Saturday, August 3, 2019

CÂU CHUYỆN BALTIMORE


Tuần qua, TTDC đã hết sức ‘bận rộn’ với cuộc chiến mới giữa TT Trump và dân biểu Elijah Cummings về đơn vị Baltimore của ông. Sau khi ông Cummings lên tiếng công kích tình trạng của di dân tại các trại tạm cư vùng biên giới Mễ, TT Trump đã phản đòn, chê trách thành phố Baltimore là thành phố được quản trị một cách tệ hại nhất, với nạn chuột đủ loại hoành hành trong các bãi rác khắp thành phố.

Phe cấp tiến nhẩy dựng lên công kích TT Trump là kỳ thị.
Ta coi lại câu chuyện này để hiểu vấn đề cho rõ và rộng ra hơn.

Trước hết, xin nói qua về bối cảnh.
Dân biểu Elijah Cummings là dân biểu da đen, Hồi giáo duy nhất của Hạ Viện Mỹ trước khi các bà Ilhan Omar và Rashida Tlaib được bầu cách đây hai năm. Ông đắc cử dân biểu năm 1996, cách đây 22 năm, đại diện cho khu vực 7 của tiểu bang Maryland, bao gồm phiá Tây thành phố Baltimore, là một trong những khu vực xuống cấp và tệ hại nhất nước Mỹ. Sau khi đảng DC chiếm đa số tại Hạ Viện, ông được bổ nhiệm làm chủ tịch Ủy Ban Giám Sát Chính Phủ - Government Oversight Committee.

Maryland là tiểu bang bao quanh phía bắc và đông của thủ đô Washington, một trong những thành đồng kiên cố nhất của đảng DC, dân da trắng là thiểu số với khoảng 40% dân số, trong khi dân da đen chiếm 30% và dân da nâu chiếm 17%. Dân Á Đông lên tới khoảng 7%, trong đó có khá nhiều dân tỵ nạn Việt.

Như Diễn Đàn Trái Chiều này đã bàn qua nhiều lần, phe DC và đồng minh TTDC đã vùi đầu dưới cát từ hơn 2 năm qua, khăng khăng phủ nhận Mỹ đang gặp khủng hoảng di dân, cho đây là một khủng hoảng giả tạo, do TT Trump bào chế ra trong mục tiêu kỳ thị của ông. Trong vài tháng gần đây, họ không còn vùi đầu được nữa khi mỗi tháng đã có cả trăm ngàn người tìm cách vượt biên giới bất hợp pháp bị bắt, khi các trại tạm cư bị tràn ngập, không đủ cơ sở và phương tiện vật chất nuôi đám người này, khiến Sở Di Trú mỗi ngày phải thả ra ít nhất 1.000 người, khiến quốc hội đã phải đồng ý cấp ngân sách 5 tỷ khẩn cấp để lo cho đám di dân tạm cư.

Không phủ nhận khủng hoảng được nữa, bây giờ phe cấp tiến đổi chiều hướng tấn công, quay qua đánh cái mà họ gọi là chính sách vô nhân đạo, cố tình đầy đọa đám di dân của chính quyền Trump. Bi thảm hóa tình trạng cư trú đến mức lố bịch như cô dân biểu nhí Ocasio-Cortez đã hô hoán ‘di dân bị bắt uống nước nhà cầu’.

Dĩ nhiên đây không phải là tiếng nói khùng điên của một người, mà là một sách lược quy mô mới của đảng DC. Một số lớn chính khách DC, với sự tiếp sức của cái loa TTDC (và cái loa phụ truyền thông tỵ nạn), nhất loạt khui ra những thảm cảnh bi đát nhất trong các trại tạm cư, để đổ tất cả tội lỗi lên đầu ‘tay kỳ thị vô nhân đạo Trump’.

Cái mà phe cấp tiến không nói cho rõ là nguyên nhân của khủng hoảng.
Ở đây ta nên nhớ lại những tuyên bố chống di dân rất cứng rắn của ứng cử viên Trump khi còn tranh cử năm 2016. Hậu quả là ngay sau khi ông Trump đắc cử, số dân tìm cách tràn vào Mỹ giảm ngay 2/3 trong ít nhất sáu tháng đầu năm 2017. Đảng DC hoảng hốt khi thấy số cử tri ‘tương lai’ của họ giảm sút quá nhanh, vội tung ra cái gọi là ‘luật an toàn’ –sanctuary laws- cho cả tiểu bang Cali, cùng với nhiều khu vực khác ở các tiểu bang gần biên giới, và những thành phố đông dân gốc Trung và Nam Mỹ như New York, Chicago,...

Đám buôn người Nam Mỹ khai thác tối đa sanctuary laws, xuyên tạc cho dân Nam Mỹ ít hiểu biết là họ chỉ cần băng qua được biên giới là sẽ không còn bị trục xuất được nữa. Hàng loạt các đoàn người di dân được tổ chức quy mô, đi bộ, đi xe hàng, đi xe lửa,... từ các quốc gia nghèo đói Trung Mỹ tới biên giới Mễ-Mỹ. Con số di dân tràn vào Mỹ tăng như diều gặp gió lớn. TT Trump phản ứng bằng nhiều cách như đòi xây tường biên giới, tăng cường cảnh sát biên thùy, gửi Vệ Binh Quốc Gia đến giúp kiểm soát biên giới, không cho di dân tạm trú trên đất Mỹ,... Tất cả mọi biện pháp đều bị phe DC và TTDC chống đối mạnh mẽ tại quốc hội và trên truyền thông, nếu không được thì chống đối tại các tòa án. Nhân danh lòng nhân đạo, nhân danh lịch sử đón di dân của Mỹ, nhân danh nhu cầu kinh tế,...

Cái tính giả dối của đảng DC được phơi bầy cho cả nước thấy, nhưng những cử tri DC thì mù vẫn mù, không nhìn thấy gì hết. Họ không nhìn thấy việc xây tường là ‘sáng kiến’ của ông DC Clinton, trong khi ông DC Obama là người đã từng hãnh diện đấm ngực khoe là vô địch trục xuất nhiều di dân nhất lịch sử Mỹ, và Obama cũng là người sáng chế ra các cũi sắt nhốt trẻ con di dân. Nếu TT Trump cản di dân là kỳ thị thì hai ông Clinton và Obama là gì?

Trở về câu chuyện sách lược mới của đảng DC trong vấn đề di dân: công kích tính vô nhân đạo, đối xử tàn tệ đối với dân trong các trại tạm cư của chính quyền Trump, bất thình lình, cả trăm chính khách DC nối đuôi nhau đi thăm viếng các trại tạm cư. Tất cả đi rồi về la hoảng “tình trạng khủng khiếp, thê thảm nhất lịch sử nhân loại”. Trong đó có những công kích mạnh bạo nhất của dân biểu Cummings.

Tất cả đồng ca bài hát di dân quá cơ cực, không được tiếp đón ân cần, chu đáo và đầy đủ. Thiếu tiện nghi! Làm như thể Nhà Nước Mỹ phải trải thảm đỏ rước cả trăm ngàn di dân vào khách sạn Hilton nghỉ dưỡng sức. Bây giờ lại còn đồng loạt dơ tay đồng ý cung cấp bảo hiểm và dịch vụ y tế miễn phí, vô hạn cho tất cả di dân lậu nữa!

Đưa đến cái tuýt của TT Trump.

Phe DC chống đỡ bằng cách nào? Họ không thể bào chữa, biện minh Baltimore tốt đẹp chỗ nào. Vì thực tế, Baltimore là một trong những thành phố lớn tồi tệ nhất nước, là chuyện chẳng có gì bí mật khi trước đây đã có rất nhiều người chỉ trích chính quyền thành phố, cũng như đã có rất nhiều bài báo, thiên phóng sự về tình trạng bết bát cùng cực của Baltimore. Ngay cả ông dân biểu Cummings cũng đã đích danh than phiền tình trạng tệ hại của đơn vị của ông.
Baltimore là một thành phố quản trị bởi hàng loạt thị trưởng da đen, nhưng chẳng ai làm gì khá hơn, và đã thành một tỉnh đầy dẫy dân phạm pháp, dân bất mãn sẵn sàng nổi loạn để lợi dụng cơ hội cướp phá, hôi của như những cuộc nổi loạn 5/2019, 4/2015, 4/1968. Baltimore cũng là thành phố đã đẻ ra cái phong trào ‘Black Lives Matters’, tạm dịch là Mạng Sống Da Đen Đáng Kể.

Baltimore cũng là một trong những thành phố lớn tham nhũng nhất nước, với cả lô viên chức thành phố thay phiên nhau vô tù vào khám.

Một người trước đây đã lớn tiếng công kích Baltimore mạnh nhất không phải là TT Trump đâu, mà là cụ xã nghiã Bernie Sanders, ứng cử viên tổng thống của đảng DC hiện nay. Cụ Sanders cho là Baltimore đang trở thành một tỉnh của một xứ chậm tiến đệ tam thế giới, có hy vọng mang dân Baltimore xuống thành dân Bắc Hàn. Phản ứng của TTDC? Giấu nhẹm tin, chẳng bàn một câu.

Bây giờ ông Trump cũng nêu lên vấn đề, nhưng bị cả đám xúm vào tố là ... kỳ thị, vì ông dân biểu Cummings và ông thị trưởng Bernard Young, cả hai đều da đen. 

Baltimore không phải là thành phố duy nhất mà cũng không phải tệ hại nhất. Dưới đây là bảng xếp hạng các thành phố lớn tệ hại nhất nước, dưới nhiều tiêu chuẩn như dân nghèo, thất nghiệp, trộm cướp, ma tuý, giết người, vô gia cư,... Hầu hết đều có thị trưởng DC và trong tiểu bang DC.

Bỏ qua tình trạng của Baltimore, cuộc ‘chiến’ giữa TT Trump với DB Cummings đưa ra ánh sáng hai vấn đề lớn.

VẤN ĐỀ KỲ THỊ
Cuộc chiến bây giờ đã chính thức xác nhận sách lược mới của đảng DC: chụp cái mũ kỳ thị lên đầu ông Trump. Như đã có dịp bàn qua, cái áo giáp đồng đen đã được TT Obama khoác lên người ngay từ khi ông mới xuất hiện trên chính trường quốc gia, năm 2007. Ở đây, tính giả dối hay thiếu lương thiện của ông Obama đã hiện rõ ngay từ đầu, và kẻ này đã viết nhiều bài về chuyện này ngay từ khi đó, là lúc kẻ này mới chân ướt chân ráo, chui đầu vào nghề viết báo lai rai.

