Friday, June 1, 2018

Sáu cách người Israel áp dụng vào sa mạc khô cằn, làm thay đổi nền nông nghiệp thế giới

  
Với 50% diện tích là sa mạc, Israel vẫn vươn lên là một trong những quốc gia hàng đầu về sản xuất nông nghiệp sạch và bền vững.. Bên cạnh xuất khẩu nông sản của mình ra các nước có tiêu chuẩn khắt khe về chất lượng, quốc gia này còn đang dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực chia sẻ các kỹ thuật hiện đại trong nông nghiệp. Vậy họ đã tìm ra những phương cách đặc biệt nào để khiến cho những sa mạc của mình “đơm hoa kết trái”? 

Màu xanh trù phú đáng kinh ngạc giữa sa mạc
1. Công nghệ tưới tiết kiệm
Khi nhắc đến hệ thống tưới của Israel, chúng ta phải kể đến hai hệ thống tiêu biểu: hệ thống tưới nhỏ giọt và hệ thống tưới nhỏ giọt từ không khí.

Công nghệ tưới nhỏ giọt
Kỹ sư tài nguyên nước Israel – Simcha Blass là người đã phát hiện và hoàn thiện “kỹ thuật tưới nhỏ giọt”. Ông nhận ra rằng việc cung cấp một lượng nước nhỏ, thích hợp với nhu cầu của từng loại cây một cách chậm và đều đặn sẽ giúp cây phát triển tốt ngay cả trong những điều kiện khí hậu khô nóng như của Israel. Các k sư nông nghiệp của đất nước này sau đó đã phát triển hệ thống những ống tưới dài, phân bổ nước đến từng gốc cây. Các k sư sẽ dùng camera đo nhiệt độ của lá cây, từ đó biết được lượng nước mà lá cây “làm mất”, và xác định được lượng nước mà cây cần hấp thụ một cách đều đặn để duy trì sự phát triển.

Hệ thống tưới bằng khay Tal-Ya
Hệ thống thứ hai là tưới nhỏ giọt từ không khí. Đây là hệ thống tưới bằng khay thông minh có răng cưa, được làm từ nhựa tái chế với các bộ lọc tia cực tím có tên Tal-Ya. Chiếc khay này dùng để tích lũy nước được hình thành do sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm ở Israel, và nước mưa. Nước được tích lại trên khay sẽ được tưới thẳng vào gốc của mỗi cây trồng.
Những cách thức này không chỉ giúp kích thích sự phát triển của cây trong khí hậu khô nóng, nó còn là giải pháp tối ưu cho việc tiết kiệm một lượng lớn nước tưới. Đồng thời, cách cung cấp nước này khiến đất luôn giữ được sự tươi xốp, tránh việc làm sói mòn hoặc nén chặt đất trồng.
2. Kén tồn trữ lương thực, giải pháp đơn giản nhưng triệt để 

Kén dự trữ, một phát minh đơn giản nhưng hiệu quả của người Israel
Việc bảo vệ các loại ngũ cốc sau khi thu hoạch là một vấn đề đau đầu đối với nhiều quốc gia nông nghiệp, đặc biệt là với những quốc gia có khí hậu nóng, ẩm – một trong những điều kiện quan trọng nhất cho nấm mốc và các loài côn trùng phát triển. Theo thống kê của các nhà nghiên cứu Israel, 50% sản lượng ngũ cốc của họ bị hỏng do sự tấn công của các nhân tố kể trên.
Chiếc túi khổng lồ được biết đến với tên “kén tồn trữ lương thực” là giải pháp đơn giản nhưng cực kyhữu hiệu mà người Isarel tạo ra để giải quyết vấn đề này. Chiếc túi nhựa sẽ bao kín lượng lương thực đã được sấy khô, cách ly chúng ra khỏi tất cả những nhân tố gây thiệt hại như hơi ẩm và côn trùng. Không có không khí trong chiếc túi, không sinh vật nào có thể sống sót, kể cả những loại trứng côn trùng không may còn lẫn trong ngũ cốc. 
3. Bảo vệ cây trồng bằng những biện pháp sinh học an toàn cho sản phẩm và môi trường
Thiên nhiên là k sư vĩ đại nhất trong việc kiến tạo nên sự cân bằng trong thiên nhiên. Đó là niềm tin để người Israel chuyên tâm nghiên cứu để tìm ra những côn trùng thiên địch và phát triển nó trở thành những phương pháp phòng trừ sâu bệnh có hại.

Nhện vàng, vũ khí sinh học chống lại bọ, rệp hiểu quả của người Israel
Ví dụ tiêu biểu nhất là các nhà nghiên cứu đã tập trung để nhân giống cũng như lai tạo loài nhện đỏ – loài vật có khả năng tìm và tiêu diệt các loài rệp, bọ có hại cho cây trồng nông nghiệp. Hay để hạn chế các loài gặm nhấm phá hoại mùa màng, người Israel chọn dùng cú để giải quyết vấn đề. Bên cạnh đó, họ cũng tập trung phát triển, gây giống loài ong vò vẽ để tạo thuận lợi cho quá trình thụ phấn của các loại cây trồng, đặc biệt là trong các nhà kính kín gió.
Ở Israel, có những công ty chuyên nghiên cứu và tạo ra những phương pháp phòng trừ sâu bệnh sinh học. Họ thậm chí còn xuất khẩu các sản phẩm côn trùng có lợi của mình sang nhiều nước khác trên thế giới.

Loài cú dùng để bắt chuột tại Israel
Bên cạnh những phương pháp đến từ gợi ý của thiên nhiên, người Israel chú trọng phát triển các biện pháp bảo vệ cây trồng cho phép hạn chế tối đa những tác động tiêu cực của nó tới đất và nước... Ví dụ điển hình là các túi thuốc diệt cỏ có tính chất vật lý giống đất sét, mang điện tích âm để cho phép phát tán vào đất chậm và có thể kiểm soát, làm giảm thẩm thấu vào các lớp đất sâu hơn trong khi vẫn duy trì tác dụng diệt cỏ trên lớp đất bề mặt. 
4. Áp dụng công nghệ hiện đại vào ngành chăn nuôi
Israel là đất nước đầu tiên phát triển công nghệ chăn nuôi và quản lý trang trại bò sữa theo hướng công nghiệp hiện đại trên thế giới. Quốc gia này đã xuất khẩu công nghệ của mình ra rất nhiều quốc gia có nền chăn nuôi phát triển, Pháp là một ví dụ điển hình. Hiện nay, Isarel cũng đang tham gia vào dự án phát triển ngành công nghiệp này ở Việt Nam, trong một dự án có vốn đầu tư lên tới 500 triệu đô la Mỹ.

Công nghệ chăn nuôi bò nổi tiếng thế giới
Đặc điểm nổi bất nhất giúp công nghệ chăn nuôi bò của Israel được các nước đề cao và học tập chính là phướng cách áp dụng những ứng dụng của công nghệ hiện đại một cách hợp lý trong các khâu của việc chăn nuôi. Những công nghệ này cho phép người sản xuất biết được mức độ dinh dưỡng và tình trạng sức khỏe của bò, phát hiện những vấn đề vệ sinh có thể gặp trong giai đoạn đầu, lựa chọn giống bò phù hợp hay vắt sữa bò một cách chuyên nghiệp. Những giải pháp này đã góp phần rất lớn trong việc giảm tỉ lệ sử dụng kháng sinh, tăng sản lượng sữa và giải quyết được vấn đề thiếu nhân công trong khâu thu hoạch.
Hệ thống nuôi cá khép kín GFA
Bên cạnh bò sữa, Israel còn sở hữu hệ thống nuôi cá giữa sa mạc vô cùng ấn tượng mang tên GFA (Grow Fish Anywhere). Hệ thống nuôi cá này là thành quả lớn nhất trong ngành chăn nuôi cá của Israel. Nó cho phép người nông dân có thể nuôi cá trong bất ky điều kiện thời tiết nào, mà không phải phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường.
Israel trở thành một đất nước xuất khẩu cá nhờ có hệ thống GFA
Bên cạnh đó, việc phát triển những vi khuẩn có lợi để xử ý các chất thải trong nước cùng các mầm bệnh của cá giúp người Israel có thể nuôi cá trong các hồ chứa mà không cần lo lắng đến việc thay nước ở bể nuôi. GFA đã biến Israel thành một quốc gia có thể xuất khẩu cá cho các thị trường khác trên thế giới. 
5. Chia sẻ tối đa các kiến thức nông nghiệp thông qua mạng lưới trực tuyến

Mạng lưới trực tuyến đã góp một phần lớn vào việc phát triển nông nghiệp của Israel
 
Người Israel coi việc chia sẻ kinh nghiệm là một trong những yếu tố chính tạo động lực cho sự phát triển nông nghiệp của quốc gia. Đó cũng chính là lý do người Israel cho ra đời hệ thống “Kiến thức nông nghiệp trực tuyến” (Agricultural Knowledge On-Line (AKOL). Đây là hệ thống liên kết các kho dữ liệu về kiến thức nông nghiệp cùng các chuyên gia hàng đầu trong mọi mặt của lĩnh vực này, ở cấp độ toàn cầu.

