Friday, March 2, 2018

Những ngày Mậu Thân

Nguyên Hạnh 

Tết Mậu Thân 1968, một cái Tết mà Việt Cộng tràn về quá bất ngờ, tôi không thể tin rằng đó là sự thật.

Mồng Một Tết vẫn ăn Tết sắm sửa bình thường. Nhà tôi ở lầu 2 trường Đồng Khánh vì tôi làm giám học tại trường này, bên hông là Tòa Hành Chánh và Lao Xá Thừa Thiên – nơi giam giữ nhiều tù binh Việt Cộng. Cả ngày vẫn tấp nập bà con tới lui thắm viếng, chiều lại còn có con của các nhân viên trong trường đến thăm chuyện trò hàn huyên vui như ngày hội. Tối đến cả nhà còn bàn nhau nên đi ngủ sớm để ngày mai xuống phi trường đón gia đình người anh chồng về Huế ăn Tết.

Trong sân trường có một nhà chơi (préau) rất rộng, đêm đó tôi nghe vang cả tiếng hát hò, cứ nghĩ rằng năm nào cũng vậy, lính đóng quân ở đây để bảo vệ an ninh cho thành phố trong dịp Tết, có ngờ đâu Việt Cộng đã tràn về chiếm đóng đầy cả ngôi trường rồi.

Sáng mồng 2, riêng mình tôi dậy sớm lo nấu nước pha trà để cúng Ông Bà. Vừa xuống bếp mở một cánh cửa sổ thì một viên đạn bay vèo xuyên thủng cánh cửa còn lại – giàn bếp này đối diện với Lao Xá Thừa Thiên, khiếp đảm quá, tôi chạy vào lùa 3 đứa con cùng bà vú vào trốn hết trong phòng ngủ của chúng tôi. 

Tiếng súng đã bắt đầu nổ dồn, đằng sau các dãy nhà phía tầng trệt nổi lên những tiếng khóc càng ngày càng lớn dần, thì ra đó là nhà của chị Bạch Mai, một nhân viên của trường. Một viên đạn khác xuyên thủng cánh cửa lớn phòng ngủ rơi ngay trên nóc mùng, vậy là cả nhà đành chun vào cái giá gỗ dài treo quần áo rồi lấy nệm phủ lên làm hầm trú ẩn. Nghe tiếng súng nhưng lòng vẫn còn hoang mang, chưa biết sự thể như thế nào, tôi bèn hé mở cánh cửa sổ nhìn xuống sân trường, trời ơi! Tưởng chừng như đất trời sụp đổ, ước gì đất dưới chân tôi cũng sụp luôn có lẽ còn đỡ khổ tâm hơn khi nhìn thấy lính đi toàn dép râu, mang băng tay đỏ với mũ tai bèo! Quá khiếp đảm, không bao giờ tôi có thể nghĩ rằng Việt Cộng đã ở sát ngay bên lưng mình! Thế là từ đó, chúng tôi trốn kín ở trong phòng, không dám cử động mạnh, cứ sợ bên ngoài Việt Cộng nhận biết chúng tôi đang ở trong này thì nguy.

Súng vẫn nổ ran, tôi nghe có tiếng sột soạt ở dưới bếp và ngoài hành lang, rón rén bò ra nhìn qua ổ khóa, trời ơi, chúng đang chiên bánh phồng tôm và vì không biết cách chiên nên bánh bị cháy đen cả. Còn ngoài hành lang, một số khác đang ngồi trên cái đu mà ăn mía. Nhà nào Tết cũng dự trữ quá đầy đủ thức ăn nên tha hồ cho chúng vơ vét. Không thể tưởng tượng được chúng tôi đang ở cách Việt Cộng có một bức tường lâu lâu phải rón rén bò ra tủ lạnh lấy thức ăn vào vì 3 đứa con tôi còn nhỏ quá (8 tuổi, 5 tuổi và đứa bé gái mới 3 tháng). Hai đứa lớn lại bị lên ban đỏ, sốt hừng hực, đứa bé gái đói qua khóc vang lên, đành phải bò ra phòng khách lấy nước trong hồ cá để pha sữa. Chúng tôi sống cách biệt với bên ngoài như vậy cho đến ngày thứ tư, ba ngày dài đằng đẳng trôi qua trong kinh hoàng trong khi đạn vẫn nổ đều.

Sáng ngày thứ tư, chúng phá cửa, chĩa súng vào phòng khách sau khi vượt qua được phòng ngủ của các con tôi. Chúng la lớn “Ai còn ở trong nhà phải ra trình diện, nếu không sẽ ném lựu đạn vào”. Nghe vậy, tôi sợ quá vội bế đứa bé gái chạy ra. Nhìn qua khe cửa, thấy cả một họng súng đen ngòm, tôi lật đật rút chốt cửa, chúng hỏi to lên: Còn ai ở trong nhà nữa không? Tôi phải khai còn chồng con tôi nữa, nghĩ rằng lúc đó nếu chồng tôi chui xuống gầm giường để trốn thì phiền. Chúng quát tháo nạt nộ om sòm, tôi phải giải thích rằng đạn bắn dữ quá không dám ra vì sợ lạc đạn, mà thật thế hai bên đang bắn nhau không ngừng nghỉ. 

Việt Cộng đóng quân bên này, bên kia Tòa Hành Chánh và Lao Xá Thừa Thiên vẫn còn quân đội của chúng ta trú đóng. Chúng lao vào, các con tôi sợ quá khóc vang lên. Chúng tôi bị đuổi ra khỏi nhà còn chồng tôi bị giữ lại. Tôi viện cớ đạn bắn rát quá chưa dám xuống sân vì chúng đuổi chúng tôi qua dãy nhà trệt phía gần trường Quốc Học. Tôi muốn xem thử chúng đối xử với chồng tôi như thế nào? Về phần chồng tôi thì nghĩ rằng sẽ bị chúng bắt đi nên đã ăn mặc đầy đủ với áo lạnh, nón, áo mưa, thẻ căn cước và một ít thuốc trụ sinh. Tôi chỉ kịp xin cho tôi được mang theo một bình sữa và một cái bình thủy (thermos). Cả mấy mẹ con cùng bà vú len theo dãy hành lang mà đi xuống lầu, băng qua cả cái sân trường rất rộng trong khi đạn vẫn bay vèo vèo trên đầu, chỉ biết cúi khom người mà chạy. Qua đến nơi đã thấy đầy đủ các gia đình hiệu trưởng và nhân viên cùng lao công, chúng tôi đã ôm nhau khóc nức nở và lo cho số phận các ông bị chúng giữ lại. Chúng tôi rủ nhau vào chung một phòng, không ngờ ở đó đã có sẵn một số nhân viên của Tòa Hành Chánh bị chúng bắt, nhìn mặt nhau mà đâu có nói được lời nào! Có một nữ cảnh sát mới sinh xong đã dầm mình dưới nước trốn từ hôm qua cũng bị chúng trói cả hai tay, thấy mà đau lòng quá.

Sau đó các ông được thả về, ai nấy đều mừng rỡ đến chảy nước mắt; thì ra chúng bắt các ông đi trước dẫn đường, đến tất cả các phòng học còn lại để kêu gọi mọi người phải ra trình diện hết. Cũng may nhà bác Tỵ lao công ở gần đó nên bác đã nấu cơm cho chúng tôi ăn; không điện, không nước, bác phải xuống sông lấy nước thật là nguy hiểm, chúng tôi mang ơn bác vô cùng.

Đêm đến chúng tôi bị cô lập, một tên Việt Cộng mang súng và lưu đạn ngủ trên một cái bàn chắn ngang cửa ra vào. Tôi sợ quá, suốt đêm không chợp mắt được, một phần hoang mang cho số phận, không biết rồi đây chúng sẽ đối xử với chúng tôi như thế nào, một phần cứ sợ lỡ nó ngủ quên rớt lăn xuống đất rồi trái lựu đạn phát nổ thì sao?! Đã vậy, một anh nhân viên Tòa Hành Chánh kêu than đói quá, không đành lòng, tôi bò rón rén đem đến cho anh một ít cơm, vậy mà sáng ra tôi bị nó phê bình và dọa nạt om sòm. Đến chiều tất cả các nhân viên đó đều bị dẫn đi hết mà không biết chúng đem đi đâu?

Chúng tôi bèn kê các bàn học sinh lại làm hầm trú ẩn, chờ khi bớt tiếng súng chạy về nhà lấy mấy tấm nệm phủ lên. Mới ra khỏi nhà có một ngày mà nhà tôi bị lục lọi tan hoang, một quang cảnh điêu tàn quá đau lòng! Tôi ra đi không lấy được một đồng xu, khi chúng vào chỉ biết chĩa súng la hét, đuổi ra ngay; sau đó chúng đã lục soát và lấy sạch hết. Thế là tôi đã trắng tay khi 32 tuổi với 3 đứa con còn quá nhỏ dại.

Chiều lại, nhìn ra sân lại thấy các nữ tù nhân Việt Cộng bị giam giữ ở Lao Xá Thừa Thiên được giải thoát ra, mặc áo quần và mang giày dép của chúng tôi, đùa giỡn như ngày hội.

Trời xứ Huế vào dịp Tết lạnh cắt da, vừa lạnh vừa đói, cả một bầu trời âm u buồn thảm không thể tưởng được! Súng vẫn nổ liên hồi, quân đội Mỹ đóng ở căn cứ Phú Bài lại bắn Canon lên nữa, do đó càng ngày Việt Cộng càng đào nhiều hầm để cố thủ ngay trong sân trường, thấy vậy chúng tôi càng khiếp sợ hơn. Máy bay thám thính của Mỹ lại thả bom Sulfure xuống các hầm này, mỗi lần như vậy hơi S bay vào phòng, khói mù mịt. Chúng tôi bị ngạt thở tưởng chừng như chết đi được, phải lấy khăn tay nhúng vào nước bịt ngay vào mũi mới thở được thôi, có lần tôi tưởng đứa con gái nằm trong tay tôi chết lịm đi vì ngộp. Đêm đến thật khủng khiếp, điện bị cắt đứt hết, nhìn ra ngoài sân tối đen như mực; chúng tôi bị mất hẳn liên lạc với thế giới bên ngoài. 