Ông Obama, trong bài diễn văn nẩy lửa đưa tên tuổi ông vào chính trường Mỹ, đọc tại Đại Hội Đảng Dân Chủ năm 2004 (là đại hội đã bầu ông John Kerry làm đại diện đảng DC tranh cử chống TT Bush con), đã hô hào “Không có một nước Mỹ đen, một nước Mỹ trắng, mà chỉ có Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ”. Thế nhưng hễ ai mở mồm ra chỉ trích ông bất cứ chuyện gì là ông hay đám đệ tử mau mắn xỉa tay tố là kỳ thị tổng thống da đen ngay. Cả cái đám cử tri suốt ngày tung hô Đấng Tiên Tri cũng hát theo đúng bài bản này. Ngay cả kẻ này cũng bị chụp cái mũ kỳ thị lên đầu bởi vài cụ vẹt tỵ nạn cuồng mê Đấng Tiên Tri. Các cụ sỉ vả kẻ này chống Obama tức là “bưng bô cho dân da trắng”, mà miả mai thay, lại không nghĩ đến chuyện các cụ tung hô cho Obama là bưng bô cho dân gì!

Ngay khi đó, kẻ này đã viết TTDC tung hô “bầu một người da đen làm tổng thống đã đánh dấu một bước tiến vĩ đại trong việc chấm dứt nạn kỳ thị trắng đen tại Mỹ” là một mâu thuẫn khổng lồ. Nếu nước Mỹ thật sự không còn nạn kỳ thị nữa thì màu da của tổng thống đã không còn là chuyện phải bàn nữa. Nếu màu da của tổng thống là yếu tố then chốt để ông ta đắc cử thì đó vẫn là bằng chứng hiển nhiên nhất là nạn kỳ thị vẫn còn trong tiềm thức của mọi người. Hơn 90% dân da đen bầu cho Obama vì cùng màu da, trong khi một số lớn dân da trắng bầu cho Obama vì mặc cảm tội lỗi. 

Hơn nữa, bầu một người lên làm tổng thống không phải vì khả năng xuất chúng gì của ông ta mà chỉ vì màu da của ông thì bảo đảm sẽ gia tăng những xung khắc màu da trong nước Mỹ, nghĩa là trong những năm tới, xung khắc trắng đen sẽ lớn mạnh hơn nữa. Điều ‘tiên đoán’ đã trở thành sự thật khi dưới triều đại Obama, những phong trào kỳ thị cực đoan nhất đã ra đời như Phong Trào Tea Party bên hữu, Black Lives Matters, Occupy Wall Street bên tả đã ra đời. Cũng là thời gian các cuộc nổi loạn của dân da đen bộc phát lại, từ Ferguson đến Los Angeles đến Baltimore, một chuyện đã không xẩy ra trong 28 năm dưới thời các tổng thống ‘da trắng’ Reagan, Bush cha, Clinton, và Bush con.

Hiện nay, phe ta xúm lại công kích TT Trump là kỳ thị ông da đen Cummings. Câu hỏi cho phe ta: Trump kỳ thị ở điểm nào? Nếu TT Trump chỉ trích ông Cummings không lo cho hàng vạn dân da đen đang khốn khổ trong đơn vị của ông thì sao có thể nói TT Trump đã kỳ thị dân da đen? Thế thì cụ xã nghĩa Sanders có kỳ thị không?

Một thắc mắc của kẻ ngu này: hễ một ông/bà da trắng chỉ trích một ông/bà da màu thì đương nhiên là chuyện kỳ thị da màu. Thế nếu một ông/bà da màu chỉ trích một ông/bà da trắng thì đó có phải là kỳ thị không? Khi ông da trắng Trump công kích ông da đen Cummings thì bị gọi là kỳ thị, thế khi ông da đen Cummings công kích ông da trắng Trump thì ông Cummings có là kỳ thị không? Hay là cái mũ kỳ thị chỉ có thể được chụp lên các ông bà da trắng thôi, còn tất cả dân da màu đều chẳng có ai kỳ thị hết?

Sách lược mới của đảng DC khá giản dị nếu không muốn nói là thô thiển: tất cả dân da màu đoàn kết chống tay da trắng Trump trong cuộc bầu cử tới, và tất cả dân da trắng có lương tâm phải bảo vệ dân da màu chống tay kỳ thị Trump, bất kể mọi việc khác!

VAI TRÒ CỦA NGƯỜI DÂN CỬ
Một cách đơn giản nhất, dân cử ở đây phải hiểu như những người được dân bầu vào một trách nhiệm nào đó để phục vụ cử tri. Dân cử khác với quan chức ở điểm quan chức là những người chẳng ai bầu mà được cấp trên bổ nhiệm vào một trách nhiệm nào đó để nghe lệnh, thi hành một chính sách của người cấp trên đó.

Thí dụ điển hình của dân cử là các vị tổng thống, thống đốc, nghị sĩ, dân biểu, thị trưởng, nghị viên thành phố, quan tòa địa phương, hay ngay cả những ông/bà chủ tịch các hội, nhóm được bầu,… Thí dụ điển hình của quan chức là những công chức chỉ thi hành lệnh của cấp trên như bộ trưởng, nhân viên công sở,…

Ở đây, ta không có nhu cầu bàn về công chức mà cần suy gẫm về vai trò của những vị dân cử. Các trách nhiệm dân cử dĩ nhiên khác nhau một trời một vực tùy theo từng trách nhiệm, nhưng một cách thật tổng quát, có thể tóm lược là tất cả đều có bổn phận bảo vệ quyền lợi của cử tri của họ, tuân thủ ‘ý dân’, và quan trọng nhất: giữ lời hứa khi tranh cử.

Lấy trường hợp một dân biểu liên bang. Ông/bà này có trách nhiệm chung là làm luật cai trị cả nước. Những luật này không phải từ trên trời rơi xuống mà là những luật phản ảnh nhu cầu của khối cử tri của họ. Nôm na ra, họ phải dựa trên cuộc sống của cử tri của họ, để nghĩ ra những luật lệ giúp khối cử tri đó nói riêng, và khối dân cả nước nói chung. Một ông dân biểu như ông Cummings có trách nhiệm với khối cử tri của ông trong đơn vị bầu cử của ông trước tiên, sau đó là trách nhiệm làm luật để giúp hay bảo vệ cử tri của ông trước, rồi đến dân cả nước trong Hạ Viện, cuối cùng là giám sát việc Hành Pháp thi hành luật ông và các đồng viện đã làm ra. Tất cả những chuyện ông đã long trọng hứa khi tranh cử thì ông có trách nhiệm phải thi hành.

Điều này áp dụng chung cho tất cả các chức vị được dân bầu.

Đó là nói chuyện nguyên tắc. Trên thực tế, ta thấy tình trạng các dân biểu, nhất là cấp liên bang, càng ngày càng chúi mũi lo ‘chuyện đại sự’ cả nước mà hoàn toàn lơ là những trách nhiệm của mình với cử tri địa phương. Vì cái tôi được thỏa mãn hơn khi tên tuổi của mình được nổi bật trên TV và báo chí cả nước. Chứ tên tuổi của mình chỉ nổi trên vài tờ báo địa phương hay đài TV địa phương thì… chán chết.

Nhìn vào trường hợp ông Cummings. Trong tư cách chủ tịch Ủy Ban Giám Sát Hành Pháp, ai cũng thấy ông ta ra oai, suốt ngày ra rả gõ búa công kích TT Trump, nhưng chẳng ai biết ông đã nói gì và làm gì cho những cử tri địa phương tại Baltimore đã bầu cho ông với hy vọng ông sẽ cải thiện đời sống của họ.
Không ai thấy gì vì sự thật là ông ta đã chẳng làm gì hết ráo. Nhìn vào tình trạng của Baltimore trong 22 năm ông Cummings làm dân biểu thì khỏi phải bàn thêm. TT Trump tuyệt đối có lý khi ông công kích ông Cummings trước khi lo cho đám di dân biên giới Mễ cách đơn vị của ông cả mấy ngàn dặm, nên lo cho cái đống rác Baltimore của ông trước đi. Ông Cummings và các đồng chí DC cũng như đồng minh TTDC đã dùng sách lược ‘cả vú lấp miệng em’, dùng cái cớ kỳ thị để khỏa lấp những thất bại của ông Cummings mà TT Trump đã tố giác.

Nhân đây, kẻ này cũng muốn phá lệ, bàn qua về chuyện cộng đồng tỵ nạn chúng ta.

Việc một số dân tỵ nạn xăn tay áo, tham gia chính trị Mỹ cụ thể bằng cách ra tranh cử hay nhận những trách nhiệm quan trọng trong guồng máy chính quyền để phục vụ cộng đồng tỵ nạn là điều đáng mừng và đáng khuyến khích, chỉ vì đó là cách hữu hiệu nhất để thực sự phục vụ cộng đồng.

Tuy nhiên, nếu những vị đó đi ra ngoài vai trò phục vụ cộng đồng để phục vụ cái tôi cá nhân, hay phục vụ quan điểm cá nhân của mình, hay phục vụ bộ máy cầm quyền nói chung, thì họ đã không chu toàn trách nhiệm hay thậm chí đã phản lại người dân đã bầu cho họ.

Trong thời gian qua, ta đã thấy vài dân cử Mỹ gốc Việt đã có nhiều tuyên bố hay hành động có vẻ thân thiện với chính quyền CSVN. Chẳng hạn như đi ‘công cán’ tại CSVN, hay tiếp các phái đoàn doanh gia hay quan chức VC qua Mỹ, tuyên dương VC,…

Cũng phải nói ngoài lề là những cá nhân -doanh gia hay ca sĩ hay cựu quân nhân hay gì gì khác- cư xử hay có thái độ như thế nào đối với VC là quyền tự do cá nhân của họ, mà chúng ta phải chấp nhận tuy có quyền không đồng ý. Cái đó nằm trong định nghĩa của chế độ tự do dân chủ mà chúng ta đã chọn, ngược lại với chế độ độc tài CS mà ta đã chống. Ngoại trừ trường hợp những cá nhân đó hoạt động nằm vùng cho VC thì không còn chấp nhận được dĩ nhiên.

Nhưng đối với những vị dân cử được bầu lên, họ có bổn phận phải nói và làm những gì họ đã hứa hẹn, có lợi và hợp với quan điểm cũng như ‘ý dân’ của khối người đã bầu cho họ.

Những vị dân cử gốc Việt do đa số dân Việt tỵ nạn bầu dĩ nhiên có trách nhiệm phục vụ cộng đồng tỵ nạn Việt. Thân thiện với VC bất cứ dưới hình thức nào không phải là phục vụ cộng đồng tỵ nạn chống VC.

Những người ‘thân thiện’ với VC đã biện giải là họ là dân cử Mỹ, phải làm cái gì theo quyền lợi của nước Mỹ. Chẳng hạn như gặp doanh gia VC để hy vọng khuếch trương thương mại giữa đơn vị của họ với CSVN. Không đúng!