Nhà khoa học và người nông dân được kết nối với nhau nhờ hệ thống trực tuyến này
 
Người nông dân Israel có thể trực tiếp truy cập vào hệ thống để học hỏi những kiến thức cần thiết, yêu cầu sự giúp đỡ, hay tư vấn về phương pháp cũng như giải pháp từ các chuyên gia cho vấn đề cụ thể mình gặp phải. Kiến thức và sự trợ giúp đúng hướng và kịp thời như vậy đã hình thành sự liên kết chặt chẽ giữa người nông dân và các nhà khoa học. 
6. Chú trọng đầu tư vào việc tạo nên những giống cây trồng thích nghi với khí hậu đặc trưng  
GS. David Levy đến từ Đại học Hebrew đã dành cả sự nghiệp của mình để nghiên cứu cách trồng trọt các cây nông nghiệp cơ bản trong điều kiện đất cằn và thời tiết nắng nóng của Israel. Sau 30 năm miệt mài nghiên cứu, ông cũng tìm ra được giống khoai tây có thể trồng trong điều kiện hết sức khắc nghiệt của Israel. Bên cạnh đó, ông còn phát triển được giống khoai trồng được ở khu vực này và có thể tưới bằng nước mặn.

Khoai tây có thể mọc giữa sa mạc của Israel
Những thành tựu của David Levy đã biến giấc mơ tự trồng khoai tây của người Israel thành sự thực. Đây là giống cây cung cấp tinh bột căn bản trong nông nghiệp, đồng thời là nguồn lương thực chính của rất nhiều quốc gia trên thế giới. Thời gian trước, không một củ khoai nào có thể sống sót tại Trung Đông, ngày nay, Israel đã tiến tới việc trồng khoai tây để xuất khẩu.

Khu chợ sầm uất với nhiều loại rau trái ngay giữa sa mạc
 
Bên cạnh khoai tây, những giống cây trồng khác cũng được các nhà khoa học Israel tập trung nghiên cứu để tăng năng suất cũng như khả năng chống chọi với sâu bệnh, và thích ứng với thời tiết ở Israel. Các nhà khoa học của quốc gia đã tìm được phương pháp đưa vật liệu di truyền vào các cây giống, để tạo nên những đặc tính nổi trội của giống cây mà không hề làm tổn hại đến cấu trúc di truyền nguyên bản của chúng. Nghiên cứu về giống cây trồng là một trong những đề tài quan trọng nhất của những cơ sở nghiên cứu nông nghiệp tại quốc gia sa mạc này.

Hy Văn

Đan Mạch ban hành luật cấm đeo mạng che mặt khi ra đường


Châu Âu
Luật cấm Burqa đã được ban hành tại nhiều nước châu Âu. (Ảnh: Getty)
Ngày 31/5, Đan Mạch thông qua “Luật cấm Burqa” – cấm việc sử dụng các loại khăn trùm đầu, mạng che mặt trong đó có khăn choàng Hồi giáo, còn gọi là Niqab hay Burqa.
Với 75 phiếu thuận và 30 phiếu chống, Quốc hội Đan Mạch thông qua Luật cấm Burqa, do Liên minh trung hữu cầm quyền đề xuất. Luật này không nhằm vào bất kỳ tôn giáo nào cũng như không cấm việc sử dụng khăn trùm đầu, khăn xếp hay mũ truyền thống của người Do thái.
Bên cạnh đó, đạo luật này vẫn cho phép việc sử dụng trang phục che kín mặt trong trường hợp đặc biệt như thời tiết giá lạnh hay kết hợp với một số phụ kiện khác như mũ bảo hiểm khi đi xe máy.
Theo Luật cấm Burqa, người vi phạm sẽ chịu mức phạt khoảng 150 USD, nếu tái phạm, người đó sẽ chịu mức phạt cao hơn, lên tới 1.600 USD hoặc chịu án tù 6 tháng.
Những người ép buộc hoặc đe dọa người khác sử dụng trang phục che mặt sẽ bị phạt tù lên tới 2 năm. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng luật này nhằm vào một số phụ nữ Hồi giáo bảo thủ.
“Luật như thế là không đẹp. Tôi sẽ không thể đi tới trường, đi làm hay đi đâu ra ngoài với gia đình. Tôi sẽ không bỏ Niqab và sẽ tìm cách khác để thay thế”, cô Zainab Ibn Hssain, ở Copenhagen (Đan Mạch) nói với hãng tin Reuters sau khi luật cấm được thông qua.
Đan Mạch ban hành luật cấm đeo mạng che mặt khi ra đường
Mạng che mặt sẽ bị cấm tại Đan Mạch từ ngày 31/5. (Ảnh: Getty)
Đan Mạch là quốc gia châu Âu mới nhất áp dụng biện pháp cấm sử dụng trang phục che mặt ở nơi công cộng sau Áo, Pháp, Hoà Lan và Bỉ. Tieu Bang Bavaria của Đức – quốc gia tiếp nhận người nhập cư nhiều nhất châu Âu, cũng đưa ra lệnh cấm tương tự.
Niqab là loại trang phục với phần thiết kế phía trên che khuôn mặt nhưng vẫn để lộ mắt. Loại Burqa phủ kín cả khuôn mặt, phần mắt có lớp vải mỏng để người mặc trang phục có thể nhìn nhưng người khác tuyệt đối không thấy mắt của họ.
Mới đây nhất, Áo cũng ban hành đạo luật này vào tháng 10/2017 nhằm mục đích “đảm bảo sự đoàn kết trong xã hội mở”.
Theo đó, những phụ nữ theo đạo Hồi bị cảnh sát yêu cầu tháo khăn che mặt. Những người đeo khẩu trang, mũ len che mặt cũng phải từ bỏ thói quen này khi ra đường.
Đan Mạch ban hành luật cấm đeo mạng che mặt khi ra đường
Cảnh sát được quyền dùng vũ lực đối với những người không chịu để lộ mặt của họ. (Ảnh: Getty)
Luật cũng ghi rõ, mọi người khi ra đường phải để lộ khuôn mặt, từ đường viền tóc đến cằm.
Thùy Linh
Bé Biển

Trên tường, lẫn trong nhiều bức hình rất đẹp được chụp từ một ống kính chuyên nghiệp là tấm hình của chiếc ghe mong manh, nhỏ bé, bồng bềnh trên đại dương. Trên khoang ghe, các thuyền nhân Việt Nam (những boat people đã đánh động lương tâm thế giới vào những năm 70s và 80s) mặt mày ngơ ngác mệt mỏi nhưng mắt sáng lên hy vọng. Đó là món quà tặng cho BS HQM từ một thuyền nhân cùng tàu vượt biển năm xưa.

Ảnh con thuyền vượt biển đó vị thuyền trưởng một tàu buôn của chụp trước khi đón mọi người lên tàu. BS. Vinh đứng ở mũi thuyền, tay cầm một thùng rỗng để xin nước từ con tàu gặp giữa Thái Bình Dương JUN 1979.

Mọi người trên ghe gọi em là "công dân của đại dương" vì em sinh ra giữa biển trời mênh mông, không thuộc hải phận của quốc gia nào, vào một đêm trời chuyển mưa, trời không trăng sao, lâu lâu có những tia chớp lóe lên soi sáng đêm đen.

