Friday, May 1, 2026

Có thể gọi là phản quốc?

Khoa học gia Harvard từng bị kết án đang xây dựng lại phòng thí nghiệm giao diện não-máy tính tại Trung Quốc.

*Charles Lieber dẫn dắt phòng thí nghiệm i-BRAIN của Trung Quốc với nguồn lực tối tân và tài trợ từ nhà nước.

*Phòng thí nghiệm đang tuyển dụng nhà nghiên cứu để thực hiện các nghiên cứu trên khỉ làm mô hình cho giao diện não-máy tính ở người. Vụ này cho thấy giới hạn của các biện pháp bảo vệ công nghệ có ứng dụng quân sự của Mỹ, theo các nhà phân tích

Thâm Quyến, ngày 30 tháng 4 (Reuters). Một khoa học gia người Mỹ từng bị kết án vì nói dối với chính quyền Mỹ về khoản tiền nhận từ Trung Quốc trong thời gian làm việc tại Đại học Harvard đã xây dựng lại phòng thí nghiệm nghiên cứu của mình tại Thâm Quyến, nhằm theo đuổi công nghệ mà chính phủ Trung Quốc coi là ưu tiên quốc gia: nhúng thiết bị điện tử vào não người.

Charles Lieber, 67 tuổi, là một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu thế giới về giao diện não-máy tính (brain-computer interfaces). Công nghệ này đã cho thấy tiềm năng trong việc điều trị các bệnh như ALS (xơ cứng teo cơ bên) và khôi phục khả năng vận động cho bệnh nhân bị liệt.

Tuy nhiên, nó cũng có tiềm năng ứng dụng quân sự: Các khoa học gia thuộc Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã nghiên cứu giao diện não như một cách để tạo ra “siêu chiến binh” bằng cách tăng cường sự linh hoạt tinh thần và khả năng nhận thức tình huống, theo Bộ Quốc phòng Mỹ.

Lieber bị bồi thẩm đoàn kết tội và bị kết án vào tháng 12/2021 vì đưa ra những tuyên bố sai sự thật với các nhà điều tra liên bang về mối quan hệ của ông với một chương trình chiêu mộ "Ngàn Nhân tài nước ngoài" của Trung Quốc, cũng như các tội danh liên quan đến thuế từ khoản tiền ông nhận từ một trường đại học Trung Quốc.

Ông chỉ phải ngồi tù 2 ngày, sau đó chịu 6 tháng quản thúc tại gia, bị phạt $50000 đô và phải hoàn trả $33600 đô cho Sở Thuế vụ Mỹ (IRS). Trong vụ án, luật sư bào chữa cho biết ông đang mắc bệnh lymphoma không thể chữa khỏi (lúc đó đang thuyên giảm) và đang đấu tranh để sống sót.

Ba năm sau khi bị tuyên án, Reuters phát hiện Charles Lieber hiện đang lãnh đạo phòng thí nghiệm i-BRAIN (Institute for Brain Research, Advanced Interfaces and Neurotechnologies) do nhà nước Trung Quốc tài trợ.

Ông có quyền tiếp cận thiết bị chế tạo nano chuyên dụng và cơ sở hạ tầng nghiên cứu trên linh trưởng (khỉ) mà trước đây ông không có tại Harvard.

Phòng thí nghiệm này thuộc Viện Nghiên cứu và Chuyển giao Y khoa Thâm Quyến (Shenzhen Medical Academy of Research and Translation - SMART).“Tôi đến đây vào ngày 28 tháng 4 năm 2025 chỉ với một giấc mơ và không có gì nhiều, có lẽ chỉ vài túi quần áo,” Lieber phát biểu tại một hội nghị của chính quyền Thâm Quyến vào tháng 12.

“Cá nhân tôi, mục tiêu của tôi là biến Thâm Quyến thành một trung tâm hàng đầu thế giới.”Lieber, qua trợ lý của mình, đã từ chối yêu cầu phỏng vấn của Reuters với lý do “các cam kết hiện tại”. Ông ta cũng không trả lời các câu hỏi bằng văn bản từ Reuters.

SMART năm ngoái đã bổ nhiệm Lieber làm nhà nghiên cứu (investigator), theo một bài đăng trên website của i-BRAIN ngày 1/5/2025. Tin này đã được một số phương tiện truyền thông đưa tin.

Cùng ngày đó, i-BRAIN thông báo Lieber còn được bổ nhiệm làm Giám đốc sáng lập của viện, thông báo này lúc đó không được báo chí chú ý. Đây là bài viết toàn diện nhất về hoạt động của Lieber kể từ khi ông chuyển đến Trung Quốc.

Reuters lần đầu tiên đưa tin rằng phòng thí nghiệm của ông có quyền tiếp cận cơ sở nghiên cứu trên linh trưởng riêng biệt và thiết bị sản xuất chip; rằng nó nằm trong một hệ sinh thái rộng lớn gồm các tổ chức được nhà nước hậu thuẫn với hàng tỷ đô tài trợ; và rằng viện này đang thu hút nhân tài khoa học hàng đầu từ Mỹ trở về.

Năm 2011, Lieber từng được xếp hạng là hóa học gia hàng đầu thế giới trong thập niên trước đó theo bảng xếp hạng của Thomson Reuters (công ty mẹ của Reuters). Thomson Reuters sau này đã bán bộ phận thực hiện bảng xếp hạng này và từ chối bình luận.

Một số nhà phân tích cho rằng việc Lieber có thể tái thiết lập phòng thí nghiệm sau khi bị kết án hình sự vì che giấu mối quan hệ với Trung Quốc cho thấy các biện pháp bảo vệ công nghệ có tiềm năng quân sự của Mỹ chưa theo kịp nỗ lực thu hút công nghệ của chính phủ Trung Quốc. Lo ngại này càng lớn hơn do chiến lược “quân dân dung hợp” (military-civil fusion) của Bắc Kinh, theo đó các nguồn lực và nghiên cứu dân sự có thể được chia sẻ với quân đội.

“Trung Quốc đã vũ khí hóa chính sự cởi mở và nỗ lực đổi mới của chúng ta để chống lại chúng ta,” ông Glenn Gerstell, Cố vấn cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) và cựu Tổng cố vấn của Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ (NSA) từ 2015-2020, nhận định. 

“Họ đã đảo ngược điều đó và lợi dụng nó để chống lại chúng ta.

”Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc cùng Bộ Quốc phòng nước này không phản hồi về việc phát triển giao diện não-máy tính. SMART và i-BRAIN cũng không trả lời các câu hỏi về hướng nghiên cứu và việc chiêu mộ Lieber.

Nghiên cứu trên linh trưởng

Vị trí mới của Lieber dường như mang lại cho ông nguồn lực dồi dào hơn so với ở Mỹ.

