được chuyện trò, tôi đã sướng mê rồi, còn ao ước gì hơn. Ngay sau buổi lễ gọi là đám cưới, tôi cứ nghĩ, bà cụ bắt buộc thì “nàng” phải vâng lời cho bà cụ vui lòng nhắm mắt, sau đó sẽ có màn cám ơn rồi đường ai nấy đi.

Vợ hắn thêm vào.

- Bấy giờ tôi chỉ còn bộ xương, đi không nổi, bà cụ thì rên la ngày đêm, tâm trí đâu nghĩ đến ba cái chuyện kỳ cục!

Tôi hỏi.

- Nguyên nhân nào đưa đến chuyện ông đến được với bà?

Vợ hắn nói.

- Bữa đó tôi lên Vĩnh Ðiện bổ mấy thang thuốc nam cho bà cụ, đến bến xe Hội An thì được ổng thồ về, đến nhà, vừa bước vô cửa, tôi xỉu vì mệt quá, ổng đỡ vô nhà. Thấy tình cảnh tôi, ổng xung phong đến săn sóc bà cụ về ban đêm để tôi có thể ngủ được chút ít. Bà cụ cảm động vì ngay cả đến người mình trả tiền công hậu hỉ mà cũng rút lui thì phải biết ổng chịu đựng giỏi đến bực nào!

- Ðồng ý là bà cụ cảm động, chị An cũng nhớ ơn đã chịu khó thức đêm, nhưng tôi thấy không phải là lý do để chị yêu thằng bạn tôi. Nhất là cái lối hai anh chị quấn quít nhau như tụi tôi thấy thì phải có tình yêu thắm thiết. Thằng bạn tôi trồng cây si chị từ lâu thì chẳng nói làm gì, còn chị, sao lại có thể như thế được?!

Cả hai vợ chồng chỉ cười chứ không trả lời. Hôm sau, buổi sáng, nhân hai người đàn bà rủ nhau đi chợ, chỉ còn mình tôi với thằng bạn, tôi hỏi bí quyết nào khiến hắn chịu đựng mùi hôi giỏi như vậy? Hắn nói.

- Tao nói nhưng tuyệt đối giữ bí mật, bà xã tao mà biết được thì việc tao chăm sóc bà cụ mất hết cả ý nghĩa. Nó đơn giản như thế nầy. Trong lúc ở tù, tao bị bịnh viêm xoang mũi nặng. Ra tù tao cũng chẳng có thuốc chữa. Tao nghe người ta mách đến một ông thầy chữa thuốc nam bên Cẩm Phô. Tao đến, ổng dùng thứ thuốc bột màu trắng bỏ vô tờ giấy nhỏ, cuốn lại, thọc vô lỗ mũi tao rồi ổng thổi một cái. Thuốc chạy lên tới óc! Tao tóa hỏa tam tinh, xây mòng mòng như con gà dịch. Cả giờ sau mới tỉnh. Vậy mà thuốc hiệu nghiệm mới lạ! Cứ vài ngày tao đến cho ông thầy thổi thuốc một lần. Ít lâu sau bịnh hết hẳn nhưng từ đấy tao không ngửi được mùi gì ráo. Mũi tao điếc đặc nên dù có đứng bên cạnh cái xác trương sình tao cũng không biết thơm hôi gì. Tao chẳng ngu gì mà nói ra điều đó với bà xã tao, lại làm ra vẻ anh hùng “Em chịu đựng được thì anh cũng vì tình yêu mà chịu đựng được vậy!” Nhưng tao vẫn có một thắc mắc như vợ chồng mầy là dù vì cảm động tấm lòng của tao, vì vâng lời mà cụ mà chấp nhận tao thì bả cũng không thể có cái tình âu yếm, yêu thương tao một cách chân thành, nồng nàn như tụi mầy thấy. Tao đã nhiều lần hỏi bả như thế mà bả chỉ cười không trả lời. Vợ chồng mầy tìm cách hỏi thử xem điều bí mật đó giùm tao.

Hôm vợ chồng hắn tiễn chúng tôi ra phi trường, tôi kéo vợ hắn ra xa, hỏi riêng.

- Tôi hỏi chị một chuyện, chị phải nói thực. Coi bộ chị thương yêu bạn tôi nhiều hơn cả những người vợ bình thường?

- Thì tôi đã kể rồi, ổng như thế ai mà không cảm động.

- Tôi thấy cách yêu thương của chị không phải do lý trí mà từ quả tim chân thành.

Vợ hắn cười.

- Con mắt mấy ông tài thực! Ðược rồi, chỉ riêng anh tôi kể, nhưng đừng cho ai biết. Anh còn nhớ thời tụi mình đi học, có lần đi thăm Ngũ Hành Sơn, Non Nước không? Vụ con sâu bò trên tay tôi đó!.

- Nhớ rồi! Rồi sao nữa?

Cô đỏ mặt lên.

- Tôi thương ổng từ bữa đó.

- Bạn tôi suy luận đúng ngay chóc! Hắn bảo sao chị không bỏ chạy mà lại nhảy vào lòng hắn, còn ôm hắn nữa. Tôi thì cho rằng chỉ là tai nạn, chị hoảng quá, chứ ai mà cố ý.

Cô có vẻ mắc cỡ.

- Thực ra tôi không cố ý làm điều đó. Nhưng khi đang hoảng sợ mà có một người mình có cảm tình ngồi bên cạnh, tự nhiên phải chạy đến cầu cứu người đó.

- À, tôi biết rồi, bạn tôi làm thơ yêu chị, chị cảm động, có cảm tình?

- Chỉ đúng một phần.

- Vậy chứ cái phần kia là chuyện gì?

Cô ngập ngừng.

- Anh cũng biết, con gái mới lớn mà cầm tay con trai cả buổi, tự nhiên phải rung động, và...nhớ suốt đời!

Tôi chưng hửng.

- Vậy là chị cố ý cầm tay bạn tôi! Lúc ở trong Ðộng Mới tôi theo dõi, thấy hết. Hắn đưa tay cho chị nắm, tôi thấy chị hơi khựng lại, tôi nghĩ rằng chị không biết đó là bàn tay của hắn.

Cô cười.

- Lúc mới cầm đến tay ổng, tôi cảm thấy bàn tay cứng đơ, không dịu dàng như tay bọn con gái chúng tôi. Tôi liếc qua biết là tay ổng, tôi cầm luôn. Bàn tay ổng như có điện, chạy khắp người tôi. Ði loanh quanh trong động một lúc, tôi kéo ổng vô chỗ bóng tối, chờ hoài mà ổng không chịu ôm hôn tôi. Bây giờ vẫn còn tức!

Tôi cười nham nhở.

- Cưới nhau về, ôm bao nhiêu không được mà còn tức?!

Cô nguýt tôi.

- Bọn đàn ông các ông phàm phu tục tử, chẳng biết tình yêu là gì! Người ta nói lúc còn trẻ kia. Làm sao quên được.

Ðọc đến đây, bạn sẽ nghĩ rằng. Chuyện hợp lý, cô An yêu bạn tôi vì những bài thơ ca tụng cô, cảm động vì hắn tận tâm săn sóc bà cụ. Nhưng tại sao lại có những chuyện tình cờ ăn khớp với nhau một cách lạ lùng như vậy được? Con sâu ở đâu ra? Sao cứ nhè tay cô An mà bò lên? Vì sao mũi bạn tôi lại điếc đặc khi bà cụ bịnh? Tại sao cô An lăn ra bất tỉnh ngay khi bạn tôi đưa về đến nhà?

Nếu bạn là người vô thần thì tôi chịu thua. Ngược lại bạn tin có Chúa, có Phật thì tôi xin kể một sự thật. Hai đấng từ bi (Phật và Chúa) đã hội ý nhau giúp hắn. Ðúng ra các Ngài không bao giờ buộc người nầy phải yêu người kia như cha mẹ ép duyên con cái được, vì Tình Yêu là thứ Tự Do quí giá nhất các Ngài đã tặng cho loài người. Nhưng chả lẽ bạn tôi van xin, cầu khẩn bao nhiêu năm mà các Ngài nỡ làm ngơ?! Thế nên các Ngài đành bỏ chút thì giờ mà ra tay vậy.

Lúc bấy giờ, hai vị đó, trên chín tầng mây, nhìn xuống thế gian, theo dõi, xem bạn tôi đang làm gì? Khi thấy hắn ngồi bên cô An, Ðức Phật bèn bắt một con sâu bỏ cạnh tay cô. Ngài cũng hiểu tâm lý đàn bà lắm chứ. Gì chứ sâu, bọ, chuột, rắn...các cô sợ thất thần, nên cô An có nhảy tót vào lòng bạn tôi cũng là chuyện đương nhiên. Rồi trong thời gian bà cụ bịnh, lúc hắn chở cô An từ bến xe về nhà, đến lượt Chúa Giê Su, Ngài cúi xuống, thổi nhẹ, vậy là cô An xỉu ngay, và bạn tôi bồng vào nhà. Không gì sướng bằng được bồng trên tay người mình yêu thầm! Cho đến khi hai đứa cưới nhau, ôm nhau, các Ngài mới nhìn nhau, xoa tay mỉm cười.

