Friday, March 2, 2018

Làm dâu Huế 

Ái Khanh

Image result for hue images
Nhìn bé Nhụy ngồi ủ rũ nơi góc giường, Liên thương xót, cố đùa cho em vui:
– Nè, sao mặt mũi buồn hiu vậy? Muốn chị dẫn đi phố không?

Nhụy lắc đầu. Liên vẫn kiên nhẫn:
– Đi chơi với chị vui lắm, chị sẽ mua cho em đôi guốc mới.

Nhụy vẫn nhè nhẹ lắc đầu. Liên kéo tay em đứng dậy:
– Vậy cưng muốn cái gì?

Chỉ chờ có thế, Nhụy nhìn chị òa khóc:
– Em muốn chị đừng đi lấy chồng!

Bích Liên ôm đầu em cười xòa:
– Chị sẽ về thăm nhà thường mà!

– Không! Em không muốn xa chị!

Rồi bé Nhụy khóc nức nở. Liên nghe lòng nao nao. Nàng vỗ nhè nhẹ vào lưng em:
– Lớn rồi, đừng nhõng nhẽo nữa, chị thương!

Bé Nhụy mặt mũi đầm đìa nước mắt, nhìn chị hỏi rất ngây thơ:
– Vậy bữa trước ba Mẹ với Bác Cẩm nói chuyện với nhau như vậy có đúng không?

Bích Liên nhìn em:
– Ba Mẹ với Bác Cẩm nói gì?

– Hôm đó em nghe Mẹ nói “Bây giờ con Liên là con anh chị rồi, tôi gửi gắm nhờ anh chị dạy dỗ cháu” Liên cười phá lên:

– Trời ơi! Em cưng của chị ơi! Mới mười hai tuổi em làm sao hiểu được lời của người lớn nói với nhau…

Bé Nhụy đến sát bên chị, nghi ngờ hỏi:
– Vậy chị vẫn là chị của em, con của Ba Mẹ hả?

Liên gật đầu lia lịa:
– Đương nhiên rồi!

– Vậy Bác Cẩm, Ba Má của anh Tùng? Sao em cũng nghe chị gọi Ba, Mạ gì đó.

Liên đỏ bừng đôi má:
– Ừ thì chị cũng gọi Ba Má anh Tùng là Ba, Mạ.

– Vậy là chị có hai ba, hai Má?

– Ừ! Thôi em cứ hỏi gì mà hỏi hoài.

– Nhưng mà…

– Thôi! Đừng có nhưng gì hết. Chị vẫn là chị của em, con của Ba Má, em chịu chưa?

Bé Nhụy nhoẻn miệng cười. Liên nắm tay em:
– Nghe chị đừng buồn nữa. Lúc nào chị ở nhà anh Tùng rồi chị sẽ thường về thăm em luôn!

– Bao lâu chị về nhà một lần?

– Mỗi năm một lần!

Nhụy thảng thốt la lên:
– Một năm à?

– Ừ vì cưới xong là Chị với anh Tùng chỉ ở lại một đêm ở nhà mình, qua hôm sau chị cùng với Ba Má anh Tùng và anh Tùng về Huế…

Nhụy lại mếu máo”
– Lâu quá vậy? Tại sao chị không biểu anh Tùng ở luôn nhà mình mà chị phải ở nhà người ta?

Tự dưng Liên cũng nghe bồi hồi, buồn buồn đáp lời em:
– Đâu được em, chị phải làm dâu khi lấy chồng chứ!

– Làm dâu là làm gì hả chị?

– Là làm dâu… Thôi, cứ hỏi hoài chị không biết trả lời.

Thấy mắt chị chớp chớp, Nhụy lặng nhìn chị, nó nghe thương chị vô cùng.

Cuối tuần đó, Liên theo gia đình chồng ra sân ga về Huế. Nhụy theo ba má tiễn chị… Tiếng còi tàu xé nát không gian tĩnh mịch của buổi sáng tinh sương. Liên khóc chào tạm biệt Ba Mẹ và em gái. Tùng cầm tay vợ, cười bảo:
– Theo chồng bộ khổ lắm sao em cứ khóc hoài vậy?

Liên định trả lời Tùng nhưng liếc nhìn Ba Mẹ mình và Ba Mạ chồng đang cười nói chia tay nhau gần đó nên nàng im lặng, riêng Nhụy thì cứ khóc tức tưởi. Mẹ chồng của Liên phải dỗ:
– Con nín đi, chị con theo chồng vài tháng sẽ vào Sài Gòn thăm con, ngoan rồi chị sẽ về thăm sớm hơn…

Khi Liên về đến nhà chồng thì trời đã tối. Nhìn khắp nhà được treo đèn kết hoa, đèn măng sông sáng rực căn nhà… Bên nhà chồng cũng đã có hơn hai mươi người ăn mặc tươm tất chào đón ba Mạ Tùng và vợ chồng Liên rất thân mật khiến Liên bớt bỡ ngỡ. Có điều Liên không hiểu nhiều khi họ nói chuyện với nhau quá nhanh, tiếng thánh thót ríu rít. Liên mỉm cười, ví như tiếng chim hót, đó là ngôn ngữ bên chồng. Liên hồi hộp níu tay chồng khi hai người trạc tuổi Liên tiến đến bên nàng, đứa bé gái đứng gần đó cười ré lên:
– Ngó tề! O sợ nắm tay chú Tùng.

Liên nghe mọi người cười rộ lên, nàng không hiểu hết nhưng cũng lờ mờ đoán được vội rụt tay lại. Tùng thương hại cầm hẳn tay vợ bảo:
– Đó, tui cầm tay vợ tui đó. Ai cười, cười đi! Cười thì hở mười cái răng…

Một bà cụ bước đến chào hỏi vợ chồng nàng, Tùng chắp hai tay cúi đầu:
– Thưa Mệ!

Không để cho vợ thắc mắc, Tùng nói ngay:
– Đây là Mệ Trương ở cạnh nhà mình, còn đây là vợ con tên Liên…

Liên thắc mắc:
– Mệ là sao với mình?

– Tuy không bà con gì nhưng ở làng mình thì cũng coi như bà con.

Hết người này đến người kia đến chào hỏi và nhìn mặt cô dâu mới… Liên thỉnh thoảng cầm bắp tay của chồng lắc lắc cầu cứu những câu hỏi của thân nhân bằng hữu mà nàng không hiểu. Đứa bé lúc nãy đến gần bên Liên hỏi như để bày tỏ thân thiện:
– O, o đi đường dài rứa có mệt không ra sau ảng nước rửa mặt rửa mũi đi.

Liên ngẩn người ra khiến mọi người cười rộ lên. Tùng vội vàng “thông dịch” để giải thoát cho vợ:
– Con Huệ nó bảo em ra sau hè rửa mặt kẻo đi đường cả ngày mệt…

Liên nhìn bé Huệ cười như cám ơn sự quan tâm của nó. Khách càng lúc càng đông. Đến giờ, chú Tín (em ruột của ba Liên) đứng lên đại diện cho nhà gái ngỏ lời xin lỗi về việc vắng mặt của ba Mẹ Liên vì buổi lễ cũng đã được tổ chức trọng thể tại Sài Gòn rồi. Buổi tiệc đã dứt nhưng bạn bè, xóm giềng vẫn còn ở lại phụ giúp dọn dẹp và nói chuyện râm rang gần như suốt đêm. Ba Mạ của Tùng cũng như vợ chồng Tùng mệt rã rời, cuối cùng chịu không nổi cũng cáo lui để vào phòng nghỉ ngơi.

Về nhà chồng đã một tuần nhưng sáng nào Liên cũng thức dậy sau khi được Tùng khều nhẹ:
– Em dậy ra ngoài phụ với Mạ nấu nướng đi!

Hôm nay Liên đang rửa rổ rau lang sau hè, thì có một người đàn bà đứng tuổi từ hông nhà bên cạnh lách hàng rào bước qua cười chào Liên rồi hỏi:
– Dôn mi mô mi?

– Liên trố mắt nhìn không hiểu bà hỏi Liên hay nói gì, nhưng Liên cũng vừa lên tiếng vừa vớt rau ra khỏi thau nước:
– Dạ, chào o.

Bà ta cười ngặt nghẽo, lúc đó Tùng từ trong bước ra đỡ lời:
– Thưa o Mai, vợ con nó chưa hiểu tiếng Huế nhiều mô!

