Chúng ta sẽ thua việt-cộng dài dài nếu
Lê Duy San
Cuộc chiến Việt Nam mặc dầu đã được kết thúc trên ba chục năm nay, nhưng nhiều người vẫn còn tự hỏi, “Quân đội của chúng ta hùng mạnh như vậy, tinh thần chiến đấu của quân đội chúng ta anh dũng như vậy, nhiều quân nhân còn xâm chữ “Sát Cộng” vào cánh tay, còn đồng bào ta thì sợ Việt Cộng như cùi, như hủi, bọn chúng tới đâu là đồng bào ta bỏ chạy tới đó, vậy mà tại sao chúng ta lại thua Cộng Sản?
Đành rằng nguyên nhân gần và trực tiếp là vì chúng ta bị đồng minh tức Hoa Kỳ bỏ. Nhưng còn nguyên nhân sâu xa là gì? Đã có rất nhiều chính trị gia, chiến lược gia, sử gia Việt Nam cũng như ngoại quốc phân tích và đã đưa ra rất nhiều lý do, chủ quan cũng có, khách quan cũng có, nhưng chưa thấy tác gỉa nào nói tới lý do đạo đức và luật pháp.
Vì đạo đức, chúng ta không thể bắt chước Cộng Sản, “thà giết lầm còn hơn tha lầm”. Bắt được những tên Cộng Sản, những tên Việt Gian, những tên ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng Sản, chúng ta vẫn đối xử nhận đạo. Hẳn chúng ta còn nhớ, vào năm 1955-1956, một phong trào mang tên là Phong Trào Hòa Binh do các Phạm Huy Thông, Lưu Văn Lang, Trần Kim Quan v.v…thành lập. Đây là một phong trào thiên Cộng họạt đông với mục đích hỗ trợ cho Việt Cộng và đòi Tổng Tuyển Cử theo Hiệp định Geneve 1954, chính phủ Ngô Đình Diệm cũng chỉ tống xuất một vài tên qua cầu Hiền Lương ra Bắc.
Đến đầu năm 1965 cũng có một phong trào mang tên tương tự là “Phong Trào Tranh Đấu Bảo Vệ Hòa Bình do những tên Việt Gian, Ăn Cơm Quốc Gia, Thờ Ma Cộng Sản thành lập như Thượng Tọa Thích Quảng Liên, Bác Sỉ Thú Y Phạm Văn Huyến, Nhà Báo Phi Bằng tức Cao Minh Chiến, Giáo Sư Tôn Thất Dương Kỵ, Bác Sĩ Lê Khắc Quyến v.v… Gần 30 thành viên của phong trào này đã bị bắt giữ, trong đó có Cao Minh Chiến, Tôn Thất Dương Kỵ và Phạm Văn Huyến. Tướng Nguyễn Chánh Thi đã đề nghị thả dù bọn này ra bắc vỹ tuyến 17 tức bên kia cầu Hiền Lương cho Việt Cộng. Nhưng Thủ Tướng Phan Huy Quát vì lý do nhân đạo, sợ làm như vậy bọn chúng có thể gẫy chân, què tay vì bọn chúng đâu biết nhẩy dù, nên đã lấy cớ rằng làm như vậy, quốc tế sẽ chỉ trích, và chỉ đồng ý giải giao bọn chúng cho Việt Cộng bằng đường bộ qua cầu Hiền Lương.
Vì luật pháp, chúng ta cũng không thể cho chúng mò tôm, bắt ốc như bọn Cộng Sản đã làm đối với những người quốc gia, mà chúng ta phải đưa chúng ra tòa để xét xử theo luật pháp. Nhiều khi chúng ta còn rất nhẹ tay với chúng. Dù có tội thì cũng chỉ giam giữ ít lâư rồi lại thả ra. Trường hợp tử hình, thật là hiếm. Không những thế, nhiều khi còn để tình cảm lấn áp. Do đó có những trường hợp kẻ bị bắt có thế lực hoặc có liên hệ với các ông lớn trong chính quyền VNCH được can thiệp và cho tại ngoại ngay từ lúc mới bị bắt hoặc được cho biết trước để mà chạy trốn hoặc phi tang chứng cớ. Trường hợp điển hình là trường hợp của Trần Đình Ngọc, giáo sư trường Đại Học Khoa Học Saigon; vì có hoạt động cho Việt Cộng nên bị bắt. Ông Nguyễn Chung Tú, Khoa Trưởng Trường Đại Học Khoa Học Saigon đã lấy tư cách và uy tín của mình để bảo lãnh cho ông Ngọc. Vì thế, ông Ngọc không những đã được tại ngoại mà cũng chẳng phải ra toà lãnh án.
Vụ Têt Mậu Thân 1968, không thiếu gì những tên Việt Cộng giết người một cách dã man, giết người một cách vô tội vạ, giết người hang loạt, vậy mà bọn chúng đâu có đưa air a tòa? Còn chúng ta, nếu vì qúa tức giận trước những hành động qúa độc ác, dã man cuả bọn chúng mà tự ý giết một tên Việt Cộng nào đó, thì dù có lý do chính đáng đến đâu cũng vẫn bị kết tội là dã man, là vô nhân đạo. Nếu không bị đưa ra tòa thì cũng bị nhiều người phê bình và thế giới nguyền rủa. Đó là trường hợp của tướng Nguyễn Ngọc Loan đã xử tử tên Việt Cộng Nguyễn Văn Lém tự Bẩy Lớp, kẻ đã sát hại cả gia đình một sĩ quan cảnh sát vào Tết Mậu Thân 1968.
Ngày nay, ở hải ngoại cũng vậy, những người chống Cộng luôn luôn bị một số người vin vào lý do đạo đức, văn hóa để chỉ trích người khác. Nếu chống Cộng hăng say qúa thì bị chỉ trích là quá khích. Nếu dùng danh từ mạnh mẽ qúa hay bình dân quá thì bị phê bình, chỉ trích là ấu trĩ, là thiếu văn hóa, là phản tuyên truyền có khi còn bị nhục mạ là hạ cấp, là vô học.
Bọn Việt Cộng ăn gian nói dối cả trăm ngàn lần dân chúng trong nước đâu ai dám nói gì. Trái lại, ở hải ngoại, nếu có ai vì chống Cộng nói sai một chút, nói qúa lời một chút, mà đâu có phải nói họ mà chỉ là nói bọn Việt Cộng hoăc bọn Việt Gian Cộng Sản là bị chỉ trích, bị phê bình liền, có khi còn bị mạ lỵ. Bọn người này, không biết họ thuộc loại nào, có thể là bọn Việt Cộng nằm vùng, có thể là bọn Việt Gian Cộng Sản, nhưng cũng có thể chỉ vì cảm tinh cá nhân, nói ra họ lại la làng là bị chụp mũ này, mũ nọ. Có điều chắc chắn là không bao giờ thấy họ viết một bài nào chống Cộng, hoặc nếu có thì cũng chỉ hời hợt hoặc vô thưởng, vô phạt để chứng tỏ ta đây cũng là người chống Cộng còn những bài viết chỉ trích những người chống Cộng thì phê bình chỉ trích tới nơi, tới chốn. Gọi ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam là chính quyền Việt Nam mà chỉ trích thì đã đành. Viết hai chữ Cộng Sản là CS hay Việt Cộng là VC cũng bị chỉ trích hoặc gọi bọn bưng bô cho Việt Cộng hay làm lợi cho Việt Cộng là Việt Gian Cộng Sản cũng bị chỉ trích. Thật hết chỗ nói.
Trong khi đó, bọn Việt Cộng tung ra hải ngoại không biết là bao nhiêu là cán bộ đội lốt ca sĩ, du sinh, thày tu, bất đồng chính kiến v.v…thì chẳng thấy những người này nói tới. Chính vì vậy mà ngày nay, văn hóa phẩm của Việt Cộng tha hồ bầy bán trên thị trường hải ngoại và bọn Việt Gian, bọn tay sai Cộng Sản tha hồ tung hoành tổ chức nhạc hội gây qũy từ thiện, nhiều khi bọn chúng còn dám tổ chức triển lãm, hội thảo nữa mà cũng chẳng mấy ai dám nói tới, khiến bọn chúng lộng hành.
Trường hợp Cô Tim và Căn Nhà May Mắn là một thí dụ điển hình. Cô được Hội Người Việt San Fernando Valley, California tổ chức buổi Văn Nghệ Gây Qũy cho cô vào ngày 25 tháng 10 năm 2008. Cô Tim không những không chào cờ VN Cộng Hòa đã đành, cô còn ra lệnh cho ông Chủ Tịch Richard Mười Trương và những người trong ban tổ chức phải dẹp bỏ cờ vàng ba sọc đỏ đi cô mới chịu đăng đàn nói chuyện. Vậy mà ông Chủ Tịch Mười Trương và những thành viên trong ban tổ chức đã răm rắp nghe theo. Thà cứ như chùa Pháp Vân ở Canada trong buổi gây qũy cho cô Tim chẳng cờ quạt gì cả còn hơn. Đằng này ông Chủ Tịch mười Trương cũng chào cờ quốc gia, cũng hát quốc ca VNCH, cũng mặc niệm, nhưng khi nhân vật chính là cô Tim lên diễn đàn nói chuyện, thì ông lại nghe lệnh cô Tim dẹp cờ vàng đi.
Hành động này, không khác gì mượn danh từ thiện để hạ nhục cờ quốc gia VNCH. Ấy vậy mà vẫn còn có kẻ bênh vực cho cô Tim, vẫn đòi hỏi phải có bằng cớ rõ ràng mới có thể kết tội cô là người của Việt Cộng. Chắc bọn Việt Gian Cộng Sản muốn chúng ta phải trưng ra thẻ đảng viên của cô hay ít nhất cũng phải có giấy công tác của cô do Việt Cộng cấp?
Và gần đây, ngày 7/5/09, Tiêu Dao Bảo Cự, một tên bất đồng chính kiến cuội đã được bọn Việt Cộng cho sang Hoa kỳ và đã tới Đại Học Berkley thuyết trình về nhà thơ Hữu Loan với bài thơ Đồi Tím Hoa Sim nhưng chẳng thấy y nói gì tới bài thơ Đồi Tím Hoa Xim mà chỉ thấy y khuyến dụ sinh viên về nước giúp ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam.
Ngày nay bọn Việt Cộng biết rằng cái chính nghĩa của chúng do sự tuyên truyền và bịp bợm mà có không còn có thể che dấu được nữa, nhất là đồng bào hải ngoại. Do đó chúng đã tìm mọi cách để xâm nhập vào cộng đồng người Việt Hải Ngoại để tìm cách chia rẽ và phá hoại sự đoàn kết của chúng ta. Chúng như con bạch tuộc. Nếu con bạch tuộc có nhiều chân thì bọn Việt Cộng có nhiều tiền. Bọn chúng sẵn sang tung tiền ra để mua chuộc những thành phần lưu mamh, ham danh, hám lợi, những thành phần ngu dốt, mê muội, tưởng chế độ Cộng Sản đã thay đổi, tưởng chúng muốn hòa hợp, hoà gỉai với người quốc gia để xây dựng đất nước. Do đó, chúng ta thấy ở bất cứ nơi nào, Hội đòan nào, Diễn đàn nào, cũng có đầy dẫy nhưng kẻ luôn luôn tìm cách phá thối, lũng loạn để gây chia rẽ.
Tóm lại, đã gọi là chống Cộng thì phải chống Cộng tới nơi, tới chốn, Bởi vì bọn Việt Cộng là một bọn cướp vô học. Không những vô học, bọn chúng còn dã man, còn tàn bạo. Chống chúng, không thể dùng những lý lẽ của Không Tử, những lời dạy của Đức Phật hay của Đức Ki Tô, mà phải dùng những lời lẽ của những bà mẹ nông dân Việt Nam hay ít nhất cũng phải là những lời lẽ của những người bình dân đang bị VC cướp của, cướp nhà. Những ai không chống Cộng hay không dám chống Cộng vì còn muốn về Việt Nam làm ăn với Việt Cộng hay về VN để ăn chơi du hí thì hãy im cái mồn lại, để người khác chống Cộng, Đừng đạo đức gỉa, đừng quân tử Tầu mà chỉ trích người khác. Thật buồn khi thấy trên các báo chí cũng như trên các diễn đàn, những bài chống Cộng thì ít mà những bài chống nhau thì nhiều.
Chúng ta phải coi chừng, đừng mắc mưu bọn Việt Cộng nằm vùng hoặc bọn Việt gian Cộng Sản mà quên đâm thẳng mũi dùi vào bọn Việt Cộng mà lại quay mũi dùi đâm vào anh em. Nếu không, chúng ta sẽ còn thua Việt Cộng dài dài...
Cổ nhân đã dạy:
Đi với Bụt, mặc áo Cà Sa,
Đi với Ma, mặc Áo Giấy./-
Tuesday, June 9, 2009
Monday, June 8, 2009
Danh dự, Phong cách và Tiết tháo của kẻ sĩ
Việt Hải, Los Angeles.
Nhân kỷ niệm sự ra đi của nhà văn Hứa Hoành, VH xin trích đăng bài cũ mà anh đã viết: "TƯỞNG NIỆM TRẦN VĂN HƯƠNG, NHÂN SĨ SUỐT ĐỜI GIỮ TIẾT THÁO".
Gương tiết tháo của cụ Trần Văn Hương và hoàng thân Sirik Matak sẽ mãi mãi được ghi nhớ, nhất là mỗi khi tháng Tư lại về. Nhìn lại kẻ thua trận, vẫn có sĩ phu cố bám víu quê hương để chia sẻ những khổ đau nhục nhằn của người dân bị trị, trong khi kẻ thắng cuộc lại hèn hạ luồn cúi dâng đất đai của tiền nhân để lại cho ngoại bang phương bắc để cố bám víu quyền lực thống trị quê hương. Xin mời bạn đọc:
"Tôi xin phép từ chối. Tôi không nhận cái quyền công dân nầy. Dầu gì tôi cũng đã là người lãnh đạo miền Nam, trong khi binh sĩ, nhân viên các cấp, chỉ vì thừa lịnh của chúng tôi, mà giờ đây vẫn còn bị giam cầm trong các trại cải tạo, chưa được trả quyền công dân. Chẳng lý gì, tôi là người trách nhiệm, lại được trả quyền công dân trước..." (Lời cựu Tổng Thống Trần Văn Hương trả lời một cán bộ CS, khi họ đến nhà định làm lễ, quay phim "trả quyền công dân cho ông").
Hàng năm, cứ đến ngày oan trái 30 - 4, tôi lại bâng khuâng nhớ đến các anh hùng liệt sĩ đã bỏ mình vì nước. Làm tướng giữ thành, thành mất, tuẫn tiết theo thành, ngày xưa có Tổng đốc Hoàng Diệu (1828 - 1882), Tổng đốc Nguyễn Tri Phương (1800 - 1873)... Ngày nay có Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu tướng Lê Văn Hưng, Thiếu tá quận trưởng Bồng Sơn Hoàng Lê Cương (1972) và hàng trăm ngàn chiến sĩ vô danh khác, đã tự sát để giữ tròn khí tiết, không để lọt vào tay kẻ thù làm nhục. Họ nêu những gương hy sinh cao quý, tiết liệt, lịch sử ghi nhớ muôn đời.
Hai mươi năm chiến tranh, một cuộc chiến tranh vệ quốc sáng ngời chính nghĩa quân dân miền Nam đã hy sinh hàng triệu người, chỉ vì muốn bảo vệ một lý tưởng "Độc lập, tự do" và không muốn đất nước rơi vào tay CS. Nhưng cuối cùng phải thất bại trong nỗi uất hận, nghẹn ngào.
Năm nay, nhân ngày tang tóc đau thương của toàn thể dân tộc Việt Nam, chúng tôi muốn nhắc lại với thế hệ mới lớn lên, về những cái chết oai hùng. Trong phạm vi bài nầy, chúng tôi kể lại những ngày sau cùng của một chính khách thanh liêm, cương trực, suốt đời giữ được tiết tháo và lòng yêu nước: người đó là cụ Trần Văn Hương, hai lần làm đô trưởng Sàigòn, hai lần làm thủ tướng và Phó Tổng Thống, và cuối cùng là Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa chỉ được 3 ngày...
Cụ Hương mất đi không một lời cáo phó. Cụ mất, nhưng gương hi sinh và thái độ sống của người quân tử mà cụ nêu gương không bao giờ mất. Tuy là người đồng hương, vì nhà tôi ở chỉ cách nhà người chị ruột của cụ Trần Văn Hương chừng 300 mét, trên đường Văn Thánh (tức Văn Thánh miếu thờ Đức Khổng Tử và cụ Phan Thanh Giản) tại Vĩnh Long.
Là thế hệ sau, thuộc hàng con cháu, nên tôi không được quen biết với cụ. Tháng Hai năm 1975, tôi là thành viên của một phái đoàn vận động thành lập Viện Đại học Long Hồ cho 3 tỉnh Vĩnh Long Kiến Phong và Vĩnh Bình, có đến tư thất của cụ ở đường Phan Thanh Giản Sàigòn, để yết kiến và xin cụ giúp đỡ. Tháng 3 năm 1975, cụ với tư cách là Phó Tổng Thống, có đến tại hội trường thuộc trường Sư Phạm (cao đẳng) Vĩnh Long, để chứng kiến lễ chấp nhận thành lập Viện Đại Học Long Hồ, do Tổng Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục Ngô Khắc Tỉnh ký trước mặt cụ.
Mặc dầu rất nhiều lần giữ những địa vị cao trong chính trường miền Nam, nhưng cụ Trần Văn Hương là một người có đời sống giản dị, mẫu mực, thanh liêm không bất cứ một ai có thể mua chuộc được. Khi thôi việc, cụ Hương sống cuộc đời chật vật nhưng vẫn giữ được tư cách.
Trần Văn Hương sinh năm 1904 tại làng Long Châu, nay thuộc quận Châu Thành Vĩnh Long, trong một gia đình nghèo. Nhờ học giỏi và được sự hy sinh của gia đình, cậu học sinh Trần Văn Hương được ra Hà Nội học trường Cao đẳng Sư Phạm... Sau khi tốt nghiệp, ông giáo Trần Văn Hương được bổ về dạy tại trường Le Myrle de Vilers Mỹ Tho, cũng là ngôi trường cũ mà ông đã theo học mấy năm trước. Thời gian từ năm 1943 - 1945, ông Hương là giáo sư dạy môn văn chương và luân lý tại trường nầy. Sau đó ông Hương được đổi lên làm Đốc học tỉnh Tây Ninh.
Năm 1945, Việt Minh nổi dậy cướp chính quyền khắp 3 kỳ, nhóm Việt Minh mới của Trần Văn Giàu (chủ tịch Ủy ban hành chánh Nam bộ) cử cụ làm chủ tịch Ủy ban hành chánh tỉnh Tây Ninh. Làm việc với Việt Minh được mấy tháng, thấy họ không thành thật, và theo con đường bá đạo, nên ông Hương từ chức. Tuy vậy cụ vẫn còn đứng trong hàng ngũ kháng chiến. Khi thấy bộ mặt thật của Việt Minh là CS, tìm cách khủng bố, ám sát thủ tiêu những người yêu nước có tinh thần quốc gia, cụ bỏ về thành. Ban đầu cụ bán thuốc tây cho nhà thuốc của dược sĩ Trần Kim Quan (Pharmacy Kim Quan) ở góc đường Lê Lợi và chợ Bến Thành bây giờ).
Theo tài liệu của tình báo Mỹ, ông Hương có hai người con: Trần Văn Dinh và Trần Văn Doi (Giỏi?). Hồi còn theo học trường "College de Can Tho", kháng chiến nổi lên, Doi bỏ học theo kháng chiến. Khi phái đoàn Hồ Chí Minh qua Pháp cùng một lúc với hội nghị Fontainebleau trở về tới Vũng Tàu, ông Doi theo xuống tàu ra Bắc. Từ đó hai cha con không bao giờ gặp nhau nữa. Theo ông Huỳnh Văn Lang, cựu Tổng giám đốc Viện Hối Đoái dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho biết
"Ông Trần Văn Giỏi (không phải Dõi) ở tại Sàigòn, bên cạnh ông Hương như một người cố vấn, như vậy ông Giỏi không tập kết ra Bắc."
Không rõ chi tiết naò đúng?
Năm 1964, ông Hương làm Thủ tướng chính phủ, tình báo Mỹ có đem lại một hồ sơ cho biết cụ có người con theo CS. Cụ Hương thẳng thắn nhìn nhận và cho biết từ đó cho đến nay, cụ không còn liên lạc gì với người con đó hết. Khi cụ tham chính, thì người con lớn là Trần Văn Dinh ở kế cận đóng vai người cố vấn thân tín.
Tháng 7 - 1967, ông cùng với ông Mai Thọ Truyền, ra ứng cử chức Tổng Thống chỉ được 10% số phiếu, về hạng tư. Tháng 5 - 1968, ông được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mời làm Thủ Tướng, thay thế Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc. Trong nhiệm kỳ Tổng Thống 1971 - 75, ông Trần Văn Hương làm phó tổng thống, và khi ông Thiệu từ chức tổng thống giữa lúc tình thế đất nước lâm nguy, ông Hương được đôn lên làm tổng thống dùng theo hiến pháp.
Các chi tiết về cuộc đời của cụ Trần Văn Hương trong những ngày tháng cuối cùng, được bà Phan Cẩm Anh cùng chồng là bác sĩ, người có dịp gần gũi với cụ Hương kể lại. Tôi được phép chỉ để trích một phần lớn trong bài ấy: "Hương trà năm cũ" trong bài viết để đồng bào, đồng hương có dịp biết thêm về nhiều chi tiết cảm động của một kẻ sĩ thế hệ cũ còn sốt lại. Kính xin anh chị Phan Cẩm Anh thể nhận nơi đây lòng biết ơn của tác giả.
"...Nhiều năm trước, khi tôi học trung học, một buổi tối sau khi dùng cơm, chị tôi dẫn tôi đến phủ "cây tùng" để thăm Mai Hương, một người bạn cùng "khóa I Nữ quân nhân" của chị, bây giờ vừa lập gia đình với đại úy Phan Hữu Chương, cháu ruột cụ Trần Văn Hương. Ba chị em đứng trò chuyện dưới táng cây của phủ phó tổng thống. Thình lình, cụ Hương từ trong nhà bước ra, nhìn về phía chúng tôi, gật đầu, rồi đưa tay ra hiệu bảo Mai Hương theo cụ vào trong phủ. Khi trở ra, Mai Hương lè lưỡi nói với chị tôi:
- Ông cụ vừa mới la.
- La về chuyện gì vậy?
- Ông cụ nói: "Sao không mời bạn bè vào phòng khách nói chuyện đàng hoàng mà để bạn đứng dưới gốc cây... ông cụ nói tiếp: "Tiếp bạn đến chơi như vậy là không trọng bạn chút nào hết."
Đó lần đầu tiên tôi thấy cụ Hương, nhưng nghe thuật lại những lời cụ trách, lòng tôi tự nhiên nhen nhúm một cảm tình đầy quý trọng. Sau đó, tôi có dịp trở lại phủ phó tổng thống vài lần lúc Mai Hương sắp vào nhà bảo sanh. Vì lẽ phu quân Mai Hương bận công vụ, nên Mai Hương cho tài xế đến nhờ tôi và em gái tôi giúp đưa Mai Hương vô bịnh viện. Tất cả những lần đó, tôi chẳng có dịp nào giáp mặt cụ Hương.
Thời gian trôi qua, miền Nam sụp đổ, Dương Văn Minh ra lịnh đầu hàng. Ngay buổi sáng sớm ngày đầu mất nước, tại ngôi biệt thự cũ kỹ nằm khuất trong ngõ hẻm ngăn đường Phan Thanh Giản, thân nhân sống trong biệt thự này đã đau đớn đem đặt giữa nhà hai xác người cùng nhau tìm cái chết. Họ vừa chia nhau ống thuốc ngủ đêm qua. Đó là đại úy Phan Hữu Chương và vợ là cựu trung úy Trần Mai Hương. Họ để lại vỏn vẹn vài lời trăng trối
"xin nhờ lòng tha thứ của cụ Hương và gia đình vì không thể sống khi đất nước rơi vào tay kẻ thù...
Đôi vợ chồng trẻ gởi gắm lại ba đứa con trai còn thơ dại, nhờ ông bà nội (em rể cụ Hương) dưỡng nuôi. Cũng trong ngôi biệt thự bao phủ một bầu không khí ảm đạm và im lìm đó, nơi một căn phòng khác trên lầu, cụ Hương đóng cửa, im lặng, trầm mình trong nỗi đau khổ của một người đã từng lãnh đạo đất nước, bây giờ đành tâm chứng kiến giờ phút suy vong, cảnh nhà tang chế. Nỗi đau khổ của cụ ở mức độ nào, chẳng ai trong nhà được cụ hé môi thổ lộ.
Nhưng ý định cùng chồng đi tìm cái chết của Mai Hương, không được toại nguyện bởi lẽ một người cháu đem Mai Hương đi cấp cứu. Sự sống của Mai Hương đã được các bác sĩ giành giựt lại từ đường tơ kẻ tóc. Nhờ đó Mai Hương trở thành một chiếc cầu để tôi có cơ hội biết thêm chút ít về cụ Trần Văn Hương trong những ngày cuối cùng của cụ.
Nhiều lần Mai Hương dẫn tôi về lại ngôi biệt thự trên để thăm các con của Mai Hương, hiện đang sống nương nhờ vào ông bà nội. Tôi đã chứng kiến cảnh sống đạm bạc, nếu không muốn nói là thiếu thốn, túng quẩn của gia đình cụ Hương. Cụ Hương luôn luôn sống lặng lẽ một mình trong căn phòng nhỏ ở trên lầu. Căn phòng bày trí thật sơ sài, chẳng có món đồ nào được coi là sang trọng. Ngoài chiếc giường nệm cụ nằm, đồ vật còn lại là hai chiếc ghế bành, một cái tủ đựng quần áo đã cũ, một chiếc bàn con trên đó cụ để một tượng Phật Di Lạc. Căn phòng có một cửa ăn thông ra sân thượng. Hầu cận, săn sóc cụ là người em rể của cụ mà tôi gọi theo như Mai Hương là Dượng. Phía dưới lầu là các gian nhà trệt nhỏ, nằm dọc theo bức tường phía trong của khuôn viên biệt thự, có lẽ trước kia là nhà kho, bây giờ trở thành nơi tá túc qua ngày cho các thân nhân gồm các em và cháu của cụ, vì phải gặp cảnh khó khăn dưới quê, tìm về Sàigòn nương náu trong ngôi biệt thự cũ nát mà tổng thống Thiệu đã cấp từ thời trước.
Ngôi biệt thự nầy, trước khi cấp cho cụ Hương, tổng thống Thiệu đã chỉ thị phải sửa chửa, chỉnh trang lại đàng hoàng, nhưng cụ từ chối viện lẽ cụ già rồi, không làm việc gì ích nước lợi dân được nữa, nên không muốn làm hao tốn công quỹ. Do đó, đến khi CS vào, ngôi biệt thự trên chẳng phải là mồi ngon cho cán bộ của họ tranh nhau giành giật chiếm đoạt như các ngôi biệt thự xinh xắn khác. Tường biệt thự nhiều nơi nứt nẻ, nền nhà nhiều chỗ vở bung lên, màu vôi trải qua nhiều năm tháng vàng ố không được trùng tu, sơn quét. Hình ảnh cụ lúc nầy như một con chim đại bàng sa cơ, gãy cánh mà vẫn cố giương đôi cánh mang thương tích của mình để bảo bọc chim non. Tôi được nghe kể lại cứ mỗi lần người nhà bưng cơm lên lầu cho cụ, phần cơm rất đạm bạc, lâu lâu mới có chút cá thịt, thân nhân muốn nhường cho cụ để bổ dưỡng, cụ hỏi xem mọi người trong nhà có được ăn như cụ vậy không. Mặc dầu người nhà thường trả lời "có" cho cụ an tâm, nhưng cụ vẫn hiểu sự thật của chữ "có", nên thường cụ để dành lại thức ăn ngon trên mâm, hầu đem xuống nhà cho con cháu.
Có những lần tôi theo Mai Hương đến thăm ông bà nội các con Mai Hương, lúc trở về, ra tới cánh cổng, tôi quay đầu nhìn lên sân thượng thấy cụ Hương, ngồi yên lặng trên đó. Mình cụ để trần, mái tóc bạc trắng, đôi mắt nhìn thẳng về phía trước không hề di động... Tôi thấy cụ Hương ngồi trên sân thượng như vậy nhiều lần, và những lần như vậy, trên đường đạp xe về nhà, hình ảnh già nua, im lặng và cô độc của cụ cứ lẩn quẩn mãi trong đầu óc tôi.
Một hôm, có lẽ cũng vào dịp gần Tết, Mai Hương đưa một củ sâm Đài Loan và nói với tôi:
- Bà nội sắp nhỏ biểu chị đem củ sâm nầy đi bán. Đó là củ sâm người ta tặng cho ông cụ từ lúc ông cụ sang Đài Loan, còn cất giữ mãi đến bây giờ. Ông nói chắc không dùng đến nó, nên sai đem bán lấy tiền đong gạo cho sắp nhỏ".
Mai Hương mở gói giấy bọc củ sâm ra, củ sâm vỏn vẹn bằng hai phần ba bàn tay, nằm giữa mấy lớp giấy gói đã cũ. Nhìn qua, ai cũng biết củ sâm được gói kỹ lưỡng, và bị lãng quên trong một ngăn tủ nào đó lâu lắm rồi, nay mới được nhớ lại... Tôi nhìn củ sâm nghẹn ngào. Một nhà giáo thanh bạch, một người lãnh đạo quốc gia trong sạch như cụ, chỉ lấy đạo đức bản thân làm tài sản. Cụ đâu có nén vàng nào có thể đem bán lấy tiền đong gạo cho đàn cháu, hay giúp đỡ người thân đang tá túc trong nhà, những người đã ít nhiều liên lụy vì các hoạt động chính trị của cụ.
Khoảng hơn một tuần sau, ông nội các cháu, tức em rể cụ Hương, ghé lại nhà Mai Hương và tôi (lúc này Mai Hương và tôi sống chung với nhau trong một căn nhà nhỏ ở quận Tân Bình) kể cho chúng tôi biết là ông vừa làm theo ý cụ Hương: đem mấy bộ đồ veste còn tốt của cụ ra chợ trời bán. Để an ủi người nhà bớt đau lòng, cụ Hương bình thản giải thích:
- Từ đây cũng đâu có dịp nào mặc nó nữa, đem bán đi chớ để làm chi!
Số tiền bán áo trên, chẳng ở trong túi được bao lâu, vì ngay sau đó bà Út đi chợ mua đồ ăn cho sắp nhỏ...Gia đình cụ Hương đã chịu chung số phận đau khổ và bi đát tột cùng từ tinh thần đến vật chất khi miền Nam rơi vào tay CS. Có một sự kiện làm tôi chảy nước mắt mỗi khi nhớ đến, lòng thêm kính mến và cảm phục cụ Hương: Trước khi chính quyền CS cho tổ chức cuộc bầu cử quốc hội (bịp) đầu tiên, cụ Hương được họ thông báo sẽ có một buổi lễ để chính phủ trả quyền công dân cho cụ. Sau đó, để có buổi lễ được quay phim tuyên truyền, khi một cán bộ thay mặt chính quyền, đọc "chính sách khoan hồng, rộng lượng" của nhà nước đối với những "thành phần" như cụ, cụ dõng dạc nói:
- Tôi xin phép từ chối. Tôi không nhận cái quyền công dân này. Dù gì tôi cũng là người lãnh đạo miền Nam, trong khi binh sĩ, nhân viên các cấp chỉ vì thừa lịnh của chúng tôi mà giờ đây vẫn còn bị giam cầm trong các trại cải tạo, chưa được trả quyền công dân trước. Tôi sẽ là người sau cùng nhận cái quyền công dân này, sau khi binh sĩ và nhân viên của chúng tôi đã được nhận.
Đại diện của chính quyền CS không ngờ sự thể xảy ra như vậy. Tức giận, họ ra lịnh cúp máy thu thanh, thu hình. Vài ngày sau cụ nhận được lịnh quản thúc tại gia 3 năm. Cụ Hương nói với người nhà:
- Bọn nó cũng chẳng cần phải quản thúc tao. Tao già và đau yếu như vầy, có khi nào bước chân ra khỏi nhà đâu mà cần phải quản thúc!
Vào năm 80 tuổi, mỗi lần theo Mai Hương ghé vào thăm ông bà nội của các cháu, tôi ít thấy cụ Hương ra ngồi ở sân thượng như lúc trước. Tôi được biết sức khỏe của cụ sa sút nhiều. Một hôm, em rể cụ Hương bảo tôi:
- Ông cụ dạo nầy yếu quá. Ông lại dứt khoát không muốn vô nhà thương khám bịnh hay chữa trị gì cả. Chắc Cẩm Anh cũng biết tại sao rồi. Dượng muốn nhờ Cẩm Anh có quen ai là bác sĩ trước 1975, xin họ đến nhà khám bịnh giùm cho ông cụ. Nếu không thì Dượng chẳng yên tâm.
Nghe ông Dượng nói tôi mới nhớ, cách đó không lâu, cụ Hương bị mệt xỉu phải đưa vô nhà thương cấp cứu. Lúc tỉnh dậy, cụ nhứt định đòi người nhà phải đưa cụ về ngay. Cụ một mực từ chối, không chịu để điều trị trong bịnh viện đã thuộc về tay chính quyền CS.
Mặc dầu có quen biết vài bác sĩ, nhưng tôi nghĩ ngay đến nhà tôi, lúc ấy còn là một người bạn, vì trong hoàn cảnh không biết tương lai ra sao, nên chúng tôi chưa nghĩ đến việc lập gia đình. Tôi nhận lời Dượng, hứa tìm một bác sĩ của "chế độ mình" để nhờ khám bịnh cho cụ. Khi nghe tôi trình bày, nhà tôi chẳng chút ngần ngại, vui vẻ nhận lời ngay. Lần đầu tiên nhà tôi đến, cụ bảo nhà tôi lại thật gần để cụ nhìn mặt vì mắt cụ đã mờ. Cụ Hương hỏi nhà tôi:
- Con đến đây thăm bịnh cho qua, con có sợ họ làm khó dễ con không?
Nhà tôi trả lời:
- Thưa cụ, cháu chỉ làm bổn phận và công việc của người thầy thuốc, cháu không ngại...
Cụ xúc động, ghé người gần lại, đưa tay ôm lấy đầu nhà tôi. Nhà tôi tiếp:
- Thưa cụ, cháu là bác sĩ trẻ mới ra trường, kinh nghiệm và kiến thức hãy còn ít, chữa bịnh cho cụ, nếu có điều gì không biết, cháu sẽ về đọc sách lại.
Cụ Hương vui vẻ, mỉm cười cảm ơn và nắm lấy tay nhà tôi như để trấn an.
Từ đó nhà tôi lui, tới với cụ thường xuyên để thăm bịnh cụ. Dường như việc trị bịnh đối với cụ chẳng có gì quan trọng, cụ không quan tâm lắm, mặc dầu cụ luôn luôn là một bịnh nhân gương mẫu, theo đúng những lời dặn của bác sĩ. Điều làm cho cụ vui và thoải mái hơn có lẽ là có người để cụ nói chuyện. Do đó, nhà tôi thường ngồi lại với cụ một hai giờ sau khi khám bịnh. Cụ nói thuốc men cụ dùng hàng ngày là do bà Trần Văn Văn và bạn bè ở Pháp gởi về tặng cụ. Những thứ thuốc nào không cần dùng, cụ đưa cho người em rể cụ đem ra chợ trời bán, lấy tiền chia đều cho gia đình con cháu đong gạo. Một hôm cụ kể cho nhà tôi nghe một câu chuyện rất cảm động như sau:
- Con biết không, chú có thằng em đến thăm (cụ xưng chú với nhà tôi, khi biết thân phụ nhà tôi lớn hơn cụ vài tuổi) nó đem đến một hộp sữa bò còn tặng chú 5 đồng (lúc mới đổi tiền, 500 đồng tiền cũ ăn 1 đồng tiền mới). Chú thương nó có tình, nhưng nghĩ nó phải đạp xích lô cực khổ để sinh sống, nên chú không nở lấy. Nhưng nếu chú không nhận thì "sợ nó" buồn tội nghiệp, nên chú chỉ nhận có 5 đồng, còn hộp sữa thì bảo nó đem về cho gia đình (lúc ấy sữa rất khó mua). Người mà cụ kể là "thằng em" một cách thân mật chính là thuộc hạ cũ của cụ.
Cụ Hương còn tâm sự với nhà tôi những chuyện lúc cụ còn trẻ. Có một thời gian cụ cùng với một người con trai (Trần Văn Doi) theo hoạt động cho Việt Minh chống Pháp. Nhưng khi nhận ra bộ mặt thật của Việt Minh, cụ dứt khoát trở về lại trong Nam và mất liên lạc với người con trai từ lúc ấy. Người con trai nầy đã ở lại miền Bắc, và phục vụ trong quân đội CS. Sau khi Sàigòn bị chiếm, anh có về thăm cụ với vợ là một bác sĩ VC. Có lẽ sự lui tới của cặp vợ chồng nầy cũng nhằm mục đích theo dõi cụ.
