Thursday, August 4, 2016

Nghệ sĩ Kim Tuyến: “Tôi chọn tự do và không hối tiếc”.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh

Tình cờ gặp được chi Kim Tuyến, một trong nghệ sĩ tài danh của giới biểu diễn miền Nam trước 1975. Dù ở trong các tuồng diễn của gánh hát Kim Chung hay Dạ Lý Hương, thì cái tên Kim Tuyến luôn đứng cùng với Hùng Cường, Tấn Tài, Thanh Hải… Khán giả của thập niên 60 luôn đánh giá tài năng của chị không khác gì Ngọc Giàu, Bích Sơn, Phượng Liên, Thanh Thanh Hoa…  Giọng hát và lối trình diễn của chị là sự thu hút đặc biệt trên sân khấu của Sài Gòn. Nhưng có lẽ cũng vì vậy mà chị gặp không ít khó khăn sau tháng 4-1975 bởi chọn lựa của mình.

Tháng 7/2016, chị Kim Tuyến có kể về cuộc gặp giữa chị và nghệ sĩ Kim Cương. Giữa trùng phùng đó, người nghệ sĩ của Little Saigon đã bất ngờ bật ra câu hỏi với nghệ sĩ Kim Cương rằng vì sao bà lại là một cán chính nằm vùng.

Câu hỏi đó, cũng bật tung cánh cửa quá khứ, mở ra những điều âm ỉ chưa ai nói hết. Lịch sử ghi lại vô số những dữ kiện lớn lao, nhưng đôi khi vẫn thiếu những câu chuyện đời mà khiến ai nấy đều phải trầm ngâm suy nghĩ. Ngày chiến tranh ấy xa rồi, nhưng có những vết thương không bao giờ có thể lành.

Về nghệ sĩ Kim Cương, thật mới mẻ khi nghe kể lại qua lời của một đồng nghiệp – mà hơn nữa là mặt đối mặt chứ không phải là chuyện thêu dệt. Trong chuyện kể ấy, nghệ sĩ Kim Cương đã ngại ngùng ra đi, để tránh phải trả lời nghệ sĩ Kim Tuyến. Cuộc đời, quả thật khó ngờ hôm nay và mai sau. Cũng ít ai biết, trong những tháng ngày của chế độ mới, nhiều người kể rằng nếu không có ông Võ Văn Kiệt lên tiếng bênh vực thì bà Kim Cương cũng đã gặp nhiều búa rìu từ các cán bộ bảo thủ thâm căn – coi bà Kim Cương cũng cùng một loại “văn hóa đồi trụy”, không nên sử dụng trong chế độ XHCN.

Cám ơn chị Kim Tuyến, một nghệ sĩ tài danh và là một người thẳng thắn kể lại mọi thứ trong bài phỏng vấn dưới đây. Những gì chị nói ra, sẽ là phần tham khảo sống động nhất cho thế hệ mai sau về sân khấu, con người và cuộc đời của Sài Gòn trong ký ức của những ai yêu thương nơi chốn ấy.

Tôi giữ lại câu chuyện  này với sự tôn trọng người kể, với tư cách hậu bối, và cũng sẳn lòng dành thời gian với với những ý kiến cải chính khác gửi đến, trong tinh thần sẳn sàng rộng đường dư luận. Trân trọng.
***

Thật bất ngờ khi gặp lại chị ở Mỹ, đặc biệt là qua trường hợp chị nói rất thẳng thắn với nghệ sĩ Kim Cương, về những hoạt động không có tính cách văn nghệ của bà. Có vẻ như còn rất nhiều thứ về cuộc đời mình mà chị chưa có dịp chia sẻ với khán giả. Nếu không bất tiện, chị có thể cho biết sau ngày 30-4-1975, cột mốc của đời chị đã như thế nào?

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, theo lời kêu gọi của Đài Phát Thanh Sài Gòn (quân cán chính phải đến trình diện), tôi đến sở làm là Tiểu Đoàn 50 Chiến Tranh Chính Trị trình diện. Đến nơi tôi thấy một đống rác khổng lồ ngay lối cổng ra vào và đầy cả trong sân. Bỗng có người nói: “Không phải ở đây mà phải trình diện ở Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị ở đường Thống Nhất”.

Đến Tổng Cục CTCT, anh Vân Sơn (ban AVT) giúp tôi lấy tờ đơn khai lý lịch từ một cán bộ cộng sản đưa cho tôi. Tôi đang điền vào thì một cán bộ khác bước ra nói: 

Các ban nhạc trong Nam này chỉ có vài nhạc công, ngoài Bắc chúng tôi có cả trăm nhạc công ấy”

Tôi hơi bực nói : “Nhưng sao ca sĩ các anh hát giống tiếng Tàu quá, chỉ nghe chí chí chéo chéo không hà, chúng tôi không hiểu gì cả”.

Nhìn vào tờ khai lý lịch, tôi nhanh trí điền vào hai chữ “tài xế” ở phần nghề nghiệp. Xong mọi thủ tục, anh Vân Sơn đưa tôi đến trước cổng Ban Văn Nghệ Hoa Tình Thương và Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương. Anh Vân Sơn chào từ giả với gương mặt thật buồn. Về sau tôi được tin anh Vân Sơn đã nhảy xuống sông Thị Nghè tự tử vì bất mãn với chế độ.

Sau đó theo lời kêu gọi của chị Kim Cương, tôi đến họp tại Hội Nghệ Sĩ. Rất đông các cô chú và anh chị nghệ sĩ tân cổ tụ tập bên hông trụ sở và phía sân sau. Khi thấy tôi và nghệ sĩ Tùng Lâm ngồi trò chuyện, chị Kim Cương ngồi xuống bên cạnh tôi. Tôi nói “Chị ơi em buồn quá”

Chị Kim Cương  kéo đầu tôi ngả vào vai chị, một tay vuốt tóc  vỗ về: “Đừng buồn em, chị em mình rồi sẽ được giải phóng ra khỏi bốn bức tường”. 

Tôi sững sờ nhìn chú Tùng Lâm. 

Chị Kim Cương nói lớn “Mọi người vào trong, đến giờ họp

Chị nắm tay tôi, kéo tôi theo chị vào phòng họp. Chị ngồi vào đầu bàn chủ tọa. 

Chị dõng dạc tuyên bố: “Ngày xưa bọn Thiệu Kỳ bán nước còn hiện diện trên quê hương ta, tôi phải núp dưới danh nghĩa Làng Cô Nhi Long Thành. Hôm nay chúng ta đã đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào. Tôi ra lệnh cho anh Nguyễn Đức (nhạc sĩ) lập những tiểu tổ để chúng ta thành lập Biệt Đội Văn Nghệ …”. 

Chú Tùng Lâm nghiêng đầu nói nhỏ vào tai tôi: “Tuyến, khóc nữa đi con, mầy khóc nữa đi con”.

Tôi thất vọng não nề. Trong khi chị Kim Cương thao thao bất tuyệt, tôi không còn nghe hay không muốn nghe gì nữa cả. Trời ơi, thần tượng sụp đổ ! Kim Cương là Việt Cộng nằm vùng đã giúp cho cộng sản cướp đoạt miền Nam, áp bức bóc lột người dân, đưa đất nước đến chỗ sắp bị diệt vong, mà sao lại dám nói là mình yêu nước ???

Vài tuần sau, tôi gặp bác Bảy Nam, mẹ của chị Kim Cương, đi xích lô máy ngừng trước nhà. Thấy tôi Bác hỏi : “Kim Tuyến, con đi đâu đây?”. 

Tôi chào Bác và trả lời “Dạ, đây là nhà con”. 

Bác nói tiếp: “Bác vào thăm ông Trần Tấn Quốc, vì nghe ổng sắp dọn về Cao Lãnh ẩn dật. À, con có nhận được thơ của chị Kim mời con tham gia ban kịch không? Chị Kim thích con đóng kịch với chị lắm. Ngày phát role (*chọn người vào vai) chị Kim chờ con quá trời”. 

Tôi chỉ còn biết đáp: “Dạ…Dạ…tại con bịnh”.

Sau đó mấy ngày Má Bảy Phùng Há nhắn tôi đến nhà. Bà mặc áo dài chờ tôi, Bà cho biết Bà muốn đưa tôi lên Sở Thông Tin Văn Hóa trình diện để hát cho đoàn Sài Gòn 1 với nghệ sĩ Thành Được. Trước đó tôi luôn được Má Bảy mời hát chánh cho ban cải lương Phụng Hảo và Vân Kiều trên TV với anh Thanh Sang, và lần sau cùng với anh Thành Được tuồng Cạm Bẫy Đô Thành của soạn giả Ngọc Điệp. Má Bảy bảo tôi về thay áo dài cho đàng hoàng, “cách mạng không thích ăn mặc như vậy đâu con”, vì tôi đang mặc quần ống loa và áo thun màu vàng  với chữ Have a nice day, áo bỏ trong quần, đeo dây belt to tướng. Tôi chào Má Bảy, trở về nhà tôi, và trốn luôn Má Bảy.

Nhưng rồi sau 1975, chị có tiếp tục sinh hoạt văn nghệ bình thường không? Những ngày đó như thế nào?

Sau ngày 30/04/1975, văn nghệ sĩ, nhạc sĩ miền Nam hầu như thất nghiệp hết. Cứ một hoặc hai ngày là có ba người bộ đội mang dép râu đi vào nhà tôi, ngang nhiên đi từ trước ra sau, rồi ngồi chồm hỗm trên salon và nói là “Chúng con đến thăm Mạ (Mẹ tôi)”. Lần lượt cán bộ, rồi tới  ‘Cách Mạng 30’ (*thành phần hưởng ứng với chế độ mới ngay sau ngày 30-4) kéo tới nhà tôi kêu gọi tôi tham gia. 

Họ bảo: “Chị là nghệ sĩ nên sẽ có tác động lớn đối với quần chúng, chị sẽ ca hát và hướng dẫn quần chúng. Mới giải phóng nên cách mạng còn nghèo. Chúng tôi sẽ cấp cho chị một chỗ ngủ nghỉ tại trụ sở ngoài đường Lê Quang Định, nơi chúng tôi tịch thu của bọn bám chân đế quốc Mỹ, chúng tôi cung cấp cho chị một bữa ăn cho một ngày… “.  Tiền lương thì không có.

Họ yêu cầu tôi theo họ ra Quận và định chở tôi bằng xe đạp. Tôi bảo họ cứ đi trước, tôi sẽ chạy xe theo. Quận của họ là bãi đất trống ngay ngã 5 Bình Hòa. Một nhóm người, già trẻ bé lớn đứng bao quanh một thanh niên nhỏ con, ốm nhách đang ôm cây đàn, vừa hát vừa chỉ dẫn tất cả hát và diễn tả bằng chân:  “Ta lên giây đàn… từng tưng…”. Mọi người nhìn theo anh nầy, cùng hát cùng co chân, đưa đầu gối cao ngang bụng, hai tay cũng làm bộ như đang cầm cây đàn. Tôi thầm nghĩ “trình diễn kiểu gì mà giống như một bầy khỉ đột vậy?” Tôi cảm thấy xấu hổ cho cậu thanh niên, và tội nghiệp cho những người dân đang bị bắt làm những trò quái đản. Mặt tôi nóng bừng, tay chân tôi lạnh, chắc là bị lên máu. Tôi nói với anh cán bộ là tôi bị bệnh rồi và tôi phải về nhà chữa bệnh gấp.

Cả xóm nhà vùng tôi ở rất bực mình vì những cái loa tuyên truyền láo khoét. Mới hừng sáng loa phát rùm lên kêu mọi người thức dậy tập thể dục, nghe rất chói tai nhức óc. Có lần họ cho người đến từng nhà trong xóm kiểm kê xem nhà có cầu tiêu không? Loại nào? Ngồi bàn hay ngồi chồm hỗm có cái lỗ ?…

Hoàn cảnh chị thì như vậy, nhưng bạn bè quen biết trong nghề thì thế nào? Họ có gặp những nghịch cảnh như chị không hay mọi thứ dễ dàng hòa nhập hơn?

Tôi có người bạn tên Mai, nhà chị ở đường Ngô Tùng Châu, Gia Định. Một dịp tôi đến nhà chị thì thấy một nhóm công an phường ngồi đầy nhà. Chị nói nhỏ với tôi là họ ngang nhiên vào nhà, họ còn tự động lấy thức ăn trong tủ lạnh. Tôi bênh bạn nói: 

“Chị này ở một mình, không có chồng, tại sao các anh tự nhiên vào nhà người ta vậy?”  

Họ đáp “À, thì chỉ là đến thăm chị Mai thôi”. 