Chiếc ghe rời cửa biển Long Hải lúc nửa đêm về sáng để tránh công an biên phòng, đưa gần bảy mươi thuyền nhân trốn khỏi quê cha đất tổ, đem sinh mạng mình đánh cuộc với định mệnh để tìm tự do và tương lai. Trong số đó có hai vợ chồng trẻ, người vợ ốm yếu mảnh mai, lại mang thai lần đầu, mặc hai ba lớp áo quần nên hình như không ai biết chị có thai đã bảy tháng, ngoài anh chồng trẻ cũng mảnh khảnh như chị.

Mà nếu có biết cũng chẳng ai còn tâm trí nào để nghĩ đến chuyện người khác khi trong lòng mình cũng "ngổn ngang trăm mối". mà mối lo lớn nhất là có thể bị bắt lại, bị nhục hình, bị tù tội trong khi mình không có tội gì hết, chỉ bỏ xứ ra đi, bỏ ông bà cha mẹ, bỏ tất cả ra đi vì muốn có tự do.

Vừa đặt chân lên sàn ghe, tất cả mọi người đều được đưa xuống lòng ghe để bảo đảm an toàn. Nếu có bất cứ ghe tàu nào đi ngang, nhìn vào người ta chỉ thấy trên khoang ghe có vài ngư phủ đi thả lưới ban đêm để có được một ít cá tôm tươi cho vợ hoặc mẹ mang ra bán ở buổi chợ sáng ngày mai. Nhất là vào ban đêm, ánh đèn bão tù mù, vàng úa giúp những người đang trốn chạy khỏi quê hương che được nét ưu tư lo lắng.

Phía dưới lòng tàu, thông thường chỉ để lưới, xăng dầu, thức ăn của ngư phủ, mấy thùng nước ngọt, và mấy thùng đựng cá tôm lưới được vào những hôm ra khơi nhiều may mắn. Vậy mà bây giờ gần bảy mươi con người ngồi chen chúc, không khí đã thiếu lại càng ngột ngạt hơn khi rất nhiều người bị say sóng ói mửa ngay trên sàn tàu, trên áo quần của mình hay của người ngồi bên cạnh. Không ai nói với ai tiếng nào. Khi ghe chưa ra đến hải phận quốc tế, người ta chưa sợ chết vì đại dương bao la, vì thiếu nước ngọt, thiếu thứcăn, mà đích đến thì còn ở xa mù tít tắp, nhưng nỗi sợ bị công an biên phòng bắt được thì tù tội, nhục hình cũng kinh hoàng như nỗi chết. Nỗi sợ đó lớn quá, bao trùm lên mọi thứ, át đi sự ngột ngạt trong một hầm ghe quá tải, át đi mùi của mọi thứ trong bụng chưa kịp tiêu hóa chạy ngược lên miệng tuôn ra ngoài. Khi thức ăn đã ra hết, cả đến mật xanh cũng theo ra, người ta mệt nhoài, không còn sức để sợ bị bắt lại, không còn sức để cảm nhận được không khí ngột ngạt, nặng mùi chung quanh mình. Ở một góc ghe, người đàn bà trẻ đang mang thai lại tỉnh táo hơn mọi người, hơn cả ông chồng cũng vật vờ say sóng, nôn mửa như hầu hết mọi người trên ghe. Lòng ghe tối đen, không ánh sáng, không cả tiếng động, thời gian tưởng như ngưng lại. Lâu lâu có một chút ánh sáng xanh yếu ớt từ cái đồng hồ đeo tay có dạ quang của aiđó. Đêm dài và sâu hơn với những người đang trốn chạy khỏi quê hương.

Vào đêm thứ nhì của cuộc trốn chạy bằng đường biển, người đàn bà đang mang thai chợt thấy đau nhói ở bụng. Đây là con đầu lòng, chị không có kinh nghiệm về chuyện sinh đẻ. Trong bóng tối đặc quánh trong lòng chiếc ghe mong manh chật như nêm, một tay nắm tay chồng, một tay chị chị nhẩm tính trên những ngón tay xem mình đã có thai bao nhiêu tháng.

*

Họ lấy nhau tháng chín năm ngoái, sau mười lăm tháng quen nhau ở vùng kinh tế mới Đồng Bò, ngoại ô Nha Trang. Chị cố quay lại khúc phim tình yêu lãng mạn của anh chị để quên đi nỗi đau âm ỉ trong bụng. Tình yêu trên vùng đất khô cằn, -ngay cả hoa dại cũng không mọc nổi, không trồng được gì hết ngoài khoai mì, - nhưng rất chân thành, sâu đậm vì đó là tình đầu của cả anh và chị. Họ lấy nhau, không có đám cưới bình thường, chỉ có một lễ ra mắt hai bên họ hàng (cũng chỉ lưa thưa mấy người đàn bà vì đàn ông dạo đó hầu hết đã ở trong lao tù cải tạo vì "tội ngụy quân ngụy quyền") bằng một mâm cơm... trắng (không bị độn khoai sắn như bữa ăn thuờng ngày của người dân kinh tế mới) và vài món ngon như nem, chả được gởi mua từ chợ Đầm ở Nha Trang. Hôn thú cũng chưa làm vì "ủy ban nhân dân xã kinh tế mới" vừa thành hình, chưa có con dấu. Về nơi ở cũ thì bị từ chối vì "hộ khẩu đã bị cắt". Nhưng gia đình vẫn cho họ lấy nhau, vì “phải nương nhau mà sống, không phải ở cái vùng kinh tế mới hoang vu này, mà sau này, đi đâu cũng nương tựa vào nhau….”. Mẹ chị đã căn dặn anh chị như vậy ở một lễ cưới dã chiến, không có khăn áo, không có make up, và không có cả họ hàng, quan khách. Mấy miếng chả heo màu trắng - chắc là tỉ lệ thịt và bột ngang nhau -, mấy miếng nem hồng nhạt dành cho hai đứa em chưa đến tuổi đi học, lần đầu tiên trong đời được nếm mùi nem chả. Anh chị nhường nem chả cho các em, ăn cơm với canh rau muống, sau khi đã ăn mấy lát gừng mỏng chấm muối như phong tục ngàn xưa “gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau”.

Hơn nửa năm sau ngày cưới, một lần về Nha Trang mua hạt giống, anh gặp một người lính hải quân làm dưới quyền ba anh ngày xưa. Thương anh cựu sinh viên Khoa học thư sinh kính trắng phải cày sâu cuốc bẩm nuôi mẹ, nuôi em khi ba ở trong tù cải tạo, người lính hải quân sắp lái một chuyến tàu vượt biển, được chủ ghe cho mang theo cả gia đình, cho anh và chị đi theo.

*

Bụng chị vẫn đau, chị ước gì mình bị say sóng ngủ vùi, hoặc lã đi vì mệt nhưanh, như tất cả mọi người trong lòng ghe. Nhưng cơn đau vẫn chẳng chịu đi, lúc âm ỉ, lúc nhói lên, chị xanh mặt, vả mồ hôi chịu đựng, tự nhủ trong đầu:
- Không sao, đau một chút rồi sẽ hết. Mình chưa đẻ đâu, đến hôm nay nhiều lắm là 29 tuần, ít nhất cũng cả tháng nữa mới sinh..

Hết tự bảo mình, chị cúi xuống rờ tay lên bụng, thì thầm trong bóng tối:
- Con ơi, nằm yên nha, để đến trại tỵ nạn rồi hãy ra nghe con, an toàn hơn cho cả con và mẹ.

Cơn đau chỉ lắng xuống một vài giây, rồi lại nhói lên quặn đau mỗi lúc một nhiều hơn. Chịu không nổi, chị đành lay vai anh:
- Anh ơi anh, chắc em đang chuyển bụng đẻ.

Đang vật vờ say sóng, nghe vợ sắp sinh, anh tỉnh hẳn, mở mắt nhìn quanh, rồi hỏi chung quanh:
- Có ai biết đở đẻ không? Xin giúp vợ tôi.

Câu hỏi làm mọi người trong cái khoang ghe tối đen, ngột ngạt tỉnh hẳn lên. Giữa lúc mọi người đang vượt đại dương, có một phụ nữ trẻ sắp "vượt cạn". Có ai đó thò đầu lên khỏi hầm ghe, hỏi xin một ánh đèn cho sản phụ.