Xin đừng tưởng hai đấng từ bi đó phải mất mấy năm theo dõi để thực hiện việc kết tóc xe tơ cho hai đứa. Không có đâu! Vỏn vẹn mười lăm phút thôi. Vì dưới thế gian một trăm năm thì trên thượng giới chỉ là một ngày. Sự thật là như vậy. Ðúng như vậy, các bạn ạ!

Phạm Thành Châu
Bà Mẹ Tây

Nguyễn Cát Thịnh

– Gió đông gió tây, gió nào đã đưa cậu tới đây?

– Chẳng có gió đông, chẳng có gió tây, chỉ có “gió chướng” thôi. Gió chướng đã mang tôi tới đây để gặp tên bạn “khỉ gió” thuở còn tắm truồng đấy!

– Cậu lúc nào cũng ăn nói “khó tiêu”. Dễ có trên ba chục năm không gặp cậu. Thú thật đi, có phải cậu đến đây để thăm bà bé không? Tôi không mách bà xã cậu đâu. Đừng lo.

– Cậu đoán đúng mới có một nửa. Đúng, tôi vừa đi thăm viếng một người đàn bà.

– Ai thế? Tôi có biết người đó không?

– Có thể cậu biết. Bà mẹ tôi ấy mà.

– Cậu không đùa đấy chứ. Mẹ cậu đã mất ở Việt Nam. Tôi cùng bạn bè đã gửi lời chia buồn từ ngày nảo ngày nào rồi. Hay là mẹ của mẹ bầy trẻ? Nhưng mà bà xã của cậu mồ côi mẹ mà!

– Không, bà mẹ nuôi, bà Steinberg mà tôi đã có lần nói với cậu khi mới tới thành phố này đó. Nhớ không? Đây là lần đầu tiên tôi đi tảo mộ. Tôi ở bên bà suốt buổi sáng nay rồi đi ăn trưa với lão luật sư già của bả.

– Nhớ, nhưng tôi chưa hề nghe nói cậu là con nuôi của bà triệu phú từ tâm này. Ê, đừng thấy sang bắt quàng làm họ nhé. Khi cậu rời khỏi nơi đây thì bả cũng đã qua đời. Tôi nhớ rất rõ.

– Hồi đó tụi mình chưa an cư nên tuy ở gần mà như nghìn trùng xa cách, chả mấy khi được ngồi tâm sự như bây giờ nên cậu không biết. Chuyện dài lắm, tôi sẽ kể cho cậu nghe. Bây giờ tụi mình đi kiếm cái gì lót dạ đã.

Buổi tối hôm đó, đôi bạn tri kỷ đối ẩm, nói chuyện “cổ tích”.

*
Năm tôi đến đất nước này, chu kỳ suy thoái kinh tế bắt đầu. Việc làm hiếm hoi, nhưng chính phủ vẫn mở rộng vòng tay nhân ái tiếp nhận người tị nạn. Cậu có bà xã giỏi giang, đi làm nuôi chồng con. Cậu chỉ lo nội trợ, đưa đón con cái đi học, có thì giờ rộng rãi dồi mài kinh sử. Còn tôi, độc thân tại chỗ, vợ con còn kẹt lại Việt Nam, một cảnh hai quê. Vừa mong mau chóng ổn định cuộc sống vừa mong đủ điều kiện tài chánh bảo lãnh gia đình.

Chưa bao giờ tôi nghĩ có ngày phải đi ăn mày chính phủ Gia Nã Đại. Mỗi tuần sắp hàng ngửa tay nhận chi phiếu bảy chục đô la, rồi còn bị cô thư ký người Việt nói xỏ xiên, thúc giục tìm việc. Tôi đã cảm nhận tất cả ê chề nhục nhã của kiếp tha hương.

Rất may mắn, tôi đã gặp cậu và được cố vấn nên sau vài lần xin việc bị từ chối khéo, tôi điền đơn tại bệnh viện Montford theo đúng lời cậu chỉ dẫn. Lý lịch khai rất gọn, phần học vấn bỏ trống, không ghi tốt nghiệp đại học Việt Nam. Xin làm Pharmacy Attendant, công việc sai vặt trong khoa Dược.

Bà trưởng phòng nhân viên bệnh viện đọc hồ sơ, ngước mắt nhìn tỏ vẻ thương hại rồi nói, được rồi, anh cứ về, khi nào có chỗ trống sẽ gọi phỏng vấn.

Vừa định đứng dậy thì bà ra dấu cho tôi ngồi xuống, ngập ngừng… Tôi biết bên hospice, nhà an dưỡng của bệnh nhân cận tử, đang cần một orderly nam, tức y công đàn ông. Nếu anh không ngại tôi sẽ giới thiệu. Đang đói việc, tôi bằng lòng ngay, bất cứ việc gì.

Y tá trưởng của hospice vui mừng đón nhận tôi.

Bà cho biết công việc không nặng nhọc nhưng đòi hỏi sự nhẫn nại hơn bình thường. Chỉ phục vụ một bệnh nhân đặc biệt và khó tính. Gia đình bệnh nhân này là ân nhân của bệnh viện, đã hiến tặng toàn bộ xây cất và các trang thiết bị cho hospice nên tên của người chồng quá cố, “J.D. Steinberg” được vinh danh trên bảng đồng.

Bà thành thật cho biết đã có 2 nữ y công bị trả lại vì bệnh nhân không hài lòng và thêm một nữ nữa bỏ việc vì không chịu nổi áp lực.

Tuy nhiên lương bổng rất hậu hĩnh. Bệnh nhân này sẵn sàng trả thêm tiền thưởng tương đương với tiền lương của bệnh viện.

Bà muốn thay đổi, đề nghị tuyển nhân viên nam, hy vọng nam có sức chịu đựng tốt hơn nữ.

Bệnh nhân là bà Steinberg, khoảng gần bảy chục tuổi, bị ung thư buồng trứng, đã di căn, giai đoạn cuối. Đẹp lão, mập mạp, tướng mệnh phụ. Bà tiếp tôi lạnh lùng, sau khi cô chuyên viên trang điểm rút lui. Hỏi vài câu vắn tắt lấy lệ, rồi cho tôi kiếu.

Quả thật công việc rất nhàn hạ, nhưng không thơm tho. Bác sĩ, y tá thăm bệnh và cho thuốc men theo thời khoá biểu. Cô quản gia kiêm thư ký công ty của gia đình trình diện vào buổi trưa mỗi ngày, đem thức ăn khoái khẩu của bà và quần áo mới. Tôi chỉ giúp bà làm vệ sinh tiêu tiểu buổi sáng, ngay trên giường và đổ phân vào cầu. Buổi chiều, sửa soạn bồn tắm, giúp bà làm vệ sinh thân thể và đẩy xe đưa bà đi dạo. Ngoài ra, chùi rửa phòng, thay bọc trải giường, mang quần áo chăn mền qua phòng giặt ủi…v…v… Thỉnh thoảng ghé mắt xem bà có cần sai bảo gì không. Khẩn cấp thì phải chạy tìm y tá bác sĩ trực.

Tôi được sắp xếp cho ở góc cuối phòng, ngăn bằng chiếc màn kéo, đủ kê chiếc giường đơn, ghế nằm và bàn viết. Một ngày chỉ thật sự làm việc độ 3 hoặc 4 tiếng, ăn uống ở câu lạc bộ. Thời giờ quá dư thừa nên tôi mượn sách chuyên môn của thư viện đọc, mơ một ngày nào đó sẽ lấy lại được bằng hành nghề.

Một buổi tối, bà rên khò khè đau đớn, tôi chạy lại thì nghe bà quát, đi lấy cho ta cái “donut” ngay. Ta cảm thấy khó chịu quá!

Tôi cuống quít nói, thưa bà giờ này quá khuya, e không có tiệm bánh donut nào mở cửa, bà có thể chờ đến sáng sớm mai không?

Bà nổi quạu, phán, đồ ngu! Xuống bảo y tá trực đưa.

Tôi răm rắp chạy báo cáo bà y tá già. Bà cười ngặt nghẽo, đưa cho tôi cái vòng cao su mầu cam trông giống như ruột xe vespa, bảo, đấy, donut là cái này này.

Tôi vỡ lẽ, té ra donut cũng là tên gọi của cái vòng đệm cao su, dùng để kê dưới bàn tọa cho êm.

Mấy ngày sau, khi đã hơi khoẻ, bà ngoắc tôi lại, ra lệnh, ê thằng Tầu con, xuống kêu con nhỏ làm tóc lên chải đầu cho ta. Hôm nay ta có khách lại thăm.

Bị chạm nọc nhưng tôi vẫn đủ bình tĩnh, khẽ thưa, xin bà đừng gọi tôi là Tầu con. Tôi đã 36 tuổi rồi và là người Việt Nam không phải Tầu.

Trái với sự mong đợi của tôi, bà tỏ vẻ thân thiện, ngồi thẳng dậy, tròn mắt, hỏi lại, Việt Nam? Việt Nam? Con trai của ta chiến đấu ở Việt Nam và đã mất tích từ năm 1970, cũng trạc tuổi của mi.

Tôi đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. Ngờ ngợ có sự liên quan tới Bác Sĩ John Steinberg mà tôi quen biết khi còn trong quân đội.

Kể từ đó, mỗi khi có dịp, tôi gạ gẫm bà kể thêm về người con trai. Bà rất hứng khởi.