Tôi chợt nhớ đến chị bạn có chồng nhạc sĩ cổ nhạc đang là quân nhân của Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương và đang có nhà trong khu gia binh, tôi hỏi: 

“Mấy gia đình vợ con lính VNCH sống trong trại gia binh, bây giờ có được tiếp tục ở không?”.  

Tên Ba Tấn, mặt mày gian ác, trả lời: “Chúng đã tiếp tay  cho bọn Thiệu Kỳ bán nước, chúng không có quyền ở”. 

Tôi hỏi: “Vậy ai sẽ ở?”. 

Hắn đáp: “Chúng tôi, những người có công với cách mạng”. 

Tôi nói tiếp: “Theo tôi, các anh là cách mạng giải phóng miền Nam, nên dành những căn nhà đó và các biệt thự của cái bọn mà các anh cho là bám chân đế quốc Mỹ bỏ lại, đem cấp cho các người nghèo khổ đang ở gầm cầu xó chợ. Còn các anh nên che chòi ở, thì dân chúng sẽ phục các anh vô cùng. Các anh vào ở các nhà này tôi e dân chúng sẽ nghĩ lầm về cái từ giải phóng của các anh. Còn xe tăng, xe nhà binh, máy bay của đế quốc Mỹ bỏ lại, các anh nên bắt chước Campuchia đốt bỏ hết đi, đừng nên xài bất cứ cái gì của Mỹ Ngụy để lại”.

Ba Tân tức giận gọi đồng bọn. Mấy chiếc xe mô tô hụ còi rầm rộ chạy đến, chĩa súng bắt tôi giải đi về phường. Đến chiều, một thanh niên trẻ ôm 1 tập giấy tờ mở cửa sắt vào gặp tôi.  Em có vẻ ngạc nhiên nói: 

Trời ! Chị Tuyến, sao chị vào đây? Em là Đạt bạn của thằng em chị, em học ở Đạt Đức. Em có đến nhà chị hoài mà không gặp chị, chị đi hát hoài nên không biết em”. 

Rồi Đạt hỏi tôi chuyện gì xảy ra và Đạt đề nghị tôi viết vào một tờ giấy, nhận rằng mình không hiểu rõ đường lối của cách mạng, xin lỗi cách mạng, ký tên, rồi Đạt sẽ trình cấp trên và họ sẽ thả tôi. Tôi không chịu viết vì nghĩ mình không có tội gì cả. Đạt khuyên tôi: 

Họ đã ghi vào hồ sơ và buộc chị vào tội phản động, họ sẽ đưa chị đi xa lắm…Hay là vầy, em viết gì kệ em, chị chỉ ký tên vào, họ sẽ thả chị ra”. 

Nghĩ đến con, đến Má tôi và các em rất cần tôi, tôi ứa nước mắt ký vào.

Vài ngày sau, anh Vinh từng là quản lý của các đoàn cải lương trước 1975 đến nhà tôi và cho biết Cục An Ninh Nội Chính mời tôi về làm đào chánh cho đoàn. Tôi nói với anh Vinh: 

Nếu thương em, xin anh về nói với họ là em đang bệnh. Anh biết không, vì cái cục R nầy mà em bị lên tăng xông, bệnh gần chết”.

Vài tuần sau, chị Bạch Lan Thanh đến nhà mời tôi đi hát với nghệ sĩ Tùng Lâm và anh Giang Tử, do anh Tony Quang ảo thuật gia tổ chức. Chương trình văn nghệ bỏ túi có ca tân cổ, có kịch, có ảo thuật và xiệc. Trong đêm trình diễn ở 1 quận ở miền Tây, có cả bộ đội mang dép râu, ngồi chồm hỗm trên những băng ghế dài bằng cây, xem có vẽ thích thú vỗ tay và yêu cầu tôi hát tân cổ bản “Những Đồi Hoa Sim”, rồi “Tình Đầu Tình Cuối”, và “Tình Đời” song ca với Giang Tử. Sau đó là phần ảo thuật và hài kịch. Vãn hát xong, thì  Thông Tin Văn Hóa xuống họp với chúng tôi. Một cán bộ với giọng Bắc nói:

“Sao tên của Tùng Lâm và Kim Tuyến to thế ? Ngoài Bắc chúng tôi không có cá nhân đấy nhé. Yêu cầu anh Tùng Lâm đừng diễu nữa nhé”.  

Tôi nghĩ thầm: “Danh hài mà không cho diễu là sao?”. 

Mọi người yên lặng, tôi lên tiếng: “Xin lỗi anh, anh tên gì ?” 

Anh ta đáp: “Chị cứ gọi tôi là anh Ba”

Tôi nói tiếp: “Anh Ba, theo tôi có lẽ ca nghệ sĩ văn công ở ngoài Bắc hát được nhà nước trả lương. Nhưng ở đây là do tư nhân tổ chức, cần bán vé vào cửa, nên phải quảng cáo tên nghệ sĩ để khán giả biết mà mua vé vào xem, nhờ đó chúng tôi mới có chén cơm”

Anh Ba nhìn tôi lên giọng: “Yêu cầu chị Kim Tuyến và anh Giang Tử không được mặc đồ Mỹ Ngụy mà phải mặc đồ bà ba đen, quấn khăn rằn giống Bác ấy”.  

Trước khi ra về, có hai cán bộ đứng dậy đặt tấm giấy lên bàn, nghiêm giọng nói: “Yêu cầu chị Kim Tuyến hát bài nầy”.  

Tôi nhìn vào, thấy dòng chữ: Vọng Cổ Bà Mẹ Việt Nam bắn Mỹ cứu quốc. Khi họ đi rồi tôi nói : “Chú Lâm, chắc con nghỉ hát”. 

Các em trong ban nhạc nhốn nháo: “Chị Tuyến về, tụi em cũng ôm đàn về luôn”.

Tối hôm đó tôi trở về căn nhà của dân do Tony Quang mướn. Bước ra phía sau nhà, tôi thấy chú Tùng Lâm ngồi bó gối trầm ngâm bên chai rượu dưới ánh trăng. Tôi ngồi xuống, bưng chai rượu uống một hơi, dù tôi không hề biết uống rượu, uống để chia sớt nỗi đau với chú, và uống để cho vơi đi nỗi uất hận và tủi nhục mà kẻ chiến thắng muốn áp đặt quyền dạy dỗ chúng tôi. Niềm đau tủi đã dâng trào … Hai chú cháu gục đầu vào nhau khóc nức nở. Hôm sau tôi từ giã chú Lâm, về lại Sài Gòn và tìm cách vượt biên.

Những ngày đầu sau 30 tháng Tư, tôi thấy TV phát hình vở cải lương hồ quảng của các nghệ sĩ miền Bắc. Họ không có đôi hài để mang, họ mang dép râu, trang phục rất nghèo nàn. Có một vở kịch mà diễn viên mặc áo đầm Liên Sô nói về điện Cẩm Linh chiếu trên TV và các ca nghệ sĩ phải chào cờ của Liên Sô. So sánh với miền Nam, các nghệ sĩ cải lương hồ quảng ăn mặc rất đẹp. Các kịch sĩ không hề diễn kịch về Tòa Bạch Ốc và chúng tôi không hề phải chào cờ Mỹ. Chúng tôi làm việc cho Ban văn Nghệ Hoa Tình Thương/ Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị và cơ quan thông tin JUSPAO, chúng tôi chỉ hát những bài ca ngợi quê hương, tình yêu và ca ngợi sư hy sinh của những chiến sĩ VNCH, chứ không hề có những bài ca sắc máu kiểu Cộng Sản “Thề phanh thây uống máu quân thù”.

Với nghệ sĩ thì như vậy, chung quanh chị, còn những người Sài Gón khác ra sao? Chị có còn nhớ một vài điều gì đáng nhớ vào thời điểm đó?

Một buổi trưa, nằm nghe tiếng hát lạ : “Thăm thẳm chiều trôi… khuya anh đi rồi sao trời đưa lối…” tiếng hát đầy xúc cảm như muốn xé cả ruột gan. Tôi bước ra lan can nhìn xuống đường ngay gốc cây trước nhà tôi, một người đàn ông mặc quần lính VNCH và chiếc áo thung cũ, cụt 2 chân, đang ôm đàn hát…Tôi xúc động rơi nước mắt nhớ lại những ngày hát cho các anh chiến sĩ tại các tiền đồn Pleiku, Kontum, Bệnh Viện Cộng Hòa, Bệnh Viện Lê Hữu Sanh v.v… Hình ảnh quá đau xót của những thương phế binh bị đuổi khỏi bệnh viện đi qua nhà tôi trong buổi chiều 30/04/1975, hình ảnh một người đàn ông ngã quỵ trước cửa trong đêm tối, tôi và các em tôi phụ đưa anh vào nhà, nấu nước trà gừng và pha sữa, rồi cạo gió cho anh, lúc anh tỉnh dậy chúng tôi mới biết anh là lính VNCH. Hôm sau, lại một phụ nữ ngã gục trước nhà tôi vì đói quá, chúng tôi giúp chị qua cơn đói.

Được biết chị vượt biển đi từ rất sớm, đến Mỹ, chị có gặp lại đồng nghiệp và nối lại nghề diễn của mình?

Tôi vượt biên vào cuối năm 1978 với gia đình, đứa con nhỏ nhất của tôi mới 10 ngày tuổi. Chuyến vượt biển hãi hùng như bao nhiêu nạn nhân vượt biển khác. Cuối cùng chiếc tàu nhỏ bị lật  vì sóng to và đụng đá ngầm trước khi vào đến bờ biển Mã Lai, làm cho một số người chết. Gia đình tôi may mắn được cứu thoát và sau đó được định cư tại Hoa Kỳ với tư cách tỵ nạn chính trị.

Những ngày đầu đến Mỹ, tôi cũng như bao nhiêu người tỵ nạn khác, được chính phủ Mỹ giúp đỡ. Tôi đến trường học tiếng Anh.  Chị Túy Hồng là người đầu tiên mời tôi hát trên đất Mỹ. Tôi dành một buổi hát tại Los Angeles cho anh Bảo Ân. Sau đó lịch trình diễn của tôi khá bận rộn: hát gây quỹ cho Chùa, Nhà Thờ, Kháng Chiến… hát cho các phòng trà, vũ trường, đại nhạc hội… thu video cho nhiều vở kịch và tuồng cải lương và các bài tân nhạc, trình diễn nhạc kịch cho NS Hoàng Thi THơ, trình diễn văn nghệ tại Âu Châu và các nước Canada, Nhật Bản, Úc…

Đã có lúc nào chị quay lại Việt Nam, để nhìn lại, nhớ lại?

Tôi có trở về Việt Nam sau khi Mẹ tôi mất năm 2010, lý do là lo giải quyết tro cốt của Ba tôi để lại từ năm 1973. Trong thâm tâm tôi nguyện lo xong là không bao giờ muốn trở về khi chế độ cộng sản vẫn còn trên quê hương Việt Nam. Trong chuyến đi này tôi có gặp lại vài người bạn thân quen từ thuở nhỏ, những người bà con và vài người bạn đồng nghiệp. Lúc tạm trú tại một khách sạn tại Sài Gòn tôi gặp những người làm việc ở đó nói toàn giọng Bắc mới sau 75 rất khó nghe.

Hầu như những người Bắc 75 đã vào chiếm cứ hết những căn nhà mặt đường khu thương mại của Sài Gòn, trong đó có ngôi nhà trước kia của tôi. Sài Gòn trở nên quá chật chội, lưu thông tắc nghẽn, khói bụi mịt mù, không tôn trọng luật lệ, cảnh sát giao thông làm tiền trắng trợn. Đạo đức suy đồi, tham nhũng tràn lan. Không có một quốc gia nào trên thế giới mà muốn vào hoặc ra khỏi phi trường là phải nộp tiền mãi lộ nếu muốn được yên thân. Đi đâu tôi cũng thấy biểu ngữ: “Quyết tâm làm sạch đường phố”… hết ‘quyết tâm’ này đến ‘quyết tâm’ kia, hết ‘phường văn hóa’ đến ‘khóm văn hóa’, mà cán bộ và công an thì đối xử với dân rất vô văn hóa. Tôi chưa từng thấy nước nào giăng quá nhiều biểu ngữ dạy dỗ dân như Việt Nam Cộng Sản.  Tôi cảm thấy xa lạ và cô đơn trên chính quê hương của mình.

Chị chọn lựa ra đi và thật sự không hối tiếc? Được biết chế độ mới ở Việt Nam cũng nhiều lần mời chị trở lại sân khấu và sống với nghề như cũ. Thử nghĩ lại, chị ra đi chỉ vì bất mãn tạm thời hay có thêm những kinh nghiệm nào khác?