Đúng là họ phải phục vụ quyền lợi nước Mỹ thật. Nhưng không đúng vì trước tiên, họ bắt buộc phải phục vụ quyền lợi của đa số khối cử tri đã bầu cho họ.

Khối cử tri đó là ai? Chính là những người Việt chống VC, trốn chạy VC, không chấp nhận thân thiện hay hòa hợp với VC. Đó là những lý do căn bản đưa đến sự hiện diện của họ tại xứ Mỹ này.

Cho đến nay, chưa có một vị dân cử gốc Việt nào ra tranh cử mà lại hô hào hòa hợp hòa giải với VC, hay phát triển quan hệ thương mại hay văn hoá với CSVN do đó, nếu sau khi đắc cử, họ thân thiện, hòa hợp với VC là họ đã phản bội lại niềm tin của cử tri đã bầu cho họ. Không ai nói họ vi phạm luật lệ gì hết, chỉ là phản bội niềm tin thôi.

Nếu có tự trọng, họ phải xin lỗi cử tri, từ chức, sau đó, nếu muốn, có thể ra tranh cử trở lại với khẩu hiệu hòa hợp hòa giải, thân thiện với VC một cách công khai để cử tri biết rõ trước khi họ bỏ phiếu. Nếu cử tri chấp nhận và họ đắc cử lại thì không ai có thể trách họ gì được nữa. Trong cái xứ của tự do dân chủ tuyệt đối này, không ai cấm họ chủ trương hòa hợp, thân thiện với VC, nhưng ai cũng có quyền đòi hỏi họ phải tôn trọng cử tri và thành thật với cử tri.

Một điểm xin nói cho rõ: kẻ này chỉ bàn về vấn đề nguyên tắc chung, không có ý định nhắm vào bất cứ cá nhân chính khách Mỹ gốc Việt nào. Và nguyên tắc này cũng áp dụng luôn cho dân Việt tỵ nạn tại Úc, hay bất cứ xứ Âu Châu nào.

Vũ Linh
Xem tử vi

Nguyễn Tài Ngọc 


Năm ngoái khi tôi bị chó cắn, vài người nói đó là năm tuổi của tôi nên tôi gặp đại nạn: tôi khinh thường không xem bói quẻ, tử vi để biết trước phòng hờ nên chó mới cắn tôi. Có lẽ họ nói cũng phải vì nếu biết trước, tôi đã bán nhà dọn đi nơi khác thì làm sao con chó pit bull láng giềng có thể đả thương nhân thương trí mạng tôi được?

Rút kinh nghiệm bị chó cắn máu chẩy lênh láng năm ngoái, năm nay tôi lấy quẻ tử vi để biết trước sẽ bị hạn gì mà còn đề phòng. Có thể tử vi nói tuổi Canh Tuất của tôi vào năm Kỷ Hợi không nên dắt chó đi dạo vào giờ Mão mà chỉ đi vào giờ Thìn, vợ chồng giờ Tí canh Ba một năm hai lần thay vì hai tháng một lần..., nếu tôi nghe lời thì có thể tai qua nạn khỏi.

Tử vi là một môn bói toán để biết vận mệnh con người, phát xuất từ đời nhà Tống (863) của Trung Quốc. Tôi xin mạn phép chép y chang định nghĩa tử vi, theo ông Vương Toàn Hiển từ trang mạng: http://tenphongthuy.vn/tu-vi-la-gi-ung-dung-tu-vi-trong-doi-song-A1463927.html :

"Thực chất, Tử vi là gì? Tử vi có ý nghĩa Tử là màu tím, vi là nhỏ bé. Ngày xưa người ta sử dụng một loại hoa nhỏ, màu tím để chiêm bốc, dự đoán. Và Tử vi cũng chỉ một chòm sao trong Thiên văn cổ đại. Tên này được dùng cho sao quan trong nhất trong môn dự đoán. Căn cứ vào những ý nghĩa trên có thể rút ra kết luận Tử vi là một môn khoa học dự đoán về cuộc sống con người."

"Tử vi Đẩu số do Trần Đoàn tiên sinh sáng tạo ra dựa trên cơ sở nền tảng âm dương, ngũ hành, thiên văn, địa lý, kinh dịch sáng tạo nên dùng để dự đoán vận mệnh con người. Căn cứ vào giờ sinh, ngày sinh, tháng sinh, năm sinh và giới tính lập nên hệ thống lá số Tử vi gồm có 12 cung (mệnh, phụ mẫu, phúc đức, điền trạch, quan lộc, nô bộc, thiên di, tật ách, tài bạch, tử tức, phu thê, huynh đệ). Riêng cung bản thân ở chung với 1 trong sáu cung mệnh, phúc đức, quan lộc, thiên di, tài bạch, phu thê. Ngoài hệ thống cung trong lá số thì còn có hệ thống các sao (93 - 118 sao) trong lá số."

(Nhỡ có ai chậm tiêu như tôi thì tôi xin giải thích Trần Đoàn này là người Hoa, Chinese, chứ không phải người Việt sống ở chợ Long Biên gần lăng Ba Đình. Người mình cứ viết tên người Tầu theo phiên âm tiếng Việt làm ngày xưa khi còn bé tôi ngu đến nỗi cứ tưởng họ là người Việt Nam). 

Tính tôi nếu không biết thì phải tìm hiểu đến nơi đến chốn nên tôi đã vào vài trang mạng để tìm hiểu cách tính vận mệnh dựa trên giờ giấc ngày năm sinh của tôi nằm trong cung nào (12 cung) tương ứng với 12 con giáp, và tương quan đến sao nào (93 sao) nằm trong cung của mình.... Nhưng phải thú thật là sau 40 ngày 40 đêm ròng rã ngồi ê mông đỏ mắt nhìn vào máy vi tính, tôi chẳng hiểu gì cả. 


Đây là lần đầu tiên trong đời tìm dữ kiện tham khảo một vấn đề gì mà tôi lại tối như đêm dầy như đất dù rằng tôi có nền tảng tư tưởng tốt, có lý luận khoa học vững chắc từ chủ nghĩa Mác-Lênin, có siết chặt kỷ cương, nâng cao trách nhiệm, đổi mới căn bản để khắc phục sự cố, có tinh thần học hỏi chiến đấu vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, vì cuộc sống ấm no hạnh phúc của nhân dân, đã trải qua bao nhiêu năm tháng tôi-luyện để nâng cấp cơ bản, thế mà tôi lại không đạt được sức mạnh vô địch, không thấu triệt vấn đề, cứ ù ù cạc cạc đầu óc đầy sạn cát, không biết cách lấy số tử vi ra sao!

Nói về lấy số tử vi, người Việt ở ngoại quốc không may mắn bằng ở Việt Nam khi khách hàng có thể tìm Thầy tử vi xem trực tiếp trên Facebook. Trước khi xem, Thầy nhắc nhở khách phải "Like" và "Share" mạnh bạo thì thánh mới linh, quẻ mới đúng. Sau đó nên mua bùa hộ mạng giá 350,000 đồng Thầy bán (đã được Thầy đặc biệt làm phép phù hộ), và rồi vào tin nhắn riêng, trả thêm chi phí để được giải thích rõ tường tận về lá số tử vi của mình.

Trên Internet có vài trang mạng lấy số tử vi miễn phí. Tôi thử dùng một trang web, cho tên tuổi, giờ giấc, ngày , tháng, năm sinh thì chỉ trong vòng tích tắc, nó đã cho tôi số tử vi sau đây: 

MỆNH: Đẫy đà, cao vừa tầm, da hồng hào, mặt đầy đặn, mắt lộ, hầu lộ, lông mày thưa. Người này thuở nhỏ chỉ tích tụ kinh nghiệm mà khó phát huy khả năng . Từ trung niên trở đi, nhờ kiến thức có sẵn, cộng thêm may mắn mới tạo thành sự nghiệp. Biết sống hòa thuận với mọi người Bề ngoài uy nghiêm, Nhưng lại sống khá buông thả . Hợp nhất với nghề buôn bán , diễn viên, nghệ sĩ...Nhất định không hợp với các nghề như thầy giáo, bác sĩ , nhà văn …

NÔ BỘC: Người giúp việc đắc lực, đông đảo, bạn bè khá giả.

THIÊN DI: Được nhiều người vị nể, hay lui tới những chỗ sang trọng. Vì sẵn có oai phong nên những kẻ tiểu nhân mới trông thấy đã khiếp phục.

TỬ TỨC: Rất đông con, chưa kể con dị bào (con ngoài giá thú), sau các con đều khá giả. 

PHỤ MẪU: Cha mẹ vất vả. Sớm xa cha mẹ nên xin làm con nuôi họ khác hay ở rể/dâu có thể tốt hơn.

PHÚC ĐỨC: Bạc phúc nên tuổi thọ bị chiết giảm. Suốt đời vui ít buồn nhiều, lao tâm khổ tứ. Họ hàng ly tán, nhiều người cùng khổ, cô đơn, mang ác tật, phiêu bạt giang hồ, hay mắc tai nạn mà chết một cách thê thảm. 

ĐIỀN TRẠCH: Tự tay lập nghiệp, về sau mua tậu được nhiều nhà đất.

QUAN LỘC: Có uy quyền, nên chuyên về quân sự.

TẬT ÁCH: Hình dáng kỳ dị. Mắc bệnh phong sang. Thường phải châm chích, hay bị đao kéo đụng chạm tất đau đớn. Mắc tai nạn sông nước.

TÀI BẠCH: Tiền bạc thất thường hay hoang phí, hao tán nhưng hết rồi lại có.

PHU THÊ: Số đào hoa. Muộn lập gia đình, và lấy người bằng tuổi (hay gần bằng tuổi nhau). Đàn ông nhờ vợ mà có tiền còn đàn bà nhờ chồng mà được hưởng giàu sang. Bỏ nhau, nếu không cũng phải xa cách rất lâu rồi mới đoàn tụ.

HUYNH ĐỆ: Nhiều nhất là ba người, nhưng bất hòa.

SAO HẠN THEO NĂM: Thiên La. Gặp hạn Thiên La thì chủ về đau ốm không khỏi, bệnh đều do quỷ ma quấy phá mà ảnh hưởng tới sức khỏe và công việc làm ăn, đề phòng vợ chồng bất hòa.

Quẻ tử vi của tôi hầu hết là sai. Diện mạo của tôi nó đoán sai. Nghề nghiệp cũng sai nốt vì tôi sẽ sập tiệm nếu làm nghề buôn bán: tôi ngần ngại tính tiền người khác. Tôi nhút nhát khi gặp người lạ nên không thể nào làm kịch sĩ La Thoại Tân. Không hiểu sao tử vi nói số tôi không làm nghề thầy giáo vì ngày xưa ước mơ của tôi khi còn đi học là lớn lên làm thầy giáo, không phải để truyền bá kiến thức cho học sinh, mà vì tôi thấy nhiều cô bạn trong lớp mê thầy giáo! 