Cụ Hương cũng có một người con khác đang sinh sống tại California. Anh có một đứa con bị bịnh Thalassemia, được đưa sang Mỹ chữa trị trước năm 1975. Đã bao lần anh muốn bảo lãnh cụ ra nước ngoài, nhưng cụ nói với nhà tôi:
- Trước kia đại sứ Martin năn nỉ, yêu cầu chú đi, chú đã từ chối. Bây giờ đời nào chú lại xin chính quyền CS để được đi.
Những lần đi thăm bịnh sau của nhà tôi, cụ tâm sự nhiều hơn về những vụ buồn trong cuộc đời tham chính của cụ. Cụ luôn nhắc đến tên của những người mà cụ đặc biệt quý mến như bác sĩ Bạch Đình Minh. Cụ ngậm ngùi kể:
- Bác sĩ Minh là một người mà chú rất quý trọng. Hồi trước chú thấy bác sĩ Minh đi khám bịnh mà không có đồng hồ đeo tay. Chú mua tặng cho bác sĩ Minh một cái, nhưng đeo được vài tuần, bác sĩ Minh đem trả lại chú. Chú thấy bác sĩ Minh phục vụ trong quân đội hết lòng tận tụy và giàu tinh thần trách nhiệm, chú đề nghị lên tổng thống Thiệu tưởng thưởng "Bảo quốc huân chương" cho bác sĩ Minh. Bác sĩ Minh từ chối không nhận viện lẽ ông đang làm việc ở chỗ an toàn, xin dành huy chương ấy cho những người xả thân chiến đấu, hy sinh xương máu cho đất nước. Một lần khác cụ hỏi nhà tôi:
- Con có biết bác sĩ Trần Lữ Y không?
Nhà tôi thưa:
- Bác sĩ Trần Lữ Y dạy con môn Nội Khoa ở trường Y khoa.
Cụ Hương tâm sự:
- Hồi trước bác sĩ Hoa Kỳ sang đây khám bịnh cho chú, họ đề nghị đưa chú sang Hoa Kỳ chữa bịnh. Thằng Trần Lữ Y đi theo chú, xin lỗi con, chú gọi bác sĩ Trần Lữ Y bằng "thằng", vì chú thương nó như con chú vậy. Khi máy bay ghé Manille, suốt mấy hôm chú ăn không nổi đồ ăn của họ, nên bác sĩ Trần Lữ Y phải ra phố kiếm thức ăn mua về cho chú. Gần đây chú nghe có người nói bác sĩ Trần Lữ Y qua đời bên Pháp vì bịnh ung thư, có đúng như vậy không?
Nói tới đây, cụ im lặng hồi lâu như nén sự xúc động. Mấy tuần sau, nhà tôi được tin bác sĩ Trần Lữ Y vẫn còn khỏe mạnh ở bên Pháp và có phòng mạch tư, gần với phòng mạch của bác sĩ Phạm Tu Chính. Nhà tôi vội vàng ghé lại thăm và nói cho cụ Hương biết tin thật về bác sĩ Trần Lữ Y. Nghe xong, cụ Hương nắm lấy tay nhà tôi mà chẳng nói gì. Hai giòng nước mắt từ từ lăn trên má cụ.
Mặc dầu sức khỏe cụ Hương lúc đó đã sa sút nhiều, đi đứng khó khăn, dầu chỉ vài bước cũng cần cây gậy. Bên cạnh giường ngủ có gắn một cái chuông điện, trên bàn luôn có một cái chuông nhỏ để khi cần người nhà, cụ lắc bằng tay. Nhà tôi thán phục cụ có trí nhớ đặc biệt. Cụ có thể nhớ nguyên văn câu nói của từng người, ngày tháng, giờ giấc của sự kiện đã xảy ra. Cụ không quên từng chi tiết nhỏ. Có lần cụ chia xẻ với nhà tôi rằng:
- Chú nghĩ người làm chính trị phải có giáo dục và đạo đức. Khi tham chính tất nhiên chú chấp nhận có phe đối lập, nhưng dầu khác lập trường, chú vẫn luôn luôn tôn trọng họ. Có một dân biểu trẻ tên là (xin giấu tên), trong một buổi họp quốc hội, đã đứng lên đập bàn, chỉ vào mặt chú nói những lời vô lễ (xin không ghi lại câu vô lễ nầy)... Vì dân biểu nầy đáng con chú. Chú buồn và tiếc cho người làm dân biểu mà không biết đến chữ "lễ", không tỏ ra có tư cách của người học thức, chớ không buồn về lập trường đối lập của họ.
Một hôm đến thăm cụ, nhà tôi thố lộ với cụ rằng "sớm muộn gì con cũng phải ra đi". Chuyện ra đi không biết khi nào mới thành công, nhưng không bao giờ con bỏ ý định đó. Chẳng phải vì miếng cơm manh áo, hay sự cực khổ mà phải bỏ quê hương. Nhưng vì cuộc sống lúc nào cũng thấy bị đe dọa, thiếu an toàn, ngủ một đêm thức dậy có thể bị bắt vì bất cứ một lý do viển vông nào... Nghe nhà tôi nói, cụ Hương trầm ngâm một hồi lâu mà không nói gì. Mãi một lúc sau, cụ thở dài chép miệng:
- Có lẽ chú làm không đúng khi ra lịnh ngăn người ta ra khỏi nước trong những ngày hỗn loạn.
Lúc nhà tôi từ giã cụ ra về, cụ ôm hôn nhà tôi và nói:
- Chú gặp con muộn quá!
Vào tháng 4 - 1981, tôi đạp xe đưa nhà tôi đi vượt biên lần thứ 13. Trước khi đi, nhà tôi có đến thăm cụ lần cuối. Biết cụ rất buồn, nhưng cụ giấu kín tình cảm để người đi bớt vướng víu. Một tháng sau đó, tôi cũng rời Việt Nam đi Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình do anh chị tôi bảo lãnh. Một ngày trước khi đi, tôi đạp xe trở lại đường Phan Thanh Giản, đứng một mình bên chiếc cổng sắt. Giữa một niềm vui khi sắp sửa thoát khỏi cảnh đời vô vọng, tăm tối, và một nỗi buồn khi biết rằng mình sẽ mất bao nhiêu gắn bó thân thuộc khi lìa khỏi nơi đây... cụ Hương vẫn là hình ảnh làm cho lòng tôi se thắt, là một cánh sen nổi trên dòng nước đang giao động của tâm hồn tôi...
Dưới đây là hai mẩu chuyện được nhắc lại như một giai thoại. Hồi tháng 4 năm 1954, khi có sự vụ lịnh của thủ tướng Ngô Đình Diệm bổ nhiệm cụ Hương làm đô trưởng Sàigòn - Chợlớn, thì cụ đi làm việc hàng ngày bằng chiếc xe đạp Alcyon. Khi vô tòa đô chính nhận việc, người lính gác cổng chận lại và không cho cụ vô. Cụ phải nói thật "Tôi là Đô Trưởng" họ cũng không tin. Cụ phải trình sự vụ lịnh mới được bổ nhiệm, người lính mới hoảng hồn, định chắp tay lạy cụ, nhưng cụ từ tốn, an ủi mấy câu, rồi dẫn xe đạp vô làm việc. Khi cụ ra Vũng Tàu nghỉ dưỡng bịnh (1964), hàng tháng chính phủ trả phủ cấp thêm 10.000 đồng, nhưng cụ từ chối, gởi trả lại công quỹ, vì cụ nói..."không có chuyện gì cần phải xài..."
Nhắc lại về thái độ của cụ Trần Văn Hương trong những ngày đen tối của đất nước chúng tôi thấy có hai sự kiện đáng ghi nhớ:
Cuốn hồi ký "Saigon et moi" của cựu đại sứ Pháp tại Việt Nam, ông Mérillon kể lại: "Mãi tới tối 18 - 4 - 1975, đại sứ Hoa Kỳ Martin mới cho ông (Mérillon) hay rằng Hoa Kỳ sẽ buông VN. Đại sứ Martin nói:
- Từ giờ phút này nước Pháp sẽ đảm nhận vai trò tái lập hòa bình cho VN.
Mérillon chuyển lời nói nầy cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Ông Hương nói:
- Ông Đại sứ à! Tui đâu có ngán Việt Cộng. Nó muốn đánh, tui đánh tới cùng. Tui không muốn lưu vong xứ người. Nếu trời hại nước tui, tui xin thề ở lại và mất theo nước này.
Đến ngày mất nước, đại sứ Martin còn đến gặp cụ Hương và nói:
- Ong đi với tôi sang Mỹ. Chánh phủ Mỹ sẽ nuôi dưỡng ông suốt đời, tôi nhân danh chánh phủ Hoa Kỳ đến mời Tổng Thống ra khỏi nước với bất cứ phương tiện nào mà ông muốn. Chánh phủ chúng tôi cam kết bảo đảm cho ông một đời sống xứng đáng với cương vị tổng thống cho tới ngày Tổng Thống mãn phần.
Cụ Trần Văn Hương mỉm cười, trả lời (tiếng Pháp):
- Thưa ông đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến nỗi như vậy, Mỹ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông Đại Sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cảm ơn ông Đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết rằng CS vào được Saigon, thì bao nhiêu đau khổ, nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại chia xẻ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cám ơn ông Đại Sứ đã đến thăm tôi.
Tới đây, tôi lại nhớ đến liêm sỉ và tiết tháo của một người lãnh đạo Cam Bốt, một nước láng giềng mà dân ta thường hay có thái độ coi thường. Đó là ông hoàng Sirik Matak, Phó Thủ Tướng Cam Bốt. Cũng tháng 4 định mệnh ấy (1975) khi quân Khmer đỏ sắp tràn ngập Phnom Penh, Đại Sứ Mỹ tại đây là John Gunther Dean đến mời hoàng thân Sirik Matak lưu vong qua Mỹ. ông Sirik Matak từ chối và trả lời bằng thư sau:
"Thưa Ngài và bạn thân (Excellence et Cher Ami)
"Tôi rất thành thật cám ơn Ngài về cái thơ và đề nghị giúp đỡ của Ngài đưa chúng tôi đến nơi tự do, nhưng tôi không thể ra đi một cách hèn nhát như thế.
Về phần Ngài và quốc gia to lớn của Ngài, tôi không có một lúc nào không tưởng rằng Ngài sẽ bỏ rơi một dân tộc đã chọn tự do. Quý Ngài đã từ chối bảo vệ chúng tôi, chúng tôi không làm sao được. Ngài ra đi và tôi chúc cho Ngài và quốc gia của Ngài tìm được hạnh phúc dưới bầu trời của quý ngài.
Nếu tôi chết ở đây trong nước tôi mà tôi yêu, thì thôi mặc, bởi vì tất cả chúng ta đã được sanh ra để rồi một ngày nào đó thì chết. Tôi chỉ có làm một lỗi lầm là đã tin nơi Ngài và tin nơi những người Hoa Kỳ.
Xin Ngài và bạn thân, nhận nơi đây những cảm tình trung thực và thân ái của tôi.
Sirik Matak,
Theo lời người dịch, thư này sau mấy năm, có lần được đọc trong một phiên họp Quốc hội Hoa Kỳ, và được lưu giữ trong văn khố Quốc Hội. (Trích bài biết của BS Nguyễn Lưu Viên, tập san Y Tế số III, tháng 3 năm 1998).
Hứa Hoành
Việt Hải, Los Angeles.
Nhân kỷ niệm sự ra đi của nhà văn Hứa Hoành, VH xin trích đăng bài cũ mà anh đã viết: "TƯỞNG NIỆM TRẦN VĂN HƯƠNG, NHÂN SĨ SUỐT ĐỜI GIỮ TIẾT THÁO".
Gương tiết tháo của cụ Trần Văn Hương và hoàng thân Sirik Matak sẽ mãi mãi được ghi nhớ, nhất là mỗi khi tháng Tư lại về. Nhìn lại kẻ thua trận, vẫn có sĩ phu cố bám víu quê hương để chia sẻ những khổ đau nhục nhằn của người dân bị trị, trong khi kẻ thắng cuộc lại hèn hạ luồn cúi dâng đất đai của tiền nhân để lại cho ngoại bang phương bắc để cố bám víu quyền lực thống trị quê hương. Xin mời bạn đọc:
"Tôi xin phép từ chối. Tôi không nhận cái quyền công dân nầy. Dầu gì tôi cũng đã là người lãnh đạo miền Nam, trong khi binh sĩ, nhân viên các cấp, chỉ vì thừa lịnh của chúng tôi, mà giờ đây vẫn còn bị giam cầm trong các trại cải tạo, chưa được trả quyền công dân. Chẳng lý gì, tôi là người trách nhiệm, lại được trả quyền công dân trước..." (Lời cựu Tổng Thống Trần Văn Hương trả lời một cán bộ CS, khi họ đến nhà định làm lễ, quay phim "trả quyền công dân cho ông").
Hàng năm, cứ đến ngày oan trái 30 - 4, tôi lại bâng khuâng nhớ đến các anh hùng liệt sĩ đã bỏ mình vì nước. Làm tướng giữ thành, thành mất, tuẫn tiết theo thành, ngày xưa có Tổng đốc Hoàng Diệu (1828 - 1882), Tổng đốc Nguyễn Tri Phương (1800 - 1873)... Ngày nay có Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu tướng Lê Văn Hưng, Thiếu tá quận trưởng Bồng Sơn Hoàng Lê Cương (1972) và hàng trăm ngàn chiến sĩ vô danh khác, đã tự sát để giữ tròn khí tiết, không để lọt vào tay kẻ thù làm nhục. Họ nêu những gương hy sinh cao quý, tiết liệt, lịch sử ghi nhớ muôn đời.
Hai mươi năm chiến tranh, một cuộc chiến tranh vệ quốc sáng ngời chính nghĩa quân dân miền Nam đã hy sinh hàng triệu người, chỉ vì muốn bảo vệ một lý tưởng "Độc lập, tự do" và không muốn đất nước rơi vào tay CS. Nhưng cuối cùng phải thất bại trong nỗi uất hận, nghẹn ngào.
Năm nay, nhân ngày tang tóc đau thương của toàn thể dân tộc Việt Nam, chúng tôi muốn nhắc lại với thế hệ mới lớn lên, về những cái chết oai hùng. Trong phạm vi bài nầy, chúng tôi kể lại những ngày sau cùng của một chính khách thanh liêm, cương trực, suốt đời giữ được tiết tháo và lòng yêu nước: người đó là cụ Trần Văn Hương, hai lần làm đô trưởng Sàigòn, hai lần làm thủ tướng và Phó Tổng Thống, và cuối cùng là Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa chỉ được 3 ngày...
Cụ Hương mất đi không một lời cáo phó. Cụ mất, nhưng gương hi sinh và thái độ sống của người quân tử mà cụ nêu gương không bao giờ mất. Tuy là người đồng hương, vì nhà tôi ở chỉ cách nhà người chị ruột của cụ Trần Văn Hương chừng 300 mét, trên đường Văn Thánh (tức Văn Thánh miếu thờ Đức Khổng Tử và cụ Phan Thanh Giản) tại Vĩnh Long.
Là thế hệ sau, thuộc hàng con cháu, nên tôi không được quen biết với cụ. Tháng Hai năm 1975, tôi là thành viên của một phái đoàn vận động thành lập Viện Đại học Long Hồ cho 3 tỉnh Vĩnh Long Kiến Phong và Vĩnh Bình, có đến tư thất của cụ ở đường Phan Thanh Giản Sàigòn, để yết kiến và xin cụ giúp đỡ. Tháng 3 năm 1975, cụ với tư cách là Phó Tổng Thống, có đến tại hội trường thuộc trường Sư Phạm (cao đẳng) Vĩnh Long, để chứng kiến lễ chấp nhận thành lập Viện Đại Học Long Hồ, do Tổng Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục Ngô Khắc Tỉnh ký trước mặt cụ.
Mặc dầu rất nhiều lần giữ những địa vị cao trong chính trường miền Nam, nhưng cụ Trần Văn Hương là một người có đời sống giản dị, mẫu mực, thanh liêm không bất cứ một ai có thể mua chuộc được. Khi thôi việc, cụ Hương sống cuộc đời chật vật nhưng vẫn giữ được tư cách.
Trần Văn Hương sinh năm 1904 tại làng Long Châu, nay thuộc quận Châu Thành Vĩnh Long, trong một gia đình nghèo. Nhờ học giỏi và được sự hy sinh của gia đình, cậu học sinh Trần Văn Hương được ra Hà Nội học trường Cao đẳng Sư Phạm... Sau khi tốt nghiệp, ông giáo Trần Văn Hương được bổ về dạy tại trường Le Myrle de Vilers Mỹ Tho, cũng là ngôi trường cũ mà ông đã theo học mấy năm trước. Thời gian từ năm 1943 - 1945, ông Hương là giáo sư dạy môn văn chương và luân lý tại trường nầy. Sau đó ông Hương được đổi lên làm Đốc học tỉnh Tây Ninh.
Năm 1945, Việt Minh nổi dậy cướp chính quyền khắp 3 kỳ, nhóm Việt Minh mới của Trần Văn Giàu (chủ tịch Ủy ban hành chánh Nam bộ) cử cụ làm chủ tịch Ủy ban hành chánh tỉnh Tây Ninh. Làm việc với Việt Minh được mấy tháng, thấy họ không thành thật, và theo con đường bá đạo, nên ông Hương từ chức. Tuy vậy cụ vẫn còn đứng trong hàng ngũ kháng chiến. Khi thấy bộ mặt thật của Việt Minh là CS, tìm cách khủng bố, ám sát thủ tiêu những người yêu nước có tinh thần quốc gia, cụ bỏ về thành. Ban đầu cụ bán thuốc tây cho nhà thuốc của dược sĩ Trần Kim Quan (Pharmacy Kim Quan) ở góc đường Lê Lợi và chợ Bến Thành bây giờ).
Theo tài liệu của tình báo Mỹ, ông Hương có hai người con: Trần Văn Dinh và Trần Văn Doi (Giỏi?). Hồi còn theo học trường "College de Can Tho", kháng chiến nổi lên, Doi bỏ học theo kháng chiến. Khi phái đoàn Hồ Chí Minh qua Pháp cùng một lúc với hội nghị Fontainebleau trở về tới Vũng Tàu, ông Doi theo xuống tàu ra Bắc. Từ đó hai cha con không bao giờ gặp nhau nữa. Theo ông Huỳnh Văn Lang, cựu Tổng giám đốc Viện Hối Đoái dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho biết
"Ông Trần Văn Giỏi (không phải Dõi) ở tại Sàigòn, bên cạnh ông Hương như một người cố vấn, như vậy ông Giỏi không tập kết ra Bắc."
Không rõ chi tiết naò đúng?
Năm 1964, ông Hương làm Thủ tướng chính phủ, tình báo Mỹ có đem lại một hồ sơ cho biết cụ có người con theo CS. Cụ Hương thẳng thắn nhìn nhận và cho biết từ đó cho đến nay, cụ không còn liên lạc gì với người con đó hết. Khi cụ tham chính, thì người con lớn là Trần Văn Dinh ở kế cận đóng vai người cố vấn thân tín.
Tháng 7 - 1967, ông cùng với ông Mai Thọ Truyền, ra ứng cử chức Tổng Thống chỉ được 10% số phiếu, về hạng tư. Tháng 5 - 1968, ông được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mời làm Thủ Tướng, thay thế Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc. Trong nhiệm kỳ Tổng Thống 1971 - 75, ông Trần Văn Hương làm phó tổng thống, và khi ông Thiệu từ chức tổng thống giữa lúc tình thế đất nước lâm nguy, ông Hương được đôn lên làm tổng thống dùng theo hiến pháp.
Các chi tiết về cuộc đời của cụ Trần Văn Hương trong những ngày tháng cuối cùng, được bà Phan Cẩm Anh cùng chồng là bác sĩ, người có dịp gần gũi với cụ Hương kể lại. Tôi được phép chỉ để trích một phần lớn trong bài ấy: "Hương trà năm cũ" trong bài viết để đồng bào, đồng hương có dịp biết thêm về nhiều chi tiết cảm động của một kẻ sĩ thế hệ cũ còn sốt lại. Kính xin anh chị Phan Cẩm Anh thể nhận nơi đây lòng biết ơn của tác giả.
"...Nhiều năm trước, khi tôi học trung học, một buổi tối sau khi dùng cơm, chị tôi dẫn tôi đến phủ "cây tùng" để thăm Mai Hương, một người bạn cùng "khóa I Nữ quân nhân" của chị, bây giờ vừa lập gia đình với đại úy Phan Hữu Chương, cháu ruột cụ Trần Văn Hương. Ba chị em đứng trò chuyện dưới táng cây của phủ phó tổng thống. Thình lình, cụ Hương từ trong nhà bước ra, nhìn về phía chúng tôi, gật đầu, rồi đưa tay ra hiệu bảo Mai Hương theo cụ vào trong phủ. Khi trở ra, Mai Hương lè lưỡi nói với chị tôi:
- Ông cụ vừa mới la.
- La về chuyện gì vậy?
- Ông cụ nói: "Sao không mời bạn bè vào phòng khách nói chuyện đàng hoàng mà để bạn đứng dưới gốc cây... ông cụ nói tiếp: "Tiếp bạn đến chơi như vậy là không trọng bạn chút nào hết."
Đó lần đầu tiên tôi thấy cụ Hương, nhưng nghe thuật lại những lời cụ trách, lòng tôi tự nhiên nhen nhúm một cảm tình đầy quý trọng. Sau đó, tôi có dịp trở lại phủ phó tổng thống vài lần lúc Mai Hương sắp vào nhà bảo sanh. Vì lẽ phu quân Mai Hương bận công vụ, nên Mai Hương cho tài xế đến nhờ tôi và em gái tôi giúp đưa Mai Hương vô bịnh viện. Tất cả những lần đó, tôi chẳng có dịp nào giáp mặt cụ Hương.
Thời gian trôi qua, miền Nam sụp đổ, Dương Văn Minh ra lịnh đầu hàng. Ngay buổi sáng sớm ngày đầu mất nước, tại ngôi biệt thự cũ kỹ nằm khuất trong ngõ hẻm ngăn đường Phan Thanh Giản, thân nhân sống trong biệt thự này đã đau đớn đem đặt giữa nhà hai xác người cùng nhau tìm cái chết. Họ vừa chia nhau ống thuốc ngủ đêm qua. Đó là đại úy Phan Hữu Chương và vợ là cựu trung úy Trần Mai Hương. Họ để lại vỏn vẹn vài lời trăng trối
"xin nhờ lòng tha thứ của cụ Hương và gia đình vì không thể sống khi đất nước rơi vào tay kẻ thù...
Đôi vợ chồng trẻ gởi gắm lại ba đứa con trai còn thơ dại, nhờ ông bà nội (em rể cụ Hương) dưỡng nuôi. Cũng trong ngôi biệt thự bao phủ một bầu không khí ảm đạm và im lìm đó, nơi một căn phòng khác trên lầu, cụ Hương đóng cửa, im lặng, trầm mình trong nỗi đau khổ của một người đã từng lãnh đạo đất nước, bây giờ đành tâm chứng kiến giờ phút suy vong, cảnh nhà tang chế. Nỗi đau khổ của cụ ở mức độ nào, chẳng ai trong nhà được cụ hé môi thổ lộ.
Nhưng ý định cùng chồng đi tìm cái chết của Mai Hương, không được toại nguyện bởi lẽ một người cháu đem Mai Hương đi cấp cứu. Sự sống của Mai Hương đã được các bác sĩ giành giựt lại từ đường tơ kẻ tóc. Nhờ đó Mai Hương trở thành một chiếc cầu để tôi có cơ hội biết thêm chút ít về cụ Trần Văn Hương trong những ngày cuối cùng của cụ.
Nhiều lần Mai Hương dẫn tôi về lại ngôi biệt thự trên để thăm các con của Mai Hương, hiện đang sống nương nhờ vào ông bà nội. Tôi đã chứng kiến cảnh sống đạm bạc, nếu không muốn nói là thiếu thốn, túng quẩn của gia đình cụ Hương. Cụ Hương luôn luôn sống lặng lẽ một mình trong căn phòng nhỏ ở trên lầu. Căn phòng bày trí thật sơ sài, chẳng có món đồ nào được coi là sang trọng. Ngoài chiếc giường nệm cụ nằm, đồ vật còn lại là hai chiếc ghế bành, một cái tủ đựng quần áo đã cũ, một chiếc bàn con trên đó cụ để một tượng Phật Di Lạc. Căn phòng có một cửa ăn thông ra sân thượng. Hầu cận, săn sóc cụ là người em rể của cụ mà tôi gọi theo như Mai Hương là Dượng. Phía dưới lầu là các gian nhà trệt nhỏ, nằm dọc theo bức tường phía trong của khuôn viên biệt thự, có lẽ trước kia là nhà kho, bây giờ trở thành nơi tá túc qua ngày cho các thân nhân gồm các em và cháu của cụ, vì phải gặp cảnh khó khăn dưới quê, tìm về Sàigòn nương náu trong ngôi biệt thự cũ nát mà tổng thống Thiệu đã cấp từ thời trước.
Ngôi biệt thự nầy, trước khi cấp cho cụ Hương, tổng thống Thiệu đã chỉ thị phải sửa chửa, chỉnh trang lại đàng hoàng, nhưng cụ từ chối viện lẽ cụ già rồi, không làm việc gì ích nước lợi dân được nữa, nên không muốn làm hao tốn công quỹ. Do đó, đến khi CS vào, ngôi biệt thự trên chẳng phải là mồi ngon cho cán bộ của họ tranh nhau giành giật chiếm đoạt như các ngôi biệt thự xinh xắn khác. Tường biệt thự nhiều nơi nứt nẻ, nền nhà nhiều chỗ vở bung lên, màu vôi trải qua nhiều năm tháng vàng ố không được trùng tu, sơn quét. Hình ảnh cụ lúc nầy như một con chim đại bàng sa cơ, gãy cánh mà vẫn cố giương đôi cánh mang thương tích của mình để bảo bọc chim non. Tôi được nghe kể lại cứ mỗi lần người nhà bưng cơm lên lầu cho cụ, phần cơm rất đạm bạc, lâu lâu mới có chút cá thịt, thân nhân muốn nhường cho cụ để bổ dưỡng, cụ hỏi xem mọi người trong nhà có được ăn như cụ vậy không. Mặc dầu người nhà thường trả lời "có" cho cụ an tâm, nhưng cụ vẫn hiểu sự thật của chữ "có", nên thường cụ để dành lại thức ăn ngon trên mâm, hầu đem xuống nhà cho con cháu.
Có những lần tôi theo Mai Hương đến thăm ông bà nội các con Mai Hương, lúc trở về, ra tới cánh cổng, tôi quay đầu nhìn lên sân thượng thấy cụ Hương, ngồi yên lặng trên đó. Mình cụ để trần, mái tóc bạc trắng, đôi mắt nhìn thẳng về phía trước không hề di động... Tôi thấy cụ Hương ngồi trên sân thượng như vậy nhiều lần, và những lần như vậy, trên đường đạp xe về nhà, hình ảnh già nua, im lặng và cô độc của cụ cứ lẩn quẩn mãi trong đầu óc tôi.
Một hôm, có lẽ cũng vào dịp gần Tết, Mai Hương đưa một củ sâm Đài Loan và nói với tôi:
- Bà nội sắp nhỏ biểu chị đem củ sâm nầy đi bán. Đó là củ sâm người ta tặng cho ông cụ từ lúc ông cụ sang Đài Loan, còn cất giữ mãi đến bây giờ. Ông nói chắc không dùng đến nó, nên sai đem bán lấy tiền đong gạo cho sắp nhỏ".
Mai Hương mở gói giấy bọc củ sâm ra, củ sâm vỏn vẹn bằng hai phần ba bàn tay, nằm giữa mấy lớp giấy gói đã cũ. Nhìn qua, ai cũng biết củ sâm được gói kỹ lưỡng, và bị lãng quên trong một ngăn tủ nào đó lâu lắm rồi, nay mới được nhớ lại... Tôi nhìn củ sâm nghẹn ngào. Một nhà giáo thanh bạch, một người lãnh đạo quốc gia trong sạch như cụ, chỉ lấy đạo đức bản thân làm tài sản. Cụ đâu có nén vàng nào có thể đem bán lấy tiền đong gạo cho đàn cháu, hay giúp đỡ người thân đang tá túc trong nhà, những người đã ít nhiều liên lụy vì các hoạt động chính trị của cụ.
Khoảng hơn một tuần sau, ông nội các cháu, tức em rể cụ Hương, ghé lại nhà Mai Hương và tôi (lúc này Mai Hương và tôi sống chung với nhau trong một căn nhà nhỏ ở quận Tân Bình) kể cho chúng tôi biết là ông vừa làm theo ý cụ Hương: đem mấy bộ đồ veste còn tốt của cụ ra chợ trời bán. Để an ủi người nhà bớt đau lòng, cụ Hương bình thản giải thích:
- Từ đây cũng đâu có dịp nào mặc nó nữa, đem bán đi chớ để làm chi!
Số tiền bán áo trên, chẳng ở trong túi được bao lâu, vì ngay sau đó bà Út đi chợ mua đồ ăn cho sắp nhỏ...Gia đình cụ Hương đã chịu chung số phận đau khổ và bi đát tột cùng từ tinh thần đến vật chất khi miền Nam rơi vào tay CS. Có một sự kiện làm tôi chảy nước mắt mỗi khi nhớ đến, lòng thêm kính mến và cảm phục cụ Hương: Trước khi chính quyền CS cho tổ chức cuộc bầu cử quốc hội (bịp) đầu tiên, cụ Hương được họ thông báo sẽ có một buổi lễ để chính phủ trả quyền công dân cho cụ. Sau đó, để có buổi lễ được quay phim tuyên truyền, khi một cán bộ thay mặt chính quyền, đọc "chính sách khoan hồng, rộng lượng" của nhà nước đối với những "thành phần" như cụ, cụ dõng dạc nói:
- Tôi xin phép từ chối. Tôi không nhận cái quyền công dân này. Dù gì tôi cũng là người lãnh đạo miền Nam, trong khi binh sĩ, nhân viên các cấp chỉ vì thừa lịnh của chúng tôi mà giờ đây vẫn còn bị giam cầm trong các trại cải tạo, chưa được trả quyền công dân trước. Tôi sẽ là người sau cùng nhận cái quyền công dân này, sau khi binh sĩ và nhân viên của chúng tôi đã được nhận.
Đại diện của chính quyền CS không ngờ sự thể xảy ra như vậy. Tức giận, họ ra lịnh cúp máy thu thanh, thu hình. Vài ngày sau cụ nhận được lịnh quản thúc tại gia 3 năm. Cụ Hương nói với người nhà:
- Bọn nó cũng chẳng cần phải quản thúc tao. Tao già và đau yếu như vầy, có khi nào bước chân ra khỏi nhà đâu mà cần phải quản thúc!
Vào năm 80 tuổi, mỗi lần theo Mai Hương ghé vào thăm ông bà nội của các cháu, tôi ít thấy cụ Hương ra ngồi ở sân thượng như lúc trước. Tôi được biết sức khỏe của cụ sa sút nhiều. Một hôm, em rể cụ Hương bảo tôi:
- Ông cụ dạo nầy yếu quá. Ông lại dứt khoát không muốn vô nhà thương khám bịnh hay chữa trị gì cả. Chắc Cẩm Anh cũng biết tại sao rồi. Dượng muốn nhờ Cẩm Anh có quen ai là bác sĩ trước 1975, xin họ đến nhà khám bịnh giùm cho ông cụ. Nếu không thì Dượng chẳng yên tâm.
Nghe ông Dượng nói tôi mới nhớ, cách đó không lâu, cụ Hương bị mệt xỉu phải đưa vô nhà thương cấp cứu. Lúc tỉnh dậy, cụ nhứt định đòi người nhà phải đưa cụ về ngay. Cụ một mực từ chối, không chịu để điều trị trong bịnh viện đã thuộc về tay chính quyền CS.
Mặc dầu có quen biết vài bác sĩ, nhưng tôi nghĩ ngay đến nhà tôi, lúc ấy còn là một người bạn, vì trong hoàn cảnh không biết tương lai ra sao, nên chúng tôi chưa nghĩ đến việc lập gia đình. Tôi nhận lời Dượng, hứa tìm một bác sĩ của "chế độ mình" để nhờ khám bịnh cho cụ. Khi nghe tôi trình bày, nhà tôi chẳng chút ngần ngại, vui vẻ nhận lời ngay. Lần đầu tiên nhà tôi đến, cụ bảo nhà tôi lại thật gần để cụ nhìn mặt vì mắt cụ đã mờ. Cụ Hương hỏi nhà tôi:
- Con đến đây thăm bịnh cho qua, con có sợ họ làm khó dễ con không?
Nhà tôi trả lời:
- Thưa cụ, cháu chỉ làm bổn phận và công việc của người thầy thuốc, cháu không ngại...
Cụ xúc động, ghé người gần lại, đưa tay ôm lấy đầu nhà tôi. Nhà tôi tiếp:
- Thưa cụ, cháu là bác sĩ trẻ mới ra trường, kinh nghiệm và kiến thức hãy còn ít, chữa bịnh cho cụ, nếu có điều gì không biết, cháu sẽ về đọc sách lại.
Cụ Hương vui vẻ, mỉm cười cảm ơn và nắm lấy tay nhà tôi như để trấn an.
Từ đó nhà tôi lui, tới với cụ thường xuyên để thăm bịnh cụ. Dường như việc trị bịnh đối với cụ chẳng có gì quan trọng, cụ không quan tâm lắm, mặc dầu cụ luôn luôn là một bịnh nhân gương mẫu, theo đúng những lời dặn của bác sĩ. Điều làm cho cụ vui và thoải mái hơn có lẽ là có người để cụ nói chuyện. Do đó, nhà tôi thường ngồi lại với cụ một hai giờ sau khi khám bịnh. Cụ nói thuốc men cụ dùng hàng ngày là do bà Trần Văn Văn và bạn bè ở Pháp gởi về tặng cụ. Những thứ thuốc nào không cần dùng, cụ đưa cho người em rể cụ đem ra chợ trời bán, lấy tiền chia đều cho gia đình con cháu đong gạo. Một hôm cụ kể cho nhà tôi nghe một câu chuyện rất cảm động như sau:
- Con biết không, chú có thằng em đến thăm (cụ xưng chú với nhà tôi, khi biết thân phụ nhà tôi lớn hơn cụ vài tuổi) nó đem đến một hộp sữa bò còn tặng chú 5 đồng (lúc mới đổi tiền, 500 đồng tiền cũ ăn 1 đồng tiền mới). Chú thương nó có tình, nhưng nghĩ nó phải đạp xích lô cực khổ để sinh sống, nên chú không nở lấy. Nhưng nếu chú không nhận thì "sợ nó" buồn tội nghiệp, nên chú chỉ nhận có 5 đồng, còn hộp sữa thì bảo nó đem về cho gia đình (lúc ấy sữa rất khó mua). Người mà cụ kể là "thằng em" một cách thân mật chính là thuộc hạ cũ của cụ.
Cụ Hương còn tâm sự với nhà tôi những chuyện lúc cụ còn trẻ. Có một thời gian cụ cùng với một người con trai (Trần Văn Doi) theo hoạt động cho Việt Minh chống Pháp. Nhưng khi nhận ra bộ mặt thật của Việt Minh, cụ dứt khoát trở về lại trong Nam và mất liên lạc với người con trai từ lúc ấy. Người con trai nầy đã ở lại miền Bắc, và phục vụ trong quân đội CS. Sau khi Sàigòn bị chiếm, anh có về thăm cụ với vợ là một bác sĩ VC. Có lẽ sự lui tới của cặp vợ chồng nầy cũng nhằm mục đích theo dõi cụ.
Cụ Hương cũng có một người con khác đang sinh sống tại California. Anh có một đứa con bị bịnh Thalassemia, được đưa sang Mỹ chữa trị trước năm 1975. Đã bao lần anh muốn bảo lãnh cụ ra nước ngoài, nhưng cụ nói với nhà tôi:
- Trước kia đại sứ Martin năn nỉ, yêu cầu chú đi, chú đã từ chối. Bây giờ đời nào chú lại xin chính quyền CS để được đi.
Những lần đi thăm bịnh sau của nhà tôi, cụ tâm sự nhiều hơn về những vụ buồn trong cuộc đời tham chính của cụ. Cụ luôn nhắc đến tên của những người mà cụ đặc biệt quý mến như bác sĩ Bạch Đình Minh. Cụ ngậm ngùi kể:
- Bác sĩ Minh là một người mà chú rất quý trọng. Hồi trước chú thấy bác sĩ Minh đi khám bịnh mà không có đồng hồ đeo tay. Chú mua tặng cho bác sĩ Minh một cái, nhưng đeo được vài tuần, bác sĩ Minh đem trả lại chú. Chú thấy bác sĩ Minh phục vụ trong quân đội hết lòng tận tụy và giàu tinh thần trách nhiệm, chú đề nghị lên tổng thống Thiệu tưởng thưởng "Bảo quốc huân chương" cho bác sĩ Minh. Bác sĩ Minh từ chối không nhận viện lẽ ông đang làm việc ở chỗ an toàn, xin dành huy chương ấy cho những người xả thân chiến đấu, hy sinh xương máu cho đất nước. Một lần khác cụ hỏi nhà tôi:
- Con có biết bác sĩ Trần Lữ Y không?
Nhà tôi thưa:
- Bác sĩ Trần Lữ Y dạy con môn Nội Khoa ở trường Y khoa.