Sau 10 năm định cư trên nước Mỹ tôi mới nộp đơn xin gia nhập quốc tịch Mỹ. Ngày tuyên thệ tôi thấy lòng ngậm ngùi nghĩ đến thân phận mình cũng có một quê hương, tại sao hôm nay mình phải xin được trở thành công dân của một nước khác không cùng màu da? Nước mắt tủi hờn lại có dịp rơi.

Sau khi quyết định nghỉ hát tại Việt Nam (1975), tôi không theo dõi các chương trình TV và ít giao thiệp, nên không rõ các sự việc xảy ra cho các nghệ sĩ đồng nghiệp ở Việt Nam. Kỷ niệm đáng nhớ trước khi ra đi là có một ngày anh Nhật Trường đến nhà tìm tôi để mời tôi hát cho anh lưu diễn miền Tây, nhưng tôi bận rộn lo chuyện vượt biên.  Một kỷ niệm khác là vào một buổi tối, tôi gặp Bà Năm Sa Đéc trước một tiệm phở trên đường Hiền Vương (*nay là đường Võ Thị Sáu). Bà Năm Sa Đéc (Má Năm) có đóng chung với tôi trong phim  “Đỉnh Núi Mây Hồng”.  Má Năm vừa đưa tay chỉ lên đầu vừa nói với tôi: “Tụi nó bắt Má Năm học tập cải tạo, nhưng đầu này có sạn rồi… còn lâu ! “. Ánh mắt Má Năm sáng rực nỗi  phẫn uất trong đêm tối.

Tôi có một người em kết nghĩa tên Nguyễn Văn Trảng là đệ tử của ông Anh Lân, khi viết kịch hay viết báo em lấy biệt hiệu là Vương Thế Trung. Em tiếp tục học và đã tốt nghiệp kỹ sư (Phú Thọ), tôi có dự lễ tốt nghiệp của Trảng năm 1973. Mẹ Trảng tu ở chùa Cao Đài, Ba Trảng mất sớm. Một ngày nọ (1975), Trảng ghé nhà tôi và cho biết em đang hoạt động cho Phục Quốc Quân tại Tây Ninh, tôi gởi cho em một số tiền để em hoạt động. Năm 1978 tôi được tin Trảng đã bị bắt.

Năm 1983, soạn giả Trần Trung Quân từ Pháp sang mời tôi thu hình vở cải lương “Nước Mắt Người Đi” với Dũng Thanh Lâm, nội dung kể lại cuộc đời của các chiến sĩ phục quốc anh hùng. Tôi kể chuyện tôi có cậu em kết nghĩa tên Trảng theo Phục Quốc Quân bị cộng sản bắt, không biết giờ ra sao. Bất ngờ, anh Trần Trung Quân cho biết anh có bà Mẹ hay đi chùa Cao Đài ở Tây Ninh vừa qua Pháp đoàn tụ với anh, bà Mẹ kể rằng Hiền Tài Nguyễn Văn Trảng hoạt động phục quốc bị cộng sản gài bắt và đưa ra xử trước tòa án nhân dân. Cộng sản kết tội Nguyễn Văn Trảng là phản động. Trảng hiên ngang hét lớn: 

“Tôi không phản động, Hồ Chí Minh mới là kẻ phản động”. 

Trảng bị bắn chết ngay tại chổ. Anh Trần Trung Quân nói anh đã đưa câu nói này của Hiền Tài Trảng vào trong vở tuồng do Dũng Thanh Lâm đóng vai chiến sĩ VNCH. 

Tôi  lặng người đau đớn nát cả lòng, nhớ đến hình ảnh Trảng đạp xe đạp lộc cộc đến chỗ tập kịch. Tôi đề nghị giúp Trảng mua xe mobilette để làm phương tiện di chuyển . Trảng hứa trả lại sau khi ra trường làm việc. Tôi thương em như thương chính tôi vì nhớ cảnh tôi phải bỏ dở việc học để đi hát kiếm tiền phụ giúp Cha Mẹ nuôi các em, khi Ba tôi gặp khó khăn tài chánh vì Việt Cộng liên tục đắp mô đặt mìn trên tuyến đường Sài Gòn – Vĩnh Bình, làm cho chiếc xe đò của Ba tôi không hoạt động được. Tôi nói Trảng cứ yên tâm, tôi tặng Trảng vì nghèo, mồ côi cha, hiếu học, xem như tôi đóng 2 show kịch TV không lãnh thù lao. Trảng cảm động rưng rưng nước mắt.

Năm 1995, điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu tác giả bức tượng Tiếc Thương ở nghĩa trang quân đội Biên Hòa gọi điện thoại tìm tôi. Anh cho biết anh có 1 cô bạn là nữ quân nhân vừa qua Mỹ đang ở Boston đi diện HO có biết một số tin tức về Nguyễn Văn Trảng.. Tôi hẹn gặp chị tại nơi anh Thu cư trú ở Garden Grove , California. 

Chị  cho tôi biết là có 1 thời gian ngắn chị bị giam chung với Trảng,  Trảng thường nhắc đến Kim Tuyến và nói nếu chị ra được khỏi tù thì nhờ chị tìm gặp chị Tuyến, nhắn rằng em lúc nào cũng thương chị Tuyến. Nhưng tiếc thương thay cộng sản đã giết Em. Anh Nguyễn Thanh Thu có ý định tạc một bức tượng của Trảng, nhưng không thành vì lúc đó không ai có được một bức hình của Trảng. Chắc anh Nguyễn Thanh Thu còn nhớ câu chuyện của Trảng. Tôi mong được gặp lại chị nữ quân nhân mà tôi đã gặp 20 năm trước. Nhớ đến Trảng tôi cảm thương và liên tưởng đến các thanh niên nam nữ trẻ tuổi như Trảng đã anh dũng tham gia phong trào Phục Quốc bị tra tấn, tù đày và sát hại. Tôi có một ông cậu ruột (cậu Lữ Minh Bạch) là một sĩ quan hải quân VNCH, cũng hoạt động phục quốc, đã bị cộng sản bắt và bị kết án 18 năm tù.

Tôi đã khóc khi đọc những bài viết của những người Tù chính trị sau khi định cư ở Mỹ qua diện HO kể về những nhục hình mà những người Cộng sản đã trả thù tàn độc , tôi lại càng căm thù chủ nghĩa Cộng sản.

Sau một thời gian sống và làm việc ở Mỹ, chắc chị rồi cũng dần dần gặp lại ít nhiều các đồng nghiệp trong Việt Nam qua Mỹ du lịch hoặc biểu diễn, cảm giác của chị thế nào?

Bận rộn với gia đình và các sinh hoạt văn nghệ ở Mỹ, nhưng tôi vẫn thường liên lạc với chị Như Mai và Kim Hoàng vì có mối thân tình từ lúc chị mời tôi đóng vai chánh trong các vở kịch và tuồng cải lương trên TV, đài phát thanh và đóng  phim “Vực Nước Mắt”. 

Lúc chị Như Mai điều hành Chùa Nghệ Sĩ, tôi có trợ giúp cho chi phí xây một bức tường quanh nghĩa trang nghệ sĩ. Năm 1993, tình cờ tôi được biết qua chị Như Mai là Lê Duy Hạnh, chủ tịch Hội Sân Khấu trong Việt Nam, đang có kế hoạch giao lưu văn hóa. Bắt đầu họ sẽ gởi một hai ca nghệ sĩ ít hoặc không bị chống đối đến Mỹ hát trước để tránh bị biểu tình phản đối, sau đó họ sẽ tiếp tục gởi tiếp nhiều ca nghệ sĩ khác ra hải ngoại. 

Chị Út Bạch Lan đến Mỹ trước tiên. Cô chủ nhà hàng Anh Thy và cô Sáu Châu gọi báo cho tôi biết và muốn tôi cùng gặp chị  Út Bạch Lan. Tôi đến nhà hàng Anh Thy, nhìn thấy anh Duy Khánh và Lâm Tường Dũ, hai anh đưa cho tôi xem tờ quảng cáo quay roneo có hàng chữ: Tái ngộ sầu nữ Út Bạch Lan… với sự bảo trợ của  Duy Khánh, Kim Tuyến, Lâm Tường Vũ. Họ tự động ghi tên tôi vào thành phần ban tổ chức mà không hề hỏi xem tôi có đồng ý không. 

Tôi nói: “Tôi chỉ muốn đến thăm chị Út Bạch Lan như một đồng nghiệp đàn em chào mừng chị, nhưng tôi không muốn có tên trong danh sách bảo trợ hay ban tổ chức, dù rằng tôi thương mến chị Út Bạch Lan”

Sau đó tôi được biết  nhà hàng Seafood World từ chối cho thuê để tổ chức văn nghệ vì ngại sẽ có cuộc biểu tình chống đối, nên tất cả kéo về tổ chức tại quán Anh Thy, một nhà hàng nhỏ hơn.

Từ năm 1993 khi được biết cộng sản phát động kế hoạch giao lưu văn hóa, tôi có suy nghĩ nếu tiếp tục hoạt động văn nghệ thì vô tình tôi tiếp tay cho cộng sản thực hiện ý đồ ru ngủ và đánh phá cộng dồng người Việt tỵ nạn. Tôi đã bất hợp tác từ Việt Nam và đã vượt qua quá nhiều nghiệt ngã, cuối cùng thoát khỏi cộng sản VN, thì tại nơi đất Mỹ này tôi vẫn có cơ hội sống bằng trí óc và đôi tay của mình. Tôi quyết định ngưng hát. Từ năm 1993 tôi chỉ hát một lần để ủy lạo các gia đình H.O. theo lời mời của anh Nguyễn Mậu Quý, chủ tịch Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị. Trong thời điểm đó, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã book tour bên Âu Châu và mời tôi tiếp tục trình diễn nhạc kịch Ả Đào Say, nhưng tôi từ chối. Em Chí Tâm cũng muốn tôi kết hợp trình diễn với anh Thành Được, và rất nhiều nơi mời tôi đi hát, nhưng tôi vẫn không nhận lời mời. 

Điều tôi suy nghĩ có thể không đúng với những người khác, nhưng tôi không thể, hay đúng hơn không muốn giải bày. Năm 2002, anh Nhật Trường mời tôi hát giúp cho 2 đêm Văn Nghệ Giã Từ Sân Khấu, tôi nhận lời vì tôi cùng quan điểm với anh khi nghe anh nói anh chống lại kế hoạch giao lưu văn hóa và không muốn đứng chung sân khấu với các nghệ sĩ do cộng sản đưa sang.

Năm 2002, chị Bạch Tuyết qua Mỹ và gọi điện thoại cho tôi, chị nói muốn đến nhà thăm tôi. Tôi vui mừng vì chúng tôi đã từng đi hát chung ở đoàn Thống Nhứt lúc tôi còn là “đào con”. Chị Bạch Tuyết may mắn giờ chót được thay thế vai của chị Diệu Hiền trong vở “Đẹp Duyên Chùa Tháp” tức “Tiếng Hát Muồng Tênh” của soạn giả Mộc Linh. Hai ông bầu Út Trà Ôn và Hoàng Giang sắp xếp cho Bạch Tuyết  thế vai vì Diệu Hiền bỗng nhiên biến mất, trong khi Bạch Tuyết chưa có vai trò nào trong vở tuồng này, còn tôi được đóng vai người em gái nhỏ. Thời gian sau tôi rất thích chị đóng chung với anh Hùng Cường ở đoàn Dạ Lý Hương, vì hai người diễn rất sống động, rất thật trong các vở tuồng xã hội cùng với Ngọc Giàu, Văn Chung, Dũng Thanh Lâm, Thanh Tú.

Phương Uyên lái xe chở chị Bạch Tuyết đến nhà chúng tôi. Sau khi chụp vài tấm ảnh kỷ niệm, tôi mời chị và Uyên đi ăn tối tại restaurant COCO. Chị bảo là chị ăn chay và chỉ ăn được món nào có tôm. Tôi tưởng chị là người Công Giáo.  Tôi hỏi thăm về tin chồng chị là ông Đức bị bắt và bị Việt Cộng tịch thu tài sản, và chắc chị khổ  với Việt Cộng vì ngày xưa chị có bức hình đội nón sắt có hàng chữ “Bỏ Bom Hà Nội” và chị đưa ngón tay cái lên.

Chị nói ” Em ơi… ờ thì…nhưng chị không coi trọng tiền bạc, vật chất. Chị tu rồi em ơi, thỉnh thoảng chị được thầy  Thích Thanh Từ là thầy của chị, vì bận quá, phật tử đông quá, đã giao cho chị đi thuyết pháp. Vấn đề anh Đức ở tù thì khi hoạn nạn mình phải chấp nhận, khi nào trời quang mây tạnh thì hai đứa che dù đi chung”. 