Rồi Tùng quay sang vợ, bảo:
– O vừa hỏi “dôn mi mô mi” có nghĩa là o hỏi em anh đâu rồi đó! Dôn là chồng đó mà!

Liên đứng dậy cười ngượng ngùng:
– Anh phải chỉ cho em mấy tiếng lạ đó, em đâu có biết.

O Mai lại cười thích thú:
– Ui chào! Mi học ê cả năm chưa nhớ hết mô!

Vừa lúc đó, có tiếng mẹ của Tùng ở trong gọi ra:
– Liên, nước sôi rồi, đem rau vô luộc đi con.

Liên vội rẩy bớt nước trong rổ rau rồi bước vô nhà, miệng lẩm bẩm “dôn mi mô mi” là chồng mình đâu rồi”. Tùng và o Mai nhìn nhau lắc đầu, cười…

Hôm nay, lần đầu tiên Tùng đi làm. Chàng là một nhân viên của Đài Phát Thanh Huế. Chàng đã hết mười ngày phép, nay từ giã vợ để đi làm. Liên hồi hộp tiễn chồng ra cửa, giọng nhuốm vẻ lo âu:
– Anh đi làm mau về nghe!

– Ba Mạ ở nhà thương em lắm, có gì đâu mà em sợ dữ vậy?

– Không phải em sợ Ba Mạ mà em sợ Ba Mạ nói gì em không hiểu, không có anh… thông dịch!

Tùng cười phá lên:
– Trời ơi Ba Mạ nói tiếng Huế chớ có phải tiếng Tây tiếng Tàu gì đâu mà em bảo thông dịch…

Liên bắt đầu vô bếp dọn rửa, quét sạch bếp núc, mẹ của Tùng nhìn con dâu siêng năng có vẻ hài lòng lắm. Chờ cho con xong việc, bà bảo:
– Túi qua, tụi bây ngủ sớm, bác Nghè có đem bóng đám cưới tới để cho tụi bây coi mà tụi bây ngủ nên Mạ không kêu. Ba bây còn giữ trong buồng, chút nữa ông lựa xong vài tấm để phóng lớn rồi đưa cho tụi bây sau!

Liên cứ “dà dà dạ dạ” chớ không hiểu mẹ chồng nói gì mà có đám cưới rồi có ba chồng của nàng nữa. Nàng đứng yên một lúc rồi nói:
– Xin phép Mạ con vô phòng để viết thư về Sài Gòn cho Ba Má con, mấy bữa nay tại có anh Tùng nên con bận quá chưa viết được.

Bà mẹ chồng của Liên như sực nhớ ra la lên:
– Ừ hè! Nói mạ gửi lời thăm anh chị sui nghe!

Liên dạ thật lớn vì nàng thích thú hiểu trọn câu nói này. Nàng nhủ thầm phải “học” cho hiểu hết tiếng Huế mới được.

Chiều lại, khi Tùng về thì nàng được chồng nói cho hiểu là đêm qua bác Nghè, thợ chụp hình, đem hình đến giao nhưng vợ chồng chàng ngủ sớm chưa xem được. Ba của Tùng đã lựa được hai tấm đủ mặt ba má Liên bên trái, vợ chồng Liên đứng giữa và ba mạ Tùng đứng bên phải để sang ra thật lớn treo giữa phòng khách…

Mỗi ngày Liên học thêm được vài từ mới, nàng rất thích, và nàng thấy thật sự thương yêu xứ Huế đầy cổ kính này.

Hôm nay Chúa Nhật, Tùng chở vợ đi thăm các lăng tẩm. Ngồi trên xe, vòng tay qua ôm chặt eo chồng, gió mơn man thổi, Liên cảm thấy thật ấm áp, thật hạnh phúc, Tùng hỏi:
– Mấy bữa nay, Mạ nói chuyện em hiểu hết không?

– Có lúc em không hiểu, nhưng mạ ra dấu thì em hiểu.

Tùng phì cười:
– Thí dụ anh nghe thử đi!

– Như hôm qua mạ nói “Con cầm cây chủi ra xuốt cái cươi cho sạch đi!” em cứ tần ngần thì mạ đưa cái chổi chà cho em rồi chỉ ra sân. Em hiểu liền. Bây giờ em hiểu người Huế gọi cái chổi là cái chủi…

Tùng cười… ầm ầm như thác đổ, cầm tay vợ đang ôm eo mình siết nhẹ:
– Em làm cho anh có cảm tưởng như em là cô bé còn bé tí xíu như bé Nhụy!

Lòng Liên nhói lên. Nàng nhớ tới bé Nhụy, không biết nay nó còn buồn vì Liên đã xa nó thế này không? Áp má lên vai chồng, Liên thỏ thẻ:
-Em nhớ Ba Má và bé Nhụy quá, chừng nào em mới vô Sài Gòn thăm nhà được há anh?

– Lúc nào cũng được hết, nhưng muốn để anh được nghỉ phép đưa em em đi anh yên lòng hơn. Em muốn đi một mình cũng được nhưng không có anh em có sợ không?

– Sợ! Em sợ lắm! Thôi để từ từ đi, hơn nữa…

Liên bỏ lửng câu nói khiến Tùng thắc mắc:
– Hơn nữa sao em?

Liên thẹn thùng một lúc rồi ấp úng:
– Hơn nữa… em không muốn xa anh!

*
Ba má và em Nhụy nhung nhớ của con:

Con đã xin được việc làm rồi: con đi dạy học lớp mẫu giáo. Cuộc sống của chúng con rất hạnh phúc. Ba mạ của anh Tùng rất thương con. Con nghe họ nói làm dâu người Huế khổ lắm. Trước kia con rất sợ, mới đầu con nghe nói chuyện con không hiểu, nay thì con hiểu rất nhiều và có thể nói con hiểu hết tiếng Huế rồi Ba Má ạ. 

Trước nhà anh Tùng có hai cây nhãn lồng, hột nhỏ xíu như hột tiêu, ngọt và giòn tan ăn ngon kinh khủng. Ba Mạ anh Tùng nói để tháng Bảy này vợ chồng con vô Nam thăm ba Má sẽ gửi làm quà… 

Con có mua hai cái nón Huế, một cho Má một cho em Nhụy, còn ba thì con mua cho Ba quyển sách nói về xứ Huế – quê chồng của con. 

Lần thăm nhà trước, con hấp tấp với hơn nữa con chưa làm gì có tiền nên chỉ có kẹo cau, kẹo gương, kẹo mè xửng của Ba Mạ anh Tùng gửi cho Ba Má và em Nhụy, lần này là đồng tiền do con làm đó nghe. 

Ba Má cho con nói vài lời với em Nhụy của con; Nhụy ơi! Cưng còn khóc nhớ chị không? Chị nhớ em lắm lắm. Anh Tùng thương chị không ăn hiếp chị chút nào cả. Ngay cả ba má anh Tùng nữa, biết chị thích ăn cá nục kho chấm với cải chua (à cải chua ở Huế cọng nhỏ khác trong Nam mình em ạ) cứ kho cho chị ăn hoài, ngon mà cay. Từ khi có chị, mạ anh Tùng kho cá phải bỏ ít ớt thôi. Tuần rồi cả nhà ăn bánh tráng nướng nhúng nước gói thịt heo luộc với rau muống chẻ chấm nước cá mà ngon ghê em ơi. Lúc nào chị gặp sẽ làm cho Ba Má với em ăn nghe!

Nhụy, em có thể tưởng tượng hôm tháng trước mưa liên miên một tuần. Trời ơi, chị nhìn mưa rơi mà nhớ Ba Má, và em đứt ruột, nhất là ban đêm, nước mưa cứ thánh thót rơi cả đêm không ngừng. Anh Tùng thấy chị ngủ không được, vặn nhạc nho nhỏ cho chị nghe có câu: “Mưa bên chồng có làm em khóc, có làm em nhớ… “chị phải tắt ngang và bảo “Em không muốn nghe, em nhớ Ba má và em Nhụy lắm!” Nhụy ơi! Em phải ngoan, học cho giỏi, lúc nào vào Sài Gòn chị sẽ mua nhiều quà cho em.

Ba má và em Nhụy khỏe luôn, con mừng.

Liên.