Số tử vi nói sao hạn của tôi là Thiên La, "bệnh đều do quỷ ma quấy phá". Tôi không tin ma quỷ nên lại càng không tin sao hạn của tôi một tí nào. Làm gì có ma quỷ, mà nếu có thì tôi sẽ bóp cổ ma quỷ chứ làm gì mà ma quỷ quấy phá được tôi?

Tôi không tin tử vi. Tôi không tin khi chào đời số mạng một người đã liên hệ với những ngôi sao nào, đã có sẵn một đặc tính nhất định. Đây là những lý do tôi không tin: 

1. Cá tính, vận mệnh, kiêng cữ... dựa trên giờ giấc ngày sinh tháng đẻ liên kết đến các cung, các ngôi sao... không dựa trên bất cứ một dữ kiện khoa học nào. Nói ngày năm sinh liên hệ đến sự vận chuyển của ngôi sao, tạo ra vận mệnh định sẵn thì không khác gì nói ai sinh ở bệnh viện Từ Dũ có số mạng liên hệ trực tiếp đến mực nước cống ngập lụt cao thấp mỗi khi trời mưa ở khu Tây ba-lô đường Phạm Ngũ Lão và Bùi Viện. Hơn nữa, dù có sai lầm và vô lý đến đâu, người đầu tiên (hay những người đầu tiên) sáng chế tử vi ít ra có đầu óc thông minh tính toán để đưa ra suy luận. Những người bói tử vi bây giờ đại đa số không có kiến thức về sự vận chuyển của ngôi sao, không thấu hiểu lối bói tính toán mà chỉ ba hoa chích chòe dùng tử vi gạt người khác để lấy tiền. Đến mười Thầy tử vi lấy số thì chắc chắn là khách hàng sẽ có mười quẻ khác nhau, không quẻ nào giống quẻ nào. 

2. Ngày xưa khi người ta dùng ngôi sao để định vận mệnh, trí óc con người thô thiển, chỉ dùng ngôi sao nào mắt có thể thấy và theo dõi được vào ban đêm nên do đó tử vi chỉ dùng gần một trăm ngôi sao. Bây giờ khoa học đoán là có đến một tỷ của một nghìn tỷ ngôi sao trong vũ trụ -để tôi viết thành số thì mới thấy kinh hoàng 1,000,000,000,000,000,000,000 (21 con số không sau số 1)-, do đó nếu nói vận mệnh con người chỉ tùy thuộc vào một trăm ngôi sao thì quá ư vô lý. 

3. Sự di chuyển của các hành tinh trong vũ trụ vô cùng phức tạp, chính xác từng ly từng tí. Không có máy móc phát minh để giúp tính toán thì khoa học chẳng biết vũ trụ mênh mông đến đâu, và nhân loại chẳng bao giờ có thể gửi phi thuyền đến các hành tinh khác. Nghìn năm trước ông Tầu chỉ dùng bàn tính cộng trừ của người Trung Hoa thì làm sao tính toán chính xác ngày giờ vận chuyển của các ngôi sao mà liên hệ nó với ngày sinh của con người để đưa ra định mệnh?

4. Nếu tử vi tiên đoán được vận mệnh, hay có thể giúp người ta tránh được tai họa, bất hạnh..., thế thì tại sao tử vi không thể tiên đoán hay biết được một người sinh trong một quốc gia nhân quyền bị đè bẹp như độc tài, tôn giáo cuồng tín, hay Cộng Sản? Sao không có giải đáp số mệnh làm cách nào thoát khỏi những chính quyền này? Những cá tính trong số tử vi lúc nào cũng hiền hậu, sao tử vi không đoán trước được một người sinh ra sau này sẽ trở thành ăn cướp, tham nhũng, ác đức, cường hào ác bá, hãm hiếp, tước đoạt tài sản người khác, giết người không gớm tay? 

5. Dân số thế giới là 7.5 tỷ người. Tôi không biết tử vi có bao nhiêu quẻ 200,000? 400,000? 500,000? Cho dù là 500,000 đi nữa, như thế có nghĩa là rất nhiều người trên thế giới có cùng một vận mệnh? Vô lý hết sức.

6. Vì tử vi giải đoán số mệnh nên người nào tin tử vi phải tin là vận mệnh đã được định sẵn, một người sinh ra số mạng sau này được tham nhũng giầu kếch sù, trong khi một người khác sinh ra số mạng nghèo rớt mồng tơi, "Con quan thì được làm quan, Con sãi ở chùa thì quét lá đa". Đây là vấn đề kỳ thị mà một Thượng Đế công bằng không thể nào cho phép xẩy ra, con người sinh ra phải bình đẳng như nhau. Trừ khi những thầy bói tử vi có thể đưa ra chứng cớ hậu thuẫn dữ kiện của họ, còn không thì chỉ là "thầy bói nói láo ăn tiền".

7. Thử nghiệm của ông Forer, The Forer Effect:

Năm 1948, bác sĩ Tâm Lý học Bertram R. Forer làm một thử nghiệm để chứng tỏ tử vi là mê tín. Ông soạn sẵn một loạt câu hỏi, nói sinh viên trong lớp trả lời rồi ông sẽ tiết lộ cho mỗi sinh viên biết nhận định của ông về số mệnh của mỗi người, dựa trên câu trả lời. Mặc dù mỗi sinh viên trả lời khác nhau, Forer giấu không cho cả lớp biết là mỗi sinh viên đều nhận cùng một kết luận ông ta viết, thu thập ý từ tử vi: 

"Anh/chị thích người khác khâm phục mình. Tuy rằng có vài cá tính xấu nhưng sẽ khắc phục và thay đổi. Vẫn còn tiềm tàng nhiều bản lĩnh chưa dùng đến. Bề ngoài nhìn thấy có kỷ luật và tự kiềm chế nhưng bên trong lo âu và không tự tin. Thường nghĩ mình đã lầm hay làm sai sau khi quyết định một việc gì. Thích thay đổi và khác thường cho đời sống thêm thú vị, bực bội khi nó không xẩy ra. Tin tưởng vào sự hiểu biết của mình, không tin người khác trừ khi có bằng chứng hẳn hòi. Không muốn bày tỏ lòng mình cho người khác biết. Đôi khi muốn giao du với bạn bè nhưng cũng có lúc muốn dành thì giờ cho riêng cho chính mình. Vài mơ ước khó có thể thành tựu".

Ông hỏi mỗi sinh viên đánh giá nhận định của ông có phù hợp với cá tính của họ hay không bằng cách cho điểm từ 1 đến 5, với 5 điểm là đúng nhất. Điểm trung bình cả lớp cho là 4.26 điểm, mặc dù rằng mỗi một sinh viên đều nhận kết quả tử vi như nhau!

Thử nghiệm này gọi là The Forer Effect, bây giờ được nêu ra để chứng tỏ là người ta chỉ có ảo tưởng tin tử vi linh nghiệm cho mỗi cá nhân mình, nhưng trên thực tế thì nó quá mơ hồ, áp dụng vào ai cũng đúng cả.

Có nhiều lý do người ta tin tử vi:

- Mê tín, tin vào một quyền năng huyền bí. 

- Lo lắng và tò mò, không biết tương lai ra sao.

- Kém tự tin, tự mình không quyết định được lối đi trong cuộc sống.

- Tham lam nhưng lười biếng, muốn giầu có thịnh vượng nhưng không muốn đích thân làm việc cực nhọc nên theo hướng dẫn ngu xuẩn của tử vi. 

Riêng trường hợp của tôi, tôi có thể chứng tỏ trên giấy trắng mực đen là số tử vi của tôi quá sai vì nói là tôi số đào hoa! Ngày xưa chẳng cô nào muốn lấy tôi, ngay cả mấy em Kăm-Bô-Chia hay Mỹ đen tôi học chung trong Trung học Mỹ (đã không ai thèm lấy thì làm gì tôi có con dị bào, quẻ tử vi lại sai nữa!). Nếu vợ tôi không làm ơn làm phước cưới hỏi thì chắc chắn bây giờ tôi đã là tăng sĩ Thích Buồn Đời râu tóc bạc phơ đang ngồi tu luyện ở núi Tà Lơn một mình, hận đời đen bạc! 

Nguyễn Tài Ngọc

March 2019
VƯỜN MĂNG CỤT

Image result for vuon mang cut
Người con gái ra đón ông Thành ở ngay khu đậu xe của chung cư. Cô hồn nhiên nắm tay ông, cái nắm tay không phải dắt ông cho khỏi vấp ngã, nhưng tỏ sự thân tình. Cô vừa đi vừa nói:

– Lâu quá rồi bác cháu mình không gặp nhau. Con xem đồng hồ áng chừng giờ bác đến, thế mà đúng. Con vừa ra chưa được năm phút đã nhìn thấy xe bác rẽ vào. Bác trông còn khỏe quá!

Rồi cô thấp giọng. “Mẹ con đang chờ bác.”

Ông Thành nhìn cô con gái của bạn, nhớ lại ngày cô còn bé tí, nay đã gần bốn mươi rồi, không trách mình già. Ông xiết chặt tay cô, nhớ đến người đã đi biền biệt.

Ông Thành là bạn thân từ thời còn rất trẻ của cha mẹ cô, ông là bạn học của ông Lâm từ thời trung học. Họ cùng trưởng thành, ra đời làm việc, lập gia đình, gần như lúc nào cũng có nhau. Họ cùng di tản, tham dự ngày con cái nhau ra trường và cưới hỏi. Cách đây năm năm, ông Lâm qua đời, rồi bà Thành cũng chỉ còn là một nắm tro than. Ông Thành sức khỏe bắt đầu hơi kém đi theo tuổi tác. Sắp tám mươi rồi, còn trẻ trung gì nữa, ông làm biếng đi ra ngoài, sự liên lạc cũng thưa thớt dần giữa hai nhà.

Tuần trước cô cháu Lan, gọi bác Thành thăm hỏi và nói thêm:

– Mẹ con mấy hôm nay không hiểu sao cứ mong gặp bác, nhắc bác hoài, bác có thể ghé qua xơi một bữa ăn trưa với mẹ con và con không?

Ông ngại đi quá, nhưng nghe cô cháu gọi đến lần thứ ba, ông không nỡ chối từ. Hơn nữa gặp lại vợ con của một người bạn thân đã qua đời, sẽ gợi nhớ cho mình bao nhiêu kỷ niệm thân tình cũ cũng là một điều nên làm.

Cô Lan đưa ông vào căn chung cư của mẹ, mẹ cô ở đây từ sau khi cha cô mất được một năm. Bà ở rất gần các con nhưng không muốn ở chung. Con cháu thay nhau gọi điện thoại, và ghé qua, khi sáng, lúc chiều. Thỉnh thoảng một người thu xếp đến ăn trưa với mẹ, không kể những tụ họp gia đình cuối tuần, nên tuy bà ở một mình ở tuổi bẩy mươi các con vẫn yên tâm.

