Lê thị Bích Ngọc
PHẠM HOÀNG CHƯƠNG
Lê thị Bích Ngọc là bạn học cũ của tôi thời trung học đệ nhứt cấp. Ở Việt nam, tên đi học là Lê thị Ngọc. Qua Mỹ, tự nhiên thêm chữ lót thành Bích-Ngọc cho đẹp. Ngọc là con cô Ba Mỹ Hiệp, chủ tiệm vàng lớn ở đường Thống Nhứt, Phanrang, cách tiệm quần áo của mẹ tôi ba căn. Cha Ngọc làm trong ngành an ninh gì đó thời ông Diệm, nhưng lại thường hay giúp cho người quen trong tỉnh có dính líu đến Việt cọng sớm được ra tù. Ngọc lớn hơn tôi 3 tuổi, kẹp tóc ngang lưng, tròn trịa xinh đẹp, học chỉ trung bình trong lớp, nhưng tánh tình mau mắn, cởi mở, bình dân, tốt với bạn bè.. Hồi đi học, Ngọc chuyên môn mặc áo quần lụa trắng, xách cái cặp táp đắt tiền, đoan trang hiền lành, không bồ bịch lăng nhăng như mấy bạn gái khác. Năm tôi học đệ nhị C ở Saigon, tình cờ gặp lại Ngọc ở hãng xe vận tải Vĩnh Sanh ở Chợ Cũ, giựt mình thấy cô nàng đột nhiên trổ mã đẹp lộng lẫy như hoa hậu, như cô dâu sắp lên xe về nhà chồng. Bẵng đi mười năm sau đã thấy Ngọc có gia đình ở riêng, làm chủ ba căn phố ngòai bến xe, chủ tiệm vàng Mỹ Ngọc. Có lần tôi mang một xâu 8 cái nhẫn vàng bà con cho hồi đám cưới ra tiệm Ngọc bán lấy tiền mua mấy thùng sữa Meiji của Nhựt để dành cho con trai đầu lòng bú, vì sợ lên giá, Ngọc xuýt xoa nói, "Sao bán hết chi uổng vậy? Sao không để dành mở tiệm vàng như tôi nè, dễ lắm."
Tôi sửng sốt:
-Trời, bà nói giỡn chơi. Bà là con nhà bán vàng, bà rành, chứ tôi con thày giáo làm sao biết cái nghề này?
- Không phải đâu, tôi cũng đâu có biết gì nghề này, mình chỉ cần có chừng năm bảy lượng làm vốn, mướn một tay thợ bạc giỏi làm cho mình là được rồi. Chủ yếu mua đi bán lại, có lời nhiều. Nghề dạy nghề, dễ lắm. Mở thử đi, tôi bày cho.
Tôi nhún vai, không tin. Mình biết gì về nghề vàng mà làm. Vốn đâu mà mua vàng. Hơn nữa, nghề này nghe nói bán ra đắt mà mua vô rẽ, tráo trở gian dối mới giàu, tổn hao âm đức. Sau đó một năm, mẹ tôi đòi lại cái căn phố cho thuê lâu nay, cho 2 vợ chồng ra ở riêng, mở tiệm sách. Căn phố này tôi thừa hưởng của bà cô để lại, với tư cách cháu đích tôn. Thày giáo mà mở tiệm sách đúng là thích hợp, có đông đồng nghiệp quảng cáo giùm học trò tới mua sách, khỏi lo ế. Mở tiệm sách được hai năm, bắt đầu phát đạt thì Cọng sản vô, tôi đi học cải tạo, sách vở bị tịch thu mang vô Phòng Văn hóa bỏ đống, còn Ngọc thì lật đật bỏ nhà chạy lấy người, vợ chồng con cái kéo nhau vô Saigon ở. Dân tư sản mại bản nổi tiếng, lại con gái trùm công an "ngụy", ở lại Phanrang cho mà chết. Chồng Ngọc, đại úy, bị đi tù cải tạo. Mẹ Ngọc ở lại Saigon, cho cha Ngọc dẫn hai đứa con út vượt biên qua Mỹ trước. Ngọc cũng dẫn 4 con đi lọt sau đó không lâu, khỏang năm1979, 80, bỏ lại chồng trong tù, sau này đi diện H.O.qua sau.
