Thursday, August 1, 2019

Lần duy nhứt thi sĩ Hữu Loan - tác giả “Màu tím hoa sim” vào Sài Gòn!

Sau tháng Tư 1975, tôi có dịp gặp gỡ các văn nghệ sĩ từ miền Bắc vào Nam. Những cuộc “gặp” lẫn “gỡ” này, cái đinh đóng vô đầu, vui ít buồn nhiều. Vui, là gặp được những người mình từ lâu mong đợi gặp. Lại khá bàng hoàng khi đụng phải những nhà văn nhà thơ từng là các tác gia được “vang bóng một thời”, nay trở thành những cán bộ tuyên truyền, “Nói mãi không thôi những điều dân miền Nam nghe muốn ói”.

Thật hạnh ngộ khi chúng tôi được gặp nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ Màu Tím Hoa Sim, cùng một số vị trong vụ án Nhân văn – Giai phẩm, những năm từ 1957 về sau, trên đất Bắc.

Những người bị chế độ đương thời bắt bớ, tù đày là hầu hết những trí thức, văn nghệ sĩ có chủ trương, qua tác phẩm công khai của mình trên báo chí, mục đích chống lại đường lối cai trị độc đoán, đàn áp tư tưởng, thủ tiêu quyền tự do sáng tác.

Nhớ, hôm gặp nhạc sĩ Văn Cao trong một đêm nhạc Sài Gòn chào mừng ông. Ông sinh năm 1923, lúc chúng tôi gặp ông, ông chỉ vừa độ tuổi 60, nhưng quá gầy yếu, mái tóc đã trắng phau, lưng còng, trông như một cụ già gần chín mươi tuổi. Ông rất vui, lại đầy nước mắt, khi nghe-nhạc-của-mình-được-hát, khi được trao những bó hoa với đầy lòng thương yêu và kính trọng của người Sài Gòn.

Lại gặp quý ông Phùng Quán, Hoàng Cầm, Đoàn Phú Tứ tác giả Màu Thời Gian… nỗi ấm áp, cùng uống cốc cà phê, nghe chuyện. Hóa ra, quý vị ấy rất “giàu chuyện”, tuy dài dặt cuộc đời bị quản chế tư tưởng, cơ cực về đời sống, gian lao trong hành xử một xã hội bị bao vây, tưởng đã “hết chuyện”.

Nhà thơ Phùng Quán gầy ốm nhưng khí lực chừng rất mạnh mẽ. Ông rất trân quý những gì là tài sản văn hóa, trí tuệ, tinh thần của miền Nam. Nhưng ông có cái thói quen gần như một quán tính, lúc ngồi trò chuyện ông thỉnh thoảng đảo mắt nhìn quanh, lo lắng. “Chừng như sau lưng, hay bàn kế cận có ai đó theo dõi lời nói, tư tưởng, hành tung của mình.”

Phùng Quán, ông lớn hơn tôi bốn tuổi. Tôi đã thuộc nằm lòng bài thơ Lời Mẹ Dặn của ông từ 1960, khi thơ văn của Nhân văn – Giai phẩm được phổ biến rộng rãi tại Miền Nam:

Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá”.

***
LỜI MẸ DẶN

Tôi mồ côi cha năm hai tuổi
Mẹ tôi thương con không lấy chồng
Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải
Nuôi tôi đến ngày lớn khôn.

Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ
Ngày ấy tôi mới lên năm
Có lần tôi nói dối mẹ
Hôm sau tưởng phải ăn đòn.
Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn
Ôm tôi hôn lên mái tóc
– Con ơi trước khi nhắm mắt
Cha con dặn con suốt đời
Phải làm một người chân thật.

– Mẹ ơi, chân thật là gì?
Mẹ tôi hôn lên đôi mắt
- Con ơi một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc là khóc.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét. 
Dù ai cầm dao doạ giết
Cũng không nói ghét thành yêu.

Từ đấy người lớn hỏi tôi:
– Bé ơi, Bé yêu ai nhất?
Nhớ lời mẹ tôi trả lời:
– Bé yêu những người chân thật.
Người lớn nhìn tôi không tin
Cho tôi là con vẹt nhỏ
Nhưng không! những lời dặn đó
In vào trí óc của tôi
Như trang giấy trắng tuyệt vời.
In lên vết son đỏ chói.

Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi
Đứa bé mồ côi thành nhà văn
Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm
Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ.

Người làm xiếc đi dây rất khó
Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
Đi trọn đời trên con đường chân thật.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao doạ giết
Cũng không nói ghét thành yêu.

Tôi muốn làm nhà văn chân thật
Chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

(1957)

*
Và, lúc đối diện ông, Phùng Quán giữa trời Sài Gòn, tôi cũng liên tưởng, ngỡ ra nỗi lòng đau, qua lời thơ của nhà thơ Trần Dần:

Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc
Đất hôm nay tầm tã mưa phùn
Bỗng nhói ngang lưng
Máu rỏ xuống bùn
Lưng tôi có tên nào chém trộm?”

***
Image may contain: one or more people and outdoor
Sau tháng Tư 1975, trước khi nhà thơ Hữu Loan có dịp vào Nam, đã có một số thân hữu từ miền Nam ra Bắc thăm ông. Khó thể mô tả cảnh nghèo khó của gia đình ông thuở ấy, lại khó thể hình dung ra cái tình cảnh cô đơn của một Hữu Loan bị chính quyền cô lập trong bao nhiêu năm.

Ông vào thăm Sài Gòn khá muộn màng, có thể do điều kiện kinh tế quá khó khăn. Anh em chúng tôi có dàn xếp một ngày để tiếp ông. Cà phê sáng, dùng cơm trưa, buổi chiều đưa ông đi dạo chơi đó đây. Thuở ấy chỉ toàn xe đạp, sang trọng tí chút là xe gắn máy. Ông rất hồi hộp khi ngồi yên sau xe gắn máy. Ông luôn bảo: “Đèo nhau xe đạp, chậm rãi, thì bình an hơn.”

Quán cà phê vườn khá rộng. Khi Duy Th. đưa Hữu Loan tới, quanh bàn chúng tôi đã có Tô Kiều Ngân, Bùi Giáng, mấy anh em văn nghệ, có cả một lúc có hai cô, Huyền Tr. và Thúy V. một cô là ca sĩ, một kia đang là diễn ngâm thơ cho đài phát thanh, trong các chương trình thi ca.

Bùi Giáng ngạo nghễ. Hữu Loan, thoạt nhìn như một pho tượng. Sạm một màu đất nung. Khuôn mặt chữ điền, tóc dài, trán rộng, sống mũi thẳng, cao.

Tôi nghiêng người chào ông. Ông nở nụ cười. Một nụ cười cẩn thận, nói rằng thân thiện là chưa đúng. Một cái bắt tay của giao tế, dè chừng. Sống ở miền Nam, sau cơn dâu bể, nay gặp anh trở về, gặp chị ngoài kia vô, chào một nhà văn xứ Bắc vừa chạm mặt, tôi nhận ra tất cả họ đều có một hành xử khá giống nhau.

Luôn nhìn quanh, ưa quay nhìn lui sau lưng. Nói ít, nói nho nhỏ. Cẩn trọng, đề phòng. Lâu ngày thành thói quen, trong một chế độ không thể “Trong bụng có gì ta có thể nói ra thế ấy”.

“Khó thể thật tình tỏ lòng với nhau, thì phải nói khéo, nói dối để che chắn sự thật, đậy nắp cái cốt lõi sự việc.” Mèo phải nước sôi phải biết sợ cả nước lạnh.