Bà Lâm hôm nay có trang điểm nhẹ nhàng một chút, trông cho tươm tất tuổi già, chắc để tiếp khách Ông Thành để ý đến những bông hoa nhỏ tím đậm trên chiếc áo len mỏng mầu xám bà mặc, mầu sắc trông rất hài hòa.

Bà Lâm vồn vã đón ông:

– A, anh Thành. Anh trông khỏe mạnh quá, chẳng khác thời tôi mới gặp anh lần đầu. Anh còn nhớ lần đó không? Anh Lâm và tôi đón anh đi Lái Thiêu, đi thăm vườn trái cây. Chúng mình mua bao nhiêu là măng cụt.

Ông Thành lắc lắc cái đầu bạc trắng của mình, cố nhớ lại lần đầu tiên gặp bà. Tại sao lại ở vườn măng cụt nhỉ?

– Anh quên rồi à, chúng mình cùng đi trong cái xe Renault đen của ba anh Lâm?

Chịu, ông không thể nào nhớ ra được. Trí óc của mình sao có thể tệ đến thế nhỉ? Đã tám mươi đâu?

Cô Lan dọn bữa ăn trưa lên chiếc bàn nhỏ. Mấy món ăn nhẹ cho ba người. Bà Lâm hình như không chú ý đến thức ăn, Lan tiếp thức ăn vào chén của bác Thành, nhắc mẹ hai ba lần bà vẫn chưa cầm đũa.

Bà Lâm đang hứng khởi nói về dĩ vãng:

– Anh nhớ chứ. Mình ăn trưa ở Búng. Món nem chua ở đó cũng khá ngon. Sau đó mình vào vườn măng cụt, vườn chôm chôm, vườn dâu ở Lái Thiêu. Lúc đó tôi chưa lấy chồng, lần đầu tiên gặp tôi, anh đã yêu tôi ngay. Cả hai anh cùng yêu tôi. Anh nhớ không?

Cô Lan nhìn mẹ, không hiểu mẹ đang muốn nói gì? Ông Thành cũng sững người ra nhìn bà. Ông có yêu bà thời trẻ à? Không, làm gì có chuyện đó. Thủa đó họ chơi chung với nhau, cả hai cặp. Thành, Tuyết và Lâm, Liên; sau đó cả hai cặp đều thành vợ chồng.

Bà Lâm hồn nhiên nói tiếp:

– Mấy cái vườn trái cây khi được mùa mới hấp dẫn làm sao! Những chùm trái dâu, trái chôm chôm nặng trĩu chạm mặt đất. Măng cụt đỏ tím cả khu vườn. Muốn vào trong vườn phải rẽ cành hai bên mà đi. Anh nhớ không, anh dắt tôi vào đó, ở một chỗ vừa che mất anh Lâm, và anh đã tỏ tình.

Ông Thành thần mặt ra, hoang mang không hiểu những lời bà Lâm đang nói có thật hay không? Cô Lan có lẽ biết, đã đến lúc nên rút lui để cho hai người bạn già cũ nói chuyện quá khứ. Cô khe khẽ thu bát của mình, im lặng bước vào phòng ngủ của mẹ. Căn chung cư nhỏ, chỉ có nơi đó, cô có thể tránh mặt hai người.

Ông Thành nhíu mày lại, cố hình dung ra hình ảnh khu vườn trái cây, nơi ông đã mang người yêu của bạn vào đó tỏ tình. Không cách nào ông nhớ ra được. Trí óc mình lú lẫn rồi! Ông than thở trong đầu.

Bà Lâm nheo cặp mắt đã có thật nhiều vết nhăn kéo dài ra đến thái dương nhìn ông, từ tốn nói:

– Tôi để cho ông hôn tôi, nhưng tôi từ chối tình yêu của ông, vì lúc đó anh Lâm đã ngỏ lời cầu hôn trước ông. Chắc ông còn nhớ, hôm đó tôi mặc chiếc áo dài có những bông hoa mầu tím đỏ. Ông bảo mầu hoa trên áo đẹp giống mầu vỏ măng cụt, rồi ông bửa một trái măng ra chia cho tôi ăn một nửa, mầu vỏ tím hồng nhuộm mấy ngón tay ông, ông quệt lên má tôi, nói: “ Em không cần thoa má hồng nữa, anh thoa cho em rồi”

Chi tiết đến thế này thì chuyện chắc phải có thật, mình không nhớ ra được thì ngày mai mình nên làm cái hẹn gặp bác sĩ. Tuổi tám mươi chắc bước vào tuổi mất trí nhớ rồi! Cả một dĩ vãng lãng mạn nên thơ như vậy, người đàn bà nhớ được, mình lại quên bẵng như đầu óc được nhúng vào một dung dịch hóa chất thì tệ thật. Ông không chối nữa, ông nhìn người đàn bà trước mặt, nhìn hai con mắt, mí đã sụp xuống nhưng tròng đen vẫn lóng lánh pha một chút tinh nghịch. Ông hạ mắt nhìn xuống cặp môi, cặp môi đều đặn, hơi cong, thoa một lớp son mỏng mầu hồng. Ông cố hình dung ra cặp môi thời còn trẻ của bà, cặp môi chắc tươi như bông hoa mận, căp môi theo như bà nhớ, ông đã cúi xuống hôn trong vườn măng cụt (Chắc là vội vàng lắm, vì hôn trộm người yêu của bạn mình)

Bà không để ông có thời giờ thả đầu óc về những hình ảnh bà nhắc nhở ông, bà uống một ngụm nước, nói tiếp:

– Sau đó tôi lấy anh Lâm, nhưng không thể quên mối tình của ông. Hôm đám cưới chúng tôi, ông làm rể phụ. Ông đẹp trai và rất xứng với tôi, nên có người đã nói, để ông làm chú rể thì đẹp đôi lắm. Mấy chục năm sống với ông Lâm, sanh mấy đứa con, nhưng chẳng lúc nào tôi không tơ tưởng đến ông. May mà chúng mình chưa hề xa nhau ngày nào cho đến khi anh Lâm mất hẳn. Bây giờ thì chắc chắn không còn ai ngăn trở mình nữa. Ông có nghĩ mình nên dọn vào ở chung không?

Thế này thì nguy quá rồi. Bà Lâm nhắc lại dĩ vãng cốt để nối hiện tại vào. Nhưng ông không hề nhớ được một chi tiết nào cả. Tuổi già thật khó chịu, nó xóa hết cả dĩ vãng, rồi dựng lên một tương lai huyễn hoặc. Ông cúi xuống uống nốt ngụm trà trong chén, cất tiếng gọi:

– Lan ơi! Bác về nghe con.

Ông kéo ghế đứng lên. Ông không trả lời về đề nghị của bà Lâm vội, ông chỉ nói nhỏ nhẹ, và hứa một lời rất bâng quơ:

– Tôi về nghe chị. Sẽ trở lại thăm chị khi nào trí óc sáng suốt thêm một chút.

Lan tiễn bác Thành ra chỗ đậu xe. Cô ở trong buồng ngủ, sát vách, nên đã nghe hết lời của mẹ kể. Hai bác cháu yên lặng đi bên nhau không nói năng gì. Ông Thành đã ngồi vào xe, trước khi mở máy, ông quay kính xuống nói như tâm sự với Lan:

– Chắc bác cần đi khám lại cái đầu của mình. Những điều mẹ con nói hôm nay, bác không làm sao hình dung ra được một dĩ vãng vừa thơ mộng, lãng mạn, vừa tội lỗi của tuổi trẻ. Bác có mất trí nhớ tồi tệ đến thế không? Bác nhớ là cả ba con và bác cùng lớn lên ở Đà Lạt. Những kỷ niệm của bốn người: Lâm, Liên, Thành, Tuyết có với nhau hồi đó là: Cà phê Tùng, Nhà thờ con gà, Đồi Cù, trường Võ Bị Đà Lạt, và những trại mận. Rồi ngày ba mẹ con đám cưới, bác đang tu nghiệp võ bị ở Mỹ, làm sao bác phù rể được nhỉ?

Ông nói xong, ngẩn người ra như không tin những điều mình nhớ, ông đợi Lan trả lời câu hỏi của mình.

Lan cho hẳn đầu cô vào trong cửa xe, gục đầu lên vai bác Thành, cô ngửi được mùi già nua trên cổ bác phả ra, mùi của ba cô ngày trước, làm cô khóc nức lên:

– Bác ơi! Không phải bác mất trí nhớ đâu. Mẹ con đấy, mẹ con bị Alzheimer nặng lắm rồi. Mẹ con quên hết dĩ vãng thật của mình, và ngày nào cũng vẽ ra một câu chuyện mẹ con tin là đã xẩy ra trong đời mình.

Tối hôm đó, Ông Thành trằn trọc trên giường, không sao ngủ được. Ông cứ nhớ mãi câu nói của cháu Lan. “Mẹ con vẽ ra một câu chuyện mẹ con tin là đã xẩy ra trong đời mình.”

Ông bâng khuâng: Liên mất trí thật, hay Liên yêu mình từ trẻ mà mình không biết?

Một vườn măng cụt đổ ập xuống giấc mơ của ông trong đêm.

Thursday, August 1, 2019

Nâng Bước Tuổi Bóng Xế

Châu Hà

Năm đó, tôi theo bạn dự lễ ở nhà thờ, tình cờ ngồi bên cạnh một ông cụ trông ốm yếu, ho hen. Tan buổi lễ, ông cụ quay sang tôi cười hiền hòa và hỏi: 

“Cô có biết ai muốn chăm sóc người ốm? Vợ tôi sức khoé kém rồi.”

“Thưa bác, con đang muốn tìm thêm công việc trong mấy ngày nghỉ trong tuần đây ạ.”

“Vậy thì bà nhà tôi may mắn quá.”

Ông cụ mừng rỡ ra mặt, vội trao đổi số điện thoại với tôi và đồng thời đưa tôi số điện thoại liên lạc với Sở Xã hội để làm hẹn nộp đơn cho dịch vụ chăm sóc người già và tàn tật. 

Đến hẹn, tôi đến Sở Xã hội để điền đơn, ký giấy tờ và được yêu cầu tham gia huấn luyện cách chăm sóc. Buổi hướng dẫn rất chi tiết, học viên phải thực hành cho người huấn luyện xem các thao tác chăm sóc có đúng cách không trước khi được cấp giấy chứng nhận làm việc. Chẳng hạn như tôi phải biểu diễn thuần thục cách nâng người bệnh từ giường qua ghế ngồi và ngược lại bằng cách xốc nách, một chân của mình giữ tư thế cho người bệnh thẳng lưng để còn xoay người họ đặt lên giường.