Có một điều là ban ngày Việt Cộng làm bộ can đảm, cứ đưa súng lên trời bắn lại máy bay nhưng đêm đến chúng tải thương rần rần ngoài hành lang, vừa hối thúc nhau vừa chửi thề luôn miệng. Xác chết của đồng đội đã đem chôn vội vã sau sân vận động của trường, có xác còn đưa chân ra ngoài mặt đất.

Chúng tôi cứ phải sống dưới làn bom đạn như vậy, suốt ngày đêm tiếng súng không ngừng nghỉ, phần thì đạn pháo từ Phú Bài đưa lên, phần thì tàu chiến của quân đội tiến dần lên từ ngoài sông bắn vào, tâm tư chúng tôi rối bời! Đã vậy chiếc nệm nhỏ phủ quanh đứa con gái 3 tháng bị bốc cháy vì mảnh bom S, may mà tôi kịp thấy nếu không thì tình trạng càng bi thảm đến chừng nào!

Phải nhìn nhận và ghi ơn bác Tỵ, nếu không có bác thì cả 3 gia đình chúng tôi (gia đình bà hiệu trưởng và bà Bửu Tiếp – giáo sư nữ công của trường) đành chịu đói khát. Bác đã không quản ngại gian nguy, cứ lặn lội xuống sông mà lấy nước. Bà Vú nhà tôi vừa mới xuống sông rửa chén bát đã bị một viên đạn không biết từ đâu bay vào đến đâm thủng cái soong luôn, từ đó không dám bén mảng xuống sông nữa.

Chúng tôi sống trong trận địa như vậy cho đến ngày thứ 7, đến chiều đạn nổ càng ác liệt hơn nữa. Suốt 7 ngày tôi chỉ biết cầu nguyện đức Quan Thế Âm, bám víu vào đức tin để tự an ủi mình và tôi tin tưởng rằng Ngài Quan Âm lúc nào cũng sẵn sàng đáp ứng tiếng gọi lời xin. Ai đã ở vào tình trạng chờ chết như chúng tôi mới thông cảm được nỗi lo sợ khiếp đảm của chúng tôi như thế nào?

Đạn cà nông từ Phú Bài bắn lên như mưa, Việt Cộng không chịu nổi hỏa lực này nên phải làm kế nghi binh cho đồng bọn rút lui. Bọn lính Việt Cộng phần đông mặt mày non choẹt, ốm o xanh xao trông thảm hại quá, đã vậy chúng mặc toàn những bộ đồ lính rộng thùng thình. Họ để một tên lính hy sinh ở lại đứng ở góc trường cứ bắn chỉ thiên lên trên, gần chỗ ẩn núp của chúng tôi mới khiếp chứ! Nó cứ bắn từng loạt như vậy để quân đội mình trên trực thăng chỉ nhắm hướng này mà bắn trả trong khi đồng bọn chúng rút dần qua trường Quốc Học bên cạnh.

5 giờ chiều ngưng hẳn tiếng súng, một sự im lặng quá bất ngờ và rùng rợn; tuy nhiên chúng tôi đã vui mừng không thể tưởng được vì biết mình đã thoát chết! Chúng tôi ùa ra khỏi hầm, nhìn ra sân trường thật là một cảnh đìu hiu chưa từng thấy, bầu trời âm u không một bóng người, cây cối bị gãy nằm ngổn ngang. Tên lính Việt Cộng ban nãy không thấy nữa, chỉ còn cái túi xách vứt giữa sân thôi. Phòng bên cạnh cũng đã nghe tiếng nói xôn xao, sau đó họ mừng rỡ chạy sang phòng chúng tôi, tay bắt mặt mừng. Đó là gia đình các nhân viên Tòa Hành Chánh, gặp nhau mừng đến chảy nước mắt, lục cơm nguội cho nhau ăn. Tội nghiệp cho bác gác-dan của Tòa Hành Chánh, gặp chúng tôi bác vừa mừng vừa cho hay là muốn chạy sang đây ở gần chúng tôi để khi quân đội Mỹ đến, có chúng tôi làm thông dịch giùm, chứ không sẽ bị hiểu lầm là Việt Cộng thì nguy. Ăn qua loa một ít cơm nguội rồi mọi người đều lo trở về dọn dẹp vệ sinh hầm trú ẩn của mình; ai ngờ một tiếng nổ long trời lở đất ngay trên đầu chúng tôi, cây đèn néon trên trần nhà và vôi đổ sạt xuống từng mảng lớn tối tăm mù mịt! Chúng tôi chỉ kịp gọi tên nhau xem thử ai còn ai mất, khiếp đảm quá, thì ra một quả đạn Canon từ Phú Bài bắn đuổi theo tụi Việt Cộng đã bay vào cửa sổ trên lầu và nổ ngay trên đầu chúng tôi; may mà có trần nhà chống đỡ, nếu không thì tất cả đã tan xác hết rồi. Đồng thời một tiếng nổ kinh hồn cũng đã nổ ngay ở phòng bên cạnh, một lát sau khi ngưng tiếng súng, tôi bò sang xem thử sự tình ra sao. Trời ơi! một cảnh tượng hãi hùng mà mới nhìn thấy tôi đã oà ra khóc nức nở: cả gia đình bác gác-dan chết hết, đứa con nhỏ đang còn bú bên mẹ, những người còn lại quá kinh hoàng nên sau đó đã kéo nhau ra đi mà không biết đi đâu?

Thấy tình hình như vậy, cả 3 gia đình chúng tôi hoang mang đến tột độ, không biết bây giờ mình phải làm gì? đi hay ở? mà đi thì đi đâu? Có người sợ quá đòi rút về nhà cũ, tức là dãy lầu phía bên kia nhưng tôi đã không đồng ý, thà ở lại đây với hy vọng chờ Mỹ và quân đội đến giải cứu chứ biết lối nào an toàn hơn nữa mà đi, mìn đã giăng đầy khắp lối! Cuối cùng mọi người đều đồng ý chui vào hầm trở lại, thắp đèn cầy lên ngồi chờ và cầu nguyện. Xung quanh vắng lặng im phăng phắc đến rợn người, khi súng nổ liên hồi cũng quá khiếp đảm vì thấy cái chết đã gần kề nhưng khi im tiếng súng rồi cả một sự im lặng bao trùm đến ngạt thở, không một bóng người qua lại ngoài sân. Chúng tôi không khác gì khi lạc tới một hoang đảo, đứt hẳn liên lạc với mọi người, không biết bà con thân thiết của mình giờ ra sao? tâm tư rối bời! 

Tưởng rằng bấy giờ đã tạm yên thân, đầu óc bớt căng thẳng, không ngờ đúng một giờ sau Canon từ Phú Bài bắn lên tiếp tục, cứ cách 5 phút nghe một tiếng nổ. Nguy quá rồi, Mỹ đang bắn đuổi theo Việt Cộng qua ngả trường Quốc Học mà phòng chúng tôi đang ở chỉ cách một con đường nhỏ nên tiếng nổ nghe càng kinh hồn, tưởng chừng như lồng ngực muốn vỡ tung ra! Cứ mỗi lần nổ, đèn cầy lại phụt tắt, tiếng dội điếng cả tai, đau nhói cả tim! Cứ vậy mà chúng tôi phải chịu đựng suốt đêm, nỗi khiếp đảm không làm sao diễn tả hết được; lúc đó tôi chỉ còn một ước nguyện rằng nếu có chết thì xin cho chết hết cả nhà, chứ đừng để kẻ sống người chết đau lòng lắm! Suốt đêm chúng tôi chỉ biết cầu nguyện cho đỡ sợ, thời gian nặng nề trôi qua quá chậm chạp, không lẽ chúng tôi đã bị bỏ quên ở đây rồi hay sao ?

Khoảng 5 giờ sáng bỗng im bặt tiếng súng, thật như trút được gánh nặng ngàn cân đã đè lên tim, tự nhiên tôi lại mang một niềm hy vọng rằng xe tăng của Quân đội và của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ sẽ đến. Thoát chết, mọi người mừng quá, chuyện trò huyên thuyên, tôi yêu cầu tất cả nên im lặng để lắng nghe, hy vọng sẽ tìm được một lối thoát chứ không lẽ cứ ngồi đây mà chịu đói khát hay sao? Đúng như tôi tiên đoán, một lát sau có tiếng xe đang di chuyển thật; lúc đầu cứ ngỡ rằng mình quá mong ước nên đâm ra giàu tưởng tượng như vậy, không ngờ tiếng động cơ càng rõ dần. Tất cả đều ngồi im phăng phắc mà đợi chờ, bỗng dưng tôi nghe có tiếng gọi: "Cô ơi! Cô đâu rồi ?“. Trời ơi! Tôi lên tiếng trả lời, tất cả chạy ùa ra, một đoàn người đang đi tới, dẫn đầu là con của một nhân viên trong trường, đi sau là Thiếu tá Tố, Chỉ huy trưởng Tiểu Khu Thừa Thiên, và Thủy Quân Lục Chiến US; họ đã vào trường để giải thoát chúng tôi. 

Cả tôi và Thiếu tá Tố (hiện ở Nam Cali) đã ôm chầm lấy nhau mà khóc, tôi khóc như nước vỡ bờ, còn Thiếu tá Tố cũng vừa khóc vừa kể là đã đứt liên lạc với gia đình cả tuần nay. Thiếu tá còn cho hay khi thấy Việt Cộng đào quá nhiều hầm ở trong trường – do máy bay thám thính của Mỹ mà biết được – Mỹ đòi phải dội bom san bằng luôn nhưng Thiếu Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Vùng, đã khuyên nên cố gắng đánh chiếm lần lần, chứ nỡ lòng nào hy sinh hết chúng tôi hay sao? Thật là số mạng của chúng tôi còn lớn lắm, cái chết kề bên mà vẫn còn tránh được !