Image may contain: 3 people, people sitting, people eating, table, child, food and outdoor
Hữu Loan có khác. Ông chừng là một bậc tiên đang bị đọa đày xuống cõi trần. Trong đau đớn tột cùng hãy còn phảng phất cái thanh cao. Bắt tay nhau, tôi chạm phải một bàn tay thô tháp. Những ngón to, cứng. Gân nổi trên lưng bàn tay. Sau này biết, đôi bàn tay ấy từng đẽo đá, từng đẩy xe cút kít, xe thồ, ròng rã mấy mươi năm, để sống qua ngày, nuôi vợ con trong tình thế một nhà thơ bị vây khổn, bị khủng bố, cái giá treo cổ là không vô hình. Tất cả là bóng tối, thất nghiệp cả nhà, đói khát, cơ cực. Là cả hoạn nạn thời thế, cách ly, nghiệt ngã.

***
Hữu Loan, dù gặp mặt ngay đây, cầm bàn tay ấm áp giữa lòng tay, ông vẫn là một huyền hoặc, với tôi. Như một truyện kể xa lơ, từ thưở tôi còn trẻ thơ, thời chiến tranh Việt-Pháp. Chín tuổi, tôi học thổi sáo, đàn mân-đô-lin từ người anh ruột, học thêm lý thuyết từ thầy Lê Khắc Bạc, học ghi-ta với anh Hàn Vĩ, về sau tập kết ra bắc anh là một phó khoa tại Nhạc viện Hà Nội. Theo các anh chị đánh đàn ca hát, tôi ngây thơ mê muội, nhỏ nhoi như con tằm trong nong nia, lẫn lộn với lá dâu xanh. Nhưng thuở ấy tôi đã nghe, chỉ biết nghe, chưa đủ hiểu để cảm bài thơ Màu Tím Hoa Sim của ông.

Thời ấy, những năm đầu khởi chiến chống Pháp [1946-1949] mọi thứ còn hoang mộng. Cả thảy một tình yêu nước nồng nàn, toàn dân một tình cảm ngây thơ trước những mưu đồ chính trị. Sinh hoạt xã hội, ý thức hệ đối kháng, chưa từng cay nghiệt như những tháng ngày nội chiến về sau. Thuở ấy, ảnh hưởng một nền văn hóa cũ hãy còn. Văn thơ, là Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo của Tự Lực văn đoàn, là Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính… âm nhạc với Thiên Thai, Suối mơ, Giọt mưa thu, Trăng mờ bên suối, Trương Chi…

Cách sống văn hoa lãng mạn của một lối sống trí thức tiểu tư sản hãy còn in đậm. Những cụm từ ngày nay đã trở nên sáo mòn cũ rích, nhưng buổi ấy là những “thanh âm” gợi cảm, gây mê cho bao thanh niên nam nữ trên đường trường chinh, những “Chiều biên khu, trấn thủ lưu đồn, sương biên thùy, chinh phu, chiến bào, sơn khê…”

Thấp thoáng dưới ánh trăng thôn dã là những bản nhạc chép tay chuyền cho nhau, những Dư âm, Nụ cười sơn cước. Tiếng hát Sông Lô. Cung đàn xưa, Làng tôi… Những thơ, Tây tiến, Đôi bờ… Và, đã có Màu tím hoa sim.

Quê tôi, nơi tôi chào đời, làng Văn An, những đồi nương thuở ấy hãy còn man mác rừng nối rừng sim. Hữu Loan, tác giả Màu Tím Hoa Sim, đã bồng bềnh hình bóng, đã vang động rất xa tình thơ trong tôi. Một sưởi ấm xanh lơ.

Bây giờ ông đang trước mặt. Với ly cà phê đen, bữa nay tôi có cái để mà Nhớ Lại, có cái để được Ngắm Nhìn. Hữu Loan, Ông từ đâu tới!

***
Cùng một bàn. Những tách cà phê đã vơi. Sắp mời ông đi tiệc tùng buổi trưa đây. Nhưng cuộc trò chuyện càng lúc càng gần gũi hơn, dù ông chỉ lắng nghe, ít phát biểu. Ít cả nụ cười. Ông được đón tiếp nồng hậu. Bùi Giáng khinh bạc nhưng rất mực yêu mến những tài năng, từng rất mê đắm Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Tản Đà. Lúc này, Bùi Giáng nhìn Hữu Loan một cái nhìn trôi nổi, một ánh mắt có thể gọi là thơ dại, trong ngần như ánh trăng.

Thường khi ngồi uống rượu hay cà phê cùng anh em, Bùi Giáng chỉ ngồi một lúc rồi đứng dậy đi nghêu ngao, ra đường chặn xe cộ, đùa chơi. Có khi biến mất luôn chẳng chào chia tay một ai. Hôm nay, Sáu Giáng ngồi rất lâu [*]. Bùi Trung Niên Thi Si một thời trẻ chăn dê nơi núi đồi Quảng Nam, là rất đắm đuối với “Lá hoa cồn”, cùng “Đồi sim trái chín”.

Trò chuyện với Hữu Loan, mến ông là một người khá hiểu biết về văn chương, học thuật. Dễ là chốn tri âm, tương phùng. Có thể do ông là người có học hành tử tế, trưởng thành vào thời kỳ nước nhà còn lưu giữ những nền móng đạo lý, những thứ vốn văn hóa quý hiếm của giống nòi.

Gặp ông, ngoài những chia nhau nỗi oan giữa đời, còn là một điều khá thú vị, vì chúng tôi có một cái thói, rất “thoái trào” trong thời đại “cơm áo gạo tiền”, là lúc chung trà chén rượu cùng nhau, chỉ rặt bàn luận văn chương, triết học, âm nhạc nghệ thuật...

***
Một ngày gặp gỡ. Bữa trưa uống một trận bia. Chiều đưa ông thăm chơi đó đây. Buổi tối ghé một quán vườn, rất đông anh em. Sáng hôm sau ông ghé tôi. Chúng tôi cùng uống cà phê, ăn sáng. Nhà tôi ngay đường Nguyễn Huệ nên nhà hàng Givral cũng gần. Vào quán, ông đầy vẻ ngỡ ngàng. Xem thực đơn, ông nói, “Tôi không biết gọi gì, anh gọi dùm.”

Tôi gọi cho ông ly cà phê sữa, bánh mì vuông, một đĩa thịt nguội, patê, xúc xích. Lúc này chúng tôi cũng đang túng thiếu, nhưng tiếp ông phải “bề thế” tí chút. Chẳng lẽ mấy mươi năm ông nhai củ mi ngoài Bắc, giờ này tôi mời ông mấy củ khoai lang trộn bo bo!

Tôi nhường ông ngồi ghế bên trong, nhìn ra đường, quang cảnh góc đại lộ Lê Lợi và Tự Do. “Sài Gòn nó to rộng thế đấy.” Bên kia là Continental khách sạn thuộc loại cổ nhất Sài Gòn, nhà Hát Tây [tòa nhà Hạ nghị viện thời Cộng Hòa], khách sạn Caravelle. Ông mãi nhìn cảnh đẹp bên ngoài, lại nhìn đĩa thịt nguội. Chừng không muốn ăn. Tôi giục ông ăn chút gì kẻo đói bụng. Ông nói:

“Anh cho tôi nhìn một hồi đã. Bao nhiêu năm tôi mới thấy cái món lạ lùng này.”

Ông ăn một cách khó khăn. Chừng từ lâu không quen với dao nĩa. Tôi bèn gọi một đĩa tương tự, rồi bốc mà ăn, ý hô hào ông cùng bốc mà ăn.