Tôi hỏi thăm về sinh hoạt và cuộc sống của chị tại VN  thì chị cho biết chị có nhiều bạn trẻ thương yêu, các bạn này có hãng nước uống và cho chị vào một phần hùn nhỏ để sống nên chị không phải bận tâm.  Chia tay ra về tôi thấy vui cho chị vì nghĩ rằng chị đã tu đến mức đã đạt được chữ “ngộ” rồi, vì nhà cửa bị tịch thu, chồng bị bắt bỏ tù mà không oán hận. Tôi thầm nghĩ, nếu là tôi thì tôi sẽ thù ghét CS lắm.

Bạch Tuyết điện thoại cho tôi: “Chị có thằng con trai học Bang Giao Quốc Tế ở bên Anh quốc. Hôm đám cưới cháu chị không qua được, chỉ có cô em kết nghĩa là mẹ nuôi của nó đứng ra tổ chức. Chị muốn nó ra mắt cô chú đồng nghiệp cho phải lễ. Chị mời em và ông xã đến rồi tụi mình đập bồn đập trống cho vui”. 

Tôi nhận lời ngay. Đến nhà hàng Palace Seafood nơi tổ chức tôi nhận thấy đây là một đám cưới vì cô dâu chú rễ mặc khăn đống áo dài theo trang phục đám cưới. Có nhiều ca nghệ sĩ đến tham dự và chúng tôi cùng ca hát đóng góp thật sôi nổi với MC Trần Quốc Bảo. Cô dâu Mỹ trông khá xinh xắn dễ thương. Trước khi tiệc tàn, chị đến siết tay tôi và hẹn đến chơi nhà tôi vài hôm trước khi về lại Việt Nam.

Một buổi chiều, trên đường đến rước chị, chúng tôi ghé mua tờ Việt Báo. Tôi giở tờ báo ra xem thì giật mình khi thấy hình chị Bạch Tuyết đang quỳ lạy khán giả trên sân khấu tại San Jose với hàng tít to: “Bạch Tuyết đã quỳ lạy khán giả vì bị biểu tình phản đối”. Chúng tôi rước chị ở khu mobile home trên đường Bolsa. Trong khi ông xã tôi đổ thêm xăng tại góc đường Brookhurst và Hazard thì chị cầm tờ Việt Báo lên đọc rồi chị nói lớn: “Cũng thằng Mỹ nữa”. 

Tôi nói : “Chuyện gì vậy chị?”. 

Chị tiếp: “Thằng Mỹ không có tư cách gì để lật đổ chế độ Taliban”. 

Tôi hỏi: “Sao vậy chị ?”. 

Chị nói “Em ở Mỹ lâu mà em không biết gì sao Tuyến, thằng Mỹ làm giàu nhờ bán vũ khí, nó muốn quậy lên để bán vũ khí”

Trời ơi, sao luận điệu và giọng nói này của Bạch Tuyết giống y như phát ngôn viên Việt Cộng Phan Thúy Thanh mà mỗi sáng lái xe di làm tôi hay nghe tin tức từ đài VOA và BBC.

Về đến nhà, chị cầm tay tôi xem, thoạt đầu, tôi nghĩ chị biết coi bói. 

Chị hỏi : “Tuyến, em có bao nhiêu căn nhà?”. 

Tôi đáp: ” Một căn nhà mà còn trả chưa xong đây chị”. 

Chị lại hỏi: “Em có bao nhiêu tiền trong nhà băng?”. 

Tôi ngạc nhiên với 2 câu hỏi này. Chị bảo tôi về Việt Nam chơi và ở với chị. 

Tôi nói: “Em ghét Việt Cộng. Vượt biên suýt chết rồi chị”

Chị nói: “Thôi mà em, đừng nghĩ vậy, chế độ bây giờ tốt đẹp hơn chế độ trước nhiều lắm”

Ông xã tôi bất bình nói: “Chị nói chế độ bây giờ tốt đẹp tại sao sau khi chấm dứt chiến tranh họ lại bắt sĩ quan, công chức và những nhà trí thức VNCH giam cầm đày ải bỏ đói cho đến chết trong các trại tù cải tạo?”

Chị lại nói: “Anh không biết chứ Tuyết vô thư viện bên Anh đọc sách, có nhiều nước tan chiến tranh rồi họ đem bắn bỏ hết, rồi ai làm gì họ”. 

Tôi bực mình nói: “Tốt đẹp gì chị, chế độ gì không có tự do tôn giáo, như Linh Mục Nguyễn Văn Lý bị nhốt vào tù, Hòa Thượng Thích Quảng Độ bị quản chế”. 

Bạch Tuyết nói: “Ai biểu sống trong chế độ của người ta mà chống đối thì là chuyện đương nhiên”

Tôi thất vọng ở tầm kiến thức nhỏ hẹp lệch lạc và lối lý luận sặc mùi cộng sản của ‘tiến sĩ’ Bạch Tuyết. Chị còn hết lời ca tụng tâng bốc Nguyễn Minh Triết  nói anh ta giỏi đủ mọi thứ, trong khi ở thời điểm đó Nguyễn Minh Triết còn hoạt động ở Sài Gòn và tôi chưa biết anh ta là ai.

Khi cuộc bàn luận quá căng thẳng tôi đổi đề tài để nói về văn nghệ. Tôi nói 

Má em hay  xem cải lương, thỉnh thoảng em cũng xem  và thấy Tài Linh diễn xúc động, chắc Tài Linh hiền lắm hả chị?”. 

Bạch Tuyết nói : “Những người nổi tiếng không ai hiền hết em”

Rồi chị kể về anh Hùng Cường, chị bảo là Hùng Cường yêu chị lắm và muốn cưới chị nhưng chị từ chối (?). Chị không biết rằng trong thời gian sống ở Mỹ anh Hùng Cường rất thân với chúng tôi và hay kể về những cuộc tình của anh, dĩ nhiên trong đó có Bạch Tuyết, anh Hùng Cường đã có mối quan hệ sâu đậm từ Bạch Tuyết ra sao, và chị đã năn nỉ anh thế nào. Tôi nghĩ nếu Hùng Cường còn sống tôi sẽ gọi anh đến để nghe Bạch Tuyết nói dóc. Đêm khuya quá, chẳng lẽ tôi đẩy Bạch Tuyết ra khỏi nhà, còn đưa về thì tôi mệt rồi sau một ngày dài làm việc.  Chị hỏi tôi có muốn gởi tiền giúp Chùa Nghệ Sĩ không, tôi nói đã giúp rồi, và lần này chỉ gởi ít tiền tặng Má Bảy Phùng Há.

Trước đây theo lời kêu gọi của Má Bảy và 2 chị Như Mai Kim Hoàng, Chùa Nghệ Sĩ không có rào nên thỉnh thoảng phát giác ra mồ mả bị đào bới vì họ muốn kíếm vàng bạc, đồng thời số nghệ sĩ già không nhà cửa phải sống lang thang, nên yêu cầu chúng tôi giúp đỡ tiền xây rào và mua tôn lợp phía sau chùa cho các cô bác có chỗ tạm trú. Chúng tôi đã gởi tiền giúp.  Sau đó chị Như Mai cho biết ông Võ Văn Kiệt chấp thuận cấp cho 1 miếng đất ở quận 8 để xây Nhà Dưỡng Lão Nghệ Sĩ. Tiền chúng tôi đã gởi, chị Như Mai lo xây rào và trùng tu trong Chùa vẫn còn dư. Tôi yêu cầu chị Như Mai bỏ số tiền đó vào bank để lấy lời lo thuốc thang cho những nghệ sĩ già đau yếu, còn Nhà Dưỡng Lão hãy để cho chính quyền cộng sản lo.

Tôi không bao giờ quên ơn Má Bảy Phùng Há, người mời tôi đóng nhiều vở tuồng trên TV, đã chỉ dạy thêm cho chúng tôi từ anh Thanh Sang đến anh Thành Được. Má Bảy cũng từng nói: 

“Mấy ổng muốn mời Má làm chức này chức kia, nhưng  Má nói Má không thích làm chính trị, Má chỉ thích làm Văn Nghệ mà thôi”

Tôi lấy 100 dollars bỏ vào bao thơ trao cho chị Bạch Tuyết nhờ chị đem về trao cho Má Bảy. Vài tuần sau tôi gọi điện thoại thăm Má Bảy và hỏi xem Má Bảy có nhận được tiền không. Lúc đó có mặt ông bầu Xuân, tôi nghe tiếng Má Bảy nói lớn: 

Ông Xuân ơi, Kim Tuyến nói có gởi Bạch Tuyết đem về cho tôi 100 mà sao không thấy?”. 

Ông Xuân nói: “Bạch Tuyết bảo sung vào quỹ của Chùa”. 

Tôi không hiểu tại sao chị Bạch Tuyết lại làm khác lời dặn của tôi, để cuối cùng Má Bảy không nhận được gì cả !

Một lần nọ anh Hùng Cường dẫn anh Sáu Thanh đến nhà thăm chúng tôi. Anh Sáu Thanh là 1 đại thương gia trước năm 1975, chính anh là người cung cấp toàn bộ tiền bạc và phương tiện để thành lập đoàn cải lương Hùng Cường – Bạch Tuyết. Sáu Thanh giao đoàn cải lương cho Hùng Cường và chị Bạch Tuyết vì anh rất bận với các công ty lớn của anh. Đoàn cải lương này là một đại ban, được khán giả nhiệt tình ủng hộ, lần trình diễn nào cũng bán hết vé, thế mà Bạch Tuyết khai lỗ. Trước mặt chúng tôi, anh  anh Sáu Thanh nói với Hùng Cường: 

Anh lập đoàn hát này cho chú mầy mà chú mầy ham chơi quá, để cho con Tuyết lộng hành, nó đưa người nhà của nó vào, nó kiểm soát mọi chi thu, cứ khai lỗ, để cuối cùng phải giải tán đoàn hát”.

Ngày 27/10/2002 Bạch Tuyết tổ chức ra mắt CD Kinh Pháp Cú chuyển thể cải lương tại Chùa Việt Nam trên đường Magnolia của Thượng Tọa Thích Pháp Châu. Ông Thượng Tọa này từng có tai tiếng vì đã lăng nhăng tình ái với một nữ Phật tử trẻ. Cuộc điện đàm hẹn hò dâm dục ở hotel của ông sư này với cô gái đã bị thu băng toàn bộ. Vì vậy cho nên truyền thông và báo chí hải ngoại kêu gọi biểu tình chống Việt Cộng Bạch Tuyết và Thượng Tọa Pháp Châu. Hôm đó có rất nhiều người đến biểu tình, trong đó có tôi, trước cửa chùa. Người biểu tình cho phát thanh cuốn tape dâm dục của Thượng Tọa Pháp Châu và hô đả đảo Bạch Tuyết. Tôi nghĩ nếu anh Hùng Cường còn sống chắc anh cũng sẽ đến biểu tình chống Bạch Tuyết, vì anh là người rất căm thù cộng sản. Dù rằng khi còn sống anh đã từng kể chính anh là người giới thiệu anh Đức ( một “Việt Kiều Yêu Nước” tại Pháp) cho Bạch Tuyết sau vụ Bạch Tuyết bị vợ của ĐT Hoàng Đức Ninh làm nhục.

Trong một dịp thăm nhà thơ Nguyễn Chí Thiện và đi ăn tối với anh, chúng tôi có kể cho anh nghe về Bạch Tuyết và Kim Cương. Trong một lần nói chuyện trên Radio, anh Thiện đã có đề cập đến Việt Cộng Kim Cương và Bạch Tuyết. Tôi quý mến anh Nguyễn Chí Thiện vì tư cách và sự dũng cảm của anh. Chỉ vì can đảm dám nói lên sự thật của lịch sử và sự thật tàn ác của chế độ cộng sản mà anh bị gần 30 năm tù ở miền Bắc. Trong tù anh vẫn đứng thẳng, hiên ngang làm thơ vạch trần sự dã man của chế độ và dám chửi thẳng Hồ Chí Minh.

Những gì tôi kể về Bạch Tuyết là hoàn toàn sự thật, không thêm bớt, không trái với lương tâm. Một số đông trong đó có tôi vẫn còn nhiều hoài nghi về Bạch Tuyết:

– Bạch Tuyết không học Trung Học, không học Đại Học  thì làm sao có bằng Tiến Sĩ  ?
– Bạch Tuyết không rành tiếng Anh làm sao vào thư viện của Anh đọc sách và tài liệu.