Sự nghi ngờ ban đầu đã dần dần sáng tỏ. Gom góp các chi tiết và đối chiếu các sự kiện, tôi đã chắc đến 99.99% John Steinberg, con trai của bà, và Bác Sĩ John Steinberg, bạn tôi, là một người bạn quý.

*
Theo bà, John là một đứa trẻ có nhiều cá tính ngay từ nhỏ. Thông minh, bướng bỉnh, tinh thần tự lập cao. Nhiều tự ái, nóng tính, hơi cố chấp và đặc biệt xung khắc với cha.

Ông Steinberg muốn hướng chàng thành một doanh gia. John, trái lại, xem Bác Sĩ Albert Schweitzer là thần tượng. Ước vọng trở thành thầy thuốc giỏi, từ bỏ thế giới văn minh, đến các xứ nghèo Phi Châu, mang tài năng và nhiệt tâm phục vụ không điều kiện.

Sau khi tốt nghiệp Y Khoa McGill, lúc chuẩn bị nội trú chuyên ngành tại Bệnh Viện Ottawa thì xảy ra một cuộc đấu khẩu dữ dội giữa hai cha con. John giận cha, bỏ qua Mỹ, tình nguyện nhập ngũ. Được huấn luyện quân sự tại Fort Bragg và tu nghiệp chuyên môn tại Womack Army Medical Center NC. Y Sĩ Đại Úy John Steinberg sau đó được gửi qua Việt Nam, bổ sung toán quân y thuộc Liên Đoàn 5 Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ, đóng tại Nha Trang.

John vẫn thư từ liên lạc với bà mẹ đều đặn. Cho đến một buổi chiều ảm đạm mùa thu năm 1970, ba sĩ quan đồng ngũ của binh chủng gõ cửa báo tin con bà đã mất tích khi đang thi hành nhiệm vụ, được ghi vào danh sách M.I.A.

Ông Steinberg bị nỗi hối hận dầy vò, tự đổ lỗi cho chính mình, đã đưa đẩy con trai vào chỗ chết. Ông qua đời ba năm sau.

*
Thời gian John công tác, tôi đang làm việc tại bệnh xá gia đình binh sĩ cũng đồn trú Nha Trang.

Chúng tôi cùng đi làm dân sự vụ thường xuyên tại các bản thượng hẻo lánh nên quen biết rồi thân nhau. Thỉnh thoảng tụ tập ăn uống nhậu nhẹt tại các quán bờ biển hoặc đi nghe nhạc phòng trà.

Khi tin John tử trận bay đến phòng làm việc, tất cả ban quân y chúng tôi đều bàng hoàng. John và toán dân sự vụ Việt Mỹ chết bỏ xác khi máy bay trực thăng trục trặc kỹ thuật, đáp tạm xuống bãi đất hẹp gần nhánh sông chảy xiết. B40 bắn rớt ngay lúc vừa cất cánh trở lại. Duy có một y tá Việt Nam tên Công thoát hiểm một cách kỳ diệu. Hắn ngụp lặn, bơi ngược dòng nước, băng rừng suốt đêm đến được nơi an toàn.

Quá hoảng loạn trong nỗi kinh hoàng tột độ, Y Tá Công bị hậu chấn thương nặng, chuyển về khoa tâm thần Tổng Y Viện Cộng Hòa điều trị vài tháng rồi được cho giải ngũ. Hắn vẫn đến xin thuốc an thần và thuốc ngủ đều đặn nên từ đó anh em đổi biệt danh “Công Ngủ” thành “Công Không Ngủ”.

Những năm cuối của thập niên 70 và đầu thập niên 80, tôi hay lang thang khắp chợ trời. Tình cờ gặp lại “Công Không Ngủ”. Hắn đã lột xác, trông bảnh bao, da dẻ hồng hào, ra dáng công tử vườn. Hắn khoe buôn bán thuốc Tây, thu nhập khấm khá. Hắn bỏ một buổi buôn bán, mời tôi đi nhậu ở tiệm ăn sang trọng trên đường Nguyễn Huệ. Đãi rượu Martell và thuốc thơm ba số. Lúc đã ngà ngà, hắn nhắc lại chuyện cũ. Bật mí tất cả những gì chưa từng bật mí.

*
Chiếc trực thăng chao đảo vì phi công bị B40 xuyên nát cổ. Đủ loại súng thi nhau nhả đạn, mọi người nhốn nháo chen nhau nhảy xuống. Đạn đan tròng tréo, có người rớt lịch bịch, có người nằm xuống khi chân chưa chạm đất. Bác Sĩ Steinberg cùng hắn và vài người nữa chạy thẳng xuống sông. Các người kia bơi theo dòng nước. Ông bác sĩ Mỹ to cồng kềnh, bơi hoặc lặn cũng không ổn nên tìm chỗ ẩn nấp dưới đám lau sậy. Vốn là dân xóm Cồn, giỏi bơi lội, lại nhỏ con nên “Công Không Ngủ” nhanh như chớp, phóng xuống giữa dòng, vớ một ống sậy dài, ngậm thở, lặn ngược dòng, đánh lạc hướng của nhóm du kích chạy xuôi trên bờ đang truy đuổi từng người. Nghe tiếng súng AK nổ ròn rã, hắn biết những bờ bụi chắc chắn là những mục tiêu bị nhắm bắn. Hắn tự khen mình thông minh, không trốn theo ông bác sĩ cũng không bơi xuôi giòng. Rất có thể nhiều người đã lãnh đủ những tràng đạn vừa qua.

Đợi khi bóng dáng đám du kích đã hoàn toàn mất hút, hắn bơi đến chỗ ông bác sĩ thăm dò. Vùng máu loang lổ đang lan rộng chứng tỏ ông đã trúng đạn. Sờ mũi, vạch mắt, nghe tim, biết ông đã chết, hắn chỉ kịp mở nút gài túi áo trên lấy chiếc ví dầy cộm, lột chiếc đồng hồ trên tay.

Tiếng đám du kích vui cười nghe rõ dần, có lẽ họ trở lại thu nhặt chiến lợi phẩm. Hắn đẩy xác ông bác sĩ ra giữa dòng để gây sự chú ý, giúp hắn có thêm thì giờ lặn ngược dòng trốn càng xa càng tốt.

Nằm ếm dưới nước, chờ trời tối, hắn bước nhanh vào khu cây cối rậm rạp, nhắm hướng sao đi tới. Rạng sáng, hắn gặp một người đàn bà thượng đeo gùi sau lưng, địu con phía trước đi làm rẫy. Hắn bập bẹ vài tiếng thượng học được, xin chỉ đường đến đồn bót gần nhất.

Bài học mưu sinh thoát hiểm, cộng với may mắn cùng sự giúp đỡ của người dân tốt bụng đã đưa hắn trở về bình yên.

Lợi dụng việc sống sót hy hữu sau tai nạn, hắn đã đóng kịch rất khéo, giả bệnh, qua mặt được mọi người và giải ngũ.

Hắn cho biết trong chiếc ví của ông bác sĩ, ngoài số tiền mặt khá lớn, đủ để hắn sửa sang nhà cửa và mua chiếc xe Honda 90 đời mới, còn có một lá thư, một tấm hình, vài thứ giấy tờ linh tinh.

Hắn cho tôi địa chỉ nếu muốn đến xem. Tôi không có dịp vì còn mải lo chuyện vượt biển.

Sự sống của bà Steinberg kéo dài hơn ước tính của các bác sĩ. Bà cho là lời cầu nguyện của bà đã được lắng nghe và hy vọng phép mầu nhiệm sẽ đến qua ơn cứu rỗi.

Một tuần trước sinh nhật, bà điện thoại cho hai cô con gái lớn nhắc nhở. Năn nỉ các con cháu sẽ đến và ở chơi với bà một buổi. Bà dặn tôi đến ngày đó phải thu dọn căn phòng trống kế bên sạch sẽ, kê thêm bàn ghế và phụ giúp nhà hàng chăm lo phần ẩm thực.

Tôi chợt có ý nghĩ nhân dịp này sẽ tặng bà một món quà sinh nhật bất ngờ. Đánh điện tín nhờ vợ tôi mang đến “Công Không Ngủ”, hẹn giờ ra bưu điện nói chuyện điện thoại viễn liên.

Tôi ngỏ ý muốn mua cái ví của Bác Sĩ Steinberg cùng tất cả các thứ trong đó. Thỏa thuận xong giá cả, tôi yêu cầu hắn tạm thời fax ngay cho tôi những thứ có trong chiếc ví.

Ngày hôm sau, chỉ nhận được bản fax của lá thư và tấm ảnh, nhìn không rõ lắm nhưng chữ có thể đọc mò được.

Tiền thì hắn nhận đủ nhưng chiếc ví không bao giờ được gửi. Về sau nghe chú hắn nói, hắn đang tìm đường vượt biên và cái ví sẽ là lá bùa khi xét ưu tiên định cư Mỹ.

Sau nhiều năm không ai nhận được tin tức về chuyến tầu của hắn. Có lẽ cái ví cũng theo hắn định cư dưới lòng đại dương.