Thật cảm động khi vào đến trường, gặp ngay gia đình một nhân viên, thiếu tá đã hỏi thăm và đi tìm tôi ngay. Sau đó chúng tôi đã chạy khắp trường, kêu gọi nhau ra tập trung lại; theo lời chỉ dẫn của thiếu tá, tất cả đi lần xuống Trung Tâm Cạm Cư là trường Trung Học Kiểu Mẫu ở gần cầu Trường Tiền. Thời gian đó coi như phía bên này cầu đã tạm yên, Việt Cộng rút lần về trên núi nhưng bên kia sông hai bên vẫn còn đánh nhau nên dễ bị lạc đạn lắm! Đau đớn nhất là có người đã được giải thoát như chúng tôi nhưng chỉ vì đứng chờ tập trung mà cũng bị trúng đạn chết.

Trời mưa và lạnh như cắt vào dịp Tết, chúng tôi như một đoàn tàn binh thất thểu ra đi, trong tay không có gì! Dọc đường tôi phải lượm hai cái nón cối của hai tên Việt Cộng đã chết mà đội cho hai đứa con trai, chúng bị lên sởi mà chưa khỏi, còn đứa bé gái tôi bế trên tay với một cái chăn mỏng ủ lên mình. Xuống đến trường Kiểu Mẫu một quang cảnh điêu tàn của chiến tranh hiện ra trước mắt, trông ai cũng tang thương rách nát tả tơi! Tôi chỉ thường đọc trong sách báo, cũng chỉ mường tượng thế nào là hậu quả của chiến tranh nhưng giờ đây đúng là một bức tranh sống động của địa ngục trần gian, người nào cũng hốc hác xanh xao, thấy nhau chỉ biết khóc vì mừng là đã còn sống sót !

Chúng tôi đến chậm hơn nên các tầng dưới đã hết chỗ, chỉ còn lại trên tầng 3 mà càng lên cao càng sợ bị pháo kích. Bảy ngày đêm đã ở trong bãi chiến trường không ngưng tiếng súng nên bây giờ lại càng sợ chết quá đi rồi, nhưng sợ thì sợ cũng đành chui vào thôi. Gọi là „chui“ vì vào dịp Tết trường đóng cửa hết, làm gì có chìa khóa mà mở nên đành phải phá cửa đủ một lỗ hỏng để chui vào. Nếu bị pháo kích hay trường bị cháy thì cũng đành đạp nhau mà chết vì chen nhau qua lỗ hổng này. Trời lạnh như vậy mà phải ngủ giữa nền xi-măng, mỗi người được phát đồ hộp và một tấm drap bằng giấy mỏng manh.

Mới ở được một ngày thì kho đạn bên cạnh trường bốc cháy, lại chịu đựng thêm một nỗi khiếp đảm kinh hồn, dù chui ra từng người một nhưng cũng phải chui mà chạy, chứ không có đủ can đảm ngồi chờ chết được! Thế là chúng tôi lại chạy về Đập Đá, lang thang một ngày vừa mệt vừa đói lả, cuối cùng đành ngồi dưới các gốc cây chờ ngọn lửa tắt, tiếng nổ dịu dần rồi mới lần mò về trở lại.

Suốt ngày ngồi bó gối vọng qua sông, không biết cha mẹ anh em đang ở phương nào, bây giờ ra sao, ai ngờ gia đình Ba tôi ở gần hồ Tịnh Tâm nên rất yên ổn. Đêm đến không lúc nào ngủ được, đạn trọng pháo vẫn bay vèo vèo ngang đầu, mỗi lần nghe tiếng đạn réo cứ sợ không biết sẽ rơi trúng đầu lúc nào, do đó cứ chui vào tấm drap giấy dù vừa mỏng manh vừa khôi hài như vậy nhưng lòng vẫn thấy yên ổn hơn !

Trời bắt đầu có nắng, không khí bệnh tật đã bao trùm cả khu tạm cư, xác chết chôn gần các giếng nước, chôn vội vã trong sân trường, càng ở lâu càng sợ bệnh dịch sẽ hoành hành! Cái chết đến với kiếp người sao dễ dàng quá, buồn buồn xuống sân nhìn vu vơ qua bên kia sông cũng dễ bị lạc đạn, bao nhiêu hiểm nguy như chờ chực sẵn, không biết lối nào mà tránh.

Một tuần sau có lệnh dời về trường Đồng Khánh vì trường rộng hơn nên dùng làm khu tạm cư. Khi trở về, nhà tôi bị dân chúng chiếm hết, họ chỉ nhường cho tôi một khoảnh trong phòng khách; hành lang, cầu thang đều nghẹt cả dân tản cư. Đồ đạc trong nhà bị phá tan hoang, hình ảnh báo chí sách vở bị xé vứt bừa bãi trong WC. Thế là hết! bao nhiêu vật quý giá, bao nhiêu mồ hôi nước mắt đổ ra nay chỉ còn hai bàn tay trắng. Tuy vậy, tình hình an ninh vẫn chưa yên, mìn vẫn còn gài đầy khắp lối trong trường, đêm đến vẫn còn có người bị trái hỏa châu rơi lủng bụng mà chết.

Ngày qua ngày không biết mình sẽ làm gì, bên kia sông hai bên vẫn còn đánh nhau, đuổi dần Việt Cộng về phía Tây Lộc, cảnh chết chóc vẫn còn tiếp diễn, thật là đau lòng!

Một hôm, xuống bến đò Thừa Phủ để lấy nước, vừa ra khỏi cổng trường tôi thấy một thiếu tá Mỹ đi ngang qua, tự nhiên tôi chợt có ý nghĩ là chạy theo ông này nhờ giúp đỡ cho thoát khỏi Huế. Sự mong ước được rời bỏ Huế đã nung nấu tôi cả tuần nay, tôi muốn thoát quá sức dù bất cứ với giá nào! Nghĩ vậy, tôi liền chạy theo ông ta, đến ngang trường Quốc Học tôi chận ông lại, tôi không dám đứng trước trường Đồng Khánh vì không muốn có người thấy. Tôi xin lỗi vì sự đường đột của mình và xin ông có cách gì giúp tôi thoát khỏi Huế vì tôi không thể sống với Việt Cộng được! Ông hỏi địa chỉ, tôi đã chỉ lối và ông hẹn trưa nay 12 giờ sẽ đến tìm tôi. 

Trở về nhà, tôi vừa mừng vừa lo, Việt Cộng vẫn còn trà trộn trong khu tạm cư này, nếu thấy tôi tiếp xúc với Mỹ, liệu họ có để cho tôi được yên thân không? Tôi thấp thỏm cả buổi sáng, không ngờ đúng như lời đã hứa, gần 12 giờ tôi nghe có tiếng gọi: “Cô ơi! Có một ông Mỹ đến tìm cô”. Tôi run quá, vừa hé cánh cửa ra đã nhìn thấy ông ta len lỏi từng bước một lên cầu thang, chỉ chờ ông bước sát đến gần cửa là tôi đưa tay lôi vào đóng kín cửa ngay. Bấy giờ ông mới cho tôi hay rằng ông ở Sài Gòn ra công tác tại Huế và hiện đang ở tại Căn Cứ Phú Bài, sẽ tìm cách giúp tôi và hẹn hai hôm sau trở lại.

Trong hoàn cảnh thiếu thốn mọi bề, tôi vẫn cố gắng chạy quanh kiếm một ít thức ăn để làm một bữa cơm mời ông sau hai ngày hẹn. Đúng hẹn ông trở lại, đã lo liệu được kế hoạch đưa gia đình tôi thoát nhưng không thể đi một lần cả 7 người được (kể cả 2 mẹ con bà vú). Chúng tôi chỉ đáp trực thăng vào Đà Nẵng – như tôi đã yêu cầu – Ông còn muốn giúp đỡ tiền để vào Sài Gòn nhưng tôi không nhận, chỉ cần giúp cho gia đình tôi vào đến Đà Nẵng là quý lắm rồi. Thế là tôi cùng 3 đứa con và bà Vú đi trước, đành để chồng tôi và con bà vú ở lại rồi tính sau, tôi phải đóng vai vợ của Thiếu Tá Hy, chỉ huy trưởng Căn Cứ Pháo Binh ở Phú Bài. Điều khó khăn nhứt là phải làm thế nào vào cho được đồn Mang Cá trong thành nội vì trực thăng đậu ở đó. Cầu Trường Tiền đã bị sập hết mấy nhịp, cầu Bạch Hổ chỉ dành cho xe quân đội qua mà thôi, tôi trả lời liều với ông rằng điều này tôi sẽ làm được mặc dầu trong lòng tôi rối như tơ! Ông đã ở lại ăn cơm, xin chúng tôi địa chỉ ở Sài Gòn và còn tặng tôi một chiếc nhẫn nạm ngọc xanh rất đẹp, mua ở Luân Đôn. Tôi đã hỏi ông rằng: “Sao gặp tôi mới lần đầu mà ông đã nhận lời giúp ngay, lỡ tôi là Việt Cộng thì sao?“. Ông cười và lắc đầu, trả lời: ”Nhìn tôi, ông biết không phải là Việt Cộng”. Ôi! Trong những ngày gian nguy như vậy, tôi đã gặp được một tấm lòng nhân hậu bao la để khi nhìn qua khung cửa sổ, tôi vẫn còn nhận thấy bầu trời xanh hơn, cao hơn và gió vẫn còn hiền hòa mơn man trên các ngọn cây.

Tôi đã chạy ngay xuống Bộ Chỉ Huy của Đại Tá Phiên đóng gần ở Morin, tôi nhờ đại tá giúp cho tôi một chiếc xe Jeep để vào Mang Cá. Đại tá nhận lời ngay. Thế là đúng ngày hẹn, chúng tôi ra đi vào khoảng 3 giờ chiều, có chồng tôi đi theo đưa tiễn, quang cảnh đường vào Thành Nội thật đìu hiu ảm đạm! Tôi không có thì giờ tin cho Ba tôi hay, ra đi vội vã, hành trang chẳng có gì ngoài cái va li rách nát đựng một ít áo quần vơ vét được; sau này khi hay tin Ba tôi đã khóc quá chừng! 