May là ông chủ ghe cũng thuộc loại người nhân từ, và ghe đã ra đến hải phận quốc tế, nên chị được đưa lên khoang ghe. Anh cũng được đi theo cùng chị. Họ tỉnh hẳn ra khi ra khỏi hầm ghe, được hít thở không khí trong lành của đại dương, cũng là không khí của tự do mặc dù đích đến còn ở xa, xa lắm. Chị thấy khỏe hơn mặc dù cơn đau vẫn không dứt, quặn lên từng cơn.

*

Vinh cũng được rời khỏi hầm ghe, lên sàn tàu cùng với anh chị vì Vinh làbác sĩ duy nhất trên chuyến ghe vượt biển đêm đó. Trời tối đen, Vinh cũng không biết lúc đó là mấy giờ, cái đồng hồ đeo tay đã rớt mất từ lúc nào. Dù đã từng làm việc đở đẻ từ cuối năm thứ tư y khoa trong ca thực tập đầu tiên ở bệnh viện Từ Dũ. Và từ đó đến giờ, dù không chuyên về sản khoa, Vinh cũng đã có dịp trực tiếp hoặc gián tiếp làm việc trong những trường hợp sinh thường, cũng như sinh khó, phải xoay đầu hài nhi từ lúc còn nằm trong bụng mẹ, phải mổ để đem con ra khỏi bụng mẹ. Nhưng lần này giữa đại dương, trời tối đen, trên sàn tàu bằng ván lồi lõm còn mùi tanh của tôm cá, chỉ có một ngọn đèn bão tù mù mà người tài công tốt bụng đã cho mượn, không có thuốc khử trùng, không có alcohols, cũng chẳng có bông băng, hay bất kỳmột dụng cụ y khoa nào. Sản phụ lại sinh lần đầu, và Vinh không có một chi tiết nào về hồ sơ bệnh lý của chị. Chưa bao giờ Vinh tưởng tượng mình phải làm công việc tưởng như đơn giản nhưng cả hai sinh mạng đều đặt trong tay Vinh trong một đêm trời tối đen trên sàn một chiếc ghe vượt biển. Mọi thứ đều làm bằng tay, không có cả găng tay, phương tiện còn hạn chế hơn dụng cụ thô sơ của một cô mụ đỡ đẻ ở nhà quê từ nhiều thập niên trước. Dưới ánh đèn bão tù mù, phải mất gần một tiếng, từ việc xoay đầu em bé đến việc cắt cuốn rốn, em bé sinh ra đỏ hỏn, sớm hơn kỳ hạn bình thường một tháng nhưng khỏe mạnh. May mắn là sản phụ dù xanh xao, yếu ớt nhưng rất can trường, đã dùng hết sức bình sinh để đẩy được em bé ra ngoài từ cửa tử cung hẹp của một người sinh con lần đầu. Gió của đại dương nhanh chóng làm khô những giọt mồ hôi đầm đìa trên mặt của Vinh, của anh, và nhất là của chị, sản phụ can đảm nhất nhì thế giới, đã vừa vượt biển, vừa "vượt cạn" lần đầu, không có thuốc tê, không có thuốc mê, không có cả bông băng, nhưng chị không hề rên la, chỉ cắn chặt môi đến rướm máu chịu đựng. Nếu chị không tự đẩy em bé ra được, Vinh cũng không biết mình phải làm gì trong tình trạng không thuốc men, không dụng cụ. Mãi về sau, sau này, sau nhiều năm hành nghề Y khoa ở Mỹ, có dịp chẩn đoán, điều trị cho rất nhiều bịnh nhân thuộc nhiều chủng tộc, nhiều lứa tuổi khác nhau, chị vẫn là bệnh nhân can đảm nhất của Vinh.

Anh đứng bên cạnh là một chỗ dựa tinh thần cho chị, và một phụ tá đắc lực cho Vinh. Người chồng sắp được làm cha, lại vô tình trở thành y tá bất đắc dĩ phụ việc cho Vinh trong một ca đỡ đẻ rất khác thường trên một chuyến tàu vượt biển. Em bé gái mới ra đời được tắm bằng nước biển Đông, được cắt nhau bằng đầu móng tay cái và móng tay trỏ của Vinh. Những đầu móng tay Vinh bắt đầu để dài từ lúc bắt đầu chơi guitar với sự hướng dẫn của một ông thầy dạy môn Nhạc từ những năm đầu Trung học, không ngờ lại được dùng rất có hiệu quả trong trường hợp hy hữu giữa biển khơi. Không có alcohol để tẩy trùng, Vinh đến bên mạn thuyền, múc nước biển lên rửa tay. Muối của đại dương cũng ít nhiều sát trùng những đầu ngón tay của Vinh trước khi Vinh cắt cuốn rún của em bé sơ sinh.

Em được bọc bằng hai lớp áo, lớp trong là cái áo thun của cha, lớp ngoài là cái áo khoác của mẹ. Tiếng khóc đầu tiên của em, của mầm sống mới đem lại nụ cười cho Vinh, cho anh và chị, và hy vọng cho một đời sống mới tự do, tốt đẹp hơn cho mọi người trên ghe. Em ra đời an lành giữa biển Đông, sớm hơn thời hạn bình thường (9 tháng 10 ngày) gần một tháng trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Và dĩ nhiên không có cân, không có thước để biết trọng lượng, và chiều cao của em.

Trong niềm vui vừa hoàn thành một ca đở đẻ có một không hai trong đời, Vinh trao em bé cho sản phụ, dùng nước biển để rửa tay. Giữa biển trời mênh mông, không có xà bông, không có alcohol sát trùng, không có cả nước thường để rửa tay. Vinh đến bên thành ghe, một tay bám chặt vào thành ghe, tay kia múc nước biền bằng một cái thùng nylon để rửa tay, và rửa em bé cùng sàn ghe. Sau vài phút vui mừng cạnh vợ con với niềm vui của một người lần đầu làm cha, người chồng trẻ vừa rối rít cảm ơn, vừa giúp Vinh dọn rửa sàn ghe, nơi một con người bé bỏng vừa chào đời trong đêm tối giữa biển trời bao la. Cũng như cha mẹ không được làm hôn thú ở một vùng kinh tế mới, em cũng không được làm khai sinh giữa biển trời, trên một chiếc ghe tỵ nạn. Em được cha mẹ gọi là "bé Biển".

Trời sáng dần, mọi người tỉnh táo hơn, lạc quan hơn vì ánh sáng mặt trời luôn là người bạn tốt của những con tàu đang lênh đênh trên đại dương. Họ còn vui mừng hơn vì có thêm một mầm sống mới vừa chào đời bằng sự can đảm của người mẹ, bằng sự tận tình của một ông bác sĩ trẻ cùng là đồng hành trên chuyến vượt biển tìm tự do của họ.

Những ngày sau đó, dù vẫn phải ăn uống dè chừng vì không biết khi nào mới đến được đất liền, Vinh vẫn được đối xử tử tế hơn, được ông bà chủ ghe mời lên ngồi trên khoan tàu, được hít thở không khí trong lành của đại dương. Vinh cũng được phân phát thức ăn theo tiêu chuẩn đặc biệt, nhưng Vinh cũng chỉ ăn như khẩu phần của mọi người trên ghe, nhường phần đặc biệt đó cho người mẹ mới sinh ốm yếu mảnh mai, cần ăn nhiều để còn có sữa nuôi con sơ sinh.

Những chuyện bình thường đó được rỉ tai bởi những người còn tỉnh táo, khỏe mạnh trên ghe, và như một vết dầu loang, người ta đối xử tốt đẹp với nhau hơn. Một vài người lớn tuổi được những người trẻ hơn nhường phần nước uống hiếm hoi được phát hai lần mỗi ngày. Các em bé được ăn thêm vài muỗng cơm từ những người lớn trên tàu. Chuyện tưởng như đơn giản trên đất liền trong hoàn cảnh bình thường, nhưng là cả một niềm an ủi, một niềm tin khi con người đang trốn chạy khỏi quê hương, đang lênh đênh trên đại dương, không biết lúc nào mới đến bờ, đến bến.