Buổi sáng sinh nhật, bà dậy thật sớm tuy cả đêm trằn trọc. Người làm tóc, người trang điểm bận tíu tít. Người ta thay cho bà một bộ đầm sang trọng. Trông bà tươi tỉnh, cười nói huyên thuyên, không ai nghĩ rằng đó là một bệnh nhân sắp từ giã cõi trần. Bà nói đã lâu lắm rồi, không thấy mặt mấy đứa cháu ngoại, không biết chúng nó cao lớn thêm và xinh đẹp như thế nào. Bà tưởng tượng sẽ ôm từng đứa, sẽ phủ mưa hôn trên từng phân vuông của những khuôn mặt thiên thần. Sau đó nếu Chúa có bắt đi ngay bà cũng an lòng. Chỉ tưởng tượng thôi mà cảm xúc đã dâng trào trên niềm hạnh phúc ảo.

Các tiếp viên nhà hàng mang thức ăn bầy biện đẹp mắt, chiếc bánh sinh nhật hấp dẫn đặt giữa bàn. Tất cả kiên nhẫn chờ được phục vụ.

Suốt từ sáng đến quá trưa, bà bồn chồn, đứng ngồi không yên. Vẫn không thấy con cháu xuất hiện. Toàn thể nhân viên hospice không chờ đợi được nữa, bàn nhau tụ tập vây quanh bà, vỗ tay hát bài mừng sinh nhật. Bà gắng gượng ngồi nghe đến câu cuối, xua tay ra dấu mệt mỏi, để nguyên quần áo nhờ tôi đỡ lên giường.

Cô thư ký lăng xăng lên xuống, liên tục điện thoại khắp nơi, tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra. Buổi chiều, cô trở lại buồn bã báo tin, cả hai gia đình của hai con gái bà đang vui chơi ở Disney World Orlando Florida từ vài ngày nay.

Bà Steinberg suy sụp tinh thần thấy rõ. Không ăn uống. Đóng cửa, không tiếp bất cứ ai. Tôi trở thành liên lạc viên duy nhất của bà với bên ngoài. Rất khó khăn ép bà uống thuốc đúng giờ.

Tối hôm đó, cơn đói đánh thức, bà sai tôi mua một tô súp gà và ly sữa. Tôi mua thêm một chiếc bánh chocolate donut và một cây đèn cầy. Bà chỉ húp vài muỗng súp và một phần ly sữa. Tôi mở bao lấy chiếc donut để trên đĩa giấy, thắp cây đèn cầy, bưng về phía bàn ngủ. Run run hát nho nhỏ, happy birthday to you, happy birthday to you, happy birthday to Mrs. Steinberg…

Bà há hốc miệng ngạc nhiên, im lặng vài khoảnh khắc rồi quay mặt vào tường. Tôi ngỡ bà phản ứng giống như khi nghe nhân viên bệnh viện hát chúc mừng trước đó. Ngờ đâu bà quay lại với đôi mắt ướt, giơ hai tay ôm chầm lấy tôi. Líu lưỡi cám ơn, cám ơn. Bà thổi đèn cầy rồi ăn hết chiếc bánh bình dân một cách ngon lành, nói, đây mới chính là cái “donut” mà ta muốn. Bà cám ơn tôi lần nữa, đã cho bà một sinh nhật tuyệt vời và độc đáo.

Bà vui vẻ trở lại nhanh chóng. Kể đủ mọi chuyện ngày cũ, toàn những chuyện về John. Trong ba người con chỉ có John nhớ sinh nhật của bà, dù đi đâu xa cũng quay về vào ngày ấy. Bà nhất định cho rằng, bằng cách nào đó, chính John đã mượn tôi thực hiện sáng kiến sinh nhật donut.

Tôi nói có một món quà sinh nhật và trao cho bà chiếc phong bì đựng bản fax của lá thư và tấm hình. Thêm một lần ngạc nhiên thích thú, bà mở ra. Mới lướt qua tấm hình và đọc vài hàng của lá thư, bà thở hổn hển. Những thứ này ở đâu ở đâu ra? Đúng là nét chữ của ta, đây là lá thư ta gửi John cám ơn lời hỏi thăm sức khỏe khi ta bị té gẫy chân và cho biết tình trạng đã ổn định. Làm sao mi có được? Nói ngay, nói ngay! Còn tấm hình mờ nhưng ta biết đó là hình chụp ta và con chó Buddy.

Tôi cho bà biết chuyện thật đời tôi, tất cả những gì tôi nghe về bạn quá cố của tôi, lúc còn sống, lúc lâm nạn và tại sao tôi có được những thứ đó.

Bà nhờ tôi kê gối đẩy lưng cao lên. Đọc kinh tạ ơn Chúa. Bà càng tin rằng John đã nhập vào tôi và mang thông điệp của tin mừng đến cho bà.

Bà đã mệt lắm rồi. Linh tính những ngày giờ cuối cùng đã điểm, tôi ở lại bên cạnh bà.

Thấy bà không ngủ, tôi hỏi có cần gọi y tá không? Bà không trả lời, cầm tay tôi đặt lên ngực phía trái tim, cặp mắt lạc thần, nhìn vào hư không, nói lẩm bẩm như người mộng du.

Baby John của mẹ, con có biết 12 năm nay không có ngày nào mẹ ngưng thương nhớ con? Mẹ nhớ từ tiếng con khóc lúc chào đời…, mẹ nhớ lúc con chập chững những bước đi…. Mẹ nhớ những ngày tuyết đổ mẹ dẫn con vào lớp học giao cho cô giáo vườn trẻ, con níu áo mẹ không rời, mẹ phải ở với con suốt buổi rồi đem con về…. Mẹ nhớ những đêm con ho cảm lạnh, mẹ thức trắng đêm ôm ru con ngủ…. Mẹ nhớ…Mẹ nhớ…. Mẹ khóc mừng ngày con tốt nghiệp đại học…. Mẹ tưởng con của mẹ sẽ mãi mãi êm ấm trong vòng tay mẹ. Nhưng con, con… đã đi và đi không trở lại. Lúc sinh thời, cha con nếu có lỗi với con thì cũng chỉ vì yêu con. Hai cha con bây giờ đã xum họp ở thế giới khác, đâu còn giận hờn. Mẹ cũng sắp sửa gặp cha con và con đây. Con ngoan nhé. Mẹ yêu của con.

Tôi lặng yên quỳ xuống đầu giường để bà vuốt tóc. Ước gì thật sự là John để bà trút hết nỗi niềm chất chứa bấy lâu và để cho tình mẫu tử thăng hoa.

Bà chợt tỉnh, nhận ra tôi nhưng vẫn tiếp tục xoa đầu. Ta thấy hình ảnh của John qua con, con cũng là con ta. Bà dí ngón trỏ lên trán tôi, mỉm cười, nụ cười nhân ái nhất nhận được trong đời, mắng yêu, “THẰNG TẦU CON CỦA MẸ”. Chúa ơi! Bà gọi tôi là con và xưng mẹ!

Không biết ai xúc động nhiều hơn ai. Có lẽ không phải là bà mà là tôi. Tôi bỗng buột miệng vô thức…Mẹ, Mẹ… rồi á khẩu. Dòng nước mắt tôi chảy, giọt nước mắt bà lăn dài. Cả hai ôm nhau hoà tan trong nước mắt.

Trưa hôm sau bà lệnh cho cô thư ký mời luật sư gia đình gặp bà thảo luận chuyện quan trọng. Ông đang có việc ở Âu Châu nên chỉ nói chuyện qua điện thoại và hứa sẽ đổi vé, bay về trên chuyến gần nhất.

Bác sĩ được triệu đến khẩn cấp.

Bà Steinberg yếu dần, bỏ ăn từ chiều hôm trước, môi khô. Nuốt khó khăn. Mũi thuốc morphine giảm đau liều cao chỉ giúp bà thiếp đi một chốc. Đắp thêm chăn, xoa bóp chân tay, vẫn còn lạnh. Bà đã bị ảo giác, mất định hướng thời gian và không gian. Liên tục thì thào gọi tên John. Tôi nắm bàn tay lạnh của bà vuốt nhẹ, khẽ gọi, mẹ ơi! mẹ ơi!.

Bà thở không bình thường nữa, hắt ra rồi bất động. Bác sĩ vạch mắt, rọi đèn pin soi đồng tử, nhìn đồng hồ lắc đầu. Xong một kiếp người!

Chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ mọi người đã có mặt trong phòng. Hai người con gái đi cùng hai luật sư của họ, luật sư gia đình, giám đốc các công ty kinh doanh của gia đình, các đại diện và luật sư của các hội từ thiện, một vài họ hàng thân cận.

Tất cả yêu cầu luật sư gia đình công bố di chúc. Họ tranh cãi khá lâu, không ồn ào nhưng rất gay gắt. Không đi đến kết quả nên đồng ý giải quyết sau tang lễ.

Nghe thoang thoáng có người đề cập đến tên mình nhưng tôi để ngoài tai vì nghĩ không có gì liên hệ.

Luật sư yêu cầu giải tán để nhân viên nhà quàn làm phận sự. Nhiều người trước khi bước ra khỏi cửa ném cho tôi cái nhìn khó chịu, có người đi ngang tôi với vẻ thù hận ra mặt. Tôi không hiểu tại sao. Không lẽ kỳ thị chủng tộc?

