Monday, August 2, 2021

Những người cộng sản: Đảng Dân chủ Ngày nay(Phần 1)

Tác giả : Roger Anghis Nguồn: News With Views Ngày đăng: 2021-08-01

Một diễn biến rất đáng lo ngại đã xảy ra trong nền chính trị Hoa Kỳ mà lẽ ra phải là một lời cảnh tỉnh lớn cho tất cả người Mỹ. Đảng hiện đang nắm quyền, mặc dù nó được hình thành thông qua sự lừa đảo và lừa gạt lớn, đã trở thành đảng của những người cộng sản.

Mỹ đã chiến đấu chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản trong nhiều thập nien nhưng giờ đây nó là một trong những đảng chính trị chủ đạo của chúng tôi. Họ đã có được chỗ đứng này thông qua lừa dối và gian lận. Họ đã không công khai nói ý định thực sự của họ là gì. Sự mập mờ đó và sự kiện người dân Mỹ đã ngủ quên không đề cập tới… lại trở thành một thái độ thờ ơ với những người mà chúng ta đặt vào những vị trí có quyền lực.

Những Vị Lập Quốc của chúng ta tin rằng miễn là mọi người tham gia vào tiến trình chính trị thì họ sẽ niềm vinh dự tại công sở. Nhưng chúng ta đã trở nên lười biếng và không chú ý đến tính cách của người mà chúng ta đã bầu chọn. Năm 1780, Vị Cha Già lập quốc Samuel Adams tuyên bố: 

"Nếu có lúc nào đó, khi những kẻ vô tài nhưng đầy tham vọng chiếm được những chiếc ghế cao nhất trong Chính phủ, thì đất nước chúng ta sẽ cần đến những người yêu nước giàu kinh nghiệm để ngăn chặn sự tàn lụi của quốc gia.

Chúng ta đã có những người lãnh đạo mang nhân cách đầy nghi vấn trong chức vụ cao nhất của đất nước trong hơn một trăm năm.

- Tổng thống Woodrow Wilson là một người phân biệt chủng tộc và tạo chia rẻ trong quân đội của chúng ta, một quân đội đã được kết hợp từ thời Nội chiến, ông ấy đã chuyển hệ thống tiền tệ của chúng ta qua các ngân hàng ở Anh, ông ấy cũng là một đảng viên Đảng Dân chủ.

- Tổng thống Franklin Delano Roosevelt (FDR) là một người theo chủ nghĩa xã hội lạnh lùng. Ông tin rằng để chính phủ điều hành nền kinh tế thì tốt hơn là để cho hệ thống thị trường tự do mà chúng ta có. Ông tiếp quản quyền lãnh đạo từ một nền cộng hòa thiếu kinh nghiệm ba năm sau cuộc Đại suy thoái, sau đó tiếp tục kéo dài sự suy thoái đó trong chín năm nữa bằng các chính sách thuế và chi tiêu mà cố vấn kinh tế của ông là Henry Morgenthau gọi các chính sách của FDR là một thất bại: 

Vào ngày 6 tháng 5 năm 1939, Henry Morgenthau, thư ký ngân khố của Roosevelt, xác nhận sự thất bại hoàn toàn của Thỏa thuận Mới trong việc ngăn chặn cuộc Đại suy thoái: 

Chúng tôi đang chi tiêu nhiều hơn những gì chúng tôi đã chi trước đây và nó không hoạt động hữu hiệu. . . . Tôi nói rằng sau tám năm của Chính quyền này, chúng ta thất nghiệp nhiều như khi chúng ta bắt đầu. . . . Và mang một món nợ khổng lồ ! ”[1] 

Những người theo chủ nghĩa xã hội cho rằng nếu bạn càng đánh thuế người dân nhiều hơn và chính phủ càng chi tiêu nhiều thì nền kinh tế sẽ càng tốt hơn, nhưng cách này đã thất bại 100%. FDR đã chứng minh điều đó, Jimmy Carter đã chứng minh điều đó, và Barack Obama đã chứng minh điều đó, nhưng Biden đang theo bước chân của họ. Những kẻ ngu ngốc không bao giờ học được bài học.

Sự chậm chạp bò lết tới chủ nghĩa xã hội đã diễn ra trong một thời gian dài nhưng nó cũng có thể phát triển mạnh mẽ bởi vì người dân Hoa Kỳ đã rơi vào niềm tin rằng sự hình thành của chủ nghĩa xã hội / chủ nghĩa cộng sản không bao giờ có thể xảy ra ở đây. Nhưng quái lạ thay, chúng ta đang nhìn thấy nó ngay trước mắt. Chính phủ liên bang đã hết lần này đến lần khác vượt quá thẩm quyền hiến pháp của mình. Họ đã nắm quyền ở những lãnh vực mà những vị lập quốc không bao giờ có ý định để chính phủ liên bang kiểm soát. Những vị lập quốc đã trao cho các tiểu bang nhiều quyền kiểm soát hơn chính phủ liên bang, nhưng ngày nay chính phủ liên bang lại có nhiều quyền kiểm soát hơn đối với những gì đáng lẽ chỉ có trong quyền lực của tiểu bang.

Các tiểu bang phải kiểm soát tất cả các cuộc bầu cử và cách thức chúng được tiến hành, nhưng vị Bộ trưởng Tư pháp Merrick Garland phi pháp của chúng tôi đã cảnh báo các tiểu bang đang tiến hành kiểm toán (phiếu bầu cử) rằng... ông ấy sẽ can thiệp nếu thấy cần, và cảnh báo rằng các tiểu bang khác đừng băt chước kiểm toán như ở Arizona đang làm.
Merrick Garland

Bộ trưởng Tư pháp Hoa Kỳ Merrick Garland cảnh báo các tiểu bang nào đang suy tính việc bắt chước theo gương kiểm toán bầu cử tự khởi xướng của Arizona, hoặc muốn ban hành các luật nhằm hạn chế việc bỏ phiếu với lý do chống gian lận, rằng.. Bộ Tư pháp sẽ để cho một bộ phận dân quyền dán mắt chú ý vào họ.

Các nhà lập pháp của Đảng Cộng hòa từ nhiều tiểu bang khác nhau đã đi tham quan "Đấu trường Tưởng niệm Cựu chiến binh" (địa điểm kiểm toán) trong những ngày gần đây để có cái nhìn trực tiếp về việc kiểm phiếu lại và xem xét lại cuộc tổng tuyển cử năm 2020 ở Hạt Maricopa đã diễn ra từ cuối tháng 4 và nhiều người đang đề xuất thực hiện các cuộc kiểm toán tương tự trong tiểu bang của họ.

Ông Bộ Trưởng Merrick Garland cho biết hôm thứ Sáu rằng Bộ Tư pháp sẽ xem xét kỹ lưỡng bất kỳ cuộc kiểm toán nào như vậy để đảm bảo rằng chúng tuân thủ luật liên bang, cấm đe dọa cử tri và yêu cầu bảo vệ các lá phiếu và các hồ sơ bầu cử khác. Bộ cũng sẽ phổ biến các hướng dẫn giải thích luật dân sự và hình sự liên bang cho các tiểu bang nào áp dụng việc kiểm toán sau bầu cử trong tương lai.

Bộ trưởng Tư pháp cho biết việc giám soát tương tự sẽ được áp dụng cho bất kỳ luật mới nào mà các tiểu bang có thể thông qua để hạn chế quyền tiếp cận bỏ phiếu, điều này có thể gây chia rẽ đối với Arizona nếu các nhà lập pháp của tiểu bang tìm cách thông qua luật như vậy để đáp lại những phát hiện có chủ đích của cuộc kiểm toán. Garland thông báo rằng ông đang tăng gấp đôi số lượng luật sư trong bộ phận dân quyền của DOJ, những người chịu trách nhiệm bảo vệ quyền bỏ phiếu. [2] Hãy nhớ rằng chính phủ liên bang không có quyền nói về cách các tiểu bang tiến hành bầu cử hoặc kiểm toán.

Một chế độ độc tài ở đâu đó sẽ thực hiện một động thái như vậy nhưng không thể có ở nền cộng hòa lập hiến này. Nếu bạn chú ý trong hai mươi năm qua, bạn sẽ thấy đảng dân chủ trong nhiều trường hợp phớt lờ Hiến pháp của chúng ta ở nhiều cấp độ.
Pete Stark

Trong một cuộc họp ở tòa thị chính ở California vào năm 2010, Dân biểu Pete Stark (D) đã phải đối mặt với một cử tri tức giận liên quan đến các luật vi hiến mà Quốc hội thông qua: Người phụ nữ kết luận bằng cách hỏi, 

Làm thế nào mà luật như thế này có thể hợp hiến khi nó có vẻ xung đột trực tiếp với Tu Chánh Án thứ 13? … Và… nếu luật này là hợp hiến, thì có những hạn chế nào đối với khả năng của chính phủ liên bang trong việc cho chúng tôi biết cách điều hành cuộc sống riêng tư của mình? ”

Tôi nghĩ rằng có rất ít giới hạn hiến pháp có thể ngăn chính phủ liên bang khỏi các quy tắc có thể ảnh hưởng đến cuộc sống riêng tư của bạn,” Stark trả lời. "Bây giờ, căn bản cho điều đó là, nó sẽ ảnh hưởng đến những người khác như thế nào?"

Người phụ nữ cắt ngang : "Trước khi ông ấy có thể tiếp tục chỉ ra rằng hiến pháp giới hạn thẩm quyền của chính phủ liên bang và phân bổ quyền lực cho các tiểu bang. Câu hỏi của tôi là: Làm thế nào để luật này có thể hợp hiến? - nhưng quan trọng hơn thế - nếu họ có thể làm được điều này, thì những gì họ không thể? ” .

Stark do dự, và người phụ nữ hét lên, "Câu trả lời của ông là họ có thể làm bất cứ điều gì chăng ?"

Stark trả lời, "Chính phủ liên bang, vâng, có thể làm hầu hết mọi thứ ở đất nước này."

Căn phòng nổ ra những tiếng la ó"boos" và tiếng vang của câu kinh ngạc "cái gì ?!?"

"Thưa, chính ngài, và những người nghĩ như ngài ” giọng người phụ nữ vang lên, “đang hủy diệt quốc gia này. ” [3]

Lưu ý rằng ông ấy tin rằng chính phủ liên bang có thể làm bất cứ điều gì họ muốn, điều này khác xa với những gì các Vị Lập Quốc của chúng ta tin tưởng. Cách thức cai trị của Đảng Dân chủ hoàn toàn không có trong sách của Stalin. Chính phủ kiểm soát mọi thứ và người dân phải tuân thủ các yêu cầu của chính phủ trong khi thực tế của nó là chính phủ được cho là đại diện cho ý chí của người dân, đó là lý do tại sao Trump rất được yêu thích. Ông ấy đặt nước Mỹ lên hàng đầu. Đảng Dân chủ đặt chương trình nghị sự của họ về sự kiểm soát hoàn toàn của người dân lên hàng đầu. Đây chính là Chủ nghĩa cộng sản thuần túy.

Tác giả Roger Anghis là Người sáng lập của BuildingtheTruth.org, một tổ chức được thành lập nhằm thu hút sự chú ý đến nhu cầu không chỉ của tự do ngôn luận cho các nhà thờ mà còn phổ biến thông tin chính xác thông qua báo chí có trách nhiệm.