Vào đến nơi đã có người ra tiếp đón thật chu đáo và lễ độ, khoảng nửa giờ sau một sĩ quan Mỹ đưa chúng tôi ra trực thăng. Tôi đã sửng sốt đến nghẹn lời, có ngờ đâu chiếc trực thăng này chỉ dành riêng cho gia đình tôi thôi, có nghĩa là chỗ còn dư, có thể đi hết cả gia đình nhưng than ôi! Làm sao chồng tôi cùng đi được khi phải bỏ lại đứa con trai của bà vú đang ở nhà một mình! Cũng đành cầm nước mắt mà chia tay nhau, ngày mai chưa biết sẽ ra thế nào đây ?

Vào đến sân bay Đà Nẵng, trời đã xế chiều, một chiếc xe Jeep đã đậu sẵn, bên cạnh là một ông đại úy đứng chào tôi một cách cung kính làm tôi không khỏi cảm thấy ngượng ngùng trong lòng! Chạy được một quãng đường, tôi bèn nói thật ra là tôi không phải bà Thiếu Tá Hy và bây giờ ông bỏ xuống bất cứ đâu cũng được. Ông lịch sự trả lời rằng: “Dù Bà là ai, tôi vẫn đưa Bà về tận nhà”.

Thì ra, trong cuộc đời tôi vẫn còn gặp được nhiều may mắn và nhiều kẻ có lòng như vậy. Tôi về tạm trú tại nhà người em chồng, lòng vẫn lo lắng cho hai thầy trò còn lại không biết có thoát được không? Không ngờ hai ngày sau cả hai đã trốn trên một chiếc xe tải chở gạo vào được đến Đà Nẵng luôn. Sau đó chúng tôi phải lo phương tiện vào Sài Gòn, cũng may ông thị trưởng Đà Nẵng lại bà con với người em dâu của tôi nên việc mua vé máy bay cũng không có gì khó khăn, còn tiền thì mượn.

Chúng tôi vào Sài Gòn ở tạm nhà người anh chồng, sau đó tôi thuê được một căn gác gỗ nghèo nàn và làm lại cuộc đời mình với hai bàn tay trắng!

Mấy chục năm trời đã trôi qua, bên nỗi vui mừng vì gia đình đã thoát nạn nhưng tôi vẫn còn canh cánh bên lòng nỗi niềm ngậm ngùi chua xót cho những nạn nhân Mậu Thân, trong đó có hai người anh con bác ruột tôi và một ông dượng nữa.

Hình ảnh cô đơn vò võ của bác tôi, cứ chiều chiều thất thểu ra bờ sông ngồi ngóng các con về – dù con không bao giờ trở lại nữa – vẫn còn đậm nét u hoài trong lòng tôi mãi mãi!

Và cho đến bây giờ, tôi vẫn không hiểu tại sao vẫn còn có những người chưa chịu nhìn thấy chân diện mục của chủ thuyết Cộng Sản tàn bạo và phi nhân?
 

Nguyên Hạnh HTD
Cali: 1 Nữ  Sinh viên Du Học Việt Bị Chồng Đánh, Giết, Vùi Xác


HANOI -- Chính phủ Việt Nam chính thức thông báo về trường hợp một nữ sinh viên du học bị giết tại California.

Báo Lao Động ghi rằng nữ công dân Việt Nam tử vong tại quận Placer, tiểu bang California, Mỹ được xác định là Trần Thị Trang, sinh năm 1995 tại TP. Sài Gòn.

Tại cuộc họp báo thường kỳ ngày 1.3, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết, ngày 14.2, cảnh sát quận Placer, tiểu bang California có liên lac và thông báo với Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại San Francisco về một người Việt tử vong tại quận này.

“Nạn nhân được xác định là Trần Thị Trang, sinh năm 1995 tại TP.Hồ Chí Minh”, bà Lê Thị Thu Hằng thông tin.

Bản tin LĐ cũng ghi rằng Bộ Ngoại giao CSVN đã thông báo cho gia đình chị Trang và đang tích cực hỗ trợ gia đình hoàn thành các thủ tục hậu sự để đưa tro cốt chị Trang về nước.

“Cơ quan đại diện Việt Nam tại San Francisco cũng đã đề nghị cảnh sát quận Placer và các cơ quan chức năng Mỹ đẩy nhanh tiến độ điều tra, sớm xác định thủ phạm và đưa thủ phạm ra xét xử. Đồng thời cũng tạo điều kiện cho Tổng lãnh sự quán và gia đình đưa tro cốt chị Trang về nước trong thời gian sớm nhất”, bà Lê Thị Thu Hằng nói thêm.

Bản tin báo Người Lao Động ghi thêm chi tiết rằng trước đó, báo chí nước ngoài đưa tin một bộ xương phát hiện ở đường Foresthill gần hồ Clementine, quận hạt Placer, tiểu bang California được xác định là của chị Trang Tran, 23 tuổi, công dân Việt Nam đang học ở Mỹ. Người đi bộ đã tìm được những mảnh xương ở một khu vực bên ngoài đường xe chạy và bên dưới cây cối um tùm.

Người phát ngôn cảnh sát Andrew Scott nói rằng tình trạng thi thể cho thấy rằng nó đã nằm ở đấy trong một thời gian dài. Theo The Sacramento Bee, nghi phạm là Michael Forest Abeyta, 28 tuổi, cư dân thành phố Citrus Heights và là chồng của nạn nhân. Abeyta bị bắt hôm 30-1 với cáo buộc giết người và không thể được bảo lãnh.

Click image for larger version

Name: san2.png
Views: 0
Size: 264.2 KB
ID: 1183486
Michael Forest Abeyta

Còn theo Facebook cá nhân Đỗ Hà, một người bạn của Trang, nạn nhân có tên đầy đủ là Trần Thị Trang (sinh năm 1995), sinh viên du học  tại Mỹ và cũng là sinh viên khoá 13 Trường ĐH Hoa Sen. Trang mất tích vào ngày 11.10.2017 nhưng đến tận tháng 1.2018 thi thể mới được phát hiện.

Đỗ Hà cũng cho biết đã liên lac với gia đình Trang và được biết vụ án vẫn đang trong quá trình điều tra nên thi thể (chưa được tìm thấy hoàn toàn) vẫn chưa được đưa về Việt Nam an táng. Đồng thời Abeyta - kẻ bị tình nghi với những bằng chứng tại hiện trường đã thừa nhận rằng có đánh đập Trang vào ngày Trang mất nhưng do vẫn chưa có được bằng chứng cụ thể nên vẫn chưa thể kết tội.

Báo Thanh Niên ghi thêm: “Đỗ Hà cũng cho biết mình đã từng có thời gian học chung và làm việc với Trang. Trang là một người con gái nhỏ nhắn nhưng rất giỏi và siêng năng.”

Quê Hương Của Tôi




Mười lăm tuổi, tôi mới được đặt chân đến thủ đô Sài Gòn của Việt Nam Cộng Hoà. Tiếc là khi ấy, chế độ Việt Nam Cộng Hoà đã mất, nên tôi chẳng biết gì về sự giàu sang, đẹp đẽ của “hòn ngọc viễn đông”. Năm 1975, gia đình chúng tôi chạy giặc từ miền Trung qua các tỉnh vào đến Sài Gòn, cũng là lúc Sài Gòn “được giải phóng”. Gia đình chúng tôi vào sống tạm trong một căn nhà bỏ hoang của khu gia binh, gần phi trường Tân Sơn Nhất.

Sau 30/4/1975, cha tôi bị đi tù “cải tạo” không biết nơi nào vì ông là sĩ quan An Ninh Quân Đội của chế độ Việt Nam Cộng Hoà. Bơ vơ giữa Sài Gòn xa lạ, bạc tiền không có, mẹ tôi rối bời và lo lắng đến gầy tọp hẳn đi. Tối nào mẹ và bảy anh em chúng tôi, đứa em út chưa đầy một tuổi, cũng khóc sướt mướt. Đói quá, tôi bỏ qua sự xấu hổ, dắt các em lớn hơn đi làm nghề ăn xin. Hằng ngày tôi dắt các em đi xin ăn khắp nơi, từ sáng sớm cho tới tối mịt. Khi chân tay mỏi nhừ, cả người ê ẩm, anh em mới kéo nhau về. Sài Gòn lúc ấy thật tang thương, hoang tàn và mọi người ai cũng đói khổ. Tuy vậy, người dân Sài Gòn vẫn thương cho anh em chúng tôi ít gạo, chút tiền, đơn giản có nhà cho cái bánh, cây kẹo hoặc mấy trái chuối chín vàng.

Về sau, thấy các em tôi khóc mỗi sáng vì không muốn đi ăn xin, mẹ tôi đến một tiệm bánh của người Tàu, lấy bánh bao chỉ cho tôi và đứa em gái kế đi bán. Ngày đầu đi bán, hai anh em đón xe buýt đi lên Sài Gòn. Chúng tôi chia ra hai hướng đi bán, hẹn khi bán xong, gặp nhau tại bùng binh chợ Bến Thành để cùng về.

Đến trưa bán hết bánh, tôi đi đến bùng binh chợ Bến Thành tìm em. Tôi sợ hãi khi thấy em gái tôi ngồi khóc tức tưởi dưới tượng đài Quách Thị Trang. Em kể, có một chị tới mua bánh, nói em qua tiệm may của mẹ chị bên kia đường lấy tiền. Em đi qua tiệm may họ nói, không có đứa con nào. Em về lại bên này thì chị ấy trốn mất cùng với thau bánh. Kể xong em tôi càng khóc nức nở hơn. Tôi nói với em, mất rồi thì thôi, về chứ ngồi khóc được gì. Em nhất định không chịu về, bắt tôi phải đưa em đi tìm chị kia đòi lại thau bánh.