Cụ Hương tâm sự:
- Hồi trước bác sĩ Hoa Kỳ sang đây khám bịnh cho chú, họ đề nghị đưa chú sang Hoa Kỳ chữa bịnh. Thằng Trần Lữ Y đi theo chú, xin lỗi con, chú gọi bác sĩ Trần Lữ Y bằng "thằng", vì chú thương nó như con chú vậy. Khi máy bay ghé Manille, suốt mấy hôm chú ăn không nổi đồ ăn của họ, nên bác sĩ Trần Lữ Y phải ra phố kiếm thức ăn mua về cho chú. Gần đây chú nghe có người nói bác sĩ Trần Lữ Y qua đời bên Pháp vì bịnh ung thư, có đúng như vậy không?
Nói tới đây, cụ im lặng hồi lâu như nén sự xúc động. Mấy tuần sau, nhà tôi được tin bác sĩ Trần Lữ Y vẫn còn khỏe mạnh ở bên Pháp và có phòng mạch tư, gần với phòng mạch của bác sĩ Phạm Tu Chính. Nhà tôi vội vàng ghé lại thăm và nói cho cụ Hương biết tin thật về bác sĩ Trần Lữ Y. Nghe xong, cụ Hương nắm lấy tay nhà tôi mà chẳng nói gì. Hai giòng nước mắt từ từ lăn trên má cụ.
Mặc dầu sức khỏe cụ Hương lúc đó đã sa sút nhiều, đi đứng khó khăn, dầu chỉ vài bước cũng cần cây gậy. Bên cạnh giường ngủ có gắn một cái chuông điện, trên bàn luôn có một cái chuông nhỏ để khi cần người nhà, cụ lắc bằng tay. Nhà tôi thán phục cụ có trí nhớ đặc biệt. Cụ có thể nhớ nguyên văn câu nói của từng người, ngày tháng, giờ giấc của sự kiện đã xảy ra. Cụ không quên từng chi tiết nhỏ. Có lần cụ chia xẻ với nhà tôi rằng:
- Chú nghĩ người làm chính trị phải có giáo dục và đạo đức. Khi tham chính tất nhiên chú chấp nhận có phe đối lập, nhưng dầu khác lập trường, chú vẫn luôn luôn tôn trọng họ. Có một dân biểu trẻ tên là (xin giấu tên), trong một buổi họp quốc hội, đã đứng lên đập bàn, chỉ vào mặt chú nói những lời vô lễ (xin không ghi lại câu vô lễ nầy)... Vì dân biểu nầy đáng con chú. Chú buồn và tiếc cho người làm dân biểu mà không biết đến chữ "lễ", không tỏ ra có tư cách của người học thức, chớ không buồn về lập trường đối lập của họ.
Một hôm đến thăm cụ, nhà tôi thố lộ với cụ rằng "sớm muộn gì con cũng phải ra đi". Chuyện ra đi không biết khi nào mới thành công, nhưng không bao giờ con bỏ ý định đó. Chẳng phải vì miếng cơm manh áo, hay sự cực khổ mà phải bỏ quê hương. Nhưng vì cuộc sống lúc nào cũng thấy bị đe dọa, thiếu an toàn, ngủ một đêm thức dậy có thể bị bắt vì bất cứ một lý do viển vông nào... Nghe nhà tôi nói, cụ Hương trầm ngâm một hồi lâu mà không nói gì. Mãi một lúc sau, cụ thở dài chép miệng:
- Có lẽ chú làm không đúng khi ra lịnh ngăn người ta ra khỏi nước trong những ngày hỗn loạn.
Lúc nhà tôi từ giã cụ ra về, cụ ôm hôn nhà tôi và nói:
- Chú gặp con muộn quá!
Vào tháng 4 - 1981, tôi đạp xe đưa nhà tôi đi vượt biên lần thứ 13. Trước khi đi, nhà tôi có đến thăm cụ lần cuối. Biết cụ rất buồn, nhưng cụ giấu kín tình cảm để người đi bớt vướng víu. Một tháng sau đó, tôi cũng rời Việt Nam đi Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình do anh chị tôi bảo lãnh. Một ngày trước khi đi, tôi đạp xe trở lại đường Phan Thanh Giản, đứng một mình bên chiếc cổng sắt. Giữa một niềm vui khi sắp sửa thoát khỏi cảnh đời vô vọng, tăm tối, và một nỗi buồn khi biết rằng mình sẽ mất bao nhiêu gắn bó thân thuộc khi lìa khỏi nơi đây... cụ Hương vẫn là hình ảnh làm cho lòng tôi se thắt, là một cánh sen nổi trên dòng nước đang giao động của tâm hồn tôi...
Dưới đây là hai mẩu chuyện được nhắc lại như một giai thoại. Hồi tháng 4 năm 1954, khi có sự vụ lịnh của thủ tướng Ngô Đình Diệm bổ nhiệm cụ Hương làm đô trưởng Sàigòn - Chợlớn, thì cụ đi làm việc hàng ngày bằng chiếc xe đạp Alcyon. Khi vô tòa đô chính nhận việc, người lính gác cổng chận lại và không cho cụ vô. Cụ phải nói thật "Tôi là Đô Trưởng" họ cũng không tin. Cụ phải trình sự vụ lịnh mới được bổ nhiệm, người lính mới hoảng hồn, định chắp tay lạy cụ, nhưng cụ từ tốn, an ủi mấy câu, rồi dẫn xe đạp vô làm việc. Khi cụ ra Vũng Tàu nghỉ dưỡng bịnh (1964), hàng tháng chính phủ trả phủ cấp thêm 10.000 đồng, nhưng cụ từ chối, gởi trả lại công quỹ, vì cụ nói..."không có chuyện gì cần phải xài..."
Nhắc lại về thái độ của cụ Trần Văn Hương trong những ngày đen tối của đất nước chúng tôi thấy có hai sự kiện đáng ghi nhớ:
Cuốn hồi ký "Saigon et moi" của cựu đại sứ Pháp tại Việt Nam, ông Mérillon kể lại: "Mãi tới tối 18 - 4 - 1975, đại sứ Hoa Kỳ Martin mới cho ông (Mérillon) hay rằng Hoa Kỳ sẽ buông VN. Đại sứ Martin nói:
- Từ giờ phút này nước Pháp sẽ đảm nhận vai trò tái lập hòa bình cho VN.
Mérillon chuyển lời nói nầy cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Ông Hương nói:
- Ông Đại sứ à! Tui đâu có ngán Việt Cộng. Nó muốn đánh, tui đánh tới cùng. Tui không muốn lưu vong xứ người. Nếu trời hại nước tui, tui xin thề ở lại và mất theo nước này.
Đến ngày mất nước, đại sứ Martin còn đến gặp cụ Hương và nói:
- Ong đi với tôi sang Mỹ. Chánh phủ Mỹ sẽ nuôi dưỡng ông suốt đời, tôi nhân danh chánh phủ Hoa Kỳ đến mời Tổng Thống ra khỏi nước với bất cứ phương tiện nào mà ông muốn. Chánh phủ chúng tôi cam kết bảo đảm cho ông một đời sống xứng đáng với cương vị tổng thống cho tới ngày Tổng Thống mãn phần.
Cụ Trần Văn Hương mỉm cười, trả lời (tiếng Pháp):
- Thưa ông đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến nỗi như vậy, Mỹ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông Đại Sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cảm ơn ông Đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết rằng CS vào được Saigon, thì bao nhiêu đau khổ, nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại chia xẻ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cám ơn ông Đại Sứ đã đến thăm tôi.
Tới đây, tôi lại nhớ đến liêm sỉ và tiết tháo của một người lãnh đạo Cam Bốt, một nước láng giềng mà dân ta thường hay có thái độ coi thường. Đó là ông hoàng Sirik Matak, Phó Thủ Tướng Cam Bốt. Cũng tháng 4 định mệnh ấy (1975) khi quân Khmer đỏ sắp tràn ngập Phnom Penh, Đại Sứ Mỹ tại đây là John Gunther Dean đến mời hoàng thân Sirik Matak lưu vong qua Mỹ. ông Sirik Matak từ chối và trả lời bằng thư sau:
"Thưa Ngài và bạn thân (Excellence et Cher Ami)
"Tôi rất thành thật cám ơn Ngài về cái thơ và đề nghị giúp đỡ của Ngài đưa chúng tôi đến nơi tự do, nhưng tôi không thể ra đi một cách hèn nhát như thế.
Về phần Ngài và quốc gia to lớn của Ngài, tôi không có một lúc nào không tưởng rằng Ngài sẽ bỏ rơi một dân tộc đã chọn tự do. Quý Ngài đã từ chối bảo vệ chúng tôi, chúng tôi không làm sao được. Ngài ra đi và tôi chúc cho Ngài và quốc gia của Ngài tìm được hạnh phúc dưới bầu trời của quý ngài.
Nếu tôi chết ở đây trong nước tôi mà tôi yêu, thì thôi mặc, bởi vì tất cả chúng ta đã được sanh ra để rồi một ngày nào đó thì chết. Tôi chỉ có làm một lỗi lầm là đã tin nơi Ngài và tin nơi những người Hoa Kỳ.
Xin Ngài và bạn thân, nhận nơi đây những cảm tình trung thực và thân ái của tôi.
Sirik Matak,
Theo lời người dịch, thư này sau mấy năm, có lần được đọc trong một phiên họp Quốc hội Hoa Kỳ, và được lưu giữ trong văn khố Quốc Hội. (Trích bài biết của BS Nguyễn Lưu Viên, tập san Y Tế số III, tháng 3 năm 1998).
Hứa Hoành
Thursday, June 4, 2009
Trong 5 Ngày Cuối Cùng Của Cuộc Chiến Tranh Việt Nam
Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi
Tình hình vào hạ tuần tháng 4-75 biến chuyển dồn dập. Áp lực ðịch ở mặt trận phía Ðông ngày càng nặng, tôi ðược Quân Ðoàn tãng cường Trung Ðoàn 8/SÐ5BB do Trung Tá Nguyễn Bá Mạnh Hùng chỉ huy. Lực lượng ðịch và Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III giằng co dữ dội trên tuyến Hưng Lộc – Ngã Ba Dầu Giây. Tôi buộc phải sử dụng hai quả bom CBU 55 của Không Quân Biên Hòa ðể chận ðứng ðịch và giải cứu Chiến Ðoàn 52/SÐ18BB của Ðại Tá Dũng khỏi bị tiêu diệt. Ở Sài Gòn có âm mưu lật ðổ Tổng Thống Nguyễn Vãn Thiệu, tôi ðược móc nối ðảo chánh nhưng cương quyết từ chối và tuyên bố chống lại. Phi trường Biên Hòa ðóng cửa.
Ngày 20-4-75 SÐ18BB của Tướng Lê Minh Ðảo rút bỏ Xuân Lộc về Long Bình. Ngày 21-4-75, Tổng Thống Nguyễn Vãn Thiệu tuyên bố từ chức. Ngay ngày hôm sau, tại mặt trận, tôi viết thư cho Trung Tướng Charles Timmes, Phụ Tá Ðại Sứ Martin ở Sài Gòn, ðại ý nói: “Thưa Trung Tướng, trong khi tôi ðang ngãn chận các Sư Ðoàn Cộng Sản ở ðây thì cũng là lúc Quốc Hội Hoa Kỳ ðang thảo luận có nên tiếp tục viện trợ thêm 300 triệu Mỹ kim cho Quân Lực VNCH không. Tình hình gần như tuyệt vọng. Tôi nghĩ rằng cho dù ngay bây giờ Quốc Hội Hoa Kỳ có chấp thuận viện trợ cho Quân Lực chúng tôi ði nữa thì cũng ðã quá muộn rồi. Tuy nhiên tôi và toàn thể quân nhân các cấp thuộc quyền tôi nguyện sẽ chiến ðấu ðến phút cuối cùng. Tôi chỉ xin Trung Tướng giúp cho gia ðình tôi ðược di tản ðến một nơi an toàn…”
Sau khi SÐ18BB được nghỉ 5 ngày bổ sung quân số và dưỡng quân, ngày 25-4-75 Bộ Tý Lệnh Quân Ðoàn III ðiều ðộng ðõn vị này lên mặt trận Trảng Bom-Hưng Lộc-Ngã Ba Dầu Giây ðể thay thế Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III ðược rút về Biên Hòa dưỡng quân. Trung Ðoàn 9/SÐ5BB ðược hoàn trả về hậu cứ ở Lai Khê. Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III trở thành lực lượng trừ bị Quân Ðoàn.
Về tới Biên Hòa chưa kịp nghỉ ngõi, ngay chiều ngày 25-4-75, có tin lực lượng ðịch chiến trường Thiết Giáp và tiến ra hướng Quốc Lộ 15. Có lệnh Quân Ðoàn, tôi liền phái Chiến Ðoàn 322 tãng cường 1 Tiểu Ðoàn TQLC do Trung Tá Nguyễn Vãn Liên chỉ huy tấn công theo hướng Ngã Ba Long Thành-Trường Thiết Giáp. Chiến Ðoàn vừa rời Quốc Lộ 15 tiến về hướng trường Thiết Giáp, thì chạm ðịch nặng và giao trang dữ dội với chúng ðến khuya bắn cháy 12 chiến xa T-54 buộc chúng phải rút vào bên trong. Chiến thắng này làm nức lòng toàn dân ở Biên Hòa. Sau khi kiểm soát kết quả trận ðánh, Trung Tướng Nguyễn Vãn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn III hứa sẽ thưởng 1.200.000 ðồng cho các chiến sĩ có công diệt chiến xa ðịch, mỗi chiếc hạ ðược 100.000 ðồng.
Ngày 29-4-75 có lệnh mới của Quân Ðoàn. Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III ngoài Liên Ðoàn 33 BÐQ, ðược tãng phái thêm: Lý Ðoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến, Lữ Ðoàn 4 Nhảy Dù(- Tiểu Ðoàn) và Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, yểm trợ hỏa lực trực tiếp có: Tiểu Ðoàn 46 PB 155 và Tiểu Ðoàn 61 PB 106 Quân Ðoàn.
12 giờ trưa ngày 29-4-75, Trung Tướng Toàn triệu tập một phiên họp khẩn cấp tại Bộ Tư Lệnh SÐ18BB ở Long Bình. Chỉ có Toàn, Ðảo và tôi. Anh chỉ tay lên bản ðồ ra lệnh cho SÐ19BB của Ðảo phòng thủ khu vực Long Bình và kiểm soát xa lộ Biên Hòa, kế ðó ra lệnh Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III của tôi phòng thủ bảo vệ thành phố Biên Hòa và ðặt lực lượng ÐPQ và NQ của Tiểu Khu Biên Hòa dưới quyền kiểm soát của tôi. Sau này ði tù tôi mới biết ngay lúc này phía bên khu vực SÐ25BB ở Củ Chi ðã bị ðịch chiếm, SÐ25BB ðã bị ðánh tan và Tướng Lý Tòng Bá ðã bị ðịch bắt. Nguyễn Vãn Toàn giấu tôi và Lê Minh Ðảo tin xấu này. Anh chuẩn bị sắp xếp ðể bỏ trốn.
Vừa nhận nhiệm vụ xong, tôi chợt thấy xuất hiện Ðại Tá Hiếu, Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 43/SÐ18BB với giọng rung rung xúc ðộng, Hiếu báo cáo: quân địch ðang tấn công Trảng Bôm và Trung Ðoàn 43 BB ðang rút quân về hướng Long Bình, mặt Ðảo cau lại, Toàn nổi giận la hét Hiếu bắt Hiếu phải ðem quân trở lại vị trí cũ, Hiếu làm như tuân lệnh, chào và lui ra. Trong thâm tâm tôi, tôi biết là mặt trận phía Ðông Biên Hòa ở Trảng Bôm của SÐ18BB khó có thể cầm cự nổi vì SÐ18BB ðã bị kiệt sức sau trận ðánh lớn ở Xuân Lộc không ðược bổ sung. Sự sụp ðổ chỉ là vấn ðề thời gian. Giao nhiệm vụ cho tôi và Ðảo xong, Toàn ðứng dậy bắt tay hai chúng tôi và nói: “Hai anh cố gắng, tôi sẽ bay về Bộ Tổng Tham Mưu xin yểm trợ cho hai anh.” Xoay qua tôi, an h nói tiếp: Còn số tiền thưởng 1.200.000, tôi sẽ cho người mang ðến Lữ Ðoàn.” Ðấy là những lời nói cuối cùng của Tư Lệnh Quân Ðoàn III.
Về Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III, tôi liền họp các Lữ Ðoàn Trưởng, Liên Ðoàn Trưởng, Chiến Ðoàn Trưởng và các Ðơn Vị Yểm Trợ. Tiểu Khu Trưởng và Tiểu Khu Phó Biên Hòa ðã bỏ trốn từ nấy ngày trước. Trước hết, tôi ban hành lệnh thiết quân luật ở Biên Hòa kể từ 15 giờ 00 ngày 29-4-75, chỉ thị cho các ðơn vị Ðịa Phưõng Quân và Nghĩa Quân chung quanh thị xã Biên Hòa bố trí tại chỗ, ở ðâu ở ðó, không ðược rời vị trí, không ðược di chuyển. Cảnh sát Biên Hòa chịu trách nhiệm an ninh bên trong thành phố. Triệt ðể thi hành nguyên tắc nội bất xuất, ngoại bất nhập. Ðể phòng thủ bảo vệ thành phố Biên Hòa, tôi phối trí Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III như sau :
- Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù : Bố trí trong khu phi trường Biên Hòa, giữ mặt Bắc BTL/Quân Ðoàn III.
- Lữ Ðoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến : 1 Tiểu Ðoàn bảo vệ BTL/Quân Ðoàn III, Lữ Ðoàn(-1 Tiểu Ðoàn) bố trí phòng thủ mặt Nam BTL/Quân Ðoàn III.
- Lữ Ðoàn 4 Nhảy Dù (-1 Tiểu Ðoàn) : Tổ chức phân tán thành nhiều Tiểu Ðội chiến ðấu nhỏ, giữ Cầu Mới Biên Hòa, giữ Cầu Sắt Biên Hòa và ðặt các nút chận trên ðường xâm nhập vào thành phố Biên Hòa.
- Chiến Ðoàn 315: Bố trí án ngữ từ Ngã Tý Lò Than ðến ngã Tư Lò Than (gần trại Ngô Vãn Sáng).
- Chiến Ðoàn 322: Bố trí án ngữ từ Ngã Tư Lò Than ðến cổng phi trường Biên Hòa (trừ bị 1).
- Chiến Ðoàn 318: Bố trí án ngữ từ cổng phi trường Biên Hòa ðến Cầu Mới Biên Hòa (trừ bị 2).
- Pháo Binh: Kế hoạch yểm trợ hỏa lực.
- BTLLÐ3KB/Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III: Ðặt tại tư dinh Tư Lệnh Quân Ðoàn III.
Vào khoảng 15 giờ 00 ngày 29-4-75, tôi ðang ãn cơm trưa với Bộ Tham Mýu trong tư dinh Tư Lệnh Quân Ðoàn, thì thình lình chiếc trực thãng chỉ huy của Tướng Toàn ðáp xuống bãi ðáp trong vườn hoa tư dinh bên cạnh chiếc trực thãng chỉ huy của tôi. ThiếuTá Cơ Pilot vào chào tôi và báo cáo cho tôi biết. Sau khi rời Long Bình, Cơ ðưa Tướng Toàn và bộ hạ ra Vũng Tàu, nơi ðó anh thấy có các Tướng Lãm và Hiệp chờ Tướng Toàn, rồi cả 3 người cùng ði bằng tàu ðánh cá ra Hạm Ðội Mỹ ở ngoài khõi. Tin Toàn bỏ trốn không làm tôi ngạc nhiên. Anh Cơ xin ðược ở lại làm việc với tôi. Tôi ðồng ý vì ðõn vị trực thãng của anh giờ này không còn ở Biên Hòa nữa.
Lúc 17 giờ 00 ngày 29-4-75, tôi dùng xe Jeep có hộ tống ði một vòng quan sát tình hình trong và chung quanh thành phố Biên Hòa. Tình hình chung có vẻ yên tĩnh, dân chúng không ra ðường, phố xá ðóng cửa. Vào khoảng 18 giờ 00, quân cộng sản bắt ðầu xâm nhập vào mặt Bắc và Ðông Bắc thành phố từ hướng phi trường ðụng với quân Biệt Cách Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Giao tranh bắt ðầu, 1 cánh quân Biệt Ðộng Quân của Chiến Ðoàn 315 cũng ðụng ðịch ở gần trại Ngô Vãn Sang. Ðịch bám sát vào tuyến phòng thủ mặt Bắc và Ðông Bắc của quân ta. Hai bên bám trận ðịa nằm cách nhau 10-15 mét. Cho ðến giờ phút này, quân ta chiến ðấu vững vàng tự tin. Không có tình trạng bỏ ngũ. Dưới sự yểm trợ mạnh mẽ của hỏa lực Thiết Giáp, quân ta ðẩy ðịch ra xa tuyến phong thủ.
Lúc 20 giờ 00 tôi gọi trại Phù Ðổng ở Sài Gòn. Nơi ðây là Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp Binh và là nõi Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III vừa ðặt bản doanh. Có trả lời nhưng không một ai có thẩm quyền ðể nhận báo cáo của tôi hoặc liên lạc với tôi. Tôi gọi Trung Tâm Hành Quân Bộ Tổng Tham Mưu, không có cách gì liên lạc ðược. Tôi nóng lòng chờ lệnh của Sài Gòn. Tôi tự hỏi Ðại Tướng Dương Vãn Minh, tân Tổng Thống, Tổng Tư Lệnh Quân Ðội có giải pháp gì không ? Có lệnh gì mới cho chúng tôi không ?
Ðến 22 giờ 10 có chuông ðiện thoại reo, Trung Tướng Nguyễn Hữu Có gọi tôi ở ðầu giây: “Tôi là Trung Tướng Có ðây, tôi ðang ở bên cạnh Ðại Tướng, anh cho chúng tôi biết tình hình ở Biên Hòa như thế nào? ” ” Thưa Trung Tướng, tôi giữ thị xã Biên Hòa, Lê Minh Ðảo giữ Long Bình, Toàn ðã bỏ chạy, phi trường Biên Hòa ðịch chiếm, áp lực ðịch rất nặng ở hướng Bắc và Ðông Biên Hòa.” 1, 2, 3 phút trôi qua, ở ðầu giây, Tướng Có nói tiếp” “Ðại Tướng hỏi anh có thể giữ vững Biên Hòa ðến 08 giờ 00 sáng mai, ðể Ðại Tướng nói chuyện với bên kia ðược không?” Tôi trả lời không do dự ” Ðược, tôi có thể giữ vững Biên Hòa ðến 08 giờ 00 sáng mai.” Trong máy ðiện thoại, tôi nghe vãng vẳng tiếng nói của Tướng Có báo cáo lại với Ðại Tướng Minh. Cuፊ ??i cùng Tướng Có nói: “Lệnh của Ðại Tướng cho anh: Chỉ huy phòng thủ bảo vệ Biên Hòa ðến 08 giờ 00 sáng ngày 30-4-75. Chúc anh thành công.” Tôi ðáp nhận.
Vào khoảng 23 giờ 45 khuya, ðịch bắt ðầu pháo dữ dội vào thị xã Biên Hòa, chúng tập trung một lực lượng hỗn hợp bộ binh chiến xa cấp Trung Ðoàn từ Ngã Ba Hố Nai – Xa Lộ tấn công về hướng Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III. Chiến Ðoàn 315 của Trung Tá Ðỗ Ðức Thảo xông ra chận ðịch. Hỏa lực chiến xa M-48 của ta áp ðảo ðịch. Giao tranh quyết liệt. Một số chiến xa ðịch bị bắn cháy. Ðịch rút lui.
Lúc 02 giờ 00 sáng ngày 30-4-75, Tướng Lê Minh Ðảo gọi tôi ở ðầu máy PC-25: “Báo anh hay tôi bị quân ðịch tràn ngập, Long Bình ðã bị chúng chiếm.” Tôi liền hỏi: “Anh hiện giờ ở ðâu? Có cần gì tôi không?” Ðảo ðáp: “Tôi hiện ở gần nghĩa trang Quân Ðội, ðang rút ði về hướng Thủ Ðức.” Tôi cảm thấy ðau buồn và tội nghiệp Lê Minh Ðảo vô hạn . Những nãm cuối cùng của cuộc chiến, tôi và Ðảo rất vất vả. Hai chúng tôi có mặt ở khắp các mặt trận, vì Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III của tôi là lực lượng cơ ðộng số 1, và SÐ18BB của Ðảo là lực lượng cơ ðộng số 2 của Quân Ðoàn. Trong tù, bọn cán bộ cộng sản rất ðể ý ðến hai chúng tôi vì ðã gây cho chúng rất nhiều tổn thất nghiêm trọng và chúng coi hai chúng tôi là hai tên chống cộng “ðiên cuồng” nhất.
Vào khoảng 03 giờ 30 sáng, ðịch lại pháo vào Biên Hòa, lần này chúng pháo rất mạnh và chính xác. Tôi ðoán chúng ðịnh tấn công dứt ðiểm Biên Hoà sau khi ðã chiếm ðược Long Bình. Tôi chuẩn bị sẽ tung cả 3 Chiến Ðoàn Thiết Giáp vào trận ðánh quyết ðịnh, nhưng thật bất ngờ, chúng vừa xuất hiện 1 ðoàn chiến xa dẫn ðầu, bộ binh theo sau, liền bị Chiến Ðoàn 315 ðánh chận ðầu và bọc sườn, chúng bèn rút chạy ngược ra xa lộ. Kể từ ðó, thị xã Biên Hòa trở nên yên tĩnh.
Ðúng 08 giờ 00 sáng ngày 30-4-75, tôi cố gắng gọi về Bộ Tổng Tham Mưu ðể liên lạc với Trung Tướng Nguyễn Hữu Có nhưng không ðưýợc. Tôi liền họp các Lữ Ðoàn Trưởng, Liên Ðoàn Trưởng, Chiến Ðoàn Trưởng và các Ðõn Vị Trưởng Yểm Trợ. Chúng tôi trao ðổi tin tức và thảo luận tình hình ở mặt trận, tình hình trong thành phố Biên Hòa. Áp lực ðịch bên ngoài không còn nữa. Chung quanh bên ngoài thị xã, chỉ có hoạt ðộng lẻ tẻ của du kích, bên trong thành phố vắng vẻ. Ðặc biệt ðêm qua, tôi có cho tãng cường canh giữ nhà giam Biên Hòa. Không có tình trạng dân chúng xuống ðường hô hào ủng hộ cộng sản. Tôi sung sướng nhất là thấy tinh thần của chiến sĩ ta rất tốt, không có tình trạng ðào ngũ. Tuyệt nhiên cũng không có tình trạng hãm hiếp cướp bÍ ?c trong thành phố, các sĩ quan thi hành quân lệnh nghiêm chỉnh. Trong ðêm qua có nhiều tốp lính bạn thuộc SÐ18BB rã ngũ ðịnh chạy qua thành phố, tôi ra lệnh chận lại, ðuổi họ trở ra, cưõng quyết không cho vào thành phố ðang giới nghiêm vì sợ có tình trạng gây mất tinh thần rã ngũ giây truyền như ðã xảy ra ở miền Trung trước ðây.
Bây giờ là 08 giờ 30 ngày 30-4-75, tôi kết luận buổi họp: “Biên Hòa không còn là mục tiêu tấn công của ðịch nữa. Tôi nghĩ rằng giờ này các lực lượng chủ lực cộng sản BV ðang tập trung tấn công Sài Gòn. Rõ ràng chúng bỏ Biên Hòa, dồn lực lượng ðánh vào Thủ Ðô. Chúng ta mất liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu. Bây giờ tôi quyết ðịnh kéo toàn bộ Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III về tiếp cứu Sài Gòn.” Tất cả các Ðõn Vị Trưởng ủng hộ quyết ðịnh này của tôi.
Tôi liền ban hành Lệnh Hành Quân và ðiều ðộng Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III tiến về Sài Gòn theo kế hoạch sau ðây: Lấy ðường xe lửa Biên Hòa-Sài Gòn và xa lộ Ðại Hàn làm hai trục tiến quân chính.
a) Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù + Lữ Ðoàn 4 Nhảy Dù (-1 Tiểu Ðoàn) do Ðại Tá Phan Vãn Huấn chỉ huy: Tiến bên phải ðường sắt hướng Sài Gòn. Ðến ngoại ô Bắc Sài Gòn, co cụm lại, bố trí bên phải ðường sắt, chờ lệnh.
b) Lữ Ðoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến do Trung Tá Liên (TQLC) chỉ huy: Tiến bên trái ðường sắt hướng Sài Gòn. Ðến ngoại ô Bắc Sài Gòn, co cụm lại, bố trí bên trái ðường sắt, chờ lệnh.
c) Lữ Ðoàn 3 Kỵ Binh + Liên Ðoàn 33 Biệt Ðộng Quân: Bố trí yểm trợ quân BCD, ND và TQLC rời vị trí phòng thủ, rút an toàn qua Câu Mới Biên Hòa trước. Sau ðó, lấy xa lộ Ðại Hàn làm trục chính, tiến về Sài Gòn theo thứ tự như sau:
- Chiến Ðoàn 315 do Trung Tá Ðỗ Ðức Thảo chỉ huy: Ði trước, ðến ngoại ô Bắc Sài Gòn, bố trí bên này cầu Bình Triệu, chờ lệnh.
- Chiến Ðoàn 322 do Trung Tá Nguyễn Vãn Liên (TG) chỉ huy: Ði sau CÐ 315, ðến ngoại ô Bắc Sài Gòn, bố trí sau CÐ 315, chờ lệnh.
- Chiến Ðoàn 318 do Trung Tá Nguyễn Ðức Dưõng chỉ huy: Ði sau cùng, ðến Sài Gòn, bố trí sau BTL và Ðơn Vị Yểm Trợ, chờ lệnh.
Trước khi lên trực thãng Chỉ Huy, tôi duyệt ðoàn quân lần cuối. Quân ta từ từ rời thành phố Biên Hòa trong vòng trật tự, trang phục chỉnh tề, tác phong nghiêm chỉnh, không hề nao núng, giống y như những lần hành quân trước ðây khi còn Ðại Tướng Ðỗ Cao Trí chỉ huy xông trận trên chiến trường Campuchia. Lúc này là 09 giờ 00 ngày 30-4-75.
Tôi lên trực thãng Chỉ Huy của Tướng Toàn do Thiếu Tá Cơ lái, chiếc trực thãng Chỉ Huy thư hai bay theo sau. Tôi cho trực thãng bay lượn trên thành phố Biên Hòa, quan sát thấy tình hình bên dưới vẫn yên tĩnh. Các cánh quân ta vẫn tiến ðều ðặn về hướng Sài Gòn. Những ổ kháng cự, những chốt của ðịch dọc trên trục tiến quân của ta bị ðè bẹp hoặc bị nhổ nhanh chóng. Tôi ðang suy nghĩ và lo lắng. Tôi lo vì không liên lạc ðýợc với Sài Gòn, khi quân ta về ðến nõi, sợ quân bạn ở Biệt Khu Thủ Ðô bắn lầm. Tôi ðang miên man suy nghĩ cách ðối phó thì ðột nhiên Thiếu Tá Cơ hỏi tôi : “Thiếu Tướng có muốn ra ði không? Tôi sẽ ðưa Thiếu Tướng ði.” Tôi liền hỏi lại: “Còn anh thì sao?” “Khi ðưa Thiếu Tướng ði xong, tôi sẽ trở về, tôi sẽ ở lại với vợ con còn ở Biên Hòạ” “Cám ơn anh, tôi cũng ở lại với anh em. Tôi ðã quyết ðịnh việc này từ lâu rồi.”
Chúng tôi bay về hướng Gò Vấp, tôi biểu Cơ lấy cao ðộ. Xa xa phía dưới, tôi thấy những ðoàn quân xa chở ðầy quân, những chiến xa, những pháo kéo của quân cộng sản BV như những con rắn dài trên xa lộ Biên Hòa và trên Quốc Lộ 13 bò vô Sài Gòn. Hai trực thãng của chúng tôi ðáp xuống trại Phủ Ðổng nõi ðặt BCH TGB và BTL/Quân Ðoàn III. Tôi vội ði vào vãn phòng tìm sĩ quan trực. Tôi thấy các nhân viên vãn phòng chạy qua lại nhớn nhác. Tôi không gặp một ai có thẩm quyền, chỉ có 1 Trung Úy mang huy hiệu Quân Ðoàn III, tôi nói tôi muốn sử dụng ðiện thoại ðể liên lạc với BTL Biệt Khu Thủ Ðô báo cho họ biết gấp các cánh quân của tôi sắp về tới cửa ngõ Bắc Sài Gòn ðể tránh bắn lầm nhau. Tôi gọi nhiều lần, gọi một cách tuyệt vọng, không có ai ở ðፊ ??u máy trả lời. Rồi tôi gọi Trung Tâm Hành Quân Bộ Tổng Tham Mưu, cũng không liên lạc ðưýợc. Lúc bấy giờ tôi nghe nhiều loạt ðạn pháo binh ðịch nổ ở hýớng sân bay TSN. Giờ này, các cánh quân Thiết Giáp của tôi cũng vừa ðến Bình Triệu gần khu nhà thờ Fatima.
Trong khi tôi ðang lúng túng trong việc liên lạc với BKTÐ và Bộ Tổng Tham Mưu, thì thình lình tôi nghe lời kêu gọi ngưng chiến ðấu của Tổng Thống Dương Vãn Minh phát ra từ một máy thu thanh ðâu ðấy. Tôi nhìn ðồng hồ tay: 10 giờ 25 phút.
Thế là hết . Kể từ giờ phút này, tôi tự chấm dứt quyền chỉ huy của mình và xem nhiệm vụ của LÐ3KB và Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III ðến ðây là kết thúc. Tôi ðể cho các ðơn vị tự ðộng buông vũ khí ðầu hàng theo lệnh của Tổng Thống. Tôi không có gì ðể nói thêm, chỉ thầm cám ơn tất cả các chiến hữu ðã cùng tôi chiến ðấu ðến phút cuối cùng của cuộc chiến và cùng tôi giữ tròn khí tiết của người chiến sĩ ðối với Quân Ðội và Tổ Quốc.
3. Quan Ðiểm và Kết Luận
Sau khi ngưng chiến theo lệnh của Tổng Thống Dương Vãn Minh, tôi bị ðịch bắt, truy vấn, tù ðầy 17 nãm và sang Mỹ nãm 1993 theo diện tỵ nạn chính trị. Mỗi nãm cứ ðến ngày 30-4, tôi ðọc ði ðọc lại nhiều bài viết của bên Cộng Sản cũng như của bên ta về cuộc chiến tranh Việt Nam. Có không ít bài viết lờ mờ hoặc viết sai về một số sự kiện trong cuộc chiến. Ðặc biết khi viết về Biên Hòa thì không có bên nào nói ðúng. Ai cũng biết Biên Hòa là vị trí chiến lược số 1 của MNVN, phi trường Biên Hòa còn là nõi ðặt bản doanh BTL/Quân Ðoàn III và V3CT, ðầu não của bộ máy quân sự miền Ðông. Biên Hòa là cửa ngõ quan trọng bậc nhất ở phía Bắc thủ ðô Sài Gòn. Ðể mất Biên Hòa là mất Sài Gòn, mất miền Nam Việt Nam.
Nhưng cho ðến bây giờ, tôi chưa thấy một tài liệu nào nói rõ về Biên Hòa trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh VN. Thế mà tôi vẫn giữ im lặng cho ðến ngày hôm nay, vì nghĩ rằng cuối cùng rồi sự thật lịch sử cũng ðược phõi bày. Vả lại khi viết về cuộc chiến tranh mà mình là nhân chứng trực tiếp, không khỏi phải nói nhiều rất nhiều về mình, cái mà tôi không hề thích vì như Pascal nói: “Cái tôi là ðáng ghét” (Le moi est haissable). Nhưng anh Nguyễn Minh Tánh ðã viết sai sự thật về LÐ3KB do tôi chỉ huy, ðã xúc phạm ðến DANH DỰ của chúng tôi nên tôi có bổn phận với những ngưỡi ðã hy sinh và những người còn sống, phải cải chính và nói lại cho rõ ðể không phụ lòng những chiến sĩ anh hùng ðã cùng tôi chấp nhận ở lại chiến ðấu ðến cù ng.
Những nãm ðầu trong ngục tù, cán bộ Cộng Sản luôn truy vấn tôi kịch liệt. Chúng làm tổng kết chiến trang ðể rút kinh nghiệm chiến trường, chúng ngạc nhiên trước sức chiến ðấu của LÐ3KB và Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III, ðặc biết chúng bắt tôi viết ðề tài Những nguyên nhân nào mà LÐ3KB và Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III do tôi chỉ huy không bị tan rã trước sức tấn công của Quân Ðội Cách Mạng.
Chính miệng chúng nói với tôi: “Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III là ðại ðõn vị duy nhất của Quân Ðội Sài Gòn chiến ðấu tới cùng cho ðến khi có lệnh ngưng bắn.” Chúng kể ra những thành tích chiến ðấu của Chiến Ðoàn 318 trên chiến trường Campuchia thời Tướng Ðỗ Cao Trí của LÐ3KB và Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III mà chúng gọi là những tội ác “Trời không dung Ðất không tha” và kết tội tôi ðã kéo dài chiến tranh nhiều nãm.ld3kybinh- 1975-001
Chúng ðã chọn và ðịnh ðưa một số chúng tôi ra Tòa Án Chiến Tranh của chúng xét xử như những tội phạm chiến tranh nếu không có áp lực mạnh mẽ của Hoa Kỳ và Cộng Ðồng thế giới tự do cũng như của dư luận Quốc Tế lúc bấy giờ.