Tại Thâm Quyến, vào tháng 2 vừa qua, i-BRAIN đã lắp đặt hệ thống quang khắc tia cực tím sâu (deep ultraviolet lithography) do tập đoàn ASML (Hà Lan) sản xuất, theo website của phòng thí nghiệm. Máy móc của ASML chuyên dùng để in các mạch điện cực nhỏ cần thiết cho chip tiên tiến.

Tại Harvard, Lieber chỉ sử dụng thiết bị quang khắc chia sẻ tại Trung tâm Hệ thống nanoscale của trường, nơi phục vụ hơn 1600 người dùng mỗi năm.

Mẫu máy mà i-BRAIN sử dụng hai thế hệ so với các máy bị hạn chế xuất cảng, nhưng vẫn có giá khoảng $2 triệu đô, theo chuyên gia Jeff Koch của công ty nghiên cứu bán dẫn SemiAnalysis.

ASML cho biết họ sẽ không bình luận công khai về khách hàng.Trên cùng khuôn viên, Lieber còn có quyền tiếp cận cơ sở Brain Science Infrastructure (BSI) Shenzhen, một phòng thí nghiệm có 2000 chuồng khỉ và không gian chuyên biệt dành cho công việc của i-BRAIN.

Nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này coi thí nghiệm trên linh trưởng là bước bắt buộc trước khi thử nghiệm trên người đối với giao diện não-máy tính xâm lấn. Cơ sở BSI thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc và được chính quyền Thâm Quyến tài trợ.

i-BRAIN đang tuyển dụng cả nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế để thực hiện các nghiên cứu điện sinh lý trên khỉ rhesus làm mô hình cho giao diện não-máy tính ở người, theo một bài đăng trên website vào tháng 9/2025.

Không có dấu hiệu cho thấy Lieber từng thực hiện nghiên cứu trên linh trưởng khi còn ở Harvard. Đại học danh tiếng này đã đóng cửa Trung tâm Nghiên cứu Linh trưởng New England vào năm 2015 do áp lực về phúc lợi động vật và vấn đề tài chính.

Jung Min Lee, nhà nghiên cứu từng cùng Lieber viết bài về công nghệ nano tại Harvard, đã theo ông sang i-BRAIN với vị trí giáo sư nghiên cứu liên kết (research associate professor). Lee là chuyên gia về việc ghép điện tử linh hoạt vào mô não.

Harvard không phản hồi các câu hỏi của Reuters về Lieber và Lee.
John Donoghue, giáo sư tại Đại học Brown và là nhà thần kinh học tiên phong phát triển hệ thống giao diện não-máy tính nổi tiếng mang tên BrainGate, cho biết nghiên cứu trên linh trưởng là “hoàn toàn thiết yếu” để chuyển giao công nghệ giao diện thần kinh sang ứng dụng trên người, nhưng tại Mỹ lại gặp phải nhiều rào cản về quy định và nguồn tài trợ.

“Với quá nhiều rắc rối liên quan đến nghiên cứu trên linh trưởng không phải người ở đây, việc có ai đó cung cấp cho bạn toàn bộ sự hỗ trợ, tiếp cận công nghệ, một trung tâm tập trung cùng với một sáng kiến quốc gia, những thứ đó cực kỳ hấp dẫn,” ông nói với Reuters.

Ngân sách năm 2026 của SMART, được tài trợ hoàn toàn bởi chính quyền thành phố Thâm Quyến, đã tăng gần 18% lên khoảng $153 triệu đô. Các tài liệu ngân sách của viện không nêu rõ tỷ lệ phần trăm dành cho i-BRAIN.

SMART được thành lập năm 2023 dưới thời viện trưởng sáng lập Nieng Yan, một nhà sinh học cấu trúc. Việc bà trở về Trung Quốc năm 2022 sau 5 năm làm việc tại Đại học Princeton đã được truyền thông trong nước ca ngợi như sự trở về của một “nữ thần khoa học”. Nieng Yan và Đại học Princeton đều không phản hồi các câu hỏi của Reuters về vai trò của bà tại Thâm Quyến cũng như việc chiêu mộ Charles Lieber.

Bên cạnh SMART là Phòng thí nghiệm Vịnh Thâm Quyến (Shenzhen Bay Laboratory), một thực thể pháp lý riêng biệt nhưng hoạt động song song chặt chẽ. Phòng thí nghiệm này được thành lập năm 2019 với ngân sách 5 năm khoảng $2 tỷ đô từ chính quyền Thâm Quyến. Cả hai viện đều đặt tại Thành phố Khoa học Quang Minh, một trung tâm khoa học quốc gia với công viên và kênh rạch được chăm sóc kỹ lưỡng. Hai tổ chức này chia sẻ ban lãnh đạo và văn phòng, đồng thời sẽ cùng chiếm giữ một khu đất riêng rộng 750000 mét vuông đang được xây dựng với chi phí dự kiến $1.25 tỷ đô. Phòng thí nghiệm Vịnh Thâm Quyến không phản hồi yêu cầu bình luận.

Các bảng chỉ dẫn dẫn khách đến khuôn viên của SMART được khắc khẩu hiệu: “Cùng Đảng sáng tạo” (“Innovate with the Party”). Một phóng viên của Reuters đã bị từ chối cho vào văn phòng của i-BRAIN khi cố gắng giao một bức thư cho Lieber.

Lieber là một trong ít nhất sáu nhà khoa học chuyển từ các tổ chức Mỹ sang làm việc tại SMART, dù tất cả họ đều là các nhà nghiên cứu sinh ra tại Trung Quốc và trở về nước.

Trung Quốc đã chính thức đưa công nghệ giao diện não-máy tính vào danh sách ưu tiên phát triển quốc gia trong Kế hoạch 5 năm mới được công bố vào tháng 3/2026. Ông Trịnh Thiện Kiệt (Zheng Shanjie), Chủ nhiệm Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia Trung Quốc, phát biểu vào tháng 10 rằng sự phát triển của giao diện não-máy tính và các công nghệ liên quan “sẽ tương đương với việc tạo ra một lĩnh vực công nghệ cao mới của Trung Quốc trong 10 năm tới”.

Cơ quan Dự án Nghiên cứu Tiên tiến Quốc phòng Mỹ (DARPA) cũng đang đầu tư vào giao diện não-máy tính phục vụ cho việc điều khiển drone và phòng thủ mạng, theo mô tả chương trình của cơ quan này. Các dự án nghiên cứu do Lieber dẫn dắt tại Harvard đã nhận hơn $8 triệu đô tài trợ từ Bộ Quốc phòng Mỹ kể từ năm 2009, theo hồ sơ tòa án. Ngũ Giác Đài không phản hồi các câu hỏi về ứng dụng quân sự của công nghệ này cũng như vai trò hiện tại của Lieber tại Thâm Quyến.