Bẵng đi hai mươi mấy năm sau, tình cờ gặp lại Ngọc ở San Jose, trong một tiệc cưới con một người bạn cũ. Ôi chao là mừng. Bạn bè cũ gặp nhau, bao nhiêu chuyện xưa lôi ra nói không hết. Ngọc đã gần 60 mà trông vẫn còn có nét, ra dáng một bà nhà giàu vui vẻ, tươi tắn. Gặp cả Kim Thoa, chồng làm nha sĩ khá giả, Chi Nga, chồng bán địa ốc đắt hàng, Kim Hạnh chồng Mỹ giàu có, nhưng bạn bè ai cũng nói không cô nào giàu bằng Ngọc. Ngọc có ba con đều ra bác sĩ, chỉ có đứa gái đầu là làm accountant. Bạn bè kể Ngọc có nhà ở San Francisco cho chồng ở, có nhà ở La Jolla cho con ở, có tiệm phở bên Chicago, lại làm chủ apartments cho mướn dưới San Diego. Tôi không biết Ngọc ba đầu sáu tay.làm cách nào mà thân gái một mình vừa nuôi dạy đám con thành tài, lại vừa kinh doanh làm giàu, tạo nhà cửa nghênh ngang như vậy, trong lòng lấy làm phục lắm, nhưng chưa tịện hỏi.
Năm 2000, tôi bảo lãnh mẹ tôi qua Mỹ 6 tháng chơi theo diện du lịch. Lúc đó cô Ba Mỹ Hiêp, mẹ Ngọc, đã được con gái út tên Xuyến bảo lãnh qua ở Mỹ với ba Ngọc từ lâu. Xuyến làm cho chính phủ, có chồng giàu, đang ở ngôi nhà khổng lồ bạc triệu trên một ngọn đồi ở San Jose, có cây xăng, shopping center cho thuê ở Texas. Ba má Ngọc đều trên 80, còn khỏe, ở với vợ chồng Xuyến. Cô Ba bảo Ngọc mời tôi lái xe chở mẹ tới nhà ăn cơm tối để 2 bà có dịp hàn huyên tâm sự.
Trước 75, hai bà là láng giềng buôn bán qua lại với nhau rât thân. Tôi sửng sốt với cái lộng lẫy sang trọng rộng rãi của tòa lâu đài nhà Xuyến, có bồ bơi, có sân tennis. Trong bữa cơm, có cả Dũng ở gần đó tới chơi. Dũng là em Ngọc, ngày xưa du học bên Nhựt trước 75 cùng với em trai tôi. Sau 75, tất cả sinh viên VN kẹt ở Nhật đều được Mỹ nhận cho định cư hết, nên Dũng qua Mỹ làm computer cho hãng Cisco, lương giám đốc một năm mấy trăm ngàn, có stock bạc triệu. Không hiểu ông bà cha mẹ Ngọc ngày xưa làm phước đức gì lớn, mà ở Việnam trước 75 gia đình đã giàu có, bây giờ qua đây lại càng giàu hơn. Từ ba má, anh em, con cái Ngọc, người nào cũng dồi dào sức khỏe, địa vị, giàu có sung túc quá sức.