– Bạch Tuyết không nói và viết lưu loát tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Đức thì làm Luận Án Tiến Sĩ  bằng tiếng gì ? Không lẽ làm luận án ở ngoại quốc mà dùng tiếng Việt ?

– Bạch Tuyết có biết rằng mọi người đều biết trên thế giới có nhiều bằng Tiến Sĩ Danh Dự được cấp do sự giới thiệu hay quen biết. Có các trường Đại Học dỏm, không được chấp nhận, chỉ cần nộp cho họ vài ngàn dollars là có bằng Tiến Sĩ giấy.

– Bạch Tuyết thù ghét Mỹ, vậy tại sao thích đi sang Mỹ, cho con học ở Mỹ, đi làm ở Mỹ, lấy vợ Mỹ. Phải chăng Bạch Tuyết muốn tìm một “bãi đáp an toàn” sau này ở  Mỹ ?

Những câu chuyện của hôm qua bao giờ cũng thật xúc động, dù chỉ là kỷ niệm. Nhưng có khi nào chị nhìn thấy sân khấu ở quê nhà, sự rộn rịp hoặc giàu có của giới đồng nghiệp mà chạnh lòng? Hoặc chị có lúc nào nghĩ rằng nếu chị nhượng bộ, ở lại, thì cũng đã có một cuộc sống sinh hoạt sôi nổi, nhiều thu nhập như các nghệ sĩ khác?

Sau 37 năm sống trên đất Mỹ và 41 năm miền Bắc cai trị miền Nam, tôi vẫn thường theo dõi các tin tức từ quê nhà và rất buồn khi thấy cộng sản đã tạo ra một giai cấp mới, giai cấp cán bộ, con ông cháu cha, tư bản đỏ, giai cấp này lộng hành, áp bức bóc lột người dân khốn cùng. Luân lý, đạo đức suy đồi, cuộc sống bất an, luật pháp bất minh, môi trường nhiểm độc, tham nhũng tràn đầy… Trong khi đó chính quyền lại “ác với dân, hèn với giặc” trước hiểm họa mất nước vào tay giặc Tàu.

Tôi không dùng danh từ “chính quyền” cho CSVN, vì không ai bầu cái Đảng cướp này cả . Chúng cưỡng chiếm miền Nam, áp đặt chể độ độc tài đảng trị, thì không thể dùng danh từ Chính quyền. CSVN thắng VNCH do tuyên truyền dối trá, quỷ quyệt, gian manh do HCM đem chủ thuyết ngoại lai quái đản từ Liên Sô, Trung Cộng đặt lên đầu dân VN. CSVN xem văn nghệ sĩ là bộ môn tuyên truyền hữu hiệu nhất, họ dùng nghệ sĩ để ru ngủ đồng bào quên đi tội ác mà chúng gây ra. Kim Cương là một điển hình cùng một số văn nghệ sĩ được họ sử dụng.

Tôi thấy mình đã quyết định đúng khi vượt biên rời khỏi chế độ cộng sản VN để cho gia đình và con cháu tôi có một cuộc sống an lành và tốt đẹp hơn. Tôi đã quyết định đúng khi chọn nước Mỹ, một nước tôn trọng tự do dân chủ và nhân quyền, một nước thật sự của dân, do dân và vì dân.

Dạ, xin cám ơn chị,


28/7/2016
Tuấn Khanh (ghi)

Wednesday, August 3, 2016

Triết lý củ khoai


Năm học lớp Đệ Ngũ bậc trung học, tương đương với lớp tám bây giờ, một hôm thằng bạn nhỏ ngồi cạnh tôi thì thầm:

Tại sao trong tiểu thuyết, mỗi khi có hai người ôm nhau, thì tác giả có đề cập đến hạnh phúc ? Hạnh phúc là cái gì mầy có biết không?”.

Tôi liền tay dong tay rụt rè hỏi giáo sư đang dạy môn nghị luận luân lý:

Thưa thầy, hạnh phúc là cái gì?”.

Hỏi mà run lắm, vì lỡ ra hạnh phúc là chuyện bậy bạ, thì e lảnh phạt đủ. Thầy liền ra cho cả lớp một bài luận văn, bình giải câu : “May thay, ngoài hạnh phúc ra, đời còn có cái gì khác nữa.” Thầy còn ghi chú thêm câu viết bằng nguyên văn tiếng Pháp để học trò có thể hiểu rõ hơn. Thầy giảng rằng, hạnh phúc như là cái bóng, mà mọi người trên thế gian nầy đều luôn luôn theo đuổi, cố chạy theo nhưng không bao giờ bắt gặp được cả. Bỡi vậy, cho nên may mắn quá, cuộc đời nầy còn có nhiều thứ khác nữa, để bù đắp vào cái thiếu thốn hạnh phúc, mà con người như chẵng bao giờ tìm thấy, không bao giờ nắm được.

Chúng tôi hiểu mập mờ rằng, hạnh phúc là cái gì đó xa lắm, là như thứ ảo ảnh, mà con người thế gian ai cũng mơ ước, quay quắt đi tìm, và chẵng bao giờ tìm thấy. Tôi thầm nghĩ, thầy bắt chúng tôi bình luận làm chi cái thứ không có và khó khăn, để thêm tốn giấy mực, tốn thì giờ. Thế là cả đám học trò nhi nhô đầu còn cắt tóc trọc, đau khổ nhăn nhó, nặn óc bình giải về hạnh phúc, cái thứ mà chúng mù mờ, chưa ý thức, chưa hiểu nổi vài ba phần trăm ý nghĩa. Thằng bạn ngồi sau lưng, thụi tôi hai cái đau điếng, để phạt cái tội hỏi thầy câu hỏi cắc cớ, làm cho cả lớp phải nhức đầu. Tôi biết tội, ngồi yên. Tôi cứ yên chí là hạnh phúc không có thật trên đời nầy, và không tội gì uổng công tìm kiếm. Dù sách vở, thơ văn, có nói nhiều đến hạnh phúc, tôi e rằng đó là chuyện mơ mộng ao ước hão huyền, chuyện bánh vẽ của những người chuyên làm thơ văn.

Nhưng khi lớn lên, được đọc kinh Phật, kinh Thánh, và nhiều sách triết lý Âu Á như Khổng, Lảo, Chu… và luôn cả kinh Koran và kinh đạo Bahai nửa, thì tôi tìm cho tôi được một triết lý đơn sơ, mộc mạc, là cái món hổ lốn vắt ra từ tinh túy của các triết lý khác. Tôi tạm gọi là  “Triết Lý Củ Khoai”. Vì nó đơn sơ như củ khoai, rẻ tiền, mộc mạc, và dễ tìm thấy như củ khoai trong đời nầy. Triết lý đó được đơm gọn lại trong một câu ngắn ngủi : 

Nếu chỉ có một củ khoai thôi, thì hãy nướng nó cho thật thơm mà đớp”. 

Ý nghĩa của câu đó cũ mèm, hình như ai cũng biết, và có nhiều câu nói tương tự . Cái triết lý đơn giản nầy giúp tôi thấy được rằng, hạnh phúc là cái rất cụ thể, rất gần gủi, bất cứ ai, và bất cứ lúc nào, cũng có thể tìm dược hạnh phúc rất dễ dàng. Ai cho rằng hạnh phúc là cái xa vời, thì vì họ chưa nắm hết phần tinh túy của các triết lý khác, hoặc chưa từng nghe một phần của triết lý củ khoai. Nhiều sách vở khác cũng có nói đến, nhưng người đọc vô tình hoặc cố ý làm ngơ, hoặc biết rất rõ nhưng chẳng bao giờ thực hành.

Năm 1975 tôi mang cái “triết lý củ khoai” vào nhà tù cộng sản. Cộng sản gạt rằng, đi học tập chính trị trong vòng một tháng, cho “thông suốt đường lối của cách mạng” rồi về. Nghe dễ quá, nên bà con miền Nam mắc bẩy. Trong tù, ai cũng nôn nóng, chờ “học tập” cho xong, mà về với vợ với con, vì việc nhà còn trăm chuyện lu bu lắm, cả tháng trời ai mà lo cho. Lo nhất là hai ba tuần đã qua rồi, mà chưa thấy bài vở, chưa thấy học tập chi cả. Không lẽ khóa học phải kéo dài thêm vài tuần? Trong tù, ngoài đau khổ vì thiếu tự do, còn bị cái đói hành hạ, cái lạnh cắt da thịt từng đêm và nỗi khó nhọc hàng ngày khi làm lao động tay chân không quen mà tình trạng sức khỏe thì quá suy yếu. Còn phải đau khổ tinh thần vì làm đi làm lại bản tự khai tự thú, phải tự bịa đặt tỗi lỗi gán cho mình, để được cái gọi là “thành tâm cải tạo”. Nhưng nỗi mong chờ làm cho đám tù nhân phờ phạc mau hơn các nguyên nhân khác. 

Một hôm đi lao động bên ngoài vòng trại, có anh lượm được bản nháp bức thư của một lính cộng sản, trong đó viết cho cha mẹ ngoài Bắc rằng, dạo nầy con canh gác tù rất nhàn nhả, bọn chúng toàn cả cán bộ cao cấp ngụy quyền. Anh tái mặt và đem lá thư về cho vài người bạn xem, có người xem xong phát khóc vì biết mình đang ở tù chứ không phải học tập chi cả.

Phần tôi, sau một tháng chưa được về, tôi lờ mờ hiểu rằng “có cái gì không ổn đây”. Tôi chuẩn bị tinh thần để đón nhận những gì không thể tránh được. Một hôm, sau buổi cơm chiều, tôi chỉ ngọn đồi bên kia nói với người bạn tù:

Cứ xem như đó là nơi chôn chúng ta khi tóc bạc lìa đời, và xem đây như là nơi chúng ta phải sống trọn đời còn lại. Hãy tìm và tạo những niềm vui nhỏ nhoi nhất mà chúng ta có được ở nơi nầy. Ráng tìm vui, buồn bả cũng vô ích, mà còn có hại cho sức khỏe.”

Nghe thế, người bạn tù của tôi gần khóc vì sợ. Tôi đem triết lý củ khoai ra giảng giải.

Về sau, nhiều người bạn tù khác gai mắt bực tức vì thấy chúng tôi vẫn tỉnh khô, vẫn thản nhiên vui vẻ cười đùa như không phải đang ở tù, như không phải đang cực nhọc, thiếu thốn, đói khát. Mặc dầu sức khỏe của chúng tôi sút kém rất mau, gầy gò, răng vẫu, mắt sâu. Chúng tôi cứ xem những bữa ăn thiếu thốn kham khổ kia là cao lương mỹ vị, tận hưởng từng miếng nhai nuốt. Khi chúng tôi bắt được con nhái bén nhỏ, ướp chút muối, nướng cho thơm ngậy, tổ chức một bửa tiệc thưởng trăng, xé con nhái làm ba. Ba anh em tù bí mật ăn trong đêm tối bên hè nhà, nhìn trăng chênh chếch, cười với nhau sung sướng và ngâm nhỏ vài đoạn cổ thi. Ngoài những sinh hoạt công khai trong tù, chúng tôi còn tổ chức được các buổi văn nghệ bỏ túi, cấp tốc. Ba bốn tù nhân hẹn nhau ở đám cỏ cao bên cầu tiêu, một người canh chừng, mấy người kia hát “nhạc củ” cho nhau nghe đở ghiền, sửa lại lời hát các bản nhạc của cộng sản, dể châm biếm cười chơi. Anh nào làm được bài thơ đắc ý, đem ngâm nga cho bạn tù chia xẻ, thưởng thức. Những khi đi lao dộng khổ sai như cuốc rẫy, khiêng đất, tôi và anh bạn, hai đứa hai đầu gánh nặng, vừa làm việc vừa đánh cờ tướng không bàn: “Pháo hai bình năm, mã bảy tấn sáu, mã hai tấn ba, xa một tấn một .vân vân.” Mãi suy nghĩ để chuyển quân trong bàn cờ, chúng tôi quên cả nhọc nhằn, cả hôi hám, cả nắng cháy, và quên luôn thời gian. Buổi lao động nhọc nhằn qua đi lúc nào mà không hay.