Cái Nốt Ruồi

Kim đồng hồ đeo tay chỉ đúng 1 giờ 10. Thế là lớp học đã bắt đầu được 10 phút. Lại trễ nữa! Nhìn về phía cánh cửa đang mở rộng của giảng đường Hội Hữu của trường Văn Khoa, tôi tần ngần không biết có nên vào lớp hay không. Chẳng lẽ "cúp cua" thêm một bữa? Tôi đã trốn lớp mấy ngày rồi vì cái tội la cà các quán cà phê nên tới trường trễ. Tôi ngần ngại không muốn ngất ngưởng đi vào lớp một mình, một phần vì thấy kỳ kỳ và một phần sợ bị thầy nhớ mặt và ghi tội, một điều hơi phiền toái nếu phải thi vấn đáp vào ngày cuối khóa. Tuy nhiên nếu bỏ học nữa thì cái lương tâm bèo nhèo của tôi sẽ bị cái hàm răng giả của nó cắn... nhột không chịu được. Hơn nữa, nghỉ nhiều thế thì không biết bài vở sẽ ra làm sao. 

Các Đại Học miền Nam hồi đó rất thiếu giáo sư và thường thường một số thầy phải "chạy" trường. Các Đại Học cố gắng sắp xếp thời khóa biểu làm sao để các thầy chỉ tới trường vài lần trong mỗi lục cá nguyệt. Mỗi lần như thế, các thầy đều ở lại nhiều tuần liên tiếp, dạy dồn dập mỗi ngày nhiều giờ cho hết chương trình. Vì thế, chỉ cần cúp cua một ngày là sinh viên sẽ lội bì bõm cho đến cuối khóa. Do đó, tôi bèn nghiến chặt răng, đầu cúi thấp, nhẹ nhàng bước vào lớp và ngồi vào hàng ghế trống cuối cùng. Tôi nhìn lên bục, thầy đang hăng hái giảng bài và hình như không chú ý đến tên sinh viên đi trễ. Tôi thở phào nhẹ nhõm, và bắt đầu láo liên cặp mắt quan sát các hàng ghế chung quanh. Hầu hết mọi người đều chăm chú nghe giảng bài và tôi chỉ thấy được phía sau hay cùng lắm là một bên khuôn mặt của mỗi người.

Tôi bỗng như chạm vào đường dây điện cao thế khi ánh mắt quét tới hàng ghế bên cạnh. Người con gái, mặt mày nghiêm trang lạnh lùng như một bức tượng bằng thạch cao, mắt nhìn thẳng về phía bục giảng bài, chăm chú theo dõi lời thầy. Tôi quả là không nói ngoa khi bảo rằng khuôn mặt của cô gái giống như bức tượng. Tôi chỉ thấy được phần nghiêng của khuôn mặt vì thủy chung nàng không hề quay về phía tôi, dù chỉ là trong một vài giây ngắn ngủi. Nét mặt nhìn nghiêng thật là thanh tú với sống mũi cao và thẳng nằm ngay dưới một khuôn mắt mang nhiều nét Tây phương. Làn môi không dày không mỏng được khép một cách hờ hững, và khóe miệng về phía tôi hơi nhếch lên một tí. Và đặc biệt nhất, ngay trên khóe miệng đó, có một cái nốt ruồi to gần bằng nửa hạt đậu đen. Vì không nhìn thẳng đuợc khuôn mặt cô gái nên tôi không thể biết được là nốt ruồi đó làm tăng hay giảm sắc đẹp của "bức tượng". Mặc dù thế, nhìn nghiêng, cái nốt ruồi cộng thêm cái khoé mép hơi nhếch lên và cái sống mũi thon nhỏ có một sức quyến rũ thật là mãnh liệt. Và do đó, thay vì nghe thầy giảng bài, đầu óc của tôi lúc nào cũng gởi trọn về khuôn mặt bên cạnh, trong khi bên ngoài vẫn làm ra vẻ chăm chú nhìn về phía trước. Thỉnh thoảng tôi giả bộ ngọ nguậy uốn mình cho đỡ mỏi lưng và liếc nhanh về phía trái, chỉ đủ để thấy cái nốt ruồi đậm màu trên một làn da trắng bóc, nằm chênh chếch trên bờ môi mọng đỏ. Ôi, màu sắc sao mà hoà hợp một cách lạ kỳ. Chưa bao giờ tôi thấy ba màu đỏ, trắng và đen đi với nhau một cách tuyệt diệu như thế! Tất cả lại lồng trong ánh nắng chiều xanh như màu nước chè tươi của mùa thu Dalat. Trời ơi, không lẽ Thiên đàng lại ở trong lớp học nhỏ bé này sao ? Tôi bần thần theo dõi một cách kín đáo người hàng xóm "Trời cho" này. Trước mặt nàng, cuốn sách mở sẵn trên bàn được đều đặn lật qua trang mới, đi rất sát với lời giảng của thầy, mà cô nàng thủy chung không cần liếc xuống nhìn vào sách. Tôi thầm nghĩ trong bụng rằng cô bé này giỏi thật, và cũng bắt chước nàng lật sách như một cái máy. Hễ nàng lật là tôi lật, mặc dù chẳng biết, và cũng chẳng thắc mắc, mình đang ở trang nào.

Khi tan lớp, vào khoảng 5 giờ chiều, nàng là người rời lớp học sau cùng. Tôi ra trước và phất phơ đứng hút thuốc ngoài sân, mục đích là sẽ lẽo đẽo theo sau để tìm xem "hang cọp" ở chỗ nào. Cuối cùng cái bóng áo dài trắng thướt tha cũng rời lớp và thong thả đi về hướng nhà thờ Năng Tĩnh. Nàng hình như không hề biết là có một gã đầu trâu mặt ngựa đang dở trò trinh thám theo sau. Nàng đi thẳng vào nhà nguyện, và... dĩ nhiên tôi cũng vào theo. Nàng tiến đến gần bàn thờ và quỳ ngay hàng ghế đầu tiên trước cung thánh. Tôi chỉ dám thu mình trong chiếc ghế cuối góc nhà thờ để nhìn lên, không có can đảm tiến tới phía trước. Không hiểu tại sao mỗi khi "định mệnh run rủi" tôi phải vào nhà thờ, tôi chỉ thấy thoải mái khi được ngồi ở hàng ghế sau cùng vì, thú thật, mỗi lần nhìn lên Chúa trên cây Thánh Giá tôi thấy ngài ngại làm sao, có lẽ do mặc cảm rằng mình là kẻ ngoại đạo và tự cảm thấy mình quá ư là bê bối. 

Nàng quỳ im lìm, đầu hơi cúi xuống. Mái tóc kiểu Sylvie Vartan màu đen tương phản với màu trắng của chiếc áo dài. Ánh sáng lờ mờ do tia nắng chiều èo uột xuyên qua những khung kính đục rơi lên trên hàng ghế nàng quỳ tạo thành một bức tranh đen trắng lung linh huyền ảo. Nàng miệt mài cúi đầu cầu nguyện, mặc thời gian trôi qua một cách chậm rãi đến sốt ruột. Đúng là Trời hại tôi, "bức tượng" của tôi chẳng những có đạo mà còn là một con chiên quá sức ngoan đạo ! Than ôi, số tôi thật là khổ! Điệu này lại phải mất công đi làm quen một vị linh mục hay một vị nữ tu nào để xin học đạo. Cái món giáo lý coi bộ hơi khó nuốt đối với tôi. Trong suốt thời gian gần chục năm nội trú ở trong một trường đạo, tôi chỉ nhớ được có mỗi một điều là Đức Chúa Trời có 3 Ngôi, còn 3 Ngôi như thế nào thì mù tịt. Nếu bị hỏi ép quá thì đành giở trò bài bây: ngôi thứ nhất là "Mỏa" , ngôi thứ hai là "Toa" và ngôi thứ ba là "Lũy"...

Nhìn đồng hồ tay đã thấy gần 7 giờ tối mà "bức tượng" vẫn không nhúc nhích, tôi đành phải bấm bụng rời nhà nguyện để tới quán ăn cơm tháng cho kịp vì không muốn phải mất ngủ vì bao tử trống không. Với cái lạnh của đêm khuya Dalat, cảm giác đói bụng không phải là một điều dễ chịu, mặc dù đối với những sinh viên nghèo như tôi, cái cảm giác này đã trở thành một người bạn thân thiết.

Và từ đó trong vòng bốn tuần lễ liên tiếp, ngày nào tôi cũng tới lớp, ngồi hàng ghế cuối cùng, sau "bức tượng" một hàng, lén lút chiêm ngưỡng trong thầm lặng cái nốt ruồi tai hại, và khi tan lớp lại lếch thếch đi theo nàng lên nhà nguyện. Nhiều lúc tôi cũng có ý muốn bước nhanh lên để gợi chuyện làm quen, nhưng khi thoáng liếc qua gương mặt lạnh như ly cà phê sữa đá trong một buổi sáng Dalat, bao nhiêu can đảm đều theo khói thuốc Bastos Quân Tiếp Vụ bay lên nhập vào đám mây dày đặc của bầu trời thu xám xịt. Và ngày nào cũng như ngày nấy, đến giờ cơm tối nàng vẫn còn gục đầu cầu nguyện, tôi lại đành phải thầm tạm biệt nàng để đi săn sóc cái bao tử lép kẹp của mình. "Thương em thì thương rất nhiều" nhưng "anh phải sống", em ơi !!!

Bạn bè tôi nhiều người ngạc nhiên khi thấy tôi lên nhà thờ mỗi buổi chiều sau lớp học mà không hiểu nguyên do. Tôi nhủ thầm thật là may mắn khi cái lũ quỷ sứ này không phát giác ra mục tiêu của sự theo đuổi của tôi. Chỉ cần một đứa biết thì cả đám ôn thần dịch vật này sẽ làm rùm beng lên, thậm chí còn có đứa dám tìm cách gài bẫy để tặng cho tôi nhiều cú đau đớn. Vì biết thế, nên tôi càng cẩn thận hơn không dám theo nàng quá sát và cũng không dám liều lĩnh làm quen. Một điều làm tôi ngạc nhiên là hầu như trong lớp, ngoài tôi ra, không ai để ý đến nàng cả. Có thể là quan niệm về thẩm mỹ của tôi khác với mọi người, hay là mắt mũi của tôi kèm nhèm chẳng nhận ra được nỗi lòng thầm kín của những kẻ chung quanh. Không tìm được câu trả lời thỏa đáng, và cũng không dám tâm sự cùng ai, tôi đành bỏ không thèm thắc mắc thêm làm chi cho mệt xác.

o0o
Hôm nay là ngày cuối cùng của khóa học. Trên đường tới lớp, tôi tự nhủ chiều nay thế nào cũng phải gợi chuyện với nàng cho bằng được, sống chết gì cũng phải làm cho cóc mở miệng. Đây là cơ hội cuối cùng. Nhưng khi bước vào lớp, tôi choáng váng như bị ông thợ rèn gần nhà nện cho một búa vào đầu: nàng không có mặt trong lớp! Điều này có vẻ không ổn tí nào. Ngày học cuối thường là ngày quan trọng nhất vì các thầy đều cho biết những chi tiết liên quan đến kỳ thi cuối khóa. "Bức tượng" đã có mặt trong tất cả các buổi học, mà lại vắng mặt ngày hôm nay, đó là điều tôi không thể tưởng tượng được. Suốt mấy tiếng đồng hồ, tôi như người mất hồn, không biết và không nhớ được một lời nói nào của thầy. Quanh đi quẩn lại trong óc cũng chỉ có ba điều: nốt ruồi đen, bờ môi đỏ và màu da trắng mà thôi. Tôi cứ lẩm nhẩm mãi một câu hát không biết nhặt được từ một xó xỉnh tối tăm nào của mấy quán cà phê: "Em ơi, bây giờ em ở nơi đâu..."