CẠNH TRANH GIẢI NOBEL

Vụ kết án Charles Lieber năm 2021 là một trong số ít thành công của chương trình China Initiative do Bộ Tư pháp Mỹ khởi xướng dưới thời chính quyền Trump đầu tiên nhằm chống lại gián điệp kinh tế và đánh cắp tài sản trí tuệ từ Trung Quốc. Chương trình này sau đó bị chấm dứt dưới thời Tổng thống Joe Biden do hàng loạt thất bại và chỉ trích về phân biệt chủng tộc.

Trong khi vẫn đang trong thời gian quản thúc, Lieber đã được tòa án cho phép ít nhất ba chuyến đi Trung Quốc vào năm 2024, trong đó có một chuyến được Thẩm phán Tòa án Quận Mỹ Denise Casper phê chuẩn với lý do “xây dựng mạng lưới việc làm”, theo hồ sơ tòa án. Thẩm phán Casper không phản hồi yêu cầu bình luận.

Đội ngũ bào chữa của Lieber cho biết trong bản ghi nhớ trước khi tuyên án năm 2023 rằng khoa học gia này đang mắc bệnh lymphoma và phần lớn thời gian bị giới hạn trong nhà, chỉ ra ngoài để khám bệnh, đi dạo ngắn và thỉnh thoảng thăm một trang trại địa phương. Trong sự nghiệp 30 năm tại Harvard, ông dành hơn 80 giờ mỗi tuần trong phòng thí nghiệm. Khi không làm việc, Lieber dành thời gian “huấn luyện vật wrestling và trồng bí ngô khổng lồ trong sân sau nhà”, theo lời bào chữa.

Lieber thừa nhận mình đã “trẻ và ngu ngốc” khi dính líu đến chương trình Thousand Talents (Ngàn Nhân Tài) của Trung Quốc, sáng kiến do nhà nước hậu thuẫn nhằm chiêu mộ chuyên gia nước ngoài, theo luật sư của ông trình bày trước tòa năm 2021. Khi bị bắt năm 2020, Lieber đã nói với đặc vụ FBI rằng ông “muốn giành giải Nobel” và được công nhận cho những đóng góp của mình, theo lời công tố viên. FBI từ chối bình luận và Bộ Tư pháp Mỹ không phản hồi các câu hỏi. Vụ của Lieber thể hiện sự thất bại rộng lớn hơn của chính sách Mỹ, theo một số nhà phân tích.

“Nếu coi ông ấy như một vector chuyển giao công nghệ đi ngược lại lợi ích của Mỹ, chúng ta đã phát hiện ra, trừng phạt ông ta, nhưng điều đó không hề ngăn chặn được xu hướng lớn hơn,” bà Emily de La Bruyère, đồng sáng lập công ty tư vấn chuyên về Trung Quốc Horizon Advisory và nghiên cứu viên cao cấp tại Quỹ Bảo vệ Dân chủ (Foundation for Defense of Democracies), một viện nghiên cứu có quan điểm cứng rắn về chính sách đối ngoại, nhận định.

Ông Gerstell, cựu quan chức Mỹ, mô tả Lieber là “Exhibit A" cho thấy các công cụ pháp lý của Mỹ còn bất lực.

“Đây là một người đã bị kết án đúng tội mà chúng ta muốn kết án ông ta trong bối cảnh này, vậy mà ngay khi vừa hết quản thúc tại gia, ông ta đã sang Trung Quốc,” ông nói.

Bài của David Kirton tại Thâm Quyến. David Crawshaw hiệu đính









Thursday, April 30, 2026

Miền Nam Việt Nam không sụp đổ vì bị đánh bại. Nó sụp đổ vì bị phản bội.

Bài của Rod D Martin

Đúng 51 năm trước vào ngày hôm nay, 30 tháng 4 năm 1975, chiếc trực thăng cuối cùng của Mỹ đã cất cánh rời khỏi nóc Tòa Đại sứ tại Sài Gòn.

Chúng ta đã giành chiến thắng. Hiệp định Hòa bình Paris do Nixon và Kissinger khởi xướng đã buộc miền Bắc phải công nhận chủ quyền của miền Nam Việt Nam. Hoa Kỳ đã cam kết sẽ viện trợ hỏa lực đường không và tiếp tế nếu đối phương vi phạm hiệp định này. Quân lực Việt Nam Cộng hòa (ARVN) cuối cùng đã sẵn sàng để tự bảo vệ chính mình.

Rồi sự kiện Watergate ập đến. Đảng Dân chủ đã giành được đa số áp đảo trong cuộc bầu cử năm 1974. Họ cắt giảm viện trợ tới hơn 75%, ngăn cấm mọi hành động đáp trả của Hoa Kỳ trước việc Liên Xô tái vũ trang cho miền Bắc, và chỉ đứng nhìn khi phe Cộng sản ngang nhiên vi phạm mọi thỏa thuận đã ký kết.

Không còn đạn dược. Không còn nhiên liệu. Thậm chí không còn cả lốp xe để thay cho những chiếc Jeep.

Miền Nam Việt Nam sụp đổ, không phải vì thiếu dũng khí, mà vì sự bỏ rơi của chính những người thuộc Đảng Dân chủ, những kẻ đã đẩy con em chúng ta vào chỗ chết tại chiến trường đó một thập niên trước.

Những gì diễn ra sau đó không phải là hòa bình. Đó là địa ngục trần gian.

Học thuyết Domino không hề sai. Cambodia và Lào lần lượt sụp đổ. Pol Pot, kẻ từng được giới cánh tả Mỹ ca ngợi là "George Washington của Cambodia", đã thảm sát tới một phần ba chính đồng bào của mình.

Hàng triệu người bị đưa vào các trại cải tạo tại Việt Nam. Nửa triệu người bị sát hại. Hai triệu người đã liều mình vượt biên bằng đường biển; và gần nửa triệu người trong số đó đã bỏ mạng dưới lòng đại dương.

Khi ấy tôi mới lên tám tuổi, đứng trong một hội trường nhà thờ tại tiểu bang Arkansas, ngước nhìn lên lá cờ vàng ba sọc đỏ của miền Nam Việt Nam đang được gài trên ve áo của một người tị nạn. Tôi chỉ biết òa khóc và liên tục thốt lên: "Tôi xin lỗi... Tôi thực sự xin lỗi ông/bà."

Tất cả chúng ta vẫn nên cảm thấy day dứt và xin lỗi vì những gì đã xảy ra.

Thảm kịch này không phải là điều tất yếu không thể tránh khỏi. Nó đã bị dàn dựng và sắp đặt ngay tại Washington.

Cũng giống như sự sụp đổ của Trung Hoa Dân Quốc vào năm 1949 vậy. Trong cả hai trường hợp, những nhà lãnh đạo Cơ đốc giáo chống Cộng đều đã bị chính Đảng Dân chủ phản bội, Tưởng Giới Thạch bị Truman phản bội, còn Ngô Đình Diệm thì bị JFK phản bội, và sau đó, một cơn đại hồng thủy tai ương đã ập đến.