Sau khi tôi rời San Jose, về hưu dưới Nam Cali, tôi vẫn duy trì liên lạc với Ngọc. Thỉnh thoảng Ngọc rủ tôi, Từ côngTấn, và Hà công Lý đi chơi chỗ này chỗ kia, rộng rãi bỏ tiền ra bao hết tiền xe cộ, ăn uống. Ngọc gọi tôi có khi từ San Francisco, có khi từ San Diego, có khi từ tiệm phở bên Chicago. Ngọc nói phở bên đó bán đắt lắm, một tô phở bán tới 10 đô, mà Mỹ nó đứng sắp hàng "dài ra tới ngòai đường cái" chờ. Bánh xèo bán 7 đô một cái, làm không kịp bán. Mấy tiệm ăn Mỹ, Mễ bên cạnh ganh tỵ phải sai thợ qua rình coi đầu bếp Ngọc nấu nướng ra sao để học nghề.Tôi nhìn Ngọc nói, "Bà than phải uống thuốc đau tim hàng ngày, mà còn đi tới lui khắp nơi, tiền rent cho mướn apartment ăn không hết, con cái làm bác sĩ ở bên cạnh cho thêm tiền xài mà còn ham làm giàu, qua tuồt xứ lạnh bên đó mà bán phở". Ngọc chỉ biết cười toe toét.
Có lần, tôi tò mò hỏi ngày giờ sanh của Ngọc để chấm thử coi lá số bà này thế nào mà cuộc đời ngon lành quá vậy, Ngọc nói ngay không cần suy nghĩ, "giờ Dậu, ngày 13 tháng 9 âm lịch, năm Tân Tỵ 1941". Tôi nghĩ thầm, bà này hồi đi học đâu có giỏi gì mà sao đẻ con ra học toàn bác sĩ, nhà cửa lu bù, đụng đâu nảy tiền ra tới đó. Một mình qua Mỹ nuôi con, tiếng Anh không rành, mà tạo dựng cơ ngơi đông tây nam bắc, ông chồng qua sau, diện H.O, có cỗ ngon bày sẵn, chỉ việc ngồi hưởng. Chắc là lá số Ngọc "đại phúc" chứ không phải phúc tầm thường.
Quả nhiên, chấm lá số xong, tôi giựt mình sửng sốt. Mệnh KIM, lại đóng ngay cung THỔ ở Sửu. Thổ sinh Kim, con người luôn được hoàn cảnh bao bọc, phù trì, hỗ trợ, nuôi dưỡng. Cung Mệnh ở Sửu có Xương khúc, Hóa lộc, Hóa khoa đóng chung, lại giáp tả hữu, quang quí, thai tọa, có tứ linh, thiên quan thiên phúc hội tụ, găp tòan của cải tiền bạc, may mắn Ơn Trên đưa lại liên tục. Thiên đồng, Cự môn ở Sửu là hãm địa, tánh tình thay đổi lôi thôi, ăn nói lếu láo, nhưng với người tuổi Tân, tuổi Quí lại là ngọai lệ, thông minh họat bát, giàu có, tiếng tăm. Lộc tồn chễm chệ tọa thủ ngay chóc trong cung TÀI, biểu sao mà không giàu. Hóa Quyền đóng ngay cung PHÚC, chung với Nhật Lương miếu địa ở cung Mão, biểu sao mà dòng họ, con cháu không rạng rỡ vinh hoa, phú quí cho được. Thân đóng cung Thiên Di vô chính diệu ở Mùi, có Nhật Nguyệt sáng dưới Mão và Hợi chiếu lên sáng rực cả hư không, thảo nào mà ly hương lập nghiệp thành công rực rỡ ở xứ người. Mệnh chỉ có 2 vòng Thái tuế, Lộc tồn, thua tôi một vòng Tràng sinh là kém thọ hơn, nhưng cần gì, lá số quá ư tuyệt mỹ, tôi thú thật chưa hề thấy ai có lá số như vậy.
Con trai tôi tuổi Quí sửu, có lá số tương tự, Hóa Quyền ngay Mệnh, có Đồng Cự hãm được Triệt làm sáng ra, công danh thăng tiến liên tục, lương gần một trăm ngàn một năm, chỉ huy cả trăm nhân viên người Mỹ, lấy vợ xinh đẹp ái nữ con nhà triệu phú, cung Di ở Mùi cũng có Nhựt Nguyệt sáng chiếu hư không, nhưng mức độ phú quí không làm sao bằng được một nửa bà này. Đúng là "giàu nghèo có số", phải biết khoa tử vi và biết rõ gia đình bà này mới biết câu ca dao sau đây là vô cùng chí lý:
Số giàu đưa đến dửng dưng,
Lọ là con mắt tráo trưng mới giàu.