Vừa tan lớp, tôi tức tốc chạy lên Năng Tĩnh. Nhưng than ôi! Nhà nguyện hoàn toàn trống trơn, chỉ có Chúa nhìn tôi và tôi... không dám nhìn Chúa! Vắng nàng, cung thánh bỗng rộng mênh mông và lạnh lẽo như hồn người trinh nữ bên hồ Than Thở trong buổi chiều đông. Tôi gục đầu vào lưng hàng ghế trước, đầu óc trống rỗng. Mắt nhắm lại, tôi cố hình dung lại trong đầu khuôn mặt lạnh như tiền của nàng và cái nốt ruồi yêu dấu nằm trên khóe môi được nhếch lên một cách ngạo nghễ. Đang nhắm mắt lơ mơ, tôi bỗng có cái cảm giác là tôi không phải là người duy nhất trong nhà nguyện. Ngẩng đầu lên, tôi chợt thấy nơi hàng ghế đầu tiên, chỗ nàng thường quỳ trong mấy tuần qua, hình bóng của một vị nữ tu trong bộ áo dòng đen và tấm khăn che đầu phủ xuống ngang lưng. Tôi bàng hoàng tự hỏi, chẳng lẽ đó lại là nàng! Phi lý, nàng không thể là một nữ tu được, tôi không muốn thế! Vì chỉ thấy được phía sau lưng, nên tôi không biết hư thực ra sao. Nhưng cái tư thế quỳ, cái dáng đầu hơi cúi xuống sao mà giống quá. Dù trong lòng xốn xang, nhưng tôi không dám đường đột đi lên gần cung thánh để nhìn mặt. Giá chi đừng có bộ áo dòng thì khung cảnh sẽ y hệt như mấy tuần qua: một người con gái nghiêm trang quỳ cầu nguyện ở phía trên, và một chàng trai cuối nhà thờ ngồi nghĩ hươu nghĩ vượn... Và cũng như cũ, gần 7 giờ tôi lại phải luyến tiếc rời nhà thờ để đi lo phục vụ cho cái bao tử lép kẹp của tôi.

Thế rồi cái điệp khúc này được lặp đi lặp lại mỗi ngày sau đó. Không biết tôi bắt đầu biết cầu nguyện từ lúc nào, nhưng một hôm tôi chợt bắt gặp mình đang lẩm bẩm: "Lạy Chúa, xin cho con được gặp lại nàng và nhất là cho nàng đừng phải là bà Soeur! Chúa muốn con làm gì, con cũng sẵn sàng làm hết, trừ việc... bắt con đi tu."

Một ngày kia, có lẽ vì thương tình hay vì quá mệt mỏi với lời cầu xin bá láp của tôi mà Chúa đã động lòng trắc ẩn. Mới vào khoảng 5 giờ, vị nữ tu đã đứng dậy, làm dấu Thánh giá và quay người đi ra. Trong ánh nắng ảm đạm của buổi chiều Đại học, tôi bỗng nhận ra khuôn mặt quen thuộc. Cả người tôi như đóng băng. Chẳng lẽ đó là "nàng" thật ư ? Quả là tai hại bạc triệu. Còn đang bàng hoàng, thì "nàng" đã đi ngang, và... Chúa ơi, "nàng" nhìn con và mỉm cười gật đầu chào !!! Không biết cái cảm giác được lên Thiên đàng như thế nào, nhưng tôi dám chắc là không thể hơn được nỗi sung sướng của tôi lúc đó. Nếu có ai hiện diện nơi đây, họ sẽ phải phì cười vì cái bản mặt ngờ nghệch và lơ láo của tôi, vốn dĩ đã xấu xí và đần độn hơn người. Như cái máy, tôi đứng bật dậy và lẽo đẽo đi theo "nàng". May quá, không gặp bất kỳ ai trên đường.

Vừa qua khỏi quãng đất trống trước nhà thờ và đến đầu con đường dốc nhỏ trải nhựa nằm giữa giảng đường Hội Hữu và Thư Viện, "nàng" đứng lại chờ tôi. "Nàng" quay nhìn tôi, ánh mắt hơi ngời lên một tí tinh nghịch, và nhẹ nhàng bảo:

- Có lẽ là anh lầm tôi với chị Thanh!

Tôi ngơ ngác lẩm nhẩm trong miệng hai chữ " chị Thanh" và quan sát kỹ khuôn mặt của người đối diện. Cũng khuôn mặt trái soan đó, cũng cái mũi nho nhỏ thanh tú đó, cũng bờ môi thắm đỏ và hơi cong lên ở bên mép... Nhưng kìa, ơ hay...

Như đoán được ý nghĩ của tôi, vị nữ tu giải thích:

- Nhiều người cũng lầm tôi với chị Thanh như anh. Chúng tôi là hai chị em ruột, và giống nhau như hai giọt nước, chỉ khác nhau có một điểm là chị Thanh có cái nốt ruồi trên mép phải.

Quả thế thật, trên da mặt mịn màng của vị nữ tu tôi không thấy một cái nốt ruồi nào cả. Thật là bé cái lầm. Trong sự ngỡ ngàng bối rối, tôi lại cảm thấy lóe lên một tia hy vọng nhỏ: biết đâu Thanh không có đi tu, và chỉ có cô em này làm Soeur mà thôi! Nhưng niềm hy vọng của tôi không kéo dài được lâu. Vị nữ tu kể tiếp:

- Hai chị em chúng tôi là con của một ông trùm xứ tại một họ đạo di cư gần Ban Mê Thuột, và đều đi tu tại dòng Mến Thánh Giá ở trên tỉnh. Chị Thanh được nhà dòng gửi tới đây đi học, và chị ấy đã trở về lại nhà Chúa. Chị có nói chuyện với tôi... về anh.

Tôi giật mình. Chết chửa, thế mà cứ tưởng là "nàng" không biết những chuyện ruồi bu của tôi.

Vị nữ tu lại lém lỉnh nói tiếp:
- Chị Thanh nhờ tôi nhắn với anh là ráng quên chị ấy đi và cố gắng học hành vì ngày thi sắp đến và nếu anh trượt thì sẽ bị đi lính đấy. Chị nhờ tôi tặng anh một tấm hình của chị để anh cầu nguyện cho chị mỗi khi nhớ đến chị.

Tôi thẫn thờ cầm lấy tấm ảnh đen trắng vị nữ tu trao cho, và chua xót nhìn khuôn mặt của người đẹp của tôi đang tươi cười trong bộ áo dòng ủi thẳng nếp ngày khấn tạm. Hỡi ơi, khuôn mặt đó, bờ môi đó, và cố nhiên cái nốt ruồi thân yêu đó... tất cả sao mà xa xôi cách trở. Tôi lí nhí nói lời cám ơn và vội vàng nhét bức ảnh vào túi áo blouson khi nhác thấy mấy thằng bạn trời đánh của tôi đang từ phía Thư Viện đi tới. Chúng cố tình đi ngang chỗ tôi đứng nói chuyện với vị nữ tu, nhìn phớt qua hai đứa, cất tiếng cười khúc khích với nhau và nháy mắt với tôi một cách rất ư là đểu giả. Vị nữ tu vẫn tỉnh bơ làm như không để ý đến, mỉm cười nói lời từ biệt và đi về hướng cổng Viện. Tôi đứng đó ngơ ngác nhìn theo cho đến khi bóng dáng chiếc áo dòng đen đã khuất sau lưng giảng đường Minh Thành.

Tôi lang thang quanh khu Năng Tĩnh một lúc rồi tất tả trở về cái phòng trọ lạnh lẽo ở đường Hàm Nghi. Việc đầu tiên khi vào phòng là lôi tấm hình ra ngắm nghía và kẹp cẩn thận vào giữa cuốn Thánh Kinh trên bàn trước khi đi ăn tối. Cuốn Thánh Kinh này do một thằng bạn vừa mới theo đạo Tin Lành tặng cho tôi, với mục đích dụ tôi theo đạo của hắn. Mỗi lần gặp mặt là hắn cứ bảo tôi phải đọc cuốn sách này. Tôi cũng ráng chiều ý bạn nhưng chẳng bao giờ đọc hết được một trang trước khi hai mí mắt sập xuống. Sau này bị hắn thúc quá, tôi bèn nổi quạu và bảo hắn: "Sách gì mà đọc chán thấy mồ tổ, thua truyện Kim Dung xa. Thế này mà mày cứ bắt tao đọc hoài thì làm sao tao đọc được. Hôm nào rảnh, tao sẽ đem trả cho mày để mày cho người khác!" Từ đó tôi ít có dịp gặp lại hắn và cũng quên chưa trả lại cuốn sách. Đó là lý do tại sao một kẻ ngoại đạo như tôi lại có cuốn Thánh Kinh nằm trên bàn học.

Vừa bước chân vào quán ăn, thì cả đám lâu la đã chờ sẵn và thi nhau pháo kích:

- Ối giời ơi, cái thằng ông nội này hết chuyện làm rồi hay sao mà lại đi tán tỉnh kẻ tu hành như thế này...

- Ê con trai, coi chừng xuống Hỏa ngục đó con ạ...

- "Khen cho con, mắt tinh đời"! Em đẹp như Ma Xơ, cắc cắc bùm...

- Cái nốt ruồi trên mép quả đáng đồng tiền bát gạo...

Tôi giật bắn mình. Cái nốt ruồi? Làm gì có cái nốt ruồi ? Không biết thằng này đào đâu ra cái ý tưởng về cái nốt ruồi. Chẳng lẽ chúng nó biết mình lẽo đẽo theo sau nàng từ trước mà đến giờ này mới nói? Tôi cứ loay hoay mãi với ý nghĩ này thành ra không biết sau đó chúng nó còn tung ra những điều gì tệ hại hơn nữa.