Nhìn ông, tôi lại nhớ nước mắt của ông buổi sáng hôm qua. Lúc trò chuyện, tôi nói nhỏ với Thúy V.: “Em nên ngâm bài Màu Tím Hoa Sim của chính Hữu Loan để tặng ông.”

Trong quán có cây đàn ghi-ta. Vũ D. đệm đàn. Tô Kiều Ngân rút cây sáo trúc “nhà nghề”, dìu giọng người ngâm thơ. Giọng Thúy V. mượt mà, khá trữ tình. Nghe ngâm thơ của mình, từ mấy mươi năm bị chế độ cấm phổ biến trên đất Bắc, Hữu Loan ngậm ngùi. Bất ngờ ông bật tiếng khóc.

Khuôn mặt như một phiến đá chỗ lòng suối cạn. Khó lòng thấm nước. Nhưng những hạt trong vắt cứ trôi xuống má. Ông có vẻ sờ soạng. Một bàn tay thò vào túi. Không có gì. Hai bàn tay thô tháp chỉ run run, ông kéo cái chéo áo ka-ki màu chàm, vải nhám, chừng cũng bẩn do mặc lâu ngày, đưa lên lau nước mắt.

Từ rất lâu, ông không có khăn tay. Nghe rằng lúc đẽo đá, những khi lao động cực nhọc, ông chỉ có một tấm áo cũ, rách không còn dùng được nữa, giờ dùng làm tấm khăn quàng vai, để lau “cái suối mồ hôi thân mình”.

Những giọt nước mắt hiếm hoi ấy, là của ai vậy?

Của một người yêu nước, từng tham gia cách mạng rất sớm. Mặt trận Bình dân 1936. Phong trào Việt Minh từ 1943. Là Phó Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa huyện Nga Sơn, tháng 8-1945. Rồi, Ủy viên văn hóa tỉnh Thanh Hóa. Là, anh bộ đội trong Đại đoàn 304. Về Hà Nội 1954, đất nước tuy chia đôi, nhưng buổi ấy là thời ngưng tiếng súng đôi bên, Hữu Loan lại cầm bút, tại báo Văn Nghệ.

Là ai khóc vậy?

Là tác giả một bài thơ khá nổi tiếng. Ngay trên đất Bắc, nơi tác giả của nó đang dâng cả một đời mình cho đất nước, đang tận tụy phục vụ, thì bài thơ ấy bị cấm lưu hành dưới bất cứ hình thức nào. Lý do, một tác phẩm tiêu cực, ủy mị, thiếu tính chiến đấu, chẳng Hồng không Chuyên.

Lại lạ lùng, ngay tại Miền Nam Cộng Hòa, đất thù của phương Bắc, bài thơ lại được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc qua nhiều tựa đề khác nhau, năm này tháng khác, đã hàng triệu người nghe. Dzũng Chinh [Những đồi hoa sim], Phạm Duy [Áo anh sứt chỉ đường tà], Anh Bằng [Chuyện hoa sim]. Duy Khánh – Song Ngọc [Màu tím hoa sim], Thu Hồ [Tím cả rừng chiều]…

***
Lịch sử, Người nước tôi, như tự sơ nguyên định mệnh đã cài lắp những triền miên nội tình thù nghịch lẫn nhau, chẳng phép màu nào có thể hòa/hóa giải. Cho tới hôm nay, vẫn là một chờ đợi khó khăn: “Giờ phán xét cuối cùng”.

Nhân văn – Giai phẩm. Nhà thơ Hữu Loan qua đời vào trung tuần tháng 3 năm 2010 tại quê nhà, hưởng thọ 94 tuổi. Phùng Quán ra đi ngày 22 tháng 1 năm 1995. Trần Dần mất ngày 17 tháng 1 năm 1997. Cùng những ngày của mùa xuân. Phan Khôi, Văn Cao, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Nguyễn Hữu Đang...và nhiều nữa… những thành phần trụ cột của Phong trào “Đi Tìm tự do tư tưởng, đòi hỏi nhân quyền”, là đỉnh cao của văn hóa, cội nguồn, nay đã ra người thiên cổ.

Thiên cổ, là Bên Kia của hiện thực bên này ư? Bên kia, ai có nhớ về? Hoài niệm, bảo tôi nghĩ và viết những dòng này.

Nhà thơ Hữu Loan, lần gặp mặt - Cung Tích Biền Sài Gòn 1987
TRÊN ĐỜI LÀM GÌ CÓ PHẬT!?

Thợ hớt tóc vừa đưa một đường kéo ngọt xớt tỉa chỏm tóc lòa xòa trước trán thân chủ vừa phán một câu chắc nịch:
- Làm gì có ông Phật trên đời...

Người khách hỏi:
- Tại sao bác nói thế?

Bác thợ nói luôn một mạch: “Thì cứ ra phố mà xem. Nhiều trẻ em phải lang thang kiếm sống. Lắm người già yếu còn phải còng lưng dầm mưa dãi nắng bán rong. Bao kẻ không nhà đêm đêm vẫn mượn vỉa hè nằm co ro lăn lóc. Chưa kể là vào các bệnh viện nào cũng thấy chen chúc và đầy dẫy nghịch cảnh đau lòng... Nếu quả thật trên đời này có một ông Phật từ bi luôn thương xót chúng sinh, thì cớ sao những mảnh đời khổ ải đó lại không được Ngài cứu vớt?!”

Ông khách làm thinh.

Khi trả tiền xong, khách bước ra khỏi tiệm hớt tóc và bắt gặp bên kia đường một người râu tóc lùm xùm, thậm thượt, rõ là đã lâu ngày không hớt không cạo. Khách liền quày trở vào tiệm nói lớn:
- Bác thấy đó, trên đời này làm gì có thợ hớt tóc!

Bác thợ sửng sốt:
- Nói vậy mà nghe được à! Thế tôi là ai? Ai vừa mới hớt tóc cho anh ở đây?

Ông khách kéo bác thợ cắt tóc ra cửa, chỉ sang bên kia đường:
- Đấy! Thợ hớt tóc không hề có, vì nếu có thì người kia đã không phải để râu tóc lùm xùm, thậm thượt như vậy.

- Sai bét! Thợ hớt tóc vẫn luôn có, nhưng tay đó không chịu bước vào tiệm thì dẫu có đông có nhiều chăng nữa, thợ hớt tóc cũng đành bó tay.

Khách mỉm cười: “Chính xác! Đức Phật cũng vậy mà thôi. Ngài luôn luôn đưa tay ra chờ đợi chúng ta, nhưng chúng ta không chịu tìm đến mà nắm lấy tay Ngài. Chúng ta luôn kiêu ngạo với cái 'Tôi' ảo tưởng của mình. Đó là nguyên do sâu xa của mọi nỗi đau khổ trên thế gian này!”
ĐỪNG CỨ THẤY GIƯƠNG CỜ VÀNG LÀ CHỐNG CỘNG.

Một chia sẻ quan điểm về chuyện "bình phong chống Cộng" đáng để chúng ta suy ngẫm mà tôi suy tầm được trên mạng xã hội. Mời cả nhà cùng xem.