Tùng và Liên đến bưu điện gửi thư xong cả hai tản bộ tới nhà bé Huệ mà Liên rất thích tính tình vui vẻ của nó, trước đây nó cũng rất thích Liên, bây giờ em Loan của nó đã năm tuổi đang được gửi vào trường mẫu giáo. Nó càng quý Liên hơn. Đến nhà, Liên và Tùng được dì của Huệ tiếp đón, bà là chị lớn của mẹ Huệ. Bà rót hai ly nước trà xanh rồi bảo:
– Trời nóng như ri uống nước nóng đã khát lắm.

Liên cười thầm khi thấy ngược hẳn trong Nam lúc nóng phải uống trà đá mới đúng nhưng nghĩ thôi chớ Liên không nói gì ngoài câu cảm ơn. Không chờ Liên và Tùng hỏi, bà đã nói:
– Con Huệ nó qua nhà hàng xóm mượn cái rựa, chút về liền.

Nói chuyện vu vơ độ bảy tám phút thì bé Huệ xồng xộc chạy vô, tay cầm cây dao chẻ củi, tóc dính sát vô đầu vì trời nắng, mồ hôi nó tuôn ra như tắm. Lúc đó Liên mới hiểu thêm chữ “rựa”. Liên bảo:
– Tóc Huệ ướt hết vậy, vô lấy lược ra cô chải đầu cho!

Rồi nàng rút trong túi áo một cái kẹp hình con bướm đen đốm vàng, trao cho Huệ bảo:
– Đã lâu rồi, cô có ý cho Huệ cái kẹp mà hôm cưới cô và chú, Huệ cứ mân mê khi thấy cô gỡ ra để ở bàn, nay cô biết Huệ vừa đứng hạng nhất trong lớp cô thưởng cho đó!

Huệ cầm cái kẹp, cảm động, nhưng nó chỉ biết lí nhí cám ơn.
– Vô trong lấy lược ra cô chải đầu rồi kẹp lên cho!

Huệ ngoan ngoãn vào lấy lược ra trao cho Liên. Liên chải thẳng ra những sợi tóc còn ướt đẫm mồ hôi của nó, tém ra phía trước cho phồng lên, kẹp lại. Dì của Huệ lên tiếng:
– Úi chà! Đẹp quá!

Nghe dì nói, Huệ với tay cầm cái gương trên bàn soi mặt rồi la bài hãi:
– Ngó tề! Dị òm!

Dì nó la át đi:
– À cái con ni, đẹp rứa mà còn chê!

– Không phải con chê mà… dị quá!

Tùng lên tiếng:
– Dị chi mà dị. Kẹp vài bữa quen liền.

Nói thì nói vậy nhưng Huệ cứ cầm gương săm soi, dì nó cười bảo:
– Ưng bắt chết mà cứ giả đò!

Liên và Tùng từ giã ra về, dì của Huệ nắm tay Liên thân mật:
– Mấy khi o chú tới chơi, bữa ni ở lại chơi, tui làm bữa cơm hến ăn… Tui làm không lâu mô!

Liên siết tay bà bảo:
– Dạ cám ơn cô, bữa nay mạ em có nấu bún bò rồi, bữa khác đi. Ở nhà đang chờ tụi em về đó!

– Rứa thôi bữa khác nghe! Bữa mô có mạ con Huệ ở nhà tới chơi. Vợ chồng nó đi làm nương làm rẫy khổ lắm, gửi hai đứa cho tui giữ giùm, riết tui cứ tưởng hai đứa là con tui.

Con Huệ… nhảy tọt vô giữa hai người:
– O ngoéo tay hứa hí!

Liên cười đưa tay ra cho Huệ. Dì của Huệ cười tít mắt:
– Cái con ni hắn làm nũng với cô dữ!

*
Thấm thoát thế mà Tùng và Liên đã có đứa con trai mười sáu tuổi tên Bách. Trong dịp Tết Mậu Thân, Tùng và con trai vô đài phát thanh rồi bị Việt Cộng tấn công, cả hai kẹt suốt ngày trong đó. Buổi sáng hôm sau lò mò tìm đường về nhà, ngang đầu ngõ nghe tiếng súng đì đùng, hai bố con sợ quá tuôn đại vào một căn nhà gần đó không ngờ căn nhà lại bị pháo kích cháy phừng phừng. Thế là hai cha con bị thương, phỏng nặng, chết giữa đường.

Từ đó, Liên sống như người mất hồn. Có điều nàng vẫn không lìa xa cha mẹ chồng đã già lụm khụm. Nàng sống âm thầm, đi về lo cho gia đình chồng như thuở nào Tùng còn sống cho đến khi cha mẹ chồng mất đi. Có lẽ câu này Tùng hay nói với nàng lúc mới cưới “Con gái khi về nhà chồng rồi phải gánh vác giang sơn nhà chồng” đã thấm nhuần trong huyết quản của nàng. Mấy chục năm quấn quít trên mảnh đất khô cằn sỏi đá, với những tình cảm gắn bó, Liên đã yêu thương quê chồng như yêu chính bản thân mình.

*
– Đó là tất cả chuyện tình của bác về xứ Huế, nếu ai có hỏi vì sao bác yêu Huế thì cháu trả lời thay cho bác hí!

Giọng Nam pha tiếng Huế của bác Liên nghe thật ngọt ngào dễ thương. Tôi cầm tay bác trìu mến:
– Cám ơn bác đã cho cháu nghe về cuộc đời của Bác và nhất là về vấn đề làm dâu của Bác đã cho thế hệ của cháu hiểu thế nào là một người đàn bà Việt Nam trong vai trò làm vợ, làm mẹ. À, con có điều thắc mắc muốn hỏi bác là sao bác trai nói giọng Nam?

– À! Lúc còn sinh viên, ông học ở Sài Gòn rồi quen bác. Lúc ra trường xong, ông về Huế và xin làm việc ở đài phát thanh nên ông nói luôn cả hai giọng Nam và Huế. Khi gặp người miền nào nói theo miền đó.

Nói xong, bác Liên cười móm mém nhưng tôi thấy nụ cười của bác thật đẹp và dễ yêu biết dường nào!.
NHỮNG CON RACCOONS PHẢI RA ĐI

(Tường Giang chuyển ngữ)

Như nhiều công dân khác, tôi từng tự hỏi và cố gắng hiểu tại sao Trump lại có nhiều người ủng hộ ông. (Đáng lẽ là phải ít người ủng hộ hơn mới phải). Đoạn, một người bạn gửi cho tôi câu chuyện của những con Raccoons này. Không thành vấn đề là lập trường chính trị của bạn ngả về bên nào, đây chỉ là một giải thích TẠI SAO… 

Hãy đọc, nếu bạn thực sự muốn biết đa số người dân Mỹ cảm thấy như thế nào? Và điều này áp dụng cho cả hai lập trường Dân Chủ lẫn Cộng Hòa. Bài viết này đã nói lên tất cả. 

Raccoon.

Giả sử bạn đi vacation trọn hai tuần lễ, trở lại nhà, và tầng dưới hầm nhà của nhà bạn bỗng dưng đầy những con Raccoons vào làm nơi trú ngụ, có đến hàng trăm con dơ bẩn, hôi hám. Bạn muốn chúng phải ra khỏi nhà bạn ngay lập tức. Bạn gọi cho thành phố, gọi 4 công ty trừ mối khác nhau, nhưng không một ai làm xong chuyện. Nhưng chỉ có một người, và ông ta bảo đảm với bạn là sẽ dẹp được đám Raccoons này, và bạn mướn ngay ông này để làm chuyện đó. 

Bạn không cần biết là ông ta hôi hám đến cỡ nào, bạn không cần biết là ông ta có tính hay chửi thề, bạn cũng không cần biết là ông ta có nghiện rượu hay không, và bạn cũng không cần biết là ông ta đã kết hôn đến bà vợ thứ mấy, rồi bạn cũng không cần biết là ông ta có bầu cho Obama hay không, và bạn cũng không cần biết là ông ta mặc quần trễ xuống lòi mông đít thật mất thẩm mỹ, bạn chỉ giản dị muốn một diều: mấy con raccoons phải đi ra khỏi nhà bạn! Bạn muốn chuyện rắc rối này được giải quyết! Ông ta chính là người làm được việc đó. Ông ta là tốt nhất. Bạn không cần và không muốn ai bàn cãi gì thêm nữa!