Nixon đã hoàn toàn đúng khi viết trong cuốn sách *No More Vietnams* (Không còn những cuộc chiến kiểu Việt Nam nữa): Khi Hoa Kỳ tham chiến, hãy chiến đấu để giành chiến thắng bằng một sức mạnh áp đảo tuyệt đối. Đừng bao giờ điều động quân đội nếu không có những lợi ích sống còn của quốc gia đang bị đe dọa. Một khi đã dấn thân, hãy giữ trọn lời hứa với các đồng minh. Hòa bình chỉ có thể đạt được thông qua sức mạnh, chứ không phải sự yếu hèn.

Chúng ta đã lãng quên những bài học quý giá đó.

Vào năm 2021, Biden đã tái hiện lại một "Sài Gòn 2.0" ngay tại Kabul. Các đồng minh bị bỏ rơi. Hàng tỷ đô vũ khí rơi vào tay kẻ thù.

Và những con người tuyệt vọng đã phải bám víu lấy thân máy bay để tìm đường thoát thân. Phụ nữ lại bị nô dịch. Uy tín tan tành. Rồi đến lượt Ukraine.

Thật nguy hiểm khi trở thành đồng minh của Mỹ vào những lúc Đảng Dân chủ nắm quyền.

Những người lính từng chiến đấu tại Việt Nam, cả phía Mỹ lẫn phía Việt Nam Cộng hòa, đều là những người hùng. Họ không hề thất bại. Họ đã bị phản bội.

Năm mươi năm đã trôi qua, hãy nhớ lại lý do vì sao Sài Gòn thất thủ. Hãy tôn vinh chính nghĩa cao cả ấy. Hãy kiên quyết: Không còn những cuộc chiến Việt Nam nào nữa. Không còn những cuộc chiến Afghanistan nào nữa. Không còn những sự phản bội nào nữa.

Nước Mỹ phải dẫn dắt thế giới bằng sức mạnh, sự minh bạch và lòng quyết tâm. Tự do không phải là thứ miễn phí. Cái giá phải trả cho việc từ bỏ tự do luôn là máu xương.

Đừng bao giờ quên.

*Đây là bài sơ lược về biến cố 30/4/1975, tác giả có viết một tiểu luận phân tích sâu hơn về đề tài này.

**Về tác giả: Rod D. Martin là một doanh nhân công nghệ, nhà đầu tư mạo hiểm, nhà tương lai học và nhà hoạt động cánh hữu người Mỹ. Ông được biết đến nhiều nhất với vai trò là thành viên trong nhóm khởi nghiệp sơ khai và là cố vấn cao cấp cho người sáng lập PayPal, Peter Thiel.

Ông là người sáng lập và CEO của Martin Capital và The Martin Organization. Ông từng giữ chức Cố vấn đặc biệt cho Peter Thiel tại PayPal và sau đó là tại quỹ đầu cơ Clarium Capital.

Rod D. Martin từng là Giám đốc chính sách cho cựu Thống đốc Arkansas, Mike Huckabee. Ông đã ba lần giữ chức Chủ tịch Liên đoàn các Hiệp hội Cộng hòa Quốc gia (NFRA); Ông là người sáng lập và là Chủ tịch của TheVanguard.Org, một tổ chức vận động chính sách; từng tham gia nghiên cứu tại Đại học Cambridge. Ông cũng là một tác giả và người bình luận thường xuyên trên các phương tiện truyền thông như Fox Business và các tạp chí như Inc. hay Fortune.




Chính quyền Trump ban hành quy định mới: Hai câu hỏi quyết định việc cấp visa không định cư

Bình Minh•Thứ Năm, 30/04/2026

Một bức điện của Bộ Ngoại giao Mỹ gửi tới các đại sứ quán và lãnh sự quán trên toàn thế giới mà Washington Post có được cho thấy, chính quyền Trump đang ban hành quy định mới về việc cấp thị thực. Theo đó, yêu cầu nhân viên lãnh sự khi xét duyệt thị thực không định cư phải đặt ra 2 câu hỏi then chốt đối với người nộp đơn.

Ảnh minh họa. (Nguồn ảnh: New Africa / Shutterstock)

Câu trả lời của đương đơn sẽ quyết định việc thị thực có bị từ chối hay không. Biện pháp này nhằm hạn chế đáng kể số lượng người sau này xin tị nạn tại Mỹ.

Theo Washington Post, bức điện yêu cầu tất cả viên chức lãnh sự phải hỏi người xin thị thực không định cư hai câu sau:

“Bạn có từng bị tổn hại hoặc ngược đãi tại quốc gia gốc hoặc nơi cư trú gần đây nhất không?”

“Bạn có lo sợ rằng khi quay trở lại quốc gia gốc hoặc nơi cư trú thường xuyên sẽ bị tổn hại hoặc ngược đãi không?”

Người nộp đơn phải trả lời rõ ràng bằng lời nói là “Không” cho cả hai câu hỏi, thì viên chức lãnh sự mới được tiếp tục xử lý hồ sơ.

Bức điện nhấn mạnh: “Việc người nộp đơn bày tỏ lo ngại về việc quay trở lại quốc gia gốc hoặc nơi cư trú thường xuyên sẽ khiến người ta nghi ngờ về mục đích thực sự của chuyến đi cũng như ý định nhập cư của họ”.

Quy định này có hiệu lực ngay lập tức. Đến nay Bộ Ngoại giao Mỹ chưa phản hồi yêu cầu bình luận từ truyền thông.

Các quy định mới này là động thái mới nhất của chính quyền Trump nhằm hạn chế mạnh số lượng công dân nước ngoài được cấp quy chế tị nạn tại Mỹ.

Theo luật liên bang Mỹ, công dân nước ngoài có thể xin tị nạn sau khi nhập cảnh nếu họ đang đối mặt với sự đàn áp hoặc có lý do chính đáng để lo sợ bị đàn áp khi trở về nước. Họ cũng có thể nộp đơn xin tái định cư với tư cách người tị nạn từ bên ngoài lãnh thổ Mỹ.

Bức điện không nêu rõ hậu quả cụ thể nếu người được cấp thị thực sau đó vào Mỹ và vẫn xin tị nạn. Tuy nhiên, Washington Post dẫn nguồn cho biết họ có thể bị cáo buộc gian lận thị thực và đối mặt với nguy cơ bị trục xuất.

Bộ Ngoại giao Mỹ viện dẫn sắc lệnh hành pháp mà Tổng thống Trump ký hồi tháng 1/2025. Sắc lệnh này yêu cầu đánh giá lại toàn bộ các chương trình thị thực nhằm ngăn chặn việc bị “các phần tử khủng bố nước ngoài và những đối tượng gây nguy hại cho an ninh quốc gia” lợi dụng. Sắc lệnh cũng nhấn mạnh việc phải thực hiện sàng lọc nghiêm ngặt đối với người tị nạn hoặc người không quốc tịch.