Tôi không hề ân hận việc mình ðã làm, không hề hối tiếc hay than van về những hậu quả mà mình phải gánh chịu sau khi bị bắt. Nếu phải làm lại từ ðầu, thì tôi cũng vẫn làm như thế. Tôi biết rằng làm như thế là tôi mất tất cả, mất tất cả trừ DANH DỰ.
Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi
Tình hình vào hạ tuần tháng 4-75 biến chuyển dồn dập. Áp lực ðịch ở mặt trận phía Ðông ngày càng nặng, tôi ðược Quân Ðoàn tãng cường Trung Ðoàn 8/SÐ5BB do Trung Tá Nguyễn Bá Mạnh Hùng chỉ huy. Lực lượng ðịch và Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III giằng co dữ dội trên tuyến Hưng Lộc – Ngã Ba Dầu Giây. Tôi buộc phải sử dụng hai quả bom CBU 55 của Không Quân Biên Hòa ðể chận ðứng ðịch và giải cứu Chiến Ðoàn 52/SÐ18BB của Ðại Tá Dũng khỏi bị tiêu diệt. Ở Sài Gòn có âm mưu lật ðổ Tổng Thống Nguyễn Vãn Thiệu, tôi ðược móc nối ðảo chánh nhưng cương quyết từ chối và tuyên bố chống lại. Phi trường Biên Hòa ðóng cửa.
Ngày 20-4-75 SÐ18BB của Tướng Lê Minh Ðảo rút bỏ Xuân Lộc về Long Bình. Ngày 21-4-75, Tổng Thống Nguyễn Vãn Thiệu tuyên bố từ chức. Ngay ngày hôm sau, tại mặt trận, tôi viết thư cho Trung Tướng Charles Timmes, Phụ Tá Ðại Sứ Martin ở Sài Gòn, ðại ý nói: “Thưa Trung Tướng, trong khi tôi ðang ngãn chận các Sư Ðoàn Cộng Sản ở ðây thì cũng là lúc Quốc Hội Hoa Kỳ ðang thảo luận có nên tiếp tục viện trợ thêm 300 triệu Mỹ kim cho Quân Lực VNCH không. Tình hình gần như tuyệt vọng. Tôi nghĩ rằng cho dù ngay bây giờ Quốc Hội Hoa Kỳ có chấp thuận viện trợ cho Quân Lực chúng tôi ði nữa thì cũng ðã quá muộn rồi. Tuy nhiên tôi và toàn thể quân nhân các cấp thuộc quyền tôi nguyện sẽ chiến ðấu ðến phút cuối cùng. Tôi chỉ xin Trung Tướng giúp cho gia ðình tôi ðược di tản ðến một nơi an toàn…”
Sau khi SÐ18BB được nghỉ 5 ngày bổ sung quân số và dưỡng quân, ngày 25-4-75 Bộ Tý Lệnh Quân Ðoàn III ðiều ðộng ðõn vị này lên mặt trận Trảng Bom-Hưng Lộc-Ngã Ba Dầu Giây ðể thay thế Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III ðược rút về Biên Hòa dưỡng quân. Trung Ðoàn 9/SÐ5BB ðược hoàn trả về hậu cứ ở Lai Khê. Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III trở thành lực lượng trừ bị Quân Ðoàn.
Về tới Biên Hòa chưa kịp nghỉ ngõi, ngay chiều ngày 25-4-75, có tin lực lượng ðịch chiến trường Thiết Giáp và tiến ra hướng Quốc Lộ 15. Có lệnh Quân Ðoàn, tôi liền phái Chiến Ðoàn 322 tãng cường 1 Tiểu Ðoàn TQLC do Trung Tá Nguyễn Vãn Liên chỉ huy tấn công theo hướng Ngã Ba Long Thành-Trường Thiết Giáp. Chiến Ðoàn vừa rời Quốc Lộ 15 tiến về hướng trường Thiết Giáp, thì chạm ðịch nặng và giao trang dữ dội với chúng ðến khuya bắn cháy 12 chiến xa T-54 buộc chúng phải rút vào bên trong. Chiến thắng này làm nức lòng toàn dân ở Biên Hòa. Sau khi kiểm soát kết quả trận ðánh, Trung Tướng Nguyễn Vãn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn III hứa sẽ thưởng 1.200.000 ðồng cho các chiến sĩ có công diệt chiến xa ðịch, mỗi chiếc hạ ðược 100.000 ðồng.
Ngày 29-4-75 có lệnh mới của Quân Ðoàn. Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III ngoài Liên Ðoàn 33 BÐQ, ðược tãng phái thêm: Lý Ðoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến, Lữ Ðoàn 4 Nhảy Dù(- Tiểu Ðoàn) và Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, yểm trợ hỏa lực trực tiếp có: Tiểu Ðoàn 46 PB 155 và Tiểu Ðoàn 61 PB 106 Quân Ðoàn.
12 giờ trưa ngày 29-4-75, Trung Tướng Toàn triệu tập một phiên họp khẩn cấp tại Bộ Tư Lệnh SÐ18BB ở Long Bình. Chỉ có Toàn, Ðảo và tôi. Anh chỉ tay lên bản ðồ ra lệnh cho SÐ19BB của Ðảo phòng thủ khu vực Long Bình và kiểm soát xa lộ Biên Hòa, kế ðó ra lệnh Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III của tôi phòng thủ bảo vệ thành phố Biên Hòa và ðặt lực lượng ÐPQ và NQ của Tiểu Khu Biên Hòa dưới quyền kiểm soát của tôi. Sau này ði tù tôi mới biết ngay lúc này phía bên khu vực SÐ25BB ở Củ Chi ðã bị ðịch chiếm, SÐ25BB ðã bị ðánh tan và Tướng Lý Tòng Bá ðã bị ðịch bắt. Nguyễn Vãn Toàn giấu tôi và Lê Minh Ðảo tin xấu này. Anh chuẩn bị sắp xếp ðể bỏ trốn.
Vừa nhận nhiệm vụ xong, tôi chợt thấy xuất hiện Ðại Tá Hiếu, Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 43/SÐ18BB với giọng rung rung xúc ðộng, Hiếu báo cáo: quân địch ðang tấn công Trảng Bôm và Trung Ðoàn 43 BB ðang rút quân về hướng Long Bình, mặt Ðảo cau lại, Toàn nổi giận la hét Hiếu bắt Hiếu phải ðem quân trở lại vị trí cũ, Hiếu làm như tuân lệnh, chào và lui ra. Trong thâm tâm tôi, tôi biết là mặt trận phía Ðông Biên Hòa ở Trảng Bôm của SÐ18BB khó có thể cầm cự nổi vì SÐ18BB ðã bị kiệt sức sau trận ðánh lớn ở Xuân Lộc không ðược bổ sung. Sự sụp ðổ chỉ là vấn ðề thời gian. Giao nhiệm vụ cho tôi và Ðảo xong, Toàn ðứng dậy bắt tay hai chúng tôi và nói: “Hai anh cố gắng, tôi sẽ bay về Bộ Tổng Tham Mưu xin yểm trợ cho hai anh.” Xoay qua tôi, an h nói tiếp: Còn số tiền thưởng 1.200.000, tôi sẽ cho người mang ðến Lữ Ðoàn.” Ðấy là những lời nói cuối cùng của Tư Lệnh Quân Ðoàn III.
Về Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III, tôi liền họp các Lữ Ðoàn Trưởng, Liên Ðoàn Trưởng, Chiến Ðoàn Trưởng và các Ðơn Vị Yểm Trợ. Tiểu Khu Trưởng và Tiểu Khu Phó Biên Hòa ðã bỏ trốn từ nấy ngày trước. Trước hết, tôi ban hành lệnh thiết quân luật ở Biên Hòa kể từ 15 giờ 00 ngày 29-4-75, chỉ thị cho các ðơn vị Ðịa Phưõng Quân và Nghĩa Quân chung quanh thị xã Biên Hòa bố trí tại chỗ, ở ðâu ở ðó, không ðược rời vị trí, không ðược di chuyển. Cảnh sát Biên Hòa chịu trách nhiệm an ninh bên trong thành phố. Triệt ðể thi hành nguyên tắc nội bất xuất, ngoại bất nhập. Ðể phòng thủ bảo vệ thành phố Biên Hòa, tôi phối trí Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III như sau :
- Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù : Bố trí trong khu phi trường Biên Hòa, giữ mặt Bắc BTL/Quân Ðoàn III.
- Lữ Ðoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến : 1 Tiểu Ðoàn bảo vệ BTL/Quân Ðoàn III, Lữ Ðoàn(-1 Tiểu Ðoàn) bố trí phòng thủ mặt Nam BTL/Quân Ðoàn III.
- Lữ Ðoàn 4 Nhảy Dù (-1 Tiểu Ðoàn) : Tổ chức phân tán thành nhiều Tiểu Ðội chiến ðấu nhỏ, giữ Cầu Mới Biên Hòa, giữ Cầu Sắt Biên Hòa và ðặt các nút chận trên ðường xâm nhập vào thành phố Biên Hòa.
- Chiến Ðoàn 315: Bố trí án ngữ từ Ngã Tý Lò Than ðến ngã Tư Lò Than (gần trại Ngô Vãn Sáng).
- Chiến Ðoàn 322: Bố trí án ngữ từ Ngã Tư Lò Than ðến cổng phi trường Biên Hòa (trừ bị 1).
- Chiến Ðoàn 318: Bố trí án ngữ từ cổng phi trường Biên Hòa ðến Cầu Mới Biên Hòa (trừ bị 2).
- Pháo Binh: Kế hoạch yểm trợ hỏa lực.
- BTLLÐ3KB/Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III: Ðặt tại tư dinh Tư Lệnh Quân Ðoàn III.
Vào khoảng 15 giờ 00 ngày 29-4-75, tôi ðang ãn cơm trưa với Bộ Tham Mýu trong tư dinh Tư Lệnh Quân Ðoàn, thì thình lình chiếc trực thãng chỉ huy của Tướng Toàn ðáp xuống bãi ðáp trong vườn hoa tư dinh bên cạnh chiếc trực thãng chỉ huy của tôi. ThiếuTá Cơ Pilot vào chào tôi và báo cáo cho tôi biết. Sau khi rời Long Bình, Cơ ðưa Tướng Toàn và bộ hạ ra Vũng Tàu, nơi ðó anh thấy có các Tướng Lãm và Hiệp chờ Tướng Toàn, rồi cả 3 người cùng ði bằng tàu ðánh cá ra Hạm Ðội Mỹ ở ngoài khõi. Tin Toàn bỏ trốn không làm tôi ngạc nhiên. Anh Cơ xin ðược ở lại làm việc với tôi. Tôi ðồng ý vì ðõn vị trực thãng của anh giờ này không còn ở Biên Hòa nữa.
Lúc 17 giờ 00 ngày 29-4-75, tôi dùng xe Jeep có hộ tống ði một vòng quan sát tình hình trong và chung quanh thành phố Biên Hòa. Tình hình chung có vẻ yên tĩnh, dân chúng không ra ðường, phố xá ðóng cửa. Vào khoảng 18 giờ 00, quân cộng sản bắt ðầu xâm nhập vào mặt Bắc và Ðông Bắc thành phố từ hướng phi trường ðụng với quân Biệt Cách Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Giao tranh bắt ðầu, 1 cánh quân Biệt Ðộng Quân của Chiến Ðoàn 315 cũng ðụng ðịch ở gần trại Ngô Vãn Sang. Ðịch bám sát vào tuyến phòng thủ mặt Bắc và Ðông Bắc của quân ta. Hai bên bám trận ðịa nằm cách nhau 10-15 mét. Cho ðến giờ phút này, quân ta chiến ðấu vững vàng tự tin. Không có tình trạng bỏ ngũ. Dưới sự yểm trợ mạnh mẽ của hỏa lực Thiết Giáp, quân ta ðẩy ðịch ra xa tuyến phong thủ.
Lúc 20 giờ 00 tôi gọi trại Phù Ðổng ở Sài Gòn. Nơi ðây là Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp Binh và là nõi Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III vừa ðặt bản doanh. Có trả lời nhưng không một ai có thẩm quyền ðể nhận báo cáo của tôi hoặc liên lạc với tôi. Tôi gọi Trung Tâm Hành Quân Bộ Tổng Tham Mưu, không có cách gì liên lạc ðược. Tôi nóng lòng chờ lệnh của Sài Gòn. Tôi tự hỏi Ðại Tướng Dương Vãn Minh, tân Tổng Thống, Tổng Tư Lệnh Quân Ðội có giải pháp gì không ? Có lệnh gì mới cho chúng tôi không ?
Ðến 22 giờ 10 có chuông ðiện thoại reo, Trung Tướng Nguyễn Hữu Có gọi tôi ở ðầu giây: “Tôi là Trung Tướng Có ðây, tôi ðang ở bên cạnh Ðại Tướng, anh cho chúng tôi biết tình hình ở Biên Hòa như thế nào? ” ” Thưa Trung Tướng, tôi giữ thị xã Biên Hòa, Lê Minh Ðảo giữ Long Bình, Toàn ðã bỏ chạy, phi trường Biên Hòa ðịch chiếm, áp lực ðịch rất nặng ở hướng Bắc và Ðông Biên Hòa.” 1, 2, 3 phút trôi qua, ở ðầu giây, Tướng Có nói tiếp” “Ðại Tướng hỏi anh có thể giữ vững Biên Hòa ðến 08 giờ 00 sáng mai, ðể Ðại Tướng nói chuyện với bên kia ðược không?” Tôi trả lời không do dự ” Ðược, tôi có thể giữ vững Biên Hòa ðến 08 giờ 00 sáng mai.” Trong máy ðiện thoại, tôi nghe vãng vẳng tiếng nói của Tướng Có báo cáo lại với Ðại Tướng Minh. Cuፊ ??i cùng Tướng Có nói: “Lệnh của Ðại Tướng cho anh: Chỉ huy phòng thủ bảo vệ Biên Hòa ðến 08 giờ 00 sáng ngày 30-4-75. Chúc anh thành công.” Tôi ðáp nhận.
Vào khoảng 23 giờ 45 khuya, ðịch bắt ðầu pháo dữ dội vào thị xã Biên Hòa, chúng tập trung một lực lượng hỗn hợp bộ binh chiến xa cấp Trung Ðoàn từ Ngã Ba Hố Nai – Xa Lộ tấn công về hướng Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III. Chiến Ðoàn 315 của Trung Tá Ðỗ Ðức Thảo xông ra chận ðịch. Hỏa lực chiến xa M-48 của ta áp ðảo ðịch. Giao tranh quyết liệt. Một số chiến xa ðịch bị bắn cháy. Ðịch rút lui.
Lúc 02 giờ 00 sáng ngày 30-4-75, Tướng Lê Minh Ðảo gọi tôi ở ðầu máy PC-25: “Báo anh hay tôi bị quân ðịch tràn ngập, Long Bình ðã bị chúng chiếm.” Tôi liền hỏi: “Anh hiện giờ ở ðâu? Có cần gì tôi không?” Ðảo ðáp: “Tôi hiện ở gần nghĩa trang Quân Ðội, ðang rút ði về hướng Thủ Ðức.” Tôi cảm thấy ðau buồn và tội nghiệp Lê Minh Ðảo vô hạn . Những nãm cuối cùng của cuộc chiến, tôi và Ðảo rất vất vả. Hai chúng tôi có mặt ở khắp các mặt trận, vì Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III của tôi là lực lượng cơ ðộng số 1, và SÐ18BB của Ðảo là lực lượng cơ ðộng số 2 của Quân Ðoàn. Trong tù, bọn cán bộ cộng sản rất ðể ý ðến hai chúng tôi vì ðã gây cho chúng rất nhiều tổn thất nghiêm trọng và chúng coi hai chúng tôi là hai tên chống cộng “ðiên cuồng” nhất.
Vào khoảng 03 giờ 30 sáng, ðịch lại pháo vào Biên Hòa, lần này chúng pháo rất mạnh và chính xác. Tôi ðoán chúng ðịnh tấn công dứt ðiểm Biên Hoà sau khi ðã chiếm ðược Long Bình. Tôi chuẩn bị sẽ tung cả 3 Chiến Ðoàn Thiết Giáp vào trận ðánh quyết ðịnh, nhưng thật bất ngờ, chúng vừa xuất hiện 1 ðoàn chiến xa dẫn ðầu, bộ binh theo sau, liền bị Chiến Ðoàn 315 ðánh chận ðầu và bọc sườn, chúng bèn rút chạy ngược ra xa lộ. Kể từ ðó, thị xã Biên Hòa trở nên yên tĩnh.
Ðúng 08 giờ 00 sáng ngày 30-4-75, tôi cố gắng gọi về Bộ Tổng Tham Mưu ðể liên lạc với Trung Tướng Nguyễn Hữu Có nhưng không ðưýợc. Tôi liền họp các Lữ Ðoàn Trưởng, Liên Ðoàn Trưởng, Chiến Ðoàn Trưởng và các Ðõn Vị Trưởng Yểm Trợ. Chúng tôi trao ðổi tin tức và thảo luận tình hình ở mặt trận, tình hình trong thành phố Biên Hòa. Áp lực ðịch bên ngoài không còn nữa. Chung quanh bên ngoài thị xã, chỉ có hoạt ðộng lẻ tẻ của du kích, bên trong thành phố vắng vẻ. Ðặc biệt ðêm qua, tôi có cho tãng cường canh giữ nhà giam Biên Hòa. Không có tình trạng dân chúng xuống ðường hô hào ủng hộ cộng sản. Tôi sung sướng nhất là thấy tinh thần của chiến sĩ ta rất tốt, không có tình trạng ðào ngũ. Tuyệt nhiên cũng không có tình trạng hãm hiếp cướp bÍ ?c trong thành phố, các sĩ quan thi hành quân lệnh nghiêm chỉnh. Trong ðêm qua có nhiều tốp lính bạn thuộc SÐ18BB rã ngũ ðịnh chạy qua thành phố, tôi ra lệnh chận lại, ðuổi họ trở ra, cưõng quyết không cho vào thành phố ðang giới nghiêm vì sợ có tình trạng gây mất tinh thần rã ngũ giây truyền như ðã xảy ra ở miền Trung trước ðây.
Bây giờ là 08 giờ 30 ngày 30-4-75, tôi kết luận buổi họp: “Biên Hòa không còn là mục tiêu tấn công của ðịch nữa. Tôi nghĩ rằng giờ này các lực lượng chủ lực cộng sản BV ðang tập trung tấn công Sài Gòn. Rõ ràng chúng bỏ Biên Hòa, dồn lực lượng ðánh vào Thủ Ðô. Chúng ta mất liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu. Bây giờ tôi quyết ðịnh kéo toàn bộ Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III về tiếp cứu Sài Gòn.” Tất cả các Ðõn Vị Trưởng ủng hộ quyết ðịnh này của tôi.
Tôi liền ban hành Lệnh Hành Quân và ðiều ðộng Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III tiến về Sài Gòn theo kế hoạch sau ðây: Lấy ðường xe lửa Biên Hòa-Sài Gòn và xa lộ Ðại Hàn làm hai trục tiến quân chính.
a) Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù + Lữ Ðoàn 4 Nhảy Dù (-1 Tiểu Ðoàn) do Ðại Tá Phan Vãn Huấn chỉ huy: Tiến bên phải ðường sắt hướng Sài Gòn. Ðến ngoại ô Bắc Sài Gòn, co cụm lại, bố trí bên phải ðường sắt, chờ lệnh.
b) Lữ Ðoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến do Trung Tá Liên (TQLC) chỉ huy: Tiến bên trái ðường sắt hướng Sài Gòn. Ðến ngoại ô Bắc Sài Gòn, co cụm lại, bố trí bên trái ðường sắt, chờ lệnh.
c) Lữ Ðoàn 3 Kỵ Binh + Liên Ðoàn 33 Biệt Ðộng Quân: Bố trí yểm trợ quân BCD, ND và TQLC rời vị trí phòng thủ, rút an toàn qua Câu Mới Biên Hòa trước. Sau ðó, lấy xa lộ Ðại Hàn làm trục chính, tiến về Sài Gòn theo thứ tự như sau:
- Chiến Ðoàn 315 do Trung Tá Ðỗ Ðức Thảo chỉ huy: Ði trước, ðến ngoại ô Bắc Sài Gòn, bố trí bên này cầu Bình Triệu, chờ lệnh.
- Chiến Ðoàn 322 do Trung Tá Nguyễn Vãn Liên (TG) chỉ huy: Ði sau CÐ 315, ðến ngoại ô Bắc Sài Gòn, bố trí sau CÐ 315, chờ lệnh.
- Chiến Ðoàn 318 do Trung Tá Nguyễn Ðức Dưõng chỉ huy: Ði sau cùng, ðến Sài Gòn, bố trí sau BTL và Ðơn Vị Yểm Trợ, chờ lệnh.
Trước khi lên trực thãng Chỉ Huy, tôi duyệt ðoàn quân lần cuối. Quân ta từ từ rời thành phố Biên Hòa trong vòng trật tự, trang phục chỉnh tề, tác phong nghiêm chỉnh, không hề nao núng, giống y như những lần hành quân trước ðây khi còn Ðại Tướng Ðỗ Cao Trí chỉ huy xông trận trên chiến trường Campuchia. Lúc này là 09 giờ 00 ngày 30-4-75.
Tôi lên trực thãng Chỉ Huy của Tướng Toàn do Thiếu Tá Cơ lái, chiếc trực thãng Chỉ Huy thư hai bay theo sau. Tôi cho trực thãng bay lượn trên thành phố Biên Hòa, quan sát thấy tình hình bên dưới vẫn yên tĩnh. Các cánh quân ta vẫn tiến ðều ðặn về hướng Sài Gòn. Những ổ kháng cự, những chốt của ðịch dọc trên trục tiến quân của ta bị ðè bẹp hoặc bị nhổ nhanh chóng. Tôi ðang suy nghĩ và lo lắng. Tôi lo vì không liên lạc ðýợc với Sài Gòn, khi quân ta về ðến nõi, sợ quân bạn ở Biệt Khu Thủ Ðô bắn lầm. Tôi ðang miên man suy nghĩ cách ðối phó thì ðột nhiên Thiếu Tá Cơ hỏi tôi : “Thiếu Tướng có muốn ra ði không? Tôi sẽ ðưa Thiếu Tướng ði.” Tôi liền hỏi lại: “Còn anh thì sao?” “Khi ðưa Thiếu Tướng ði xong, tôi sẽ trở về, tôi sẽ ở lại với vợ con còn ở Biên Hòạ” “Cám ơn anh, tôi cũng ở lại với anh em. Tôi ðã quyết ðịnh việc này từ lâu rồi.”
Chúng tôi bay về hướng Gò Vấp, tôi biểu Cơ lấy cao ðộ. Xa xa phía dưới, tôi thấy những ðoàn quân xa chở ðầy quân, những chiến xa, những pháo kéo của quân cộng sản BV như những con rắn dài trên xa lộ Biên Hòa và trên Quốc Lộ 13 bò vô Sài Gòn. Hai trực thãng của chúng tôi ðáp xuống trại Phủ Ðổng nõi ðặt BCH TGB và BTL/Quân Ðoàn III. Tôi vội ði vào vãn phòng tìm sĩ quan trực. Tôi thấy các nhân viên vãn phòng chạy qua lại nhớn nhác. Tôi không gặp một ai có thẩm quyền, chỉ có 1 Trung Úy mang huy hiệu Quân Ðoàn III, tôi nói tôi muốn sử dụng ðiện thoại ðể liên lạc với BTL Biệt Khu Thủ Ðô báo cho họ biết gấp các cánh quân của tôi sắp về tới cửa ngõ Bắc Sài Gòn ðể tránh bắn lầm nhau. Tôi gọi nhiều lần, gọi một cách tuyệt vọng, không có ai ở ðፊ ??u máy trả lời. Rồi tôi gọi Trung Tâm Hành Quân Bộ Tổng Tham Mưu, cũng không liên lạc ðưýợc. Lúc bấy giờ tôi nghe nhiều loạt ðạn pháo binh ðịch nổ ở hýớng sân bay TSN. Giờ này, các cánh quân Thiết Giáp của tôi cũng vừa ðến Bình Triệu gần khu nhà thờ Fatima.
Trong khi tôi ðang lúng túng trong việc liên lạc với BKTÐ và Bộ Tổng Tham Mưu, thì thình lình tôi nghe lời kêu gọi ngưng chiến ðấu của Tổng Thống Dương Vãn Minh phát ra từ một máy thu thanh ðâu ðấy. Tôi nhìn ðồng hồ tay: 10 giờ 25 phút.
Thế là hết . Kể từ giờ phút này, tôi tự chấm dứt quyền chỉ huy của mình và xem nhiệm vụ của LÐ3KB và Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III ðến ðây là kết thúc. Tôi ðể cho các ðơn vị tự ðộng buông vũ khí ðầu hàng theo lệnh của Tổng Thống. Tôi không có gì ðể nói thêm, chỉ thầm cám ơn tất cả các chiến hữu ðã cùng tôi chiến ðấu ðến phút cuối cùng của cuộc chiến và cùng tôi giữ tròn khí tiết của người chiến sĩ ðối với Quân Ðội và Tổ Quốc.
3. Quan Ðiểm và Kết Luận
Sau khi ngưng chiến theo lệnh của Tổng Thống Dương Vãn Minh, tôi bị ðịch bắt, truy vấn, tù ðầy 17 nãm và sang Mỹ nãm 1993 theo diện tỵ nạn chính trị. Mỗi nãm cứ ðến ngày 30-4, tôi ðọc ði ðọc lại nhiều bài viết của bên Cộng Sản cũng như của bên ta về cuộc chiến tranh Việt Nam. Có không ít bài viết lờ mờ hoặc viết sai về một số sự kiện trong cuộc chiến. Ðặc biết khi viết về Biên Hòa thì không có bên nào nói ðúng. Ai cũng biết Biên Hòa là vị trí chiến lược số 1 của MNVN, phi trường Biên Hòa còn là nõi ðặt bản doanh BTL/Quân Ðoàn III và V3CT, ðầu não của bộ máy quân sự miền Ðông. Biên Hòa là cửa ngõ quan trọng bậc nhất ở phía Bắc thủ ðô Sài Gòn. Ðể mất Biên Hòa là mất Sài Gòn, mất miền Nam Việt Nam.
Nhưng cho ðến bây giờ, tôi chưa thấy một tài liệu nào nói rõ về Biên Hòa trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh VN. Thế mà tôi vẫn giữ im lặng cho ðến ngày hôm nay, vì nghĩ rằng cuối cùng rồi sự thật lịch sử cũng ðược phõi bày. Vả lại khi viết về cuộc chiến tranh mà mình là nhân chứng trực tiếp, không khỏi phải nói nhiều rất nhiều về mình, cái mà tôi không hề thích vì như Pascal nói: “Cái tôi là ðáng ghét” (Le moi est haissable). Nhưng anh Nguyễn Minh Tánh ðã viết sai sự thật về LÐ3KB do tôi chỉ huy, ðã xúc phạm ðến DANH DỰ của chúng tôi nên tôi có bổn phận với những ngưỡi ðã hy sinh và những người còn sống, phải cải chính và nói lại cho rõ ðể không phụ lòng những chiến sĩ anh hùng ðã cùng tôi chấp nhận ở lại chiến ðấu ðến cù ng.
Những nãm ðầu trong ngục tù, cán bộ Cộng Sản luôn truy vấn tôi kịch liệt. Chúng làm tổng kết chiến trang ðể rút kinh nghiệm chiến trường, chúng ngạc nhiên trước sức chiến ðấu của LÐ3KB và Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III, ðặc biết chúng bắt tôi viết ðề tài Những nguyên nhân nào mà LÐ3KB và Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III do tôi chỉ huy không bị tan rã trước sức tấn công của Quân Ðội Cách Mạng.
Chính miệng chúng nói với tôi: “Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III là ðại ðõn vị duy nhất của Quân Ðội Sài Gòn chiến ðấu tới cùng cho ðến khi có lệnh ngưng bắn.” Chúng kể ra những thành tích chiến ðấu của Chiến Ðoàn 318 trên chiến trường Campuchia thời Tướng Ðỗ Cao Trí của LÐ3KB và Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III mà chúng gọi là những tội ác “Trời không dung Ðất không tha” và kết tội tôi ðã kéo dài chiến tranh nhiều nãm.ld3kybinh- 1975-001
Chúng ðã chọn và ðịnh ðưa một số chúng tôi ra Tòa Án Chiến Tranh của chúng xét xử như những tội phạm chiến tranh nếu không có áp lực mạnh mẽ của Hoa Kỳ và Cộng Ðồng thế giới tự do cũng như của dư luận Quốc Tế lúc bấy giờ.
Tôi không hề ân hận việc mình ðã làm, không hề hối tiếc hay than van về những hậu quả mà mình phải gánh chịu sau khi bị bắt. Nếu phải làm lại từ ðầu, thì tôi cũng vẫn làm như thế. Tôi biết rằng làm như thế là tôi mất tất cả, mất tất cả trừ DANH DỰ.
Wednesday, June 3, 2009
30-04-1975: Máu và Nuớc Mắt
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
Kể từ giờ phút tên phản tặc Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng để dâng Miền Nam Tự Do vào tay của cộng sản Hà Nội; thì hàng năm cứ đến ngày Quốc Hận 30- 04, là mọi người dân Việt, dù ở quốc nội, hay nơi hải ngoại cũng đều cảm thấy xót đau; bởi tất cả đều không bao giờ quên; và mãi mãi vẫn nhớ đến một ngày tang thương đã trùm phủ xuống quê hương. Ngày nước Việt Nam Cộng Hòa rơi vào tay giặc thù cộng sản.
Nhưng riêng thành phố Đà Nẵng quê hương tôi vì nhờ có «công lao » của « Lực lượng Hòa hợp Hòa giải Phật Giáo Thống Nhất (Ấn Quang)» đã đưa từng đoàn xe ra tận núi rừng để đón rước bộ đội Bắc Việt vào thành phố sớm hơn một tháng. Ngày 29/03/1975.
Từ ngày vượt biển ra hải ngoại cho đến hôm nay, tôi vẫn hằng mong đợi một bài viết thật trung thực và đầy đủ về những cuộc bạo loạn, cũng như những ngày cuối cùng của thành phố Đà Nẵng trước khi mất nước. Song, cho đến giờ phút này tôi vẫn chưa hề thấy, nên tôi, một phụ nữ không biết gì về văn chương lại thấp kém về mọi mặt. Nhưng, bởi mấy chục năm qua lòng tôi vẫn xót đau, khi những hình ảnh của những người đã bị chết oan, trong đó có những bé thơ, cứ hiện về như trách móc bảo tôi hãy lên tiếng. Vì thế, tôi phải hết sức cố gắng để viết lại những gì mà chính tôi đã mắt thấy, tai nghe, những điều mà có rất nhiều người đã biết, nhưng vì một lẽ nào đó nên tất cả đều im lặng. Họ không muốn hay không dám nói.
Tôi đã chứng kiến từ ngày 20/03/1975, với từng đoàn người di tản từ các tỉnh Trị-Thiên, Nam-Tín-Ngãi, đổ về Đà Nẵng mỗi ngày một đông, họ chỉ mong được lên tàu di tản vì ở những nơi đó VC đã hoàn toàn kiểm soát, không còn gì để hy vọng.
Tại Đà Nẵng, trong khi từng đoàn người bồng bế nhau chạy xuống bến Bạch Đằng, thì từng loạt pháo kích của VC bắn theo nổ chặn đường, làm kẻ chết, người bị thương, ai còn sống, bỏ tất cả lại để chạy thoát thân. Nhưng rồi chuyến tầu cuối cùng cũng đã rời bến Bạch Đằng; những người còn lại đành quay trở về. Trên đường phố từng toán người dìu dắt nhau trở lại, sau khi trở về nhà, họ đóng cửa, chỉ nhìn ra đường qua cửa sổ, họ đã sống trong những giờ phút hãi hùng, chờ đợi, không biết những gì sẽ xãy ra. Thành phố ngưng mọi sinh hoạt.
Thầy chùa đã đưa xe ra tận núi rừng để đón Cộng quân vào Đà Nẵng:
Tôi vẫn nhớ mãi về buổi sáng 29/03/1975, lúc ấy, vì phải đi tìm người thân bị thất lạc nên tôi có mặt tại ngã ba Huế, nhìn kim đồng hồ tay đương chỉ đúng tám giờ, khi nghe những tiếng động ồn ào, đồng bào mở cửa nhìn ra. Tôi cùng đồng bào đều nhìn thấy trên đường phố, từng đoàn xe đủ loại, xe Jeep, xe chở khách, xe nhà binh của các đơn vị quân sự bỏ lại. Trên các đầu xe, tất cả đều có cắm song song một lá cờ ngũ sắc của Phật giáo và một lá cờ nửa đỏ, nửa xanh, ở giữa có ngôi sao vàng của «Mặt trận Giải phóng miền Nam » tất cả đều có gắn loa phóng thanh đang ầm ầm tiến ra hai ngã một về phía Hòa Mỹ hướng ra đèo Hải Vân để đi Huế; và một về phía Phước Tường hướng về Hòa Cầm để đi vào Tam Kỳ-Quảng Nam. (xin lỗi tôi phải nói như thế, để các vị chưa biết về Đà Nẵng sẽ dễ hiểu hơn).
Đến 13 giờ cùng ngày, cả thành phố đều nghe những tiếng hô vang dậy:
« Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng, yêu cầu đồng bào hãy mau mau mở cửa ra để chào mừng và hoan hô bộ đội giải phóng miền Nam anh hùng! ».
Cả thành phố đều mở cửa nhìn ra. Trên đường phố từng đoàn xe từ hai ngã đang tiến vào thành phố, đồng bào nhìn kỹ thì ra là hai đoàn xe đã ra đi hồi tám giờ sáng, chỉ khác hơn là trên các xe bây giờ chở đầy bộ đội miền Bắc, còn được cắm thêm những cành lá mà trước kia VC thường gọi « cành lá ngụy trang ». Tiếp theo sau là những xe thiết giáp trang bị đầy đủ hỏa tiển phòng không, đại bác và tiếng hô vẫn tiếp tục vang vang, bây giờ mọi người mới nhìn thấy rõ ràng, tất cả các xe, ngoài người tài xế, còn có một « ông hoà giải » và một « vị sư » mặc áo cà sa vàng ngồi bên cạnh, và những tiếng hô đó cứ thay phiên phát ra từ hai cái mồm của hai người này.
Đến chiều, vẫn chưa tìm được người thân, tôi được tin là có nhiều người đã bị « An ninh Phật giáo » bắt giam ở các « chùa », nên tôi đến chùa Pháp Lâm tức chùa tỉnh Giáo hội Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng, số 500 đường Ông Ích Khiêm ĐN, để cầu cứu « Thượng tọa » Thích Quang Thể, Chánh đại diện Phật giáo QN-ĐN. Vì thế, khoảng 17 giờ tôi nhìn thấy một chiếc xe Jeep nhà binh dừng lại ngay cổng chùa, từ trên xe có hai « thầy » bước xuống đó là « Đại đức » Thích Minh Tuấn, người Huế, Hiệu trưởng trường trung học Bồ Đề, Phó Đại diện tỉnh Giáo hội QN-ĐN, Thích Minh Tuấn là một trong những người lãnh đạo trong Viện Hóa Đạo 1 của Ấn Quang. Sau đó là Thượng tọa-Thị giả của Hòa Thượng Thích Huyền Quang tại Tu viện Nguyên Thiều. Và hiện nay là Thượng tọa Viện chủ Tu viện Nguyên Thiều, Bình Định. Và « Đại đức » Thích Như Ký tức Mai Đăng Em, quê ở Mân Lập, quận 3, Đà Nẵng, Tổng thư ký Giáo hội Tăng già Quảng Nam - Đà Nẵng. Tiếp theo là hai « ông hòa giải » quần tây, áo sơ mi trắng, cả hai cùng mang băng đỏ như hai « thầy ». Cả bốn người cùng vào nhà khách của chùa gặp Thượng tọa Thích Quang Thể.
Mở đầu bằng giọng Huế, Thích Minh Tuấn nói:
« Bạch Thượng Tọa, tôi đã đưa xe ra tận đèo Phú Gia ruớc sư đoàn Sao Vàng của tướng Nguyễn Chon vào thành phố, mọi việc đều tốt".
Tiếp theo, Thích Như ký nói:
« Bạch Thượng Tọa, tôi đã đưa xe vô tận Hà Lam, Thăng Bình, đã đón bộ đội ta, do Đại Tá Phan Hoan chỉ huy vào thành phố một cách an toàn".