Chúng tôi chơi cờ không cao, nhưng chơi mãi rồi thành quen, không cần bàn, mà vẫn quần nhau từ sáng đến khuya. Cả những đêm học tập chính trị chán ngắt, chúng tôi ngồi như chăm chú lắm, không ai biết chúng tôi đang chơi cờ không bàn, đang dàn trận, bắt quân, dứ, chiếu, đang chống đở cho khỏi bị chiếu bí. Chúng tôi say sưa với trò chơi, chấp cán bộ cộng sản nói dai, nói dài, nói dở, nói đến khuya. Chúng tôi còn tổ chức các cuộc đua kiến, dấu dế. Bắt dế bỏ vào hộp cho chúng “học tập cải tạo”, cho chúng cắn nhau. Những con ngất ngư sắp chết, chúng tôi thả ra và nói: 

Nhờ học tập tốt và thành tâm cải tạo, nhờ ý thức giác ngộ cách mạng cao, và nhờ chính sách khoan hồng của đảng và nhà nước, nay cho về đoàn tụ với gia đình,” 

Chúng tôi nháy mắt cười với nhau. Chúng tôi tạo những cuộc giải trí nho nhỏ, những buổi văn nghệ bí mật để quên ngày tháng, và thấy lo buồn tan biến đâu cả.

Phương châm của chúng tôi là “không”, không mong ước, không hy vọng gì cả. Không hy vọng thì khỏi thất vọng. Không mong ước thì không bồn chồn nôn nao. Khi thấy vài người bạn tù được thả – theo lối làm kiểng của cộng sản – các anh khác buồn tủi, đau đớn thất vọng cho thân phận của mình, thì chúng tôi vẫn bình tỉnh ngồi đánh cờ, chẳng xôn xao, chẳng bàn tán chi cả. Chúng tôi biết, chưa đến phiên mình, thì có bàn tán xôn xao, đoán mò, suy diễn lạc quan hay bi quan, thì chỉ thêm buồn khổ mà thôi å. Gạt hết ra ngoài tai cho yên lòng. 

Chúng tôi tập bình thản tâm trí, và luôn tìm cơ hội tận hưởng những thứ hạnh phúc nhỏ nhặt nhất mà chúng tôi có thể có được. Những khi có được một chậu nước nhỏ để tắm, chúng tôi cử hành cái lể tắm, tận hưởng niềm sung sướng khi cảm giác của nước mát chảy trên da thịt, trên mình mẩy, trên tóc tai, và hạnh phúc đến rên lên thành tiếng. Nước tắm trong tù quý như nước cam lồ. Chúng tôi chia cho nhau vài cọng rau hái được, và cảm được sâu xa nỗi hạnh phúc có thêm một miếng ăn trong tù, tận hưởng cái khoái khẩu, an ủi với cái tình bạn chân tình, vì ai cũng đói. 

Đêm đêm trước khi ngủ, tôi nghe nhiều tiếng bạn tù thở dài não lòng ngao ngán. Có lẽ họ đang lo cho vợ con bên ngoài, giờ nầy không biết làm sao mà sinh sống, mà tồn tại trong một xã hội đổi thay từ gốc rể. Tôi biết rõ, ở trong tù lo ra cho bên ngoài, ở bên ngoài lo vào cho trong tù .Không có ích chi, cũng không giải quyết được việc gì. Không lo cho vợ con bên ngoài, không phải là vô tình bạc nghĩa, mà chỉ là không làm cái việc vô ích mà thôi. Để tránh suy nghĩ và lo âu, mỗi khi vào giường, tôi tìm cách giải một bàn cờ thế, hay làm vài ba câu thơ, cũng có khi ôn lại những kỷ niện đẹp đẻ êm đềm trong quá khứ mà thấy lâng lâng, hoặc ôn lại các chuyện tiếu lâm mà cười một mình trong bóng tối. Nhờ thế mà ngủ thiếp đi rất mau.

Chúng tôi tập coi thường những nhọc nhằn, khó khăn và đau dớn thể xác. Chấp nhận định mệnh khắt khe mà không cần than van. Tinh thần chúng tôi vững mạnh, sáng suốt. Chúng tôi cố gắng ý thức và hưởng thụ những hạnh phúc rất nhỏ từng ngày, từng giờ, từng phút, mà ít người cảm nhận. Triết lý củ khoai đã giúp tôi qua được những tháng ngày tù đày không quá nặng nề, khó chịu từ tinh thần dến vật chất.

Khi ra khỏi tù, sống trong chế độ cộng sản, người người cơ cực, thiếu thốn, sầu thảm, tinh thần bị đe dọa, sinh hoạt bị dòm ngó, rình mò. Trong cái giòng xã hội đó, chúng tôi cùng chung thân phận. Thân phận chúng tôi còn bạc bẻo, yếu kém hơn, thứ phó thường dân bên lề “xã hội chủ nghĩa tiên tiến”. 

Nhưng nhờ triết lý củ khoai, tôi vẫn tìm được hạnh phúc từng ngày. Hạnh phúc của mỗi sáng dậy sớm, pha một chén trà nóng, uống vào lòng ấm áp, ngâm vài câu thơ, vặn đài phát thanh BBC, VOA nghe nho nhỏ. Để biết biến chuyển quốc tế, tin tức quốc nội mà cộng sản cố tình bưng bít, ngăn chặn, che dấu. Hạnh phúc khi trao đổi tin tức quốc tế, quốc nội với bạn bè, bà con và ước đoán tình hình. Hạnh phúc nhất là cởi trần nằm phơi gió hây hây ngoài công trường, có khi ngủ tới hai ba giờ chiều mới thức dậy. Tôi đem cái triết lý thô sơ đó truyền bá cho vài anh em thân thiết, và khen xã hội cộng sản đã đem đến cho con người sự làm biếng vô cùng tận. Làm biếng cũng là một hình thức hạnh phúc nho nhỏ. Thật lạ lùng, nhà nước cho đến cán bộ to nhỏ, miệng ai cũng lớn lối đại ngôn ca ngợi lao động siêng năng cần mẫn, mà tất cả mọi người đều biếng nhác, tà tà. Đúng là cha chung không ai khóc.

Trong xã hội cộng sản, con người không được sống yên ổn, nay chính sách nầy, mai chính sách khác, thay đổi lung tung, chẳng ai hoạch dịnh cho đời sống riêng mình dược cả. Chúng tôi vẫn tìm được nhiều hạnh phúc trong châm ngôn “không ước mơ, không hy vọng”. 

Phải dập tắt mọi ước mơ, mọi hy vọng để mà sống, nghe thì như vô lý, nhưng thực vậy. Cứ thuận theo giòng khổ đau mà trôi nổi với tinh thần sáng suốt. Không than van, không kể lể, không bi ai. Khi có cơ hội bắt được niềm vui thì cứ tận hưởng hết mình chút hạnh phúc đang có. Chấp nhận nhưng không buông xuôi cho số mệnh. Tìm lối thoát với tinh thần nhẹ nhàng, lạc quan, sáng suốt. 

Khi leo lên chiếc thuyền nhỏ bé để tìm đường đào thoát ra khỏi vòng tay cộng sản, chúng tôi cứ tự nghĩ như mình đang đi du lịch. Đề phòng tối đa, nhưng không quá nhiều lo âu sợ sệt. Cũng có sợ, nhưng sợ ở một mức độ nhẹ nhàng, đến nỗi đôi lúc còn cảm thấy thản nhiên và sung sướng, vì biết mình đang trên con đường đào thoát. Có gì mà lo? Nếu bị bắt thì ở tù lại, mà ở tù lâu thì tìm cách vượt ngục. 

Chiếc thuyền nhỏ đi từ bến sông Sài Gòn về miền Tây, ra cửa Ghềnh Hào. Trên đường đi, chúng tôi gặp nhiều trạm kiểm soát bắn súng kêu vào xét hỏi giấy tờ. Thấy chúng tôi vui vẻ, bình tỉnh quá, công an cộng sản không ngờ chúng tôi đi vượt biên . Như những kẻ ham chơi, chúng tôi thoát ra được hãi phận quốc tế. Thuyền chết máy giữa biển mênh mông nhiều ngày, nhưng sao trong lòng chúng tôi vẫn thấy vui, và còn cảm ơn Trời Phật đã giúp chúng tôi thoát được bàn tay cộng sản độc ác. Có chết cũng vui, thỏa nguyện. Dược chết giữa biển trời tự do. Chúng tôi vẫn kể chuyện tiếu lâm, cười đùa và có khi còn cùng nhau ca hát.

Khi may mắn đến được trại ty nạn, thiên hạ ai cũng nóng lòng, ăn không yên, ở không yên, mong được đi định cư sớm. Họ cứ đưa ra giả thuyết nầy, giả thuyết kia để tự gây nên nỗi lo lắng cho chính họ và cho bà con chung quanh. Lo lắng về một bệnh dịch có thể phát ra, và phái đoàn Liên Hiệp Quốc sẽ không dám dến phỏng vấn. Lo lắng quốc tế thay đổi chính sách ty nạn. Họ lo để mà lo, không có đường lối và phương sách giải quyết các mối lo âu đó.

Tôi bảo họ: “Hãy xem những ngày tháng nầy như đi cắm trại nghỉ hè dài hạn bên bờ biển, cơm nước có Cao Ủy Liên Hiệp Quốc nuôi báo cô, chỉ cần cái xà lỏn thôi là đủ lịch sự như mọi người, cứ vui vẻ nhẫn nại chờ ngày đi dịnh cư”

Không ai nghe lời tôi, ngày ngày họ họp nhau bàn tán, uyên bác suy diển, bày dặt dủ tin đồn dể gây cho nhau lo âu thêm, rồi đêm về mất ngủ thở dài thở ngắn. Phần tôi, thì lên đồi mắc võng nằm ngủ mơ màng trong gió hiu hiu, thưởng thức tiếng chim ca, nhìn dám mây mỏng lơ lửng bay qua bầu trời xanh, khi nóng thì nhào xuống biển nô giởn với sóng nước mát dượi, rồi nằm dài trên cát. Chán thì chơi vài ván cờ tướng, nằm nghe nhạc “chùa” vẵng từ các lều lân cận có máy hát. Buổi chiều về chòi, ăn một bụng no, uống ly trà, họp bạn bè, kể chuyện tiếu lâm, vui cười vang rân. Đêm nhóm vài cành thông khô đốt lửa ngồi quanh nhắc chuyện Việt Nam, chuyện cổ tích, chuyện vui lạ trong đời mỗi người. Nhiều người ngứa cổ, ca hát, ngâm thơ, cuộc vui kéo dài mãi đến khuya như một thời thanh bình nào đó ngồi bên lửa trại. Tôi thấy tâm hồn mình nhẹ nhàng thanh thản. Không bận tâm lo âu sinh kế, thì giờ tự do không ai bó buộc, không có chuyện khẩn cấp phải làm, không ưu tư về tiền bạc, trong túi không có một xu, không bị công an dòm ngó, đe dọa, khủng bố, và không có bổn phận, trách nhiệm gì cả. Thảnh thơi, vui thú. Cuộc đời có lẻ chưa bao giờ có được những ngày tháng thần tiên như vậy. Sẵn đó, mà có mấy ai cảm nhận được ?

Một anh bạn trẻ đã nghe lọt tai cái triết lý củ khoai, đã cùng tôi gọi cái đảo ty nạn là miền đất thần tiên vô ưu. Nhưng với đa số, thì họ gọi dảo nầy là “Buồn Lo Bi Đát” đọc trại ra từ tên đảo là Pulau Bidong, họ cho là nơi chật chội, thiếu thốn, nóng nực, chờ mong, khổ sở, lo lắng. Tôi khó truyền bá cái triết lý củ khoai ra rộng rải, vì người nghe sẽ cho tôi là thằng khùng. Không ai tin câu nói của tôi rằng: 

Dù có nóng lòng lo âu đến mấy, cũng không thể đi định cư sớm hơn một phút, mà dù tà tà vô lo đến đâu, cũng không chậm đi định cư hơn nửa giờ.” 

Tôi xem thời gian tại trại ty nạn như nửa năm đi cắm trại, còn sướng hơn là đi cắm trại. Trở về với thiên nhiên, quần xà lỏn, ở trần, đi chân đất, ngủ gốc cây, nằm trên cát biển, không lo âu sinh kế, và trong túi không có một đồng xu, mà cũng chẳng cần tiền bạc làm chi. Tôi chắc chắn trăm phần rằng, tôi là người sung sướng nhất đảo, vì tôi nhìn thấy được điều sung sướng, tôi cảm nhận được cái hạnh phúc to lớn thực sự tôi đang có. Còn đa số thì không thấy, không cảm được.

Tôi đến Mỹ, lang thang đi tìm việc, lội tuyết ngập nửa ống chân, rả cẳng, gió buốt lạnh cắt da thịt. Trong lòng vẫn vui, vẫn sung sướng, vì biết mình là kẽ may mắn, đang sống đời tự do. Đa số bà con bạn bè giờ nầy đang khắc khoải sống trong áp bức, xiềng xích gông cùm của cọng sản. Nhiều bạn bè đã ra đi, nhưng không đến, đã chết giữa biển khơi, chết trong rừng sâu, bị bắt bớ tù đày, hành hạ. Biết bao nhiêu triệu kẽ mong được lội bảo tuyết đi tìm việc như tôi mà không được. Tôi may mắn thế nầy, thế thì sao mà lòng không rộn rã niềm vui, ca hát cùng gió, cùng tuyết, cùng đất trời trắng phau phau.