Cắm đầu cắm cổ nuốt vội vàng cho xong phần ăn, tôi bay về nhà trọ, để nguyên áo quần leo lên giuờng nằm thừ ra suy nghĩ. Tôi ôn lại trong đầu từng lời của cô nữ tu. Không biết cố ý hay vô tình mà vị nữ tu đã cho tôi biết những chi tiết thật là đáng giá: ông bố làm trùm xứ một họ đạo di cư, hai chị em đi tu ở nhà dòng Mến Thánh Giá Ban Mê Thuột... À, tại sao mình không điều tra thêm thử xem sao. Tôi chợt nhớ ngay đến Hoa, cô em họ của tôi. Hoa là con của bà dì ruột tôi, chơi rất thân với tôi lúc nhỏ. Lớn lên, Hoa lấy chồng Công giáo, và theo chồng về ở họ đạo Hà Lan B thuộc giáo phận Ban Mê Thuột. Tôi có thể nhờ Hoa điều tra giùm về hai chị em Soeur Thanh (Trời ơi là Trời, chữ "Soeur" đọc lên nghe đau lòng quá!). Tôi hy vọng là cùng đạo với nhau, Hoa có thể cho tôi nhiều chi tiết hữu ích về hai "người đẹp" này. Tôi hăng hái choàng ngồi dậy, viết một lèo xong bức thư cho Hoa, chạy qua bà chủ nhà mượn con tem và ba chân bốn cẳng bay ra Bưu điện tống ngay vào thùng thư chính.

o0o
Nắng chiều buồn như cỏ úa. Tôi uể oải rời nhà thờ mà lòng mềm oặt như cuộn bún thiu. Con đường trở về nhà trọ sao mà lê thê và những tuần lễ chờ đợi sao trôi qua quá chậm chạp. Mỗi buổi chiều tôi đều lên Năng Tĩnh, với hy vọng mong manh là được gặp lại "Cái Nốt Ruồi" hay em gái nàng. Nhưng than ôi, bóng chim tăm cá! Tôi đâm ra thù cái ông thi sĩ Tàu vớ vẩn nào đó đã nói một câu rất ư là vô duyên lãng xẹt: "Giai nhân nan tái đắc". Điểm an ủi duy nhất cho tôi là quý Cha và Frères, mà tôi xui xẻo gặp mặt ở trong khuôn viên nhà thờ, càng ngày càng tỏ ra có cảm tình với thằng bé "ngoan đạo"! Các ngài đâu có biết rằng người mà thằng bé tìm gặp là "nàng", chứ không phải Chúa của các ngài. Tuy thế, tôi vẫn phải luôn làm mặt tươi cười để đáp lễ lại những cái nhìn khuyến khích và khen thưởng của các ngài. Tôi nghĩ thầm trong bụng rằng phải chi các Cụ cầu nguyện Chúa cho tôi được gặp lại "nàng" thì có phải là quý hoá hơn không! May quá, các ngài không thấy được ý nghĩ này trong cái đầu đen kịt của thằng quỷ sứ!

Về đến nhà, sắp mở cửa phòng trọ thì tôi nghe tiếng gọi của bà chủ nhà:

- Cậu Văn ơi, có thư.

Nhìn thấy tên người gửi là cô em họ tôi từ Ban Mê Thuột , tôi mừng rơn, còn mừng hơn cả lúc nhận được mandat từ nhà mỗi đầu tháng. Chạy vội về phòng, khóa kín cửa lại, tôi xé vội phong bì và đọc ngấu nghiến bức thư của Hoa dưới ánh đèn điện vàng vọt của phòng trọ:

Ban Mê Thuột ngày...

Anh Văn mến,
Sau đây là những chi tiết về Soeur Thanh mà anh đã hỏi em:

Em rất thân với gia đình Soeur Thanh. Bác Trùm Xuân, bố của Soeur Thanh, là ông bác họ của nhà em. Bác được gọi là Ông Trùm, vì bác ấy đã từng là Trùm Xứ của họ đạo Hà Lan A, cách họ đạo Hà Lan B của em không mấy xa. Không hiểu sao anh lại nói gặp em gái của Soeur Thanh, vì bácTrùm chỉ có một người con duy nhất là Soeur Thanh mà thôi...

Tôi giật nẩy mình, linh cảm có điều gì hơi bất thường. Sau ít giây sững sờ, tôi đọc tiếp:

... Bác Trùm cho Soeur Thanh đi tu ở Dòng Mến Thánh Giá Ban Mê Thuột từ khi Soeur được khoảng 12 tuổi. Đến năm 18 tuổi, Soeur đậu Tú tài II. Sau khi vào nhà tập khoảng một năm và sau khi khấn tạm, Soeur được nhà Dòng gửi đi học ban Cử nhân Triết tại Viện Đại Học Dalat của anh đó. Em đã được gặp Soeur rất nhiều lần. Soeur rất đẹp và dễ thương. Đặc biệt nhất là cái nốt ruồi trên khoé môi của Soeur làm cho Soeur hết sức có duyên.

Cách đây mấy tháng (vào khoảng đầu tháng Mười), bác Trùm gái bỗng nhiên đau nặng, sợ không qua khỏi, nên Soeur phải lật đật rời Dalat để về thăm mẹ lần cuối. Không ngờ trên đường về nhà, xe đò bị trúng mìn gần Ban Mê Thuột và tất cả mọi người trên xe đều tử nạn...

Trời ơi! Tôi bàng hoàng buông tờ thư, ngồi phịch xuống thành giường, hồn xác tê dại. Tôi cố nhớ lại, đầu tháng Mười chính là lúc tôi nhìn thấy Soeur Thanh lần đầu tiên trong lớp học. Chẳng lẽ... Tôi từ xưa vốn không tin chuyện ma quỷ, nhưng giờ đây tự nhiên cảm thấy xương sống hơi lành lạnh. Đang lơ mơ thì cánh cửa phòng trọ, mà tôi nhớ đã khoá lại sau khi vào, bỗng dưng tự động mở ra. Không biết có phải là do thần hồn nhát thần tính hay không mà tôi có cảm giác mình vừa thoáng thấy một bóng đen vụt ra khỏi cửa và tan dần vào trong những tia nắng xanh xao của buổi chiều đông Dalat.

Và chợt như do linh tính, tôi chồm tới bàn học, chụp vội cuốn Thánh Kinh, mở ra để tìm tấm ảnh. Tấm ảnh vẫn còn đó, nhưng bây giờ... đã thành một tờ giấy trắng. Khuôn mặt của người trong ảnh, mà tôi còn thấy rõ ràng ngày hôm qua, đã hầu như hoàn toàn biến mất. Tất cả chỉ còn lại một chấm tròn đen nho nhỏ nằm ở vị trí cũ của cái nốt ruồi duyên.

Trần Văn Lương
Cali, 12/2005
THƯƠNG CHÙM HOA KHẾ

NHÃ CA

Ông cụ Hồi mở cửa tiễn khách. Cũng là bạn hàng xóm thôi, nhưng gần nhà mà xa cửa ngõ. Hai khu vườn đâu lưng, cửa ngõ thì nằm ở hai con đường khác, đi bộ cũng mất mười lăm phút.

"Bác về nghe. Rảnh sang chơi."

"Lóng rày hai cái chưn yếu lắm rồi bác. Muốn nhờ con cháu nó đưa đi thì sợ phiền bác ơi. Mình qua đây nó khác bển nhiều lắm."

"Biết."

Ông cụ Hồi cười buồn. Điều này thì ông hiểu sâu đậm lắm rồi. Mà đâu phải bây giờ, cách đây mười năm trước, khi còn bà, cả hai đều khoẻ, họ cùng đi tập thể dục ở một câu lạc bộ của người Mỹ nhưng có rất đông người Việt Nam.

Hồi đó ông còn lái xe được, chớ bây giờ, hai chưn của ông có khá gì hơn ông bạn. Hồi đó, ở chỗ tập, bạn già hay tâm sự với nhau:

"Tui hồi mới qua, làm việc như trâu để mua cái nhà cho lớn, nhiều phòng cho các con ở. Vậy mà thoáng cái, chúng nó đi hết trơn, hai vợ chồng tui thu dọn chết luôn."

"Sao không bán đi, kiếm cái nho nhỏ mà ở."

"Nhiều lúc cũng nghĩ vậy. Nhưng hổng có chỗ thì tụi nó không về. Lâu lâu tụi nó về thăm, dẫn thêm cháu vui nhà vui cửa lắm. Tụi nó đi đâu, đem sấp nhỏ về gửi, mình được coi cháu."

Lại khoe con, khoe cháu:
"Mấy đứa nhỏ qua Mỹ mà không nhiễm Mỹ chút nào hết trơn. Ôi thôi, đi lấy chồng lấy vợ, tuần nào cũng về, mua sắm đổ đi hổng hết. Tôi cứ phải ngăn, chửi tụi nó hoài."

Chắc không? Chưa nhiễm chớ đâu phải là không nhiễm. Ông cụ Hồ nghĩ trong lòng vậy.

"Con cháu ngoại của tui mới hết xẩy. Nói tiếng Mỹ như gió. Dễ thương lắm kìa, nói chuyện với ông ngoại thì nói tiếng Việt, quay sang ba nó thì nói tiếng Mỹ ào ào. Giỏi quá."

Bà muốn khoe bà có rể ngoại quốc.

Cũng ông bà già đó, chừng ba năm sau gặp lại thấy khác hẳn. Hôm xưa ông mập mạp, mặt đỏ như quan công, râu dài và mướt như Lưu Bị, bây giờ choắt lại, xanh xao. Còn bà, già nhanh không tưởng được. Nhớ tuổi thì chưa tới bảy mươi mà tiều tuỵ, còm cõi như bà cụ trên chín mươi sắp xuống lổ. Nụ cười tươi tắn hãnh diện về con cháu đâu mất rồi.

Hỏi thăm. Nhà sang tên cho thằng con để nó trả phụ tiền nhà. Con vợ lộng quá, em út văng ra hết. Rồi đứa dọn ra, tách rời. Ông bà nhớ con nhớ cháu, lặn lội đi thăm. Lũ cháu lớn lên không dễ thương như khi còn nhỏ. 

Bà sụt sùi:
"Mình nói gì nó cũng hổng hiểu. Nó nói gì mình cũng hổng hiểu. Miết rồi còn hơn người dưng xa lạ."

"Bác ơi, tụi nó bận chết bỏ. Mình tới, nó đón về rồi mạnh chồng chồng đi, mạnh vợ vợ đi, trẻ con thì đi học. Bác biết hôn, tụi nhỏ hễ về tới chẳng chào hỏi ai, rút vô phòng, mở nhạc, điếc tai nhức óc..."

Ông cụ nuốt nước miếng. Già, miệng mau khô lắm, làm như phải nuốt nuốt liên tục:

"Vậy là chóc ngóc hai ông bà già ở nhà, riết rồi lo cơm nước cho chúng mà..."

Bà cụ nói hớt:
"Mà cũng hổng yên với chúng bác ơi. Mấy đứa cháu chê nấu nướng kiểu Việt Nam hôi nhà hôi cửa, nhăn nhăn nhó nhó làm mình tủi lắm kìa."

"Vậy chúng có ăn hôn?"

"Ăn chớ sao không ăn, nhưng cằn nhằn chê thì cứ chê. Buồn trong bụng lắm, bác."

Ông cụ thở ra một hơi dài mà làm như nỗi ấm ức còn nhiều lắm, nặng lắm, hổng ra hết.

"Hai vợ chồng tui giờ thuê một phòng gần phố Bolsa ở, ngay góc chợ, bà già đi bộ ra mua đồ ăn về, hai ông bà già hẩm hiu với nhau, còn đỡ. Bà chủ nhà goá chồng, còn trẻ, nhưng thông cảm lắm, cho mượn bếp nấu nướng. Mai mốt tui đi trước hay bả đi trước, còn lại một đứa già mới là khổ hết biết, bác."

Bà cụ lau nước mắt. Đàn bà dễ khóc mà.
"Bởi, mình bỏ quê, bỏ nhà bỏ cửa qua đây là hy sinh nhiều lắm, cũng vì nghĩ tới sấp nhỏ mà thôi..."