Mấy chú xích lô, xe thồ và những cô bán hàng rong quanh bùng binh thấy em tôi khóc dữ quá, nên đến bao quanh hỏi chuyện. Sau khi biết em tôi bị mất thau bánh, họ gom góp tiền lại cho hai anh em chúng tôi. Có chú còn đến gặp những người đi dạo quanh đó để xin tiền giùm cho chúng tôi. Em tôi mừng rỡ khi thấy các cô chú cho tiền còn nhiều hơn cả số vốn đã mất. Anh em tôi vòng tay, cám ơn từng cô chú trước khi về. Khi ấy tôi chưa nhận ra sự giúp đỡ tuy giản dị, nhưng lại lớn lao như thế nào, chỉ biết cám ơn như đã được dạy là phải cám ơn những ai giúp đỡ mình.

Mẹ con chúng tôi không phải là dân sống ở Sài Gòn, không có nghề nghiệp gì nên chính quyền “cách mạng” buộc chúng tôi phải đi kinh tế mới.

Lên vùng kinh tế mới chưa được một năm thì mẹ tôi qua đời vì bị bịnh sốt rét cấp tính. Anh em chúng tôi bơ vơ trong cảnh khó nghèo, tay chân mọc đầy u nần vì phải đào bới đất đá nơi vùng rừng núi để sống qua ngày. Chính quyền địa phương không cho chúng tôi tham gia vào các sinh hoạt hay hội đoàn vì có cha là “thành phần ác ôn đang cải tạo”, nên chúng tôi chẳng là gì trong xã hội.

Đến năm 1984, cha chúng tôi được thả về sống lây lất cùng với chúng tôi. Mấy năm sau, thấy nhiều người lo thủ tục giấy tờ đi Mỹ diện HO, cha tôi chạy đến anh em, bà con họ hàng xin xỏ, vay mượn tiền để làm hồ sơ đi Mỹ. Chờ đợi mấy năm, chúng tôi nhận được giấy báo đi phỏng vấn, cả nhà rất mừng. Cha tôi lại chạy vay tiền bạc để vào Sài Gòn phỏng vấn, khám sức khoẻ. Chúng tôi hồi hộp, lo lắng từng ngày, chỉ sợ có điều gì trục trặc hay thay đổi.

Một trong những điều may mắn và hạnh phúc nhất trong cuộc sống của gia đình chúng tôi là ngày được đi Mỹ. Tháng 6 năm 1994, cha con chúng tôi mới được đi Mỹ. Ngày đi, mỗi người chúng tôi chỉ có vài bộ quần áo sờn rách làm hành trang để đi từ vùng rừng núi hoang dã đến một thế giới văn minh tiến bộ. Tâm trạng chúng tôi thật háo hức, vui mừng, nhưng cũng đầy âu lo.

Sau khi làm xong thủ tục giấy tờ, chúng tôi bước ra khỏi phi trường Los Angeles. Ánh nắng vàng rực rỡ của tháng Sáu trên đất California là điều mới lạ đầu tiên làm chúng tôi bối rối, vì lúc đó đã tám giờ tối. Ông bác, người bảo trợ, lái chiếc xe Van chạy trên đường cao tốc, qua các phố xá, làm cả gia đình chúng tôi choáng ngợp trước sự giàu sang của nước Mỹ. Tôi thầm nghĩ, không biết bao giờ mình mới có xe để lái đi làm như những người dân bản xứ. Bác chở gia đình chúng tôi đến một căn nhà mà ông đã mướn sẵn cho gia đình. Trước khi về, ông còn chu đáo hướng dẫn cho chúng tôi cách sử dụng các tiện nghi trong nhà. Mấy tháng đầu, mỗi người trong gia đình nhận được gần ba trăm đô la của chính phủ trợ cấp để sinh sống và tìm việc làm trong thời gian hội nhập.

Gia đình chúng tôi định cư ở quận Orange, nơi khí hậu có phần giống ở Việt Nam. Người Việt tại đây tụ họp lại thành một cộng đồng đông đúc. Tuy đang sống tại nước Mỹ, nhưng chúng tôi có thể nói tiếng Việt mọi nơi, như khi đi chợ, đến văn phòng bác sĩ, nhà thương, luật sư, ngay cả ở các công sở của chính quyền thành phố, sở cảnh sát, toà án cũng có nhân viên người Việt thông dịch. Nhưng điều tôi thích nhất ở Mỹ là không còn lo vấn đề hộ khẩu, không bị ai phân biệt và mình muốn sống ở đâu thì sống.

Chúng tôi đến nhà thờ Saint Anselm, Hội thánh Tin Lành ở đường Galway, thuộc thành phố Garden Grove, gần khu trung tâm Little Sài Gòn, để làm giấy tờ và ghi danh học Anh Văn. Tuy bỡ ngỡ vì môi trường và ngôn ngữ, nhưng nhờ sự giúp đỡ của nhân viên trong trường, chúng tôi cũng làm xong những giấy tờ cần thiết. Sau khi thử trình độ tiếng Anh, cả gia đình chúng tôi đều được xếp vào học chung một lớp có trình độ thấp nhất. 

Mỗi sáng, cha con, anh em chúng tôi và những người Việt mới qua Mỹ, ăn mặc chỉnh tề, xách cặp đi học đúng giờ như những học trò ngoan. Mọi người kéo nhau từng đoàn đi bộ thong dong bên đường, khiến nhiều người Mỹ đang bận rộn lái xe phải ngạc nhiên. Vào lớp, già trẻ lớn bé ngồi bên nhau, thi đua học tiếng Anh, học phong tục, văn hoá Mỹ và học cách phỏng vấn để xin việc làm.

Sau ba tháng học hành, nhà trường chở chúng tôi đến một hãng điện tử ở thành phố Irvine để phỏng vấn xin việc làm. Tôi làm bài thi viết tiếng Anh và toán một dễ dàng. Đến lượt tôi được gọi tên vào phỏng vấn, người phụ trách phỏng vấn là một phụ nữ Mỹ trắng, khoảng bốn mươi tuổi. Tôi học tiếng Anh cũng không tệ, vậy mà tôi như người vừa điếc vừa câm khi nghe bà ta nói với tôi. Ở trường, tôi được các thầy cô dạy, đã tập dượt phỏng vấn nhiều lần, nhưng vì hồi hộp và bà ấy nói nhanh nên tôi chẳng hiểu gì.

Thấy ánh mắt bà ấy nhìn về phía cánh cửa, tôi đoán có lẽ là bảo khép cửa phòng lại. Tôi khép cửa lại và đứng chờ. Bà ta nói tiếp, tôi chỉ nghe chữ sit down nên vội ngồi xuống chiếc ghế trước bàn. Bà ấy nhìn vào bảng tóm tắt lý lịch của tôi và liên tiếp hỏi nhiều câu. Đầu óc choáng váng, tôi cứ nhìn mắt, miệng của bà ấy để đoán và trả lời đại. Tôi trả lời hú họa, khi yes khi no sau mỗi câu hỏi. Suốt buổi phỏng vấn, tôi chỉ trả lời được đúng hai từ yes và no. Bỗng dưng bà ta ngửa mặt lên, bật cười ha hả, rồi khua tay lia lịa ý bảo tôi đi ra. Tôi đỏ mặt, xấu hổ bước ra. Khép cửa phòng lại rồi mà tôi vẫn còn nghe tiếng cười, có lẽ bà ấy không còn kìm nén nổi cơn cười của mình vì những câu trả lời yes no chẳng đâu vào đâu của tôi.

Vậy mà bà ấy cho tôi đậu cuộc phỏng vấn, được vào làm việc trong hãng. Tôi mừng quá, tôi đã có việc làm và không cần ăn tiền trợ cấp của chính phủ nữa. Các em tôi không qua được cuộc thi nên đứa thì đi làm hãng may áo quần, đứa thì học làm nghề móng tay, móng chân.

Tôi không có xe, nhưng may có một anh làm ở hãng đó giúp chở tôi đi. Sáng sớm, tôi xách hộp cơm ra đường đứng chờ anh ấy đến đón đi làm. Công việc đầu tiên của tôi là lau chùi những máy móc điện tử, việc này rất nặng nhọc, làm tôi hơi chán nản. Những ngày kế tiếp, làm quen việc nên tôi thấy cũng không vất vả mấy nữa.

Tôi nói và nghe tiếng Anh không giỏi, nên tôi cố gắng làm việc chăm chỉ. Thấy vậy, người quản lý trong hãng thương và thường đến nói chuyện với tôi để giúp tôi học nghe nói tiếng Anh. Mấy tháng sau, tôi được cho lên làm ở khâu đóng thùng.

Đi làm về đến nhà, toàn thân mỏi nhừ, ăn uống không thấy ngon, nhưng tôi phải ráng ăn để có sức ngày mai đi làm. Trong thời gian này, tôi chi tiêu hết sức tiết kiệm vì tôi thực sự hiểu được giá trị của đồng tiền mồ hôi nước mắt mà mình làm ra. Tôi đến nhờ bác tôi giúp làm người bảo trợ để tôi mua xe trả góp, nhưng bác có việc riêng không giúp được. Lúc đó có một cô lớn tuổi, bạn của bác đang đến chơi, không cần lời nhờ giúp mà cô đã đứng ra chịu làm người bảo trợ cho tôi mua xe. Cô đã bỏ thời giờ đưa tôi ra nơi bán xe, bỏ công kì kèo trả giá hết cả nửa ngày trời để tôi mua được xe. Tôi rất ngạc nhiên về lòng tốt của cô, mới lần đầu gặp mặt, chẳng biết tôi thế nào, làm gì, nhưng cô đã tin tưởng, tận tình giúp tôi như vậy. Tôi thật không biết làm thế nào để tỏ lòng biết ơn cô một cách phải phép để cô không giận.

Mỗi ngày, sau khi làm những công việc cực khổ, chân tay rã rời, tôi lại đến trường học tiếng Anh và học thêm nghề điện tử vào ban đêm. Mấy năm sau, tôi vào học trường cao đẳng cộng đồng. Tôi biết tôi thiếu kiến thức tối thiểu, không có trình độ hay bằng cấp gì, nên tôi quyết tâm phải học. Vì không đúng tuổi đi học, tôi được chính phủ cho tiền khuyến khích hoàn tất chương trình đại học. Không như bạn bè cùng trang lứa, tôi phải mất nhiều năm hơn họ mới tốt nghiệp được. Nhờ được hưởng những lợi ích xã hội cùng với mơ ước được học hành đến nơi đến chốn, muốn thăng tiến, tôi đã vượt qua khó khăn và hoàn tất chương trình học. Tôi chăm chỉ việc học và tham gia vào nhiều hoạt động xã hội nên tôi cũng đã hoà nhập được với cuộc sống mới nơi đất khách quê người.