Nhờ xông xáo, chỉ hơn mười ngày sau khi đến Mỹ, tôi tìm được một chân phụ bếp trong tiệm ăn Tàu. Làm việc hơn 15 tiếng mỗi ngày, làm không ngơi nghĩ. Cắt rau, gọt khoai, chặt thịt, xẻ cá, lạng tôm, chùi nồi, rửa bát, lau nhà, liền tay liền chân suốt ngày từ sáng sớm cho đến khuya mịt. Di chuyển, nhảy nhót trong cái khu bếp sực nức mùi dầu ăn, tôi nghĩ có lẽ những cao thủ võ lâm khổ luyện bí kíp chờ ngày xuống núi tranh hùng trong các tiểu thuyết kiếm hiệp, cũng chuyên cần đến thế mà thôi. Trong lòng tôi cũng tràn ngập vui sướng, hạnh phúc, vì mới đến miền đất lạ chưa được bao lâu, mà đã tự lập và sinh sống được. Tôi cũng tự phục mình, suốt đời ngồi văn phòng, mà thích nghi được việc lao động rất dễ dàng. Ông chủ tiệm rất bằng lòng cái vui vẻ, yêu đời, chăm chỉ của tôi. 

Một khuya trên đường về, tuyết phủ mênh mông, băng qua công viên tối, tôi trượt chân té ngữa nằm dài. Nhìn lên trời thấy trăng vằng vặc sáng với ngàn sao long lanh. Tôi thấy trời đất đẹp quá, cuộc đời đáng yêu vô cùng, và thân thể khoan khoái vì cái xương sống được nằm trong thế nghỉ ngơi sau hơn mười mấy giờ lao động tay chân. Bao nhiêu mệt nhọc trong thân thể như chảy loảng tan biến, chạy thấm vào nền tuyết sau lưng. Tôi nằm yên rất lâu ngắm trăng, và ngâm vài câu cổ thi ca ngợi trăng sao. Giá như có ai thấy được cảnh nầy, chắc họ tưởng tôi điên khùng. Cái lần té nầy, làm tôi bong gân, không đi dược, phải nghỉ làm, nhờ đó mà tôi có thì giờ, tìm ra được một công việc trong nghề cũ.

Khi đi làm việc, đôi khi gặp những cấp chỉ huy dốt nát, hoặc đồng sự kém cỏi mà lương cao hơn mình, tôi không lấy đó làm điều bất mãn, thắc mắc như nhiều người khác. Vì công ty thì của tư nhân, họ muốn thuê ai, giỏi dốt, trả lương cao thấp là quyền của họ. Mình chấp nhận làm việc, thì rán làm tròn bổn phận của mình, làm tốt tối đa. Nếu không bằng lòng với đồng lương, thì cứ tìm nơi khác khá hơn. Vã lại, đất nước của họ, thì ưu tiên chút đỉnh dành cho họ là phải. Mình ganh tị thì hóa ra là kẻ không biết điều. Tổ tiên họ đã đổ xương máu ra khai phá, để bị đâm chết, lột da đầu, bệnh hoạn. Biết bao nhiêu thế hệ đã đóng thuế, xây dựng nên những tiện nghi ngày hôm nay. Mình là kẻ may mắn nhảy xổm vào chia phần. Thì cũng cứ vui mà hưởng cái phần chưa được hoàn toàn bình đẳng đang có.

Qua những cảm nhận, so sánh hàng ngày, tôi dễ dàng tìm được cho mình cái hạnh phúc của tâm hồn yên ổn. Ở sở, tôi gắng tạo cho mình một môi trường vui vẻ, thân thiện, cởi mở. Để cảm thấy tám giờ trong ngày là thời gian dể chịu, vui, hạnh phúc, chứ không phải là thời gian ” đi cày” khổ nhọc như nhiều người quan niệm. Mình chấp nhận công việc để được lảnh lương, thì dể trả lại, ráng sức làm việc. Tập yêu thích công việc, làm việc với tinh thần vui vẻ, dù công việc có lập đi lập lại nhàm chán, thì cứ nghĩ rằng sướng quá, công việc quen tay, dễ dàng, khỏi phải suy nghĩ nhiều, khỏi phải lo âu sợ làm sai, khỏi phải năn nỉ hỏi ai. Cứ yên tâm mà làm tới. Thế thì không phải sung sướng, hạnh phúc sao ? Biến cái văn phòng của sở làm, thành một nơi ấm cúng, vui vẻ, yêu thích, thì đời mình có giá trị, hạnh phúc phong phú hơn nhiều. 

Những khi gặp khó khăn trắc trở, gặp những thay đổi bất thuận lợi, tôi cứ bình tỉnh chấp nhận chuyện không may, và tự bảo rằng, cuộc đời nầy như một chuổi kết hợp giửa cái may mắn và xui xẻo, giửa hạnh phúc và đau khổ, giửa thuận lợi và trắc trở. Thì cứ từ từ mà giải quyết, sẵn sàng chấp nhận cái kết quả xấu nhất. Thế là yên tâm, và đôi khi cũng nhờ cái yên tâm, mà công việc được thuận buồm xuôi mái hơn.

Sống ở đất nước lạ, lòng hoài hương làm nhiều người thương nhớ không nguôi, làm đau nhức con tim. Tôi biến tình cảm đó thành một thứ an ủi dịu dàng, một thứ hạnh phúc êm đềm khi nhận được thơ nhà, thơ bạn bè. Những giúp đở nho nhỏ cho người cùng khổ bên quê nhà là một thứ an ủi cho những giây phút mệt nhọc khó khăn trong công việc nơi quê người.

Những buổi sáng, khi chuông đồng hồ rền rỉ đánh thức dậy đi làm, nhất là những sáng thứ hai ngày mùa đông rét mướt tối tăm, nhiều người cảm thấy quá mệt nhọc, quá khó chịu, và họ “giả như” hôm nay được nghỉ thì sướng vô cùng. Còn tôi, thì mỗi sáng thức dậy với tràn ngập niềm vui, biết hôm nay ta sống thêm một ngày trong thế giới tự do, hôm nay ta còn công ăn việc làm, chưa thất nghiệp. Thế thì lòng đã phơi phới, sá chi đông giá lạnh lẻo tối tăm. Con đường đi đến sở, nhạc trong xe dịu dàng rải rắc khắp không gian. 

Có lần tôi bị thất nghiệp, buổi sáng thức dậy, tận sâu thẳm trong lòng tôi vẫn lâng lâng niềm hạnh phúc lạ kỳ, với ý nghĩ rằng, nhờ thất nghiệp mà còn được ngủ nướng, muộn màng, nằm dã dượi, nhìn nắng ấm dịu dàng len qua song, trải lên chiếu giường. Chốc nửa, sẽ nằm đọc truyện, uống trà, nghe nhạc cổ điển êm dịu. Chiều đi câu bên hồ. Tối nay thức khuya xem phim muộn về đêm, khỏi phải sợ ngủ gục trong sở. Việc chi mà quá lo âu về kinh tế gia đình, khéo co giản nhu cầu theo hoàn cảnh, thì không việc gì phải lo,. Vả lại, công việc làm, thì cửa nầy đóng, cửa kia sẽ mở, đâu đến nỗi chết đói mà sợ.

Nhiều người hỏi tôi sao không mua nhà để được trừ thuế mà cứ sống trong nhà thuê chật chội. Tôi trả lời là tôi đang mua hạnh phúc. Hạnh phúc mua được rẻ hơn tiền đóng thuế. Mua cái nhà khi chưa vững chắc về tài chánh là mua cả khối lo lắng lớn lao vào thân, làm mất đi cái an bình quý báu của cuộc sống. Nhiều người, vì mua nhà, sợ mất việc, cho nên hèn cả con người. 

Khi tôi đủ sức mua nhà mà không phải lo âu vì nợ nần, thì cũng có nhiều bạn bè bà con hỏi, sao dư khả năng để mua những căn nhà lớn hơn, khu sang trọng hơn, mà lại mua căn nhà nhỏ. Tôi nói với họ là tôi không có nhu cầu sang trọng, căn nhà nhỏ cũng đủ cho gia đình tôi trú ngụ yên ấm. Nhà càng lớn, càng phải chăm sóc quét tước. chùi dọn nhiều, sưả chửa nhiều, mất thì giờ hưởng thụ những thú vui khác của cuộc đời. Lại nợ nần nhiều thêm lo lắng, có hại đến hạnh phúc bình thường. Căn nhà nhỏ của chúng tôi, nếu chẳng may cả hai vợ chồng thất nghiệp, cũng chẳng có chút bối rối nào. 

Có thể, tôi không khôn ngoan trên nhản quan kinh tế, nhưng tôi chắc chắn không sai lầm chút nào trên quan điểm hạnh phúc nhân sinh. Vợ chồng chúng tôi thường nói với nhau, nếu bây giờ có thêm vài triệu đồng tiền mặt, thì có lẻ đời sống chúng tôi cũng chẳng thay đổi gì hơn. Cũng không ăn dược nhiều hơn một miếng, cũng khong ngủ được một lúc hai giường. Thức ăn thì bò, heo, gà, tôm, cua, cá, rau cải, bất cứ thứ nào cũng thừa khả năng mua. Không cần phải giàu lắm mới mua được. Ngồi ăn trong nhà hàng sang trọng đắt tiền, chắc chi ngon miệng hơn ngồi chồm hổm bên góc đường húp riêu.

Vợ tôi thường trách tôi bạn bè quá đông, bạn tốt cũng đông mà bạn xấu cũng đông. Tôi thì thấy không ai hoàn toàn tốt, mà cũng không ai hoàn toàn xấu. Đã là con người thì có xấu tốt lẫn lộn. Chơi với bạn thì chỉ nên nhìn vào cái tốt bạn có, đừng để ý đến cái xấu. Ngay cả bản thân mình, cũng đầy cả nết hư tật xấu mà chưa chừa được. Chắc chắn, cũng không ít người chê bai sau lưng mình, nhạo báng mình, mà mình không biết đó thôi. Nếu họ có chê trách mình, thì họ cũng đúng phần nào dưới nhản quan của họ. Bởi vậy, tôi thường để vài giờ tự chế diễu mình, ghi lên giấy những lố lăng, những kỳ cục, những khả ố của mình. Để mình thấy rõ mà tha thứ cho cho mình, tha thứ cho người khác dễ dàng hơn.

Thế mà người gần gũi tôi nhất, thân thiết nhất, là vợ tôi, thường chống báng cái triết lý củ khoai nhiều nhất. Nhưng nàng đâu hiểu, những hạnh phúc bình thường tràn đầy mà gia đình tôi thực sự có được, cũng nhờ cái triết lý củ khoai ấy. Thường thường ít ai thấy và cảm được những hạnh phúc mà họ đang có, chỉ khi mất đi rồi, mới nhận chân ra, và chép miệng tiếc thương. Nhiều khi vợ tôi làm những điều không phải, nói những lời khinh bạc, tôi không nổi giận la hét làm dữ như những người khác. Tôi thầm bảo, nhiều người đàn bà còn tệ hơn vợ mình cả trăm lần, mình phải chấp nhận cái tương đối để vui sống. Và lại, mình có hoàn toàn đâu mà buộc người phối ngẫu của mình phải hoàn toàn. Thế là mọi sự đều qua.

Điều tôi thường hay nghĩ đến là nếu. Nếu tất cả sự thực hôm nay là giấc mộng, sáng mai thức giấc, thấy mình đang còn nằm trong nhà tù cộng sản, thì thật có nhiều điều đáng ân hận và tiếc. Và nếu đời là một giấc mơ, thì sao chúng ta không mơ cho thật đẹp.

Tràm Cà Mau 

“Cây khô héo hay là xanh tươi mới tốt?” 

(Ảnh minh họa/Nguồn: Sưu tầm)
(Ảnh minh họa/Nguồn: Sưu tầm)

Trong đời đôi khi ta sẽ gặp phải chuyện hay dở. Phàm là con người thì chuyện hay thì vui mừng, chuyện dở thì thất vọng, đau buồn. Vì sao như vậy? Chung quy cũng bởi muốn sự thể luôn “như ý”. Nhưng đấy là cái lý của người, không phải của Thần..

50300860-0997-4761-B7F3-A5AA3B5AF163
Thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm là đại sư nổi tiếng thời nhà Đường, ông cùng với rất nhiều cao tăng có “sở trường”, giỏi về việc dẫn dắt ngộ tính của các đồ đệ.