Mỗi lần Ngọc gọi thăm, kể chuyện này chuyện kia, tôi hay nhắc khen lá số Ngọc tuyệt vời, có Song lộc, Khoa, Quyền ở cung Tài, làm gì cũng thành công, tiền vô như nước, bà ta lại khoái chí kể lể:
- Ờ, mà không biết sao kỳ lạ ghê nghe. Ông biết hồi tôi bỏ Phanrang chạy vô Saigon năm 75, ở cái nhà tôi mua sẵn trước đó cho mấy đứa em đi học, ông xã tôi đi tù, tôi lo lắng không biết làm gì mà sinh sống nuôi 4 đứa con, lang thang ra chợ Bến thành, tình cờ gặp con bạn cũ có sạp vải trong chợ. Nó dụ tôi sang lại sạp vải, lèo tèo có mấy xấp vải tai bèo, nó dạy nghề tôi một ngày, tôi nghe lời đưa cho nó 3 lượng vàng sang sạp. Ai dè qua hai ngày sau nó biến mất tiêu. hỏi thăm người quen nó đi vượt biên rồi. Vượt biên mà còn tiếc sạp vải bỏ lại, rang nói ngon ngọt dụ sang lại cho tôi lấy ba cây vàng mới chịu đi. Tôi đang ngồi một mình ngơ ngáo buồn thiu thì có một con nhỏ Bắc kỳ đem vải tới mời tôi mua, toàn là vải hợp tác xã bán ra cho dân, nó thu mua lại, tòan vải từng rẻo một thước, hai thước, đâu có được nguyên cây. Hồi đó vải bị nhà nước tịch thu của tư sản Saigon chở ra Bắc hết, ở ngoài dân không có vải để mua.
Nó bán 500$ một thước, tôi nghe lời mua mấy trăm thước bỏ đó. Tới chiều, có một ông Tàu Chợ lớn ở đâu tới, ngồi xuống chăm chú vạch chồng vải đó ra coi, hỏi: "Nị có bán không? Tôi nói, "Bán chớ, sao không?" Ổng hỏi, "Bao nhiêu vậy, 1800$ một thước được không, ngộ lấy hết? ". Tôi giựt mình kinh ngạc, trố mắt hỏi: Cái gì? Ông nói gì? Ông này tưởng tôi hỏi móc, chê trả quá rẻ, bèn cười giả lả: -Thì để ngộ trả giá từ từ chớ, làm gì mà gấp vậy?Thôi 2000 đó, được chưa? Tôi chưa hết bàng hòang, vẫn còn lập cập hỏi lại:"Cái gì? Ông nói thiệt hay nói chơi? "
Rồi Ngọc quay sang tôi:
- Tôi hỏi ông Chương nè, mình mua có 500$ một thước mà có người chịu mua lại tới 2000$, lời gấp ba, ông tin được không? Có thật không, hay là ông này tới chọc quê tôi đây. Tôi còn đang chú tâm dò xét coi ông ta nói giỡn hay thật, chưa dám trả lời, thì ông ta cứ vô tình tỉnh bơ trả thêm lên 2100, rồi 2200, rồi 2300$ một thước mới chịu thôi. Tôi bấy giờ mới hòan hồn, biết chắc là khách mua thật, đồng ý bán hết số vải, vừa mừng vừa lo, lo ổng giựt mình đối ý không mua nữa. Ông biết không, cả đêm hôm đó tôi thức trắng không ngủ được. Đúng là buôn bán "một vốn bốn lời", "phi thương bất phú", đúng là có Trời giúp mới khiến ra như vậy. Qua hôm sau.lạị có người tới bán vải, lại có người tới thu mua, đem xuống lục tỉnh bán, mình chỉ ngồi làm trung gian đếm tiền hưởng lợi, lời kinh khủng luôn. Hình như con người có số. Số có tiền, ngồi chơi không nó cũng tới ào ào, không cần làm gì hết.