Những gì xảy ra trong những ngày vừa qua khiến cho tôi chán ngán tình đời. Một quyết định xẹt trong đầu. Đi thật xa. Phải, sẽ đi thật xa để khỏi nhìn thấy những con diều hâu bạc tình bạc nghĩa đang rỉa xác một người đàn bà nhân hậu. Tôi bước vào phòng, đặt một nụ hôn trìu mến trên trán bà mẹ nuôi. Nói nhỏ, lạy mẹ, con đi.

Tôi về nhà nhét vội vài bộ quần áo vào va li, bỏ lại tất cả đồ đạc, ra bến xe đò Greyhound mua vé đi thẳng Toronto. Cuộc đời lưu lạc bắt đầu từ đó.

*
Ông luật sư đãi tôi ăn trưa tại một nhà hàng ở khu phố vắng. Chuyện xảy ra 32 năm trước được giải mật.

Khi ông đang ở Paris, bà Steinberg điện thoại, muốn sửa di chúc. Ông chấp hành chỉ thị, thâu băng cuộc đối thoại, soạn thảo văn bản ngay trên chuyến bay khứ hồi. Không may, bà đã không kịp duyệt ký trước khi ra đi.

Các cuộc tranh cãi sau khi bà chết bùng nổ giữa các luật sư.

Di chúc chính thức quy định rõ, gia tài được chia làm 3 phần đồng đều, cho 3 người con. Riêng phần của John Steinberg có ghi chú thêm. Vì đã được liệt kê trong danh sách quân nhân mất tích, nên nếu 5 năm sau khi bà mất, vẫn không nhận được tin tức mới, phần này sẽ được chia 50/50. 50% giành cho các cơ quan từ thiện đã chỉ định. 50% sẽ thuộc về 2 người con còn lại.

Theo bản dự thảo di chúc mới, phần của John được sửa lại, sau 5 năm phần này sẽ được trao cho tôi thay vì chia 50/50 cho các cơ quan từ thiện và 2 người con gái.

Ông luật sư yếu thế, không thuyết phục được mọi người chấp nhận lời di chúc phi văn bản. Nếu đưa ra toà án phân xử cũng không hy vọng thắng. Kiện cáo có thể kéo dài, sẽ rất tốn kém. Điều quan trọng nhất, người có quyền lợi là tôi thì biệt tích giang hồ, không tìm thấy địa chỉ liên lạc. Bản di chúc cũ được thi hành. “Định mệnh đã an bài”, không thể thay đổi.

Ông trao cho tôi cuốn băng. Giữ lại như một kỷ niệm, ghi nhận tình thương và lòng hào hiệp của bà mẹ nuôi đối với tôi.

*
– Là triệu phú hụt, cậu có tiếc không?

– Không, không bao giờ. Tôi vẫn nhớ chuyện tái ông thất mã. Trong cái rủi luôn luôn có cái may đền bù. Trong cái may luôn luôn ẩn nấp cái rủi. Nếu lúc đó là triệu phú, nhiều phần đã biến tôi hư hỏng. Tiền không do công sức của mình làm ra là tiền…lèo. Xài tiền lèo thì mình cũng trở thành lèo. Sẽ ỷ lại, không cầu tiến.

Vì đã không là triệu phú nên tôi mới là tôi như bây giờ. Bằng lòng với hiện tại.

Tôi có hai bà mẹ. Bà mẹ da vàng để lại vết tích đậm nét da vàng trên thân xác tôi. Bà mẹ da trắng để lại nhiều dấu ấn khắc sâu trong tâm khảm tôi. Tôi yêu cả hai.

Nếu đến lễ Vu Lan hay Ngày Của Mẹ có ai hỏi tôi, bông hồng hay bông trắng cài áo? Tôi sẽ bảo, vui lòng cài cho tôi hai bông trắng.

– Xin cạn ly mừng cậu có hai bà mẹ trong đời. Chúc cậu đêm nay ngủ thật ngon, sẽ mơ hội ngộ BÀ MẸ TÂY… có con là “thằng Tầu con”.

Nguyễn Cát Thịnh
Người Có Lương Tâm Thì Ít Mà Người Bất Lương Thì Quá Nhiều -

Thật là vô cùng khó khăn vất vả cho Trump khi một mình phải đối phó đương đầu với Deep States vì họ cấu kết với các nhà tư bản gian manh trong và ngoài nước cùng với những chính trị gia bẩn thỉu ở các nước trên thế giới và ở Mỹ,

Tất cả đám này nhất quyết phải triệt để hạ gục Trump cho bằng được, kế hoạch của họ là nếu không "luận tội" thì cũng ngăn chặn lịch trình làm việc của Trump càng nhiều càng tốt, đặt những tội tưởng tượng để gây khó dễ cho Trump và những người liên hệ với ông ta, dùng những phương tiện truyền thông đại chúng để ra sức tẩy não giật dây quần chúng "ngây thơ" mục đích là biến họ thành dư luận viên cho mình mà chính bản thân họ cũng không biết, và điều quan trọng nhất bằng mọi cách không để cho ông ta tái đắc cử thêm một nhiệm kỳ nữa.

Vì thế không có gì là mới lạ khi ngày nào cũng nghe những tin tức xấu bao gồm mạ lị vu khống về Trump, Trump đã giúp cho dân Mỹ thoát khỏi nạn di dân xâm lăng khũng khiếp vào Hoa Kỳ từ Phi châu và Trung Đông, qua việc nhất định không ký vào bản hiệp ước chết người nguy hiểm có tên là UN global compact migration, được cái đám chính trị gia bẩn thỉu của UN soạn thảo và ký kết ở Marrakesh, Morocco.

Chẳng thấy một đài truyền thông nào ở Mỹ đưa tin này. Họ bưng bít hết tất cả các sự thật, bản hiệp ước chủ yếu là cho các công dân của các nước ký kết vào hiệp định này được tự do đi lại làm ăn sinh sống giữa các nước trên thế giới với nhau, bao gồm luôn cả gia đình. Họ được đối xử y như người dân bản địa và hưởng đầy đủ những quyền lợi như một công dân thực thụ của nước đó, không phân biệt chúng tộc, bla bla bla ....

Nghe qua thì hay lắm nhưng thực chất nó là một cái bẫy, những người có đầu óc và tấm lòng họ nghiên cứu bản hiệp ước này và la làng lên rằng, sự thật đằng sau bản hiệp ước này là gì?

Chính là kế hoạch cho phép hơn 225 triệu người từ Phi Châu và Trung Đông di dân qua Âu châu một cách hợp pháp.

Hãy suy nghĩ : cho phép tất cả các công dân ở bất kỳ nước nào cũng đều có thể đi lại làm ăn sinh sống định cư không điều kiện ở bất cứ quốc gia nào trên toàn thế giới ?

Liệu các công dân đang sinh sống ở Âu châu Mỹ hay Úc Canada có rời bỏ các châu lục này để đi sang các nước kém phát triển khác như Phi châu và Trung Đông hay thậm chí Trung Cộng hay không? hay ngược lại sẽ thấy khối di dân từ các nước nghèo khổ kém phát triển chạy qua các nước giầu có và đời sống an sinh xã hội cao như Âu châu, Mỹ, Úc ?

Và Trung cộng sẽ đưa công dân của họ tràn qua các nước này, dùng đồng tiền để lũng đoạn chính trị và sau đó sẽ chiếm quốc gia đó luôn.

Bản hiệp ước này thế là bị lật tẩy rồi nhé, cảm ơn Tổng thống Trump rất nhiều,

Sau khi Trump từ chối không ký, các nước lớn khác như Úc và các nước phát triển ở âu châu như Austria, Italia, Poland v.v.. cũng không ký vào bản hiệp ước lật lọng này. Mối quan ngại rằng nếu Trump chấm dứt nhiệm kỳ và giả dụ ông ta làm tổng thống thêm bốn năm nữa, người kế tiếp có tiếp tục giữ đúng đường lối như Trump hay không?

Chẳng có gì lạ khi họ quyết tâm đánh phá Trump vì rõ ràng Trump là người cản trở những kế hoạch quỷ quyệt của họ, ai là người tung tiền ra cho truyền thông xã hội thực hiện những vụ này?

Từ Amazon, FB, Google, YouTube, Twitter đều có làm ăn với Tàu cộng, tiền bạc cho những vụ di dân khổng lồ vào Âu châu và Mỹ đến từ ai chắc mọi người theo dõi đều biết rõ .

Gia đình của Clinton trốn thuế số tiền lên tới 400 triệu Mỹ kim, với bằng chứng không thể chối cãi được của hai nhà điều tra Larry Doyle and John Moynihan. Họ đã đưa cho sở thuế và FBI một bảng điều tra hơn 6000 trang với những bằng chứng hiển nhiên, thế mà tất cả vẫn rơi vào im lặng. Thậm chí cách đây ba ngày trong buổi hearing về việc điều tra, John Huber đã cố ý vắng mặt trong buổi chất vấn vì ông này trong quá khứ đã đóng vai trò tham khảo về việc buôn bán uranium của Clinton với Russia,

Gia đình Clinton có liên hệ rất mật thiết với những chính quyền nước ngoài, nhận tiền của họ để bán đứng nước Mỹ.