Từ một người không biết tiếng Anh, công việc ban đầu là lau chùi máy móc với đồng lương tối thiểu, tôi được cất nhắc lên làm kỹ thuật viên, rồi làm quản lý trông coi một bộ phận trong hãng khi tôi tốt nghiệp kỹ sư điện tử. Bước đầu đến Mỹ, tôi chẳng có gì ngoài những kinh nghiệm khổ đau ở Việt Nam, nhưng cũng nhờ những sự nhọc nhằn đó mà tôi càng cố gắng hơn khi có cơ hội làm lại cuộc đời. Giai đoạn khó khăn ban đầu của tôi trên đất Mỹ đã qua. Tôi đã vượt qua những trở ngại về văn hoá, ngôn ngữ, thích nghi và hoà nhập với cuộc sống ở quê hương mới này.

Bây giờ có công việc ổn định hợp sở thích và vật chất tạm đủ nên cuộc sống của tôi thoải mái hơn. Vâng, tôi cảm thấy đầy đủ, vì so với khi còn ở Việt Nam thì tôi đã giàu có quá rồi. Tuy vậy, tôi vẫn phải nỗ lực hơn, vì cuộc sống ở nước Mỹ đòi hỏi sự học luôn mãi để không bị tụt hậu. Đã từng là gánh nặng cho chính phủ trong những tháng đầu tới Mỹ, nay tôi có thể đóng góp một phần công sức, của cải lại cho quê hương thứ hai của tôi. Lúc này tôi cảm thấy sung sướng vì đã đi qua những khó khăn.

Nhiều năm sau, cha tôi bị ung thư đã đến giai đoạn cuối. Bác sĩ phải giải phẫu một lỗ ngay cuống họng, đặt ống dây vào cho ông thở. Nằm nhà thương điều trị hơn một năm, như cây đèn cạn dầu, cha tôi yếu dần, thân người chỉ còn da bọc xương, nhỏ thó như một đứa con nít thiếu ăn. Vì ung thư đã lan tới phổi, nên bác sĩ không dùng phương pháp điều trị tia xạ hay phẫu thuật được, mà phải dùng hoá trị cho ông. Ông thở, ăn uống và chuyền thuốc đều phải qua những ống dây. Muốn nói chuyện ông phải dùng giấy viết.

Trước ngày chết, cha tôi lấy giấy bút ra viết, “Ba có ba ngàn đô trong ngân hàng, con lấy tiền đó để hoả thiêu, đưa tro cốt ba về Việt Nam chôn cạnh mộ mẹ con”. Tôi biết cha mình sắp chết, nhưng lại viết, “Ba chưa chết đâu, đừng lo lắng, hãy cố sức để bác sĩ chạy chữa”. “Ba biết bệnh tình của ba, ba muốn nằm bên cạnh mộ mẹ con khi từ giã cõi đời. Con hãy ráng lo cho nguyện ước cuối cùng của ba”. Câu cuối cùng cha viết cho tôi, “Thế là hết một kiếp người”.

Vì tất cả anh em chúng tôi đều ở Mỹ và nơi chôn cất xác mẹ ở vùng kinh tế mới heo hút, nên anh em bàn đem tro cốt của mẹ qua Mỹ, đặt bên tro cốt của cha trong nghĩa trang. Như vậy cũng thực hiện được ước muốn của cha là được nằm cạnh bên mẹ khi chết và chúng tôi cùng con cháu cũng được đến viếng thăm, thắp nhang cầu nguyện thường xuyên hơn.

Con đường đến nghĩa trang, nơi chôn cất mẹ tôi, đầy hoa cỏ dại, quanh co và gập ghềnh đầy rảnh bánh xe trâu bò. Anh em chúng tôi nhờ bà con họ hàng đến giúp bốc mộ, hốt cốt mẹ để chúng tôi đưa qua Mỹ. Anh em chúng tôi đốt nhang cắm trước mộ mẹ, quỳ xuống vái lạy xin mẹ cho anh em được cải táng đưa mẹ qua Mỹ. Một ông cậu đưa cho tôi cái búa tạ để đập nhát búa đầu tiên. Khi tôi đập búa vào mộ mẹ, nghe tiếng vang khô khốc của nhát đập, lòng tôi bỗng rung lên một cảm giác vừa buồn vừa sợ. Tôi buồn sợ vì đã đánh động, làm mẹ tỉnh giấc sau ba mươi mấy năm yên ngủ dưới mộ sâu.

Mọi người bắt đầu đọc kinh cầu nguyện, anh em chúng tôi vừa đọc vừa thổn thức khóc bên mộ mẹ. Việc bốc mộ thật không dễ dàng, vì đã lâu năm nên hài cốt bị lệch vị trí nơi chôn trước đây. Sau nhiều tiếng đồng hồ mới chạm đến phần đất có lớp ván đã mục, cậu tôi gạt những phần đất đó qua một bên thì lộ ra bộ hài cốt trắng sáng của mẹ. Mẹ vẫn nằm ngay ngắn, nhiều sợi tóc chưa mục bao quanh hộp sọ chứa đầy đất đá và rể cây bên trong.

Cậu tôi cẩn thận nhặt từng cái xương, rũ cho bớt đất, rửa sạch bằng rượu, sắp xếp gọn gàng theo thứ tự từng chiếc xương vào một chiếc hòm nhỏ để đưa đến nơi hoả thiêu.

Sau bao nhiêu khê của thủ tục xin phép thôn xã, các cơ quan công quyền, phòng kiểm dịch, nhân viên phi trường, anh em tôi mới đưa được tro cốt mẹ qua Mỹ. Khi đặt hộp tro cốt của mẹ bên cạnh hộp tro cốt của cha, tôi nghĩ chỗ thật sự cha mẹ nằm là trong trái tim của chúng tôi. Cuộc đời cha mẹ đã hy sinh, chịu nhiều đau khổ vì chúng tôi, nên chúng tôi phải dành chỗ gần nhất, cao quý nhất trong tim mình cho cha mẹ.

Gia đình anh em chúng tôi thường đưa các con của mình ra nghĩa trang đọc kinh, cầu nguyện cho vong linh cha mẹ chúng tôi. Chúng tôi muốn các con biết cội nguồn đã sinh ra mình để nhờ đó mà anh em, con cháu được nối kết tình thân ái trong gia đình hơn. Tôi ước mong các con tôi sẽ tiếp tục gìn giữ lòng biết ơn tổ tiên và nhớ đến dòng chảy sướng khổ đầy vơi của gia đình trôi trong dòng đời vô biên, bao la của đất trời.

Tôi cũng không quên cầu nguyện cho các ân nhân và những người đã bỏ công của làm ra chương trình HO, nhờ họ mà tôi mới có ngày được sống cuộc đời đầy đủ, tự do. Tôi biết ơn nước Mỹ đã cho tôi có cơ hội để thực hiện những ước mơ của mình, để sống một cuộc đời ý nghĩa và có ích cho xã hội.

Tôi đã bỏ lại sau lưng đoạn đời tủi nhục, khốn khổ ở quê hương thứ nhất để bước tiếp quãng đường tương lai tươi sáng trên quê hương thứ hai. Trải qua bao khốn khó, thăng trầm trong đời, điều đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tim tôi là sự ban ơn của các ân nhân. Mang ơn nhiều người, nhưng có lẽ tôi không cách nào đền đáp cho đủ được tình thâm sâu của các ân nhân, tôi chỉ còn có thể chia xẻ các món nợ ân nghĩa đó với những thế hệ sau.

Tôi mang ơn những ân nhân trên đất Mỹ đã giúp tôi có ngày hôm nay, nhưng tôi cũng không quên những ân nhân nghèo khổ của tôi ở Việt Nam. Giữa lúc cuộc sống đầy khó khăn, dù thân mình không hề yên ấm, nhưng họ vẫn quan tâm trước mất mát của anh em chúng tôi. Lòng thương hại chân thành của họ cho tôi thấy, nhiều người dù đang có những thống khổ của riêng mình, nhưng vẫn không nhắm mắt làm ngơ với những khổ đau của người chung quanh. Tôi khó mà quên được những người tuy nghèo khó, nhưng vẫn cảm thông được với nỗi khổ và sẵn sàng giúp đỡ người khác như một hành động bình thường, một thói quen tự nhiên. Tôi may mắn có nhiều ân nhân, được họ ban cho nhiều niềm vui lớn và những tình thương yêu, tuy giản dị mà cao quý.

Bây giờ có ai hỏi, điều gì còn làm tôi khắc khoải? Vâng, đó là tôi vẫn luôn nhớ quê hương xa cả nửa vòng trái đất của tôi. Dù có quốc tịch Mỹ, đã hoà nhập với quê hương mới, nhưng vì tôi sinh ra lớn lên tại Việt Nam và qua Mỹ khi tuổi đã lớn, nên tôi không sao quên được quê hương Việt Nam. Tôi không chỉ nhớ những vùng đất tôi đã sống, đã đi qua, mà tôi còn nhớ cả những con người sinh sống ở trên những vùng đất đó. Đa số những kỷ niệm của tôi ở Việt Nam là những kỷ niệm buồn, còn những kỷ niệm trên đất Mỹ thì ngược lại. Mặc dầu vậy, tôi lại thường nhớ đến những kỷ niệm ở Việt Nam hơn, có lẽ chúng đã có đủ thời gian để thấm nhập, để bám chặt vào ký ức của tôi.

Phước An Thy

Đón Xuân Này, Nhớ Xuân Xưa




Image result for tet images
Đón Xuân này tôi nhớ Xuân xưa…” Câu hát này năm nay đặc biệt thấm thía đối với tôi.