« Thượng tọa » Thích Quang Thể gật đầu vui vẻ định nói gì với hai « thầy », Nhưng ngay lúc đó Lê Quang Hòa (Trung tướng Việt cộng) tức Nguyễn Văn Hòa, quê Điện Bàn, Quảng Nam, tập kết ra Bắc trở về, là Tư lệnh phó quân khu 5 cùng đi với mấy tên cận vệ bước vào chùa, Thượng Tọa Thích Quang Thể đứng lên chào, Lê Quang Hòa nói:
« Tôi đến đây để thăm chùa, đồng thời để nói lên lời cám ơn Thượng Tọa và giáo hội đã tích cực trong công việc đưa, đón bộ đội giải phóng vào thành phố, một thành quả không ngờ, vì khi nghe Ngô Quang Trưởng tuyên bố: Các Lực luợng Quân-Cán-Chính tại Đà Nẵng sẽ tử thủ và có 45 ngày để dân Đà Nẵng di tản. Chúng tôi nghĩ là sẽ có môt lực luợng hùng hậu, nên Bộ tư lệnh quân khu 5 đã dự tính lập vòng đai bao vây trong vòng ba tháng, mới có thể vào thành phố Đà Nẵng được. Vì vậy, khi các thầy đưa xe ra đón, chúng tôi không tin, nên phải lấy tin từ quân báo thật chính xác, mới dám cho bộ đội lên xe của các thầy. »
Quay sang hai « thầy » Lê Quang Hòa nói:
« Tôi đặc biệt khen ngợi Đại đức Thích Minh Tuấn đã đưa xe ra tận đèo Phú Gia để đón Sư đoàn Sao Vàng của tướng Nguyễn Chon vào thành phố một cách an toàn. Tướng Chon rất vui mừng khi được trở lại quê hương Thanh Khê, Đà Nẵng, và công lao của Đại đức Thích Như Ký cũng không kém vì Đại đức cũng đưa xe vào tận Hà Lam, Thăng Bình để đón bộ đội của Đại tá Phan Hoan vào thành phố không hề gặp trở ngại".
Giữa lúc đó, tôi nhìn thấy Thượng tọa Thích Quang Thể quay vào phía góc chùa nhìn tôi một cách ái ngại. Tôi hiểu ý, nên liền chào Thượng tọa và ra về.
Sau đó, "Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Phật giáo" đã hướng dẫn các đoàn xe của bộ đội VC vào chiếm giữ các đơn vị của quân đội cũ, và lại dùng loa phóng thanh kêu gọi:
« Yêu cầu tất cả đồng bào hãy treo cờ Phật giáo! »
Phải công nhận là Phật giáo nói Phật tử chiếm 80% là đúng, Nhưng chỉ đúng trong những ngày này mà thôi, vì thấy các « chùa » đồng loạt treo cờ «Mặt trận giải phóng » cũng như thấy khí thế của Phật giáo như vậy, nên nhiều người bình thường chỉ theo đạo thờ cúng ông bà hoặc Khổng Giáo nhưng vì muốn an thân, họ đã đến các « chùa » mua cờ ngũ sắc đem về treo trước cửa, xem như là lá bùa hộ mệnh. Trừ ba tôn giáo đã chấp nhận mọi thứ, cương quyết không treo cờ Phật giáo đó là Công Giáo, Tin Lành và Cao Đài.
Ngoài ra, để lập công với « cách mạng » Đại đức Thích Minh Tuấn, đã nhân danh: « Là phó đại diện tỉnh giáo hội Phật giáo QN-ĐN, Hiệu trưởng trường Trung tiểu học Bồ Đề, xin dâng hiến tất cả các trường Bồ Đề và các cơ sở khác của giáo hội cho cách mạng ». Thấy vậy, có nhiều Phật tử phản đối, Thích Minh Tuấn trả lời:
« Bây giờ mình đâu có cần gì những thứ đó nữa, vì chúng ta có công đánh đuổi Mỹ-Ngụy, thống nhất đất nuớc, mọi việc Giáo hội cần đến thì có chính phủ giúp đỡ».
Khi nói đến LLHG, thì ngoài những công lao trên họ còn có những thành tích khác đáng kể như sau đây:
Trong lúc đồng bào trên đường di tản, LLHG đã xuống tận bến Bạch Đằng dùng loa phóng thanh kêu gọi:
« Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp, Hòa giải thị bộ Đà Nẵng. Trụ sở đặt tại chùa Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm Đà Nẵng, thiết tha kêu gọi đồng bào đừng di tản, hãy ở lại với chính quyền cách mạng ; ngụy quân, ngụy quyền cấp bậc, chức vụ gì sẽ được trả nguyên cấp bậc và chức vụ ấy. »
Vì thế, mà ở trại cải tạo T.154, Tiên Phước, Quảng Nam, tôi biết có người không phải sĩ quan mà đã khai là « Trung úy », mục đích để được « trả lại »…cấp bậc cũ! Nhưng không ngờ, rồi sau đó đã phải ở tù như những sĩ quan thật. Và rồi, cấp bậc, chức vụ gì thì phải ở tù theo cấp bậc, chức vụ ấy!!!
Nhân đây, tôi xin viết thêm một trường hợp khác. Trong cơn say máu người, Hòa giải Phật giáo cũng đã đến nhà ông bà Trần Quốc Thái ở số 06 đường Lý Thường Kiệt, Đà Nẵng, Nhưng khi ập vào nhà thì chỉ còn căn nhà trống. Ông bà Trần Quốc Thái đã chạy thoát, mất mồi, chúng tức tối la hét, đập phá lung tung. Tôi nghĩ là ông bà Trần Quốc Thái đã có được một hồng ân quá lớn, nếu không thì chúng đã xé xác ông rồi, nhẹ lắm cũng như ông Trần Sô vậy.
Nhân đây, tôi xin nói rõ về ngôi nhà này: Tôi biết ông bà Trần Quốc Thái đã vay muợn của nhiều người để xây cất, Nhưng sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bọn đâm thuê chém mướn giết chết, Hội đồng Gian nhân Phản loạn đã tịch thu với lý do là « tài sản của đảng Cần Lao » và dùng làm cơ quan Nha Cảnh sát Quốc gia vùng 1. Ông bà Trần Quốc Thái đã dắt con cái đi ở nhờ nhà người khác, Nhưng cũng phải thắt lưng, buộc bụng để có tiền trả cho đến mười năm mới hết nợ làm nhà.
Năm 1973, vì truy tìm mãi vẫn không có bằng chứng là « tài sản của Cần Lao » nên ngôi nhà mới được trả lại cho ông bà Trần Quốc Thái.
Đến năm 1975, Hòa giải Phật giáo chiếm giữ, sau đó giao cho VC lấy làm Bộ chỉ huy công an vũ trang.
Từ ngày 30/04/1975, Việt cộng ra lệnh truy tầm ông Trần Quốc Thái, « Bí thư đảng Cần Lao miền Trung ». Tôi cũng biết ông Trần Quốc Thái là người Bắc di cư, thời Đệ Nhất Cộng Hòa có làm Quận trưởng quận Điện Bàn, Quảng Nam, còn có Cần lao hay không thì khó biết được, vì đảng Cần Lao không công khai hoạt động như các đảng phái khác.
Một nạn nhân khác là ông Trần Quốc Dân, người Thanh Khê, quận 2, Đà Nẵng, đi kháng chiến chống Pháp, sau đó là Thiếu tá Quân đội Bắc Việt xâm nhập vào Nam. Lúc đó, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sao Vàng, (sau là Sư đoàn Sao Vàng) Nguyễn Chon cũng người Thanh Khê, Đà Nẵng là Trung đoàn phó. Ông là người đầu tiên rời bỏ hàng ngũ VC trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia vào năm 1962. Ông kể với người thân:
"Trước đó tôi có gặp người của ông Ngô Đình Cẩn, nên mới dám quyết định trở về. Sau khi quyết định, tôi đã lợi dụng trong một lần giao tranh với quân đội VNCH tại chiến trường Đại Lộc, Quảng Nam, tôi vượt sông Thu Bồn và theo sự hướng dẫn của người tôi đã gặp, tôi được gặp ông Ngô Đình Cẩn. Và tôi được sự giới thiệu của ông Cố vấn nên tôi vào Sài Gòn trình diện Tổng Thống Ngô Đình Diêm., vì tôi tin tưởng rằng Tổng Thống chắc chắn hiểu được những người đi tham gia kháng chiến. Và tôi đã nghĩ đúng, vì khi gặp mặt Tổng Thống, sau khi nói rõ về mình và trình bày ý nguyện của tôi, thì Tổng Thống dạy rằng:
Tôi đã hiểu được chú em, bây giờ đáng lẽ ra tôi trả lại em quân hàm Trung tá, vì ngoài đó có cấp Thượng tá, Nhưng thôi vì danh dự Quốc Gia em hãy nhận quân hàm Thiếu tá. Tôi xin được ra chiến đấu, Nhưng Tổng Thống bảo:
Không được, hãy về đoàn tụ với gia đình trước khi nhận công tác. Và Tổng Thống ban thưởng tôi ba trăm ngàn đồng từ tay của Tổng Thống".
Ông trần Quốc Dân trở về Đà Nẵng, sau một thời gian ngắn ông mua một căn nhà tại đường Trần Cao Vân và cuới vợ. Rồi ông được làm việc tại Bộ Công Dân Vụ.
Một năm sau, Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bọn đâm thuê, chém mướn giết chết. Là một người cứng cỏi, Nhưng ông Dân đã rơi nuớc mắt, ông kêu lên:
"Thế là hết! Tổng Thống không còn nữa, thì sẽ không còn ai hiểu tôi ngoài Tổng Thống".
Vài tháng sau ông tâm sự với người thân:
"Tôi chán nản trước nạn kiêu binh và kiêu tăng ngày càng lộng hành trên đất nuớc, chắc tôi sẽ xin xuất ngũ".
Tôi không nhớ rõ ngày tháng, Nhưng sau đó ông đã xin xuất ngũ và cộng tác với cụ Vũ Hồng Khanh. Chức vụ cuối cùng VNQDĐ của ông là một trong bốn Phó chủ tịch Thành bộ Đà Nẵng.
Ngày 24-03-1975, trong lúc ông Trần Quốc Dân chuẩn bị đưa gia đình đi di tản, thì bất ngờ hai ông: Đại đức Thích Như Ký, Tổng thư ký Giáo hội Tăng già Quảng Nam-Đà Nẵng cùng Huỳnh Phổ, cư sĩ Chánh đại diện Giáo hội Phật giáo quận 2, Đà Nẵng (cả hai đều là cố vấn của LLHG Thị bộ ĐN) dắt theo một đám "Thanh niên Phật tử" có vũ trang đến nơi (sau này tất cả trở thành công an VC). Hai người này vào nhà ông Dân, Thích Như Ký nói:
"Chúng tôi Ban lãnh đạo Lực luợng Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng, mời ông lên chùa tỉnh Giáo hội để cùng làm việc, ông hãy tin tưởng vào chúng tôi và ông sẽ có một chỗ đứng trong lòng lịch sử".
Nói là "mời" Nhưng đám thanh niên Phật tử đứng sau lưng hai ông, tên nào cũng lăm lăm tay súng. Không còn cách nào khác, ông Dân đành phải theo chúng lên chùa.
Ông Dân đi rồi, gia đình biết ông sẽ gặp nguy, nên vợ ông dắt hai đứa con thơ của ông bà đến chùa Pháp Lâm tức chùa Tỉnh Giáo hội Phật giáo Quảng Nam-Đà Nẵng để xin gặp chồng; Nhưng đội An ninh Phật tử chặn ngay ở ngoài cổng không cho vào. Vợ ông Dân khóc lóc, van lạy thế nào cũng không được, nên đành dắt hai con trở về.
Ngày 30-03-1975, khoảng 10 giờ sáng, LLHG Phật giáo đưa ông Dân từ chùa Pháp Lâm đến nhà giam Kho Đạn ở số 15, đường Đào Duy Từ, Đà Nẵng. Lúc giải giao, chúng đã trói hai tay ông ra sau, còn tròng thêm một vòng thòng lọng lên cổ, cách trói này giống như chúng đã trói các vị QCCVNCH, trong cuộc bạo loạn bàn Phật xuống đường, vào mùa hè 1966; khi áp giải các vị nói trên đến chùa Phổ Đà. Bởi cách trói này, nếu nạn nhân bỏ chạy, thì sợi dây sẽ tự thắt cổ lại mà chết. Như thế, vẫn chưa đủ, mà đội "An ninh Phật tử" còn cầm súng đi kèm hai bên. Thấy vậy, đồng bào Đà Nẵng đã gọi chúng là "Ủy ban Áp giải".
Ngày 03-04-1975, khoảng 21 giờ tối, Nguyễn Chon, tướng VC. Đến nhận ông Dân tại nhà giam Kho Đạn. Sáng hôm sau, người ta phát hiện xác chết của ông Dân đã chết, xác được bỏ vào Nhà Vĩnh Biệt của Quân Y Viện Duy Tân ĐN, trên thân thể của ông có nhiều vết đạn.
Chúng tôi xin nhắc lại. Năm 1962, ông Dân là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sao Vàng, thì Nguyễn Chon là Trung đoàn phó. Sau khi ông Dân bỏ đơn vị trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia, thì Nguyễn Chon đã thay thế ông Trần Quốc Dân làm Trung đoàn trưởng. Đến 1975, Nguyễn Chon lên tướng. Như vậy, cho chúng ta thấy, một mặt Phật giáo đã bắt ông Trần Quốc Dân đem giam trong chùa Pháp Lâm. Mặt khác ra lệnh cho Thích Minh Tuấn đem xe ra tận đèo Phú Gia để rước Sư đoàn Sao Vàng của Nguyễn Chon (tướng VC), rồi sau đó giao ông Dân cho Nguyễn Chon xử bắn, theo chỉ thị của VC một cách rõ ràng không thể chối cãi.
Sau khi ông Dân chết, bọn "An ninh Phật tử" đã hướng dẫn VC, xông vào nhà ông Trần Quốc Dân dùng bạo lực đuổi vợ con ông ra khỏi nhà, mà chúng nói là "Nhà của Diệm".
Vợ ông Dân chỉ được ôm mấy bộ áo quần và dắt các con ông bà về nương tựa với gia đinh tại chợ Tân Lập, Đà Nẵng.
Những người đã chết dưới bàn tay tàn bạo của "Lực luợng An ninh Phật giáo Ấn Quang":
Tối 29-03-1975, Đội "An ninh Phật giáo" Đà bắn chết bảy người tại quận 3 Đà Nẵng. Trong số này chúng tôi biết mặt, biết tên bốn người, đó là các ông:
1- Hồ Hân, quê Quảng Ngãi, nhà ở An Thị, An Hải Bắc, nguyên Trưởng ban Thẩm vấn Ty Cảnh sát Quốc gia, thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Năm 1964, ông bị Phật giáo bắt đánh về tội "Dư đảng Cần Lao".
2- Nguyễn Phận, nhà ở An Tân, An Hải Bắc, nhân viên ban 2 Chi khu quận 3, đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, thuộc Khu đảng bộ Yên Bái.
3- Phạm Lý, quê Tứ Câu, Thanh Thủy, Điện Bàn, Quảng Nam, nhà ở An Cu 3, An Hải Đông, công nhân sở Mỹ, đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cả hai vị nói trên đều trực thuộc Trung ương Pháp định do cụ Vũ Hồng Khanh lãnh đạo.
4- Riêng ông Bùi Ngọc Cang, Phường trưởng Phường An Hải Bắc. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa ông là nhân viên phòng 2, Thị đoàn Bảo An Đà Nẵng. Năm 1964, ông bị Phật giáo bắt đánh về tội "Dư đảng Cần Lao".
Lúc "Lực luợng An Ninh Phật giáo đến nhà, vợ ông Cang ra mở cửa. Vừa thấy mặt ông Cang là một tên Đà bắn xả vào người ông liền mấy phát. Ông Bùi Ngọc Cang gục chết ngay giữa nhà, trước sự kinh hoàng của vợ con; bà Cang ngất xỉu, các con ông gào thét lên kêu cứu, còn "Đội An Ninh Phật Giáo lạnh lùng bỏ đi ra!!!
Cùng bị bắn với bốn vị kể trên, còn có ba người nữa. Tôi nhớ một người tên Mua, một người tôi quên tên cả hai người này đều là người An Hải Đông, quận 3 Đà Nẵng, là Cán bộ Liên hiệp Nghiệp đoàn lao công, đảng viên Đảng Công Nông do Chủ tịch Trung ương Trần Quốc Bửu lãnh đạo; và một người khác là nhân viên Cảnh sát, người Quảng Trị (chúng tôi cũng quên tên) đã bị bắn chết ngay trước Trại Ngô Quyền, An Hải Bắc, quận 3. Sau khi chết được đồng bào chôn cất ngay tại chỗ. Cho đến trước ngày vuợt biển chúng tôi vẫn còn thấy nấm mộ của người này tại đó, đồng bào vẫn thường đến thắp hương cho nấm mộ vô chủ này. Không biết bây giờ có dời đi nơi khác hay không?
Ngoài ra, vào buổi chiều 29-03-1975, khoảng 19 giờ, vì không lên tầu di tản được, tôi trở về nhà, khi xe tôi chạy đến ngã ba Huế, bỗng thấy một đám đông vây quanh trước một căn nhà ở góc phía trái thuộc phuờng An Khê, quận 2, Đà Nẵng làm kẹt xe. Tôi phải dừng lại, trước mặt tôi là một lũ "An ninh Phật giáo" Đang đằng đằng sát khí trực chỉ vào một căn nhà khá khang trang, đang đóng cửa, bọn này la hét:
"Tất cả mọi người ở trong nhà phải đều ra ngoài hết, nếu không thì chúng tao sẽ đốt nhà".
Sau một hồi lâu không thấy động tĩnh; tôi nhận thấy trên khuôn mặt của đồng bào ai cũng đều lo sợ. Có lẽ ở gần nhà nên họ biết về những người trong nhà này. Trong lúc đồng bào đang lo lắng, thì bỗng có hai người đàn ông khoảng chưa tới ba mươi tuổi đã mở cánh cửa ở bên hông trái của căn nhà bước ra. Nhưng thật bất ngờ là khi hai người này vừa bước xuống chưa hết bậc tam cấp; thì bọn "An Ninh Phật Tử" liền nổ súng bắn xả vào hai người này. Cả hai vị đều gục chết trên vũng máu, thân thể nằm vắt ngang nửa trên nửa dưới của bậc tam cấp nơi thềm nhà của họ. Thấy vậy, tôi mới hỏi thăm đồng bào ở đó và tôi được biết: hai vị đó là hai anh em ruột và đều là nhân viên Cảnh Sát.
Trước cái chết của hai vị này, đồng bào đã khiếp đảm vội giải tán ngay, ai về nhà nấy, tôi cũng phải rời hiện trường lập tức. Nhưng cho đến bây giờ và mãi mãi, tôi vẫn không bao giờ quên được hình ảnh của hai vị cũng như căn nhà của họ, tôi vẫn tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại quê hương để tìm cho ra tên họ của những người đã chết một cách tức tuởi và oan uổng dưới bàn tay tàn ác của Phật giáo Ấn Quang; bởi tôi không muốn tên tuổi của họ sẽ bị đi vào quên lãng.
« Ủy ban lãnh đạo Lực luợng hòa hợp, hòa giải dân tộc thị bộ Đà Nẵng »:
Người đứng đầu cái Ủy ban nầy là La Thành Tỵ, một tên tàn ác đã từng ra tay sát hại đồng bào trong cuộc tấn công phuờng Thanh Bồ - Đức Lợi, làm Chủ tịch LLHHHG Thị bộ, trụ sở được đặt tại chùa Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm Đà Nẵng, nơi trụ trì của Thượng tọa Thích Quang Thể, Chánh Đại diện Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng.
Chúng tôi vẫn nhớ, bắt đầu từ ngày 01/04/1975, sau khi đã có công ra tận vùng giặc đón VC vào thành phố, LLHHHG liên tiếp từng ngày cho xe chạy khắp đường phố dùng loa phóng thanh kêu gọi:
« Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng. Yêu cầu tất cả ngụy quân, ngụy quyền, đảng phái chính trị thuộc chế độ Sài Gòn, hãy mau mau tập trung về chùa Pháp Lâm, tức chùa tỉnh giáo hội giao nộp vũ khí và trình diện. »
Đối với Quân, cán, chính VNCH đều chưa biết số phận mình sẽ ra sao, khi nghe lời kêu gọi đó họ đã đến « chùa » để trình diện.
Một điều mà chắc nhiều người còn nhớ, là lúc chạy giặc đa số sĩ quan vứt bỏ súng, khi đến chùa trình diện không có súng đã bị La Thành Tỵ, một trong những tên sát thủ trong cuộc tấn công hai Phường Thanh Bồ - Đức Lợi, 24-8-1964. Lúc này là Chủ tịch LLHHHG thị bộ Đà Nẵng, cùng lũ lâu la trong cái thị bộ này, lớn tiếng la lối, nạt nộ đủ điều:
« Các anh phải giao nộp súng ngắn, vì sì quan phải có súng ngắn, các anh giữ súng lại để tìm cách chống phá cách mạng à? Không có súng ngắn chúng tôi không cấp giấy chứng nhận đâu".
Vậy là các vị sĩ quan này phải về đi tìm súng, Nhưng súng còn đâu nữa mà tìm, bởi lúc hỗn loạn xảy ra, La Thành Tỵ đã ra lệnh cho thanh niên Phật tử phải đi thu nhặt hết đem về chất trước sân chùa. Nhưng có vị đã đi đến những hang cùng, ngõ hẻm tìm được súng, có vị tìm được cả chục khẩu súng như M.16, R.15... vác lên chùa. Trong số đó, tôi biết có một người là Thiếu Tá Đỗ Công Hào, Thuộc Tiểu đoàn 10, Chiến Tranh Chính Trị, cũng ôm một bó súng, ông yên tâm đem vào chùa; Nhưng không ngờ khi nộp súng ông lại càng bị La Thành Tỵ la hét càng to hơn nữa:
" Các anh có đem hàng trăm súng dài cũng không được, vì Sĩ quan thì phải giao nộp súng ngắn, các anh phải nộp súng ngay, không thì đừng có trách".
Đến nuớc này, thì các vị không có "súng ngắn" chỉ còn có một cách là về nhà đem tiền lên chùa để đưa cho "Lực Luợng An Ninh phật Giáo" đám này hễ ai có tiền thì chúng lấy những cây "súng ngắn" trong cái đống súng ở trước sân chùa trao cho, để nộp và để đổi lấy cái "Giấy chứng nhận trình diện" của "Thị Bộ Hòa Hợp-Hòa Giải". Thiếu tá Đỗ Công Hào cũng phải đem tiền mua súng. Sau đó, ông đã phải vào nhà tù "cải tạo" T.154, đến gần mười năm sau khi đã bị què một chân mới được ra tù. Và bây giờ, dù đã trải qua những năm dài bị hành hạ, đọa đày, nhưng Thiếu tá Đỗ Công Hào vẫn còn giữ nguyên được cái cây... súng ngắn. Chẳng biết bây giờ bọn Hòa hợp-Hòa giải Phật giáo có còn muốn đòi Thiếu tá Đỗ Công Hào phải trình ra cái cây... súng ngắn nữa không???
Việt Cộng trả công cho "Lực luợng Hòa hợp Hòa giải Phật giáo Ấn Quang":
Trở lại với cái gọi là LLHHHG, sau khi Quân, cán, chính VNCH Đà giao nộp vũ khí, thì trước sân chùa một đống súng cao như núi; thì Lực luợng Hòa hợp - Hòa giải đã đến Tòa Thị Chính mời "Ủy ban Quân quản" đến nhận súng. UBQQ cử Hoàng văn Lai, ủy viên an ninh (sau Lai là Đại tá Trưởng ty công an QN-ĐN) đến chùa Pháp Lâm, Lai đứng ở sân « chùa » dằn từng tiếng:
« Các anh hãy trả lời: Cách mạng chiến thắng hay Phật giáo chiến thắng? Hòa giải là cái gì? Mỹ, ngụy bỏ chạy, chúng tôi tiếp thu chớ có có ai đánh đâu mà hòa giải, còn súng, chúng tôi không cần, cho các anh đấy!!!".
Bấy giờ đến luợt « Ban lãnh đạo hòa giải » lạy Hoàng văn Lai để y chở đống súng đi, vì để đống súng nằm hoài ở sân « chùa » thì … không tiện.
Sau đó « Ủy ban quân quản » ra lệnh như sau:
“- Sĩ quan trình diện tại số 03 Duy Tân.
- Ngụy quyền trình diện tại số 12 Bạch Đằng.
- Đảng phái chính trị trình diện tập thể tại số 09 Gia Long”.
Có người nghĩ rằng đã có giấy chứng nhận của « Lực lượng Hòa hợp, Hòa giải Phật giáo » nên không đi trình diện nữa. Nhưng nhiều vị đã bị bắt vì không có giấy chứng nhận của "Ủy ban quân quản", có người xuất trình giấy chứng nhận của « LLHHHG » thì bọn an ninh nói:
« Giấy chứng nhận của hòa giải hãy bỏ vào sọt rác vì không có giá trị, chỉ có giấy chứng nhận của ủy ban quân quản, có chữ ký của ông Hoàng văn Lai mới có giá trị".
Cuối cùng Quân, Cán, Chính VNCH ở thành phố phải đi trình diện hai lần, Nhưng may là lần sau không bị đòi nộp súng ngắn nữa!!!
Bây giờ đến lượt « cách mạng thưởng công » cho « Lực luợng hòa giải:
Qua sự thanh lọc, một số đông bị rớt, riêng La thành Tỵ được tiếp tục làm việc trong « Mặt trận tổ quốc » hiện nay La Thành Tỵ là « Trưởng ban hướng dẫn gia đinh Phật tử Quảng Nam - Đà Nẵng ».
" Chính quyền Phật Giáo":
Một điều, hơn ai hết chính LLHG Phật giáo chắc khó quên, ấy là trong thời gian hơn một tháng từ 20/03/1975, LLHG đã nổi lên cướp chính quyền phường, khóm xã, thôn, bởi chính quyền cũ có người đã di tản, còn những người kẹt lại vì thấy những bộ mặt đằng đằng sát khí của những « ông » hòa giải nên chẳng ai dám nói gì. Họ cũng tự xưng là Phường trưởng, Xã trưởng, Thôn, Khóm trưởng, đã làm mưa làm gió, bắt giết người, lập tòa án nhân dân đấu tố nhiều người đến 29/03/1975, VC vào thành phố rồi, chúng cũng không hề nói gì mà còn vui vẻ bắt tay « các ông » hòa giải gọi là « đồng chí ». Nhưng sau ngày 30/04/1975, Việt cộng mới yêu cầu các khuôn hội bàn giao chính quyền cho chúng. Điều này đã làm « Hòa giải Phật giáo » bị mất mặt trước dân chúng, nên « Chính quyền Hòa giải » nhất định không chịu bàn giao, vì đã nắm quyền hơn một tháng rồi, giết người chẳng ít, bắt giam cũng nhiều ( như tôi đã viết ở bài trước). Nên chính quyền hòa giải đòi VC phải hợp thức hóa cho họ trở thành những cán bộ lãnh đạo phuờng, khóm, xã, thôn vì đã có công lao đưa xe đi đón bộ đội Bắc Việt vào thành phố.
Cuối cùng Việt cộng tổ chức một cuộc mít-tinh tại Đài phát thanh Đà Nẵng, trong buổi mít tinh ban tổ chức Đà giới thiệu tên Trần Thận, Thường vụ tỉnh ủy Quảng-Đà lên phát biểu nhu sau:
« Sở dĩ có cuộc mét-tinh hôm nay là do sự đòi hỏi của Phật giáo. Tôi nhấn mạnh là Phật giáo chớ không có hòa hợp, hòa giải chi hết á. Vì cái chiêu bài hòa hợp, hòa giải là chỉ do Phật giáo tổ chức ra để lừa bịp với chế độ Sài Gòn mà thôi. Chúng tôi công nhận Phật giáo Ấn Quang đã có công đóng góp với cách mạng đánh đổ Mỹ- ngụy. Nhưng, đó là nghĩa vụ công dân chớ không vì thế mà Phật giáo đòi cầm quyền. Hiện nay, còn có một số phuờng, khóm, xã, thôn thuộc các khuôn hội còn nắm giữ không chịu bàn giao cho ủy ban nhân dân các địa phương. Phật giáo nên biết, ngày xưa ông Lý Vạn Hạnh là cha ruột ông Lý Công Uẩn nên Phật giáo muốn làm gì thì làm, còn hiện nay ông Đôn Hậu không phải là cha của đồng chí Lê Duẩn, và chính quyền cách mạng chứ không phải là triều Lý. Vậy chúng tôi yêu cầu Phật giáo phải khẩn trương bàn giao gấp, nếu chậm trễ chúng tôi sẽ có biện pháp… ».
Nói đến đây, y nổi nóng vung tay hét:
« Nay đất nước đã có độc lập tự do rồi mà không lo tu thân, tăng gia sản xuất để góp phần xây dựng đất nuớc, mà cứ đòi cầm quyền! Phật giáo lấy tư cách gì để đòi cầm quyền? Ai cho cầm quyền? Phật giáo chỉ có cầm …cầm … cầm… »
Bỗng nhiên có tiếng cười nổi lên, nhiều bà cuời lớn quá khiến tên Thận phải khựng lại, rồi không biết phải nói tiếp những gì nên y nói đại:
« O … cầm … cầm … cầm …cái gì cũng được Nhưng không được cầm quyền".
Thích Đôn Hậu bắt buộc đồng bào phải đi diễn hành mừng sinh nhật Hồ Chí Minh:
Ngày 18/05/1975, Thích Đôn Hậu chỉ thị tỉnh giáo hội Quảng Nam - Đà Nẵng và Thị bộ Hòa giải tổ chức sinh nhật Hồ Chí Minh tại chùa Pháp Lâm. Trước khi tổ chức sinh nhật, các khuôn hội tại các quận lân cận và thành phố Đà Nẵng Đà ra lệnh cho đồng bào phải tập trung về « chùa » Phổ Đà « để bắt đầu cuộc diễn hành chào mừng chiến thắng và dự sinh nhật của bác Hồ vị cha già của dân tộc ». "Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải " đã bắt đồng bào ở các quận như: Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An, Hòa Vang… phải đi bộ, mọi người phải tay cầm đèn gió để đem xuống thì thắp sáng lên cho nó ra vẻ « phấn khởi hồ hởi » và gói cơm đem theo để ăn dọc đường vì có nơi phải đi bộ một ngày một đêm mới tới Đà Nẵng. Trước khi đi, các khuôn hội đã tập dượt cho đồng bào hô khẩu hiệu như sau: Khi những « ông » hòa giải tay cầm loa phóng thanh, mồm hô:
« Hoan hô bộ đội giải phóng miền nam anh hùng.» thì đồng bào phải hô lớn « hoan hô …hoan hô… » còn khi mấy « ông » hô: « Đả Đảo đế quốc Mỹ và ngụy quyền tay sai bán nuớc", thì đồng bào phải hô « đả đảo…đả đảo… »
Nhưng sau một đêm ngày đi bộ vì mệt và buồn ngủ, nên đồng bào chẳng còn nhớ những gì khác cả, mà chỉ còn nhớ bốn tiếng « hoan hô » và « đả đảo » mà thôi. Tôi vẫn nhớ như in vào đêm ấy đã hơn một giờ sáng ngày 19/05/1975. Lúc đó tôi đang ngủ, thì bỗng nghe tiếng chân người đi, tiếng ồn ào, tiếng loa phóng thanh cùng với tiếng hô « hoan hô…đả đảo… » Bây giờ mỗi lần nhớ lại chuyện đêm ấy, nếu có ai thì tôi kể lại để cùng cười, còn nếu chỉ mình tôi, thì tôi … cuời một mình.
Đêm ấy, khi đoàn người đã bị các «ông» hòa giải hành hạ đang đi qua nhà, tôi đã vừa cảm thương đồng bào vừa không nén được tiếng cuời, khi nghe mấy «ông» hòa giải tay cầm loa phóng thanh mồm la ơi ới:
«Bà con ơi! ai rớt gói cơm?» thì có tiếng của đồng bào đáp trả: « hoan hô... hoan hô… »
Nghe vậy mấy « ông » hòa giải lại la lớn:
« Bà con ơi! gói cơm ai rớt? »
Đồng bào lại hô « đả đảo … đả đảo …». Cứ tiếp tục như vậy, một hồi lâu, đồng bào cứ mắt nhắm, mắt mở cũng chỉ biết có « hoan hô » với « đả đảo » cái... gói cơm.
Cuối cùng, các « ông Hòa giải» tức quá mới đi tới gần từng nhóm người, tay đập mạnh vào người họ mồm hét:
«Gần sáng rồi, tỉnh táo đi, nghe chúng tôi nói đây nè ai… làm… rớt… gói… cơm… thì nhận lại, chứ nghe cái gì đâu mà cứ hoan hô với đả đảo hoài…vậy hả? » Lúc đó đồng bào mới biết là có « sự cố ».
Nên biết là lúc đó, đồng bào rất sợ Hòa giải Phật giáo, các khuôn hội buộc mỗi gia đình ít nhất phải có một người phải cầm đèn gió đi diễn hành. Tại thành phố Đà Nẵng, để cho nó có « hệ thống » trước khi diễn hành đến « chùa » Pháp lâm, các khuôn hội dùng loa phóng thanh kêu gọi:
" Yêu cầu tất cả đồng bào hãy tập trung về tại « chùa » Phổ Đà ở số 340 đường Phan Châu Trinh ĐN, tức Phật học viện Trung phần, để bắt đầu cuộc diễn hành trên khắp thành phố suốt đêm để mừng cách mạng chiến thắng, cho đến sáng ngày 19-05, trước khi đến chùa Pháp Lâm tại số 500, đường Ông Ích Khiêm để mừng sinh nhật Hồ Chủ tịch vĩ đại"
Trở lại với cuộc diễn hành hay đúng hơn là Hành diễn. Sau khi đã thấy những sự kiện kể trên, tôi nghĩ chờ Trời sáng sẽ xuống chùa Pháp Lâm xem thử mọi việc ra sao.
Khi đến đến « chùa » Pháp Lâm, tôi cùng vào với đồng bào diễn hành. Chúng tôi đã chứng kiến « Thượng tọa » Thích Đôn Hậu ngỏ lời nói:
"Yêu cầu đồng bào từ nay hãy lập tại nhà một bàn thờ thật trang trọng, phải có ảnh bác Hồ kính yêu để thờ vị cha già của dân tộc, ảnh đang có tại các chùa, đồng bào hãy đến để mua đem về mà thờ ».
Tiếp theo Thích Đôn Hậu (dân Đà Nẵng thường gọi là Thích Đoản Hậu hoặc Thích Đâm Hậu), giới thiệu một « cán bộ cách mạng lên nói chuyện với đồng bào » khi người này lên nói chuyện đã tự giới thiệu tên là Hoàng Châu Ký, Giám đốc Sở Thông tin văn hóa khu trung, Trung bộ.
Hoàng Châu Ký đã ngỏ lời khen ngợi có đoạn như sau:
« … Quý Thượng tọa, đại đức và quý vị thuộc lực luợng hòa hợp hòa giải, là những người đã có công với cách mạng, tham gia đánh đổ Mỹ- ngụy, thật là đáng ngợi khen. Trước đây, quý vị nói là bị Mỹ-Ngụy áp bức, kềm kẹp không có tự do, nay cách mạng đã giải phóng, không còn ai bị áp bức nữa. Từ nay, quý vị tu sĩ đều được tự do ở lại chùa tu hành. Ngoài ra, cách mạng sẽ giúp đỡ bằng cách tạo điều kiện cho có đất đai để quý vị được tự do làm chủ, tự do lao động sản xuất, để góp phần xây dựng đất nước, và để được vinh dự là không còn ăn bám vào thiên hạ nữa.
Còn đối với những người không phải tu hành, tôi biết ở đây có nhiều người có bằng cấp cao như tiến sĩ, bác sĩ, giáo sư, kỹ sư … Các anh sẽ được trọng dụng trở lại, làm việc theo nghành nghề chuyên môn, bác sĩ trở lại bệnh viện, giáo sư trở lại trường học … Các anh sẽ được bình đẳng như những giáo sư, bác sĩ, kỹ sư cách mạng miền Bắc. Nghĩa là, hàng tháng họ được bao nhiêu ký rau muống, bao nhiêu mì chính (bột ngọt)… thì các anh cũng được lãnh bấy nhiêu. Ngoài ra, muốn cải thiện, nếu ở thành phố không có đất, chúng tôi sẽ giúp đỡ cho các anh có điều kiện để tự do nuôi heo, tự do nuôi gà, tự do nuôi vịt, tự do …tự do... ».
Hoàng Châu Ký còn nói thêm nhiều thứ tự do nữa, Nhưng sao tôi thấy trên từng khuôn mặt của những « vị trí thức » này bỗng trở nên nhợt nhạt khi biết mình đã có đầy đủ những thứ … tự do!!!
Trong lúc y còn nói chuyện, Nhưng chúng tôi không thể đứng nhìn những đồng bào tội nghiệp của mình, mà chúng tôi biết chắc chắn là họ phải nằm đường, ngủ chợ, lê lết một ngày, một đêm nữa mới trở về đến nhà của họ, nên chúng tôi phải ra về.
"Trại Cải Tạo T.154":
Đến đây, tôi xin nói qua về trại cải tạo T.154, là hậu thân của trại cải tạo Đá Trắng. Nhân đây, vì tôi vốn là dân gốc tại làng Thạnh Bình, Tiên Phước, Quảng Nam; từ nhà tôi đến nhà cụ Huỳnh Thúc Kháng chỉ cần đi bộ, tôi biết rất rõ về trại này, nơi Bác ruột của tôi Đà bỏ mình tại trại vào năm 1964, nên tôi phải nói rõ về cái tên T.154. Bởi khi quận Tiên Phước mất vào ngày 13/03/1975, thì VC Đà cấp tốc khởi công phá bỏ trại Đá Trắng vốn ở dưới hầm, để thành lập trại tù mới lớn hơn, từ lúc đầu VC đã bắt thanh niên quận Tiên Phước làm công việc xây dựng bằng nhà tranh vách đất, đến ngày 15/04/1975, Việt cộng cho « khánh thành » và trại Đá Trắng chính thức đổi tên thành "Trại cải tạo T.154", để rồi các vị ai đã vào đấy, thì ít có vị nào ra trại trước muời năm, có vị đã bỏ mình tại trại vì bị hành hạ đến bệnh tật không được điều trị, có vị bị xử bắn, bị bỏ đói chết trong nhà biệt giam.