Ông cụ gạt phăng:
"Bà nữa. Mình xong bổn phận làm cha làm mẹ rồi, nước mắt chảy xuống có bao giờ chảy trở ngược chưa? Thấy con đứa nào cũng nên thân là mình yên tâm nhắm mắt mắt được. Bà à nhe, bà muốn gì nữa, lúc nào bà cũng có tui một bên..."

Lâu rồi, cụ Hồi không còn gặp ông bà già này nữa. Họ còn không? Chết? Có lẻ đôi? Ra sao rồi. Ông vẫn hay thắc mắc.

Ông già hàng xóm đã đi được một chặng đường. Ông già cũng lẻ bạn, như ông cụ Hồi, lẻ bạn. Tội nghiệp, đi thui thủi một mình. Kìa, sao lại băng ngang đường. Muốn tới cái công viên ngồi nữa sao? Dư thì giờ vậy, không ở lại chơi thêm, thiếu gì chuyện để nói. Hồi nãy cũng có cầm chưn:

"Còn sớm mà bác, ở chơi một lúc."

"Bữa khác bác. Bữa nay..."

À, thì ra bữa nay tới công viên nữa. Ở đó, có vài ông già ngồi, có vài đứa con nít chơi. Ông bạn già này thèm nhìn con nít. Ổng đâu có thiếu cháu nội cháu ngoại chớ, nhưng ông lại ở với thằng con trai có vợ không sanh con, hai vợ chồng nuôi đến bốn con chó đủ giống trong nhà. Ông cụ nói:

"Ôi thôi, hai đứa nó cưng bốn con chó, chắc con đẻ cũng cưng tới vậy thôi bác ơi. Tui nhớ lũ cháu mà chịu, tụi ở xa quá. Gọi điện thoại có khi nào được nói chuyện với tụi cháu đâu, làm như tụi nó hổng biết mình là ai."

"Thì tại bác hổng đi thăm tụi nó. Thời này, mua một cái vé máy bay, chỗ nào hổng tới được."

"Tui, hổng tới được thiệt đó bác. Tiền già lãnh, tháng nào cũng chia cho hai đứa con còn ở Việt Nam. Tụi nó khổ lắm. Nè bác, bển tui cũng có cháu nội, cháu ngoại. Tụi nó năm nào cũng gửi hình qua, coi ngộ lắm."

Ông cụ mở cái ví luôn luôn sau túi quần, lôi ra mấy tấm ảnh con nít.
"Bác thấy hôn. Tụi nó có tình nghĩa lắm kìa. Đứa nào cũng đề sau ảnh, chắc con mẹ hay thằng cha nó cầm tay cho viết, nè, bác coi..."

Sau mấy tấm ảnh, tấm thì đề cháu nhớ ông ngoại lắm, tấm thì ông nội ơi, cháu thương ông nội nhất đời. Trong khi ông cụ Hồi lấy kính, lau cho sạch để đọc thì ông bạn già rơm rớm nước mắt.

"Nhớ sao hổng mua vé về. Lóng rày người ta về hà rầm, sợ thằng tây đen nào chớ."

"Tui cũng hổng về được. Bác nghĩ coi, có mấy trăm bạc, nhớ con nhớ cháu cứ gọi về Việt Nam, phải chia cái biu điện thoại để khỏi nghe con dâu cằn nhằn, nựng chó mà chửi mình. Còn lại, gửi cho hai đứa, nuôi mấy đứa cháu ở bển ăn học."

Ông cụ Hồi lắc đầu, nghĩ trong lòng mà không nói ra miệng. Hèn chi. Ông bạn già đời rồi mà vẫn còn ngây thơ, bị phỉnh như thường. Cũng còn đỡ, con cháu nó phỉnh chớ ai vô đó.

Ông cụ Hồi trở vô. Căn nhà vắng như chùa bà Đanh. Chùa bà Đanh vắng như thế nào, ông cụ chỉ nghe câu nói trong nhân gian đó thôi, chớ cái nhà của cụ đang ở vắng thì buồn khủng khiếp lắm. Có bà bạn già, ở goá hồi còn trẻ kìa, có bữa gặp trong đám ma một người trong họ, mừng lắm:

"Mèn ơi, lâu ơi là lâu, hổng thấy bác đâu..."

Sao thấy được. May đám bà con trong họ, thằng con mới lấy ngày nghỉ, đưa đi. Mà cũng bỏ ông ở đây rồi dọt lẹ, hẹn giờ tới đón. Chuyện qua chuyện về, người sống sắp hết đời rồi thì còn chi vui nữa. Bà bạn:

"Tui nghĩ cho cùng mình cũng hổng nên trách ai mà trách mình là một gánh nặng cho con cái. Cũng may mình biết phòng thân bác ơi. Giờ còn chút tiền gửi nhà băng, lấy ra xài dần. Tui vô chùa ở với mấy bà bạn già, làm công quả, sớm tối kinh kệ, ngày qua mau lắm."

"Thấy chị thong thả, phẻ phắn quá, tui ham."

"Ý cha, già rồi mà ăn nói vô ý vô tứ quá vậy. Còn ham kí gì nữa mà ham chớ. Ông cười gượng gạo.

"Xin lỗi, già rồi, lẩm cẩm phải hôn. Tui muốn nói thấy chị... tiếng Phật nói là gì đó, à từ bi tự tại, thấy chị hổng lý chuyện đời nên mặt ít nhăn, còn tui, giống trái cau khô không chị."

Bà già cười. Ông bạn chồng này, thủa xa xưa cũng một thời, nghe đâu có nhiều hồng nhan tri kỷ, cũng làm khổ đờn bà không ít.

"Bác cũng nên đi chùa mà rửa nghiệp rồi mới đi thong thả."

"Được như chị thì phúc rồi. Tui hoàn cảnh khác, chị ơi."

"Biết. Lúc đầu tui cũng đeo con đeo cháu mà không nghĩ ra là đến một lúc nào đó, con cháu nó hết cần mình nên khổ hoài. Mèn ơi, cả ngày ở trong căn nhà rộng, đi ra đi vô, tủi thân khóc ơi là khóc. Cũng may tui "ngộ" sớm... Bữa nào rảnh, bác tới chùa chơi, hổng phải chỉ có người già không đâu, mà mấy cô tre trẻ cũng tới tu, thương nhau và giúp đỡ nhau, như một gia đình."

Ông có hứa. Nhưng không đến thăm bà bạn già được. Bữa đó, bà bạn già, cũng còn giữ được tính nghịch ngợm thời trẻ, nhắc tới một hai hồng nhan tri kỷ trước đây của ông. Còn đẹp còn xấu gì nữa, tất cả đã già. Ông cũng không hề nghĩ là tìm dịp gặp lại, kể cả nếu nghe tin đám ma, chắc cũng hổng nên tới thắp nhang. Đến tro cốt của bà vợ để trên chùa, thằng con nghĩ tới đưa đi thăm thì ông tới thắp nhang, còn không thì thôi, đâu dám nhắc, sợ làm phiền.

Nếu căn nhà trống vắng này mà có chút tro cốt của bà, hay cái bàn thờ để ông hương khói cũng còn ấm áp chút đỉnh.

"Sấp nhỏ chúng nó không chịu được mùi nhang, với lại nhà có cái phòng khách nhỏ xíu, bày bàn thờ trông kỳ cục lắm. Thôi đem má lên chùa, con sẽ chở ba đi thăm, má ở chùa nghe kinh mới sớm siêu thoát. Để ở nhà, ba nhớ, sanh bệnh, khổ."

Ứa lệ mà chùi lén. Ông có một phòng nhỏ, ngăn bớt ở garage ba xe. Chỉ kê được cái gường, cái bàn nhỏ xíu còn chừa cho lối đi. Ông để cái ảnh nhỏ của bà lên bàn. Lúc đầu ông có cái bát nhang. Nhưng thằng con lại nói:

"Ba cứ đốt nhang khói um sùm. Phòng ba gần máy ga, máy nước nóng. Ba hay quên, dễ cháy nhà lắm. Để con mua cây nhang điện về cho ba, cháy đỏ ngày đêm như ngọn đèn, ha ba. Ba thấy hợp lý không ba?"

Nói thì vậy, nhưng mấy năm rồi, thằng con chưa mua. Ông cũng không nhắc. Bà chết rồi, thôi ông cứ khấn nguyện trong lòng cũng được.

Ông cụ nhà đâu vườn mà có phúc hơn mình. Còn hai ba đứa con ở quê nhà mà lo. Còn lũ cháu chưa biết mặt, phỉnh cho mà khoái. Chớ ông, đã đem hết các con qua đây, bây giờ chúng nó đã dọn mỗi đứa một nơi. Lúc còn khoẻ, ông cũng đã tới ở với từng đứa. Cũng được tiếp đón, nhưng đó là lúc ban đầu.

Sau cùng, ông thấy không phải con ông tệ, mà ông không còn là một người cha nhanh nhẹn, tháo vát nuôi các con mà chỉ là một gánh nặng. Mà hai vợ chồng thằng con này thì muốn giữ ông, cũng vì lớn nhất, còn vướng chữ hiếu khó rũ bỏ.

Ông cụ Hồi đi ra đi vô. Vườn tược ông đã chăm xong. Bởi ông ít ngủ, dậy từ sáng sớm là ra vườn. Ông còn phải chăm hai cây mà bà vợ, lúc còn sống nưng niu nhứt. Đó là một cây khế và một cây nhãn Việt Nam. Bà nói:

"Thấy người ta trồng thì ham, tui cũng muốn trồng. Nhưng tui biết, tui hổng đợi được thấy nó lớn, có trái đâu. Lâu lắm."

Phải. Bây giờ cây nào cũng có hoa có trái, còn bà, xương cũng không còn, chỉ còn nhúm tro.

Cũng không phải nhà vắng rồi cứ đi ra đi vô hoài đâu. Sáng sớm, hai đứa cháu ăn sáng xong, vội vã đi học. Còn đống chén đĩa ở bếp, ông phải thu dọn dùm chúng. Gì nữa, à nhớ ra, sáng đứa con dâu dặn:

"Ba, con giặt quần áo mà không sấy kịp. Ở nhà, ba bỏ qua máy sấy dùm con chút, được không?"

"Ườm."

"Chết cha. Thùng rác chưa lôi ra... Trễ giờ rồi, con phải đi... Ba đem ra giùm, được không?"

Lúc nào cũng hỏi câu được không làm gì chớ. Bắt buộc là phải được. Việc kéo thùng rác nặng nhọc, cứ đến ngày, ông cụ còn ì à ì ạch kéo ra đường, tối lấy thùng vô. Thằng con trai có thấy, nhưng lơ đi. Ông cụ còn làm được để cho ông làm, dãn gân cốt, đỡ bệnh tật.

Đứa con dâu, lúc vắng mặt chồng quăng thúng đụng nia:
"Mệt ơi là mệt, đi làm cả ngày như trâu như chó, sao có những người sướng chỉ ăn không ngồi rồi."

Nói trống lổng thôi, đâu chỉ ai. Ông cụ Hồi đắng cả họng.

Làm xong thì tới trưa trợt. Lại thêm một chuyện tệ hại. Đã dặn sáng ra lấy cục thịt đông lạnh trong tủ đá ra ngoài để trưa kho rim mặn ăn với cháo. Đã nói già, lẩm cẩm, quên. Ông đành làm một tô mì gói. Ăn xong, ông vô phòng. Ngồi trên cái gường nhỏ, ông nhìn ảnh bà vợ. Tấm ảnh chụp lúc bà lớn tuổi rồi, mới nhìn tưởng con mắt nheo nheo ngó nhưng kỳ thực không phải, đuôi mắt bà xếp nếp nhiều quá nên tưởng vậy. Thì cũng là nét duyên của người già.