Một thời lên facebook tìm bạn bè thất lạc ở hải ngoại, thấy ai dùng avatar có cờ vàng hay chụp hình với cờ vàng rồi thêm thông tin họ đang ở các nước tây phương tôi chả ngần ngại kết bạn, vì thế chả mấy chốc tôi đã làm bạn với cả ngàn người. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn tôi phải hủy bỏ hoặc chặn vĩnh viễn một số người treo đầu dê bán thịt chó khi tôi phát hiện ra trong số người liên quan đến cờ vàng, không ít kẻ nằm vùng đánh phá, chia rẽ các đoàn thể bằng những bài viết được tung ra rất khôn khéo nhằm xuyên tạc, chửi bới những ai chống Cộng mà nếu không để ý, nhiều người tưởng lầm là phe ta. Từ đó tôi luôn để ý người nào có giọng điệu chụp mũ, bịa đặt không có cơ sở thì y như rằng đó là những tên dư luận viên ba củ trà trộn, mạo danh cờ vàng để quậy phá chứ không như nhiều người cứ nghĩ có cờ vàng là có chống Cộng.

Hiện tượng này có lẽ nhiều người đã từng trải qua. Thế nhưng vẫn không ít ông bà chống Cộng vẫn mắc bẫy. Thậm chí có những người từng đấu tranh với thâm niên hàng chục năm vẫn bị lừa mà cứ tưởng mình có cái nhìn am hiểu sự đời trong cách chọn bạn mà chơi. Vì vậy Cộng Sản vẫn có thể dễ dàng cài người của chúng vào, làm lũng đoạn, phân rẽ hàng ngũ chống cộng. 

Cụ thể tại Đức quốc hiện đang có một nữ tặc vốn dĩ không hề một ngày sinh trưởng tại miền Nam và cũng không là hậu duệ của VNCH nhưng chỉ vì núp bóng cờ vàng mà nhiều người chống Cộng tại đây đã vội vàng kết nạp vào hàng ngũ của họ. Để giờ đây nữ tặc này tha hồ quậy phá, rồi qua đó bôi tro trát trấu vào mặt họ, nhưng họ không dám lên tiếng vì sẽ bị người đời cười chê là có mắt như mù, có đầu nhưng không não nên mới vơ đại làm bạn với giặc.

Người từng trải chắc chắn chả lạ gì việc Cộng Sản VN luôn tìm mọi cách len lỏi vào các tổ chức ở hải ngoại mà chúng cho là phản động. Xưa kia trong hàng ngũ VNCH cộng sản đã cài cắm thành công những tên nằm vùng như tay nhạc sĩ Trịnh Công Sơn chuyên lo về mặt ru ngủ quân nhân VNCH bằng những bài hát làm nhụt chí tinh thần chiến đấu của họ. 

Hoặc như tên Phạm Xuân Ẩn đóng vai nhà báo để tiếp cận làm quen với các sĩ quan cấp cao của quân đội Mỹ hòng nghe ngóng các kế hoạch hành quân rồi giao cho đám nữ biệt động Sài Gòn mật báo về Hà Nội, nhờ vậy cộng quân Bắc Việt mới biết rõ nhiều bí mật mà Mỹ sẽ tiến hành trong việc truy diệt, phản công những đợt đánh úp của Việt cộng. 

Bất ngờ nhất là tên chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh thuộc Bộ tham mưu đã trèo sâu vào nội các của TT Nguyễn Văn Thiệu để cung cấp nhiều tin tối mật của VNCH cho cộng sản Bắc Việt. Không chỉ dừng lại ở đó mà cộng sản còn tung gián điệp của chúng vào tất cả các ban ngành của VNCH từ hành chánh đến quân đội, từ ngoại giao đến nông thôn mà sau này miền Nam bị thất thủ người ta mới hay thì đã quá muộn màng như trường hợp tên Nguyễn Thành Trung trong phi đội A37 của không lực VNCH. Để rồi nhân lúc miền Nam đang hỗn loạn thì tên phi công Việt cộng nằm vùng này đã thay vì bay ra Nha Trang để yểm trợ các sư đoàn bộ binh đang ngăn cản bước tiến của cộng quân lại quay về Sài Gòn dội bom sân bay Tân Sơn Nhất và dinh Độc Lập.

Bài học xương máu cho quân cán chính VNCH vẫn còn đó và chắc chắn một điều cộng sản VN không chỉ rình rập bắt bớ những ai đứng lên phản đối sự cai trị của chúng trong nước mà chúng chủ động tung quân ra hải ngoại để đánh phá từ trong các sinh hoạt của người Việt hải ngoại. Ấy vậy mà vẫn không ít kẻ ngơ ngơ ngác ngác cứ thấy ai chửi Cộng Sản vài câu, cầm cờ vàng phất phất vài cái hoặc đĩ miệng vuốt ve, ca tụng mình là vô tư giang tay rước giặc vào nhà y như đang đói khát lực lượng nên bạ đâu kết nạp đấy để thiên hạ nhìn vào nghĩ rằng hội nhóm mình cũng xôm tụ, đông đảo như ai. Để rồi một bước, tay chân Cộng Sản nhảy tọt vào hàng ngũ người chống Cộng.

Mặc dù Cộng Sản chế ngự miền Bắc từ năm 1945 đến nay, tức lâu hơn miền Nam tới 30 năm. Nhưng không phải ai sống miền Bắc cũng là Cộng Sản. Điều đó ai cũng hiểu được. Nhưng không phải người nào xuất thân từ miền Bắc chửi Cộng Sản oang oang thì cũng là dân chống Cộng. Xin thưa không phải đâu quý vị. 

Đánh giá một con người không chỉ nhìn qua cái cách họ khoác cờ vàng, họ ca nhạc vàng, họ chửi cộng sản suông, họ vui vẻ niềm nở với mình thì họ chống Cộng. Quý vị hãy xem cái tư duy của họ, cách họ thể hiện quan điểm và điều đặc biệt mà người miền Bắc chống Cộng thật sự là họ không bao giờ dương cờ vàng như một lá bùa hộ mệnh, là tấm vé để tham gia vào cộng đồng người Việt quốc gia. Và họ càng không chụp hình chung với sĩ quan này, ông to bà lớn nọ trong cộng đồng người Việt ty nạn cộng sản để lòe thiên hạ rằng tôi là người của các bạn, tôi đang đứng cùng chiến tuyến của các bạn. Họ tránh làm như vậy vì họ chống Cộng theo quan điểm độc lập của họ, vì họ chống Cộng thật sự mà động lực thúc đẩy được phát xuất từ kinh nghiệm, từ hiểu biết, từ nhận thức và họ muốn chứng minh bằng hành động thiết thực chứ không một sớm một chiều mượn cờ vàng, mượn mối quan hệ này nọ để thiên hạ nghĩ họ là người chống Cộng. 

Tóm lại họ chống cộng vì họ nhận ra tội ác và những sai trái của Cộng Sản chứ không vì họ là người VNCH. Cho nên những kẻ đến từ miền Bắc mà vội vàng mượn danh nghĩa VNCH để chống cộng thì quý vị làm ơn xét lại vì có thể đó chỉ là tấm bình phong che đậy mưu đồ xảo quyệt mà cộng sản đã tung ra nhằm cài cắm tay chân vào các hội đoàn, tổ chức chống Cộng để đánh từ trong đánh ra đấy thưa quý vị.

Bài học xương máu năm xưa khiến VNCH bị lung lay một phần không nhỏ vẫn còn đó mà quý vị không nhận ra hay không nhớ nổi sao ?

Hiện nay có lẽ nhiều người đã biết việc một ả đào từng trốn sang Đức rồi tìm cách ở lại bằng việc kết hôn với người Đức để sau đó lân la cặp bồ với những người Việt ty nạn cộng sản và vờ vịt oang oang chửi Cộng sản cho ra vẻ y thị rất căm thù cộng Sản. Nhưng nếu để ý kỹ những bài viết của ả, quý vị sẽ nhận ra những lời sáo rỗng, những câu nói tục tĩu bâng quơ, không thực tâm. Nhất là cứ quanh quẩn chụp mũ người này người kia là Việt cộng nằm vùng, là lừa đảo, là đĩ điếm, là tiếm danh, là lợi dụng...