Sau đó, khi đưa tất cả các vị QCCVNCH đã trình diện tại « chùa » Pháp Lâm vào đây, VC lại bắt các vị tù trong trại tự xây nhà tù mới, mái lợp ngói, nền lát gạch. Trại chính là Trại 1, bên nam gồm có 12 (mười hai) nhà, mỗi nhà có bốn phòng, mỗi phòng có hai dãy sạp gỗ dài song song và một sạp chiếc, mỗi sạp chứa được trên dưới 20 ( hai mươi) người. Tất cả các phòng, các cánh cửa đều có gài một thanh sắt dài có gắn khóa sắt, để mỗi tối sau một ngày lao động, mọi người tù phải vào phòng để một công an gọi là « Cán bộ trực trại » điểm danh xong rồi khóa cửa lại. Nhưng chưa đủ mà còn có một nhà Biệt Giam, trong nhà nầy có những thanh sắt gài hai chiếc cùm sắt xuyên qua Tường gạch kiên cố, để cùm hai chân người tù, phòng chỉ bốn mét vuông, không có cửa sổ, chỉ có một lỗ thông hơi hình tròn đường kính khoảng 08 cm (tám phân), bên ngoài là cánh cửa sắt có gài một thanh sắt có khóa sắt. Trong trại còn có nhà cấp duỡng ( nhà bếp) một trạm xá. Ngoài ra, quanh trại VC còn xây thêm các phân trại như các trại: Trại Thôn Năm, Thôn Tư, Na Son, Nà Thao, Lò gạch, Nhà chăn nuôi, Nhà máy ly tâm sản xuất đường (chỉ phân phối cho công an, còn tù cải tạo thì chỉ được nhìn mà thôi). Đầu năm 1979, vì đánh nhau với Tàu nên VC chuẩn bị đưa một số vị tù ra Bắc, đã phải ngưng lại, thay vào đó VC đã lập thêm nhà biệt giam 02.79 (Đồng Mộ). Rồi thay vì đưa ra Bắc; vào đêm 03-05-1979, các vị này đã bị trói dính chặt vào nhau. Sau đó, các vị đã bị công an vũ trang dao kề cổ, súng kề lưng, đưa vào nhà biệt giam 02.79 (Đồng Mộ) trong một đêm khuya tối Trời. Trong số này có bốn vị tu sĩ đó là quý ngài: Linh mục Đặng Đình Canh, hiện nay quản nhiệm giáo xứ Thanh Bồ, Đà Nẵng, Linh mục Vũ Dần, hiện nay quản nhiệm giáo xứ Phú Thượng, Đà Nẵng, Linh mục Nguyễn Đình Ánh. Riêng Linh Mục Tống Kiên Hùng sau khi ra tù ngài trở về giáo xứ Tam Tòa, Nhưng công an QN-ĐN đã trục xuất ngài vào miền Nam, rồi ngài sang Hoa Kỳ, hiện nay ngài đã vào dòng tu kín tại Hoa Kỳ, và Mục sư Dương Đình Nguyện, hiện cũng đã tiếp tục hầu việc Chúa ở Hoa Kỳ.
Ngoài các trại tù nam, VC cũng lập thêm phân Trại Nữ gồm có năm nhà, có nhà cấp dưỡng, trạm xá riêng, các phòng cũng kiên cố như trại nam. Nhưng mỗi khi nữ tù « vi phạm nội quy » thì công an trại nữ lại "Lập biên bản" để đưa vào cùm trong nhà biệt giam của trại nam, vì trại nữ không có nhà cùm biệt giam. Ví thế, nữ tù vì mắc cỡ nên rất sợ bị vào nhà cùm ở bên trại nam; bởi bất kể một nữ tù nào chỉ cần có một giờ bị ôm áo quần đi vào nhà cùm ở trại nam, là cả hai trại nam - nữ tù đều biết tất cả.
Hai trại nam, nữ cách nhau một giòng suối nhỏ, « tuy xa mà gần, tuy gần mà xa » chung một hội trường để hai trại nam, nữ cùng học tập chính trị, hoặc họp toàn trại mỗi khi trong trại có nhiều người « vi phạm nội quy » hoặc xem văn nghệ vào dịp Tết, hay ngày 2/09, » nghệ sĩ » là các anh chị em đa số là các anh chị em thuộc Chiến Tranh Chính Trị cũ.
Nói đến nhà tù này, thật là kinh hoàng, khủng khiếp!!! Vì là nhà tù lao động chuyên về nông nghiệp, nên cả nam lẫn nữ tù đều phải làm những công việc vô cùng nặng nhọc. Hàng ngày, nữ tù chúng tôi thường đi làm chung với quý vị nhà 08 do Trung tá Nguyễn Văn Chuớc « Tự quản » (nhà trưởng) quý vị này đã từng qua nhà biệt giam 02-79 (Đồng Mộ) và nhà 10 do Thiếu tá Trương Quang Dõng làm nhà trưởng, ngày nào hai nhà này cũng thay phiên lao động bên nữ tù. Các anh đã thay trâu bò cày, bừa cho nữ cấy, gặt. Với chỉ tiêu chung, ba người một sào, bắt buộc phải đạt trong ngày. Ngoài ra phải leo lên đồi cao cuốc đất trồng sắn, mỗi ngày với chỉ tiêu vừa cuốc vừa trồng phải « đạt » 500 cây hom sắn, hay cuốc đất trồng mía, tỉa đậu, trồng khoai, lên rừng nam đốn củi, nữ vác xuống chất thành mét khối, cũng phải "đạt chỉ tiêu". Nói tóm lại làm việc gì cung phải « đạt chỉ tiêu » hết.
Nhưng không phải « đạt chỉ tiêu » rồi mà tối về phòng được ngủ sớm, mà tất cả chúng tôi, sau giờ ăn tối còn phải «làm tranh thủ» hái đậu phụng (lạc) cũng «chỉ tiêu» cho ba người đầy một thúng mới được về phòng, đặt lưng xuống chưa được bao lâu thì 06 giờ sáng phải thức dậy để bắt đầu một ngày lao động khác. Có khi vừa ăn tối xong, phải «tranh thủ» làm cỏ mía... Thôi thì đủ thứ «tranh thủ» không làm sao kể hết.
Chúng tôi vẫn nhớ, có những lần suốt ngày dầm mình dưới sình, lầy, tới ngực, tới bụng làm mồi cho đỉa; Nhưng vẫn "không đạt chỉ tiêu". Vì vậy, đến chiều về trại, chúng tôi đã bị phạt, bằng cách không cho tắm rửa. Những lần như thế, chúng tôi cứ khóc như mưa, chẳng làm sao nuốt nổi chén sắn độn cơm, cũng không sao ngủ được vì trên người còn dây dính những bùn lầy, hôi hám!!!
Chúng tôi cũng không bao giờ quên những năm tháng lao động bên các vị Quân, cán, chính VNCH, thuộc nhà 08 và nhà 10. Tôi vẫn nhớ mãi những ánh mắt đầy thương cảm và lo lắng của các anh, khi nhìn chúng tôi với những tấm thân yếu đuối, mà các anh chỉ nhìn thấy từ bụng, từ ngực nổi trên sình lầy, trong những ngày đông buốt giá, đến những ngày hạ nắng như thiêu đốt. Đôi chân của chúng tôi lúc nào cũng phải lần bước theo những cây đà, do chính các anh đốn từ trên rừng đem bỏ xuống ruộng. Các anh luôn luôn lưu ý đến chúng tôi, để khi nào nữ tù có ai lỡ trượt chân khỏi cây đà, thì các anh kịp thời nối cuốc, nối tay, kéo chúng tôi lên. Vì thế, có nhiều người rơi xuống ruộng, Nhưng không hề có một ai bị chết vùi thân dưới sình lầy cả
Nhưng với tôi, mặc dù bị tù đày. Tôi vẫn thấy mình có cái « may mắn » là « được » chứng kiến những trận đòn thù dã man, tàn bạo nhất mà công an trại đã giáng trên những tấm thân gầy yếu, trơ xương của nhiều vị tù, nhưng vì là một bài viết có hạn, nên tôi chỉ nói đến những trường hợp như sau đây:
-Thiếu tá Hồ Minh, ông đã bị « kỷ luật » cùm tay, chân, miệng, và ở phòng biệt giam. Chẳng những thế, mà ông còn bị công an trại dùng những khúc củi đánh đập nhiều lần, đến nỗi mỗi lần ông bị đánh, tù nhân chỉ nghe tiếng hét, tiếng rú của ông chứ không hề nghe tiếng ông nói thành lời. Một lần, tù nhân nghe tiếng mở cửa của thanh sắt phòng biệt giam. Họ thấy ông Hồ Minh bị hai tên công an vũ trang lôi ra khỏi phòng, rồi dùng những khúc củi đánh tới tấp lên người ông. Đau quá, ông bỏ chạy quanh khu biệt giam, lúc ấy, nhiều người mới nhìn thấy chiếc cùm đã không còn trên miệng của ông nữa, Nhưng ông không còn hét thành lời, mà chỉ có tiếng rú vô cùng man dại, đôi mắt vô hồn, nét mặt thất thần, có lẽ ông đã mất trí, cũng có thể vì chiếc cùm lâu ngày trên miệng đã làm ông không còn nói được nữa. Nhưng bọn công an vẫn đánh vì nói ông giả câm, chúng cứ tiếp tục đánh, buộc ông phải nói. Khi ông ngã sấp xuống mặt đất thì chúng không đánh bằng những khúc củi nữa, mà chúng thẳng chân giày đạp lên đầu, lên lưng ông, cho đến lúc ông nằm bất động, chúng mới cho « trật tự » trại khiêng xuống trạm xá trại 1. Nhưng đã quá trể, vì khi vào trạm xá, thì thân xác ông Đà lạnh ngắt tự bao giờ. Mọi người mới hay rằng bọn công an trại đã đạp lên cái xác chết của ông.
- Đại úy Nguyễn Phuợng, bị cùm bỏ đói cho đến chết. Khi chết rồi, mà đôi chân của ông vẫn còn trong đôi cùm sắt treo trên Tường, thân thể quắt queo trên nền gạch lạnh lẽo của phòng biệt giam tăm tối!!!
-Thiếu tá Nguyễn Xuân Giáo, cựu Trưởng ty Cảnh sát Quốc gia Quảng Nam (thời Đệ Nhất Cộng Hòa). Trước khi chết, ông đã bị hành hạ đến không còn nhìn ra được là con người nữa. Ngày ông chết trong nhà biệt giam, khi đưa ra ngoài, không biết là vô tình hay hữu ý, mà bọn công an đã cho người con trai ruột của ông cùng đồng tù là anh Nguyễn Xuân Đức khiêng xác đi chôn, mà vẫn không biết đó là cha ruột của mình. Cho đến khi huyệt mộ Đà lấp đất xong, tên công an trại ra lệnh cho « trật tự » trại mang tấm bảng gỗ đến và viết tên Nguyễn Xuân Giáo, đem cắm dưới chân mộ. Lúc ấy, anh Đức mới kinh hoàng, chết điếng ngã lăn xuống đất, ôm lấy nấm mộ của đấng sinh thành vừa lạy vừa kêu Trời. Nhưng Trời thì ở trên cao và xa quá, còn công an thì ở gần, nên chúng ra lệnh cho « trật tự » trại vực anh dậy và lôi về phòng. Trước cảnh Trời sầu, đất thảm ấy, tất cả tù nhân chỉ biết rơi lệ vì cảm thương và đau xót!!!
- Chúng tôi cũng đãà chứng kiến tại "Đồng Cừ", hôm ấy là ngày cấy lúa, bọn công an bảo Trung tá Không quân, anh Nguyễn Văn Đức nấu ăn, đến khi dọn cơm ra cho chúng, bỗng chúng nói anh rửa rau muống không sạch, là muốn đầu độc chúng, rồi mấy tên công an vũ trang đã dùng báng súng, dùng giày, đánh, đạp vào người anh đến ngã ngụy xuống mặt đất trước mặt Mục sư Dương Đình Nguyện và Giáo sư Đồng Sĩ Ninh, là hai vị tù chịu trách nhiệm đắp nước ruộng và đồi sắn tại "Đồng Cừ", cùng đông đảo tù cải tạo. Chúng tôi hết sức kinh hoàng và vô cùng đau đớn, nhưng không biết phải làm gì hơn là cúi mặt để dấu đi những dòng nuớt mắt cứ trào tuôn từ đáy lòng thương cảm, và cũng từ nỗi uất hận. Bởi, anh Đức đã lớn tuổi, mắt kém nhưng không có kính, nếu anh có rửa rau không được sạch thì đó không phải là lỗi của anh. Tại sao chúng không bảo những người tù khác mắt còn nhìn rõ hơn để nấu ăn cho chúng. Vả lại, chúng biết rõ là anh Nguyễn Văn Đức không có ý đầu độc chúng, Nhưng chúng muốn đánh anh vì lòng thù hận. Nên biết, bọn công an luôn luôn tìm một sơ hở nhỏ nào đó của tù cải tạo để có cớ mà đánh, đập, cùm kẹp để hành hạ trả thù mà thôi.
- Trung tá Nguyễn Tối Lạc, quận trưởng quận Đức Dục, người từng bị cùm cả tay, chân, có khi bị cùm cả miệng. Trước khi bị cùm miệng, ông đã xin Linh mục Vũ Dần, Linh Mục Đặng Đình Canh, Linh Mục Nguyễn Đình Ánh, Linh Mục Tống Kiên Hùng, truyền dạy Kinh Thánh cho ông, nên mỗi lần bị cùm miệng, nhưng còn hai tai nên qua cái lỗ thông hơi của phòng biệt giam, ông vẫn học thuộc hai câu Kinh Thánh mỗi ngày. Và nhiệm mầu thay, ông đã thoát chết. Bây giờ ông đã sang Hoa Kỳ theo diện tù cải tạo.
Người ta thường bảo khi cùng đường, sắp chết mới thấy Trời. Quả đúng như vậy, khi vào các nhà tù của Việt Cộng là đi vào tử lộ, và chính ở nơi ấy con người mới biết đến Đấng Toàn Năng.
- Ngoài ra, còn có nhiều vị bị xử bắn tại trại như Đại tá Nguyễn Văn Bình … Đặc biệt là Kỹ sư Trung úy Trần Quang Trân đã bị xử bắn vì tổ chức giải thoát tất cả tù nhân. Nên biết, ông Trần Quang Trân là một Kỹ sư điện tử, từng được tu nghiệp tại Nhật và Hoa Kỳ, ông được công an trại giao cho tất cả công việc bảo quản điện, đài trong trại, được tự do về thành phố Đà Nẵng mua phụ tùng các loại máy móc cho trại, ông cũng là một tay trống của đội văn nghệ trại, Nhưng ông không thể ung dung để huởng những ưu đãi của Việt cộng, không thể nhìn những người đồng cảnh ngộ bị đọa đày. Nên ông phải hành động, để rồi ông phải chịu chết thảm!!!
- Ngày ông Trần Quang Trân bị xử bắn, một buổi chiều khoảng 06 h 30 ngày 27/05/1982, khi cả hai trại nam, nữ đã ăn « cơm » xong. Trại nam đã điểm danh khóa cửa, nhưng trại nữ chưa điểm danh. Vì thế, chúng tôi còn rủ nhau đi quanh sân trại để « tâm sự ». Bỗng nhiên, chúng tôi thấy một tiểu đội công an vũ trang xuất hiện, chúng kềm ông Trần Quang Trân ở giữa và dắt theo bốn nam « trật tự » khiêng một chiếc quan tài, tất cả đang đi về hướng Hố Ông Hức, là nơi dành để chôn tù cải tạo. Riêng tôi, là thợ cắt, may được Âu-Việt phục, nên thỉnh thoảng công an trại bảo đi lấy số đo ở gia đình chúng để vào may trong trại nam, vì trại nam có bốn máy may, trại nữ không có, máy may chỉ dành để may áo quần cho công an, còn tù phải tự vá áo quần rách bằng những sợi nylon, tách ra từ bao cát mà ngày xưa thường dùng để làm hầm tránh đạn. Mỗi lần một « cán bộ » nào muốn nhờ tôi cắt, may, thì chính « cán bộ » ấy phải đích thân ra trại nữ xin phép « cán bộ trực trại » để nhận và cùng đi với tôi đến nhà, sau khi đo, đến ngày tôi vào trại nam để may công an cũng phải đi kèm, may xong, lại dắt tôi về trả cho « cán bộ trực trại ».
Vì vậy, lúc ấy tôi đang từ nhà của vợ chồng Phó giám thị Nguyễn Văn Bá và vợ là Nguyễn Thị Thanh Yên người Kỳ Hà, quận Lý Tín, Quảng Tín. Yên là « cán bộ y tế » Thời gian này Nguyễn Văn Bá đã lên Phân trại Thôn 05 để kiêm luôn chức Trưởng trại Thôn 05. Nhưng không hiểu vì quên giờ hành quyết ông Trần Quang Trân, hay vì tôi đo áo quần cho cả gia đinh nên bị chậm trễ giờ giấc. Nhà của vợ chồng tên Bá ở gần Hố ông Hức. Trên đường về trại có « cán bộ » Yên đi kèm, tôi đã nhìn thấy ông Trần Quang Trân bị bịt mắt và cùm miệng, vì sợ ông Trân có thể có lời nói bất lợi, hoặc hô khẩu hiệu, ngay như Trung tá Nguyễn Tối Lạc, khi bị kỷ luật cũng phải bị cùm miệng, bọn công an trong trại không bao giờ cho tù nói những lời mình muốn nói.. Ông Trần Quang Trân bị đưa đến Hố ông Hức.Vừa thấy tôi, mấy tên công an hét lớn, bảo tôi nhanh chân về trại, « cán bộ » Yên bảo tôi chạy ngay về trại, không được nhìn cái gì cả, còn y thị cũng chạy biến vào đám mía của nhà «Phó giám thị » Nguyễn Văn Tài và vợ là Trần thị Lệ cán bộ phụ trách hồ sơ tù cải tạo. Tôi lén nhìn ông Trân rồi cúi đầu đi thẳng. Khi về trại, tôi thấy mọi nữ tù đều khóc, vì họ cũng đã thấy, và đã biết những gì sẽ xảy ra!!! Khoảng nửa giờ sau, có mấy phát súng nổ. Mặc dù trừ bốn « trật tự » và đội công an hành quyết, không có một ai biết, hay thấy được giây phút cuối cùng của ông Trần Quang Trân, Nhưng nữ tù đều hiểu khi nhìn thấy chiếc quan tài khiêng đi bên cạnh ông, nên họ biết chắc chắn những phát súng đó là đã bắn vào ông Trân. Không cầm lòng được nữa, cả trại nữ khóc thét lên, tiếng khóc thấu Trời, làm bọn công an trên cơ quan nghe được. Vì thế, « cán bộ trực trại » tên Trịnh Thị Thu vợ của « giám thị » Huỳnh văn Hung người Bình Dương, Thăng Bình, Quảng Nam, đã xuống trại, y thị phùng mang trợn mắt hét chúng tôi, bảo tất cả vào phòng khóa cửa lại. Y còn nói: « Nếu các chị còn khóc tui sẽ cùm đầu hết ». Nhưng chúng tôi không sợ, vì cùm hết thì lấy ai ngày mai đi lao động.
Trong những ngày đi cắt bổi (cắt những cành lá trên ngọn để bỏ vào chuồng trâu, bò làm phân bón ruộng) quanh Hố ông Hức, tôi đã bốn lần lén lút đến gần ngôi mộ ông Trần Quang Trân. Ông được chôn riêng trên ngọn đồi, dưới chân mộ là một gốc cây cao, có bóng mát tỏa xuống chở che một nắm xương tàn, một linh hồn, mà lúc sinh tiền là một tâm hồn cao Thượng. Những ngày bị cùm kẹp trong phòng biệt giam, những vị tù bị cùm bên cạnh phòng của ông, vẫn thường nghe ông hát lên những Bài Thánh Ca với lời nguyện cầu cho đất nuớc, cho đồng bào, cho những người tù đồng cảnh ngộ. Mỗi lần viếng mộ ông, tôi chỉ vừa đi vừa nhìn, chứ không bao giờ dám đứng lại, vì tất cả tù nhân nếu ai đến thăm mộ ông mà bị chúng bắt được, sẽ bị vào nhà cùm biệt giam cả.
Tôi cũng biết chắc chắn, khi VC mở tòa án tại trại để tuyên án tử hình ông Trần Quang Trân, cũng nhu lúc xử bắn VC đều không cho thân nhân và vợ, con ông ở Xuân Hòa, Xuân Lộc, Đồng Nai được biết.
Nói về những vị đã chết trong trại tù còn nhiều lắm, khó có thể viết đầy đủ trên một trang báo. Nên tôi lại xin phép nữa để viết về một hòan cảnh thương tâm khác của một người, hay nói đúng hơn là của một gia đình đã bị VC đọa đày đến cảnh khốn cùng, nếu không có niềm tin nơi Đấng Tối Cao thì tôi chắc họ đã không làm sao vuợt qua được những đớn đau, nghiệt ngã, oan khiên mà đảng Cộng sản Việt Nam đã giáng cho gia đình ấy, đó là trường hợp của gia đình Giáo Sư Thượng Nghị Sĩ Bùi Văn Giải. Khi di cư vào Nam năm 1954, ông làm nghề dạy học, bà tảo tần buôn bán, tiết kiệm dành dụm tạo được một căn nhà tại phuờng Tam Tòa, đường Trần Cao Vân Đà Nẵng. Khi ông vào tù cải tạo, công an Đà Nẵng đa4 tịch thu căn nhà của ông bà. Bà đau buồn, ngã bệnh rồi mất ở tuổi đời 36. Ngày mất mẹ, các con ông và người thân đồng cầu khẩn VC cho ông về chôn cất vợ xong rồi tiếp tục vào tù, Nhưng VC vẫn không cho. Ông đã không được nhìn mặt người bạn trăm năm vào giây phút cuối cùng!!! Nhờ bà con giúp đỡ, các con ông chôn mẹ, trong lúc cha vẫn ở trong tù!!! Chỉ có Trời cao mới thấu được nỗi đau thương của các con ông Bùi Văn Giải khi vấn vành khăn tang khóc mẹ, cũng như nỗi đớn Đàu của ông Bùi Văn Giải ở trong trại tù "cải tạo"!!!
Những năm dài ở trong lao lý, Giáo Sư Bùi Văn Giải đã từng bị đưa vào nhà "Biệt giam 2.79" tức Đồng Mộ và nhà "Biệt giam Nhà Trắng" cùng với nhiều vị sĩ quan cao cấp và các vị cán bộ lãnh đạo cao cấp của các chính đảng. Khi bị bênh nặng Giáo sư Bùi Văn Giải phải vào bệnh xá Trại 1 (trại chính), khi xuất viện ông lao động ở tổ rau xanh sau trại nữ, thời gian này tôi vẫn thường thấy ông với mái tóc bạc phơ, tấm thân gầy yếu, Nhưng tiếng hát của ông qua những Bài Thánh Ca nghe vẫn vút cao như bay đến tận Trời xanh.
Ngày ra tù, theo lời Thầy, tôi đến thăm các con của Thầy. Được biết khi tịch thu nhà, công an Đà Nẵng nói là vì « nhân đạo » nên chừa lại một phòng trong căn nhà của ông bà chỉ bốn mét vuông, để các con ông ăn, ngủ, còn nấu nuớng thì phải nhóm bếp ngoài sân. Nhưng những ngày mưa và mùa đông thì phải dời bếp vào phòng, bốn đứa con ông bà phải ăn, ngủ chung với tro và khói bếp. Nhưng chưa đủ, công an còn buộc các con của Giáo Sư Bùi Văn Giải phải trả tiền nhà hàng tháng cho Ty nhà đất, vì căn nhà đã thuộc sự quản lý của nhà nuớc!!!
Với hoàn cảnh bơ vơ, cha ở tù, mất mẹ, các con ông phải bỏ học, đứa vá xe đạp, đứa làm thuê. Riêng Thu con gái út, là con gái yếu đuối lại còn nhỏ, nên phải làm nghề thêu, may mướn để góp phần trả tiền thuê cho chính căn nhà mà do mồ hôi, nuớc mắt của cha mẹ mình đãà tạo nên. Vì nếu không trả thì sẽ bị đuổi ra khỏi phòng, rồi phải lang thang đầu đường xó chợ. Sau 13 năm tù cải tạo, ông đã sang Hoa Kỳ và hiện đang là Chủ nhiệm Nguyệt san Về Bên Mẹ La Vang tại Portland, Hoa Kỳ.
Tạm thay lời kết:
Khi viết đến những dòng này, tôi bỗng thấy có hơi buồn; bởi chúng tôi biết có rất nhiều người đã biết, đã thấy những hành vi tàn ác của Phật Giáo Ấn Quang trong suốt bao nhiêu năm qua. Song cho đến giờ này cũng chỉ thấy xuất hiện một số ít bài viết về các biến cố như: Cuộc thảm sát tại Thanh Bồ - Đức Lợi, 24-08-1964- Cuộc Bạo Loạn tại miền Trung, mùa hè 1966, Cuộc Thảm Sát Tết Mậu Thân, 1968 và về ngày nước Việt Nam Cộng Hòa đã rơi vào tay của cộng sản Hà Nội: 30-04-1975. Nhưng, tất cả họ đã vì một lẽ nào đó, nên đều tránh né, không muốn hay không dám viết hết những sự thật. Chúng tôi nghĩ rằng, có thể bởi bị ám ảnh với những hình ảnh giết người của Ấn Quang nên họ sợ đụng chạm, hoặc vì đang đứng ở vào một tổ chức nào đó mà phải cần đến Ấn Quang; và còn một lý do khác nữa là họ sợ một ngày nào đó phải cần đến lá phiếu của Ấn Quang. Riêng kẻ viết bài này là một người không hề có tham vọng về chính trị, nên dù bất kể một thế lực nào cầm quyền tại Việt Nam, kẻ này cũng không màng đến một địa vị, chức tước gì cả. Vì thế, nên không bao giờ cần đến bất cứ một lá phiếu nào; mà điều duy nhất của người viết những loạt bài này là đã tâm nguyện: Suốt đời chỉ làm một người cầm bút, để viết lên tất cả những gì mắt thấy, tai nghe, thấy sao nói vậy, nhớ đâu viết đó. Viết với tất cả tâm thành để cho lớp trẻ sau này còn biết đến những hành vi tàn ác, bất nhân của những kẻ đã từng gieo rắc tang thương, máu lệ cho đồng bào vô tội; hầu cho họ biết đường mà tránh xa phuờng lục lâm, tặc phỉ, để khỏi rơi xuống hố sâu của tội ác. Bởi đó, chính là lương tâm và trách nhiệm của người cầm bút.
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
Kể từ giờ phút tên phản tặc Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng để dâng Miền Nam Tự Do vào tay của cộng sản Hà Nội; thì hàng năm cứ đến ngày Quốc Hận 30- 04, là mọi người dân Việt, dù ở quốc nội, hay nơi hải ngoại cũng đều cảm thấy xót đau; bởi tất cả đều không bao giờ quên; và mãi mãi vẫn nhớ đến một ngày tang thương đã trùm phủ xuống quê hương. Ngày nước Việt Nam Cộng Hòa rơi vào tay giặc thù cộng sản.
Nhưng riêng thành phố Đà Nẵng quê hương tôi vì nhờ có «công lao » của « Lực lượng Hòa hợp Hòa giải Phật Giáo Thống Nhất (Ấn Quang)» đã đưa từng đoàn xe ra tận núi rừng để đón rước bộ đội Bắc Việt vào thành phố sớm hơn một tháng. Ngày 29/03/1975.
Từ ngày vượt biển ra hải ngoại cho đến hôm nay, tôi vẫn hằng mong đợi một bài viết thật trung thực và đầy đủ về những cuộc bạo loạn, cũng như những ngày cuối cùng của thành phố Đà Nẵng trước khi mất nước. Song, cho đến giờ phút này tôi vẫn chưa hề thấy, nên tôi, một phụ nữ không biết gì về văn chương lại thấp kém về mọi mặt. Nhưng, bởi mấy chục năm qua lòng tôi vẫn xót đau, khi những hình ảnh của những người đã bị chết oan, trong đó có những bé thơ, cứ hiện về như trách móc bảo tôi hãy lên tiếng. Vì thế, tôi phải hết sức cố gắng để viết lại những gì mà chính tôi đã mắt thấy, tai nghe, những điều mà có rất nhiều người đã biết, nhưng vì một lẽ nào đó nên tất cả đều im lặng. Họ không muốn hay không dám nói.
Tôi đã chứng kiến từ ngày 20/03/1975, với từng đoàn người di tản từ các tỉnh Trị-Thiên, Nam-Tín-Ngãi, đổ về Đà Nẵng mỗi ngày một đông, họ chỉ mong được lên tàu di tản vì ở những nơi đó VC đã hoàn toàn kiểm soát, không còn gì để hy vọng.
Tại Đà Nẵng, trong khi từng đoàn người bồng bế nhau chạy xuống bến Bạch Đằng, thì từng loạt pháo kích của VC bắn theo nổ chặn đường, làm kẻ chết, người bị thương, ai còn sống, bỏ tất cả lại để chạy thoát thân. Nhưng rồi chuyến tầu cuối cùng cũng đã rời bến Bạch Đằng; những người còn lại đành quay trở về. Trên đường phố từng toán người dìu dắt nhau trở lại, sau khi trở về nhà, họ đóng cửa, chỉ nhìn ra đường qua cửa sổ, họ đã sống trong những giờ phút hãi hùng, chờ đợi, không biết những gì sẽ xãy ra. Thành phố ngưng mọi sinh hoạt.
Thầy chùa đã đưa xe ra tận núi rừng để đón Cộng quân vào Đà Nẵng:
Tôi vẫn nhớ mãi về buổi sáng 29/03/1975, lúc ấy, vì phải đi tìm người thân bị thất lạc nên tôi có mặt tại ngã ba Huế, nhìn kim đồng hồ tay đương chỉ đúng tám giờ, khi nghe những tiếng động ồn ào, đồng bào mở cửa nhìn ra. Tôi cùng đồng bào đều nhìn thấy trên đường phố, từng đoàn xe đủ loại, xe Jeep, xe chở khách, xe nhà binh của các đơn vị quân sự bỏ lại. Trên các đầu xe, tất cả đều có cắm song song một lá cờ ngũ sắc của Phật giáo và một lá cờ nửa đỏ, nửa xanh, ở giữa có ngôi sao vàng của «Mặt trận Giải phóng miền Nam » tất cả đều có gắn loa phóng thanh đang ầm ầm tiến ra hai ngã một về phía Hòa Mỹ hướng ra đèo Hải Vân để đi Huế; và một về phía Phước Tường hướng về Hòa Cầm để đi vào Tam Kỳ-Quảng Nam. (xin lỗi tôi phải nói như thế, để các vị chưa biết về Đà Nẵng sẽ dễ hiểu hơn).
Đến 13 giờ cùng ngày, cả thành phố đều nghe những tiếng hô vang dậy:
« Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng, yêu cầu đồng bào hãy mau mau mở cửa ra để chào mừng và hoan hô bộ đội giải phóng miền Nam anh hùng! ».
Cả thành phố đều mở cửa nhìn ra. Trên đường phố từng đoàn xe từ hai ngã đang tiến vào thành phố, đồng bào nhìn kỹ thì ra là hai đoàn xe đã ra đi hồi tám giờ sáng, chỉ khác hơn là trên các xe bây giờ chở đầy bộ đội miền Bắc, còn được cắm thêm những cành lá mà trước kia VC thường gọi « cành lá ngụy trang ». Tiếp theo sau là những xe thiết giáp trang bị đầy đủ hỏa tiển phòng không, đại bác và tiếng hô vẫn tiếp tục vang vang, bây giờ mọi người mới nhìn thấy rõ ràng, tất cả các xe, ngoài người tài xế, còn có một « ông hoà giải » và một « vị sư » mặc áo cà sa vàng ngồi bên cạnh, và những tiếng hô đó cứ thay phiên phát ra từ hai cái mồm của hai người này.
Đến chiều, vẫn chưa tìm được người thân, tôi được tin là có nhiều người đã bị « An ninh Phật giáo » bắt giam ở các « chùa », nên tôi đến chùa Pháp Lâm tức chùa tỉnh Giáo hội Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng, số 500 đường Ông Ích Khiêm ĐN, để cầu cứu « Thượng tọa » Thích Quang Thể, Chánh đại diện Phật giáo QN-ĐN. Vì thế, khoảng 17 giờ tôi nhìn thấy một chiếc xe Jeep nhà binh dừng lại ngay cổng chùa, từ trên xe có hai « thầy » bước xuống đó là « Đại đức » Thích Minh Tuấn, người Huế, Hiệu trưởng trường trung học Bồ Đề, Phó Đại diện tỉnh Giáo hội QN-ĐN, Thích Minh Tuấn là một trong những người lãnh đạo trong Viện Hóa Đạo 1 của Ấn Quang. Sau đó là Thượng tọa-Thị giả của Hòa Thượng Thích Huyền Quang tại Tu viện Nguyên Thiều. Và hiện nay là Thượng tọa Viện chủ Tu viện Nguyên Thiều, Bình Định. Và « Đại đức » Thích Như Ký tức Mai Đăng Em, quê ở Mân Lập, quận 3, Đà Nẵng, Tổng thư ký Giáo hội Tăng già Quảng Nam - Đà Nẵng. Tiếp theo là hai « ông hòa giải » quần tây, áo sơ mi trắng, cả hai cùng mang băng đỏ như hai « thầy ». Cả bốn người cùng vào nhà khách của chùa gặp Thượng tọa Thích Quang Thể.
Mở đầu bằng giọng Huế, Thích Minh Tuấn nói:
« Bạch Thượng Tọa, tôi đã đưa xe ra tận đèo Phú Gia ruớc sư đoàn Sao Vàng của tướng Nguyễn Chon vào thành phố, mọi việc đều tốt".
Tiếp theo, Thích Như ký nói:
« Bạch Thượng Tọa, tôi đã đưa xe vô tận Hà Lam, Thăng Bình, đã đón bộ đội ta, do Đại Tá Phan Hoan chỉ huy vào thành phố một cách an toàn".
« Thượng tọa » Thích Quang Thể gật đầu vui vẻ định nói gì với hai « thầy », Nhưng ngay lúc đó Lê Quang Hòa (Trung tướng Việt cộng) tức Nguyễn Văn Hòa, quê Điện Bàn, Quảng Nam, tập kết ra Bắc trở về, là Tư lệnh phó quân khu 5 cùng đi với mấy tên cận vệ bước vào chùa, Thượng Tọa Thích Quang Thể đứng lên chào, Lê Quang Hòa nói:
« Tôi đến đây để thăm chùa, đồng thời để nói lên lời cám ơn Thượng Tọa và giáo hội đã tích cực trong công việc đưa, đón bộ đội giải phóng vào thành phố, một thành quả không ngờ, vì khi nghe Ngô Quang Trưởng tuyên bố: Các Lực luợng Quân-Cán-Chính tại Đà Nẵng sẽ tử thủ và có 45 ngày để dân Đà Nẵng di tản. Chúng tôi nghĩ là sẽ có môt lực luợng hùng hậu, nên Bộ tư lệnh quân khu 5 đã dự tính lập vòng đai bao vây trong vòng ba tháng, mới có thể vào thành phố Đà Nẵng được. Vì vậy, khi các thầy đưa xe ra đón, chúng tôi không tin, nên phải lấy tin từ quân báo thật chính xác, mới dám cho bộ đội lên xe của các thầy. »
Quay sang hai « thầy » Lê Quang Hòa nói:
« Tôi đặc biệt khen ngợi Đại đức Thích Minh Tuấn đã đưa xe ra tận đèo Phú Gia để đón Sư đoàn Sao Vàng của tướng Nguyễn Chon vào thành phố một cách an toàn. Tướng Chon rất vui mừng khi được trở lại quê hương Thanh Khê, Đà Nẵng, và công lao của Đại đức Thích Như Ký cũng không kém vì Đại đức cũng đưa xe vào tận Hà Lam, Thăng Bình để đón bộ đội của Đại tá Phan Hoan vào thành phố không hề gặp trở ngại".
Giữa lúc đó, tôi nhìn thấy Thượng tọa Thích Quang Thể quay vào phía góc chùa nhìn tôi một cách ái ngại. Tôi hiểu ý, nên liền chào Thượng tọa và ra về.
Sau đó, "Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Phật giáo" đã hướng dẫn các đoàn xe của bộ đội VC vào chiếm giữ các đơn vị của quân đội cũ, và lại dùng loa phóng thanh kêu gọi:
« Yêu cầu tất cả đồng bào hãy treo cờ Phật giáo! »
Phải công nhận là Phật giáo nói Phật tử chiếm 80% là đúng, Nhưng chỉ đúng trong những ngày này mà thôi, vì thấy các « chùa » đồng loạt treo cờ «Mặt trận giải phóng » cũng như thấy khí thế của Phật giáo như vậy, nên nhiều người bình thường chỉ theo đạo thờ cúng ông bà hoặc Khổng Giáo nhưng vì muốn an thân, họ đã đến các « chùa » mua cờ ngũ sắc đem về treo trước cửa, xem như là lá bùa hộ mệnh. Trừ ba tôn giáo đã chấp nhận mọi thứ, cương quyết không treo cờ Phật giáo đó là Công Giáo, Tin Lành và Cao Đài.