Sau khi thất bại trong việc tranh cử, Clinton foundation đã không nhận được nhiều tiền bạc từ các chính trị gia của các quốc gia khác nữa, vì không có lý do gì để họ đóng góp cho quỹ này khi không thể lũng đoạn nước Mỹ thông qua The Clinton, bên cạnh đó số tiền trốn thuế 400 triệu cùng với việc buôn bán uranium với Russia, Larry Doyle và John Moynihan điều tra việc này không phải vì mục đích chính trị, họ chỉ mong muốn được chia số tiền thưởng nếu IRS thu lại được tiền trốn thuế này, nhưng không hiểu sao IRS khi thấy hồ sơ với cái tên Clinton thì tất cả rơi vào im lặng. Thậm chí FBI sau khi tỏ ra vô cùng biết ơn Doyle và Moynihan nhưng cuối cùng cũng chẳng làm gì, trong khi họ cứ tập trung vào điều tra những chuyện không có ở Trump.

Trong cuộc chiến thương mại với Trung cộng, tới bây giờ các nước ở Đông Nam Á là hưởng lợi nhiều nhất, vì theo dự tính, để tránh đánh thuế, các công ty sẽ dời hãng xưởng qua các nước láng giềng như Việt Nam, Cambodia, một hãng có hợp đồng với Apple đang có dự tính này, thế mà vẫn có nhiều người Việt Nam ở Mỹ chống đối Trump.

Trump đã cứu dân Mỹ ra khỏi cảnh xâm lăng của các nước ngoại bang qua con đường di dân, chỉnh đốn lại các chính sách dẫn tới chỗ nước Mỹ sẽ bị diệt vong, cứu Mỹ và thế giới ra khỏi âm mưu thống trị của Tàu cộng,

Hoàn toàn ngược lại với Clinton trốn thuế 400 triệu, bán đứng nước Mỹ cho ngoại bang, cùng với các chính trị gia của đảng Dân Chủ như Dianne Feinstein, Obama, Nancy làm tay sai cho tàu cộng, giúp cho thằng quỷ đỏ này được hùng mạnh như ngày hôm nay để đi chiếm đoạt các nước khác. Các công ty tư bản và các tỷ phú gian xảo như Soros dùng tiền bạc và sức lực của mình hợp với cái đám kể trên để đánh phá Trump, chuyện đã rõ ràng.

Wikileaks Larry Doyle và John Moynihan đã đưa ra tất cả những sự gian dối khủng khiếp của Clinton, mà Clinton thì có những mối quan hệ quá mật thiết với cái đám tài phiệt ở Mỹ và ngoài nước Mỹ, và cái đám tài phiệt này lại làm ăn rất liên hệ mật thiết với Tàu cộng, Trump thì hoàn toàn chống lại những sự việc này, như vậy bài toán giải ra rất rõ ràng, xin đừng thắc mắc, đừng đặt câu hỏi, đừng theo dỏi những tin tức từ Alphabet Media nữa, chẳng ích lợi gì.

Điển hình như việc UN Migration quan trọng như vậy mà họ có nhắc tới đâu? Việc điều tra Clinton gần đây nhất với những bằng cớ quá rõ ràng cũng chả thấy đưa tin chính xác.

Hãy tự mình tìm hiểu hỡi kẻ mang tư tưởng phóng khoáng, có rất nhiều nguồn tin ích lợi thiết thực để cho mình đọc, tham khảo và tự mình học hỏi.

Phải nói là rất khâm phục và vô cùng biết ơn những người đã bỏ công của cũng như thời gian tìm hiểu những tài liệu bằng chứng để đưa ra trước công luận, nếu không có những người vừa tài vừa thông minh vừa đức độ này thì không biết tương lai thế giới sẽ đi về đâu?

Khi càng ngày người có lương tâm thì ít mà người bất lương thì quá nhiều.

Kẹt Cứng Gọng Kềm

Khi Tiến đang học đại học, thì Hoa mới tấp tểnh vào trung học. Hoa là em gái nhỏ của bạn. Con bé sạch sẽ, áo quần đơn giản gọn gàng, mặt mày sáng sủa. Tiến hay đến nhà chơi. Nhiều khi Hoa đem bài toán nhờ Tiến giảng giúp. Để cho mau xong, Tiến giải bài toán cho Hoa, con bé không chịu, bảo rằng nó không muốn ai làm bài giúp, chỉ nhờ giảng cho hiểu, để từ đó nó có thể tự làm bài lấy.

Tiến ngạc nhiên, chưa thấy một đứa bé nào có cái ý tưởng lạ như vậy. Một lần Tiến nhìn cuốn vở nháp của Hoa, thấy sáng sủa, ngăn nắp, gọn gàng, các bài toán được gạch bằng thước thẳng thắn, chứ không phải quẹt nghiêng những đường ngang dọc.

Sau mỗi đoạn nháp, có gạch ngang thẳng thắn bằng thước kẻ để tách biệt phần nầy với phần kia. Thấy tập vở nháp của con bé còn sạch sẽ và thứ tự hơn cuốn vở bài học của nhiều người khác, Tiến cười và nói:

“Chết rồi em ơi!”

“Chết cái gì hở anh?”

“Chết cái thằng nào sau nầy xui xẻo lấy em làm vợ. Ngăn nắp, sạch sẽ thế nầy, thì chỉ khổ cho thằng chồng mà thôi!”

Hoa cười toe, nhìn Tiến với ánh mắt tinh nghịch, nói lớn:

“Em không lấy ‘thằng’ nào cả. Chỉ lấy anh thôi. Cho anh khổ. Đáng đời”

Tiến nạt: “Con nít chưa biết gì, đừng nói bậy!”

Nhìn cái bàn học của Hoa ngăn nắp, sách vở vuông vắn sạch sẽ, bao bì gọn gàng. Tiến nói tiếp:

“Lời tiên tri của anh sẽ đúng như thần phán. Mai mốt mở mắt ra mà xem! Cái thằng nào vô phước lấy em làm vợ, sẽ chết nhăn răng ra.”

Tiến lui tới với bạn, ăn ngủ trong nhà, thân mật, xem Hoa như em gái nhỏ.

Tiến tốt nghiệp đại học, đi làm xa. Nhiều năm sau, khi có dịp trở về thành phố cũ, Tiến ghé thăm gia đình bạn. Gặp lại Hoa, Tiến ngẩn ngơ đứng nhìn như bị trời trồng, mất hồn mất viá trước nét đẹp thanh tú của em bạn đang ở tuổi dậy thì. Thân thể đầy đặn, ngực nở nang, vòng eo thon, chiếc quần ôm bó mông, chân dài. Đôi môi hồng nhạt he hé như cười, má trắng mịn trong suốt, có nhiều đường gân máu lăn tăn, với hai núng đồng tiền thoang thoáng. Chiếc mũi thon nhỏ, thẳng. Đôi mắt dài, hơi xếch, như đang cười, có đuôi, long lanh sáng. Chiếc cằm chẻ trên cổ cao trắng, có tóc đen dày cắt ngang ót. Hương con gái thơm mùi sữa thoang thoảng trong không gian. Thấy Hoa đẹp như thiên thần, Tiến quên mất lời tiên tri năm xưa.

Hoa cười, nụ cười duyên dáng làm Tiến ngẩn ngơ. Nhờ tình thân ngày xưa làmTiến bạo dạn liều lĩnh:

“Chết anh rồi Hoa ơi!”

“Sao mà chết?”

“Hoa đẹp quá. Anh không ngờ! Ngày xưa mà biết được thế nầy, thì…”

“Thì sao hở anh?”

“Thì… thì, thì anh có vợ đẹp.”

“Chưa muộn mà anh! Em vẫn chờ anh đây. Ngày xưa em có nói là không lấy ‘thằng’ nào. Chỉ lấy anh thôi, cho anh khổ!”

“Có thật không? Anh tình nguyện chịu khổ suốt đời vì em.”

Thế là Tiến và Hoa nắm tay nhau bồi hồi sung sướng, lòng lâng lâng như bay trên mây, muốn lắm nhung chưa dám ôm nhau vào lòng.

Đám cưới được tổ chức một thời gian ngắn sau đó.

Tiến có hai bộ áo ‘vét’ còn mới, đẹp, trang trọng, có thể lịch sự mặc trong lúc đám cưới. Nhưng Hoa lắc đầu không chịu, vì đám cưới thì phải mang áo quần mới. Tiến bảo: “Có ai biết mới hay cũ đâu mà sợ?” Hoa nhăn nhó: “Nhưng em biết. Em biết là đủ rồi.”

Hoa dẫn Tiến đi tìm thợ may nỗi tiếng trong thành phố, chọn vải may áo quần cưới cho chồng, lựa giày vớ mới có màu sắc hoà hợp với áo quần. Lựa cái “cà-vạt” sao cho nổi trên màu “sơ-mi” trắng, nhưng không chìm vào áo vét bên ngoài. Tiến chìu cho vợ vui, và thấy rắc rối đã khởi đầu.

Hoa kỹ lưỡng soạn sẵn chương trình hôn lễ, từng chi tiết một, đưa cho Tiến bắt học thuộc. Những lời cám ơn, giới thiệu, dặn dò trong tiệc cưới của hai họ cũng được viết sẵn, đưa cho hai bên đọc và sửa chữa, in thành nhiều bản, để từng người học cho thuộc lòng. Ông chú đại diện nhà trai nạt rằng: “Tao già đầu thế nầy, mà ăn nói không ra hồn hay sao mà đứa con nít mới nứt mắt phải dạy dỗ, bắt học thuộc lòng?”