Xuân này là California đất Mỹ. Xuân xưa là Sàigòn. Năm mươi năm là một quãng thời gian dài đến không thể tưởng tượng nổi đối với đứa bé ngày ấy. Thường thì người ta chẳng nhớ được những điều xảy ra vào lúc năm, bảy tuổi. Vậy mà tôi vẫn nhớ mọi chuyện một cách lạ lùng.

Trừ khi gặp những biến cố quá lớn, khắc lại một dấu quá đậm trong trí óc còn non dại. Những sự việc đó có thể được ghi lại mãi như một khúc phim sẵn sàng chiếu lại. Đó là kết luận của tôi sau bao tháng ngày suy ngẫm về những điều tôi còn nhớ rõ về Tết Mậu Thân năm 1968, và nhất là về Diễm Hồng.

Tôi và Diễm Hồng cùng ở đường Tự Đức. Con đường này chạy suốt từ Hai Bà Trưng, qua ba ngã tư lớn Mạc Đĩnh Chi, Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Bỉnh Khiêm và những con đường nhỏ khác như Phùng Khắc Khoan, Phạm Đăng Hưng, Phan Kế Bính, rồi xuống tận bờ sông. Sau này tôi mới biết đó không phải là sông mà là con rạch Thị Nghè chảy từ Tân Bình qua cầu Bông, cầu Sắt, cầu Thị Nghè rồi đổ vào sông Sài gòn. Từ góc đường Tự Đức, đi bộ khoảng mười lăm phút là đến ngã tư Nguyễn Bỉnh Khiêm - Hồng Thập Tự, nơi đặt trụ sở của Đài Phát Thanh Sài gòn.

Tuy chỉ cách nhau vài trăm mét, nhưng nhà tôi và nhà Diễm Hồng thuộc hai xóm khác nhau.

Nhà trong xóm tôi thường có tường cao, rào kín, còn khu xóm gần bờ sông của Diễm Hồng thì gồm nhà gạch và cả nhà sàn trên sông. Căn nhà của Diễm Hồng khá khang trang, nhưng không  hiểu sao tôi cảm thấy nó hơi âm u, buồn buồn. Có lẽ vì lúc nào trong nhà cũng mờ mờ tối. Cửa chính cách mặt đường một mái hiên dài nên mặt trời không thể chiếu thẳng vào trong nhà. Cánh cửa lúc nào cũng khép kín nên cảnh vật trong nhà càng thêm xa cách với xung quanh.

Gia cảnh của Diễm Hồng cũng có vẻ khác biệt với khu xóm. Tôi không bao giờ nghe nhắc tới ba của Diễm Hồng; trong nhà chỉ có ba người nữ gồm một bà cụ là bà ngoại của Diễm Hồng và hai mẹ con Diễm Hồng. Bà cụ có vóc người nhỏ bé, mỏng manh như chiếc lá, và giọng nói cũng nhẹ như gió thoảng. Điều đặc biệt là bà còn giữ nguyên vẹn hình dáng của các bà miền Bắc di cư với răng đen, áo cánh trắng, thêm chiếc khăn thâm quàng đầu khi trời trở lạnh. Mẹ của Diễm Hồng tên là cô Tú. Cô trắng bóc như người lai Âu, vóc dáng không cao nhưng tròn lẳn. Tóc cô nâu, mắt cô cũng màu nâu. Diễm Hồng giống Mẹ, cũng da trắng, tóc hung hung và đôi mắt nâu trong suốt như mắt chó con. Cả ba người trông rất khác với những người lao động da đen xạm sống phần lớn ở những căn nhà sàn ven sông. Gia đình Diễm Hồng sống hiền lành và lặng lẽ, tách hẳn với cái ồn ào của khu xóm bờ sông.

Ngày Diễm Hồng đến nhà tôi học luyện thi thì tôi mới tập tẹ học làm văn. Trước năm 1975, sau  lớp Năm, học sinh ở miền Nam phải thi tuyển khá gay go để được vào lớp Sáu trường công. Mẹ tôi là cô giáo chuyên dạy lớp luyện thi, ngoài học trò từ xa đến, trẻ con hàng xóm cũng học rất đông. Đối với người trong xóm, trò nào không có tiền trả thì Mẹ tôi “bảo trợ” luôn học phí, miễn là chịu học. Tuy nhiên, tôi đoán Diễm Hồng không phải là diện “bảo trợ” vì cô Tú có đi làm và gia đình Diễm Hồng tuy đơn giản nhưng không có vẻ thiếu thốn.

Diễm Hồng rất thích chơi với chị em tôi. Ngày xưa, học trò phải gọi con của thầy là “anh, chị”, ngay cả khi học trò nhiều tuổi hơn. Tới thời của chúng tôi thì khuôn phép đó chỉ còn lại ở trong đầu của những người rất cổ, tuy vậy, con của thầy cô vẫn được một chút quý trọng đặc biệt. Có lẽ vì thế Diễm Hồng coi tôi như bạn ngang hàng, và tôi chỉ gọi Diễm Hồng bằng tên, mặc dù tôi nhỏ hơn tới mấy tuổi. Sau giờ học, Diễm Hồng thường ở lại chơi với chị em tôi. Gần một năm trời, ngày nào chúng tôi cũng vui vẻ đùa giỡn bên nhau…

Ngày hai mươi tám Tết Mậu Thân, tuy đã được nghỉ học nhưng hôm đó Diễm Hồng vẫn ghé chơi. Hôm đó, mái tóc bóng mượt của Diễm Hồng được chải gọn, chẻ đường ngôi giữa thẳng tắp, hai bên tóc được giữ bằng hai cái kẹp bướm điệu đà. Thấy tôi thích thú ngắm cái kẹp, Diễm Hồng gỡ một cái gài lên tóc tôi và nói là cho tôi. Tôi nói thôi, em chỉ muốn giữ chơi vài ngày, sau Tết khi nào Diễm Hồng trở lại học em sẽ đưa lại.

Rồi Tết tới, trong sự háo hức mong chờ của bầy trẻ chúng tôi…

*
Mùng hai Tết, ở nhà tôi, mâm cúng sáng vừa được hạ xuống. Trên mâm đầy thức ăn ngon: bánh chưng, giò, chả, măng, miến, và mứt. Cả nhà tôi bắt đầu quây quần ngồi xuống dùng bữa.

Bỗng có tiếng pháo nổ thật to, thật giòn. Lạch tạch, lạch tạch, lạch tạch, lạch tạch tạch…

Pháo nổ liên tiếp. Trong khi đám trẻ con hào hứng reo lên thì Bố Mẹ tôi chau mày nhìn nhau

“Pháo ở đâu mà nhiều vậy kìa?” Tiếng lạch tạch lại vang lên, to hơn, không dứt. Mẹ tôi nhớn nhác đứng bật dậy trong khi Bố tôi nói to “Súng rồi!”

Tiếp ngay sau lời Bố là hai tiếng nổ lớn “ầm! ầm!” Mẹ tôi kêu thét lên rồi đẩy chúng tôi xuống gầm giường. Bố tôi chụp lấy cái radio rồi cùng Mẹ nằm xấp xuống đất, lắng tai nghe ngóng.

Tiếng súng nổ càng lúc càng nhiều. Từ phía xóm bờ sông có tiếng nhiều người gọi nhau. Giọng họ đầy khẩn cấp, vang vang đáng sợ, rồi tiếng chân chạy rầm rập về phía đầu đường.

Ầm! ầm! ầm! Lại một loạt tiếng nổ xé tai. Vách tường quanh nhà run lên, vôi rớt lạo xạo như tường sắp xập xuống.

“Có người bị thương rồi!” Tiếng la thảng thốt từ xóm bờ sông vọng lên, rõ mồn một, và đọng lại mãi trong trí nhớ của tôi. Người ta la. Người ta gào khóc.

Chúng tôi càng rúc sâu vào gầm giường, mặc cho mặt mày lấm lem vì bụi. Từ đó nhìn qua khe cửa trước nhà, tôi thấy rất nhiều chân người chạy qua. Tiếng súng và tiếng nổ cứ nối tiếp, nối tiếp như không bao giờ dứt.

Không biết chúng tôi nằm đó bao nhiêu lâu, nhưng sau cùng thì tiếng súng cũng ngưng. Radio phát lệnh di tản. Cùng lúc đó có người chạy lại đập cửa nói to “Lính cộng hòa đây! Bà con đi khỏi khu này ngay!”

Mẹ tôi chụp cái mấy cái áo len mới mua dịp Tết, lập cập mặc vào cho mấy đứa lớn rồi xốc em bé út lên tay. Bố Mẹ tôi líu ríu dắt bốn đứa nhỏ - đứa lớn nhất mới đi học, đứa nhỏ nhất chưa biết đi - ra khỏi nhà. Hai người lính, một Mỹ, một Việt chạy lại bế dùm hai đứa em tôi, rồi chúng tôi nhập theo giòng người đang hoảng hốt chạy ra đầu đường.

Ngay lúc đó, tôi nhìn thấy Diễm Hồng.

Diễm Hồng nằm trên tay một người lính. Cả người Diễm Hồng quấn trong một cái chăn màu đen trùm lên tới đầu, chỉ lòi ra chút mặt trắng toát như bức tượng. Cô Tú vừa khóc, vừa chạy lúp xúp theo sau. Ngực áo cô loang những đốm máu đỏ lòe. Rồi bà ngoại của Diễm Hồng vừa chạy vừa ôm ngực như sắp té xỉu. Cảnh tượng đó quá lạ lùng với trí óc của tôi, họ lại chạy vụt qua khá nhanh cho nên tôi bàng hoàng, tưởng như mình đang nằm mơ.

Khi ra tới đầu đường chúng tôi phải dừng lại tìm đón xe. Người lính bế Diễm Hồng cũng đang đứng chờ ở đó, trong khi những người lính khác xôn xao dùng điện đài nói chuyện.