Do đã có đề nghị từ ông cụ tôi gặp ở nhà thờ nên tờ hợp đồng chăm sóc bà cụ được thực hiện không lâu sau với chữ ký của cán sự xã hội, con gái của ông bà cụ, và tôi. Trong hợp đồng có ghi rõ số giờ do Sở Xã hội qui định khách hàng được nhận sự chăm sóc và nội dung công việc tôi cần phải làm cho khách hàng. 

Ngày đầu tiên đến nhà ông bà cụ, tôi bấm chuông mãi không thấy ai ra mở cửa, tôi đành đi vòng bên hông nhà vì nghĩ chắc hai cụ ngồi ở vườn sau. Bất chợt có tiếng la khiến tôi hoảng kinh: “Trời ơi! Sao tôi không đứng lên được?” 

May mắn là cánh cửa gỗ vào vườn không khoá nên tôi đẩy cửa bước nhanh vào. Tôi nhìn thấy bà cụ ngã sõng soài lên người ông cụ và không thể tự đứng lên được trong khi ông cụ thở dốc cố đẩy bà ra khỏi thân hình ốm yếu của ông. Tôi chụp vội cái ghế gần đó kéo sát lại, đoạn xốc nách bà cụ nâng lên để bà ôm chân ghế nhằm có tư thế chống hai chân mà tự đứng dậy. Công việc chăm sóc tại tư gia của ông bà cụ bắt đầu là như vậy. 

Thỉnh thoảng người cán sự xã hội đến thăm bà cụ, cô luôn gọi điện thoại và gửi giấy tờ báo trước cho biết ngày, giờ đến thăm. Có một lần, người cán sự xã hội thấy tôi khệ nệ vác cái máy hút bụi lên lầu, cô nhẹ nhàng nhắc:

“Chị nên đọc lại nội dung hợp đồng. Công việc của chị là chỉ giúp dọn dẹp trong phòng riêng của bà cụ ở dưới nhà mà thôi, không phải dọn phòng các con của bà.”

À, thì ra là vậy. Tôi thầm cám ơn cô cán sự xã hội đồng hương đã nhắc nhở tôi ngay lúc bỡ ngỡ vào nghề chăm sóc người già. Hiểu rõ giới hạn của nhiệm vụ mình được giao đã giúp tôi cân đối giữa nghỉ ngơi và làm việc. 

Càng trụ lâu với công việc chăm sóc người già tôi càng hiểu được tầm quan trọng của quyền lợi người làm việc vì một số khách hàng đã lợi dụng giao cho tôi làm thêm những việc không nêu trong hợp đồng.

Bữa ăn trưa của bà cụ được chương trình Meals on Wheels tài trợ, không những miễn phí mà còn được mang đến tận nhà. Tôi ngạc nhiên thấy mấy ông cụ già người Mỹ còn khỏe mạnh tình nguyện lái xe đến từng nhà những người già yếu để giao thức ăn. Cung cách của họ rất lịch thiệp, áo quần thì đẹp, gọn gàng. Lần đầu tôi thấy điều này và thán phục vô cùng.

Đến khi ông bà cụ theo các con chuyển qua tiểu bang khác, tôi nghỉ việc và đồng thời cũng thất nghiệp từ công việc chính do biến cố khủng bố toà tháp đôi World Trade Center năm 2001. Tôi ghi danh học ở một đại học cộng đồng gần nhà. 

Một buổi chiều từ trường về nhà, tôi nhận một cú điện thoại từ một phụ nữ cần tìm người giúp mẹ của cô ta. Cô ấy gọi đến tôi qua sự giới thiệu của văn phòng Sở Xã hội, họ cho cô danh sách những người chăm sóc. Sau khi xem danh sách, cô quyết định chọn tôi. Tôi thu xếp thì giờ của mình: buổi sáng đến trường, buổi chiều trông chừng bà cụ. 

Khách hàng của tôi lần này là bà cụ tên Nancy, bà người Hoa và không biết tiếng Việt nhưng tôi và bà có thể chuyện trò qua lại bằng tiếng Anh. Thời đó phương thức giải trí thịnh hành là những cuốn băng video. Bà Nancy xem đi xem lại cuốn phim “Gone with the Wind” mà không chán. Bà thích nhất đoạn bà quản gia da màu đứng nơi cửa sổ gầm gừ gọi nhân vật chính về dùng bữa. Trong khi nhân vật chính là cô nàng Scarlett O’Hara đỏng đảnh chưa chịu về thì bà cụ Nancy đã kịp gầm gừ trước. Bà lập lại nhiều đoạn trong phim một cách chính xác, chứng tỏ bà thuộc lòng từng câu nói của từng nhân vật để đủ biết sự nhập vai tài tình của bà.

Lần đầu gặp bà Nancy, tôi còn nhớ bà khen cái áo màu hồng tôi mặc. Ấy vậy mà vài tháng sau bà đã không phân biệt được các màu, ngay cả màu đen trắng trên tấm hình gia đình treo trên tường mà bà quý nhất. Tôi nghe bà lẩm nhẩm trong miệng điều gì đó, nếu lắng nghe thì ra đó là địa chỉ căn nhà bà đang ở và số điện thoại của cô con gái trực tiếp lo cho bà nhưng các con số lộn xộn, không chính xác. Thường thì bà lẩm nhẩm gọi đủ, nhớ đủ hết tên của chín người con. Vậy mà sau này bà chỉ còn gọi được tên người con trai út. 

Đến một hôm, tôi đang loay hoay dọn giường cho bà thì bất chợt thấy hai ông cảnh sát cao to đang lù lù tiến vào nhà. Thì ra bà gọi 911 báo tin có người lạ trong nhà bà nên cảnh sát vội đến ngay lập tức. Họ nhìn khắp nhà xem xét có bàn ghế bị xô đẩy không rồi yêu cầu tôi ra ngoài để lấy lời khai. Sau đó hai viên cảnh sát buộc tôi phải ra khỏi nhà bà ngay lập tức vì chủ nhà báo cáo với họ rằng tôi là người lạ. Họ đồng thời liên lạc với con gái của bà yêu cầu cô phải đến ở tạm với bà trong ngày. Tối cùng ngày, con gái của bà gọi tôi xin lỗi và yêu cầu tôi tiếp tục công việc chăm sóc bà. 
Ngày hôm sau, tôi thấy các ngăn tủ bếp phải dán kín hết lại như niêm phong. Nghe kể rằng đêm hôm trước con gái bà ngửi mùi khét, chạy ra kịp phát hiện bà đặt nồi cơm điện rồi bật bếp. Những nắm vặn bật tắt lò bếp cũng được gỡ ra và dấu luôn. Cô con gái bà cũng đồng ý cho tôi giữ điện thoại trong người để gọi khi có trường hợp khẩn cấp.

Sang ngày hôm sau nữa thì bà cụ Nancy không tự mở cửa cho tôi vào nhà. Dù tôi bấm chuông nhiều lần và thấy bà cụ từ trong nhà nhìn qua cửa kính thấy tôi nhưng bà nhất định không mở cửa. Bà nhìn tôi lẩm bẩm điều gì như chửi rủa và nét mặt bà dữ tợn. Tôi đành gọi cho con gái của bà, cô cho mã số của nhà để xe. Khi cửa nhà xe mở, tôi bước vào, đi qua phòng giặt rồi vòng ra cửa chính chào bà. 

Vừa khi bước đến cửa chính, tôi sững sờ kinh ngạc khi thấy bà nhìn tôi trừng trừng. Nơi bà đang đứng được chắn bởi một hàng ghế xô-pha ở phòng khách. Làm sao một mình bà có thể kéo, đẩy những thứ đồ đạc nặng nề này? Lại còn chất chồng lên cao để che chắn cửa chính không cho ai vào nhà bà. Tôi hiểu tâm bệnh của bà là sợ. Bà sợ ai đó ám hại mình. Bà bị ảo giác, nhìn nhầm người nhà, bạn bè hay người thân.

Đối với tuổi già, mới ngày hôm trước và ngày hôm sau đã khác nhau xa. Bệnh lú lẫn ở người già đã khiến bà không còn khả năng suy nghĩ một cách bình thường. Bà bắt đầu không tự chủ trong vệ sinh cá nhân nữa. Bà không tự nhấc chân lên để bước vào bồn tắm. Sau khi nằm nghỉ trên giường và đến lúc thức giấc thì bà không thể tự ngồi dậy được. Nghe tôi thuật lại sự việc, các con bà bàn nhau đưa bà vào Viện dưỡng lão vì xem ra tình trạng của bà càng ngày tệ hại thêm. 

Ngày đến tiễn bà Nancy qua “nhà mới”, tôi ngậm ngùi nhìn bà ôm khư khư thứ đồ vật mà bà thích nhất. Đó là chiếc đèn kéo quân nhỏ gọn. Nhớ ngày đầu đến giúp việc cho bà, tôi đã được nghe tiếng kính coong vui tai phát ra lúc bà vặn nút cho chiếc đèn quay. Tôi mường tượng đến viễn cảnh bà phải đối diện với sự cô đơn trong Viện dưỡng lão. Biết đâu chiếc đèn kéo quân với đoàn ngựa giấy và quân lính xung trận chạy vòng quanh cùng tiếng kính coong có thể giúp bà khuây khỏa phần nào. 

Xem ra tôi có duyên với nghề chăm sóc người ốm vì vừa thôi việc là nhận ngay một cú điện thoại tìm người chăm thân nhân. Người con gái của vị khách hàng tương lai tâm sự với tôi qua điện thoại: 

“Con tiếc quá cô ơi, má của con bệnh mà cả nhà không hay biết nên cứ trách má con là tửng tửng để má con thêm buồn. Bây giờ con hối hận quá khi bác sĩ nói má con bị bệnh Alzheimer, bệnh lú lẫn. Cô ráng đến giúp tụi con nhen cô.”

Tôi là người dễ xúc động. Câu trả lời của tôi với cô con gái không gì khác hơn là sự đồng ý. Ngày đầu đến chăm sóc, tôi thấy khách hàng của mình là người rất vui tính. Bác cười rổn rảng, nói ngay:

“Cứ gọi tui là Chế đi nhen vì tui thích ca sĩ Chế Linh, ổng hát bài gì đó như là… để tui nhớ… À, bài “Thành Phố Buồn”, mà ông chồng tui lại tên Linh nữa chớ.”

Bác Chế sống một mình trong căn apartment nhỏ gọn. Bác nói chuyện rất có duyên. Bệnh của bác là luôn quên và hay đòi ăn. Bác cứ nhắc tôi liên tục: “Sáng nay tui chưa ăn mà” dù mới vừa ăn xong. 