Hoa yên chí mọi việc sẽ được tiến hành xuôi chèo mát mái. Thế mà trong tiệc cưới, ông đại diện họ nhà gái không đọc bài soạn sẵn, ứng khầu nói nhiều chuyện lang bang không liên hệ gì đến đám cưới, làm Hoa giận tím mặt, khóc, Tiến phải dỗ dành mãi mới tạm yên. Phần Tiến, dù vợ đã dặn dò kỹ lưỡng, thế mà vì nể bạn, uống rượu say mèm, khuya đó phải khiêng xác về phòng, và ngủ vùi đến sáng, bỏ mất đêm động phòng. Hoa nằm khóc rấm rứt. Hôm sau tỉnh rượu, bị vợ giận, Tiến thì thầm vào tai Hoa: “Gấp chi chuyện đó, ngày tháng còn dài mà”. Hoa xì một tiếng và đẩy chồng ra, không dám giận tiếp, vì sợ Tiến hiểu lầm.

Tiến sung sướng có vợ đẹp, giỏi, đảm đang, ngăn nắp, cẩn thận. Làm việc gì cũng nghiêm chỉnh, đàng hoàng. Nhưng Tiến vẫn cảm thấy có cái gì đó quá lễ nghi và trang trọng, dường như không ổn, thiếu tự nhiên, nguội mất cái lửa nồng nàn mỗi khi vợ chồng vui thú gối chăn. Cả hai phải chuẩn bị mọi chuyện thật kỹ mới được khởi sự nhập cuộc vui: Tắm rửa kỳ cọ sạch sẽ, giường màn thay mới, khăn lót, chăn đắp đầy đủ, cẩn thận. Khi vợ chồng vui vầy, thì cái thế nằm cũng phải thẳng thắn, ngay ngắn, nghiêm trang.

Rồi như một cổ máy vận hành đều đặn. Vợ Tiến nằm bất động, hai tay buông xuôi, nhắm mắt như e thẹn, như đang phạm tội tày trời, và không có một động tác hòa hợp nào. Những khi không kiểm soát được cảm xúc dồn dập, thì Hoa chỉ nghiến răng và hít hà nhè nhẹ. Việc e thẹn và thiếu hợp tác nồng nàn trong khi yêu nhau, làm cho Tiến cũng cảm thấy mất mát phần lớn cảm xúc, vơi đi niềm hoan lạc. Nhiều lần Tiến muốn thay đổi thế nằm trong lúc yêu, Hoa gạt phắt, không chịu.

Những lúc nầy Tiến cúi đầu, che dấu nụ cười thầm kín với ý nghĩ vợ anh còn khó hơn cả ông Khổng Tử ngày xưa, thịt cắt không vuông không ăn, còn Hoa thì nằm không ngay thẳng, đừng hòng có cuộc mây mưa. Nhưng Tiến thấy thương vợ biết kềm chế cảm xúc, không lộ liễu như những người đàn bà trong phim ảnh, khi khoái lạc dâng tràn thì lồng lộn, la hét rú gào như hổ động rừng.

Tiến kể cho Hoa nghe chuyện vợ chồng anh Năm, họ yêu nhau bất kỳ nơi đâu, trong phòng tắm, phòng khách, bàn viết, sàn nhà, bếp, nhà xe, rừng cây, bãi biển, trên du thuyền, khách sạn…khắp nơi, bất cứ lúc nào mà thấy lửa lòng bốc cháy, thì họ nhập cuộc ngay. Hoa lắc đầu nghiêm khắc nói: “Anh đừng nói chuyện bậy bạ đó với em. Em không muốn nghe!”

Kể từ ngày lấy được vợ, Tiến mất cái thú ăn ở bừa bãi. Xưa áo quần quẳng lung tung trên ghế, bàn, giường, tủ. Sách vở, báo chí chất đống khắp nơi. Hoa cần mẫn sắp đặt lại mọi thứ vật dụng ngăn nắp, thứ tự, cẩn thận, đâu ra đó. Cái gì ở vị trí nào, dùng xong thì phải cất lại nơi cũ. Tủ áo quần, loại mùa đông, mùa hè treo riêng. Sách vở xếp theo thể loại, có danh mục, thứ tự. Chén bát cũng mỗi thứ để riêng. Đặt ra nội quy hai mươi mấy điều, viết dán trên tường. Không ai được phá lệ. Tiến hoa mắt với những điều khoản ghi trong nội quy. Tiến nhìn vợ vừa cười vừa nói: “Em ơi, đây là tổ ấm hạnh phúc hay là quân trường huấn luyện lính?” Hoa đáp: “Anh có nghe câu ‘Quân trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu không’?”

Thời độc thân, Tiến thường cơm hàng cháo chợ, qua loa cho xong bữa. Khi ăn tại nhà, thì cũng chỉ một cái dĩa lớn với muỗng nĩa. Vừa ăn vừa nghe nhạc, xem truyền hình hoặc đọc sách, có khi chăm chú đọc quên cả ăn. Bây giờ mỗi bữa cơm trịnh trọng ngồi vào bàn, phải có khăn ăn, khăn bàn với màu sắc phù hợp, muỗng nĩa, thứ nào để bên phải, bên trái của người dùng. Mọi thứ ngăn nắp, không được để lộn xộn. Khi ăn thì có món ăn trước, món ăn sau, theo thứ tự quy định. Tiến thường đùa: “Rồi thứ nào nó cũng vào bụng, hoà lẫn với nhau, ăn trước hay sau thì cũng thế thôi.” Hoa nhăn mặt nghiêm khắc bảo chồng đừng nói chuyện tào lao.

Khi ăn, Tiến được vợ nhắc nhở mãi, không được chống cùi chỏ lên bàn, ăn uống phải từ tốn, húp canh đừng tạo thành tiếng, đang nhai nhồm nhoàm thì không được nói. Tiến lầu bầu: “Ngăn nắp. kỷ luật quá đáng, làm mất cái tự nhiên, mất ngon một phần, và mất luôn cả cái hạnh phúc được tự do ăn uống theo ý mình.”

Từ ngày Hoa bước chân về nhà nầy, phòng ốc sáng sủa, sạch sẽ ngăn nắp hẳn. Báo chí, thư từ, hoặc các thứ vật dụng khác đều được dọn sạch, cất kỹ. Mỗi lần muốn đọc, Tiến phải đi tìm, lục lạo hết nơi nầy qua nơi khác, mà không dám than một tiếng. Cái bàn được lau chùi sạch sẽ mỗi ngày, trống trơn, với cái bình hoa còn tươi, cánh hoa nào hơi héo phải ngắt ra ngay.

Mấy cái hộp bấm tự động điều khiển máy truyền hình, máy chiếu phim, máy hát, thứ nào phải để vào vị trí thích hợp gần máy đó. Các loại chìa khoá khi đi về phải treo ngay vào hộp, ở đúng vị trí đã quy định. Không được thuận tay mà móc đại vào. Kính đeo mắt cũng có nơi chốn riêng. Hoa thường nói đùa, nếu không có nàng, thì chồng phải phí phạm cả một phần năm đời người để đi tìm chìa khoá xe và kiếng đeo mắt.

Ban đầu, Tiến cũng hơi bực mình khổ sở vì sự ngăn nắp quá đáng, nhưng cũng phải gắng làm theo cho vợ vui. Lâu dần, thành thói quen, nhưng vẫn không thấy thoải mái.

Lần hai vợ chồng đi thăm viện bảo tàng nghệ thuật D’Orsey ở Paris, Tiến muốn chụp hình vợ với các bức tượng đàn ông đẹp, nở nang, bằng đá trắng khỏa thân loã lồ, Hoa không chịu và nói nhỏ: “Ngượng chết! Đừng. Gì mà lõa lồ, chàng hảng chân tay, phơi bày tục tĩu” Khi đi qua một bức tranh lớn bằng khung cửa sổ, vẽ hình cái bộ phận kín của đàn bà, râu ria đen rậm rì như lau sậy của một khe núi, Tiến dừng lại ngắm nhìn. Tưởng cái đó là tục tỉu sổ sàng, phải che đậy, dấu diềm kỹ, không ngờ mấy ông Tây cũng khám phá ra được nét nghệ thuật, đem ra trưng bày cho thiên hạ chiêm ngưỡng chơi.

Hoa kéo tay dục chồng đi và nói: “Đi, đi! Nhìn gì mà kỹ thế? Không biết xấu hổ với thiên hạ sao? Kỳ lắm. Chẳng phải là nghệ thuật.”

Tiến gượng lại: “Để anh xem ông hoạ sĩ nầy vẽ cái gì mà lạ quá, nghĩ mãi không ra!”

Hoa cằn nhằn; “Cái gì nữa. Ai có lạ gì thứ nầy?”

“Anh chưa thấy cái gì lạ như thế nầy bao giờ cả!”

“Đừng có giả vờ. Anh biết chán!”

Tiến thở dài: “Của vợ, còn chưa được thấy, làm sao thấy được của ai?”

Hoa nhéo vào vai Tiền, rồi kéo áo lôi chồng đi.

Một sáng chủ nhật Tiến bắc thang leo lên mái nhà để tìm hiểu tại sao có mấy vết ố vàng trên trần. Loay hoay mãi vẫn chưa tìm ra nơi hư hỏng làm nước thấm xuống. Tiến bò qua phía mái nghiêng bên kia, nhìn xuống thung lũng, thấy nhà cửa, đường sá, xe cộ và một vùng hồ rộng thơ mộng, mải mơ màng.