Nhưng bản thân của ả là ai, từ cái xó xỉnh nào ở miền Bắc chui ra ? Là một kẻ hết bỏ chồng theo trai rồi đến cướp chồng người khác và hỗn hào mất dạy với cả người thân của kẻ mà ả đang mê hoặc, dụ dỗ cắm đầu vào đam mê xác thịt đến độ bỏ vợ con và chửi rủa cả người ruột thịt máu mủ của mình. 

Trong khi người khác đang tìm mọi cách kết nối người Việt năm châu để tạo nên sức mạnh đấu tranh giải thể cộng sản thì ả chỉ biết bới móc những chuyện trên trời dưới đất rồi xuyên tạc, suy diễn theo lối suy nghĩ thô thiển ấu trĩ của ả để thuyết phục người này người kia rằng nhận định của ả đúng, là chính xác. Nhưng quý vị thử nghĩ xem. Một kẻ nói láo không biết ngượng miệng, không thấy xấu hổ và không nhận ra sự trơ trẽn của mình thì có đáng tin cậy không quý vị ?

Tôi lấy ví dụ một trò lừa đảo trắng trợn của kẻ này để quý vị tự suy xét nhé. Với mục đích gây cảm tình để dễ trà trộn vào cộng đồng chống Cộng hải ngoại và gây hiềm khích nghi kỵ giữa hai hội đoàn người Việt ở hai tỉnh nên nhân việc người thân của một số thành viên trong cộng đồng người Việt ty nạn Cộng Sản qua đời, ả và tình nhân dù không hề tham dự đám tang hoặc chia buồn. Nhưng chúng vẫn phô trương cho mọi người thấy chúng là những kẻ sống có ân có nghĩa rồi bịa đặt câu chuyện hoàn toàn không có thật với mưu đồ rất lưu manh nhằm chia rẽ và để người ngoài nhìn vào nghĩ rằng một số người của tỉnh A đã dựng chuyện nói xấu chúng với người tỉnh B. 

Mục đích của chúng nhắm đến là mớm cho thiên hạ nghĩ rằng chúng không hề làm gì sai mà tất cả đều do người của tỉnh A dựng lên. Một trò rất thâm độc để gây chia rẽ nhưng chúng không ngờ người ta phát giác chúng không hề đến chia buồn hay đưa tiễn người quá cố. Thế những ả vẫn gian xảo viết hẳn một bài khẳng định rằng chúng đã đến chia buồn cùng tang gia và chửi luôn những ai đã nghi ngờ chúng một cách rất ư là mấy dạy. Nhưng sự đời không luôn là màu hồng cho chúng vì đi đêm mãi thì cũng có ngày gặp ma. Cho nên sự thật được phơi bày khi chính thân nhân của kẻ quá cố đã lên tiếng vạch rõ sự gian dối một cách thô thiển của chúng. Vậy mà thay vì ả thú nhận bản chất điêu ngoa bịp bợm của mình thì lại đổ hết cho tình nhân một cách ráo hoảnh như chưa hề có một sự tráo trở nào rồi vội vàng xóa bài để mọi người không biết vụ việc gian manh này của chúng.

Tuy nhiên những ai từng qua lại với chúng đều biết tỏng chúng như đôi sam đang đói khát dục vọng nên lúc nào cũng quấn quýt bên nhau và mở miệng ra là chồng chồng vợ vợ mặc dù chưa hề có hôn thú với nhau mà chỉ là hạng mèo mả gà đồng, trai trên gái dưới, già nhân ngãi non vợ chồng thì làm gì có chuyện đứa này nói láo đứa kia để ả không biết nên mới biện hộ gian xảo cho trò bịp bợm của cả hai mà tất cả đều có sự tính toán của chúng. Nhưng không may cho chúng là sự thật luôn thắng gian tà ở xứ sở tự do này chứ không như cái nôi Cộng Sản mà ả xuất thân.

Nực cười hơn khi màn nói láo ngoạn mục này lại được phụ họa bởi một người đàn bà từng nói láo không biết ngượng miệng dù đã trên 60 tuổi sống mấy chục năm tại Đức, chuyên đi gây thù chuốc oán khắp các hội đoàn cũng như với nhiều cá nhân khác và có hành vi đe dọa tính mạng người khác.

Lẽ ra là một người có tuổi từng vỗ ngực bô bô là mình chính trực và phô trương ra vẻ ta đây là một Phật tử thuần thành, đạo đức thì khi thấy những kẻ nhỏ tuổi hơn mình làm chuyện dại dột phải lên tiếng can ngăn, khuyên bảo điều hay lẽ phải. Nhưng người đàn bà này lại vô liêm sỉ đến độ to kèn lớn tiếng khẳng định rằng chính bà ta chứng kiến chúng đã đến chia buồn cùng tang gia người quá cố. Để cuối cùng khi bị lật tẩy sự gian dối bà ta vờ như không có chuyện gì, bằng việc kêu gọi đồng bọn xóa bài, xé nháp y như trò mất dạy của Cộng Sản chuyên ăn gian nói láo lừa dân.

Cũng chính người đàn bà này toa rập với ả kia để chụp mũ, chửi bới biết bao người bất kể họ là những bậc chân tu, lớn tuổi hay đã quá cố. Thử hỏi trên đời này ai sẽ chấp nhận những kẻ, khi người khác vì bệnh tật qua đời mà khốn nạn như bà ta và đồng bọn qua việc hả hê, nhạo báng cái chết của họ rồi xấc láo với cả những đấng linh thiêng khi tự cho rằng miệng lưỡi của bà ta còn linh ứng hơn cả Chúa Phật nên bà ta trù ai là người đó chết. Điều đó bà ta tự cho mình có khả năng sai khiến Chúa Phật giết những ai nghịch ý bà ta. Một người quá ư là khốn nạn và mất dạy như vậy thì thử hỏi lấy tư cách gì chụp mũ và gọi người khác là đĩ quốc tế trong khi nạn nhân của bà ta đang hạnh phúc bên chồng con còn bản thân bà ta chả ra gì để chồng ruồng bỏ và van xin tình cảm người khác không thành lại quay qua nói xấu, bịa đặt đủ điều về họ dù người ta đã cố quy y nơi cửa Phật cũng không yên với bà ta.

Tại sao chúng ta chống Cộng? Những lý do đơn giản mà tôi biết là vì Cộng Sản quá gian ác, quá xảo quyệt, quá mất dạy, quá bất nhân, quá dốt nát. Vì thế chúng ta không chấp nhận và tìm cách loại bỏ ảnh hưởng của chúng ra khỏi sự điều hành, cai trị đất nước. Như vậy chúng ta phải là những người không có những bản chất xấu xa kia như Cộng Sản đúng không, thưa quý vị ? Thế thì ả kia và người đàn bà này có khác gì Cộng Sản khi ăn nói hỗn láo, mất dạy, chửi rủa tục tĩu, vô văn hóa và dùng mọi thủ đoạn đê tiện từ nói láo đến xuyên tạc, vu khống, chụp mũ vô căn cứ hết người này đến người kia chỉ vì ganh ghét, vì muốn thể hiện mình và cố tạo nên sự nghi kỵ, hiềm khích, thù oán nhau với cả người sống lẫn kẻ đã qua đời. 