Trước đó, ngày 24/4, Tòa phúc thẩm liên bang tại Đặc khu Columbia đã phán quyết rằng việc Tổng thống Trump tuyên bố có “cuộc xâm nhập” của người nhập cư bất hợp pháp tại biên giới Mỹ – Mexico để hạn chế người xin tị nạn là không hợp pháp. Chính quyền Trump cho biết sẽ kháng cáo phán quyết này.

Phó phát ngôn viên Nhà Trắng Abigail Jackson lúc đó khẳng định Bộ Tư pháp sẽ yêu cầu tòa xem xét lại và tuyên bố: “Chúng tôi tin tưởng rằng sẽ chứng minh được mình đúng”. Bộ An ninh Nội địa Mỹ cũng phản đối mạnh mẽ phán quyết, nhấn mạnh Tổng thống Trump vẫn ưu tiên hàng đầu việc sàng lọc và thẩm tra nghiêm ngặt tất cả người nước ngoài muốn đến, sinh sống hoặc làm việc tại Mỹ.

Bình Minh (t/h)
nguồn trithucvn2.net.

Wednesday, April 29, 2026

"Tình yêu đầu đời của tôi chính là Thủy quân Lục chiến"

Hôm nay, tại sự kiện Modern Day Marine, Quyền Bộ trưởng Hải quân Hung Cao đã chia sẻ về tình yêu đầu đời của ông:

“Tình yêu đầu đời của tôi chính là Thủy quân Lục chiến:

Bởi chính Thủy quân Lục chiến là lực lượng đã đưa tôi rời khỏi Việt Nam vào năm 1975.

Chính Thủy quân Lục chiến đã đón tiếp tôi tại Guam, và một lần nữa, chính Thủy quân Lục chiến lại hiện diện tại Trại tị nạn Camp Pendleton, nơi tiếp nhận đợt người tị nạn thứ hai.

Vào năm 1979, khi Quốc vương Iran bị lật đổ và tôi đang sinh sống tại Tây Phi, họ đã đưa chúng tôi vào trú ẩn bên trong các tòa đại sứ quán, và những người lính Thủy quân Lục chiến làm nhiệm vụ canh gác bảo vệ chúng tôi đêm hôm đó đã nói rằng: ‘Đêm nay sẽ không có bất cứ điều gì làm hại được các bạn đâu, chừng nào chúng tôi còn đang làm nhiệm vụ canh gác tại đây.’

Chính vì thế, tôi đã khao khát được trở thành một người lính Thủy quân Lục chiến giống như họ. Tôi muốn được trở thành những người hùng ấy khi tôi trưởng thành.”

FB Hung Cao





“Những thế hệ anh hùng – Di sản Tháng Tư” Children of Heroes – The Legacy of April




“CUỘC RA ĐI LẦM LŨI CỦA MỘT VỊ TỔNG THỐNG”

50 năm trước, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã có ngày lưu vong cô đơn đầu tiên trên đất khách quê người ở Taipei, Taiwan. Để rồi, ba ngày sau, 29/4/1975, vị tổng thống lưu vong đã cay đắng trả lời một đại diện không chính thức của chính phủ Mỹ: “Làm kẻ thù của Mỹ thì rất dễ, nhưng làm bạn rất khó”. 10 năm lính Mỹ cùng chiến hào binh sĩ Nam Việt có phải vì Mỹ muốn giúp đỡ Việt Nam Cộng Hòa hay đã dùng chính những người lính Việt này để thực hiện thế trận ngăn chặn “làn sóng đỏ” ở Châu Á thì lịch sử đã đủ tường minh rồi!

Từ nhiều tháng trước khi ông Thiệu phải lầm lũi ra đi trong đêm, chính quyền miền Nam Việt Nam đã đến thế cờ tàn thật sự sau khởi đầu của chuỗi domino sụp đổ từ Hiệp định Paris 1973. Người bạn Mỹ, đồng minh chí cốt từng một thời làm quá tải phi trường Tân Sơn Nhất bởi dày đặc những chuyến không vận tiếp tế cho Sài Gòn, đã quay lưng thật sự.

Bản tin đài VOA tường thuật cuộc bỏ phiếu kín của Hạ Nghị viện Mỹ ngày 12/3/1975 về việc tiếp tục viện trợ quân sự cho Sài Gòn đã nhận kết quả cay đắng: chỉ có 49 phiếu thuận trong khi đến 189 phiếu chống. Một ngày sau, Sài Gòn lại tiếp tục nhận tin sét đánh từ Thượng viện Mỹ: chỉ có 6 phiếu thuận trên 36 phiếu chống việc viện trợ thêm vũ khí cho Sài Gòn trong năm 1975.

Trong cuốn sách Từ tòa Bạch Ốc đến Dinh Độc Lập, tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng trưởng Kế hoạch của ông Thiệu đã nhắc lại một đoạn u tối: “Tại nhà thờ Lutheran ở Arlington, tieu bang Virginia, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng James Schesinger đã khóc cho miền Nam Việt Nam”. Ông được ngài phó giám đốc Cục tình báo Trung ương Vernon Walters kể rằng viên đại sứ Nam Việt Nam ở Washington nói: “Phía bên kia vùng không có bình minh là hoàng hôn đang phủ xuống”. Rồi Schlesinger nhớ lại: “Tôi vẫn nhớ lời miêu tả của Churchill về sự sụp đổ của nước Pháp trong Thế chiến thứ II. Đây là thảm họa tương tự, dù khác nhau về tầm cỡ. Tôi không trách người Việt Nam đã cố theo đuổi chút hy vọng mong manh. Tôi cảm thương họ. Tôi buồn cho họ!” …

Tổng thống Ford tháng 4 năm 1975 quyết định rằng Hoa Kỳ sẽ không can thiệp về mặt quân sự nữa. Sẽ không có những hạm đội đổ bộ đến cứu nguy, cũng không có những chuyến tàu tiếp tế từ phía chân trời như đã từng có từ 10 năm trước đây …”.