Ngoài ra, để lập công với « cách mạng » Đại đức Thích Minh Tuấn, đã nhân danh: « Là phó đại diện tỉnh giáo hội Phật giáo QN-ĐN, Hiệu trưởng trường Trung tiểu học Bồ Đề, xin dâng hiến tất cả các trường Bồ Đề và các cơ sở khác của giáo hội cho cách mạng ». Thấy vậy, có nhiều Phật tử phản đối, Thích Minh Tuấn trả lời:
« Bây giờ mình đâu có cần gì những thứ đó nữa, vì chúng ta có công đánh đuổi Mỹ-Ngụy, thống nhất đất nuớc, mọi việc Giáo hội cần đến thì có chính phủ giúp đỡ».
Khi nói đến LLHG, thì ngoài những công lao trên họ còn có những thành tích khác đáng kể như sau đây:
Trong lúc đồng bào trên đường di tản, LLHG đã xuống tận bến Bạch Đằng dùng loa phóng thanh kêu gọi:
« Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp, Hòa giải thị bộ Đà Nẵng. Trụ sở đặt tại chùa Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm Đà Nẵng, thiết tha kêu gọi đồng bào đừng di tản, hãy ở lại với chính quyền cách mạng ; ngụy quân, ngụy quyền cấp bậc, chức vụ gì sẽ được trả nguyên cấp bậc và chức vụ ấy. »
Vì thế, mà ở trại cải tạo T.154, Tiên Phước, Quảng Nam, tôi biết có người không phải sĩ quan mà đã khai là « Trung úy », mục đích để được « trả lại »…cấp bậc cũ! Nhưng không ngờ, rồi sau đó đã phải ở tù như những sĩ quan thật. Và rồi, cấp bậc, chức vụ gì thì phải ở tù theo cấp bậc, chức vụ ấy!!!
Nhân đây, tôi xin viết thêm một trường hợp khác. Trong cơn say máu người, Hòa giải Phật giáo cũng đã đến nhà ông bà Trần Quốc Thái ở số 06 đường Lý Thường Kiệt, Đà Nẵng, Nhưng khi ập vào nhà thì chỉ còn căn nhà trống. Ông bà Trần Quốc Thái đã chạy thoát, mất mồi, chúng tức tối la hét, đập phá lung tung. Tôi nghĩ là ông bà Trần Quốc Thái đã có được một hồng ân quá lớn, nếu không thì chúng đã xé xác ông rồi, nhẹ lắm cũng như ông Trần Sô vậy.
Nhân đây, tôi xin nói rõ về ngôi nhà này: Tôi biết ông bà Trần Quốc Thái đã vay muợn của nhiều người để xây cất, Nhưng sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bọn đâm thuê chém mướn giết chết, Hội đồng Gian nhân Phản loạn đã tịch thu với lý do là « tài sản của đảng Cần Lao » và dùng làm cơ quan Nha Cảnh sát Quốc gia vùng 1. Ông bà Trần Quốc Thái đã dắt con cái đi ở nhờ nhà người khác, Nhưng cũng phải thắt lưng, buộc bụng để có tiền trả cho đến mười năm mới hết nợ làm nhà.
Năm 1973, vì truy tìm mãi vẫn không có bằng chứng là « tài sản của Cần Lao » nên ngôi nhà mới được trả lại cho ông bà Trần Quốc Thái.
Đến năm 1975, Hòa giải Phật giáo chiếm giữ, sau đó giao cho VC lấy làm Bộ chỉ huy công an vũ trang.
Từ ngày 30/04/1975, Việt cộng ra lệnh truy tầm ông Trần Quốc Thái, « Bí thư đảng Cần Lao miền Trung ». Tôi cũng biết ông Trần Quốc Thái là người Bắc di cư, thời Đệ Nhất Cộng Hòa có làm Quận trưởng quận Điện Bàn, Quảng Nam, còn có Cần lao hay không thì khó biết được, vì đảng Cần Lao không công khai hoạt động như các đảng phái khác.
Một nạn nhân khác là ông Trần Quốc Dân, người Thanh Khê, quận 2, Đà Nẵng, đi kháng chiến chống Pháp, sau đó là Thiếu tá Quân đội Bắc Việt xâm nhập vào Nam. Lúc đó, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sao Vàng, (sau là Sư đoàn Sao Vàng) Nguyễn Chon cũng người Thanh Khê, Đà Nẵng là Trung đoàn phó. Ông là người đầu tiên rời bỏ hàng ngũ VC trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia vào năm 1962. Ông kể với người thân:
"Trước đó tôi có gặp người của ông Ngô Đình Cẩn, nên mới dám quyết định trở về. Sau khi quyết định, tôi đã lợi dụng trong một lần giao tranh với quân đội VNCH tại chiến trường Đại Lộc, Quảng Nam, tôi vượt sông Thu Bồn và theo sự hướng dẫn của người tôi đã gặp, tôi được gặp ông Ngô Đình Cẩn. Và tôi được sự giới thiệu của ông Cố vấn nên tôi vào Sài Gòn trình diện Tổng Thống Ngô Đình Diêm., vì tôi tin tưởng rằng Tổng Thống chắc chắn hiểu được những người đi tham gia kháng chiến. Và tôi đã nghĩ đúng, vì khi gặp mặt Tổng Thống, sau khi nói rõ về mình và trình bày ý nguyện của tôi, thì Tổng Thống dạy rằng:
Tôi đã hiểu được chú em, bây giờ đáng lẽ ra tôi trả lại em quân hàm Trung tá, vì ngoài đó có cấp Thượng tá, Nhưng thôi vì danh dự Quốc Gia em hãy nhận quân hàm Thiếu tá. Tôi xin được ra chiến đấu, Nhưng Tổng Thống bảo:
Không được, hãy về đoàn tụ với gia đình trước khi nhận công tác. Và Tổng Thống ban thưởng tôi ba trăm ngàn đồng từ tay của Tổng Thống".
Ông trần Quốc Dân trở về Đà Nẵng, sau một thời gian ngắn ông mua một căn nhà tại đường Trần Cao Vân và cuới vợ. Rồi ông được làm việc tại Bộ Công Dân Vụ.
Một năm sau, Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bọn đâm thuê, chém mướn giết chết. Là một người cứng cỏi, Nhưng ông Dân đã rơi nuớc mắt, ông kêu lên:
"Thế là hết! Tổng Thống không còn nữa, thì sẽ không còn ai hiểu tôi ngoài Tổng Thống".
Vài tháng sau ông tâm sự với người thân:
"Tôi chán nản trước nạn kiêu binh và kiêu tăng ngày càng lộng hành trên đất nuớc, chắc tôi sẽ xin xuất ngũ".
Tôi không nhớ rõ ngày tháng, Nhưng sau đó ông đã xin xuất ngũ và cộng tác với cụ Vũ Hồng Khanh. Chức vụ cuối cùng VNQDĐ của ông là một trong bốn Phó chủ tịch Thành bộ Đà Nẵng.
Ngày 24-03-1975, trong lúc ông Trần Quốc Dân chuẩn bị đưa gia đình đi di tản, thì bất ngờ hai ông: Đại đức Thích Như Ký, Tổng thư ký Giáo hội Tăng già Quảng Nam-Đà Nẵng cùng Huỳnh Phổ, cư sĩ Chánh đại diện Giáo hội Phật giáo quận 2, Đà Nẵng (cả hai đều là cố vấn của LLHG Thị bộ ĐN) dắt theo một đám "Thanh niên Phật tử" có vũ trang đến nơi (sau này tất cả trở thành công an VC). Hai người này vào nhà ông Dân, Thích Như Ký nói:
"Chúng tôi Ban lãnh đạo Lực luợng Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng, mời ông lên chùa tỉnh Giáo hội để cùng làm việc, ông hãy tin tưởng vào chúng tôi và ông sẽ có một chỗ đứng trong lòng lịch sử".
Nói là "mời" Nhưng đám thanh niên Phật tử đứng sau lưng hai ông, tên nào cũng lăm lăm tay súng. Không còn cách nào khác, ông Dân đành phải theo chúng lên chùa.
Ông Dân đi rồi, gia đình biết ông sẽ gặp nguy, nên vợ ông dắt hai đứa con thơ của ông bà đến chùa Pháp Lâm tức chùa Tỉnh Giáo hội Phật giáo Quảng Nam-Đà Nẵng để xin gặp chồng; Nhưng đội An ninh Phật tử chặn ngay ở ngoài cổng không cho vào. Vợ ông Dân khóc lóc, van lạy thế nào cũng không được, nên đành dắt hai con trở về.
Ngày 30-03-1975, khoảng 10 giờ sáng, LLHG Phật giáo đưa ông Dân từ chùa Pháp Lâm đến nhà giam Kho Đạn ở số 15, đường Đào Duy Từ, Đà Nẵng. Lúc giải giao, chúng đã trói hai tay ông ra sau, còn tròng thêm một vòng thòng lọng lên cổ, cách trói này giống như chúng đã trói các vị QCCVNCH, trong cuộc bạo loạn bàn Phật xuống đường, vào mùa hè 1966; khi áp giải các vị nói trên đến chùa Phổ Đà. Bởi cách trói này, nếu nạn nhân bỏ chạy, thì sợi dây sẽ tự thắt cổ lại mà chết. Như thế, vẫn chưa đủ, mà đội "An ninh Phật tử" còn cầm súng đi kèm hai bên. Thấy vậy, đồng bào Đà Nẵng đã gọi chúng là "Ủy ban Áp giải".
Ngày 03-04-1975, khoảng 21 giờ tối, Nguyễn Chon, tướng VC. Đến nhận ông Dân tại nhà giam Kho Đạn. Sáng hôm sau, người ta phát hiện xác chết của ông Dân đã chết, xác được bỏ vào Nhà Vĩnh Biệt của Quân Y Viện Duy Tân ĐN, trên thân thể của ông có nhiều vết đạn.
Chúng tôi xin nhắc lại. Năm 1962, ông Dân là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sao Vàng, thì Nguyễn Chon là Trung đoàn phó. Sau khi ông Dân bỏ đơn vị trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia, thì Nguyễn Chon đã thay thế ông Trần Quốc Dân làm Trung đoàn trưởng. Đến 1975, Nguyễn Chon lên tướng. Như vậy, cho chúng ta thấy, một mặt Phật giáo đã bắt ông Trần Quốc Dân đem giam trong chùa Pháp Lâm. Mặt khác ra lệnh cho Thích Minh Tuấn đem xe ra tận đèo Phú Gia để rước Sư đoàn Sao Vàng của Nguyễn Chon (tướng VC), rồi sau đó giao ông Dân cho Nguyễn Chon xử bắn, theo chỉ thị của VC một cách rõ ràng không thể chối cãi.
Sau khi ông Dân chết, bọn "An ninh Phật tử" đã hướng dẫn VC, xông vào nhà ông Trần Quốc Dân dùng bạo lực đuổi vợ con ông ra khỏi nhà, mà chúng nói là "Nhà của Diệm".
Vợ ông Dân chỉ được ôm mấy bộ áo quần và dắt các con ông bà về nương tựa với gia đinh tại chợ Tân Lập, Đà Nẵng.
Những người đã chết dưới bàn tay tàn bạo của "Lực luợng An ninh Phật giáo Ấn Quang":
Tối 29-03-1975, Đội "An ninh Phật giáo" Đà bắn chết bảy người tại quận 3 Đà Nẵng. Trong số này chúng tôi biết mặt, biết tên bốn người, đó là các ông:
1- Hồ Hân, quê Quảng Ngãi, nhà ở An Thị, An Hải Bắc, nguyên Trưởng ban Thẩm vấn Ty Cảnh sát Quốc gia, thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Năm 1964, ông bị Phật giáo bắt đánh về tội "Dư đảng Cần Lao".
2- Nguyễn Phận, nhà ở An Tân, An Hải Bắc, nhân viên ban 2 Chi khu quận 3, đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, thuộc Khu đảng bộ Yên Bái.
3- Phạm Lý, quê Tứ Câu, Thanh Thủy, Điện Bàn, Quảng Nam, nhà ở An Cu 3, An Hải Đông, công nhân sở Mỹ, đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cả hai vị nói trên đều trực thuộc Trung ương Pháp định do cụ Vũ Hồng Khanh lãnh đạo.
4- Riêng ông Bùi Ngọc Cang, Phường trưởng Phường An Hải Bắc. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa ông là nhân viên phòng 2, Thị đoàn Bảo An Đà Nẵng. Năm 1964, ông bị Phật giáo bắt đánh về tội "Dư đảng Cần Lao".
Lúc "Lực luợng An Ninh Phật giáo đến nhà, vợ ông Cang ra mở cửa. Vừa thấy mặt ông Cang là một tên Đà bắn xả vào người ông liền mấy phát. Ông Bùi Ngọc Cang gục chết ngay giữa nhà, trước sự kinh hoàng của vợ con; bà Cang ngất xỉu, các con ông gào thét lên kêu cứu, còn "Đội An Ninh Phật Giáo lạnh lùng bỏ đi ra!!!
Cùng bị bắn với bốn vị kể trên, còn có ba người nữa. Tôi nhớ một người tên Mua, một người tôi quên tên cả hai người này đều là người An Hải Đông, quận 3 Đà Nẵng, là Cán bộ Liên hiệp Nghiệp đoàn lao công, đảng viên Đảng Công Nông do Chủ tịch Trung ương Trần Quốc Bửu lãnh đạo; và một người khác là nhân viên Cảnh sát, người Quảng Trị (chúng tôi cũng quên tên) đã bị bắn chết ngay trước Trại Ngô Quyền, An Hải Bắc, quận 3. Sau khi chết được đồng bào chôn cất ngay tại chỗ. Cho đến trước ngày vuợt biển chúng tôi vẫn còn thấy nấm mộ của người này tại đó, đồng bào vẫn thường đến thắp hương cho nấm mộ vô chủ này. Không biết bây giờ có dời đi nơi khác hay không?
Ngoài ra, vào buổi chiều 29-03-1975, khoảng 19 giờ, vì không lên tầu di tản được, tôi trở về nhà, khi xe tôi chạy đến ngã ba Huế, bỗng thấy một đám đông vây quanh trước một căn nhà ở góc phía trái thuộc phuờng An Khê, quận 2, Đà Nẵng làm kẹt xe. Tôi phải dừng lại, trước mặt tôi là một lũ "An ninh Phật giáo" Đang đằng đằng sát khí trực chỉ vào một căn nhà khá khang trang, đang đóng cửa, bọn này la hét:
"Tất cả mọi người ở trong nhà phải đều ra ngoài hết, nếu không thì chúng tao sẽ đốt nhà".
Sau một hồi lâu không thấy động tĩnh; tôi nhận thấy trên khuôn mặt của đồng bào ai cũng đều lo sợ. Có lẽ ở gần nhà nên họ biết về những người trong nhà này. Trong lúc đồng bào đang lo lắng, thì bỗng có hai người đàn ông khoảng chưa tới ba mươi tuổi đã mở cánh cửa ở bên hông trái của căn nhà bước ra. Nhưng thật bất ngờ là khi hai người này vừa bước xuống chưa hết bậc tam cấp; thì bọn "An Ninh Phật Tử" liền nổ súng bắn xả vào hai người này. Cả hai vị đều gục chết trên vũng máu, thân thể nằm vắt ngang nửa trên nửa dưới của bậc tam cấp nơi thềm nhà của họ. Thấy vậy, tôi mới hỏi thăm đồng bào ở đó và tôi được biết: hai vị đó là hai anh em ruột và đều là nhân viên Cảnh Sát.
Trước cái chết của hai vị này, đồng bào đã khiếp đảm vội giải tán ngay, ai về nhà nấy, tôi cũng phải rời hiện trường lập tức. Nhưng cho đến bây giờ và mãi mãi, tôi vẫn không bao giờ quên được hình ảnh của hai vị cũng như căn nhà của họ, tôi vẫn tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại quê hương để tìm cho ra tên họ của những người đã chết một cách tức tuởi và oan uổng dưới bàn tay tàn ác của Phật giáo Ấn Quang; bởi tôi không muốn tên tuổi của họ sẽ bị đi vào quên lãng.
« Ủy ban lãnh đạo Lực luợng hòa hợp, hòa giải dân tộc thị bộ Đà Nẵng »:
Người đứng đầu cái Ủy ban nầy là La Thành Tỵ, một tên tàn ác đã từng ra tay sát hại đồng bào trong cuộc tấn công phuờng Thanh Bồ - Đức Lợi, làm Chủ tịch LLHHHG Thị bộ, trụ sở được đặt tại chùa Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm Đà Nẵng, nơi trụ trì của Thượng tọa Thích Quang Thể, Chánh Đại diện Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng.
Chúng tôi vẫn nhớ, bắt đầu từ ngày 01/04/1975, sau khi đã có công ra tận vùng giặc đón VC vào thành phố, LLHHHG liên tiếp từng ngày cho xe chạy khắp đường phố dùng loa phóng thanh kêu gọi:
« Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng. Yêu cầu tất cả ngụy quân, ngụy quyền, đảng phái chính trị thuộc chế độ Sài Gòn, hãy mau mau tập trung về chùa Pháp Lâm, tức chùa tỉnh giáo hội giao nộp vũ khí và trình diện. »
Đối với Quân, cán, chính VNCH đều chưa biết số phận mình sẽ ra sao, khi nghe lời kêu gọi đó họ đã đến « chùa » để trình diện.
Một điều mà chắc nhiều người còn nhớ, là lúc chạy giặc đa số sĩ quan vứt bỏ súng, khi đến chùa trình diện không có súng đã bị La Thành Tỵ, một trong những tên sát thủ trong cuộc tấn công hai Phường Thanh Bồ - Đức Lợi, 24-8-1964. Lúc này là Chủ tịch LLHHHG thị bộ Đà Nẵng, cùng lũ lâu la trong cái thị bộ này, lớn tiếng la lối, nạt nộ đủ điều:
« Các anh phải giao nộp súng ngắn, vì sì quan phải có súng ngắn, các anh giữ súng lại để tìm cách chống phá cách mạng à? Không có súng ngắn chúng tôi không cấp giấy chứng nhận đâu".
Vậy là các vị sĩ quan này phải về đi tìm súng, Nhưng súng còn đâu nữa mà tìm, bởi lúc hỗn loạn xảy ra, La Thành Tỵ đã ra lệnh cho thanh niên Phật tử phải đi thu nhặt hết đem về chất trước sân chùa. Nhưng có vị đã đi đến những hang cùng, ngõ hẻm tìm được súng, có vị tìm được cả chục khẩu súng như M.16, R.15... vác lên chùa. Trong số đó, tôi biết có một người là Thiếu Tá Đỗ Công Hào, Thuộc Tiểu đoàn 10, Chiến Tranh Chính Trị, cũng ôm một bó súng, ông yên tâm đem vào chùa; Nhưng không ngờ khi nộp súng ông lại càng bị La Thành Tỵ la hét càng to hơn nữa:
" Các anh có đem hàng trăm súng dài cũng không được, vì Sĩ quan thì phải giao nộp súng ngắn, các anh phải nộp súng ngay, không thì đừng có trách".
Đến nuớc này, thì các vị không có "súng ngắn" chỉ còn có một cách là về nhà đem tiền lên chùa để đưa cho "Lực Luợng An Ninh phật Giáo" đám này hễ ai có tiền thì chúng lấy những cây "súng ngắn" trong cái đống súng ở trước sân chùa trao cho, để nộp và để đổi lấy cái "Giấy chứng nhận trình diện" của "Thị Bộ Hòa Hợp-Hòa Giải". Thiếu tá Đỗ Công Hào cũng phải đem tiền mua súng. Sau đó, ông đã phải vào nhà tù "cải tạo" T.154, đến gần mười năm sau khi đã bị què một chân mới được ra tù. Và bây giờ, dù đã trải qua những năm dài bị hành hạ, đọa đày, nhưng Thiếu tá Đỗ Công Hào vẫn còn giữ nguyên được cái cây... súng ngắn. Chẳng biết bây giờ bọn Hòa hợp-Hòa giải Phật giáo có còn muốn đòi Thiếu tá Đỗ Công Hào phải trình ra cái cây... súng ngắn nữa không???
Việt Cộng trả công cho "Lực luợng Hòa hợp Hòa giải Phật giáo Ấn Quang":
Trở lại với cái gọi là LLHHHG, sau khi Quân, cán, chính VNCH Đà giao nộp vũ khí, thì trước sân chùa một đống súng cao như núi; thì Lực luợng Hòa hợp - Hòa giải đã đến Tòa Thị Chính mời "Ủy ban Quân quản" đến nhận súng. UBQQ cử Hoàng văn Lai, ủy viên an ninh (sau Lai là Đại tá Trưởng ty công an QN-ĐN) đến chùa Pháp Lâm, Lai đứng ở sân « chùa » dằn từng tiếng:
« Các anh hãy trả lời: Cách mạng chiến thắng hay Phật giáo chiến thắng? Hòa giải là cái gì? Mỹ, ngụy bỏ chạy, chúng tôi tiếp thu chớ có có ai đánh đâu mà hòa giải, còn súng, chúng tôi không cần, cho các anh đấy!!!".
Bấy giờ đến luợt « Ban lãnh đạo hòa giải » lạy Hoàng văn Lai để y chở đống súng đi, vì để đống súng nằm hoài ở sân « chùa » thì … không tiện.
Sau đó « Ủy ban quân quản » ra lệnh như sau:
“- Sĩ quan trình diện tại số 03 Duy Tân.
- Ngụy quyền trình diện tại số 12 Bạch Đằng.
- Đảng phái chính trị trình diện tập thể tại số 09 Gia Long”.
Có người nghĩ rằng đã có giấy chứng nhận của « Lực lượng Hòa hợp, Hòa giải Phật giáo » nên không đi trình diện nữa. Nhưng nhiều vị đã bị bắt vì không có giấy chứng nhận của "Ủy ban quân quản", có người xuất trình giấy chứng nhận của « LLHHHG » thì bọn an ninh nói:
« Giấy chứng nhận của hòa giải hãy bỏ vào sọt rác vì không có giá trị, chỉ có giấy chứng nhận của ủy ban quân quản, có chữ ký của ông Hoàng văn Lai mới có giá trị".
Cuối cùng Quân, Cán, Chính VNCH ở thành phố phải đi trình diện hai lần, Nhưng may là lần sau không bị đòi nộp súng ngắn nữa!!!
Bây giờ đến lượt « cách mạng thưởng công » cho « Lực luợng hòa giải:
Qua sự thanh lọc, một số đông bị rớt, riêng La thành Tỵ được tiếp tục làm việc trong « Mặt trận tổ quốc » hiện nay La Thành Tỵ là « Trưởng ban hướng dẫn gia đinh Phật tử Quảng Nam - Đà Nẵng ».
" Chính quyền Phật Giáo":
Một điều, hơn ai hết chính LLHG Phật giáo chắc khó quên, ấy là trong thời gian hơn một tháng từ 20/03/1975, LLHG đã nổi lên cướp chính quyền phường, khóm xã, thôn, bởi chính quyền cũ có người đã di tản, còn những người kẹt lại vì thấy những bộ mặt đằng đằng sát khí của những « ông » hòa giải nên chẳng ai dám nói gì. Họ cũng tự xưng là Phường trưởng, Xã trưởng, Thôn, Khóm trưởng, đã làm mưa làm gió, bắt giết người, lập tòa án nhân dân đấu tố nhiều người đến 29/03/1975, VC vào thành phố rồi, chúng cũng không hề nói gì mà còn vui vẻ bắt tay « các ông » hòa giải gọi là « đồng chí ». Nhưng sau ngày 30/04/1975, Việt cộng mới yêu cầu các khuôn hội bàn giao chính quyền cho chúng. Điều này đã làm « Hòa giải Phật giáo » bị mất mặt trước dân chúng, nên « Chính quyền Hòa giải » nhất định không chịu bàn giao, vì đã nắm quyền hơn một tháng rồi, giết người chẳng ít, bắt giam cũng nhiều ( như tôi đã viết ở bài trước). Nên chính quyền hòa giải đòi VC phải hợp thức hóa cho họ trở thành những cán bộ lãnh đạo phuờng, khóm, xã, thôn vì đã có công lao đưa xe đi đón bộ đội Bắc Việt vào thành phố.
Cuối cùng Việt cộng tổ chức một cuộc mít-tinh tại Đài phát thanh Đà Nẵng, trong buổi mít tinh ban tổ chức Đà giới thiệu tên Trần Thận, Thường vụ tỉnh ủy Quảng-Đà lên phát biểu nhu sau:
« Sở dĩ có cuộc mét-tinh hôm nay là do sự đòi hỏi của Phật giáo. Tôi nhấn mạnh là Phật giáo chớ không có hòa hợp, hòa giải chi hết á. Vì cái chiêu bài hòa hợp, hòa giải là chỉ do Phật giáo tổ chức ra để lừa bịp với chế độ Sài Gòn mà thôi. Chúng tôi công nhận Phật giáo Ấn Quang đã có công đóng góp với cách mạng đánh đổ Mỹ- ngụy. Nhưng, đó là nghĩa vụ công dân chớ không vì thế mà Phật giáo đòi cầm quyền. Hiện nay, còn có một số phuờng, khóm, xã, thôn thuộc các khuôn hội còn nắm giữ không chịu bàn giao cho ủy ban nhân dân các địa phương. Phật giáo nên biết, ngày xưa ông Lý Vạn Hạnh là cha ruột ông Lý Công Uẩn nên Phật giáo muốn làm gì thì làm, còn hiện nay ông Đôn Hậu không phải là cha của đồng chí Lê Duẩn, và chính quyền cách mạng chứ không phải là triều Lý. Vậy chúng tôi yêu cầu Phật giáo phải khẩn trương bàn giao gấp, nếu chậm trễ chúng tôi sẽ có biện pháp… ».
Nói đến đây, y nổi nóng vung tay hét:
« Nay đất nước đã có độc lập tự do rồi mà không lo tu thân, tăng gia sản xuất để góp phần xây dựng đất nuớc, mà cứ đòi cầm quyền! Phật giáo lấy tư cách gì để đòi cầm quyền? Ai cho cầm quyền? Phật giáo chỉ có cầm …cầm … cầm… »
Bỗng nhiên có tiếng cười nổi lên, nhiều bà cuời lớn quá khiến tên Thận phải khựng lại, rồi không biết phải nói tiếp những gì nên y nói đại:
« O … cầm … cầm … cầm …cái gì cũng được Nhưng không được cầm quyền".
Thích Đôn Hậu bắt buộc đồng bào phải đi diễn hành mừng sinh nhật Hồ Chí Minh:
Ngày 18/05/1975, Thích Đôn Hậu chỉ thị tỉnh giáo hội Quảng Nam - Đà Nẵng và Thị bộ Hòa giải tổ chức sinh nhật Hồ Chí Minh tại chùa Pháp Lâm. Trước khi tổ chức sinh nhật, các khuôn hội tại các quận lân cận và thành phố Đà Nẵng Đà ra lệnh cho đồng bào phải tập trung về « chùa » Phổ Đà « để bắt đầu cuộc diễn hành chào mừng chiến thắng và dự sinh nhật của bác Hồ vị cha già của dân tộc ». "Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải " đã bắt đồng bào ở các quận như: Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An, Hòa Vang… phải đi bộ, mọi người phải tay cầm đèn gió để đem xuống thì thắp sáng lên cho nó ra vẻ « phấn khởi hồ hởi » và gói cơm đem theo để ăn dọc đường vì có nơi phải đi bộ một ngày một đêm mới tới Đà Nẵng. Trước khi đi, các khuôn hội đã tập dượt cho đồng bào hô khẩu hiệu như sau: Khi những « ông » hòa giải tay cầm loa phóng thanh, mồm hô:
« Hoan hô bộ đội giải phóng miền nam anh hùng.» thì đồng bào phải hô lớn « hoan hô …hoan hô… » còn khi mấy « ông » hô: « Đả Đảo đế quốc Mỹ và ngụy quyền tay sai bán nuớc", thì đồng bào phải hô « đả đảo…đả đảo… »
Nhưng sau một đêm ngày đi bộ vì mệt và buồn ngủ, nên đồng bào chẳng còn nhớ những gì khác cả, mà chỉ còn nhớ bốn tiếng « hoan hô » và « đả đảo » mà thôi. Tôi vẫn nhớ như in vào đêm ấy đã hơn một giờ sáng ngày 19/05/1975. Lúc đó tôi đang ngủ, thì bỗng nghe tiếng chân người đi, tiếng ồn ào, tiếng loa phóng thanh cùng với tiếng hô « hoan hô…đả đảo… » Bây giờ mỗi lần nhớ lại chuyện đêm ấy, nếu có ai thì tôi kể lại để cùng cười, còn nếu chỉ mình tôi, thì tôi … cuời một mình.
Đêm ấy, khi đoàn người đã bị các «ông» hòa giải hành hạ đang đi qua nhà, tôi đã vừa cảm thương đồng bào vừa không nén được tiếng cuời, khi nghe mấy «ông» hòa giải tay cầm loa phóng thanh mồm la ơi ới:
«Bà con ơi! ai rớt gói cơm?» thì có tiếng của đồng bào đáp trả: « hoan hô... hoan hô… »
Nghe vậy mấy « ông » hòa giải lại la lớn:
« Bà con ơi! gói cơm ai rớt? »
Đồng bào lại hô « đả đảo … đả đảo …». Cứ tiếp tục như vậy, một hồi lâu, đồng bào cứ mắt nhắm, mắt mở cũng chỉ biết có « hoan hô » với « đả đảo » cái... gói cơm.
Cuối cùng, các « ông Hòa giải» tức quá mới đi tới gần từng nhóm người, tay đập mạnh vào người họ mồm hét:
«Gần sáng rồi, tỉnh táo đi, nghe chúng tôi nói đây nè ai… làm… rớt… gói… cơm… thì nhận lại, chứ nghe cái gì đâu mà cứ hoan hô với đả đảo hoài…vậy hả? » Lúc đó đồng bào mới biết là có « sự cố ».
Nên biết là lúc đó, đồng bào rất sợ Hòa giải Phật giáo, các khuôn hội buộc mỗi gia đình ít nhất phải có một người phải cầm đèn gió đi diễn hành. Tại thành phố Đà Nẵng, để cho nó có « hệ thống » trước khi diễn hành đến « chùa » Pháp lâm, các khuôn hội dùng loa phóng thanh kêu gọi:
" Yêu cầu tất cả đồng bào hãy tập trung về tại « chùa » Phổ Đà ở số 340 đường Phan Châu Trinh ĐN, tức Phật học viện Trung phần, để bắt đầu cuộc diễn hành trên khắp thành phố suốt đêm để mừng cách mạng chiến thắng, cho đến sáng ngày 19-05, trước khi đến chùa Pháp Lâm tại số 500, đường Ông Ích Khiêm để mừng sinh nhật Hồ Chủ tịch vĩ đại"
Trở lại với cuộc diễn hành hay đúng hơn là Hành diễn. Sau khi đã thấy những sự kiện kể trên, tôi nghĩ chờ Trời sáng sẽ xuống chùa Pháp Lâm xem thử mọi việc ra sao.
Khi đến đến « chùa » Pháp Lâm, tôi cùng vào với đồng bào diễn hành. Chúng tôi đã chứng kiến « Thượng tọa » Thích Đôn Hậu ngỏ lời nói:
"Yêu cầu đồng bào từ nay hãy lập tại nhà một bàn thờ thật trang trọng, phải có ảnh bác Hồ kính yêu để thờ vị cha già của dân tộc, ảnh đang có tại các chùa, đồng bào hãy đến để mua đem về mà thờ ».
Tiếp theo Thích Đôn Hậu (dân Đà Nẵng thường gọi là Thích Đoản Hậu hoặc Thích Đâm Hậu), giới thiệu một « cán bộ cách mạng lên nói chuyện với đồng bào » khi người này lên nói chuyện đã tự giới thiệu tên là Hoàng Châu Ký, Giám đốc Sở Thông tin văn hóa khu trung, Trung bộ.
Hoàng Châu Ký đã ngỏ lời khen ngợi có đoạn như sau:
« … Quý Thượng tọa, đại đức và quý vị thuộc lực luợng hòa hợp hòa giải, là những người đã có công với cách mạng, tham gia đánh đổ Mỹ- ngụy, thật là đáng ngợi khen. Trước đây, quý vị nói là bị Mỹ-Ngụy áp bức, kềm kẹp không có tự do, nay cách mạng đã giải phóng, không còn ai bị áp bức nữa. Từ nay, quý vị tu sĩ đều được tự do ở lại chùa tu hành. Ngoài ra, cách mạng sẽ giúp đỡ bằng cách tạo điều kiện cho có đất đai để quý vị được tự do làm chủ, tự do lao động sản xuất, để góp phần xây dựng đất nước, và để được vinh dự là không còn ăn bám vào thiên hạ nữa.
Còn đối với những người không phải tu hành, tôi biết ở đây có nhiều người có bằng cấp cao như tiến sĩ, bác sĩ, giáo sư, kỹ sư … Các anh sẽ được trọng dụng trở lại, làm việc theo nghành nghề chuyên môn, bác sĩ trở lại bệnh viện, giáo sư trở lại trường học … Các anh sẽ được bình đẳng như những giáo sư, bác sĩ, kỹ sư cách mạng miền Bắc. Nghĩa là, hàng tháng họ được bao nhiêu ký rau muống, bao nhiêu mì chính (bột ngọt)… thì các anh cũng được lãnh bấy nhiêu. Ngoài ra, muốn cải thiện, nếu ở thành phố không có đất, chúng tôi sẽ giúp đỡ cho các anh có điều kiện để tự do nuôi heo, tự do nuôi gà, tự do nuôi vịt, tự do …tự do... ».
Hoàng Châu Ký còn nói thêm nhiều thứ tự do nữa, Nhưng sao tôi thấy trên từng khuôn mặt của những « vị trí thức » này bỗng trở nên nhợt nhạt khi biết mình đã có đầy đủ những thứ … tự do!!!
Trong lúc y còn nói chuyện, Nhưng chúng tôi không thể đứng nhìn những đồng bào tội nghiệp của mình, mà chúng tôi biết chắc chắn là họ phải nằm đường, ngủ chợ, lê lết một ngày, một đêm nữa mới trở về đến nhà của họ, nên chúng tôi phải ra về.
"Trại Cải Tạo T.154":
Đến đây, tôi xin nói qua về trại cải tạo T.154, là hậu thân của trại cải tạo Đá Trắng. Nhân đây, vì tôi vốn là dân gốc tại làng Thạnh Bình, Tiên Phước, Quảng Nam; từ nhà tôi đến nhà cụ Huỳnh Thúc Kháng chỉ cần đi bộ, tôi biết rất rõ về trại này, nơi Bác ruột của tôi Đà bỏ mình tại trại vào năm 1964, nên tôi phải nói rõ về cái tên T.154. Bởi khi quận Tiên Phước mất vào ngày 13/03/1975, thì VC Đà cấp tốc khởi công phá bỏ trại Đá Trắng vốn ở dưới hầm, để thành lập trại tù mới lớn hơn, từ lúc đầu VC đã bắt thanh niên quận Tiên Phước làm công việc xây dựng bằng nhà tranh vách đất, đến ngày 15/04/1975, Việt cộng cho « khánh thành » và trại Đá Trắng chính thức đổi tên thành "Trại cải tạo T.154", để rồi các vị ai đã vào đấy, thì ít có vị nào ra trại trước muời năm, có vị đã bỏ mình tại trại vì bị hành hạ đến bệnh tật không được điều trị, có vị bị xử bắn, bị bỏ đói chết trong nhà biệt giam.
Sau đó, khi đưa tất cả các vị QCCVNCH đã trình diện tại « chùa » Pháp Lâm vào đây, VC lại bắt các vị tù trong trại tự xây nhà tù mới, mái lợp ngói, nền lát gạch. Trại chính là Trại 1, bên nam gồm có 12 (mười hai) nhà, mỗi nhà có bốn phòng, mỗi phòng có hai dãy sạp gỗ dài song song và một sạp chiếc, mỗi sạp chứa được trên dưới 20 ( hai mươi) người. Tất cả các phòng, các cánh cửa đều có gài một thanh sắt dài có gắn khóa sắt, để mỗi tối sau một ngày lao động, mọi người tù phải vào phòng để một công an gọi là « Cán bộ trực trại » điểm danh xong rồi khóa cửa lại. Nhưng chưa đủ mà còn có một nhà Biệt Giam, trong nhà nầy có những thanh sắt gài hai chiếc cùm sắt xuyên qua Tường gạch kiên cố, để cùm hai chân người tù, phòng chỉ bốn mét vuông, không có cửa sổ, chỉ có một lỗ thông hơi hình tròn đường kính khoảng 08 cm (tám phân), bên ngoài là cánh cửa sắt có gài một thanh sắt có khóa sắt. Trong trại còn có nhà cấp duỡng ( nhà bếp) một trạm xá. Ngoài ra, quanh trại VC còn xây thêm các phân trại như các trại: Trại Thôn Năm, Thôn Tư, Na Son, Nà Thao, Lò gạch, Nhà chăn nuôi, Nhà máy ly tâm sản xuất đường (chỉ phân phối cho công an, còn tù cải tạo thì chỉ được nhìn mà thôi). Đầu năm 1979, vì đánh nhau với Tàu nên VC chuẩn bị đưa một số vị tù ra Bắc, đã phải ngưng lại, thay vào đó VC đã lập thêm nhà biệt giam 02.79 (Đồng Mộ). Rồi thay vì đưa ra Bắc; vào đêm 03-05-1979, các vị này đã bị trói dính chặt vào nhau. Sau đó, các vị đã bị công an vũ trang dao kề cổ, súng kề lưng, đưa vào nhà biệt giam 02.79 (Đồng Mộ) trong một đêm khuya tối Trời. Trong số này có bốn vị tu sĩ đó là quý ngài: Linh mục Đặng Đình Canh, hiện nay quản nhiệm giáo xứ Thanh Bồ, Đà Nẵng, Linh mục Vũ Dần, hiện nay quản nhiệm giáo xứ Phú Thượng, Đà Nẵng, Linh mục Nguyễn Đình Ánh. Riêng Linh Mục Tống Kiên Hùng sau khi ra tù ngài trở về giáo xứ Tam Tòa, Nhưng công an QN-ĐN đã trục xuất ngài vào miền Nam, rồi ngài sang Hoa Kỳ, hiện nay ngài đã vào dòng tu kín tại Hoa Kỳ, và Mục sư Dương Đình Nguyện, hiện cũng đã tiếp tục hầu việc Chúa ở Hoa Kỳ.