Tôi ngắt lời hỏi:
-Thế bà bán mấy tháng mới lấy lại đủ vốn sang 3 cây vàng?
-Mấy tháng gì? Có hai ngày thôi là lấy lại cả vốn lẫn lời.
-Thiệt sao? Rồi bà ngồi đó bán được mấy năm sau mới đi vượt biên?
-Chỉ được có 4 bốn năm tháng chộn rộn là Viêt cộng nó dẹp mua bán hết, đóng cửa chợ Bến thành luôn. Nhưng tôi lời mấy chục cây vàng nhờ cái sạp vải đó. Tôi xoay qua buôn bán tại nhà. Ai bán gì mua nấy. Mua đó bán đó, kiếm lời xổi hàng ngày. Nhà ngay mặt đường lớn mà. Sau đó hai ba năm, thấy khó làm ăn được nữa, tôi mới tính chuyện vượt biên. Ông biết, tôi bỏ Phanrang vô đây mà tụi công an ngòai đó nó còn mò vô tới đây, tìm ra nhà tôi, truy hỏi ba tôi ở đâu, làm khó dễ tôi đủ thứ. Ba tôi phải trốn chui trốn nhủi, ở nhờ chỗ này chỗ kia, tìm đường đi chui. Nói sao cho hết cái khổ lúc đó. Tôi phải hối lộ cho chúng để làm giấy bán nhà lại cho con em trước khi đi.
Một lần khác, Ngọc kể chuyện có tiệm video ở Fremont, gần San Jose. Ngọc nói hồi mới qua Mỹ, Ngọc đi làm hãng, 5 mẹ con ở Ohio lạnh lắm mà phải ráng ở tới mấy năm trời, vì nghe đồn qua Cali, nhiều người Việt tỵ nạn có con cái bỏ học, ăn chơi hư hỏng, cờ bạc ma túy, bụi đời. Ngọc nói:
- Con không có cha bên cạnh, tôi là đàn bà, làm sao mà giữ được con cái khỏi hư hỏng, đua đòi theo bạn bè.. Mãi mấy năm sau, sau khi tụi nó học khá hết, điểm cao, lên đại học, tôi mới dám dọn về San jose, ở gần con xuyến em tôi. Tôi sang cái tiêm video ở trong Mall, ngay Fremont, cho thuê phim đắt lắm. Ông biết, tôi cho mướn tới 3 đồng rưỡi một phim chứ đâu có rẻ gì, vậy mà khách Mỹ đông nườm nượp. Được một năm, thấy tiệm kế bên bán áo cưới, rộng gấp 2 chỗ mình dọn đi, tôi mới xin chuyển sang đó, mở rộng cái tiệm bao la sáng trưng, ai thấy cũng ham. Ông biết mùa Noel tháng 12, lúc nào cũng đông nghẹt tịệm, nhờ 4 đưa con coi phụ chưa đủ, phải mướn thêm ba người nữa làm. Ông biết hồi đó có cái phim GHOST rất nổi tiếng, phim ma có Demi Moore đóng đó, biết không, tôi phải mua 30 cái băng gốc mới có đủ cho khách mướn. Bốn người ngồi phụ trách 4 cái computer phục vụ khách cả ngày mà làm không kịp thở. Thề rồi, có một ông khách Mỹ làm supervisor ơ tiệm Circuit City kế bên hay qua mướn phim, để ý thấy đông khách tấp nập suốt ngày đêm, hỏi tôi có muốn sang lại business cho ổng không. Tôi thấy con cái mắc học hành, một mình coi ngó không xuể, khách với người làm hay ăn cắp, thôi nếu bán có lời thì bán đại, làm business khác. Tôi ra giá 350 ngàn. Tưởng nói chơi, mà ai dè ổng OK cái rụp, trả tiền mặt ngay, không kỳ kèo xin bớt một xu. Đúng là cái số hên, làm ăn mua bán có thời...