Gặp ông Thiệu ở Dinh Độc Lập, Tổng trưởng Nguyễn Tiến Hưng đã chứng kiến sự tức giận cùng cực của vị tổng thống suốt 10 năm của nền Đệ nhị Cộng hòa Nam Việt với đồng minh Mỹ: “Điều này không thể tin được. Trước hết ở Midway, người Mỹ bảo tôi chấp thuận vài ngàn lính Mỹ rút quân và tôi vẫn còn nửa triệu lính Mỹ ở lại chiến đấu với tôi”. Rồi sau đó, khi họ rút thêm quân, họ đã nói: “Đừng lo, chúng tôi sẽ tăng cường cho ông để bù cho những sư đoàn đã rút lui”. Khi nhịp độ rút quân gia tăng, và năm 1972 họ lại nói với tôi: “Đừng lo, ông còn có những lực lượng dự bị và chúng tôi bù đắp cho việc rút quân bằng việc tăng yểm trợ không lực cho bộ binh của ông”. Sau đó, lính Mỹ rút hết và cũng không còn yểm trợ không lực. Họ lại nói với tôi: “Chúng tôi sẽ tăng cho ông thêm nhiều quân viện để bù đắp vào tất cả những cái đó. Xin đừng quên Đệ thất hạm đội Mỹ và những căn cứ không quân ở Thái Lan sẽ bảo vệ ông trong trường hợp cần thiết”.

Cuối cùng, chẳng còn gì hết, người Mỹ không hỗ trợ quân sự cũng cắt tiếp viện cho Sài Gòn!

Chính quyền Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cố gắng chống chọi bằng mọi giá, từ những lá thư khẩn cầu viện trợ gởi đích danh đến Tổng thống Ford, Quốc hội, Bộ Quốc phòng Mỹ, kể cả việc đem các mỏ dầu Hoa Hồng (nay là Bạch Hổ) dù mới ở giai đoạn thăm dò thấy dầu ra “thế chấp” để vay tiền.

Trong lá thư đầy u buồn với nhiều lời lẽ van nài của ông Thiệu gửi cho Tổng thống Ford có những đoạn như không thể nào buồn và cam chịu hơn được nữa: 

“ … Chúng tôi kêu gọi lương tâm và lòng thương của nhân dân Mỹ đối với cảnh ngộ của đất nước chúng tôi, một người bạn đồng minh trung thành của nhân dân Mỹ trong suốt 20 năm sóng gió, một dân tộc đã chịu nhiều hy sinh và đau khổ to lớn trong hai thập niên để gìn giữ mảnh đất tự do này. Một dân tộc như vậy xứng đáng với lòng thông cảm và giúp đỡ. Trong giờ phút vô cùng khẩn thiết, chúng tôi mong muốn Ngài thúc giục Quốc Hội xem xét dễ dàng và cấp bách lời yêu cầu được vay “số tiền vì tự do” của chúng tôi. Đây sẽ là hành động cầu xin cuối cùng mà chúng tôi, một người bạn đồng minh, gửi đến nhân dân Mỹ”.

Giữa tháng 4 cuối cùng của chính thể miền Nam, Tổng trưởng Nguyễn Tiến Hưng cầm lá thư “Freedom Loan” (vay tiền cho tự do) đầy bi thảm này đi Mỹ với trạng thái u uất, không tin mình sẽ thành công. Chuyến phản lực cất cánh trên đường băng Tân Sơn Nhất trong một buổi sáng ầm ì tiếng bom đạn. Mặc dù nó không đầy hành khách, nhưng có cảm giác như nặng nề hơn bình thường với tâm trạng trĩu nặng của Tổng trưởng Hưng. Cô tiếp viên yêu cầu ông đặt chiếc cặp da lên giá hành lý trên đầu, nhưng ông ta khư khư giữ chặt trong lòng vì không muốn rời lá thư này.

Về sau, cuốn Từ Tòa Bạch Ốc đến Dinh Độc Lập đã thuật lại: “ Cảm thấy lòng ngực nhức nhối và chóng mặt. Hưng có một linh cảm sắc bén đây là lần cuối cùng ông ta còn nhìn thấy được quê hương mình, và có lẽ chẳng bao giờ ông còn gặp lại mẹ và các anh chị em của mình. Ông nhìn xuống Sài Gòn qua cửa sổ máy bay một cách tuyệt vọng. Từ trên cao, Sài Gòn hiện ra thật đẹp, tràn đầy những kỷ niệm của một thời đã qua … Như hiểu được tâm trạng ông, máy bay lượn hai vòng quanh Sài Gòn … Bên dưới vẫn là dòng sông Sài Gòn với màu nước nâu sẫm như Chocolate, với hàng dừa chạy dọc hai bên bờ, nơi đó cuối tuần nào ông cũng đến câu cá, bắt tôm. Xa xa, Dinh Độc Lập rực sáng và những nỗi đau khổ trong ba tháng qua lại ập đến với ông”.

Và Tổng trưởng Hưng đã dự cảm đúng. Kế hoạch “Freedom Loan”, chiếc phao cứu sinh cuối cùng của Sài Gòn, hoàn toàn đổ vỡ. Từ khẩn cầu vay 3 tỷ USD ban đầu, rút xuống còn 722 triệu có hoàn trả, nhưng Quốc hội Mỹ vẫn lạnh lùng lắc đầu. Niềm hy vọng mong manh cuối cùng đặt ở nỗ lực của Chính phủ Mỹ đã bị Henry Kissingger dội gáo nước lạnh: “Việc bàn luận về Việt Nam đã chấm dứt. Chính phủ sẽ chấp nhận lời pháp quyết của Quốc hội mà không phản bác lại”.

“Chiều ngày 20/4, Đại sứ Martin đến thăm Tổng thống Thiệu để hỏi về tình hình và gợi ý ngọt ngào: “Tôi tin rằng một vài ngày nữa, các tướng lãnh của ông sẽ đến đề nghị ông từ chức”. “Nếu tôi từ chức thì sẽ có viện trợ quân sự không”, ông Thiệu hỏi. Martin trả lời: “Tôi không thể hứa với ông nhưng có thể vậy”. Trước khi Martin về, ông Thiệu nói rằng mình sẽ làm những điều tốt nhất cho đất nước”. Cuốn sách của Nguyễn Tiến Hưng nhắc lại những ngày cuối sầu thảm trên chiếc ghế Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa của ông Thiệu.

Suốt từ khởi đầu vào thập niên thứ hai của thế kỷ 20, Tân Sơn Nhất đã là chứng nhân của bao biến động thời cuộc. Từ giai đoạn phát triển của miền đất phía Nam trù phú, đến cuộc Thế chiến thứ hai tàn khốc, người Nhật kéo sang, quân Pháp tái xâm lược rồi cũng đến ngày phải rút lui hoàn toàn, quốc gia hình chữ S bị chia đôi bởi vĩ tuyến 17 và nền Đệ nhất, Đệ nhị Cộng hòa mong manh như ngọn đèn dầu trong chiến cuộc kéo dài suốt 20 năm. Đến tận cuối tháng 4/1975, phi trường Sài Gòn này lại trở thành chứng nhân một sự kiện lịch sử thầm lặng nói lên gió đã xoay chiều báo hiệu những trận cuồng phong dữ dội sắp ập đến.