"Bà à, cây khế mùa nào cũng có hoa. Hoa khế đẹp lắm, tui biết bà rất thích, mai mốt..."

Phải rồi, mai mốt tới xuân, có hoa khế. Ông phải nhớ ngắt một chùm để trên cái dĩa, trước tấm ảnh của bà. Bữa nay ra vườn, thấy cây khế trơ trụi lá mà đã có những chồi non muốn nhú lên. Khi đông tàn, loại cây này nó vậy.

Nhớ mùa xuân ở quê nhà, trong dĩ vãng xa, nụ cười của bà bên cây khế sau vườn nhà đâu có vậy, đẹp lắm kìa. Hồi đó, ông còn là một chàng trai trẻ, thường nhìn trộm qua vườn bên cạnh... Vậy mà mấy chục năm qua cái vèo. Chuyện gì cũng đã quên tuốt luốt hết, chỉ có một chuyện nhớ.

Nhớ hoài, là bữa hẹn tân niên. Mùa Xuân. Buổi trưa yên ắng. Dưới gốc khế sau vườn nhà nàng. Cũng chỉ vì đôi môi chúm chím, còn ngậm chùm hoa khế làm duyên. Cầm lòng chẳng đậu. Vậy mà lỡ cho lỡ luôn. Nào dè, chưa kịp hoàn hồn, bỗng thấy tiếng chân đi nặng nề. Rồi ông già nàng cầm cái rựa xông tới. Lạ thật, lúc đó trời sập cũng hổng biết chớ đừng nói, vậy mà nàng thấy kịp, vùng đẩy ông bật dậy.

Thế là tá hoả, cũng không biết lúc đó làm sao chàng thanh niên có thể nhảy bay qua hàng rào mà về vườn nhà mình. Chuyện đâu dừng ở đó, cái bụng nàng chình ình ra, rồi đám cưới. Đứa con đúc có một lần dính liền là thằng con lớn bây giờ. Bà vợ từ trẻ tới già, vẫn lãng mạn kiểu vườn, ở đâu cũng muốn trồng một cây khế.

Đời người đàn ông kể cũng lạ. Biết bao người yêu qua đời, nhưng cuối cùng chỉ có một người đàn bà già nua, xấu xí nhứt thì vẫn mặn nồng bên cạnh. Đâu có ai hiểu lòng ông, dù bà còn nắm tro, ông vẫn thương, thương hoài thương huỷ.

* * * 
Mấy bữa sau hai ông cụ bắt ghế nói chuyện với nhau qua bức tường ngăn vườn. Hai ông đứng ở khoảng tường thấp nhất, còn có bục xi măng chặn luống hoa, nên nhìn thấy mặt nhau.

"Mấy ngày rồi, tụi có bụng ngóng, hổng thấy bác ra vườn."

"Tui. Bị bận quá bác ơi, đi lo mấy thứ giấy tờ, rồi còn chích đủ thứ."

"Phải. Mùa này cúm dữ lắm. Tui cũng chưa đi chích vì thấy tụi nó hổng rảnh, mà cũng... sợ phiền."

Vậy đó, hồi còn nhỏ nhít, đang ăn chúng nó cũng phẹt phẹt ra, phải bỏ đũa dọn. Đang ngủ, chúng ọc sữa, đái dầm, phải thức giấc lo, khi mọc răng nóng đầu, khóc cả đêm không ai ngủ được, có làm phiền hôn chớ. Nhưng nói ra ngặt lắm, ai nuôi con mà kể công.

Ông cụ hồi cũng vậy, nhắc bạn chớ ông cũng đã chích ngừa đâu. Năm ngoái có thằng cháu tới chở đi chích. Năm nay thằng cháu vô trường mới, ở xa, điện thoại hỏi thăm ông ngoại cũng thưa dần, rồi bặt. Hồi đó, ông hay khen có thằng cháu ngoại hiếu để biết thương ông, nay mới mắc cái quai sặc họng.

"Tui mà đi trước, ông khổ lắm ông biết hôn?"

Lúc còn sống, bà lo vậy, mà chắc lo cho tới khi nhắm mắt rồi có còn lo không đây. Bữa đám ma bà xong, cả tháng ông không ngủ, ngồi mở mắt trừng trừng. Đâu biết cái bà già ngắt, lẩm cẩm, suốt đời như cái gánh nặng đeo bên hông mà lại quan trọng đối với ông đến vậy.

"Bác thấy hôn, lật bật mà hết năm tới nơi rồi. Tui bữa nay ra coi lại hệ thống tưới tự động cho tụi nó rồi thôi, tui đi."

Giật mình. Lời nói như trối trăng. Ở tuổi này còn đi đâu chớ, nếu không phải về dưới? Nhưng ông bạn già nói tiếp:
"Tui về bển, bác."

"Bển."

"Phải. Đứa con gái đầu của tui bịnh nặng mà tụi nó giấu tui. Nghe nói không xong rồi mới báo cho biết. Thằng cháu ngoại gọi điện thoại qua, nghe giọng ông ngoại, khóc quá là khóc."

"Tội hôn."

Ông cụ Hồi hơi ân hận trong lòng, thì ra lâu nay, ông hiểu lầm nhiều quá.

Vẫn ông bạn:
"Mua vé lâu rồi, đang lo không ai giúp thì bữa có ông bạn già gọi điện thoại tới khoe um sùm là sắp về bển ăn Tết. Tui mới hỏi thăm, dò đường í mà. Thì ra, bây giờ dễ lắm, cứ lật tờ nhật trình ra là có số điện thoại để mình gọi, người ta đem xe đến tận nơi đưa mình đi. Vậy mà tui đi chích cúm, rồi đi chích các thứ thuốc ngừa. Bữa đi họ cũng đưa mình ra phi trường..."

Ông cụ Hồi buồn tênh. Sáng nào cũng có tờ báo Mỹ liệng trước sân, chính tay ông nhặt tờ báo vô nhà, nhưng chỉ nhìn được mấy tấm hình.

"Bữa mua vé nhờ thằng con, nhưng cứ nhờ hoài sợ phiền. Bây giờ biết rồi, phẻ quá bác ơi. Để bữa tui đi về, tui với bác biểu xe tới đón tụi mình ra Phước Lộc Thọ chơi, ở đó có mấy lão tướng, đấu với nhau suốt ngày, coi vui lắm."

"Ừm."

Cụ Hồi bần thần trong người, vụt miệng nói:
"Tui mà biết, tui cũng đi với bác. Sao bác hổng nói sớm?"

"Bác còn ai ở bển mà về chớ. Về bển, hỏi bạn cũ, muốn thăm đều phải ra nghĩa địa, họ nằm hết ở ngoải rồi. Còn đi đường thì sợ xanh mặt, xe cộ hồi đó đã ghê rồi, bi giờ còn ghê hơn, ổng hổng dám ra đường..."

"Bác về bển cũng cẩn thận."

Ông cụ Hồi nói cho có chuyện. Ông bạn già gật đầu:
"Tui cũng biết. Tui đâu có ở thành phố, bác. Về đến là tụi nó rước xuống Cần Thơ, ở dưới với con cháu, cũng hổng muốn đi đâu. Chơi? Có gì mà vui, mà chơi, bác."

Rồi kể:
"Nghe lóng này đường phố, xe cộ chạy như mắc cưởi mà người nào người đó đeo khẩu trang, nghĩa là khăn bịt mặt nên đi ra đường là như thấy toàn quân ăn cướp, ghê rợn lắm kìa."

"Thiệt sao?"

Ông cụ Hồi không tưởng tượng ra được. Ông bỗng hắt xì liên tục một hơi, nước mắt nước mũi ràn rụa.

"Thôi chết rồi, bác sắp cúm đó nha. Mặc thật ấm vào. Nhớ đi chích thuốc cúm, nhớ đó nha. Quên là nó vật mình toi củ tỏi luôn."

Ông cụ Hồi cảm thấy một luồng ớn lạnh chạy khắp thân, rồi dồn ở ngực, bắt muốn ho. Ông ho khục khặc.

"Vô nhà đi bác ơi. Vô đi. Tui cũng kiếu bác, bác ở lợi ăn Tết vui nhe. Tui còn lo đi một vài việc để về bển."

"Bác cho tui gửi lời hỏi thăm... hỏi thăm... ắt xì, ắt xì..."

Ông bạn già còn ráng đứng trên ghế chờ. Ông cụ Hồi hắt hơi xong thì mới chưng hửng. Đâu biết gửi lời thăm ai chớ. Ông lắc đầu:
"Thôi bác, chúc bác về bển gặp con cháu... vui."

"Chào. Ráng uống thuốc mau lành, bữa về gặp lợi."

Ông bạn già sẽ vắng mặt một tháng. Nhưng còn gặp lại nhau không, đó là chuyện của ngày mai, ai biết!

* * * 
Lúc đầu chỉ vài cái hắt hơi, rồi ho. Ông cụ Hồi mỗi lần ho là gập người xuống, vì vậy, cái lưng càng còng hơn, càng gần mặt đất hơn.

"Đã nói nhắc con đưa đi chích cúm, hổng chịu nhắc. Bịnh vậy đâu có đi chích được. Chờ qua khỏi, con đưa ba đi chích. Nghe nói năm nay cúm độc lắm."

Ông cụ Hồi ầm ừ. Bữa sau, chắc con vợ tỉ tê sao đó, thằng con trước khi đi làm dặn:

"Ba à, ba đang cúm, đừng ở nhà trên nhiều, rồi lây hết cả nhà khổ lắm."

"Hổng phải tụi bây chích ngừa hết rồi sao?"

"Chích thì chích, cả trăm thứ cảm cúm, ngừa mấy thứ dữ thôi ba. Còn mấy đứa nhỏ đâu chịu chích, dễ lây lắm ba."

Đứa con nói đâu có gì sai. Nhưng cứ ru rú ở dưới garage, nằm hoài cũng thấy nhức đầu lắm. Thằng con có mua thuốc đầy đủ, còn dặn:
"Có cam vợ con mua để sẵn, ba vắt uống nhiều nhiều cho mau khoẻ. Ba nhớ uống thuốc."

Đứa con dâu, sáng, trước khi đi làm cũng ráng bắc một nồi cháo trắng. Cũng có một nồi thịt kho tiêu. Có sự săn sóc chớ đâu phải không, nhưng tình cảm thì thiếu nhiều lắm, nó nhạt nhẽo làm sao!

Qua chiều ngày thứ ba thì ông cụ Hồi sốt. Ăn cơm chiều xong, đứa con trai xuống thăm, thấy ông trùm mền kín mít thì hoảng:
"Ba sao vậy."

Đứa con lật chăn lên, sờ trán thấy trán cha nóng hổi.
"Ba có uống thuốc đều không đó. Chắc lúc nhớ lúc quên mới mau nặng vậy. Để sáng mai con đưa ba đi bác sĩ."