*

Bốn ngày sau, chiếc thuyền mong manh của những thuyền nhân Việt Nam chạy trốn chế độ Cộng sản may mắn được một con tàu buôn của Ý trông thấy. Họ đến gần và cho tất cả người tỵ nạn lên tàu của họ, cho ăn uống. Họ đặc biệt cho bé Biển nhiều món quà quý, trong đó có một cái mỏ neo nhỏ như một lóng tay, - làm bằng vàng, biểu tượng của chiếc thương thuyền -, sau khi nghe kể em được sỉnh ra vài ngày trước đó trên sàn con thuyền mong manh không có một dụng cụ thuốc men nào, ngoài sự can đảm của mẹ em, và sự tận tình của một bác sĩ trẻ được đào tạo ở Đại học Y khoa Saigon trước năm 1975. Như luật hàng hải quốc tế vì sinh ra ở hải phận quốc tế nên bé Biển có quốc tịch Ý, chiếc tàu đầu tiên có mang cờ một quốc gia em được mang lên.

Trước khi đưa từng thuyền nhân lên tàu lớn, họ có ghi lại hình ảnh của chiếc ghe mong manh và những thuyền nhân mặt mày hốc hác nhưng ánh mắt rạng rỡ vì biết chắc chắn mình sẽ đến được bến bờ tự do. Ông thuyền trưởng đích thân ra trước mũi tàu chụp hình. Bên kia, bác sĩ Vinh được những người trong ghe cử ra nói chuyện với đại diện của tàu Ý. Vinh cũng đứng trước mũi của chiếc ghe tỵ nạn, bên cạnh chiếc tàu buôn như một em bé gầy yếu đứng trước một người khổng lồ. Tấm hình đó không một người tỵ nạn nào có dịp trông thấy. Ngoài một số người muốn được định cư ở Ý, tất cả thuyền nhân còn lại được đưa đến trại tỵ nạn và được đi định cư ở nhiều nước khác nhau.

Ông thuyền trưởng nghe Vinh kể chuyện đỡ đẻ rất hiếm hoi đã giơ cả hai tay lên trời:
- Tôi cảm phục lòng can đảm của sản phụ, tôi cảm phục sự bình tĩnh và tận tình của bác sĩ. Tôi cảm phục lòng quả cảm của tất cả các bạn. Thượng Đế đã phù hộ các bạn.

Ông ta còn nói nhiều điều nữa, nhưng Vinh chỉ nhớ câu đó, và nhớ nụ cười hiền từ nhân hậu của người thuyền trưởng người Ý da trắng, tóc đen.

Vinh đến Mỹ vào cuối năm 1979, đi học lại một số lớp để có thể thi lấy bằng Medical Doctor ở Mỹ và thi lấy giấy phép hành nghề. Kiến thức của những năm Y khoa Saigon giúp Vinh rút ngắn được hơn nửa đường học trình của một Bác sĩ chuyên khoa ở Mỹ. Cứ lấy các "equivalent test" của từng giai đoạn, đậu được mỗi bài test là khỏi phải học ít nhất là hai học kỳ (tương đương một năm).. Cứ từ dễ đến khó, Vinh lần lượt đậu từng bài thi và không phải học lại, chỉ phải đi thực tập nội trú (Internship) trong một bệnh viện ở New York trước khi được cấp bằng hành nghề. Lúc đó còn trẻ, chưa lập gia đình, dù không phải học lại 5 năm đầu của chương trình Y khoa ở Mỹ, Vinh vẫn chăm chỉ đọc sách và học thêm một lớp căn bản về "Business Law"..

Mỗi tuần làm việc từ bốn đến năm mươi giờ ở bệnh viện từ phòng cấp cứu đến các phòng bệnh nội trú, Vinh gặp bệnh nhân đủ mọi lứa tuổi, mọi màu da. Có người suốt ngày rên rỉ, có người chỉ nhăn mặt khi thiếu thuốc giảm đau, có người luôn cố giữ nụ cười lạc quan để thêm tinh thấn chiến đấu với bệnh tật. Không có ai can đảm như người sản phụ thuyền nhân giữa đại dương năm nào, kể cả những người sinh con giữa một bệnh viện đầy đủ thuốc men, dụng cụ, y tá, bác sĩ, đã được chích thuốc giảm đau mà vẫn rên la.

Xong một năm nội trú ở New York, những ngày đầu chính thức hành nghề y khoa trong một bệnh viện ở Chicago, những khuôn mặt bệnh nhân đủ mọi cá tính đến rồi đi trong từng ngày làm việc của Vinh, vẫn chưa có ai vượt qua được sự can đảm chịu đựng của người sản phụ trên chiếc ghe mong manh vượt biển ngày trước. Giữa những tiện nghi dành cho một bác sĩ ở Mỹ, thỉnh thoảng Vinh vẫn nhớ đến nước Thái bình dương đã rửa tay cho mình và tắm cho em bé sinh giữa đại dương. Vị mặn của nước biển có thể sát trùng một cách tương đối, đã giúp một em bé thuyền nhân chào đời an toàn, khỏe mạnh trên sàn ghe giữa biển trời mênh mông.

Họp mặt truyền thống chs Ngô Quyền lần thứ XIII - JUL 2014 ở Milpitas, California. Nhân vật chính: BS Huỳnh Quan Minh– cựu học sinh NQ K6- trước micro. Tác giả NTDH áo dài trắng, đứng giữa hai đàn anh Ngô Quyền.

Rồi Vinh lập gia đình, dọn về San Jose ở California với khí hậu ven biển ấm hơn giống Việt Nam hơn, và để một lúc nào đó những đứa con chào đời sẽcó nhiều cơ hội học tiếng Việt hơn. Lúc đó là đầu thập niên 80s, cộng đồng Việt Nam ở Mỹ chưa lớn mạnh, những lần hiếm hoi gặp bệnh nhân người Việt ở bệnh viện Kaiser, họ cứ hỏi Vinh có khám thêm ở nhà ngoài giờ làm việc để họ đến nhờ giúp khi bệnh hoạn. Một, hai, năm, bảy rồi cả chục lần được yêu cầu như vậy, Vinh quyết định xin thôi việc ở bệnh viện, mở phòng khám tư, tự do hơn.

Lần đầu tiên mở phòng khám tư, lại là phòng khám ở Mỹ, một nơi mànguyên tắc, và luật pháp rất nghiêm nhặt, Vinh phải mò mẩm từng bước đểxây dựng phòng khám bệnh của mình. Thời đó, đầu thập niên 80s, cộng đổng tỵ nạn của người Việt còn non trẻ, bệnh nhân của Vinh thuộc đủ mọi chủng tộc, từ những người bản xứ hay đến phòng mạch của ông bác sĩ trẻ còn giữ nguyên tính kính trọng người lớn tuổi của người Việt Nam, đến những người di dân gốc Nga, gốc Tàu, gốc Ý, gốc Mễ... Và dĩ nhiên cũng có những bệnh nhân Việt Nam chịu khó lái xe vài chục dặm để được một bác sĩ đồng hương chăm sóc.

Cũng chính nơi đây, Vinh gặp lại nhiều bạn học đã mất liên lạc từ ngày xong tú tài, mỗi người mỗi ngả:

- Phúc và Lan di tản từ tháng 4 năm 1975, vẫn không thay đổi nhiều so với ngày còn ở Trung học, tương đối thành công, vẫn mang theo cả một thời mới lớn ở Việt Nam có những lý tưởng màu hồng dù lâu lâu vẫn nghe tiếng súng vọng về từ một chiến trường nào đó rất gần thành phố.

- Xuân đi từ trường Ngô Quyền vào trường Võ bị, vừa cởi áo trắng học trò, khoác ngay áo treillis của lính, không có thì giờ mặc áo dân sự giữa một đất nước chiến tranh. Nước mất, Xuân phải vào "trại cải tạo", mặc áo màu sậm, xám xịt như đời “tù... không có tội”. Ra khỏi nhà tù nhỏ, Xuân về nhà tù lớn chỉ vài tháng rồi vượt biển, và chịu khó cắp sách đi học lại đến ngày thành kỹ sư ở thung lũng điện tử của miền Bắc California.