Có một lần, Duy Nghiễm thiền sư dẫn hai vị đệ tử của ngài là Đạo Ngô và Vân Nham đi xuống núi. Thiền sư Duy Nghiễm chỉ tay vào một cái cây khô trong rừng và hỏi:

“Các con nói xem, cái cây này khô héo mới tốt hay là xanh tươi mới tốt?”

Đạo Ngô không nghĩ ngợi gì, lập tực trả lời: “Đương nhiên là xanh tươi mới tốt chứ ạ!”

Duy Nghiễm thiền sư lắc đầu nói: “Hết thảy phồn hoa cuối cùng rồi cũng biến mất!”

Đến lúc này, câu trả lời dường như đã sáng tỏ, nên Vân Nham lập tức nói: “Theo con thì là khô héo mới tốt!”

Ai ngờ, Duy Nghiễm thiền sư vẫn lắc đầu nói: “Khô héo thì cuối cùng cũng trở thành quá khứ!”

Vừa hay lúc này có một vị tiểu hòa thượng đi qua ba thầy trò họ. Duy Nghiễm thiền sư liền đem câu hỏi này để khảo nghiệm vị tiểu hòa thượng. Tiểu hòa thượng thông minh, không nhanh không chậm mà từ tốn nói:

Khô héo thì để nó khô héo, mà tươi tốt thì nên để nó tươi tốt!”

Duy Nghiễm thiền sư vuốt cằm và khen ngợi: “Tiều hòa thượng nói đúng! Bất kể sự tình gì trên thế giới này đều nên là để cho nó tự nhiên, đừng chấp nhất. Đây mới là thái độ của tu hành!”

Sự thăng trầm của vạn vật đều là có quy luật. Hoa sẽ không bởi vì con người yêu thích mà luôn luôn nở, ánh trăng cũng không bởi vì con người bất mãn mà vắng bóng.

Quy luật tự nhiên là rộng lớn bao la mà cũng rất khắc nghiệt. “Khô héo” cũng thế mà “xanh tươi” cũng vậy, thuận theo thời gian thì đều sẽ biến mất.

Đời người, xinh đẹp, quyền lực, của cải, danh lợi đều chỉ bất quá là tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn ngủi. Con người nên thuận theo tự nhiên mà sống, càng không nên làm trái ngược lại, truy cầu mà nhận lấy mệt mỏi và làm mê lạc chính mình.

Lão Tử nói: “Nhân pháp đích, đích pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên.” (Tạm dịch: Người thuận theo Đất, Đất thuận theo Trời, Trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo Tự nhiên).

Trên thế gian này, luật to lớn nhất chính là luật tự nhiên, luật của con người kỳ thực là nhỏ bé nhất. Cho nên, “thuận theo tự nhiên” mới là đạo sinh tồn của nhân loại.

Theo Secretchina

Thư ngỏ gởi ông Khizr Khan
Dịch giảĐiền Phong
Ông Khan thân mến;
Tôi, cũng giống như hàng triệu người Mỹ khác đã nghe thấy bài diển văn của ông đọc tại Đại Hội Đảng Dân Chủ vào tối thứ Năm.
Tôi mong gởi đến ông lời thiện cảm đối với cái chết của người con trai của ông, Đại Úy Humayun Khan, đã bị sat hại trong khi thi hành nhiệm vụ tại Iraq.
Là một cựu sĩ quan Quân Đội Hoa Kỳ và là cựu chiến binh của cuộc chiến Vùng Vịnh, tôi khẳng định có thể hiểu được sự đau đớn và khắc khoải của ông và phu nhân đã chịu đựng hằng ngày. Con trai của ông đã chết khi cứu lấy mạng sống của đồng đội. "Không có tình yêu nào lớn hơn tình của một người đã bỏ mạng sống của mình cho bạn hữu," đó là lời của Đức Jesus nói trong Phúc âm John.
Đại Úy Khan là một vị anh hùng. Tôi chắc chắn rằng những quân nhân mà ông đã phục vụ xem ông là một vị anh hùng. Tôi biết rằng Ông Khan và phu nhân cũng như vậy. Xin yên lòng rằng hàng triệu cựu quân nhân cũng đều xem con trai của ông là một vị anh hùng.
Theo lời diễn giải của sách Ecclesiasticus thì danh của con trai ông hẳn sống mãi.
Con trai của ông đã làm một sự hy sinh tối thượng cho quốc gia của mình, một quốc gia mới mẻ đối với ông cùng gia đình, và là một quốc gia mà ông đã ôm ấp một cách không che dấu và thương yêu.
Khi ông và gia đình đến Mỹ từ Hồi Quốc, ông đã hội nhập vào xứ sở của chúng tôi. Ông đã tuyển chọn lối sống của nước Mỹ, đã học biết lịch sử của chúng tôi và rõ ràng là đã hấp thụ một mớ (điều luật) hiến pháp suốt thời gian qua.
Nhưng, có nhiều tín đồ Hồi Giáo tại Mỹ không những không thích hội nhập mà lại mong sống theo lề luật Sharia (của đạo Hồi).
Đây là điều không thể chấp nhận đối với người Mỹ. (Vì đối với họ) Chỉ có một lề luật của lãnh thổ (họ đang sống). Đó là Hiến Pháp của Hiệp Chủng Quốc (Mỹ).
Thưa ông Khan, như ông biết rõ, chúng ta đang sống trong thời đại bạo lực, thời đại nguy hiểm. Các tín đồ Hồi Giáo điên khùng từ bọn ISIS và các nhóm Thánh Chiến cực đoan đang tung hoành giết người và khủng bố khắp hoàn vũ.
Tôn giáo hòa bình của ông, Hồi giáo, không là gì khác ngoài cái tôn giáo của năm 2016. Đó là một sự kiện được xác định mỗi khi một tín đồ Hồi giáo bắn giết, cho nổ bom, chặt đầu và tra khảo những đàn ông, đàn bà và trẻ con vô tội. Điều này không có nghĩa là mọi tín đồ Hồi Giáo đều là những tên khủng bố, nhưng thưa ông, hầu hết mọi kẻ khủng bố đều hiển nhiên là tín đồ Hồi Giáo.
Sự tấn công khủng bố của tín đồ Hồi Giáo đã trở nên dấu ấn của thời đại.
Gạt đi những lời tuyên bố của vô tích sự và khờ dại của ông Barack Obama là nhà tư tưởng tả phái hư ảo, cùng các đồng sự có trí tuệ u tối như John Kerry, François Hollande, và Angela Merkel… nước Mỹ và Phương Tây đang lâm chiến với bọn Hồi Giáo Cực Đoan. Đây là công việc của ông Tổng Thống Hoa Kỳ để bảo vệ quốc gia của ông ấy chống lại mọi kẻ thù, thù trong lẫn giặc ngoài. Vô phước thay, Ông Obama lại lãng mạng hóa Hồi Giáo và từ chối chấp nhận hiện thực đã mang lại kết quả là cái chết của hàng ngàn người vô tội trên khắp thế giới.
Các nhóm như ISIS và Al-Quaeda có một mục tiêu, đó là hủy diệt hoàn toàn văn hóa Judeo-Christian, tôn giáo của chúng tôi và nếp sống của chúng tôi.
Nhiều người Mỹ có gia đình đã từng sinh sống ở đây hàng thập niên, và cả hàng thế kỷ. Nhiều gia đình như chúng tôi có thân nhân đã chiến đấu trong trận nội chiến Mỹ, Đệ Nhất và Đệ Nhị thế chiến, chiến tranh Cao Ly, Việt Nam và Bão Sa Mạc. Một số gia đình có thân nhân đã chiến đấu trong cuộc Cách Mạng nước Mỹ.
Chúng tôi không có kế hoạch để mặc cho đất nước chúng tôi bị vồ nuốt bởi bọn Tín Đồ Hồi Giáo khùng điên. Thưa ông, chúng tôi là người Mỹ và không phải là thứ không vũ trang, như người Âu Châu bị ám tà bởi chủ nghĩa xã hội giống như những xác chết biết đi. Người Mỹ chúng tôi sẽ làm những gì cần thiết để bảo vệ nước Mỹ. Trong khi những người theo Đảng Dân Chủ và Tự Do nhìn thế giới qua cặp kiếng màu hồng, thì những người theo phái bảo thủ hiểu rõ rằng thế giới này gồm có người tốt lẫn kẻ xấu. Sự xấu xa phải bị hủy diệt trước khi nó hủy diệt chúng ta.
Những biện pháp mạnh, biện pháp chiến tranh phải được xữ dụng để bảo vệ đất nước này khỏi bọn đang mong muốn tiêu hủy chúng tôi và nếp sống của chúng tôi.
Kế hoạch của ông Trump tạm thời chận đứng làm sóng di dân từ các nước Hồi Giáo là những nơi được biết đang hổ trợ hoặc chứa chấp bọn khủng bố … kế hoạch này không những là thực dụng mà còn là hiến định một cách hiển nhiên. Đó là nhiệm vụ hiến định của ông Tổng Thống Mỹ để bảo vệ đất nước này.
Không có cách nào để bênh vực cho nạn xâm lấn của hàng trăm ngàn di dân Hồi giáo từ các nước chiến tranh như Syria, Iraq, và Afghanistan.
Âu Châu đang bị tàn phá vì những người lãnh đạo bất cẩn như Angela Merkel, bà đã mở cửa của đất nước cho trận nước lũ của trên 1 triệu di dân không lai lịch tràn vào, không mang theo gì khác ngoài thái độ bất lương và một túi chứa đầy Thánh Chiến.
Phải chăng ông nghĩ rằng người Mỹ là ngu ??? Trong khi bọn tả phái sống trong mộng mị, thì phái hữu không phải vậy. Ông Trump hiểu rõ sự đe dọa đối với đất nước, và thưa ông, sự đe dọa đó không phát xuất từ các tín đồ Lutheran Thụy Điển có tên là Anna và Lars. Sự đe dọa đến từ Hồi Giáo Cực Đoan thưa ông !
Làm thế nào nhân danh Chúa mà cơ quan tiếp nhận di dân biết được ý đồ thực sự của một thanh niên 22 tuổi người Syria ? Không thể nào. Và ông cũng biết được rằng đó là điều không thể.
Làm thế nào nhân danh Chúa mà cơ quan tiếp nhận di dân biết được ý đồ thực sự của hàng trăm ngàn người tỵ nạn Syria và hàng ngàn tín đồ hồi giáo tạp nham khác đang muốn đến tại bờ biển của chúng tôi ?
Đó là điều không thể. Và ông cũng biết được rằng đó là điều không thể.
Dù cho ông, vợ ông, thế giới Hồi Giáo và hàng triệu người theo đảng Dân Chủ có bị xúc phạm bởi lời phát biểu của ông Trump thì sự việc này cũng chẳng có nghĩa lý gì cả.
Dù cho ông, vợ, con trai ông trước đây có bị cấm không được di dân từ Pakistan qua Mỹ bởi kế hoạch thời chiến của ông Trump đi nữa thì chuyện này cũng chẳng có nghĩa lý gì cả. Bởi vì … (nhu cầu) an ninh của đất nước vĩ đại này đã vượt trên các nguyện vọng của quý vị và của những người khác đang muốn đến đây. Nước Mỹ không bị ràng buộc phải mở cửa để vuốt ve những kẻ ngoại bang và những kẻ theo phái phóng túng trong chính quyền của chúng tôi.
Mọi lựa chọn khác ngoài chính sách của ông Trump đều khiến cho mạng sống của người Mỹ ngày càng bị nguy hiểm hơn. Thưa ông, đó là điều không thể chấp nhận được.
Ông đã tấn công ông Trump trước khán thính gỉa của thế giới, trong khi ông không thể hiểu được sự kiện rằng ông Trump đang (có nhiệm vụ) phải chống đỡ sự tấn công của ông, của Hillary Clinton và phe tả. Còn việc gì khác hơn thế để làm, thưa ông ??
Ông phải sống trong thế giới của thực tế chứ không phải trong thế giới của sự từ khước, lừa dối và sự kỳ quặc mà các đảng viên Dân Chủ phải chung sống trong suốt cuộc đời cua họ khi mỗi ngày thức dậy.
Bọn Hồi Giáo Cực Đoan là kẻ thù của mọi người sống trên hành tinh này và đang tin vào tự do công lý. Khi bọn họ chưa bị hủy diệt thì đất nước này còn phải tự bảo vệ để khỏi bị sát hại bởi hai kẻ thù: thù trong và giặc ngoài.

Ray-Starmann, 
Biên tập viên trưởng của US Defense Watch

Blog Archive