Con dâu và cháu không dám đến gần, sợ lây bệnh. Đứa con sợ cha buồn, bệnh nặng thêm, nên gượng gạo bảo con:
"Ông nội đau không đứa nào hỏi thăm một tiếng sao? Xuống thăm ông nội ngay."

Hai đứa cháu mặt mày cau có, đứng lấp ló ở cửa hỏi vọng vô, tiếng Việt bập bẹ:
"Ông nội, ông nội có khoẻ khôn. Chào ông nội."

Vậy là biến. Ông cụ Hồi trong cơn sốt gần như mê sảng cũng nghe giọng hai đứa cháu, mừng đến ứa nước mắt.

Tối đó, hai vợ chồng gây gỗ nhau.
"Anh một vừa hai phải thôi nhe. Ba bịnh nặng như vậy mà bắt tụi nhỏ xuống thăm. Mai mốt ba lành, muốn thăm nhiêu không được. Cả nhà thi nhau bịnh nằm một đống, khi đó ai thăm hỏi ai cho biết."

Thằng con thấy vợ nói cũng phải, nhưng trong bụng đang tức. Công việc lu bu gì không đưa cha đi chích thuốc ngừa, lỡ có gì thì ân hận đến chết. Đời sống ở Mỹ này, đứng lại là thụt lùi, là thua kém, là nguy...

"Em cũng quá lắm, anh thì bận, em chẳng để ý gì đến ba."

"Nói vậy mà nghe được. Tui cũng đi làm như anh chứ ở nhà đi ra đi vô sao? Còn nữa, chợ búa, cơm nước, làm con sen ở nhà này là ai."

Thương ông già thì nổi cơn vậy, nhưng vợ lớn tiếng thì cũng phải nhịn. Đến đó thôi. Vừa đủ. Làm tới, nổ lớn.

"Nói nhỏ tiếng chút được hôn, thôi mình, bỏ qua."

Anh sợ sấp nhỏ nghe. Hai đứa con đứng về phe mẹ.

Chiều hôm sau, đứa con dâu đi làm về, chính tay nấu món cháu thịt bò bằm, chính tay bưng xuống cho bố chồng ăn. Chị hỏi thăm, có cười, nhưng nụ cười như mỗi lần phải xã giao, gượng gạo. Ông cụ Hồi đã có vẻ khá hơn, thấy không cần phải đưa đi bác sĩ khám. Anh tự hào với bạn bè là bố anh khoẻ mạnh, tuổi già mà ít làm phiền con cháu. Anh vui vẻ hứa:
"Vài bữa ba khoẻ con đưa ba đi chích cúm."

Ông cụ gật đầu, lòng vui, thấy cha con đã gần gũi quá. Nó đâu có gì chớ, có phải lâu nay ông đã hiểu lầm con?

Tối, ông cụ Hồi uống thuốc xong thì nằm nghỉ. Ông trôi vào giấc ngủ mau lắm, rồi thì có nhiều giấc mơ.

Giấc mơ đầu tiên, ông theo ông bạn già về Việt Nam. Thình lình thấy đứng trên đường phố có một mình, rồi ông thấy không biết bao nhiêu xe cộ ào ào nhắm ông mà phóng tới, người nào người nấy đều đeo khẩu trang màu đen. Ông la lên: "Cướp, cướp." Đám cướp nhảy xuống xe vây lấy ông, kê súng vào tai ông sẵn sàng bóp cò. Sợ quá, ông van lạy, nhưng xung quanh ông, tiếng cười man rợ cất lên. Ông hoảng hốt tỉnh dậy, mồ hôi toát ra và sự hoảng hốt kéo dài cho tới lúc ông chìm vào giấc ngủ khác...

Nhiều giấc mơ vụn vặt, nối tiếp không đầu không đuôi, cho tới gần sáng, giấc mơ sau cùng... Giấc mơ kéo ông về thời niên thiếu, cậu học sinh vườn yêu cô gái quê. Ông được sống lại cảm giác ân ái vụng trộm với cô gái vườn bên, cả cái cảm giác hãi hùng, muốn trốn thoát lúc nhảy qua hàng rào ngăn hai nhà lúc bị lộ chuyện. Khi không lại nhớ một chi tiết kỳ cục nhứt lúc đó mà chỉ có hai ông bà già biết, về già còn nhắc nhở... Ông cười nấc lên.

"Gì mà cười dữ vậy ông"

Chuyện hồi trai trẻ biến mất. Bà đã đứng bên cạnh. Ông nắm tay bà, vẫn nắm được. Vậy bà đâu đã chết.

"Tui cười vì nhớ lại cái chiện hồi đó, bữa dưới gốc cây khế."

"Khỉ. Già mà còn khỉ. Kỳ quá hà."

Bà vẫn còn bẽn lẽn, đỏ mặt. Khi bà đỏ mặt, những vết nhăn trên má hóp như có mờ bớt đi nên vẫn còn thấy duyên.

"Cây khế, cây khế có bông chưa. Tui nhớ nó lắm."

Ông cười:
"Trùi lũi hà. Làm gì có."

Tay bà giựt giựt trong tay ông, vẫn còn cái hơi ấm thủa nào.
"Ông nhớ đó nha, khi nào hoa khế nở, ông hái một chùm đem về dưới cho tui."

Bà cười. Hàm răng giả của bà đâu rồi mà cái miệng móm mém, trơ lợi, trông hết duyên nhưng hóm hỉnh, ngộ quá. Chớp một cái, không thấy bà đâu nữa. Ông ra khỏi giấc mơ.

Mở mắt, trời mới mờ sáng, nhưng ông không thể ngủ tiếp được. Đầu óc cứ chờn vờn, lảng vảng bao nhiêu chuyện cũ, bao nhiêu kỷ niệm những ngày ở quê hương, từ lúc còn là cậu thiếu niên miệt vườn, cho tới lúc đưa vợ con lên tỉnh thành lập nghiệp. Một đời đủ chuyện, lúc lặng lúc sóng dồn biển dập, long đong cũng không ít.

Hai vợ chồng chống chỏi qua bao nhiêu cơn tưởng sạt nghiệp, hoặc tan vỡ gia đình. Lỗi cũng ở ông nhiều, cái số đào hoa, ra đường, người ta gặp, người ta thương, biết sao. Bà ghen tuông cũng dữ, tưởng mấy lần đứt gánh. Tội nghiệp, người thua thiệt, chịu đựng, nhịn nhục vẫn là bà, bởi thương con.

Biết bao đêm, ông bỏ nhà đi hoang, một mình bà lủi thủi với đàn con dại, ôm con mà nước mắt ướt mặt mũi. Gái thương chồng đang đông buổi chợ, trai thương vợ nắng quái chiều hôm. Mà nắng đã quái, đã xế đâu còn bao nhiêu, vậy mà bà lại bỏ đi trước.

Đến giờ đi làm, người con đứng ở cửa, hỏi:
"Ba sao rồi, thấy đỡ nhiều không?"

"Đỡ."

"Có gì ba gọi điện thoại sở con. Số điện thoại con ghi để sẵn bên máy."

Người con đi sau cùng. Nhà vắng ngắt. Ông thấy đến giờ uống thuốc, nhưng phải ăn chút gì, uống thuốc mà bụng đói nó cào chịu hổng thấu. Nhưng lạ, khi ông đứng dậy thì thấy choáng váng. Ông đưa tay ôm ngực, hai lồng ngực như đang bị xiết lại, trì nặng và nhịp tim đập tới tấp, loạn xạ.

Ông ngồi xuống giường, định thần lại. Nhưng thần trí ông bỗng lơ mơ. Điều ông muốn nghĩ thì nghĩ không ra, mà những ý nghĩ kỳ cục đâu đâu lại ào ào kéo tới. Cái đầu có vẻ chịu không thấu. Đâu chỉ đầu, cả cái ngực nữa. Có bàn tay ai đang bóp hai lá phổi của ông, kéo luôn mấy sợi gân đang co giật trong chân, trong tay. Phải chặn cái bàn tay quá đáng ấy lại. Ông muốn mà không còn sức làm.

Một phút nào đó, ông nghĩ tới điện thoại, muốn gọi cho đứa con, nhưng rồi ông quên ngay. Có cái gì đó đang nhẹ nhàng đung đưa, ngay trước mắt ông. Ông nhận ra nó rồi. Chùm hoa khế. Chùm hoa khế, bông nhỏ li ti, điểm nhuỵ vàng. Chùm hoa ấy đang vẫy gọi ông. Có cơn gió xuân làm chùm hoa đung đưa. Có cả tiếng cười khúc khích nữa. Chùm hoa khế. Hoa khế. Đừng giỡn mặt nhe. Ở đó đi. Ông tới.

Không hiểu sao bằng cách nào ông mở được cửa phòng, mở được cửa sau. Ông nhìn thấy vườn cây xanh mát. Ông đi qua cây nhãn, không dừng lại. Ông đi tới cây khế. Hoa khế nở rồi? Ông nhìn lên. Kìa, núp sau một tàn lá, có chùm hoa cánh tím nhuỵ vàng đang đung đưa. Nó muốn lẩn trốn ông. Cả cái hàng rào cao thế kia, ông còn thừa sức phi thân qua. Làm sao chùm hoa này trốn nổi. Ông vươn người, với tay, mỗi lúc một cao.

"Tui hái cho bà. Tui hái cho bà."

Chùm hoa khế đã ở trong tay ông. Lạ thay, cùng lúc đó, ông bỗng thấy mặt ông đang dụi vào mặt đất. Đất. Phải, đó là chỗ của ông. Ông nghe tiếng bà dặn: "Khi nào hoa khế nở, ông nhớ hái một chùm đem về dưới cho tui.". Bàn tay vẫn thận trọng nắm chặt chùm hoa, ông tiếp tục thì thầm: "Tui hái cho bà. Tui hái cho bà.". Chùm hoa tím ngát... nhoà dần trong mắt ông.

* * * 
Buổi trưa, người con trai cụ Hồi không biết có linh tính gì, đang giờ ăn trưa, bỏ về nhà. Anh ta canh cánh trong lòng, hình như buổi sáng đi chưa tắt máy hít. Đến tối mịt cả nhà mới về, ông già bịnh, đôi khi không biết để tắt, hao điện lắm.

Về tới, máy hít đã tắt rồi, không biết do anh hay bà vợ trước khi đi làm. Anh tính khoá cửa đi, nhưng nghĩ giờ đi ăn, tới sở sẽ trễ, anh xuống bếp. Bếp ngắt lạnh tanh, nồi cháo vẫn y nguyên, chứng tỏ ông già chưa đụng tới. Anh đi xuống garage định hỏi ông già có ăn không để cùng ăn. Đây cũng là dịp anh bày tỏ nỗi lòng để cha con gần nhau trở lại. Không biết từ bao giờ, anh nghĩ lại, thương cha, hay chính mới đây, lúc sờ lên đầu cha sốt, trong hơi bốc nóng, lẫn một cái mùi già, ngái ngái như mùi lá vàng sắp rụng.

Anh không thấy ông già trong phòng. Anh đi tìm một vòng, cũng không thấy. Kỳ lạ chưa? Liệu có... Không đâu, ông cụ đã qua cơn sốt, có nhiều phần khoẻ lại, lẽ nào...

Nhìn cửa ra vườn thấy mở toang hoang. Anh vội vã ra tìm. Vườn mùa đông, cây lá trơ trụi. Tới gốc khế, anh thấy cha anh nằm sóng soài, mắt mở trừng, một tay nắm cái gì thật chặt.