- Tuấn rời Việt Nam qua Nhật du học từ năm mười tám. Học vừa xong, thìnước mất, không còn nhà, không còn quê hương để quay về.. Một sáng đầu tháng 5 năm 1975, mở mắt dậy, bỗng dưng thành một người "vô gia đình, vô tổ quốc”, Tuấn quyết định đi xa hơn nữa khi Mỹ cấp free pass vào Hoa Kỳ cho các sinh viên VN đang du học ở các nước tự do trên thế giới vào thời điểm tháng 4 năm 1975. Tuấn ổn định đời sống ở Mỹ từ năm 1976. Phiêu bạt từ Việt Nam qua Nhật, rồi Mỹ, ở đâu người bạn thân của Vinh cũng mang theo hình ảnh hiền hòa, thâm trầm như nhân vật cùng tên trong "Tuấn chàng trai nước Việt".

- Tấn đậu tú tài, vào Không quân, được đi tu nghiệp ở Mỹ, về nước chưa kịpđóng góp nhiều cho đất nước thì "chim gãy cánh mây ngừng trôi ", Tấn vô tù vì vận nước, rồi trở về làm đủ mọi nghề để sống đến khi được qua Mỹ theo diện HO, là người đến đất nước tự do muộn màng nhất trong lớp.

Cả một cái lớp tứ hai ở Ngô Quyền xưa lưu lạc khắp nơi trên thế giới, gần một phần tư lớp hội tụ ở San Jose, mỗi lần gặp nhau vui hơn Tết, chuyện trò râm ran, tiếng cười vang lên như ngày xưa còn ở tuổi "ăn chưa no, lo chưa tới" ở quê nhà.

Nhưng vui nhất là lần Vinh gặp thầy Hợp, thầy dạy Toán năm đệ tam ở quênhà. Thầy định cư ở Mỹ vảo thập niên 90s, lúc đó cộng đồng Việt Nam ởvùng thung lũng điện tử San Jose đã quần tụ khá đông. Chân ướt chân ráo ởquê người, chưa có xe, từ nhà, Thầy đi hai chuyến xe bus đến khu vực thuơng mại đông đúc nhất của người Việt ờ San Jose, lấy một tờ báo quảng cáo để tìm một ông bác sĩ đồng hương ở quê người. Và thầy tìm ra cậu học trò thông minh, hiền lành năm xưa đang hành nghề "lương y" ở một conđường yên tĩnh gần downtown. Trong mục quảng cáo của một tờ báo VN, trong danh sách các Bác sĩ Việt Nam ở San Jose, thầy Hợp tìm thấy tên của cậu học trò thông minh, hiền lành ở cù lao Phố, Biên Hòa ngày xưa. Bao nhiêu năm đứng trên bục giảng ở nhiều trường Trung học lớn ngày xưa, nhưmột người lái đò đưa hàng ngàn người khách qua sông; có một vài khuôn mặt, vài cái tên Thầy không hề quên.

Gần như chắc chắn đó lả học trò cũ của mình ngày xưa, nhưng muốn dành cho cho Vinh một bất ngờ, thầy Hợp vẫn gọi điện thoại lấy hẹn, đến văn phòng đúng giờ, làm việc với mấy cô thư ký, điền hồ sơ cho một bệnh nhân mới, rồi kiên nhẫn ngồi đợi như bao nhiêu người khác.

Gần cuối buổi làm việc, Vinh được cô thư ký chuyển vào hồ sơ của bệnh nhân kế tiếp. Nhìn cái folder màu vàng nhạt còn mới toanh của một bệnh nhân mới, Vinh liếc qua tên bệnh nhân, và độ tuổi, cùng giới tính. Tên viết theo lối Mỹ, first name, last name, initial middle name, nên Vinh không hề nghĩ đó là thầy dạy Toán của mình thời trung học.

Vinh rời phòng làm việc của mình, đẩy cửa vào phòng có bệnh nhân, và thảrơi cái folder xuống nền nhà, không tin vào mắt mình. Cứ như một giấc mơ, thầy dạy Toán Nguyễn Thất Hợp của năm đệ tam đang ngồi cạnh bàn khám bệnh ở San Jose, California, chứ không phải cạnh bàn giáo sư của trường Ngô Quyền Biên Hòa như hai mươi năm trước. Thầy vẫn vậy, chỉ già đi theo năm tháng (như người Mỹ vẫn gọi là aging process) chứ không thay đổi.Ánh mắt nghiêm nghị vẫn còn, lấp lánh sau tròng kính trắng. Vinh quên hết nhiệm vụ của mình, quên hết mình đang khám bệnh, quên là mình đã ở xa quê nhà cả một đại dương, mừng rỡ chào Thầy, vẫn cung kính như ngày xưa còn là học trò trung học.

Từ đó, thầy Hợp được học trò chăm sóc sức khỏe rất chu đáo. Không biết vìbản chất Thầy vốn khỏe mạnh, vì Vinh chăm sóc cho Thầy không chỉ bằng kiến thức chuyên môn của một bác sĩ, mà còn bằng tấm lòng của một người học trò cũ, hay vì cả hai lý do, thầy Hợp trông khỏe mạnh và trẻ hơn so với những người cùng độ tuổi.

*

Tưởng đó là lần hạnh ngộ vui nhất trong đời ở phòng khám bệnh, nhưng cómột lần khác, ngạc nhiên òa vỡ lớn hơn, đưa Vinh về với vị mặn của gió biển, với lần duy nhất hành nghề y khoa dã chiến giữa trời nước mênh mông.

Đó là một ngày mùa hè, ngày dài đến hơn 14 tiếng, bóng nắng vẫn còn lung linh trên hàng cây cổ thụ ven đường, Vinh đã cởi áo blouse trắng, chuẩn bị về thì cô thư ký gọi vào cho biết có người quen cũ, đến từ Châu Âu kiên nhẫn đợi đến lúc bệnh nhân cuối cùng rời phòng mạch để được gặp bác sĩ Vinh.

Vinh đặt chìa khóa xe vào lại ngăn kéo, nhờ cô thư ký mời khách vào phòng làm việc. Đó không phải là một người khách, mà là một gia đình gồm ba người. Hai vợ chồng đã qua tuổi trung niên, và một cô thiếu nữ chắc vẫn cỏn trong độ tuổi hai mươi. Vinh cố lục lạo trí nhớ của mình để nhớ ra người quen nhưng vẫn không nhận ra được khách là ai?

Vinh mời khách ngồi, nhã nhặn:
- Xin lỗi, tôi có thể giúp gì được cho quý vị?

Người đàn ông mở lời, giọng Saigon rất thân quen:
- Thưa bác sĩ, chúng tôi từ Ý đưa bé Biển đến thăm bác sĩ, và để cảm ơn bác sĩ đã lo cho mẹ con cháu chu đáo trên biển đông năm xưa.

Vinh tròn mắt ngạc nhiên:
- Ô, anh chị ngày xưa trên con thuyền vượt biển tháng 6 năm 1979 từ Long Hải, Vũng Tàu.

Ngưởi đàn bà cười tươi tiếp lời bằng giọng Huế nhẹ nhàng:
- Thưa đúng rồi, bác sĩ còn nhớ chúng tôi?

- Không những chỉ nhớ mà còn phục sự can đảm chịu đựng của chị năm xưa khi sanh con đầu lòng trên sàn tàu vượt biển không có ánh sáng, không cóthuốc men, không có cả dụng cụ.

Đó là lần hội ngộ với một bệnh nhân cũ bất ngờ, cảm động nhất của Vinh.

*

Từ chiếc tàu buôn của Ý năm xưa, 68 thuyền nhân, cộng với "công dân của đại dương", bé Biển, được đưa về trại tỵ nạn Pulau Bidong của Malaysia. Từ đó, họ đi định cư ở nhiều nước khác nhau. Vinh định cư ở Mỹ.. Gia đình nhỏ ba người của bé Biển đi Ý vì cảm kích lòng tử tế của thủy thủy đoàn trên thương thuyền của Ý, và vì bé Biển mang quốc tịch Ý.

Từ đó, bận rộn với cuộc sống mới với một khởi đầu mới ở quê người, Vinh không còn dịp liên lạc với bất cứ một thuyền nhân nào trên chuyến tàu vượt biển năm xưa.