Và đây là lý do tại sao chúng ta cần Trump, vâng, ông ta có vẻ như thô bỉ. Vâng, ông ta có vẻ tự tôn cá nhân hay có chút tự cao, nhưng chúng ta không xem nặng những điều đó. Xứ sở này đang thực sự rối như bòng bong, bởi vì các chính trị gia không còn biết cái Ất khác cái Giáp ra làm sao, lẫn lộn cái phải và cái trái. Mấy ông Cộng Hòa cũng như Dân Chủ đều là những kẻ hai mặt, thuộc loại gà chết, và di dân lậu thì đang tràn ngập khắp nơi. Chúng ta muốn vấn đề này phải được giải quyết!

Chúng ta không cần biết Trump có thô bỉ như thế nào. Chúng ta không cần biết Trump hay nói chạm tự ái của nhiều người. Chúng ta không cần biết trong quá khứ ông ta đã thân thiện với Hillary ra sao, chúng ta không cần biết ông ta đã bao lần đổi vị trí chính trị. Chúng ta không cần biết ông ta đã kết hôn 3 lần trong mấy mươi năm qua, và chúng ta không cần biết ông ta đánh đấm với Megyn Kelly và Rosie O'Donnell như thế nào. Chúng ta cũng không cần biết ông ta có nhớ tên một vài kẻ khủng bố Hồi giáo nào đó. Xứ sở này đang suy yếu, phá sản, những kẻ thù đang chế nhạo Mỷ Quốc.

Chúng ta đang bị xâm chiếm bởi hàng triệu di dân lậu. Chúng ta đang trở thành là một quốc gia của những nạn nhân mà nơi đó mỗi một Tom, Ricardo, và Hasid là một nhóm đặc biệt, với lợi quyền đặc biệt; và đặc biệt đến mức mà chúng ta không còn nhận dạng được cái xứ sở ở nơi đó chúng ta từng được sinh ra và từng được trưởng dưỡng; "VÀ CHÚNG TA CHỈ MUỐN GIẢI QUYẾT CÁI NAN ĐỀ ĐÓ". Và Trump là người duy nhất dường như có thể hiểu thấu được người dân Mỹ muốn gì. 

Chúng ta đã ngấy đến tận cổ vì những chính trị gia (chuyên nghiệp), chán ngấy vì đảng Dân Chủ, đảng Cộng Hòa, và chán ngấy về những di dân lậu. Chúng ta chỉ muốn những vấn đề này phải được giải quyết. Trump có thể không là một ông thánh, nhưng ông ta không nhận tiền lobby của ai để trở thành một thứ “tiên” mà tiền có thể mua được, ông ta cũng không có cái tật “political correctness”, nói xuôi theo quần chúng để mua phiếu, để rồi bị những thứ đó ràng buộc, mà tất cả những điều chúng ta biết về ông là sự thành công trên thương trường, một người giỏi đàm phán. Ông ta đã xây dựng được nhiều công trình, và ông ta cũng không phải là một chính trị gia chuyên nghiệp, hay đúng hơn, ông ta không phải là một chính trị gia loại gà chết như đa số các chính trị gia chuyên nghiệp vì quyền lợi cá nhân hoặc đảng phái nên đã không tránh khỏi trở thành là mỵ dân.

Và Trump tuyên bố là sẽ giải quyết những nan đề của nước Mỹ. Chúng ta tin vào ông bởi vì ông là một kẻ biết đặt danh dự cá nhân làm ưu tiên, để không cho chúng ta cơ hội chứng minh ông là sai trật hoặc là là một kẻ nói dối như một chính trị gia chuyên nghiệp. Cũng như thế, chúng ta không cần biết ông ta có mái tóc không đẹp. Chúng ta chỉ muốn mấy con Raccoons phải rời khỏi, phải lập tức rời xa căn nhà yên ấm của chúng ta. NGAY BÂY GIỜ!

Xin các bạn hãy vui long chuyển bài viết này đến nhiều người. Tôi cảm thấy đây là lý do tại sao hang ngàn người đã không đi bầu suốt 25 năm qua, bây giờ mới nhập cuộc. Đám raccoons phải ra đi.

"Yesterday Is History, Tomorrow Is a Mystery, but Today Is a Gift. That Is Why It Is Called the Present." (Ngày Hôm Qua là Lịch Sử, Ngày Mai là một điều Bí Ẩn, nhưng Ngày Hôm Nay là Món Quà. Đó là lý do tại sao nó được gọi là “Present” – cũng có nghĩa là Hiện Tại).
Sông nước trở về


Điệp Mỹ Linh

Sau một lúc nhìn đoàn ghe nằm san sát đang nhấp nhô nhè nhẹ trên triền sóng của “biển không”(1) và nghe tiếng giây cáp chạm vào cột buồm bằng kim loại tạo nên chuỗi âm thanh trong vắt, đều đặn, Thúy-Quýnh ngẫng mặt, mắt hơi khép lại, hít đầy phổi luồng không khí mát rượi của vịnh San Diego êm đềm.

Cuối chân cầu gỗ, tại bến tàu Siddler Cover thuộc San Diego Club, hai Navigators – danh từ Tân dùng cho chính chàng và cho cả Vinh, chồng của Thúy-Quỳnh – đang loay hoay hạ thủy chiếc ghe buồm.

Hai cánh buồm no gió, căng phồng. Với dáng người cao dong dỏng, mái tóc ngắn và nụ cười lúc nào cũng như sắp nở trên môi, Tân liếng thoắng, nhanh nhẹn trong mọi cử chỉ quen thuộc. Trái lại, với mái tóc muối tiêu, gương mặt hằn nhiều nét tàn phá của thời gian, Vinh chậm rãi, có vẻ trầm tư như chàng đang mang nặng khối suy tư trong hồn. Thấy Tân vừa cài chiếc phao đỏ vào cổ Thúy-Quýnh vừa dặn dò những điều cần thiết, Vinh muốn cho Tân biết rằng ngày xưa Thúy-Quỳnh đã từng tháp tùng nhiều đơn vị tác chiến cũng như trên chiến hạm của Hải-Quân V.N.C.H. mà chưa bao giờ Thúy-Quỳnh phải mang phao; nhưng nghĩ sao, Vinh lặng yên, nhìn bâng quơ lên nền trời trong xanh.

Con thuyền lướt nhẹ về phía San Diego Coronado Bridge, chiếc cầu cao lê nghêu, nối liền hai thành phố San Diego và Coronado. Nhìn những tia nắng cuối cùng của buổi chiều đang thoi thóp trên đỉnh những tòa nhà cao vút trong khi bóng hoàng hôn đang len lén trở về, Thúy-Quỳnh chợt cảm thấy lòng ray rức, bâng khuâng một cách lạ lùng.

Từ xa, ngược chiều với chiếc thuyền buồm nhỏ nhắn, một chiếc thuyền máy lướt nhanh, tạo nên những lượn sóng cuồn cuộn, làm tròng trành chiết thuyền nhỏ. Mặc dù rất ngạc nhiên khi thấy Thúy-Quỳnh không lộ vẻ sợ hãi hay cuống quít, Tân cũng nói lớn:

- Cô coi chừng ướt. Vịn vào giây buồm đi!

Thúy-Quỳnh làm theo lời Tân rồi nhìn chàng, cười. Tân muốn hỏi Thúy-Quỳnh xem nàng có lạnh hay không; nhưng chợt thấy nụ cười của Thúy-Quỳnh vụt tắt và dường như nàng lại rơi vào thế giới của riêng nàng, Tân im lặng.

Tuy mới gặp nhau chỉ mấy tiếng đồng hồ từ khi đón Vinh và Thúy-Quỳnh ở sân bay, Tân vẫn cảm thấy như chàng rất mến và thân thiết với cả hai, từ lâu. Mối tình cảm này đến từ những cuộc điện đàm viễn liên, bắt nguồn từ những lời thư khen tặng của Tân dành cho Thúy-Quỳnh, sau khi Tân đọc những tác phẩm của nàng. Nhờ những liên hệ đó, khi gặp nhau, cả ba người chuyện trò “dòn tan” như những người bạn cũ lâu ngày gặp lại. Nhưng lạ! Kể từ khi Tân đưa Vinh và Thúy-Quỳnh đến bến tàu cho đến bây giờ, cả Vinh và Thúy-Quỳnh đều trở nên trầm tư, ít nói, ánh mắt trở nên buồn và xa vắng lạ lùng!