Trước áp lực chiến sự dồn dập đẩy chính quyền Sài Gòn vào thế bí, ngày 21/4/1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải ngậm ngùi từ chức, nhường vị trí lãnh đạo lại cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương, với hy vọng mong manh sự đổi thay chính trị có thể thay đổi thế cờ quân sự đang sắp đến hồi “chiếu tướng” miền Nam. “Về vườn” nhưng vị cựu Tổng thống nắm quyền dài nhất ở miền Nam cũng không thể ở lại quê hương của mình. Lực lượng cách mạng buộc phải “loại biên” vĩnh viễn ông Thiệu, chính quyền tân Tổng thống Trần Văn Hương cũng cho rằng không thể làm được gì nếu vị cựu Tổng thống sắt đá chống cộng và đầy bản lĩnh chính trường còn hiện diện ở Sài Gòn.

Ông Thiệu buộc phải ra đi!
Phi trường Tân Sơn Nhất là chứng nhân cuộc ra đi thầm lặng, buồn thảm này. Đêm 25/4/1975, một chiếc DC6 thuộc quyền sử dụng của Đại sứ quán Mỹ bay từ Bangkok sang Tân Sơn Nhất để đón một vị khách đặc biệt.

Cùng lúc đó, tư dinh Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, trong Bộ Tổng Tham Mưu, âm thầm diễn ra buổi chia tay một vị cựu Tổng thống như không thể nào sơ sài, giản đơn hơn được nữa. Không có hoa, rượu, cũng chẳng có lời diễn văn tiễn biệt hoa mỹ nào, ông Thiệu lặng lẽ lên một trong ba chiếc công xa màu đen của Đại sứ quán Mỹ lầm lũi chạy thẳng vào phi trường.

Ngồi băng ghế sau, vị Tổng thống mà lúc này đã là cựu của Chính quyền miền Nam Việt Nam lọt thỏm giữa hai người Mỹ to lớn là tướng Timmes và đặc trách tình báo Polgar. Hộ tống ông Thiệu cũng bằng vài lính thủy quân lục chiến Mỹ, chứ không hề có một người lính Việt nào trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa mà ông từng nhiều năm là tư lệnh tối cao của họ.

Đoàn xe chạy qua Đài tưởng niệm chiến sĩ trận vong với dòng chữ “Những hy sinh cao quý của chiến sĩ đồng minh sẽ không bao giờ bị quên lãng”. Ông Thiệu thở dài giữa hai người Mỹ ngồi cùng băng ghế tiễn đưa một cựu Tổng thống mà chẳng khác gì như áp tải. Xe cũng không dừng lại ở bãi đậu máy bay của Air Việt Nam, mà sang bãi riêng biệt của Air America với lính thủy quân lục chiến lăm lăm M16 canh gác.

Ở đó, Đại sứ Mỹ Graham Martin đã đợi sẵn với cái bắt tay xã giao cùng câu chào ngắn gọn. Ông Thiệu trông có vẻ rất buồn và nhẫn nhịn, nhưng vẫn giữ cố tư cách trang trọng của một Tổng thống, để nói lời cảm ơn Martin đã tổ chức chuyến ra đi đặc biệt này. Đại sứ Mỹ đáp lời: “Đây là điều nhỏ nhặt nhất tôi có thể làm. Chào ông và chúc ông may mắn”.

Ít phút sau, chiếc DC6 cất cánh rời khỏi Sài Gòn rực ánh hỏa châu báo hiệu chiến sự đang đến rất gần và thời điểm Đô thành thất thủ chỉ còn tính bằng ngày. Ông Thiệu ngậm ngùi dõi mắt qua ô cửa sổ máy bay, nhìn Sài Gòn bỏ lại sau lưng. Bàn cờ chính trị - chiến cuộc trên mảnh đất đẫm máu lửa, thương đau đã tàn và ông ta hiểu đây là lần cuối cùng mình được nhìn thấy quê hương!

Người dân, kể cả nhiều chính khách lớn nhỏ của miền Nam, cũng không hề biết một cựu Tổng thống của nền Đệ nhị Cộng Hòa đã rời khỏi đất nước và không hề mang theo một thỏi vàng nào trong 16 tấn vàng ngân khố như lời đồn thổi đầy ác ý. Nhưng chiến tranh vẫn không hề được tạm dừng hay một chính phủ liên hiệp nào đó ra đời như một số người hy vọng. Biệt khu Sài Gòn vẫn đang bị thít chặt lại với tốc độ nhanh đến nỗi không ai ở bên trong đó có thể ngờ nổi.

Ngày 29 - 4 -1975, một đại diện không chính thức của Chính phủ Mỹ đã tìm gặp ông Thiệu khi ấy vẫn còn đang ở Đài Loan, để chuyển lời rằng ông không nên đến Mỹ vào lúc này, nhân dân phản chiến Mỹ không chào đón ông. Ông Thiệu nhún vai, trả lời một cách ngậm ngùi: “Làm kẻ thù của Mỹ thì rất dễ, nhưng làm bạn rất khó” …

Đặc biệt, khi vị tổng thống lưu vong cay đắng thốt lên những lời này, thì ở quê hương Sài Gòn, tướng "độc nhãn" Hoàng Anh Tuấn - Trưởng phái đoàn quân sự Chính phủ CMLTMNVN đang ở trại Davis, phi trường Tân Sơn Nhất, đã lệnh cho cấp dưới chuẩn bị một lá cờ cách mạng thật lớn. Đúng 9 giờ sáng ngày 30 - 4 - 1975, lá cờ hai màu xanh đỏ ấy đã được treo lên tháp nước ở trại Davis trước khi quốc kỳ ba sọc Việt Nam Cộng Hòa bị hạ xuống ở Dinh Độc Lập.

50 năm trước, Mỹ đã quay lưng với đồng minh ngay thời khắc sinh tử nhất.”

---------------

(Trích sách 100 năm Phi trường Tân Sơn Nhất - tác giả Quốc Việt)


BẤT ĐỘNG SẢN

Năm 72, tui có đọc một bài viết của giáo sư Vũ Quốc Thúc, lúc đó giáo sư đang giảng dạy ở Đại Học Luật Khoa Saigon. Bối cảnh năm 72 là mọi người thấy ló dạng hoà bình và suy nghĩ để phát triển đất nước sau chiến tranh. Nên nhiều nhân sĩ, trí thức đua nhau hiến kế với lòng yêu nước. Có người nói về phát triển công nghiệp, nông nghiệp. Có người đề nghị cải cách giáo dục, đào tạo nhân tài. Vân vân. Giáo sư nói xây dựng, xây cất là cách nhanh nhất giúp ta thoát khỏi đói nghèo. Trên bình diện quốc gia cần luật lệ thông thoáng trước (giáo sư luật mà). Có chính sách tốt, tự nhiên nó phát triển.

Giáo sư nói đầu tư bất động sản cần luật chớ không cần... vốn. Thời đó không ai hiểu cả. Chỉ sau này khi sống ở nước ngoài nhiều năm, mới biết luật lệ quan trọng hơn cả tiền bạc. Có luật thì ngân hàng mới dám cho vay.