Gia đình bé Biển đến Ý, ổn định cuộc sống. Họ làm hôn thú cho mình vàkhai sinh cho con ở Ý. Trên khai sinh, tên của bé Biển là Nguyễn Thị Đại Dương. Và như một kỷ niệm suốt đời mang theo, sợi dây chuyền với chiếc mỏ neo bằng vàng luôn nằm trên cổ em từ lúc chỉ mới vài ngày tuổi. Vài năm sau, họ có thêm một cậu con trai sinh ở Rome, vẫn có cái tên Việt Nam là Nguyễn Thái Bình, tên Ý là Grato (nghĩa là cảm ơn). Đó là cách để họ nhớ đến Thái bình dương với ân tình từ rất nhiều người cả Việt Nam lẫn Ý.

Cho đến một ngày nọ, tin tức địa phương từ một tờ báo về chuyện một ngưởi thuyền trưởng tài ba, nhân từ về hưu sau hơn 30 năm lênh đênh trên các đại dương, giúp họ tìm ra vị thuyền trưởng đã cứu vớt con tàu nhỏ bé năm xưa của những người Việt Nam tỵ nạn. Họ tìm đến gặp ông, và lần này đã có thểnghe ông kể lại câu chuyện và tâm trạng của ông năm xưa bằng tiếng Ý. Sau đó, họ được ông tặng tấm hình chụp con tàu tỵ nạn dạo nào, trên đó có họ gầy yếu xanh xao, có đứa con đầu lòng, bé Biển hãy còn đỏ hỏn, không có sữa uống, được nuôi bằng nước cháo.

Tấm hình được họ mang đến tiệm, nhờ chuyển qua dạng một cái plaque treo tường. Họ làm cho mình một, và một plaque thứ hai để dành tặng cho ông bác sĩ trẻ năm xưa giúp bé Biển chào đời an toàn trên sàn tàu vượt biên.

Bước vào thế kỷ 21, khoa học phát triển, google search giúp họ tìm ra bác sĩVinh. Vì ngày xưa trước lúc rời trại tỵ nạn, họ có hỏi thăm tên họ của Vinh. Nhờ một người bạn ở San Jose giúp đỡ thêm, họ đưa bé Biển, đã là một Bác sĩ sản khoa ở Ý, qua Mỹ thăm Vinh.

Cô bác sĩ trẻ người Ý gốc Việt nói với ông bác sĩ đã qua tuổi trung niên người Mỹ gốc Việt, bằng tiếng Việt rõ ràng, khúc chiết với giọng Huế pha Saigon:

- Thưa bác, con cảm ơn bác đã giúp cho con chào đời an toàn trên biển. Nghe ba mẹ con kể lại, và nhớ ơn bác năm xưa, con đã học sản khoa. Có lẽ suốt đời con không có cơ duyên đặc biệt như bác đã làm ngày con ra đời.. Nhưng con nhớ hoài chuyện đó và vẫn kể cho bệnh nhân của con nghe khi họ sắp chuyển dạ để giúp họ thêm can đảm... Con cảm ơn bác rất nhiều.

*

Thay cho lời kết:

Năm 2011, trong một lần đến họp và tập hát chuẩn bị cho hội ngộ cựu học sinh Ngô Quyền toàn thế giới lần thứ 2, ở phòng mạch của bác sĩ HQM, một đàn anh Ngô Quyền, chúng tôi thấy một plaque hình thuyền vượt biển khá đẹp, và được nghe kể lại một chuyện cảm động trên tàu thời đó.

Tấm plaque treo tường với chiếc ghe nhỏ bé chơ vơ giữa biển xanh đã thu hút sự chú ý của chúng tôi, một cựu thuyền nhân. Có những tình cờ trong cuộc sống để lại một dấu ấn suốt đời mang theo. 

Xin được ghi lại vài nét của một trong những chuyện không bao giờ quên trong lịch sử thuyền nhân. Hy vọng đời sống luôn có những người trọng tình nghĩa như những nhân vật trong chuyện, và những hạnh ngộ bất ngờ luôn luôn làm cho đời sống đẹp hơn.

(Viết từ một bức hình ở phòng mạch của BS Huỳnh Quang Minh. Thung lũng hoa vàng- đầu mùa xuân 2015)

Nguyễn Trần Diệu Hương
Ngôi làng đá đặc biệt nhất Bồ Đào Nha


Nằm trên ngọn núi cao Serra da Estrela là Monsanto, ngôi làng nhỏ xinh và đặc biệt nhất Bồ Đào Nha, nơi người dân xây nhà và sống trong những tảng đá lớn.
Ảnh: Amuzing Planet

Theo các ghi chép lịch sử, làng Monsanto được xây dựng từ hàng thế kỷ trước, từng được coi là vùng đất trung tâm của Bồ Đào Nha từ năm 1.174 đến tận thế kỷ 19.
Ảnh: Amuzing Planet

Để đến được làng, du khách cần đi qua một con đường nhỏ xuyên qua thung lũng. Từ dưới nhìn lên núi, ngôi làng Monsanto thấp thoáng những mái nhà đỏ giữa những thân cây thấp....
Ảnh: Zigzac On Eath

Đập vào mắt du khách là những ngôi nhà nhỏ xinh ẩn hiện giữa những tảng đá lớn. Những con đường nhỏ len lỏi trong đá.
Ảnh: Amuzing Planet

Monsanto hiện nay có diện tích 131.76 km² và có gần 1.000 cư dân sinh sống. Ngôi làng vẫn giữ nguyên được nét kiến trúc cổ xưa độc đáo nhất thế giới của mình, hầu như không thay đổi gì qua hàng trăm năm.

Một số ngôi nhà được đục đẽo nằm trọn trong tảng đá nặng tới 200 tấn. Một số khác dùng đá làm mái, làm tường. Vài ngôi nhà khác lại lợi dụng khe hở của các khối đá để tạo không gian sống bên trong.
Ảnh: Xalima Muriel/Media Drum World

Những ngôi nhà ở đây gây kinh ngạc cho du khách nhờ nét độc đáo và vẻ đẹp từ sự kết hợp, pha trộn của lối kiến trúc Manueline, là kiến trúc tổng hợp trong thế kỷ 16. 

Một số ngôi nhà có cánh cửa và mái theo phong cách kiến trúc Bồ Đào Nha hiện đại.
Ảnh: Amuzing Planet

Một điều đặc biệt khác là ở đây còn có tàn tích của pháo đài cổ, đóng vai trò như nơi trú ẩn cư dân Lusitania.
Ảnh: Xalima Muriel/Media Drum World

Ngôi làng từng được bình chọn là "Làng duy nhất của người Bồ Đào Nha ở Bồ Đào Nha" trong một cuộc bình chọn cấp quốc gia năm 1938.

Kể từ đó, Monsanto trở thành điểm đến thu hút du khách, với vẻ đẹp kiến trúc lạ và tầm nhìn tuyệt vời trải dài như vô tận ra vùng nông thôn của Bồ Đào Nha.
Chính quyền cũng hạn chế việc xây dựng để bảo vệ vẻ đẹp vốn có của làng.
Du khách đến đây thường dạo bộ quanh làng và dùng bữa ở một số nhà hàng giản dị. Ảnh: Wheretogoto

Do địa hình đồi núi và đường nhỏ hẹp len lỏi quanh đá lớn nên phương tiện di chuyển chính của người dân ở đây là lừa.

Một số hình ảnh đẹp của làng Monsanto:
Ảnh: Xalima Muriel/Media Drum World
Ảnh: Xalima Muriel/Media Drum World
Ảnh: Xalima Muriel/Media Drum World

Ảnh:Monsanto

Ảnh: Xalima Muriel/Media Drum World
Nghĩa trang Quân Đội Hoa Kỳ

By Đinh Yên Thảo -
May 24, 2018

Tháng Năm. Thời tiết Washington DC. cũng lạ ngay cả với những người cư dân lâu năm. Chỉ mới hôm trước nhiệt độ lên trên 90 độ thì ngày hôm sau chúng tôi ngồi run lập cập trên toa xe chở những khách viếng Nghĩa Trang Quân Đội Hoa Kỳ nằm trên đồi Arlington của tiểu bang Virginia, nhìn xuống dưới là thủ đô DC. Toa xe dài nên tôi cũng chẳng rõ người hướng dẫn viên đang dẫn giải lịch sử hay từ loa máy phát ra. Cũng chẳng sao. Bởi tôi nghe loáng thoáng bằng mắt. Cùng tiếng gió thổi bên tai. Tâm trí tôi đang dõi theo những hàng bia trắng ngang dọc thẳng tắp giữa những thảm cỏ xanh. Cái cảm giác bình yên đến xúc động thật kỳ lạ. 200 mẫu Tây, nghĩa trang rộng mênh mông. “Đây từng là vùng đất của cháu nội Đệ Nhất Phu Nhân Tổng Thống George Washington, về sau do con gái là phu nhân của tướng Robert Lee kế thừa…”, tiếng dẫn giải đều đặn phát ra từ loa. A! Vậy sao? Danh tướng Robert E. Lee thời nội chiến Nam Bắc Hoa Kỳ. Bởi đến nghĩa trang quân đội này, người ta chỉ thường nghĩ đến chuyện viếng mộ Tổng Thống Kennedy. Cái khoảng cách thời gian dễ gần gũi, hay đúng ra là dễ nhớ hơn thời nội chiến. Dù cái tên của tướng Lee cũng được nhắc đến nhiều hơn gần đây. Nước Mỹ đang truy vấn lịch sử của mình.