Để tôn trọng những suy tư của Vinh và Thúy-Quỳnh, Tân cũng im lặng, tựa người vào mạn thuyển, tay vẫn để trên tay lái, mắt lơ đãng nhìn sang bời đối diện.

Trong tầm mắt của Tân, những chiến hạm màu xám đậm đang neo sát nhau, che khuất quân cảng San Diego Naval Station. Nhìn chiếc hàng không mẫu hạm USS Ranger CV-61 đang đại kỳ, Tân cố vẽ ra trong trí chàng hình ảnh chiếc hàng không mẫu hạm USS Independence CV-62 đang công tác dài hạn tại Nhật mà chàng sẽ phục vụ.

Là một thanh niên, Tân mang nỗi khao khát của kẻ thích tìm tòi, thích khai phá, thích phiêu du cho nên chàng chọn quân chủng Hải-Quân khi chàng học năm thứ tư tại University of Washington ở Seattle. Sau khi tốt nghiệp kỹ sư điện, Tân được huấn luyện tại OCS – Officer Candidate School – tại Rhode Island.

Ra trường với cấp bậc Hải-Quân Thiếu Úy, Tân được đưa sang tu nghiệp bổ túc tại Surface Warfare Officers School Pacific, thuộc Amphibious Base, thành phố Coronado. Cuối tuần này là lễ mãn khóa tu nghiệp, chuẩn bị chờ ngày ra khơi.

Kể từ khi nhận được lệnh phục vụ trên hàng không mẫu hạm, Tân mang nỗi háo hức của một người muốn biết “mùi” biển, muốn trở thành Hải-Quân…thật! Đôi khi sự háo hức ấy bồng bột dâng cao như những ngọn sóng cong vòng và Tân như tay surfer chuyên nghiệp đang cúi rạp mình, chân lách nhẹ chiếc surfboard, lướt nhanh trong lòng sóng xanh biết và nghe bọt biển òa vỡ lao xao.

Một nhân vật trong truyện ngắn Hân và Thi của Điệp-Linh cho rằng “biển một bên, em một bên”. Nhưng riêng Tân, biển là tất cả. Biển cho chàng nhiều suy tư, nhiều mơ ước. Biển vỗ về chàng trong cơn say sóng ngầy ngật khi con thuyền nhỏ đưa chàng vượt biên. Biển cho chàng những giây phút chạnh lòng trên bước đường phiêu bạc. Biển thét gào, réo gọi những ray rức trở về mỗi khi chàng lặng nhìn bãi Coronado phơi mình trong nắng ấm. Biển cho chàng những giây phút lặng lẽ bên ngọn hải đăng để lòng chàng vọng về quê cũ, nơi người Mẹ hiền đang khắc khoải nhớ thương con. Biển làm sống lại trong lòng chàng hình ảnh lãng mạng đến tuyệt vời của mối tình không trọn bên những ngọn đồi đầy thông xanh và tuyết trắng.

Cũng vì Tân nặng tình với biển cho nên những tác phẩm của Thúy-Quỳnh tác động mạnh vào tâm thức của chàng.

Giờ đây, trên dòng nước ngược, trong khi Tân muốn biết Thúy-Quỳnh nghĩ gì mà trầm ngâm thì chính Thúy-Quỳnh lại đang dõi mắt theo những cánh buồm xanh trắng xa xa, lòng bồi hồi nhớ lại một chiều Hè lộng gió bên bến Cầu-Đá Nhatrang.

Thời điểm đó, Vinh là hạm phó một trục lôi hạm đang cặp bến Cầu-Đá và Thúy-Quỳnh là sinh viên năm thứ II trường Luật về Nhatrang nghỉ Hè. Anh của Thúy-Quỳnh là giáo sư hướng dẫn lớp Đệ Nhị, đưa nhóm học sinh và Thúy-Quỳnh đi cắm trại bên Hòn Bảy Miếu. Vinh được Hạm Trưởng chỉ định tháp tùng chiếc “ca-nô” chở nhóm học sinh.

Suốt đoạn hải hành ngắn, từ Cầu-Đá đến Hòn Bảy Miếu, Vinh và Thúy-Quỳnh không hề để ý nhau. Nhưng tối đến, bên ánh lửa trại bập bùng, Vinh ngồi bệt trên cát, vừa đệm Tây Ban Cầm vừa hát ca khúc Bernadine của Pat Boone thì Thúy-Quỳnh cảm thấy tim nàng tê dại! Thấy Vinh gật đầu làm nhịp theo từng thì mạnh (temps fort) trong những tràng hợp âm trầm của điệu Swing, Thúy-Quỳnh chợt liên tưởng đến một cảnh rất đẹp của Ricky Nelson trong phim Rio Bravo.

Vì không có micro, tiếng hát của Vinh loãn đi; nhưng không sao, gió khơi đang đưa nhẹ giọng ca của Vinh vào tận ngõ ngách của những trái tim thiếu nữ đang rạo dực yêu đương.

Khi ban hợp ca của nhóm học sinh đồng ca nhạc khúc Nhạc Rừng Khuya của Lam-Phương, một nam sinh đệm Tây Ban Cầm và Vinh lật ngược Tây Ban Cầm của chàng, dùng tay đánh phía sau thùng đàn theo điệu Rhumba, giả tiếng trống. Thúy-Quỳnh vừa hát theo nho nhỏ vừa khơi cao ngọn lửa. Vinh hất đầu làm hiệu, có ý mời Thúy-Quỳnh đến với “ca đoàn”.

Bên bờ đảo vắng, những giọng ca tài tử hòa với tiếng Tây Ban Cầm dìu dặt cùng với tiếng “trống giả” dồn dập khiến Thúy-Quỳnh cảm thấy nao nao trong lòng. Từ đó, Vinh cứ kiếm cớ ngồi cạnh Thúy-Quỳnh và hỏi nàng những câu vu vơ. Và cũng từ đó, Thúy-Quỳnh thầm nhủ: “Mấy anh chàng Hải-Quân thật là lãng mạn và đa tình!”

Mới đó mà Vinh đã lìa biển Mẹ, đã xa sông nước Cửu-Long gần nửa thế kỷ! Trong khoảng thời gian ấy, Vinh tưởng chàng có thể chôn vùi quá khứ để chấp nhận cuộc sống thừa; nhưng hôm nay, vịnh San Diego im lìm nhưng trong lòng Vinh niềm đau đang trở giấc, dĩ vãng đang thét gào! Nhìn những chiến hạm bất động, sau khi nhận ra chiếc nào thuộc loại tuần dương, chiếc nào thuộc loại hộ tống, chiếc nào thuộc loại hải vận hạm, v.v…Vinh thở dài! Hồn Vinh ngất lịm vì nhớ thương chập chùng!

Như không chịu nỗi sự “hành hạ” từ ngoại cảnh, Vinh đề nghị Tân quay buồm trở về.

Tối đến, từ cửa sổ lầu năm của khu sĩ quan độc thân, B.O.Q. (Bachelor Officers Quarters) nhìn ra bờ biển Coronado, Vinh có cảm tưởng như chàng đang ở Trung Tâm Huấn Luyện Hải-Quân Nha-Trang. Cũng vòng biển cong cong; cũng ngọn đồi nhỏ xa xa và ánh hải đăng cuối vòng cung cát trắng; cũng những dãy nhà ngăn nắp; cũng lính gác cổng; cũng thấp thoáng mấy chàng Hải-Quân lang thang từ câu lạc bộ; chỉ khác một điều là không có một chiếc quân xa nào trong doanh trại Amphibious này.

Trong khi Vinh muốn được yên lặng một mình để chiêm nghiệm câu: “Quand ce n’est pas de ce qui est, je rêve de ce qui a été , de ce qui n’est plus” của Jack London (2thì Tân và Thúy-Quỳnh đếm từng bước chân trần trên bờ cát mịn.

Đi được một khoảng ngắn, Thúy-Quỳnh nhìn những vì sao lấp lánh trên nền trời đêm, nói như mơ:

- Ngày xưa, khi chú là Hạm-Trưởng, trong vài lần cô xuống chiến hạm thăm, chú thường hay nhìn trời và giải thích cho cô về các chòm sao như Tiểu Hùng Tinh, Đại Hùng Tinh, v.v…Bây giờ…già, cô quên rồi.