Người ít vốn nếu biết cách vẫn có thể làm ăn được. Tiền đổ vào xây dựng dễ hơn đổ vào các ngành khác, nó mau chóng vực dậy một quốc gia kiệt quệ bởi chiến tranh.

Cũng có nhiều cái mình không biết. Thí dụ như để cho một công ty nước ngoài vào VN xây dựng một khách sạn năm sao chẳng hạn. Nếu họ đầu tư một triệu thì quốc gia đó phải có ba trăm ngàn bỏ vô một quỹ trọng tài nào đó. Để nếu có tranh chấp hay bị quốc hữu hoá, thì người đầu tư còn biết kiện ở đâu để lấy lại. Đó là vốn của quốc gia bỏ ra trước thì tư bản mới chịu "nhào vô". Họ khôn lắm, không bao giờ nắm dao đằng lưỡi.

Tiếc thay những trí thức, nhân tài như giáo sư không có đất dụng võ. Để sau 75, quốc gia lúng túng vì thiếu luật lệ. Nên ta hiểu vì sao nước Mỹ tiến bộ. Họ có đội ngũ luật sư. Làm cái giống gì cũng phải có luật.

Ngành xây dựng phát triển kéo theo mọi ngành khác cùng hưởng lợi. Nhất là công ăn việc làm. Đây là cách nhanh nhất để vực dậy nền kinh tế. Còn các ngành sản xuất, phải mất từ mười năm mới có lời. Phát triển xây dựng cần một lãi suất vay mượn thích hợp. Vài ba "chấm" thấp thấp là bà con vui mừng xuống tiền... cọc để các công ty xây dựng làm ngày làm đêm. Ổng Dượng rầu ông Fed là vậy.

Khủng hoảng kinh tế năm 1929 bắt đầu cũng tại nước Mỹ. Sản xuất hàng hóa dư thừa khiến mọi thứ rẻ mạt và các nhà máy phá sản. Tổng Thống Roosevelt ban hành một chính sách (tên gì tui quên rồi) về xây dựng. Nhà nước bỏ tiền xây các công trình công cộng. Người dân có việc làm, có lương để tiêu xài và các ngành sản xuất từ từ phục hồi. Dĩ nhiên đây cũng là con dao hai lưỡi. Lạm dụng nó sẽ khiến nhiều "thành phố ma" mọc lên và ngân hàng sập tiệm.

Nước Mỹ bây giờ khi ông Dượng nắm quyền. Bên ngoài hào nhoáng mà bên trong rối bời vì nợ nần quá xá. Giống như bà chủ... hụi. Nhà cửa, xe cộ, túi hiệu mà toàn mua bằng tiền của... người ta. Phải trả tiền lời cắt cổ bằng cách hốt hụi non. Lấy nợ mới trả nợ cũ. Làm sao để thoát khỏi tình trạng này? Vực dậy các ngành sản xuất đã "rỉ sét" phải cần vài năm. Mà ông Dượng chỉ có mươi tháng nữa. Người Mỹ không kiên nhẫn. Mất đa số quốc hội giữa nhiệm kỳ là bó tay mọi tổng thống.

Là dân bất động sản. Ông Trump nhận ra Trung Đông là cơ hội đầu tư ngành xây dựng. Biến sa mạc thành tiền kiểu Las Vegas. Các quốc gia vùng này giàu có. Tiền của họ nằm đầy trong các ngân hàng khắp thế giới. Dầu hoả rồi cũng có ngày cạn kiệt. Họ phải tìm đường phát triển khác. Phải có hạ tầng đường xá, cầu cống và các thành phố như kiểu Dubai. Thì tiền mới đẻ ra tiền. Nhiều chính khách đến dụ dỗ họ để lấy hợp đồng làm ăn. Nhưng họ chỉ tin tưởng ông Trump. Ông thất cử năm 20. Họ ... chờ. Ông đắc cử. Chưa vô Bạch Cung mà họ đã đến Mar A Lago bàn bạc rồi. Vì sao họ chờ ông Trump?

Bà con thử nghĩ, xây dựng mà kế bên có ông láng giềng hung hăng, lại sắp có bom nguyên tử thì bố bảo ai dám xuống tiền. Chỉ khi Trung Đông có hoà bình dưới sự bảo đảm an ninh của Mỹ thì tư bản mới ồ ạt đầu tư.

Mỗi quốc gia có một thế mạnh. Mỹ không thể ngồi may vá nhưng khi cần luật sư, bảo hiểm, tài chánh và bao nhiêu dịch vụ khác phục vụ cho xây dựng. Mỹ là bậc thầy.

Nên giờ tui mới biết tại sao ông Trump chọn một bộ trưởng quốc phòng trẻ tuổi chịu chơi. Tại sao ngành sản xuất vũ khí Mỹ quay sang ủng hộ Dượng trong cuộc bầu cử này. Và bây giờ họ làm 3 ca không nghỉ. Mọi vũ khí tiên tiến nhất đã được đưa đến căn cứ ở Ấn Độ Dương cả hai tháng nay. Tất cả nhắm vào Iran. Nói ra là... ác. Nhưng như một vài bạn có comments trong bài trước. Tất cả vì tiền, vì quyền lợi quốc gia. Không có vấn đề đạo đức ở đây.

Chuyện nước Úc mấy năm trước. Một doanh nhân khi về nhà sau buổi làm việc. Bị một tên cướp đâm một nhát vào bụng rồi lấy giỏ tiền. Không ai thấy nhưng.... vệ tinh thấy. Thấy hắn đi từ đâu, núp ở đâu rồi sau đó trốn ở đâu. Bây giờ đụng xe chết người rồi bỏ chạy giữa đêm thanh vắng. Cảnh sát tìm ra liền. Thì mấy ông "Vệ Binh Cách Mạng" giấu bom đạn ở đâu chỉ là chuyện nhỏ. Cho là hầm sâu bom không xuyên thủng thì mấy... cửa hầm bị lấp cũng vậy mà thôi.

Mỹ cũng cần phô trương sức mạnh. Lâu lâu phải làm một lần không thì người ta... quên. Người ta khinh thường.

Họ có kinh nghiệm để không mắc sai lầm quá khứ. Chọn Iran để uýnh là tạo hoà bình trong sức mạnh. Để bác Tập, bác Pu biết mình biết ta. Chớ chỉ hăm mà không uýnh, người ta cười mình "xạo". Bây giờ đánh là có thể báo trước để dân tránh xa.

Tui hỏng khuyến khích bạo lực. Chỉ "chém gió" chuyện thời sự cho vui. Đoán mò là việc làm "động não". Nó khiến mình chống già nua. Chớ mình tài giỏi thì giờ này đâu còn phải làm ... thợ hồ. Hic!

Jimmy Nguyễn

Blog Archive