Một ngày nọ, khi tôi dọn dẹp mâm cơm trưa bác Chế vừa ăn xong thì nghe tiếng gõ cửa. Tôi nhìn qua cửa sổ thì thấy một bà cụ lạ hoắc, ngoắc tôi lại gần và nói oang oang: 

“Cô ơi, tui là bà Năm Sa-Đéc. Ngày xưa tui ở đây nè. Tui đi xe Bớt ngang qua đây ngó thấy quen quen nên tui nói ông tài xì-tốp cho tôi xuống.”

Thời trước năm 1975 tôi đã từng xem qua màn hình ti-vi đen trắng một số thoại kịch và cải lương có bà Năm Sa-Đéc đóng. Nhưng sao tôi không thấy bà cụ này có vài nét tương tự bà Năm Sa-Đéc. Tôi ngờ ngợ, xin bà chờ chốc lát vì phải gọi điện thoại hỏi ý kiến cô con gái bác Chế: 

“Cô ơi, có một bà xưng tên bà Năm Sa-Đéc nói là người hàng xóm cũ của bác Chế vậy cô có đồng ý cho bà vào thăm bác Chế không?”

“Dạ, đúng là có bà Năm hàng xóm. Bả khoái bỏ thêm cái tên Sa-Đéc chớ không phải là bà Năm Sa-Đéc thiệt đâu cô. Cô làm ơn cho bà Năm vô để gợi nhớ chuyện cũ cho má con vui.”

Gác máy điện thoại, tôi mở cửa mời bà Năm vào. Bà Năm tay bắt mặt mừng với bác Chế rồi đi loanh quanh trong nhà, nhìn khắp mọi nơi, đoạn dừng lại ở chậu cây kiểng và đọc to tờ giấy “Cây già đừng tưới” gắn trên cây. Bà cất giọng sang sảng:

“Chèng ui, ai mà chê bà già dzậy nè bà Chế?” 

Bác Chế trả lời: 

“Kệ mẹ nó đi, ai chê tui già nhưng tui vẫn thích tưới cây, kệ tui!” 

Tôi đâm tò mò, tiến lại gần chậu cây xem “cây già” như thế nào mà không cho tưới và không thể nhịn được cười. Hóa ra đó là cây kiểng giả. Các con của bác Chế biết bác thích tưới cây, nhưng dặn hoài bác cứ quên nên phải gắn lên cây tờ giấy “Cây giả đừng tưới”. Bác Chế cũng chẳng đọc tới, cứ tưới mãi thành thử màu viết lông phai và nhoè, biến dấu hỏi thành dấu huyền. 

Quay trở lại ghế ngồi, bà Năm và bác Chế nói chuyện rôm rả: 

“Chèng ơi, bà không nhớ tui sao? Tui là bà Năm Sa-Đéc nè.” 

“Vậy hả, hồi xưa trên tidi đài chiềng hình có kịch, có phim bà đóng, tui thích bà đó nghe bà, nhưng nghe đâu bả chết rồi.”

“Dzậy hả, mà bà bi nhiêu tuổi rồi?” 

“Tôi trả lời bà rồi mà. Tui hỏi bà nhen, bà tên gì dzậy?” 

“Chèng ơi tui nói tên tui rồi mà, sao bà hay quên dzậy?” 

“Tui chưa ăn cơm, bà ăn cơm chưa?” 

“Chèng ơi, tui nói cho bà nghe, thằng con trai tui nó sợ tui lắm bà ơi. Nó không cho tui dẫn con trai của nó đi đâu hết, nó sợ tui làm lạc mất con nó đó bà.” 

“Dậy hả tui hỏi bà là bà tên gì dzậy, bi nhiêu tuổi rồi? Bà ăn cơm chưa?” 

“Chèng ơi tui nói tên tui rồi mà…”

Hai bà cứ chuyện trò không đầu không đuôi, nhớ nhớ quên quên. Tôi vui lây với câu chuyện ngây ngô của hai bà. Bác Chế nhờ tôi đem rác ra đổ vào cái thùng rác to đùng cho cả khu chung cư này. Bất chợt tôi giật mình thấy một người cảnh sát dắt tay thằng nhỏ khoảng năm, sáu tuổi. Thằng nhỏ vừa khóc vừa chỉ tay vào khu chung cư. Tôi linh tính thằng bé có người thân ở đây. Rồi khi nghe tiếng nói oang oang của bà Năm vọng ra từ căn nhà bác Chế, nó vụt giật tay ông cảnh sát chạy ào vào căn apartment mà tôi vừa mở cửa để đi ra đổ rác. 

Tôi vội đi nhanh theo thằng bé và ông cảnh sát cũng bước nhanh kịp vào nhà lúc thằng bé chạy đến ôm chầm lấy bà Năm òa khóc. Hóa ra là bà Năm xuống xe buýt cùng với cháu nội để đi chợ Việt ngay bên cạnh khu chung cư nhà bác Chế. Khi bà Năm mơ hồ nhận ra khu phố quen mà bà từng ở trước đây thì liền đi xăm xăm đến nhà bác Chế. Bà quên bẵng thằng cháu nội còn ở trong chợ. 

Ông cảnh sát nhờ tôi hỏi bà có số điện thoại liên lạc của người thân để họ gọi đến đón hai bà cháu về. Bà Năm luýnh quýnh lấy cái thẻ đeo trên dây cổ có ghi các thông tin cần thiết để trình cho cảnh sát. Tôi thở phào mừng cho bà Năm. Rất may hai bà cháu gặp lại nhau, còn không thì hậu quả khó lường. 

Khi bệnh của bác Chế đến giai đoạn nặng, bác té ngã nhiều lần hơn và không thể nhớ đã té ngã ở đâu. Sau một lần ngã nguy hiểm bầm tím đen trên mặt, Sở Xã hội quyết định tăng giờ chăm sóc cho bác nên tôi có dịp ở với bác lâu hơn và nghe bác tâm sự nhiều thêm. Bác luôn kể về những ngày sau biến cố đau buồn 1975. 

“Căn nhà của tui bị Việt cộng chiếm đoạt, tui tiếc và tức quá đi. Sau này khi tui trở về Việt Nam thăm bà con, đi qua căn nhà cũ, tui khóc quá chừng, khóc ơi là khóc.”

Rồi bác khóc thật sự. Bác khóc mùi mẫn, nhắc đi nhắc lại căn nhà của một đời cơ cực mà bác cùng chồng gầy dựng lo toan. Tôi an ủi bác rằng gia đình bác đã may mắn có được một số tiền và vòng vàng nên hùn hạp đóng tàu vượt biển với bà con. Mà bác lại còn may mắn hơn vì tàu đi xuôi rót đến bến bờ tự do an toàn trong khi biết bao thân phận bất hạnh khác còn là nạn nhân của hải tặc hoặc làm mồi cho cá mập. 

Đang kể về chuyến tàu vượt biển thuận buồm xuôi gió thì tự dưng bác nắm tay tôi và nhắn nhủ một lời chắc nịch như phải làm theo bác ngay:

“Nè, nhớ nhen, nếu có đi vượt biển nữa thì đừng bao giờ mặc quần sa-teng đó.” 

Tôi buồn cười quá, muốn hỏi bác Chế là đã sang đến Mỹ mà còn vượt biển đi đâu nữa? Chưa để tôi nói lên ý nghĩ của mình thì bác nói một hơi:

“Quần sa-teng khi bị sóng biển bắn vô là nó rít chịt à. Ù mẻ nó ơi, sao mà hồi đó tui ngu dữ dội, điệu như con gái nên diện quần sa-teng và đeo vòng vàng nữa chớ. May mà không bị hải tặc mần thịt đó nghen.”

Tôi luôn cười vui với lối kể chuyện của bác Chế. Tuy vậy, không phải luôn luôn tôi được vui như vậy. Khi con trai của bác bị vợ ly dị, anh ta không còn nhà nên về ở với mẹ. Mỗi khi chủ nhà đến kiểm tra (có báo trước), anh ta nhờ tôi dọn hết áo quần vật dụng của anh ta cất vào ngăn tủ đóng khoá lại. Nhớ đến hợp đồng làm việc, tôi từ chối không làm theo yêu cầu của anh ta. 

Chưa hết, anh ta nhờ tôi nhuộm tóc, lại còn nhờ “bạo” hơn nữa là muốn tôi đứng trên lưng của anh ta để mát-xa. Thật là quá quắt! Tôi từ chối tất cả. 

Gã con trai của bác Chế bắt đầu khó chịu và sinh sự với tôi. Một hôm tôi vừa tắm cho bác Chế xong, hai bác cháu đến ngồi xô-pha xem ti-vi. Lúc đó hắn đang đứng ở bàn ăn, nhìn tôi và nói như ra lệnh:

“Cô phải mát-xa cánh tay cho má tui nữa.”

“Trong hợp đồng chăm sóc mà tôi đã ký cùng em gái của anh và cán sự xã hội thì tôi không có nhiệm vụ phải mát-xa và cũng không có chuyện giúp ai khác ngoài bác Chế.”

Hắn xem chừng nổi điên khi nghe tôi đáp trả, đứng phắt lên cầm cái điện thoại treo ở góc tường và lớn tiếng:

“Tôi gọi hỏi cán sự xã hội của má tui liền cho cô biết tay.”

Tôi yên lặng xem hắn hành động. Không rõ nghĩ sao đó mà hắn lại đặt điện thoại vào vị trí cũ, không gọi. Phần ngày còn lại của hôm đó tôi cứ nhìn đồng hồ mong cho hết giờ chăm sóc bác Chế. 

Về đến nhà tôi gọi điện thoại ngay cho con gái út của bác, kể mọi chuyện ấm ức bấy lâu nay tôi phải chịu đựng về anh trai của cô ta và yêu cầu nghỉ việc. Bên kia điện thoại tôi nghe tiếng thở dài não ruột. Biết rằng thuyết phục cách mấy tôi cũng không quay lại chăm sóc bác Chế, con gái bác đành khẩn khoản nhờ tôi đến lần cuối để chỉ dẫn người thay thế tôi cách chăm sóc má cô. 

Trong hợp đồng chăm sóc người già không có khoản bắt buộc người chăm sóc trước phải huấn luyện người đến sau vì Sở Xã hội đã chịu trách nhiệm huấn luyện cho những ai nhận nghề này rồi. Nhưng vì tôi cũng quí bác Chế và muốn nói lời chia tay nên đồng ý. Ngày hôm đó tôi đem đến bánh mì thịt là món khoái khẩu của bác Chế. Bác bịn rịn nắm tay tôi không nỡ rời xa.

Nhiều năm sau tôi tình cờ gặp con gái bác Chế khi đi chợ và biết tin bác đã mất. Tôi nghe mắt mình cay cay khi thầm chào bác Chế: “Vĩnh biệt bác ra đi thanh thản. Con nhớ mãi những câu chuyện vui của bác.”