Tân tròn mắt nhìn Thúy-Quỳnh:

- Cô mà già! Đọc văn của cô Tân thấy tâm hồn của cô rất trẻ trung và cô nghệ sĩ lắm.

- Càng nghệ sĩ càng khổ, Tân ơi!

- Tại sao vậy, cô?

- Theo cô, nghệ sĩ thường có tâm hồn ướt át, bén nhạy, tình cảm lênh láng và sống hơi xa thực tế.

- Tân thấy những điều đó hơi đúng đối với cô.

Bị Tân nói đúng “tim đen”, Thúy-Quỳnh cười:

- Mới gặp sao Tân biết hết vậy?

- Trời! Đọc sách của cô, nói điện thoại với cô thì hiểu cô chứ.

Thúy-Quỳnh dừng bước, nhìn ra khơi, chuyển đề tài:

- Bãi biển này đẹp quá, làm cô nhớ nhà dễ sợ.

- Tân cũng vậy. Mỗi chiều đi qua bãi biển này Tân buồn vì nhớ mấy lần vượt biên.

Thúy-Quỳnh nhìn Tân, phân vân, chưa biết có nên hỏi Tân chi tiết về những lần vượt biên ấy hay không thì Tân tiếp:

- Nhiều khi nhìn biển Tân nhớ Mẹ ghê lắm. Khi hay tin Tân đi lính, Mẹ buồn…

- Làm Mẹ ai cũng vậy cả, Tân à!

- Tân hiểu chứ. Nhưng đôi khi Tân vẫn tự hỏi tại sao mình lại đi lính cho Mỹ?

- Tân đừng nên mặc cảm. Tân nên hiểu rằng người Việt mình có câu: “Ăn cây nào, rào cây nấy.” Đất nước này cưu mang mình, mình phải có bổn phận góp sức bảo vệ đất nước này, đúng không?

- Dạ, Tân hiểu.

- Những người như Tân sẽ xóa bớt ấn tượng bẩn thỉu do nhóm bác sĩ Việt-Nam gian lận Medicare tạo nên. Những người như Tân mới làm mờ đi hình ảnh những người Việt-Nam làm nghề tự do, rồi trốn thuế để hưởng phúc lộc của chính phủ Mỹ như xin foodstamps, housing, Medicaid, v.v…

- Cảm ơn cô đã cho Tân những ý niệm đó.

Tân dừng lại một chốc rồi lắc đầu, tiếp;

- Tân thích Hải-Quân từ ngày Tân còn bé kia. Tiếc một điều là khi Tân lớn thì Hải-Quân mình không còn nữa, cho nên Tân không được là một trong những họ.

Thúy-Quỳnh cười. Tân ngạc nhiên:

- Tại sao cô lại cười?

- Tân muốn nói đúng tiếng Việt không?

- Dạ, muốn chứ.

- Thật ra Tân nói và viết tiếng Việt rất khá; chỉ thỉnh thoảng gặp trở ngại thôi.

- Chẳng hạn?

- Chữ “họ” ở câu cuối cùng rặc Mỹ đó. Tân dịch sát nghĩa mấy chữ “one of them”, phải không?

Tân cười vang:

- Vậy thì phải nói như thế nào, cô?

Sau khi giải thích cho Tân hiểu cách nói của ba miền, Thúy-Quỳnh thân mật nhìn Tân:

- Tân là độc giả số một của cô đó.

- Trời! “Ngon” vậy? Tại sao, cô?

- Trong kiếp sống lưu vong, mỗi ngày những người Việt vào lứa tuổi ham thích đọc sách Việt sẽ chết đi; trong khi đó, có bao nhiêu người thuộc thế hệ của Tân còn tìm tòi đọc sách Việt?

- Tân biết cô nói gì rồi. Ai Tân không biết chứ riêng Tân, nói tiếng Việt, ăn cơm Việt, đọc sách Việt, nghe nhạc Việt…

Thúy-Quýnh nghịch, chen vào:

- Lấy vợ người Việt nữa chứ.

Tân vỗ hai tay vào nhau, nhảy cao lên, reo vui:

- Dĩ nhiên! Không hiểu cô nghĩ sao chứ Tân thấy sống ở đời mà không có lý tưởng, không có mục đích, chỉ biết học, lấy mảnh bằng rồi cưới vợ, sinh con thì chán chết, phải không, cô?

- Đúng.

- A, theo cô, mình yêu tiếng Việt, yêu nước Việt đâu có nghĩa là mình phải chấp nhận tất cả những cái tốt và cái xấu của phong tục và tập quán của  người Việt, phải không, cô?

Thúy-Quỳnh hơi ngẩng ra một giây, không ngờ “anh chàng” này hỏi tới tấp như vậy:

- Tân phỏng vấn cô đó hả?

- Dạ, đâu có. Tân chỉ muốn cô giải thích cho Tân hiểu; vì từ ngày đến Mỹ, cô là người lớn tuổi đầu tiên mà Tân quen.

- Người Mỹ thường nhắc những “good old days” nhưng họ chấp nhận sự thay đổi theo đà tiến hóa của con người, của khoa học và kỹ thuật. Người mình bảo thủ hơn, cái gì xưa cũng cho là đúng, là hay rồi hô hào bảo vệ tất cả phong tục cổ truyền. Ai chọn sự đổi thay thì bị cho là lai căng, vọng ngoại. Theo cô, có những phong tục mình không nên duy trì nữa.

- Tỷ dụ?

- Tỷ dụ như tinh thần “trọng nam khinh nữ”, như “được hào con hơn hào của”. Vì quan niệm như vậy cho nên người xưa thường cầu khẩn để được sinh con trai “nối dòng”. Và người xưa cứ đẻ, để hoài, nuôi không nổi rồi trút tất cả gánh nặng cho người trưởng nam. Tại sao không tạo cho đàn con tinh thần tự lập mà chỉ đặt trách nhiệm và bổn phận lên vai người trai trưởng để cả đàn con nuôi tinh thần ỷ lại?

- Đúng! Tân đồng ý với cô. Tân nghĩ cô nên đưa tư tưởng này vào tác phẩm của cô.

- Có rồi, trong truyện dài Cuồng Lưu.

- All right!

Cứ sau phút vui đùa Tân lại trở nên nghiêm nghị:

- Cô thấy, người mình, dù xưa hay nay, cũng nặng tinh thần ỷ lại. Miền Nam mất cũng vì mình ỷ lại là tụi Mỹ không thể nào bỏ miền Nam Việt-Nam; vì miền Nam là tiền đồn chống Cộng ở Đông Nam Á! Không biết bây giờ những người đó đã sáng mắt chưa?

- Tân cẩn thận. Đụng chạm lắm đó.

- Tân là lính, nghĩ sao nói vậy.

Dõi mắt nhìn ngọn hải đăng, Tân nhíu mày rồi tiếp:

- Cô giải thích cho Tân câu này được không, cô?

- Câu gì?

- “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”.

- Cô không học Hán văn cho nên cô chỉ hiểu đại ý là: Người đàn bà, khi ở nhà, vâng lời Cha; lấy chồng, phục tòng chồng; chồng chết ở với con. Câu cuối cùng còn hàm ý là người đà bà không nên lập gia đình một lần nữa.

- Tân cũng hiểu đại khái như vậy; nhưng theo cô thì sao?

- Cô đồng ý câu đầu, hai câu sau phải xét lại.

- Đúng! Sao cô nói chuyện hợp với Tân ghê.

- Cô nghĩ, lấy phải người chồng hay người vợ thiếu đạo đức, kém giáo dục hoặc tâm hồn hẹp hòi cũng giống như mình mắc bệnh ung thư vậy. Hoặc là mình chấp nhận giải phẫu để sống thêm một thời gian, hoặc là để yên như vậy cho cái chết đến nhanh. Đằng nào thì cũng đau đớn cả!

- Nếu là cô, cô chọn thái độ nào?

- Nếu là cô, cô chọn thái độ dứt khoát để cả hai khỏi phải chịu đựng nhau và con cái khỏi phải suffer, nhưng…

- Nhưng… sao, thưa cô?

- Ở đời có những việc mình muốn lắm mà không thể hoặc chưa thể thực hiện được.

- Tân tưởng muốn là được. Lúc nào Tân cũng nghĩ như vậy cả.