Chúng ta thử hình dung khi cộng sản không còn độc quyền cai trị đất nước và một chế độ mới lại tồn tại những kẻ này thì sẽ là thảm họa biết dường nào; bởi muốn làm chuyện đại sự đem lại hạnh phúc, ấm no, tự do cho toàn dân mà có những tâm địa độc ác, lời nói gian xảo mưu mô, bản chất côn đồ, thất học và làm những việc trái với luân thường đạo lý của một con người thì kết quả ra sao, chắc mọi người cũng đã biết.

Hôm nay tôi dành chút thời gian để chia sẻ với quý vị vài lời như vậy. Hy vọng mỗi người chúng ta hãy nhìn nhận xem mình đang đứng ở đâu và mục đích sống, giao tiếp của mình là gì. Chống Cộng dĩ nhiên cần có lực lượng càng nhiều càng tốt. Nhưng không phải bằng mọi giá và vơ đại cho đủ số lượng mà chất lượng quá tồi tệ để qua đó những loại người bất hảo này không những có cơ hội phá hoại, chia rẽ mà còn tạo điều kiện cho Cộng Sản len lỏi đánh phá, cô lập chúng ta cũng như tư cách của quý vị bị ảnh hưởng trầm trọng khi người đời thấy được quý vị đang giao du, đàn đúm với những kẻ không ra gì.

van son le
Mỹ truy tố tỷ phú ngành nhôm Trung Quốc trốn thuế 1,8 tỷ đô la

 
Ông Liu Zhongtian, tỷ phú ngành nhôm kiêm nhà sáng lập tập đoàn China Zhongwang (Trung Quốc Trung ương) bị cáo buộc trốn thuế 1,8 tỷ đô la cho hoạt động kinh doanh của công ty ở Hoa Kỳ. Ông đã bí mật kiểm soát một loạt công ty với một kế hoạch phức tạp để nhập lậu số lượng lớn kim loại vào Mỹ. 

Theo SCMP, ông Liu là công dân thường trú Hoa Kỳ quốc tịch Trung Quốc.

Tờ Wall Street Journal trích dẫn một quan chức Hoa Kỳ cho biết lệnh bắt ông Liu, 55 tuổi đang được soạn thảo. Theo bộ Tư pháp Hoa Kỳ, ông Liu đối mặt với 24 cáo buộc, những tội này nếu bị kết án sẽ phải chịu mức phạt tù tối đa 465 năm. 

Ông Liu và những đồng phạm bị truy tố hàng chục tội danh thông đồng, âm mưu lừa gạt và rửa tiền quy mô quốc tế. Họ cũng bị buộc tội lừa đảo các nhà đầu tư trong công ty hàng đầu của ông Liu là China Zhongwang – được niêm yết ở Hồng Kông năm 2009. Theo các cáo buộc, nhập lậu nhôm có thể đối mặt với mức thuế lên tới 374%.

Năm 2009, công ty hàng đầu của ông Liu đã công bố bản cáo bạch chào bán IPO 1,26 tỷ đô la Mỹ – trở thành một trong những công ty lớn nhất thế giới năm đó. Công ty đã quyết định tăng doanh thu bằng cách giả mạo thông tin về thị trường của công ty ở Mỹ thông qua kế hoạch buôn lậu, theo cáo trạng.

Bản cáo trạng cũng cho biết, ngoài cáo buộc trốn thuế, Liu và các đồng phạm bị cáo buộc có mưu đồ buôn lậu nhằm “duy trì giả mạo doanh số đáng kể của China Zhongwang từ việc bán nhôm cho các khách hàng ở Hoa Kỳ, mặc dù doanh số này rất ít, nếu có”.

Luật sư Quận Trung tâm California, Hoa Kỳ Nick Hanna cho biết trong một thông cáo báo chí: “Bản cáo trạng này nêu lên những hành vi vô đạo đức và chống lại các hoạt động cạnh tranh do một doanh nhân tham nhũng đã lừa gạt Hoa Kỳ 1,8 tỷ đô la thuế quan do nhập khẩu từ Trung Quốc”.

“Hơn nữa, doanh số không có thật của hàng trăm triệu đô la nhôm làm tăng giá trị của một công ty được giao dịch công khai, gây rủi ro cho các nhà đầu tư trên toàn thế giới. Trong trường hợp này, tính chất tội phạm khó kiểm soát cũng gây ra mối đe dọa cho ngành công nghiệp, sinh kế và đầu tư của Mỹ”.

Một bồi thẩm đoàn California đã đệ trình báo cáo trạng vào ngày 7/5. Thông tin về bản cáo trạng được tiết lộ trong tuần này.
Thế Rồi Một Buổi Chiều
Hồi xưa, khi còn học ở Văn Khoa Saigon, tôi học ít mà mơ mộng thì nhiều. Ngồi trong giảng đường mà tâm trí bay bổng mộ̣t nơi xa thẩm nào đó, và chập chờn hình bóng một giai nhân. Nhưng không phải luôn luôn như vặy. Một hôm ở trong lợ́p khi cô Wesley đang mê say giảng bài Hamlet của Shakespeare, tôi say đắm theo từng tiếng nói, lời văn, và ngay cả nụ cười duyên dáng của cô. Rồi mộ̣t ý nghĩ thoáng qua như giấc mộ̣ng lành: Ước gì có ngày tôi được sang thăm thành phố cổ xưa của hoàng tử Hamlet ở Denmark.
Ảo ảnh của tôi ơi! Hãy bay vào vũ trụ
Thế giới này đâu có chỗ cho anh! (ĐTH)

Tôi cứ tưởng giấc mơ sẽ mờ đi theo thời gian, nhưng không phải vậ̣y vì trong cuộc đời, ảo ảnh của ngày qua cũng là ánh bình minh cho ngày tới.
Thế rồi một buổi chiều trên hòn đảo hiền hòa Tasmania, tôi nhận đượ̣c mộ̣t lá thơ của Olivia từ Denmark:
“Thảo ơi, tôi rất ngạc nhiên và mừng khi biết vào tháng tới anh sẽ qua Denmark dự̣ hộ̣i nghi quốc tế. Như vậy là tôi có dịp được gặp anh face-to-face. Viết cho anh cả chục bài luận, chia sẻ chuyện giáo dụ̣c và đời sống với anh cả ngàn lời, vậy mà… chưa bao giờ gặ̣̣p anh. Tôi vừa vui vừa hồi hộ̣p quá anh à. Mong gặ̣p anh.
Copenhagan, Denmark
Thật vậy, tôi có nhiều sinh viên off-campus từ các nước khác. Nói với nhau thì nhiều, nhưng cũng chỉ quen nhau qua hình ảnh tưởng tượng mà thôi. Olivia thì quen thân hơn vì cô ta hay kể cho tôi nghe về thành phố Malmo của Thụy Điển, nơi mà cô ta đang sống và chỉ cách thủ đô Copenhagen của Denmark bằng chiếc cầu.
Thế rồi một buổi chiều, khi chiếc máy bay của British Airways lượ̣̣n đi lượ̣̣n lại trên bầu trời trước khi đáp xuống Denmark, tôi thấy rõ chiếc cầu biên giới The Oresund Bridge và hình dung Olivia đang đứng bên bờ sông mỉm cười vẩy tay chào.
Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước
Anh đến thăm một chiều 
Bao lũ chim rừng họp đàn trên khắp bến xuân. (Văn Cao)