Vui buồn lẫn lộn khi ôn lại những kỷ niệm với những người tôi đã chăm sóc. Tôi đã có thể đổi một nghề an nhàn hơn nhưng nếu ai cũng như tôi thì những con người với tâm trí lãng đãng và thể lực héo mòn sẽ như thế nào đây, tôi tự hỏi. Thôi thì tôi phải đến với họ bằng trái tim như đối với người thân của tôi. Họ đáng thương hơn là đáng giận. Họ đáng được chăm sóc hơn là bị ruồng bỏ. Tuổi xế chiều luôn cần những bàn tay nâng bước. 

Đó là lý do tôi vẫn chờ các cuộc gọi của khách hàng với nụ cười và cái gật đầu vui vẻ.
Châu Hà
"Trính tã" 

Phạm thị Hoài

Thương cho cái tiếng Việt mình!

Hay! Khi người ta muốn đồng hóa tiếng Việt thì ăn nhằm gì ba cái chuyện chính tả đúng sai. Cho tới bây giờ, cũng như phần lớn dân miền Nam, tôi vẫn còn lấn cấn với dấu 'hỏi' và dấu 'ngã'. Khi nào viết tiếng Việt nếu thấy nghi ngờ là tra tự điển cho chắc. 

Nhiều khi muốn theo gương đồng chí GSPTS Bùi Hiền đề nghị một dấu mới gọi là dấu 'ngỏi' hay dấu 'hãi', viết như dấu ngã nhưng nghiêng như back slash '\' rồi phát âm theo thói quen, không cần phải tập kéo dài nguyên âm như người miền Bắc với âm dấu ngã! Nhưng đó là chuyện trên trời dưới đất. Hôm nay đọc bài 'Trính Tả' mới thấy mình còn khá hơn lắm thằng. .

Thời còn làm báo nhiều năm trước, tôi đã từ chối một bài viết mà không đọc, vì tác giả bài đó kết thúc mấy dòng thư gửi đến tòa soạn bằng lời chào trân thành. Chính tả nhìn chung là phép cư xử với ngôn ngữ, không hơn không kém, và dĩ nhiên có thể thay đổi như mọi tập quán. Mấy chục năm trước người Việt ngồi chỗ nào cũng bắt chấy, ngoáy ráy tai, cậy gỉ mũi tưng bừng, ai không làm thế là thiếu hòa mình với tập thể, hẳn là còn rơi rớt ý thức hệ gì đó phản động lắm. 

Bây giờ, những hành vi chẳng chết ai đó chỉ còn sót lại ở những người mà ta không biết nên e ngại hay ái ngại cho sự nguyên thủy của họ. Chân thành hiện vẫn là đồng thuận của đa số người dùng tiếng Việt, song không có gì đảm bảo rằng trân thành sẽ không thắng thế. Trúng ta sẽ phải trâm trước tro những kẻ trung thủy với trữ nghĩa thuở nào.

Thực ra tôi rất biết ơn các lỗi chính tả. Của người khác, tất nhiên.. Chúng là những chỉ dẫn đáng tin cậy. Hãy cho tôi biết bạn mắc những lỗi chính tả nào, tôi sẽ biết bạn là ai. Nếu thỉnh thoảng bạn đi bước nửa thay vì bước nữa, bạn ngã đầu thay vì ngả đầu, đã thương ai đó thay vì đả thương chính người ấy, ngã ngủ thay vì ngã ngũ, bạn viết thư ngõ thay vì thư ngỏ… và nếu vì những mưu mô trước quỷ nào đó thay vì mưu mô chước quỷ mà bạn biệt vô âm tính thay vì biệt vô âm tín, tôi thậm chí thấy thích thú. 

Một ngôn ngữ cho người ta quyền lựa chọn giữa trăn trối, trăng trối, chăn chối, chăng chối, trăn chối, chăn trối, chăng trối và trăng chối, chưa kể giăng giối, là một ngôn ngữ chịu chơi. Một ngôn ngữ cho người ta cơ hội nhầm giữa xe đổ và xe đỗ, giữa vợ lẻ và vợ lẽ, giữa ăn phải bã và ăn phải bả, giữa ăn vãi và ăn vải, giữa chong đèn, trong đèn và trông đèn, giữa vỡ kịch và vở kịch, giữa một con sâu làm giầu nồi canh và một con sâu làm rầu nồi canh… là một ngôn ngữ hào phóng. 

Nhưng ngày nào cũng gặp những covfefe của Việt Nam, những nổi lòng, những đau khỗ không sức nào chịu nỗi trong xả hội, những nổ lực và viển tượng, những lể hội, những khung cửa mỡ, những nhờ vã và đổi chát, những thắt mắt và bàn cải, những tham nhủng, lổi lầm, những bát phỡ ở nước Mỷ, chưa kể những nóng nòng chờ hỗ trợ và cây lêu ngày Tết, thì khó mà không phát điên.

Sai chính tả cũng như vi phạm luật giao thông, không ai có thể bảo mình không bao giờ mắc. Có những vi phạm khó tránh. Có những vi phạm khó thương. Và những vi phạm gây tai nạn. Có những người tham gia giao thông khiến ta mừng là không phải ra đường cùng một lúc với họ.

Lúc đọc “Đơn xin tự thú” của ông Trịnh Xuân Thanh, cuộc sống chốn chánh của ông ấy khiến tôi ngơ ngẩn mất một lúc. Nếu nghiêm khắc xét nét, có thể tính ra cả hai chục lỗi chính tả, từ chữ chốn chánh nay đã thành nổi tiếng đến những chữ viết hoa hay viết thường tùy tiện và cách chấm câu tự tung tự tác trong chưa đầy hai chục dòng viết tay ấy. Nhưng càng có tuổi, hình như tôi càng rộng rãi. 

Bây giờ tôi đồng ý với ông Wieland, tác gia Khai sáng Đức, rằng tôn giáo và cách chấm câu là chuyện riêng tư, người ngoài chớ bàn. Tôi cũng muốn thêm cách viết hoa hay viết thường cũng như cách viết i (ngắn) hay y (dài) vào gói riêng tư đó, vì trong khi chờ các nhà ngôn ngữ học quyết đấu thì mỗi chúng ta vẫn phải tự quyết định chân lý hay Chân lí trong chính tả cho riêng mình. Song cái tai nạn chốn chánh kia xảy ra bằng cách nào thì trước sau tôi vẫn thấy bí ẩn. 

Tôi có thể đem thêm một nhân vật đầy uy tín khác – một đại văn hào, cũng thuộc trường phái cổ điển Weimar, sử dụng một ngôn ngữ nổi tiếng trong thi ca và triết học, đầy những niêm luật kể cả về chính tả mà tiếng Việt nhìn thấy có lẽ chỉ biết thương cảm lắc đầu, ông Goethe – để bào chữa cho ông cán bộ cộng sản cao cấp Việt Nam hai lần trượt ty nạn tại Đức. Goethe rất vui vẻ thừa nhận rằng mình ít khi tự cầm bút mà phần lớn đọc cho thư ký chép, nên chính tả thế nào ông không quan tâm, viết thế nào không quan trọng, miễn độc giả hiểu là được. 

Tự tay viết thư thì thư nào của ông cũng có lỗi chính tả và không hề có dấu phẩy, cùng một chữ có khi ông viết ba kiểu khác nhau. Nhưng thời Goethe, hai trăm năm trước, cũng chưa ai phải nảy ra cái ý tưởng kỳ cục về luật giao thông. Ai có chân dùng chân, ai có ngựa dùng ngựa hoặc dùng lưng kẻ khác, miễn xê dịch được là xong. 

Ngày nay, một người Việt thuộc môi trường thượng lưu, tốt nghiệp đại học chuyên ngành và cao học lý luận chính trị, từ hơn hai mươi năm liên tục giữ cương vị lãnh đạo ở những tổng công ty và cơ quan nhà nước cấp bộ, thậm chí là đại biểu Quốc hội, làm thế nào để có thể rơi vào một tai nạn như chốn chánh?

Song sai chính tả không phải là độc quyền của riêng giới quan chức không thạo gì hết ngoài phép chia. Công ty Luật Đại Việt ở Hà Nội cung cấp dịch vụ đòi tiền trong trường hợp chốn nợ. Tạp chí Điện ảnh giới thiệu màn chốn chạy và pha lẫn chốn trong một bộ phim. Giáo xứ Thái Hà phản đối chủ chương tiêu diệt phong trào hướng đạo của cộng sản Việt Nam. Cô người mẫu Trang Trần viết bản kiểm điểm vì đã trống lại lực lượng làm nhiệm vụ. Hãng Taxi Bình Dương quảng cáo dịch vụ xe nhanh tróng thuận tiện. 

Bệnh viện An Việt ở Hà Nội phân tích hội trứng não gan. Báo điện tử Soha kể chuyện Sao Việt bị gạ đổi trác. Trường THPT Ngô Gia Tự ở Bắc Giang dạy kỹ năng nói lời từ trối khéo léo. Báo Vietinfo ở Tiệp thông tin về các vùng tranh trấp ở Biển Đông, trong khi cửa hàng Gentleman ở Sài Gòn hướng dẫn quy trình giải quyết chanh chấp. Đài Truyền hình Việt Nam đưa tin về trung cưlợn lái. 

Báo Dân quyền yêu cầu đừng trà đạp lên tình yêu nước thiêng liêng. Tỉnh Đoàn Kontum kêu gọi đoàn viên chui rèn trong biển lửa. Báo Vietnamnet thông tin tăng phí chước bạ.. Báo Người Việt Atlanta có hẳn một mục Chia xẻ kinh nghiệm. Công ty iMate ở Sài Gòn cho biết bí quyết trăm sóc lốp xe, trong khi Công ty Âu Việt ở Hà Đông bán máy đo lồng độ ô xy bão hòa và báo Dân trí đưa tin về một bệnh nhân bị lôn mửa, và Nhà sách Đại học Quốc gia Hà Nội giới thiệu cuốn “Thi cử học vị học hàm dưới các chiều đại phong kiến Việt Nam“.

Ông Thanh rõ ràng đã hòa mình với tập thể dân tộc cả trong và ngoài nước. Thử hình dung, giới lãnh đạo Việt Nam bỗng nhiên là những người đẹp đẽ lịch duyệt, ăn ở sành điệu, thông thạo dăm ba ngoại ngữ, phát âm chuẩn chứ không cờ-lờ-mờ-vờ, chính tả chuẩn chứ không chốn chánh, diễn thuyết hùng biện, học vấn uyên bác, đã thế lại giàu năng lực lãnh đạo và trong sạch. Chúng ta sẽ nhìn họ như những thực dân từ hành tinh khác. Và chúng ta có truyền thống chống thực dân. Hay chuyền thống trống thực dân.

Blog Archive