- Tân còn trẻ, hiếu thắng, năng động cho nên Tân nghĩ như vậy. Nhưng theo tuổi đời, Tân sẽ nhận biết rằng không phải bất cứ điều gì mình muốn mình cũng có thể thực hiện được cả.

- Cô có lý. Còn chồng chết ở với con, đừng lập gia đình nữa, cô nghĩ sao?

- Cô nghĩ, lập gia đình một lần nữa hay không là do quyết định của chính người phụ nữ đó. Tình thương của con tuy quý và cần thiết, nhưng hoàn toàn khác hẳn với companionship giữa một người đàn ông và một người đàn bà.

- Nếu Tân là con gái, quan niệm sống của cô sẽ giúp ích cho Tân rất nhiều.

- Như vậy có nghĩa là Tân không đồng ý với cô vì Tân là con trai, phải không?

- Chắc vậy đó, cô.

- Tân đặt sệt…Việt-Nam!

- Cô thấy có sự cảm thông giữa người Việt còn ở lại Việt-Nam và người Việt di tản không, thưa cô?

Tân chuyển đề tài bất ngờ khiến Thúy-Quỳnh hơi lúng túng. Chỉ một thoáng thôi, Thúy-Quỳnh đáp:

- Không!

- Đúng! Nhưng lỗi của bên nào, cô?

- Lỗi của cả hai bên; nhưng phần nặng hơn là do người Việt di tản.

- Có phải vì sự khoe khoang lố bịch, sự láo lếu không biết ngượng và bị mặc cảm dày vò cho nên người di tản đã tạo sự ngộ nhận to lớn trong lòng bà con bên nhà hay không, cô?

- Đúng.

- Mình có thể thay đổi được gì?

- Chịu! Khoe khoang và ỷ lại là hai căn bệnh không thể chữa được của người mình. Điều khôi hài là có nhiều người sang Mỹ sau 75, đã là nạn nhân của sự ngộ nhận đó; nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, họ lại cố tình tạo ra những ý tưởng nhầm lẫn cho bà con còn lại ở bên nhà.

- Còn về thế hệ di tản thứ hai, cô có nghĩ rằng người trẻ mất gốc lắm không?

- Tân muốn nói đến lớp trẻ có văn hóa hay lớp trẻ bụi đời hay lớp trẻ lai thiếu may mắn?

- Lớp trẻ như những người trong gia đình cô và Tân.

- Lớp người đó là sự chắt lọc tinh khiết từ tập thể người Việt tỵ nạn. Theo cô, họ có nhiều cái hay lắm. Lúc đầu, tuy hơi lấn cấn trước sự va chạm giữa hai nền văn hóa, nhưng họ thích nghi trong một giai đoạn kỷ lục. Họ hấp thụ những cái hay trong môi trường họ đang sống. Họ mạnh dạn nói lên những gì họ nghĩ và họ thẳng thắn không chấp nhận những gì không thực tế, không hợp thời của nên giáo dục nệ cổ.

- Cảm ơn cô đã nghĩ như vậy. Nhiều người, mỗi khi nói chuyện với người trẻ thường hay chê bai, chỉ trích dạy đời không hà!

- Cô nghĩ, giới trẻ, mình phải gần họ, phải hiểu họ thì khoảng cách giữa hai thế hệ mới không bị xoi mòn thêm.

Tân im lặng, gật gù như “ông cụ non”.  Chỉ một chốc thôi, Tân đề nghị:

- Bây giờ mình trở về phá chú chơi.

- Phá bằng cách nào?

- Mình đàn, hát, không cho chú ngủ. Vậy là phá rồi.

- Tân chơi nhạc cụ gì?

- Dạ, Tây Ban Cầm. Còn cô?

- Làm thế nào Tân biết cô chơi nhạc?

- Trời ơi! Một nhà văn không biết nhạc không thể đưa những chi tiết về âm nhạc vào tác phẩm như cô đâu.

Thúy-Quỳnh cười. Tân tiếp:

- Cô không thích nhạc Rock chứ?

- Rock nhè nhẹ như Rock and Roll Come True thì cô thích; còn Rock như Big City Night hoặc Rock Like Hurricane hoặc Thriller, Beat It thì cô chịu thua.

Hai người ra đến đường nhựa, nhìn hai đầu đường để tránh xe. Tân vượt nhanh qua bên kia đường. Quay lui, thấy Thúy-Quỳnh còn đứng lại, Tân đưa tay vẫy vẫy:

- Come on, cô.

Thúy-Quỳnh thong thả bước sang, nét mặt tự nhiên trầm hẳn xuống. Tân tò mò:

- Sao tư nhiên trông cô buồn vậy? Đi bộ nhiều, cô mệt, phải không?

- Không. Tại vì cử chỉ của Tân làm cô nhớ cậu con út của cô. Cậu ta đang theo học tại viện âm nhạc Musicians Institute ở Hollywood. Anh chàng cao lớn, nhưng ngây thơ lắm. Mỗi khi băng qua đường với cô, anh chàng cũng ngoắc tay giống Tân vậy. Khi cô sang đến nơi, anh chàng bẹo má cô và nói tiếng Việt “ba rọi”: “My mommy is so… dễ thương!”

Tân quay nhìn ra xa, giọng buồn buồn:

- Oh! I miss my mommy!

Thúy-Quỳnh muốn an ủi Tân, nhưng nghĩ hoài không tìm được lời nào thích hợp, đành im lặng đi bên Tân.

Về đến phòng, sau khi chơi với Vinh vài ván cờ tướng, Tân chụp Guitar và đề nghị:

- Hát đi, cô.

- Ai đàn mà hát?

- Dạ, Tân. Tân vừa đàn vừa chơi cờ được mà.

Thúy-Quỳnh thầm nghĩ: Lại một anh chàng Hải-Quân lãng mạn và đa tình nữa đây!

Tân vừa đệm đàn vừa ư hử theo dòng nhạc, mắt vừa chăm chú nhìn vào bàn cờ theo dõi “nước” cờ của Vinh.

Riêng Vinh, cả một thời tuổi trẻ, cả một vùng kỷ niệm, cả một trời thương nhớ đang bị ngoại cảnh và nhân dáng của Tân khuấy động trong lòng cho nên Vinh chẳng suy nghĩ được gì cả! Thua Tân liên tiếp hai bàn, Vinh chán nản đứng lên:

- Thôi, cô cháu đàn ca, hát hò gì thì hát hò; chú vào phòng, nghỉ.

Sau khi Vinh đóng cửa phòng, Tân vừa đẩy tập nhạc vừa nói:

- Tập nhạc đây, cô.

Vừa lật từng trang để tìm những nhạc khúc nàng thích, Thúy-Quỳnh vừa hỏi:

-Dường như giây đàn lên không đúng diapason (âm thanh biểu), phải không, Tân?

Tân tròn mắt ngạc nhiên:

- Làm thế nào cô nhận biết được?

- Tai của cô đã quen với âm nhạc từ ngày cô còn bé lận, Tân à!

Thấy Thúy-Quỳnh lật đến nhạc khúc Rồi Mai Tôi Đưa Em của Trường Sa, Tân nhắc:

- Dường như cô có đề cập đến nhạc phẩm này trong một truyện ngắn, phải không, cô?

- Không nhớ. Tân biết nhạc phẩm này Trường Sa sáng tác vào thời điểm nào hay không?

- Dạ, thời gian đó Tân còn bé xíu, làm sao biết được.

- Trường Sa sáng tác ca khúc này khi anh ấy chỉ huy một đơn vị Tuần Thám tại Mộc Hóa.

- Tại sao cô biết?

- Biết chứ. Lúc đó chú là chỉ huy trưởng Liên Đoàn 5 Tuần Thám và Trường Sa chỉ huy một trong mấy Giang Đoàn đó.

Tân đột ngột ngưng đàn, reo lên:

- Trường Sa là Hải-Quân mình hả, cô? All right! Hải-Quân mình số dách!

Tân và Thúy-Quỳnh hát nghêu ngao được vài bài, đến ca khúc Nhớ Nha-Trang của Minh-Kỳ, tiếng đàn của Tân trở nên dìu dặt, thiết tha như lời sóng thì thầm với cát ngoài bãi Coronado. Đến đoạn giữa, Thúy-Quỳnh vào lỗi nhịp, Tân vội “rải” một tràng hợp âm rời (accord plaque) kịp thời “lấp” nhịp sai. Thúy-Quỳnh nhìn Tân, vừa hát vừa cười như nhận lỗi. Đến hai chữ  cuối cùng trong câu “…để cô gái xuân ngây nhìn thương mến…đầy vơi!” Thúy-Quỳnh hơi chậm lại và nàng không hát đúng theo âm chủ (tonique) mà lại hát note ngũ trình (quinte) của nhạc khúc được viết âm giai Ré Trưởng.