Ngày đầu của hội nghi, tôi thức dậy sớm hơn thường lệ, một phần vì chưa quen với không gian mới của hoàng tử Hamlet, và nhất là hôm nay là ngày mà tim tôi sẽ đập mạnh vì biển khơi dậy sóng trong lòng mình.
Theo lịch trình thì tôi sẽ đọc bài mình tại hội nghị lúc 2 giờ chiều. Có khoảng 1500 giáo sư đại học trên thế giới tham dự, khoảng 15 người đến từ Úc. Tôi ngồi trên hàng đầu và đợi đến 2 giờ thì ‘bước lên sân khấu’, hy vọng là sẽ xuôi buồm thuận gió như cánh diều bay lững lờ trên bầu trời bao la.
Khi chairperson bắt đầu nói vài lời giới thiệu về tôi, bổng dưng tôi thấy một cô bé vội vã bước vào, và mỉm cười vừa vẫy tay chào. Đúng rồi, ‘người đó chính là Olivia’, tôi mỉm cười chào lại.
Sau lời giới thiệu, thay vì bắt đầu đọc bài research của mình trước khán giả, tôi vui vẻ mời Olivia lên đứng cạnh, rồi ngắn gọn giải thích cho khán giả biết ‘người ấy là ai’. Hội nghị̣ thường rất là nghiêm túc, vậy mà tôi dám đem chuyện ‘tào lao’ ra chia sẻ với đâng mày râu trong giới võ lâm, trong không khí trang trọ̣ng này. ‘Education is too serious to be taken seriously,’ tôi nghe tiếng nói từ tiềm thức của mình vang vọng.
Đúng như vậy, khán giả thích quá vổ tay rầm rầm, vì đây là một hiện tượng lạ̣ trong diễn đàn giáo dục đại học quốc tế, chắc một phần họ khoái nghe fairy tale. Tôi càng say như người điếc không sợ̣ súng, thì họ càng vui lây… What an extraordinary atmosphere!
Ga Malmo, Sweden
Chiều hôm đó, Olivia cùng tôi đón tàu từ ga Copenhagen, Denmark qua ga Malmo của Thụy Điển, hai nước cánh nhau chỉ vỏn vẹn một chiếc cầu. Sau khi ăn cơm chiều, chúng tôi dạ̣o phố Malmo, một thành phố nhỏ nhưng thanh lịch dịu dàng như thành phố Huế thơ mộng của quê hương mình. Sáng hôm sau, Olivia chở tôi đi về những vùng quê để chiêm ngưỡng nét đẹp hiền hòa cổ kính của quê hương nhạ̣c ABBA.
Lúc 3 giờ chiều, Olivia tiễn tôi tại sân ga Malmo. Ga này nhỏ, ít người nhưng thiện cảm. Trên sân ga, chúng tôi nói chuyệ̣n thật lâu vì tàu đến trễ. Cuối cùng tôi phải quyết đoán bảo Olivia về nhà không cần đợ̣i tàu đến, một phần vì tôi hay xao xuyến trong cảnh chia ly giữa con tàu và sân ga. Olivia bước đi mà tâm hồn không ổn vì không muốn để tôi một mình ở sân ga xa lạ này.
Sau khi về lại Tasmania được một tuần, lúc đang ngồi làm việc tại đại học, trước mắt tôi là dòng sông Tamar dịu dàng tắm mình trong nắng xuân. Trong khung cảnh thơ mộng này, tôi nhận được email của Olivia từ Malmo:
“Thao à, chắc là anh đã trở lại Tasmania bình yên, và hy vọng anh tạo được niềm vui mới khi ghé thăm Malmo, thành phố thân yêu của tôi. Anh biết không? Khi ở sân ga, anh hối tôi quay về nhà và để anh ở lại sân ga một mình chờ tàu. Thật ra tôi có về đâu. Sau đó, tôi đi ra cổng ga, nhưng đứng đó im lặng đợi cho đến khi con tàu ‘take you away from Malmo.’
Tamar Le
Source:vietluan.com.au