Đứng trên mái nhà cũng có cái khoái cảm lạ, lâng lâng. Đến lúc nhìn ngắm đã chán chê, định trở xuống, thì cái thang không còn đó nữa. Tiến cười, biết vợ tưởng cái thang để quên từ hôm nào nên mang cất. Tiến gào xuống thật to tiếng:

“Em ơi, định nhốt anh trên mái nhà sao? Tội nghiệp anh. Đem thang ra cho anh xuống! Anh đang ở trên mái nhà đây!”

Tiến kêu mãi mà vợ vẫn không nghe. Tiến dùng cây gõ vào máng xối, tạo thành tiếng để báo hiệu, vẫn không kết quả. Lúc nầy Hoa đã lái xe đi xuống phố rồi. Gào mãi khản cả cổ, không ai đáp lời. Tiến bò qua mái bên kia ngắm cảnh và làm vài ba câu thơ cho qua thì giờ chờ đợi vợ về.

Rồi nổi hứng, đứng trên mái nhà mà khoa tay múa chân ca hát vu vơ. Nắng càng lúc càng nóng nực, vừa khát nước, vừa mót tiểu. Khát khô cả cổ. Muốn ngồi trên mái nhà xả vòi rồng xuống nhưng sợ, hàng xóm biết. Tiến mệt nhoài và đổ cáu. Thấy ông cụ hàng xóm ngồi phơi nắng trước hiên nhà, Tiến gào lớn gọi ông, để nhờ kêu điện thoại cho vợ về. Gọi mãi mà cụ chẳng nghe. Gõ mạnh vào máng xối ông cũng tỉnh bơ, Tiến chợt nhớ cụ nầy đã điếc đặc từ lâu rồi. Chán quá và thấy mệt, Tiến ngồi lên đường nóc, hai chân gác hai bên để giữ cho an toàn, sợ ngủ gục, té xuống chết tươi.

Mãi đến quá trưa mới thấy Hoa lái xe về. Tiến vội la thật lớn và khua tay múa chân cho vợ nghe, sợ khi vào nhà, thì không còn nghe được nữa. Hoa ngước nhìn lên mái nhà:

“Anh làm gì trên mái thế ? Cứ leo lên mái nhà mãi! Coi chừng, cẩn thận kẻo té. Bác Long rơi từ mái nhà, nằm liệt mấy năm nay rồi đó. Xuống ngay đi!”

“Em cất mất cái thang rồi, anh làm sao mà xuống đây! Em phạt anh ác quá! Giam trên mái từ sáng đến giờ. Khát khô cháy cổ họng, lại mót gần tiểu ra cả quần rồi đây”

“Chết, chết, khi cất thang em đã nhìn lên mái không thấy anh, tưởng đâu anh để quên thang từ hôm nào khác. Thôi em xin lỗi anh.”

Dằn cơn giận, Tiến nói đùa cho lòng nhẹ bực tức:

“Mau lên. Đem thang ra! Đừng để hàng xóm họ tưởng anh giận vợ làm reo, leo lên mái nhà ngồi hát vu vơ!”

Nhiều lần, đang định sửa chữa một cái gì đó, Tiến để tạm mấy cái kềm buá trên bàn, đi xuống kho tìm thêm mấy món dụng cụ khác, khi quay lại, thì các thứ kia biến mất. Tiến bâng khuâng không biết mình lẩn thẩn, quên trước quên sau, như bị bệnh mất trí nhớ, mộng mị. Rõ ràng, mới để mấy cái dụng cụ trên bàn nầy, bây giờ bay mất tiêu. Tiến không dám hỏi vợ, ngại bị cằn nhằn to tiếng.

Khi bị hỏi, thường vợ Tiến hay gắt gỏng: “Em không đụng vào cái gì của anh cả. Cứ đổ thừa cho em hoài. Ai mà chịu nổi?” Tiến không muốn cãi vã ồn ào, đi lục lại thùng dụng cụ, và thấy cái búa, kềm nằm đó. Tiến cứ nghĩ không chừng, chính anh, lẩm cẩm, chưa lấy ra mà tưởng để trên bàn. Sự thực, thì Hoa thấy chướng mắt, tưởng Tiến bừa bãi, mà đem cất đi.

Đôi lần, Tiến vừa kéo cái máy hút bụi ra, chưa kịp cắm điện, thì vội vã chạy vào nhà cầu tiểu tiện. Khi quay ra, thì không thấy cái máy đâu cả. Tiến bực mình: “Cái máy hút bụi đâu rồi? Anh mới để đây! Em có cất đi không?”

Vợ Tiến gắt: “Để bừa bãi lung tung. Khi nào dùng mới lôi ra. Để giữa nhà chướng mắt lắm.”

Bất cứ lúc nào, khi Tiến đặt tạm một cái gì đó ở đâu, để đi tìm thêm cái khác, khi quay lại thì đã biến mất. Biết vợ đã cất đi, dọn dẹp lại cho ngăn nắp, thứ tự. Tiến cứ âm thầm tìm lại, không muốn nói ra. Bực nhất là chùm chìa khoá và đôi mắt kiếng, cứ mới để tạm đâu đó, thoắt một cái, là biến ngay, chúng trở vào nằm đúng vị trí đã chỉ định.

Một lần lái xe định đi chơi xa trong vài tuần. Trước khi khởi hành, Tiến cởi cái áo khoác ngoài máng lên ghế, để vào cầu tiểu xả cho hết nước thừa trong cơ thể Khi quay lại, thấy cái áo đã biến mất, biết vợ đã cất giúp. Tiến mở tủ lôi áo mặc lại vào người, nhưng đã lấy lộn áo khác, vì hai cái cùng màu, giống nhau.

Khi đi xa đã ba trăm dặm, mới khám phá ra cái ví nằm trong túi áo kia, tất cả giấy tờ, bằng lài xe, tiền bạc, thẻ tín dụng, đều nằm ở nhà. Đi tới thì không được, đi lui thì mệt quá. Bực lắm, mà Tiến chỉ dám than nhẹ nhàng:

“Em làm hư cuộc hành trình của chúng ta rồi!”

“Ai bảo anh bừa bãi, máng áo vào ghế làm chi? Trước khi mặc áo vào, thì phải kiểm soát lại chứ! Không có quyền ỷ y chuyện gì cả.”

Cứ mỗi lần đi đâu, vừa lái xe ra khỏi nhà chừng vài dặm, thì vợ hỏi:

“Anh đã khoá cửa nhà rồi chứ?”

“Rồi”

“Chắc không? Chắc anh đã khoá rồi chưa?”

Dù đã khoá rồi, nhưng vợ hỏi bất ngờ, hỏi tới, làm Tiến lúng túng, nghi ngờ, không biết mình đã thực sự khoá rồi hay chưa. Nhiều khi phải quay xe lại để kiểm soát. Lần nào cũng đã khóa rồi. Tiến giận bảo: “Lần sau có hỏi, thì hỏi ngay khi xe chưa nổ máy, nếu đã đi ra rồi, anh sẽ không trả lời đâu! Có những lúc em ra khỏi nhà sau anh, mà cứ hỏi anh đã khoá cửa chưa thì làm sao anh trả lời được? Em cẩn thận quá, lo lắng quá, làm mất cái thanh thản tâm hồn đi.” Hoa cười rất tự nhiên: “Nếu chưa biết chắc cửa đã khoá, thì cứ áy náy, lo âu, làm sao mà lòng thanh thản được?”

Mỗi đêm, vợ Tiến cứ hỏi đi hỏi lại nhiều lần, cửa ngõ nầy đã khoá chưa, nhà xe có quên đóng cửa, đèn tắt chưa, có mở bếp nấu gì không, nếu có thì đã tắt bếp chưa. Dù đã trả lời, mà vợ cứ đi hỏi lại đến năm bảy lần nữa làm Tiến phải cáu gắt gỏng.

Từng đêm, vợ bắt Tiến đi ngủ đúng giờ, không cho đọc sách ru giấc, lấy lý do đèn chói mắt. Thèm đọc sách lắm, mà Tiến đành chịu thua. Sáng nghe đồng hố báo thức thì phải dậy, không được nằm ngủ nướng. Tiến thèm thuồng những giấc ngủ nướng tuyệt diệu đó, nhưng không bao giờ có được.

Có người hỏi Tiến sao khi nào cũng ăn mặc trịnh trọng, áo quần thẳng thắn, tóc tai gọn gàng như đi ăn đám cưới. Tiến cười, đùa rằng: “Bắt chước người xưa mà nói, sau lưng một người đàn ông ăn mặc chững chạc, có con mắt nghiêm khắc của một bà vợ ngăn nắp kiểm soát.”

Những lúc Tiến ôm đầu khổ sở vì cái ngăn nắp thứ tự sạch sẽ của vợ, Hoa đến ôm vai, vò tóc chồng đùa nhắc lại lời nói của Tiến ngày xưa:

“Lời tiên tri của anh đã chứng nghiệm như thần!”

Rồi tiếp:

“Biết là sẽ khổ, mà cũng cứ liều chết xung phong nhào vào! Ráng chịu thôi”

Tram Ca Mau 

Blog Archive