Người con quỳ bên xác cha. Anh khóc. Rồi anh gọi 911. Lát sau xe cứu thương tới, có bác sĩ khám nghiệm, xác nhận ông già đã tắt thở mấy tiếng đồng hồ rồi, vì đứt mạch máu não, xuất huyết trong đầu. Khi mở bàn tay nắm chặt của ông ra coi, thì chỉ là một cành cây khô khốc, khẳng khiu, không ai hiểu tại sao!

Sau đám tang cụ Hồi, cái garage được sửa lại đủ cho ba xe đậu. Từ nay, chiếc xe của thằng cháu nội có mái nhà, không phải đậu ngoài lề đường để chim nó iả dơ hầy nữa.

Tháng sau ông bạn già hàng xóm đi Việt Nam về, nhìn sang vườn bên. Không thấy ông bạn hơn hở bắt cái ghế lên để nhìn mặt nhau. Ông hỏi thăm, biết ông cụ Hồi đã chết, khi chết nằm dưới gốc cây khế.

Ông cụ thở dài, nhớ bạn. Nhớ ông cụ Hồi có lần chỉ cây khế: "Bởi, đi đâu bả cũng trồng cây khế, bả mê hoa khế lắm kìa. Mê như mê tui." Đó là lần ông được ông cụ Hồi vui miệng, khoe thành tích chuyện tình thời trai trẻ miệt vườn.

Năm đó, cây khế ra hoa chi chít, từng chùm bông khế tím sậm, lấn cả lá. Có điều, hoa thì nhiều mà không đậu trái nào. Ông bạn già hàng xóm còn lại cũng hẩm hiu lắm, đôi khi ông tự hỏi, lẽ nào ông cụ Hồi đã hái hết chừng đó hoa khế mang xuống dưới cho bà.

Sunday, August 1, 2021

Đời người vốn không như ý 

Có người nói, nhân sinh có hai nỗi khổ lớn: Vì cầu không được, cho nên đau khổ. Vì có được rồi nhưng lại không vừa ý, nên cũng đau khổ. Con người luôn truy cầu sự hoàn mỹ, dẫu đắc được hay không thì vẫn không cách nào thỏa mãn.

Nếu đã như vậy, sao không coi những được-mất trong cuộc đời nhẹ nhàng đi một chút, giữ lấy cái tâm bình hòa, thản thản đãng đãng mà đi giữa thế gian?

Khổ vì không có, lại khổ vì có được rồi nhưng “cũng chỉ đến thế mà thôi”

Có người nói: Có ái tình rồi lại muốn tiền bạc, có tiền bạc rồi lại muốn vui vẻ, có vui vẻ rồi lại muốn sức khỏe, nhưng cho dù có được sức khỏe rồi thì cũng chưa chắc đã hoàn toàn mãn nguyện.
Truy cầu của đời người giống như những đợt sóng cuộn trào, con sóng này nối tiếp con sóng kia, không bao giờ dứt. Cho nên, vinh hoa phú quý nhiều đến đâu, gia tài vạn bạc nhiều đến đâu cũng chẳng thể mua được sự dài lâu, trường cửu. Trong Hồng Lâu Mộng có câu hát rằng: “Hỷ vinh hoa chính hảo, hận vô thường hựu đáo”, nghĩa là: Vui vì vinh hoa toàn vẹn, hận vì vô thường lại đến.

Sông có khúc, người có lúc. Núi uy nghi hùng vĩ nhưng có cao có thấp, biển dào dạt mênh mông nhưng nông sâu thất thường. Thế sự biến hóa không ngừng, trăng tròn rồi sẽ khuyết, hoa đẹp rồi sẽ tàn, đêm dài rồi lại đến lúc bình minh. Không một ai có thể sống cuộc đời bất biến, không một ai cả cuộc đời năm tháng nào cũng như nhau. Một đời bi hoan ly hợp, sinh ly tử biệt, cay đắng ngọt bùi, hết thảy chẳng có gì là mãi mãi, nào ai biết được ngày mai điều gì sẽ đến với mình?
Thường nói rằng tự nhiên là vĩnh cửu, song thế gian gió mây vạn tượng, nương dâu bãi bể, ai có thể biết rằng non xanh nước biếc kia sẽ mãi vẹn nguyên như thuở ban đầu? Một đời người, may mắn có được một chút huy hoàng thì cũng chỉ như ánh sao băng vụt qua trong khoảnh khắc. Hết thảy những hỷ nộ ái ố, những khóc cười, những dở hay… rồi cũng nhạt nhòa theo năm tháng vô tình. Như hoa kia trên cành, khi nở khi tàn, khi tươi khi héo, bạn đã có được hạnh phúc khi hoa nở, thì phải chấp nhận cảnh vắng lặng khi hoa tàn. Chúng ta luôn nuối tiếc những gì đã tan vỡ, lại khát khao những gì không có được mà quên rằng: thứ mình đang có mới đích thực là thuộc về mình.

Viên mãn là mỹ lệ, mà tàn khuyết cũng là một dạng mỹ lệ. Đời người mênh mang, chúng ta chỉ là một con sóng trong dòng chảy dài cuồn cuộn, là một chiếc lá trong cánh rừng bát ngát xanh. Vinh hoa hay nghèo khổ, huyên náo hay tĩnh mịch, được hay mất… đến rồi đi, hết thảy đều tự nhiên như mây bay gió thổi. Nuối tiếc là chuyện thường tình, đắc ý cũng là chuyện thường tình, con người sinh ra là để trải nghiệm, đừng hỏi vì sao nhân sinh lúc thì thừa ưu ái, lúc lại quá vô tình.

Không có nên khổ, có được rồi vẫn khổ, sao không chọn “một nửa” thong dong?
Nhân sinh trăm vị, khó đạt được ngũ vị câu toàn. Thế sự sâu xa, khó làm được việc nào cũng như ý. Núi có đỉnh cao, cao thế nào vẫn có đỉnh cao hơn. Sông có bến rộng, rộng thế nào vẫn chưa phải là nơi rộng nhất. Có câu rằng: “Giác tri đa dục bi khổ, thiểu dục vô vi, thân tâm tự tại”. Càng nhiều ham muốn càng đau khổ, càng ít ham muốn càng thanh tịnh vô vi, thân và tâm cũng vì thế mà tiêu diêu tự tại.

Vô cầu tức là không ham muốn, người mà có thể đạt đến độ không ham muốn thì thân tâm thanh tịnh, nhân phẩm tự nhiên sẽ cao thượng, mà khổ não cũng sẽ tự tiêu tan. Nhưng có thể làm được một người “không ham muốn”, há chẳng phải bậc Thánh nhân rồi sao?

Thân ở nơi thế tục, mê đắm trong phồn hoa, khó có thể buông xuống hết thảy để sống đời thanh đạm. Bao nhiêu người dám dứt bỏ lụa là gấm vóc để mặc áo trắng vải thô? Bao nhiêu người dám dứt bỏ hải vị sơn hào để thưởng thức cơm rau đạm bạc? Bao nhiêu người dám dứt bỏ lâu đài lầu các, cửa cao nhà rộng để quay về chốn quê mùa vườn tược, vui vầy cùng nước non? Lạc bước giữa nhân gian đầy gió bụi, cái tâm truy cầu như bể sâu không đáy, biết thế nào mới đủ, biết đến đâu mới thực là điểm dừng?

Phồn hoa dễ khiến người ta say đắm, đến nỗi chẳng nỡ buông tay, nhưng lại nhỏ bé tựa như hạt bụi, không thể trường tồn mãi mãi. Nhưng một kiếp người mênh mang này, nên đối đãi thế nào với vinh nhục thế gian?

Khi đối mặt với thế sự phong ba, yêu ghét không hoảng sợ. Đối với danh lợi tình thù, có được cũng không vui, mà mất cũng chẳng buồn. Đối với thắng thua được mất, mất mát không sợ, đắc được tuỳ duyên. Mọi chuyện đều thuận theo tự nhiên mới có thể giữ được nội tâm thanh tịnh.

Mọi việc ở đời đều có mức quân bình, vừa đủ, chưa đến mức ấy thì là thiếu, mà quá mức ấy thì lại đầy. Từ việc nhỏ như ăn uống sinh hoạt, đến việc lớn như trị quốc bình thiên hạ, đều có cái lý bình thường chi phối tất cả. Nghĩa là, làm gì cũng nên có chừng mực, đừng đi tới mức cực đoan. Kinh Dịch cho rằng: Khi Âm cực thịnh thì sẽ chuyển thành Dương, khi Dương cực thịnh thì sẽ chuyển thành Âm, Âm Dương cân bằng mới là trạng thái lý tưởng.
Giữ bản thân ở ngưỡng vừa phải, ắt không phải là sự hèn nhát của kẻ yếu hèn mà là phương châm của bậc quân tử có bản lĩnh; không phải là thái độ cầu an mà là thái độ của người biết tùy kỳ tự nhiên, thuận theo Thiên lý; không phải là đứng giữa theo kiểu thế nào cũng được, mà là đứng ở điểm cân bằng, trung dung.

Cho nên, trong chùa Linh Ẩn ở Hàng Châu có một câu thơ nhẹ nhàng như vô cùng ý vị: “Nhân sinh nã năng đa như ý, vạn sự chỉ cầu bán xứng tâm”, nghĩa là: Đời người sao có thể có nhiều như ý? Vạn sự chỉ cầu được một nửa xứng lòng.

Một học giả đời Thanh là Lý Mật Am cũng thấu triệt cái lý ấy. Ông không cầu hoàn mỹ, không cầu trọn vẹn, không cầu viên mãn, mà chỉ cần đạt đến ngưỡng “một nửa” là đủ rồi. Trong bài thơ “Bán bán ca” (bài ca một nửa), Lý Mật Am viết:

Ta đã thấu hiểu nửa kiếp phù sinh, một “nửa” đó vô biên đầy ý nghĩa,
Hưởng nửa kiếp đời vui nhàn nhã, giữa biển trời rộng rãi bao la.
Chốn quê nhà nửa tỉnh nửa quê, vườn tược thì nửa đồi nửa ngập,
Nửa sách đèn, nửa cày cấy, nửa tiểu thương, nửa bình dân, nửa mang danh kẻ sĩ.
Đồ dùng nửa đẹp nửa xấu, nhà cửa nửa sang nửa dở,
Áo quần nửa nhã nửa thô, đồ ăn nửa quê nửa tỉnh
Kẻ giúp việc nửa vụng nửa khéo, thê tử nửa dại nửa hiền,
Tấm lòng ta nửa Phật nửa Tiên, tên tuổi cũng nửa chìm nửa nổi.
Một nửa hiến dâng trời đất, nửa còn lại đem tặng kiếp người,
Nửa lo toan tích cóp để đời sau, nửa nghĩ đến đời người ngắn ngủi.
Uống rượu tới lúc nửa say, ngắm hoa khi hoa nở một nửa.
Thuyền giương nửa buồm thuyền khỏi lật, ngựa thả nửa cương chạy vững vàng…
Chưa đầy một nửa chưa thoả mãn, quá một nửa rồi hoá chán chê,
Trăm năm trong đời nửa vui nửa khổ, hưởng một nửa vui là đủ rồi”

Thảo Ngọc 

Blog Archive