Ngổn ngang trăm thứ

Image result for shopping images
Con gái tôi, từ thuở nằm nôi, lúc nào cũng có một con gấu nhồi bông bên cạnh. Lớn lên, đi đâu, cháu cũng đem theo con gấu nay đã “già” ấy. Vợ chồng tôi thường đùa, mai mốt lấy chồng, đem theo con gấu làm của hồi môn.
Con người ta, tự bản năng, sanh ra đời đã có tư tưởng sở hữu. Tiếp theo, qua quá trình sống còn của loài người, những vật dụng thu thập được đã góp phần vào sự tồn vong của cá thể, của gia đình, và của nhân loại. Vì thế xưa nay sự sở hữu vật chất gần như đồng nghĩa với sự an toàn, với niềm hạnh phúc, và là những cột mốc định vị cho sự hiện hữu của mỗi cá nhân trong cuộc đời.
Nghiên cứu cho thấy, khi bị lấy đi một món đồ nào đó, não bộ của khổ chủ sẽ chịu những tín hiệu đau đớn như khi bị kim châm, điện giựt. Đồng thời nhiều nghiên cứu khác còn cho thấy đi mua sắm, một khi đã được sờ nắm vào một mặt hàng nào, 60% người tiêu thụ sẽ bỏ tiền ra để mua cho được món hàng ấy. Mua xong, cảm giác kích hoạt trong hệ thần kinh rất phê như phê thuốc phiện, và khi hết phê thì… đi mua tiếp. Đó là một trong các lý do tại sao công ty Apple làm ăn khấm khá vì một khi đã rờ, đã cọ quẹt, đã “touch” vào các thiết bị như iPhone, iPad thì mọi người sẽ sẵn sàng “iPay.” Thêm vào đó, chủ thuyết kinh tế thị trường, nhất là ở Mỹ, cổ võ cho việc mua sắm để làm cho kinh tế thêm giàu mạnh. Các thông điệp khuyến mãi gieo vào đầu người tiêu thụ niềm tin là, mua sắm đồ sẽ đem lại niềm vui và phúc lợi
Sự thật có phải như thế hay không?
Có một mệnh đề cần biết, mỗi một món đồ mà bạn làm chủ, chính nó sẽ làm chủ bạn từ tinh thần đến thể xác. Thí dụ bạn có một cái đồng hồ đeo tay để xem giờ. Khi sắm cái đồng hồ thứ hai, trong tâm thức của bạn có thể là “để kiểm soát được thời gian”, hay bất cứ lý do nào khác được dùng để biện minh, có khi nào bạn chạnh lòng nghĩ là mình sẽ tốn thì giờ thêm để “lo” cho cái đồng hồ thứ hai này hay không? Nhìn quanh nhà bạn sẽ thấy trăm thứ ngổn ngang khác từ nhỏ đến lớn, từ cái đinh cho đến cái ti vi, từ trong tủ áo, từ phòng ngủ, từ nhà bếp ra đến nhà xe. Những thứ ấy sẽ tạo ra trăm mối tơ vò trong đầu của bạn, vì ngày đêm lo nghĩ đến chúng, để giữ của, và có khi, để lấy thân ra mà che của. Một nghiên cứu y khoa khác cho thấy, lo nghĩ nhiều thứ linh tinh sẽ gây ra phiền muộn kinh niên và làm cho lớp chất xám của não bộ mỏng đi. Một nhận xét khác được thống kê xác nhận, ai cũng biết mà cứ làm lơ, đó là, không cần phải giàu, có nhiều đồ “xịn”, đồ “khủng” trong nhà mới có hạnh phúc.
Ngày xưa người ta mua sắm vì nhu cầu thiết yếu. Cái xe đi làm, cái ghế để ngồi. Ngày nay mua sắm đồ là cách để biểu hiệu cá tính, sắc thái, tư duy, địa vị xã hội của một cá nhân. Tại sao phải là Coke mà không là Pepsi? Điệu ,“xì tin”, và “bản sắc” là ở điểm khác nhau giữa Samsung Galaxy và iPhone, vân vân và vân vân.
Trong phim khoa học viễn tưởng “In Time” do tài tử Timberlake thủ vai chính, miêu tả một xã hội mà tuổi thọ con người là đơn vị tiền tệ để đổi chác. Lương bổng được trả bằng tuổi thọ. Mua ly cà phê thì tuổi thọ bị trừ đi vài giờ. Hết “tiền” thì lăn ra mà chết. Nhìn lại, chúng ta hiện đang sống trong cái xã hội “tưởng chừng như viễn tưởng xa xăm” ấy. Chúng ta dùng thời gian quý báu của cuộc đời để đi làm ra tiền, để tậu đồ junk, đồ linh tinh, đồ rác rưởi, rồi tốn thêm thời gian để lo lắng, để “take care” cho những món đồ ấy. Có iPhone thì phải text, phải lướt mạng, phải đọc tin trên mạng xã hội 24/7. Tệ, có người còn bán cả trái thận để đổi lấy cái iPhone!
Nói đúng ra không phải ai cũng thích lòe hàng “khủng”. Phần lớn chúng ta mua sắm và để dành đồ để lỡ khi cần, thí dụ, 12 cục xà bông tắm ở Costco vì “không thể thiếu được”, nguyên thủy vì chúng ta…nghèo. Có cả tôi trong đó. Khoảng năm 1970, ngoài làng Non Nước, Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng có một hầm rác của quân đội Mỹ, gọi là “Hầm Bứa Mỹ Thị”. Từ cái hầm bứa này, tôi tha về nhà không biết bao là “của quý”. Thói quen ấy tồn tại đến bây giờ, tiếp tục tha đồ ở Costco, ở Amazon về hằng tuần, để lỡ khi cần. Mà khi cần lại không biết đồ ấy nhét vào góc nào, nên thôi, chạy ra mua cái khác, và mua dư thêm một tí… để lỡ lại khi cần!
Một lý do khác người ta giữ đồ cũ vì nó chứa những kỷ niệm đẹp nào đó. Thú thật, một mớ sách vở Y Khoa tôi học khi còn trong trường Y hơn 30 năm về trước vẫn còn trong tủ, cho dù có khi nào tôi đọc lại một chữ nào trong những cuốn sách ấy đâu! Mà có đọc thì chả ích lợi gì vì kiến thức khoa học ngày càng thay đổi. Bỏ sách vở ra thùng rác thì thương, mà vương vấn thì tội.
Đọc tới đây bạn đã hiểu tôi không nói chuyện phiếm mà nói về một chứng bệnh mà nhiều người bị mắc phải. “Chứng bệnh thời đại” thường xảy ra ở các nước gọi là “văn minh tiên tiến”. Chứng bệnh nầy làm hại đến sức khỏe, đến tuổi thọ của chúng ta, không thua gì ung thư, cao máu, tiểu đường. Nếu hiểu căn nguyên của tội tình, của hồ sơ bệnh lý, thì chúng ta nên bắt đầu tự chữa cái bệnh gọi là “sưu tập đồ lộn xộn”. Để tự giải thoát khỏi những gông cùm trói buộc mình vào “giai cấp của người tiêu thụ”, xin đem đồ không cần dùng cho người khác, đem cho chùa, cho nhà thờ, cho hội từ thiện, v.v…
Không muốn cho thì bán eBay làm lợi cho mình, cho nền kinh tế, đem tiền gửi về cho bà con bên nhà chẳng hạn. Món đồ nào có nhiều kỷ niệm thì chụp hình lưu niệm, rồi cũng đem cho, đem bán, đem recycle để chúng được “siêu thoát” và mình cũng được “tịnh độ” theo. Đồng thời, mỗi khi mua đồ mới thì nên nghĩ “rằng, thì, là” món hàng ấy mình sẽ trả không phải bằng tiền, kể cả tiền không có, mà sẽ trả với chính sức khỏe và tuổi thọ của mình về sau.
Nhạc sĩ Anh Bằng có một bài nhạc “không Anh Bằng” tí nào, đó là bài “Khúc Thụy Du” phổ thơ của Du Tử Lê: “…nói về cuộc đời, khi tôi không còn nữa. Sẽ lấy được những gì về bên kia thế giới ngoài trống vắng mà thôi?” Chúng ta đã nhiều lần “bỏ của chạy lấy người”. Chúng ta đến trong đời tay trắng và sẽ ra đi trắng tay. Xin hãy để thời gian quý báu để mà sống và sống thật nhẹ nhàng.
BS Hồ Ngọc Minh
BÁC SĨ LƯƠNG BẢO HOA QUA ĐỜI 

(Bác sĩ ty nạn người Việt đầu tiên tại vùng Bankstown)

Ông Lương Bảo Hoa, vị bác sĩ ty nạn Việt Nam đầu tiên được tái công nhận bằng cấp, và có thời gian dài phục vụ Cộng đồng người Việt tại vùng Bankstown - đã qua đời hôm qua Thứ Tư 31.7.2019 tại tư gia ở Syndey, hưởng thọ 82 tuổi.

Bác sĩ Liêu Vĩnh Bình cho biết: Ông Lương Bảo Hoa đột ngột qua đời vì bị Heart Attack (nhồi máu cơ tim), và ông Hoa trước đó cũng đã từng được giải phẫu về bệnh này.

Nhóm bạn của ông Hoa cũng nói rằng: Ông ấy sức khỏe vẫn tốt, cách đây mấy ngày còn đi nhậu, và sáng sớm vẫn cắp ô đi làm.

Vào thập niên 80', Bs Lương Bảo Hoa làm Chủ tịch của Ủy Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển tại Sydney, khi cao trào người đào thoát khỏi Việt Nam lên cao, gặp nạn Hải tặc Thái cướp bóc tài sản và sát hại.

Bác sĩ Liêu Vĩnh Bình là phó Chủ tịch của tổ chức này cho biết: Chỉ trong vòng mấy năm, Ủy ban đã nhận được sự đóng góp của đồng hương tại Úc châu lên tới hơn 800 ngàn Úc kim. Đây là một số tiền đáng kể vào thời gian ấy, nhằm hỗ trợ cho công tác vớt người vượt biển của tổ chức Y sĩ không biên giới (Medicins du Monde).

Tuy nhiên chuyện gia đình của ông gặp trục trặc trong thời gian này, và ông đã tìm vào các canh bạc để giải khuây.

Tài sản của ông với các dãy shop trong vùng Cabramatta đã bị nướng gần hết vào Star Casino, khiến ông từ một triệu phú địa ốc trở thành tay trắng. Ông bị bại sản đến nỗi không còn cả căn nhà riêng để làm phòng mạch ở Bankstown, và phải đi làm cho các Trung tâm Y tế.

Ông có 2 con: một trai một gái với người vợ cả (nhưng cô con gái đã qua đời cách đây 2 năm, vào lúc 44 tuổi). Người vợ sau mà ông đang chung sống không có con.

Ông Lương Bảo Hoa xuất thân là một bác sĩ quân y trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông mau chóng trở lại nghề ngay khi đặt chân đến Úc. Ông lại là người có óc thương mại, nên đã làm chủ rất nhiều bất động sản, và nếu không có những biến cố làm biến chuyển cuộc đời, thì ông Lương Bảo Hoa đã trở thành người Việt giàu có đáng kể tại nước Úc.

Thôi thì... gửi gió cho mây ngàn bay.

*Nguyễn Vy Túy

Blog Archive