Dứt bản nhạc, Tân đột ngột than:

- Buồn quá!

Cũng cảm thấy buồn khi nghĩ đến cảnh cô đơn của Tân giữa những người khác chủng tộc trên Hàng Không Mẫu Hạm và sự nguy khốn mà Hàng Không Mẫu Hạm đó sẽ phải trực diện, nhưng Thúy-Quỳnh phải an ủi Tân:

- Ba năm sẽ qua nhanh lắm. Vả lại, mỗi năm Tân được đi phép, trở về Mỹ mà.

- Năm đầu tiên có thể không được đi phép. Mỹ nó huấn luyện sĩ quan nghiêm khắc lắm, cô ơi! Lúc nào sĩ quan cũng phải đặt quyền lợi của thuộc cấp lên trên quyền lợi của mình.

- Cô biết.

Như không muốn khơi dậy nỗi buồn đang chỉu nặng trong hồn, Tân chuyển đề tài:

- Cô có làm thơ không, cô?

- Không. Tân thích thơ lắm, phải không?

Tân phát  ra âm thanh giữa hai chữ “a” và “ê” rồi đưa tay mặt lắc lắc. Thúy-Quỳnh cười:

- Tân thích thơ tiếng Việt  hay thơ tiếng Anh?

- Tân thì cô biết rồi; cái gì cũng chỉ Việt-Nam thôi.

- Thơ tiếng Anh cũng có cái hay của nó.

- Thỉnh thoảng Tân có đọc vài bài, nhưng sự cảm nhận trong Tân rất ít.

- Cô sẽ đọc một bài thơ tiếng Anh xem Tân nghĩ sao, nha.

Tân chưa kịp đáp, Thúy-Quỳnh đã cười dòn, đùa:

-Thơ tiếng Anh mà cô đọc lên thì tội nghiệp cái tai của Tân quá! Thôi, đưa giấy bút, cô viết cho.

Bên chiếc bàn nhỏ, Tân chăm chú theo từng nét chữ của Thúy-Quỳnh:

AN EMPTY REFLECTION

As I stared into the mirror each morning,
I saw a reflection of a girl you once loved.
And asked her: Why do you love him so much?
Searching for an answer, tears rolled down her face.
She looked at me but no words were spoken.
Only then did I realize she was lost as I was!
Wiping her tears, I said love should not hurt so.
She gently smiled, but there was sadness in her eyes.
Though our eyes met, her thoughts were far away.
I reached out for her and found nothing but emptiness!
Suddenly I felt cold anh lonely!
Day after day, she has yet to answer my question.
And I have yet to know what it is like to be loved!

Tân ngạc nhiên:

- Của ai vậy, cô? Người Mỹ hay Việt?

- Của Hồ Nguyễn Xuân Hương, một người thuộc thế hệ của Tân. Cô nàng này nhận được hai giải Golden Poet Trophies…

Thúy-Quỳnh vừa nói ngang đó, vội ngưng, vì Vinh vừa hé cửa, bảo:

- Thôi, khuya rồi, đi ngủ cho Tân ngủ; mai còn dậy sớm dự lễ.

*      *
*
Từ cao ốc sĩ quan độc thân đi sang phòng hành lễ Jones Hall với Tân và Vinh, Thúy-Quỳnh cảm thấy buồn buồn; vì hình ảnh của Tân trong quân phục đại lễ gợi lại trong hồn nàng nhân dáng của Vinh vào những dịp lễ theo truyền thống Hải-Quân. Nhưng khi thấy khuôn mặt rạng rỡ của Tân điểm nụ cười vô tư, không thể nào Thúy-Quỳnh không liên tưởng đến khuôn mặt tươi thắm, xinh đẹp của các con trong những buổi lễ ra trường tại Rice University, University of Houston và Musicians Intitute tại Hollywood, California.

Ba người đi chầm chậm trên lối đi bằng xi-măng, vòng theo thảm cỏ non. Từ nhiều nẽo trong doanh trại, những khóa sinh trong quân phục đại lễ, các sĩ quan huấn luyện trong quân phục tiểu lễ, đang tiến đến địa điểm hành lễ. Vừa đi Tân vừa kể tiểu sử của Hải-Quân Thiếu Úy Herbert C. Jones mà Hải-Quân Hoa-Kỳ đã dùng tên của Ông đặt cho Trung Tâm cử hành những buổi lễ mãn khóa tu nghiệp.

Năm 1941, Hải-Quân Thiếu Úy Herbert C. Jones phục vụ trên chiến hạm USS Caliafornia BB-44, thuộc Pacific Fleet của Hoa-Kỳ. Ngày 7 tháng 12 năm 1941 phi cơ Nhật bất ngờ tấn công hải cảng Pearl Harbor. Chiến hạm USS California bị phi cơ Nhật oanh kích nặng nề. Mặc dù bị thương nặng, Thiếu Úy Jones vẫn bình tĩnh, can đảm và liều lĩnh tản thương tất cả nạn nhân trên chiến hạm. Cuối cùng, Thiếu Úy Jones đã anh dũng ở lại chiến hạm và chết theo tàu!

Vào đến Jones Hall, thấy ảnh của Hải-Quân Thiếu Úy  Herbert C. Jones trong quân phục đại lễ, cầm kiếm, được phóng lớn trên nền cờ Mỹ, treo trên tường, Thúy-Quỳnh chợt nghĩ đến cố Hải-Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn, người đã tuẩn tiết trên sông Vàm Cỏ Tây vào khuya 1 tháng 5 năm 1975 khi miền Nam Việt-Nam thất thủ!

Nhìn quanh tòa nhà, Thúy-Quỳnh nhận thấy lối kiến trúc của Jones Hall thật cầu kỳ. Chung quanh cao ốc là phòng học, phòng thí nghiệm, phòng huấn luyện, phòng thực tập (Simulator), v.v…Ở giữa là khoảng trống lộ thiên, rất lớn, hình chữ V. Buổi lễ ra trường của khóa sinh thuộc Surface Warfare Officers School Pacific được tổ chức tại đây.

Khi tất cả khóa sinh theo nhau, tuần tự, bước vào những hàng ghế ngay trước khan đài, Thúy-Quỳnh cảm thấy rưng rức trong hồn. Nếu tất cả khóa sinh cùng quỳ xuống, đưa cao tay thề trung thành với Tổ Quốc và trên không vài chiếc máy bay thả khói màu thì quang cảnh này có khác chi những buổi lễ mãn khóa tại Trung Tâm Huấn Luyện Hải-Quân Nha Trang dạo nào!

Lúc tất cả khóa sinh sắp hàng để được gọi tên lên nhận văn bằng từ Đô Đốc Conrad C. Lautenbacher Jr., Thúy-Quỳnh thấy Tân như lạc lõng bên những khóa sinh người Mỹ, hồn nàng chĩu nặng xót xa.

Trước khi vào dùng tiệc trà ở phòng bên cạnh, Vinh đến bắt tay, chúc mừng Tân với nụ cười vui nhưng ánh mắt lại chan chứa u hoài!

- Chú chúc mừng Tân.

- Cảm ơn chú. Chú thấy buổi lễ như thế nào?

- Đơn sơ nhưng đẹp và ý nghĩa vô cùng. Lời hiếu thị của ông Đô Đốc rất hàm xúc và cảm động.

Vừa cùng Tân tiến về Thúy-Quỳnh Vinh vừa nói:

- Cô có chụp cho Tân nhiều ảnh lắm.

- Dạ, Tân có thấy.

Vừa bắt tay Tân, Thúy-Quỳnh vừa nói những lời cầu chúc tốt đẹp nhất cho một chuyến ra khơi. Tân cười.

- Vui không, cô?

- Vui lắm. Cô cảm ơn "Người Đem Sông Nước Trở Về”.


ĐIỆP MỸ LINH

(1) Danh từ của Hải Quân, có nghĩa là biển rất êm.
(2) Tạm dịch: “Khi thực tại không phải thế, tôi mơ cái đã thế, cái không còn nữa!”

Blog Archive