Ngoài các trại tù nam, VC cũng lập thêm phân Trại Nữ gồm có năm nhà, có nhà cấp dưỡng, trạm xá riêng, các phòng cũng kiên cố như trại nam. Nhưng mỗi khi nữ tù « vi phạm nội quy » thì công an trại nữ lại "Lập biên bản" để đưa vào cùm trong nhà biệt giam của trại nam, vì trại nữ không có nhà cùm biệt giam. Ví thế, nữ tù vì mắc cỡ nên rất sợ bị vào nhà cùm ở bên trại nam; bởi bất kể một nữ tù nào chỉ cần có một giờ bị ôm áo quần đi vào nhà cùm ở trại nam, là cả hai trại nam - nữ tù đều biết tất cả.
Hai trại nam, nữ cách nhau một giòng suối nhỏ, « tuy xa mà gần, tuy gần mà xa » chung một hội trường để hai trại nam, nữ cùng học tập chính trị, hoặc họp toàn trại mỗi khi trong trại có nhiều người « vi phạm nội quy » hoặc xem văn nghệ vào dịp Tết, hay ngày 2/09, » nghệ sĩ » là các anh chị em đa số là các anh chị em thuộc Chiến Tranh Chính Trị cũ.
Nói đến nhà tù này, thật là kinh hoàng, khủng khiếp!!! Vì là nhà tù lao động chuyên về nông nghiệp, nên cả nam lẫn nữ tù đều phải làm những công việc vô cùng nặng nhọc. Hàng ngày, nữ tù chúng tôi thường đi làm chung với quý vị nhà 08 do Trung tá Nguyễn Văn Chuớc « Tự quản » (nhà trưởng) quý vị này đã từng qua nhà biệt giam 02-79 (Đồng Mộ) và nhà 10 do Thiếu tá Trương Quang Dõng làm nhà trưởng, ngày nào hai nhà này cũng thay phiên lao động bên nữ tù. Các anh đã thay trâu bò cày, bừa cho nữ cấy, gặt. Với chỉ tiêu chung, ba người một sào, bắt buộc phải đạt trong ngày. Ngoài ra phải leo lên đồi cao cuốc đất trồng sắn, mỗi ngày với chỉ tiêu vừa cuốc vừa trồng phải « đạt » 500 cây hom sắn, hay cuốc đất trồng mía, tỉa đậu, trồng khoai, lên rừng nam đốn củi, nữ vác xuống chất thành mét khối, cũng phải "đạt chỉ tiêu". Nói tóm lại làm việc gì cung phải « đạt chỉ tiêu » hết.
Nhưng không phải « đạt chỉ tiêu » rồi mà tối về phòng được ngủ sớm, mà tất cả chúng tôi, sau giờ ăn tối còn phải «làm tranh thủ» hái đậu phụng (lạc) cũng «chỉ tiêu» cho ba người đầy một thúng mới được về phòng, đặt lưng xuống chưa được bao lâu thì 06 giờ sáng phải thức dậy để bắt đầu một ngày lao động khác. Có khi vừa ăn tối xong, phải «tranh thủ» làm cỏ mía... Thôi thì đủ thứ «tranh thủ» không làm sao kể hết.
Chúng tôi vẫn nhớ, có những lần suốt ngày dầm mình dưới sình, lầy, tới ngực, tới bụng làm mồi cho đỉa; Nhưng vẫn "không đạt chỉ tiêu". Vì vậy, đến chiều về trại, chúng tôi đã bị phạt, bằng cách không cho tắm rửa. Những lần như thế, chúng tôi cứ khóc như mưa, chẳng làm sao nuốt nổi chén sắn độn cơm, cũng không sao ngủ được vì trên người còn dây dính những bùn lầy, hôi hám!!!
Chúng tôi cũng không bao giờ quên những năm tháng lao động bên các vị Quân, cán, chính VNCH, thuộc nhà 08 và nhà 10. Tôi vẫn nhớ mãi những ánh mắt đầy thương cảm và lo lắng của các anh, khi nhìn chúng tôi với những tấm thân yếu đuối, mà các anh chỉ nhìn thấy từ bụng, từ ngực nổi trên sình lầy, trong những ngày đông buốt giá, đến những ngày hạ nắng như thiêu đốt. Đôi chân của chúng tôi lúc nào cũng phải lần bước theo những cây đà, do chính các anh đốn từ trên rừng đem bỏ xuống ruộng. Các anh luôn luôn lưu ý đến chúng tôi, để khi nào nữ tù có ai lỡ trượt chân khỏi cây đà, thì các anh kịp thời nối cuốc, nối tay, kéo chúng tôi lên. Vì thế, có nhiều người rơi xuống ruộng, Nhưng không hề có một ai bị chết vùi thân dưới sình lầy cả
Nhưng với tôi, mặc dù bị tù đày. Tôi vẫn thấy mình có cái « may mắn » là « được » chứng kiến những trận đòn thù dã man, tàn bạo nhất mà công an trại đã giáng trên những tấm thân gầy yếu, trơ xương của nhiều vị tù, nhưng vì là một bài viết có hạn, nên tôi chỉ nói đến những trường hợp như sau đây:
-Thiếu tá Hồ Minh, ông đã bị « kỷ luật » cùm tay, chân, miệng, và ở phòng biệt giam. Chẳng những thế, mà ông còn bị công an trại dùng những khúc củi đánh đập nhiều lần, đến nỗi mỗi lần ông bị đánh, tù nhân chỉ nghe tiếng hét, tiếng rú của ông chứ không hề nghe tiếng ông nói thành lời. Một lần, tù nhân nghe tiếng mở cửa của thanh sắt phòng biệt giam. Họ thấy ông Hồ Minh bị hai tên công an vũ trang lôi ra khỏi phòng, rồi dùng những khúc củi đánh tới tấp lên người ông. Đau quá, ông bỏ chạy quanh khu biệt giam, lúc ấy, nhiều người mới nhìn thấy chiếc cùm đã không còn trên miệng của ông nữa, Nhưng ông không còn hét thành lời, mà chỉ có tiếng rú vô cùng man dại, đôi mắt vô hồn, nét mặt thất thần, có lẽ ông đã mất trí, cũng có thể vì chiếc cùm lâu ngày trên miệng đã làm ông không còn nói được nữa. Nhưng bọn công an vẫn đánh vì nói ông giả câm, chúng cứ tiếp tục đánh, buộc ông phải nói. Khi ông ngã sấp xuống mặt đất thì chúng không đánh bằng những khúc củi nữa, mà chúng thẳng chân giày đạp lên đầu, lên lưng ông, cho đến lúc ông nằm bất động, chúng mới cho « trật tự » trại khiêng xuống trạm xá trại 1. Nhưng đã quá trể, vì khi vào trạm xá, thì thân xác ông Đà lạnh ngắt tự bao giờ. Mọi người mới hay rằng bọn công an trại đã đạp lên cái xác chết của ông.
- Đại úy Nguyễn Phuợng, bị cùm bỏ đói cho đến chết. Khi chết rồi, mà đôi chân của ông vẫn còn trong đôi cùm sắt treo trên Tường, thân thể quắt queo trên nền gạch lạnh lẽo của phòng biệt giam tăm tối!!!
-Thiếu tá Nguyễn Xuân Giáo, cựu Trưởng ty Cảnh sát Quốc gia Quảng Nam (thời Đệ Nhất Cộng Hòa). Trước khi chết, ông đã bị hành hạ đến không còn nhìn ra được là con người nữa. Ngày ông chết trong nhà biệt giam, khi đưa ra ngoài, không biết là vô tình hay hữu ý, mà bọn công an đã cho người con trai ruột của ông cùng đồng tù là anh Nguyễn Xuân Đức khiêng xác đi chôn, mà vẫn không biết đó là cha ruột của mình. Cho đến khi huyệt mộ Đà lấp đất xong, tên công an trại ra lệnh cho « trật tự » trại mang tấm bảng gỗ đến và viết tên Nguyễn Xuân Giáo, đem cắm dưới chân mộ. Lúc ấy, anh Đức mới kinh hoàng, chết điếng ngã lăn xuống đất, ôm lấy nấm mộ của đấng sinh thành vừa lạy vừa kêu Trời. Nhưng Trời thì ở trên cao và xa quá, còn công an thì ở gần, nên chúng ra lệnh cho « trật tự » trại vực anh dậy và lôi về phòng. Trước cảnh Trời sầu, đất thảm ấy, tất cả tù nhân chỉ biết rơi lệ vì cảm thương và đau xót!!!
- Chúng tôi cũng đãà chứng kiến tại "Đồng Cừ", hôm ấy là ngày cấy lúa, bọn công an bảo Trung tá Không quân, anh Nguyễn Văn Đức nấu ăn, đến khi dọn cơm ra cho chúng, bỗng chúng nói anh rửa rau muống không sạch, là muốn đầu độc chúng, rồi mấy tên công an vũ trang đã dùng báng súng, dùng giày, đánh, đạp vào người anh đến ngã ngụy xuống mặt đất trước mặt Mục sư Dương Đình Nguyện và Giáo sư Đồng Sĩ Ninh, là hai vị tù chịu trách nhiệm đắp nước ruộng và đồi sắn tại "Đồng Cừ", cùng đông đảo tù cải tạo. Chúng tôi hết sức kinh hoàng và vô cùng đau đớn, nhưng không biết phải làm gì hơn là cúi mặt để dấu đi những dòng nuớt mắt cứ trào tuôn từ đáy lòng thương cảm, và cũng từ nỗi uất hận. Bởi, anh Đức đã lớn tuổi, mắt kém nhưng không có kính, nếu anh có rửa rau không được sạch thì đó không phải là lỗi của anh. Tại sao chúng không bảo những người tù khác mắt còn nhìn rõ hơn để nấu ăn cho chúng. Vả lại, chúng biết rõ là anh Nguyễn Văn Đức không có ý đầu độc chúng, Nhưng chúng muốn đánh anh vì lòng thù hận. Nên biết, bọn công an luôn luôn tìm một sơ hở nhỏ nào đó của tù cải tạo để có cớ mà đánh, đập, cùm kẹp để hành hạ trả thù mà thôi.
- Trung tá Nguyễn Tối Lạc, quận trưởng quận Đức Dục, người từng bị cùm cả tay, chân, có khi bị cùm cả miệng. Trước khi bị cùm miệng, ông đã xin Linh mục Vũ Dần, Linh Mục Đặng Đình Canh, Linh Mục Nguyễn Đình Ánh, Linh Mục Tống Kiên Hùng, truyền dạy Kinh Thánh cho ông, nên mỗi lần bị cùm miệng, nhưng còn hai tai nên qua cái lỗ thông hơi của phòng biệt giam, ông vẫn học thuộc hai câu Kinh Thánh mỗi ngày. Và nhiệm mầu thay, ông đã thoát chết. Bây giờ ông đã sang Hoa Kỳ theo diện tù cải tạo.
Người ta thường bảo khi cùng đường, sắp chết mới thấy Trời. Quả đúng như vậy, khi vào các nhà tù của Việt Cộng là đi vào tử lộ, và chính ở nơi ấy con người mới biết đến Đấng Toàn Năng.
- Ngoài ra, còn có nhiều vị bị xử bắn tại trại như Đại tá Nguyễn Văn Bình … Đặc biệt là Kỹ sư Trung úy Trần Quang Trân đã bị xử bắn vì tổ chức giải thoát tất cả tù nhân. Nên biết, ông Trần Quang Trân là một Kỹ sư điện tử, từng được tu nghiệp tại Nhật và Hoa Kỳ, ông được công an trại giao cho tất cả công việc bảo quản điện, đài trong trại, được tự do về thành phố Đà Nẵng mua phụ tùng các loại máy móc cho trại, ông cũng là một tay trống của đội văn nghệ trại, Nhưng ông không thể ung dung để huởng những ưu đãi của Việt cộng, không thể nhìn những người đồng cảnh ngộ bị đọa đày. Nên ông phải hành động, để rồi ông phải chịu chết thảm!!!
- Ngày ông Trần Quang Trân bị xử bắn, một buổi chiều khoảng 06 h 30 ngày 27/05/1982, khi cả hai trại nam, nữ đã ăn « cơm » xong. Trại nam đã điểm danh khóa cửa, nhưng trại nữ chưa điểm danh. Vì thế, chúng tôi còn rủ nhau đi quanh sân trại để « tâm sự ». Bỗng nhiên, chúng tôi thấy một tiểu đội công an vũ trang xuất hiện, chúng kềm ông Trần Quang Trân ở giữa và dắt theo bốn nam « trật tự » khiêng một chiếc quan tài, tất cả đang đi về hướng Hố Ông Hức, là nơi dành để chôn tù cải tạo. Riêng tôi, là thợ cắt, may được Âu-Việt phục, nên thỉnh thoảng công an trại bảo đi lấy số đo ở gia đình chúng để vào may trong trại nam, vì trại nam có bốn máy may, trại nữ không có, máy may chỉ dành để may áo quần cho công an, còn tù phải tự vá áo quần rách bằng những sợi nylon, tách ra từ bao cát mà ngày xưa thường dùng để làm hầm tránh đạn. Mỗi lần một « cán bộ » nào muốn nhờ tôi cắt, may, thì chính « cán bộ » ấy phải đích thân ra trại nữ xin phép « cán bộ trực trại » để nhận và cùng đi với tôi đến nhà, sau khi đo, đến ngày tôi vào trại nam để may công an cũng phải đi kèm, may xong, lại dắt tôi về trả cho « cán bộ trực trại ».
Vì vậy, lúc ấy tôi đang từ nhà của vợ chồng Phó giám thị Nguyễn Văn Bá và vợ là Nguyễn Thị Thanh Yên người Kỳ Hà, quận Lý Tín, Quảng Tín. Yên là « cán bộ y tế » Thời gian này Nguyễn Văn Bá đã lên Phân trại Thôn 05 để kiêm luôn chức Trưởng trại Thôn 05. Nhưng không hiểu vì quên giờ hành quyết ông Trần Quang Trân, hay vì tôi đo áo quần cho cả gia đinh nên bị chậm trễ giờ giấc. Nhà của vợ chồng tên Bá ở gần Hố ông Hức. Trên đường về trại có « cán bộ » Yên đi kèm, tôi đã nhìn thấy ông Trần Quang Trân bị bịt mắt và cùm miệng, vì sợ ông Trân có thể có lời nói bất lợi, hoặc hô khẩu hiệu, ngay như Trung tá Nguyễn Tối Lạc, khi bị kỷ luật cũng phải bị cùm miệng, bọn công an trong trại không bao giờ cho tù nói những lời mình muốn nói.. Ông Trần Quang Trân bị đưa đến Hố ông Hức.Vừa thấy tôi, mấy tên công an hét lớn, bảo tôi nhanh chân về trại, « cán bộ » Yên bảo tôi chạy ngay về trại, không được nhìn cái gì cả, còn y thị cũng chạy biến vào đám mía của nhà «Phó giám thị » Nguyễn Văn Tài và vợ là Trần thị Lệ cán bộ phụ trách hồ sơ tù cải tạo. Tôi lén nhìn ông Trân rồi cúi đầu đi thẳng. Khi về trại, tôi thấy mọi nữ tù đều khóc, vì họ cũng đã thấy, và đã biết những gì sẽ xảy ra!!! Khoảng nửa giờ sau, có mấy phát súng nổ. Mặc dù trừ bốn « trật tự » và đội công an hành quyết, không có một ai biết, hay thấy được giây phút cuối cùng của ông Trần Quang Trân, Nhưng nữ tù đều hiểu khi nhìn thấy chiếc quan tài khiêng đi bên cạnh ông, nên họ biết chắc chắn những phát súng đó là đã bắn vào ông Trân. Không cầm lòng được nữa, cả trại nữ khóc thét lên, tiếng khóc thấu Trời, làm bọn công an trên cơ quan nghe được. Vì thế, « cán bộ trực trại » tên Trịnh Thị Thu vợ của « giám thị » Huỳnh văn Hung người Bình Dương, Thăng Bình, Quảng Nam, đã xuống trại, y thị phùng mang trợn mắt hét chúng tôi, bảo tất cả vào phòng khóa cửa lại. Y còn nói: « Nếu các chị còn khóc tui sẽ cùm đầu hết ». Nhưng chúng tôi không sợ, vì cùm hết thì lấy ai ngày mai đi lao động.
Trong những ngày đi cắt bổi (cắt những cành lá trên ngọn để bỏ vào chuồng trâu, bò làm phân bón ruộng) quanh Hố ông Hức, tôi đã bốn lần lén lút đến gần ngôi mộ ông Trần Quang Trân. Ông được chôn riêng trên ngọn đồi, dưới chân mộ là một gốc cây cao, có bóng mát tỏa xuống chở che một nắm xương tàn, một linh hồn, mà lúc sinh tiền là một tâm hồn cao Thượng. Những ngày bị cùm kẹp trong phòng biệt giam, những vị tù bị cùm bên cạnh phòng của ông, vẫn thường nghe ông hát lên những Bài Thánh Ca với lời nguyện cầu cho đất nuớc, cho đồng bào, cho những người tù đồng cảnh ngộ. Mỗi lần viếng mộ ông, tôi chỉ vừa đi vừa nhìn, chứ không bao giờ dám đứng lại, vì tất cả tù nhân nếu ai đến thăm mộ ông mà bị chúng bắt được, sẽ bị vào nhà cùm biệt giam cả.
Tôi cũng biết chắc chắn, khi VC mở tòa án tại trại để tuyên án tử hình ông Trần Quang Trân, cũng nhu lúc xử bắn VC đều không cho thân nhân và vợ, con ông ở Xuân Hòa, Xuân Lộc, Đồng Nai được biết.
Nói về những vị đã chết trong trại tù còn nhiều lắm, khó có thể viết đầy đủ trên một trang báo. Nên tôi lại xin phép nữa để viết về một hòan cảnh thương tâm khác của một người, hay nói đúng hơn là của một gia đình đã bị VC đọa đày đến cảnh khốn cùng, nếu không có niềm tin nơi Đấng Tối Cao thì tôi chắc họ đã không làm sao vuợt qua được những đớn đau, nghiệt ngã, oan khiên mà đảng Cộng sản Việt Nam đã giáng cho gia đình ấy, đó là trường hợp của gia đình Giáo Sư Thượng Nghị Sĩ Bùi Văn Giải. Khi di cư vào Nam năm 1954, ông làm nghề dạy học, bà tảo tần buôn bán, tiết kiệm dành dụm tạo được một căn nhà tại phuờng Tam Tòa, đường Trần Cao Vân Đà Nẵng. Khi ông vào tù cải tạo, công an Đà Nẵng đa4 tịch thu căn nhà của ông bà. Bà đau buồn, ngã bệnh rồi mất ở tuổi đời 36. Ngày mất mẹ, các con ông và người thân đồng cầu khẩn VC cho ông về chôn cất vợ xong rồi tiếp tục vào tù, Nhưng VC vẫn không cho. Ông đã không được nhìn mặt người bạn trăm năm vào giây phút cuối cùng!!! Nhờ bà con giúp đỡ, các con ông chôn mẹ, trong lúc cha vẫn ở trong tù!!! Chỉ có Trời cao mới thấu được nỗi đau thương của các con ông Bùi Văn Giải khi vấn vành khăn tang khóc mẹ, cũng như nỗi đớn Đàu của ông Bùi Văn Giải ở trong trại tù "cải tạo"!!!
Những năm dài ở trong lao lý, Giáo Sư Bùi Văn Giải đã từng bị đưa vào nhà "Biệt giam 2.79" tức Đồng Mộ và nhà "Biệt giam Nhà Trắng" cùng với nhiều vị sĩ quan cao cấp và các vị cán bộ lãnh đạo cao cấp của các chính đảng. Khi bị bênh nặng Giáo sư Bùi Văn Giải phải vào bệnh xá Trại 1 (trại chính), khi xuất viện ông lao động ở tổ rau xanh sau trại nữ, thời gian này tôi vẫn thường thấy ông với mái tóc bạc phơ, tấm thân gầy yếu, Nhưng tiếng hát của ông qua những Bài Thánh Ca nghe vẫn vút cao như bay đến tận Trời xanh.
Ngày ra tù, theo lời Thầy, tôi đến thăm các con của Thầy. Được biết khi tịch thu nhà, công an Đà Nẵng nói là vì « nhân đạo » nên chừa lại một phòng trong căn nhà của ông bà chỉ bốn mét vuông, để các con ông ăn, ngủ, còn nấu nuớng thì phải nhóm bếp ngoài sân. Nhưng những ngày mưa và mùa đông thì phải dời bếp vào phòng, bốn đứa con ông bà phải ăn, ngủ chung với tro và khói bếp. Nhưng chưa đủ, công an còn buộc các con của Giáo Sư Bùi Văn Giải phải trả tiền nhà hàng tháng cho Ty nhà đất, vì căn nhà đã thuộc sự quản lý của nhà nuớc!!!
Với hoàn cảnh bơ vơ, cha ở tù, mất mẹ, các con ông phải bỏ học, đứa vá xe đạp, đứa làm thuê. Riêng Thu con gái út, là con gái yếu đuối lại còn nhỏ, nên phải làm nghề thêu, may mướn để góp phần trả tiền thuê cho chính căn nhà mà do mồ hôi, nuớc mắt của cha mẹ mình đãà tạo nên. Vì nếu không trả thì sẽ bị đuổi ra khỏi phòng, rồi phải lang thang đầu đường xó chợ. Sau 13 năm tù cải tạo, ông đã sang Hoa Kỳ và hiện đang là Chủ nhiệm Nguyệt san Về Bên Mẹ La Vang tại Portland, Hoa Kỳ.
Tạm thay lời kết:
Khi viết đến những dòng này, tôi bỗng thấy có hơi buồn; bởi chúng tôi biết có rất nhiều người đã biết, đã thấy những hành vi tàn ác của Phật Giáo Ấn Quang trong suốt bao nhiêu năm qua. Song cho đến giờ này cũng chỉ thấy xuất hiện một số ít bài viết về các biến cố như: Cuộc thảm sát tại Thanh Bồ - Đức Lợi, 24-08-1964- Cuộc Bạo Loạn tại miền Trung, mùa hè 1966, Cuộc Thảm Sát Tết Mậu Thân, 1968 và về ngày nước Việt Nam Cộng Hòa đã rơi vào tay của cộng sản Hà Nội: 30-04-1975. Nhưng, tất cả họ đã vì một lẽ nào đó, nên đều tránh né, không muốn hay không dám viết hết những sự thật. Chúng tôi nghĩ rằng, có thể bởi bị ám ảnh với những hình ảnh giết người của Ấn Quang nên họ sợ đụng chạm, hoặc vì đang đứng ở vào một tổ chức nào đó mà phải cần đến Ấn Quang; và còn một lý do khác nữa là họ sợ một ngày nào đó phải cần đến lá phiếu của Ấn Quang. Riêng kẻ viết bài này là một người không hề có tham vọng về chính trị, nên dù bất kể một thế lực nào cầm quyền tại Việt Nam, kẻ này cũng không màng đến một địa vị, chức tước gì cả. Vì thế, nên không bao giờ cần đến bất cứ một lá phiếu nào; mà điều duy nhất của người viết những loạt bài này là đã tâm nguyện: Suốt đời chỉ làm một người cầm bút, để viết lên tất cả những gì mắt thấy, tai nghe, thấy sao nói vậy, nhớ đâu viết đó. Viết với tất cả tâm thành để cho lớp trẻ sau này còn biết đến những hành vi tàn ác, bất nhân của những kẻ đã từng gieo rắc tang thương, máu lệ cho đồng bào vô tội; hầu cho họ biết đường mà tránh xa phuờng lục lâm, tặc phỉ, để khỏi rơi xuống hố sâu của tội ác. Bởi đó, chính là lương tâm và trách nhiệm của người cầm bút.
Subscribe to:
Posts (Atom)
Blog Archive
-
▼
2026
(2381)
-
▼
September
(193)
- Ăn Trái Cây Cho Đã Cơn ThèmNhững năm đầu mới qua M...
- “Vũ khí kiểm soát không gian"Hôm qua ngày 15/9, Bộ...
- NASA mới phóng thành công Kính viễn vọng Không gia...
- Trung Quốc đang kiểm duyệt người Cộng hòa trên Tik...
- Nguyên Nhân Chính Mất Miền Nam | 15.09.26
- MỘT SUY NGẪM CÁ NHÂN VỀ SỰ RIÊNG TƯ, CHUYỆN PHIẾM ...
- HẠNH PHÚC TÌNH CỜNgày cô về Việt Nam sau ba mươi n...
- Hở ra là chôm chỉa liềnSáu công ty AI đỉnh cao của...
- HTV Network, một công ty ở Hà Nội, chuyên bơm tin ...
- Đường dây lừa đảo tiền trợ cấp quỹ phúc lợi trẻ em...
- Ngôi sao trẻ đảng Dân chủ Nam California tài tình ...
- Chân dung của một trí thức hôm nayNicole Virzi...
- Kinh xáng và kinh đào - Ngõ hồn đất phương NamỞ N...
- Người hùngVào lúc 0 giờ 30 phút rạng sáng ngày 11 ...
- Đi lối nàyBài viết của Jancee DunnTính đến thời đi...
- GẶP GỠ BUỔI CHIỀU Ở BÙNG BINH NGÃ SÁUChiều âm u, g...
- Nhân Bất Học Bất Tri Lý | 13.09.26
- BẠN BIẾT TRỘM VÍA TỪ HỒI NÀO?Mấy năm gần đây, Toàn...
- Đi chơiChị tên là Lài, 70 tuổi.Cả cái Bệnh viện Bệ...
- ĐỂ NHỚ ĐẾN EM NGÔ ĐÌNH THẨM.MỘT BÀI VIẾT NHẬN THỨC...
- MÃI NỢ MỘT LỜI TẠM BIỆTVới … Mãi Nợ Một Lời Tạm Bi...
- ÔNG TRUMP SA LẦY VÀO TRẬN CHIẾN DÀI HƠI VỚI IRAN, ...
- Sáng nay, New York mưa.Không phải cơn mưa ào xuống...
- Thời khắc quyết định đã đếnElon Musk vừa đưa ra mộ...
- Hoàng Ky`Dù bạn không thích thậm chí gh.é.t lá cờ ...
- TÁC DỤNG CỦA CÀ PHÊ VỚI UNG THƯCác nhà khoa học vừ...
- Căn Nhà Đầu Tiên – Những Cái “Đầu Tiên” Ở Xứ Người...
- “Dĩ mô”Viết đúng là vĩ mô. Vì có một fan hỏi tui v...
- Tiến trình tách khỏi Vương quốc Anh
- "WeWorm"Calif, một công ty an ninh mạng có trụ sở ...
- Luật sư bào chữa cho hoạt động tôn giáo cũng bị vạ...
- Sau khi AI nổi loạn ở Hugging Face thì con sâu WeW...
- Một cựu sĩ quan tình báo cao cấp của nhà độc tài S...
- Nàng đã sa lưới FBIFBI vừa chính thức thông báo đã...
- John Brennan đã khuyên Giám đốc CIA Tenet không nê...
- "Public Charge"Đảng Dân chủ đang vội vã kiện ông T...
- PhiếmCó một người bạn trên Facebook hỏi tôi:“Anh s...
- PHIM “BROKEN COUNTRY” CẢNH CÁO NHỮNG VẤN ĐỀ TẠI CA...
- Ngày giỗ của BaBa rời xa tôi vào năm 1994. Đến hôm...
- NGƯỜI ĐÀN BÀ TỒI TỆ(Mavridika de Monbazon)*Lina là...
- Tin Việt NamSpaceX Starlink mới chính thức trao tặ...
- Công trình khổng lồ trị giá trên $2.5 tỷ đô ở Siha...
- Tin CanadaPhòng bào chế fentanyl lớn nhất Canada t...
- Những nỗ lực nhân đạo của SpaceX/Starlink nhằm giú...
- Từ gái quê Hoa Lục đến nữ trụ trì có biệt thự 40 t...
- Lại thêm một vụ gián điệp Trung Quốc tại DetroitNg...
- ĐI BỘ ...
- BẢN TÌNH CA HẠNH PHÚC*Ban đầu là những lời "phải l...
- THUẬN CẢNH CHƯA CHẮC LÀ PHƯỚC, NGHỊCH CẢNH CHƯA CH...
- Quả báoQuả báo đôi khi đến muộn nên nhiều người lầ...
- MỘT NĂM RỒI VẮNG ANH, CHARLIE KIRK"Hãy biết ơn vì ...
- CẦU ÔNG ĐẠO - ĐÀ LẠT Ai tới Đà Lạt đều đã từng đi ...
- Chữ của Nguyễn Ngọc Tư: Bắc Kỳ lai!Trong bối cảnh ...
- Ứng dụng kết bạn TQ dùng AI sản xuất hàng loạt “ng...
- HẾT DẦU ĐÈN TẮTỞ xã Tân An hồi cuối những năm 80, ...
- TÊN BA TUITên cúng cơm của ba tui là "Lê Văn Chươn...
- LAI RAI BA MÓN BÌNH DÂN Ở SÀI GÒN…Ăn để mà sống, n...
- "Sưu cao thuế nặng"Một ngày đẹp trời mở hóa đơn, n...
- Thấy báo chí thi nhau đăng TT Trump ngủ gụcDu...
- VỀ VIỆT NAM HƯỞNG GIÀ, NGHE THÌ SƯỚNG, NHƯNG CÓ MỘ...
- Tòa Tháp ĐôiCó những tác phẩm kinh điển chỉ thực s...
- BÀI KHÔNG TÊN CUỐI CÙNG CỦA NGÀY 911Vào một buổi s...
- Tôi làm ở tỉnh, sáng sớm, thằng bạn hàng xóm gọi đ...
- Đài tưởng niệm 9/11Trong số gần 3 nghìn cái tên nạ...
- Một Lần Ghé Đảo, Một Ngã Rẽ Cuộc ĐờiMột hôm, đang ...
- Sự Thật chung quanh Hillary ClintonAuthor: Hoàng H...
- Đi Mỹ: Vạn Dặm Tìm ChồngMười năm trước đây, mẹ chồ...
- NGÀY CUỐI..!!!Bà cụ sống tầng dưới đột nhiên đến g...
- MÂM CƠM NGÀY CŨHộ khẩu ghi tám người, nhưng nội th...
- CHIẾC NHẪN VÀ NGÔI MỘ Ở PHƯỚC ĐỒNGCó những ca bệnh...
- Ủng hộ truyền thống, chỉ trích chủ nghĩa xã hội: 1...
- Những ngày cuối cùng của Marlon BrandoMarlon Brand...
- LÃNH ĐẠO MICROSOFT, STARBUCKS, COSTCO VÀ HÀNG LOẠT...
- 5000Tui xem trực tiếp bài diễn văn của dượng. Định...
- Tám Người, Một Căn Nhà Nhỏ Và Những Ngày Đầu Đời T...
- Võ Lâm Ngũ Bá — Hoa Kỳ Sơn Luận KiếmHồi thứ 3Tây H...
- Betty Ong – Người nữ tiếp viên bình tĩnh giữa buổi...
- VỤ HỒ SƠ H-1B BỊ SIẾT CHẶT: BỘ LAO ĐỘNG HOA KỲ ĐÓN...
- VUA TIỆM NAIL, HẢI SA PA… VÀ CÂU HỎI “TIỀN ĐÂU RA?...
- Chả được miếng thịt, miếng xôi thì cũng được lời n...
- Nàng có người yêu rồi các bác ạ. Đừng ai hỏi nàng ...
- Vụ scandal của nhà sư Thái Lan pháp danh Luang Por...
- 权色交易 - Quyền Sắc Giao DịchQuyền Sắc Giao Dịch, một...
- Chiến dịch "Kẻ bị gạt ra ngoài lề kinh tế" (Operat...
- CÁI GIÁ CỦA HAI CHỮ “VIỆT KIỀU”Nhiều người vừa đặt...
- Võ Lâm Ngũ Bá — Hoa Kỳ Sơn Luận KiếmHồi thứ haiGhế...
- Đi Bắt Gian Mà Bị Gian Bắt LạiCó những cái máy sin...
- TƯỞNG NIỆM NGÀY 11 THÁNG 9 CỦA NƯỚC MỸNgày này 25 ...
- “Đi chơi với anh đi. Đến năm 30 tuổi anh sẽ làm CE...
- TẠM BIỆT ĐẢO KHARG: Ông Trump Cuối Cùng Đã Tấn Côn...
- Drone RAVN X của công ty Aevum AerospacePhi trường...
- Lực lượng đặc nhiệm phối hợp giữa FBI và IRS dưới ...
- Gương mặt nhiều triển vọng của đảng Cộng hoà Brand...
- Gian lận ở CaliĐây là Alexander Soofer, kẻ đã thàn...
- Toà phúc thẩm đã huỷ bỏ bản án của toà q...
- MỘT CUỘC ĐỜI ( Hồi ký ) Ngày xưa còn bé, gia đình ...
- Obama, lợi bất cập hại…Theo dõi chính trị Mỹ là mộ...
- Một bản yêu cầu hơn 100 ngàn chữ ký và những lời p...
- SỨC MẠNH LUẬT NHÂN QUẢQuang TửCũng nhờ hai lần gặp...
- CHUYỆN ANH RÔ BE VỀ LÀNGAnh Rô Be mà tui hay gọi l...
- LỚN THUYỀN THÌ LỚN SÓNG(May mắn, tui đứng ngoài rà...
- THỦA BAN ĐẦUSau khi vợ tôi có cái visa cầm trong t...
- Ngày còn trẻ, hắn có một tiêu chuẩn rất rõ ràng về...
- Chè Nước SôiCó những thứ mình tưởng đã gạt lại đượ...
- CHUYỆN BUỒN XỨ ÚCÔng chủ tiệm tạp hoá Hồng Hưng kh...
- Tiểu bang 51 (hết)Thấy bà con quan tâm đề tài này ...
- GIẢI THÍCH THÊM VỀ QUÂN ĐỘI MỸ7/8/2026—-Những ngày...
- HỦY CƯỚI(Valeria V.)*Dọn dẹp tủ đồ, tôi tìm thấy ...
- Nói tiếp chuyện chữ nghĩaBây giờ chỉ cần thấy lỗi ...
- HAROLD HOLT – VỊ THỦ TƯỚNG BƯỚC XUỐNG BIỂN RỒI BIẾ...
- CÀ PHÊ DINH ĐIỀN PLEIKU – KHÓI THUỐC BAY VỀ TỪ MỘT...
- Một chiến lược trộm công nghệ cao của Trung Quốc: ...
- CÔNG TỬ BỐThập niên sáu mươi, Sài Gòn tràn ngập nh...
- HÒN CỔ TRONÔng Từ Thông ra hòn Cổ Tron cất chòi mà...
- Hai công dân gốc Nigeria Lukman Owolabi Ganiyu và ...
- Một Lời Xin Lỗi Thu năm 1990, nhóm tôi gồm sáu ngư...
- Hồn Ma Xứ PhápChiều thứ bảy 26/3/2011Rời khỏi p...
- ĐAN MẠCH VÀ 4 QUỐC GIA ÂU CHÂU THỐNG NHẤT LẬP “TRU...
- YÊU XANgười ta nói mạng là ảo nhưng cái thời mà tô...
- TẠP GHI : EM ƠI, SÀI GÒN XÓMNhư NguyễnĐừng quên ph...
- Bài Ca Không TênCó những chuyện trong đời, người t...
- Người tị nạn Việt Nam tai IsraelVào tháng 6 năm 19...
- Viết Lách Vớ Vẩn... Rồi Thành Nhà VănTheo thủ tục ...
- Từ Câu Nói Của Tổng Thống Mỹ Về Trường Học, Nghĩ V...
- CÔNG DÂN TOÀN CẦUGlobal Citizen6/9/2026—-Cách đây ...
- Chuyện Mỹ | 06.09.26
- NHỮNG QUÁN CÀ PHÊ MỘT THUỞ SÀI GÒN..Sài Gòn những ...
- Sài Gòn mưa bayCả đám tụ lại, đứa ăn kem, đứa uống...
-
▼
September
(193)