Nghĩa trang Quân Đội Arlington National Cemetery

Hầu hết là những tấm bia trắng đá cẩm thạch đơn giản, cùng kích cỡ. Nhưng cũng có những bia to lớn hơn. Có lẽ của những nhân vật đặc biệt, bởi nơi đây an táng vị tướng cao cấp nhất của quân đội Hoa Kỳ. Tướng 6 sao John Pershing. Tôi không biết. Nào giờ chỉ biết đến tướng 5 sao, không ngờ có cả tướng 6 sao. “Phía bên trái của quý vị là mộ của Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara, dưới thời Tổng Thống Kennedy rồi cả thời TT Johnson”. Nghe quen thuộc, đôi tai tôi lại quay về lời thuyết trình. Ra Robert McNamara, một trong những kiến trúc sư chủ chốt của cuộc chiến tranh Việt Nam. Lõm bõm đôi chút lịch sử vậy mà làm những nơi mình đến trở nên thú vị hơn. 

Cái danh xưng là Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington nhưng đúng hơn là một nghĩa trang quân đội thuộc quyền Bộ Quốc Phòng, do quân đội quản trị và điều hành. Bởi nơi đây an táng vài trăm ngàn quân nhân Hoa Kỳ đã vị quốc vong thân qua nhiều cuộc chiến. Từ nội chiến Nam Bắc rồi Đệ Nhất, Đệ Nhị Thế Chiến đến Chiến tranh Triều Tiên, Chiến tranh Việt Nam… Nhưng cũng có một số ít nhân vật nổi tiếng, đóng góp cho quốc gia khối dân sự hay thân nhân người lính cũng được vinh dự nằm ở đây. Rồi đài tưởng niệm những phi hành gia hai phi thuyền Challenger và Columbia đã nổ tung trên bầu trời nước Mỹ. “Xin hãy im lặng và bày tỏ lòng tôn kính với những người đã hy sinh cho quốc gia. Và họ xứng đáng được hưởng sự vinh dự này”. Vâng, chắc chắn là vậy. Lời nhắc không thừa, nó chỉ là tiếng vọng những gì tôi, và có lẽ những người khác trên xe cũng đang suy nghĩ. Những người nằm dưới tấm bia mộ kia không chỉ hy sinh cho đất nước Hoa Kỳ này mà họ đã chiến đấu để bảo vệ cho lý tưởng tự do của cả thế giới. Hơn 400 ngàn binh lính Hoa Kỳ đã tử nạn trong Đệ Nhị Thế Chiến. Thêm 36 ngàn trong Chiến Tranh Triều Tiên cùng 58 ngàn tại Việt Nam. Rồi bao nhiêu ngàn người nữa trong những cuộc chiến Iraq, Afghanistan gần đây? Có những người lính tử nạn còn được mang thi thể về nơi đây an táng. Nhưng có những người chẳng bao giờ tìm ra hài cốt. Họ nằm lại đâu đó tại cái một vùng đất xa lạ mà có lẽ họ cũng chưa bao giờ nghĩ rằng một ngày nào đó xương cốt mình sẽ nằm lại ở đó.

Nghi thức đổi phiên gác trước mộ Chiến Sĩ Vô danh

Tôi nói với anh bạn đi cùng, “nhìn thử xem có bia mộ khắc tên Việt nào không”. Chỉ cầu may thôi. Có những người lính Mỹ gốc Việt đã hy sinh tại những chiến trường sau này, có thể họ cũng được an táng đâu đó. Nhưng dễ gì nhìn ra giữa cả trăm ngàn bia đá như vậy. Tôi về tra tìm danh sách từ hồ sơ nghĩa trang, không tìm ra tên tuổi những người lính gốc Việt, nhưng lại vô tình tìm thấy 10 quân nhân quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong số 65 quân nhân nước ngoài hiếm hoi đã được an táng tại Nghĩa trang quân đội Hoa Kỳ này. Người duy nhất có tên là Thiếu Tá Vũ Văn Pháo (hay Phao?). Cùng hai phi công VNCH bị tử nạn tại Lào và bảy sĩ quan đã tử nạn trong chuyến trực thăng bị rơi năm 1971. Hài cốt của họ đã được tìm ra cùng hài cốt của những sĩ quan Mỹ cùng tử nạn nên được đưa sang Hoa Kỳ an táng chung mộ. Không biết gia đình những người lính VNCH này có biết hài cốt thân nhân họ đã được vinh dự an táng nơi đây?

Mộ Tổng thống Kennedy và phu nhân Jacqueline.

Nằm trang trọng ở một vị trí từ đồi cao thật đẹp trong Nghĩa trang quân đội Arlington này là mộ đá trắng Chiến Sĩ Vô Danh khắc hàng chữ, “Đây là nơi an nghỉ trong vinh quang danh dự của người lính Mỹ mà chỉ Thượng Đế biết”. Nghi thức đổi phiên gác thật tôn nghiêm. Bồng súng, trao súng, người lính bước đi 21 bước thay cho 21 phát đại bác – nghi thức trang trọng nhất của quân đội. Lễ cũng chừng đâu 15 phút. Có cả trăm cảnh sát từ California sang tham dự. Tôi cứ ngỡ mình vô tình được chứng kiến buổi lễ diễn ra chỉ đương lúc có nhiều du khách hay thực hiện riêng cho cảnh sát LAPD sang đặt vòng hoa tưởng niệm. Nhưng khi đọc lại mới biết mộ Chiến Sĩ Vô Danh này được luân phiên canh gác 24 giờ trong suốt 365 ngày. Và lễ đổi phiên gác diễn ra ngay cả sau khi nghĩa trang đã đóng cửa, bất luận thời tiết như thế nào. Nước Mỹ tri ân sự hy sinh người lính không phải để trình diễn cho du khách.

Tác giả bên bệ khắc lời TT Kennedy

Rồi đây! Mộ của Tổng Thống Kennedy cùng Đệ Nhất Phu Nhân Jacqueline. Chỉ đơn giản hai tấm bia mộ cùng ngọn đèn dầu cháy sáng quanh năm. Eternal Flame – Ngọn Đèn Vĩnh Cửu. Phía trước là những bệ đá khắc những câu nói lưu danh của ông. Tôi ngồi xuống bên bệ đá khắc hàng chữ “Đừng hỏi quốc gia đã làm gì cho bạn, hãy hỏi bạn đã làm gì cho quốc gia”. Vâng! Hơn ai hết, những tấm bia trắng dưới kia là câu trả lời hào hùng và danh giá nhất từ những người lính Mỹ đã hy sinh và cống hiến cho đất nước của mình. “Mờ trong bóng chiều, một đoàn quân thấp thoáng, núi cây rừng…”. Đoàn quân dưới bia mộ kia có lẽ sẽ mãi là một đoàn quân bất tử. Trong lòng người dân Hoa Kỳ. Chiều đã xuống thấp và gió cũng đã lạnh hơn. Tôi quay lại nhìn ngọn đèn dầu vĩnh cửu bập bùng, bập bùng thêm lần nữa trước khi lên xe đi xuống đồi.

ĐYT
Tháng 5/2018, Mùa Chiến Sĩ Trận Vong

Danh sách những sĩ quan VNCH an táng tại Nghĩa Trang Quân Đội HK

Blog Archive