Tôi không thể rời mắt khỏi Diễm Hồng, tôi nhìn trân trân như bị thôi miên. Mọi chuyện diễn ra trước mắt tôi như một cuốn phim chiếu chậm. Tôi thấy một cánh tay của Diễm Hồng bỗng rớt xuống, lủng lẳng như một cành cây vừa bị gẫy. Tôi thấy người lính cúi xuống nhìn Diễm Hồng rồi quay đầu nhìn cô Tú đang khóc nức nở trên vai của bà ngoại Diễm Hồng. Ánh mắt chú lính đó rất lạ, tuy không hiểu được nhưng tự nhiên tôi nghĩ ngay rằng một điều gì ghê gớm lắm vừa xảy ra. Rồi một chiếc xe Jeep chạy tới, dừng lại. Hai người lính nhảy xuống nhường chỗ cho chú lính bế Diễm Hồng và cả nhà Diễm Hồng lên xe. Xe chạy vọt đi trong khi tôi vẫn sững sờ ngó theo…

*
Sau một lúc lâu, cuối cùng chúng tôi cũng đón được một chiếc taxi để chạy qua nương náu ở nhà Bác tôi, nơi không có giao tranh lớn. Đầu óc tôi có lẽ đã mệt nhoài nên tôi không nhớ những gì xảy ra sau đó, ngoại trừ một sự kiện đặc biệt: đó là tối hôm đó ông anh họ tôi bị mắng một trận lớn.

Cũng như những ngày Tết khác, họ hàng tụ tập trong rất đông ở nhà Bác tôi. Nhưng lần này mọi người không nói cười, không chúc Tết, mà chỉ thì thào nho nhỏ. Không khí nặng nề, người lớn ai cũng đăm chiêu. Những anh chị trẻ hơn cũng tụm lại bàn bạc, có mấy chị lo lắng trường phải đóng cửa lâu, sẽ không kịp học hết chương trình trước kỳ thi Tú Tài cuối năm.

Một chị than thở:

- Tụi VC đã đồng ý ngưng bắn rồi mà còn tấn công ngay ngày Tết! Gian ác quá!

Ông anh họ tôi, em út trong nhà, cười cười:

- Chiêu đánh vào ngày Tết là chiêu xưa dùng lại. Vua Quang Trung cũng đánh quân Thanh ngay ngày Tết đó mà…

Bác tôi ngồi gần đó, cau mặt:

- Nói bậy! Ngày xưa quân Thanh vào chiếm nước mình, cướp của, giết người, ăn Tết trên xương máu dân mình. Vua Quang Trung ra quân ngày Tết là để đuổi giặc xâm lăng, cứu dân lành càng nhanh càng tốt. Bây giờ, Bắc, Nam đã chia làm hai nước, người dân miền Nam chỉ muốn bình an mừng năm mới. Đám lãnh đạo Bắc Việt đồng ý ngưng bắn rồi mà vẫn nuốt lời, bất chấp ngày lễ thiêng liêng. Thời điểm giống nhau nhưng tính chất hoàn toàn khác! Con lớn rồi, nói phải nghĩ, đừng so sánh hồ đồ như vậy!

Bác tôi còn nói nhiều thứ nhưng tôi không nhớ được. Tuy vậy, cảnh các anh chị tôi ngồi im thin thít và nét mặt giận dữ của Bác tôi là điều tôi mãi không quên.

*
Chúng tôi đã nương náu ở nhà Bác khoảng một tuần. Khi chính quyền cho phép về lại nhà, Bố Mẹ tôi về ngay để thăm dò rồi vài ngày sau đem cả gia đình chúng tôi trở lại.

Tôi về. Gặp khu xóm đổ nát, tan hoang.

Dãy nhà cách nhà tôi chỉ một con hẻm nhỏ nay là một đống gạch vụn. Dọc bờ sông là những bức tường lởm chởm. Cũng may là nhà tôi và năm căn sát vách vẫn còn đứng đó nhưng đầy thương tích. Ở ngay phòng khách nhà tôi, trên cao gần trần nhà có hai lỗ thủng to bằng cái nón lá trên hai vách tường đối diện nhau. Từ dưới ngó qua lỗ thủng, tôi thấy trời xanh và lá cây. Bố tôi giải thích là nhiều đạn đại liên đã bắn xuyên suốt năm căn nhà. Cánh cửa sắt kiên cố trước nhà tôi bấy giờ lỗ chỗ đầy vết lủng tròn bằng đầu đũa, và ở góc trái có một lỗ to bằng bàn tay người lớn.

Sắt quanh lỗ thủng cháy đen thui, cong queo, nhọn hoắt như răng nanh của một con quái vật.

Bà con hàng xóm cũng lục tục kéo về. Mọi người bắt đầu tìm nhau để chia sẻ.

Từ tin tức gom góp được từ các phương tiện truyền thông cũng như lời kể của nhiều nhân chứng, chúng tôi hiểu được chuyện gì đã xảy ra ngay cạnh nhà tôi. Khu xóm bờ sông là nơi dấu vũ khí của Việt Cộng để đánh vào Đài Phát Thanh Sài gòn. Việt Cộng đã chuyển vũ khí bằng đường sông để tránh sự khám xét gắt gao trên đường bộ. Vũ khí đã được cất trong vài căn nhà của bọn “nằm vùng” trên bờ sông. Ngày mùng hai Tết, lực lượng địch từ xóm bờ sông kết hợp với nhóm đặc công ém sẵn trong một ngôi nhà trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm tiến chiếm Đài Phát Thanh.

Lực lượng Cộng Hòa đã kéo đến bao vây khu đó tới tận bờ sông. Sau khi lính Cộng Hòa mở đường cho dân chạy, hai bên đã đụng độ dữ dội ngay trong xóm tôi. Đủ loại súng đã nã đạn trong suốt mấy tiếng đồng hồ, tàn phá khu xóm yên bình của chúng tôi.

Đó cũng là lúc tôi nghe tin Diễm Hồng đã chết vì một miểng đạn ghim vào thái dương. Ngay khi nghe tin đó, tự nhiên tôi biết là Diễm Hồng đã lìa đời trước khi chú lính bế chị ấy lên xe Jeep.

Tôi tin chắc là Diễm Hồng đã ra đi ngay khoảnh khắc chú lính hướng cái nhìn kỳ lạ về phía cô Tú. Ánh mắt đó hằn một dấu trong đầu tôi, mãi mãi. Cái nhìn đó ám ảnh tôi, và mãi nhiều năm sau tôi mới hiểu đó là cái nhìn đầy thương xót nhưng hoàn toàn bất lực. Và, rất lâu về sau, tôi mới liên tưởng được rằng đó là cái nhìn của một người phải bó tay khi thấy một người khác bị lừa một cú trí mạng ngay trước mắt mình.

Sau này, tôi thường nghĩ rằng đám trẻ con chúng tôi cũng bị lừa một cú rất nặng vào Tết Mậu Thân năm 1968. Chúng tôi bị lừa mất một phần tuổi thơ.

Từ đó về sau chúng tôi không còn được đốt pháo ngày Tết. Chị giúp việc trở lại sau thời gian về Huế đáng lẽ để ăn Tết, phờ phạc như mất hồn, dắt theo hai đứa cháu mồ côi trạc tuổi tôi. Những mấu sắt cong queo, nhọn lểu quanh lỗ thủng trên cánh cửa sắt trước nhà được đập cho thẳng bớt ra, nhưng lỗ thủng vẫn ở đó, như một vết thương sâu hoắm. Cũng như nhiều gia đình khác trong xóm, Bố Mẹ tôi mua mấy chục bao cát xếp thành một cái hầm nhỏ ngay trong phòng ngủ làm căn nhà vừa thêm người càng chật chội, bí bức.

Riêng tôi, từ sau Tết Mậu Thân, tôi đã biết thế nào là đau khổ. Tôi đã chứng kiến chết chóc, chia ly khi chưa tới mười tuổi đầu. Tôi đã biết nhận xét rằng gia đình của Diễm Hồng như mất đi sức sống. Tôi chỉ dám len lén nhìn cô Tú từ xa nhưng vẫn thấy được nét đau đớn câm nín trên gương mặt mệt mỏi, trên mí mắt lúc nào cũng ưng ửng đỏ của cô. Tôi thường tránh mặt cô Tú và bà của Diễm Hồng. Không phải vì cái kẹp tóc đã bị mất trong những ngày loạn lạc (tôi biết, dù cái kẹp có còn cũng chẳng có ai để trả), nhưng vì tôi sợ nhìn thấy tôi họ sẽ nhớ Diễm Hồng. Trong trí óc non dại nhưng nhạy cảm, tôi cảm thấy gần như… có lỗi với họ vì tôi may mắn được sống.

*
Bây giờ, tôi thấy rõ rằng cuộc tấn công Tết Mậu Thân mà cao điểm là cái chết của Diễm Hồng từng là một biến cố rất khốc liệt đối với tôi. Rất nhiều năm sau đó, tôi vẫn nghĩ đến những chuyện đã xảy ra. Tuy nhiên, ở nước nghèo trong thời chiến, săn sóc tâm lý cho con nít là điều xa xỉ và hầu như không ai nói tới. Cũng may tôi đã thường xuyên tự nhủ tôi đang được ở bên cha mẹ, và nhận thức rõ ràng rằng tôi sung sướng hơn rất nhiều trẻ con ở xung quanh. Ý nghĩ đó đã an ủi tôi và giúp tôi lấy lại thăng bằng.

Tâm hồn tôi đã lành, nhưng ký ức năm xưa vẫn lưu lại một vết sẹo đậm. Tôi nhớ mãi hình thù của lỗ thủng trên cánh cửa sắt và ánh sáng chói lòa, thảng thốt trong căn phòng khách thiếu mái, thiếu tường ngày tôi trở lại. Và trên hết, tôi vẫn không quên từng chi tiết trong khoảnh khắc cánh tay của Diễm Hồng rơi xuống, như một nhánh cây vừa bị chặt đứt, ngay trong ngày mùng hai Tết.

Cầu xin ơn trên dẫn đường cho xương máu người Việt không phải đổ ra vì tham vọng của các thế lực quốc tế, để trẻ con Việt được sống trọn vẹn tuổi thơ.

Khôi An

Blog Archive