-Hồi đó bà mua cái tiệm bao nhiêu?
-Có 100 ngàn à. Ông biết không, tôi lấy hết số tiền bán này mua ngay cái chung cư apartments 12 units dưới San Diego, cho mướn, ở không một năm nghỉ cho khỏe. Bây giờ nó đáng giá trên một triêu. Trong khi đó, cái tiệm video kia bắt đầu lụn bại, mất khách lần lần. Một phần ông Mỹ kẹo quá, chơi kiểu Mỹ, khách trả trễ ngày, phạt thẳng tay. Hồi tôi làm, trễ 10 ngày tôi tính tiền phạt có 7 ngày, trễ 5 ngày tôi phạt có 3 ngày. Con nít họ dẫn theo vô tiệm, đòi mua kẹo, đồ chơi, tôi cho không để lấy cảm tình, nên khách mến. Khách lâu lâu có kẻ lén ăn cắp phim đem ra cửa, bị alarm kêu inh ỏi, tôi nhẹ nhàng nói, "ông chịu khó đi vô trong, rồi quay vòng trở ra lại, máy sẽ hết kêu", không dám làm họ xấu hổ mất mặt, nên giữ được khách hàng. Lúc đó mode video VHS tape bắt đầu lỗi thời, ai cũng chuyển qua cho thuê DVD, gọn gàng tiện lợi, hay ngồi nhà download coi phim trên computer cho tiện, nên ít người chịu ra tiệm mướn phim. Ông biết không, ông Mỹ ế ẩm, sau cùng đành phải dẹp tiệm, không sang lại được cho ai một đồng bạc, coi như mất trắng 350 ngàn.
Tôi lắc đầu thở dài ngao ngán:
-Đúng là bà có phước, Trời cho ai người đó hưởng. Ở đời không biết may rủi sao mà nói trước được. Nhưng, sao đang từ San Jose mà lại bay xuống tận San Diego làm ăn?
-Tại con gái làm bác sĩ, mua nhà dưới đó ở, tôi phải đi theo.
-Còn tịêm phở, làm sao mà ở tuốt bên Chicago?
-À, tại còn thằng con trai đang học PH.D bên đó, nó mua rẻ lại cái tiệm ăn Tàu đang ế, biến thành tiệm phở, vưa mướn người làm, vừa học. Nó gọi tôi qua nấu phở giúp nó. Tôi qua nấu hai tuần rồi về lại, sau khi chỉ vẽ cách thức, để lại recipe cho đầu bếp làm. Khách lần lần kéo tới đông đen, bán không kịp, tôi lại phải bay qua ở luôn giúp cho nó hơn 2 năm, cho nó xong cái bằng tiến sỹ.
Tôi lắc đầu:
-Bà hy sinh cho con quá, mà con bà cũng giỏi thật, có máu thương mại giống bà. Con gái tôi lúc trước cũng tính đi học lên lấy bằng practitioner nurse, ai dè tới hồi làm chủ cây xăng, có tiền, có con, đâm ra làm biếng... Buôn bán lời nhiều cũng ham, nhưng người làm nó ăn cắp cũng dữ lắm, coi chừng mệt lắm. Tiệm có gắn camera đó, mà nó cũng ăn cắp dễ dàng như chơi. Bạn bè nó vô mua, nó giả đò bấm máy tính tiền, giá 30 đồng, nó tính có 15 đồng, làm thiệt của mình 15 đồng. Có lần người quen nó vô mua đồ, mình vừa quay lưng, nó đã xách nguyên một cây thuốc kẹp nách đem ra ngòai.
-Ôi chao, làm ăn phải chấp nhận chuyện ăn cắp, thất thoát, tôi biết mà. Hồi tôi làm tiệm phở, hai ba cái tủ lạnh to đông đá trữ tôm, thịt, tụi nhà bếp có ngày nó ăn cắp nguyên một hộp tôm đông lạnh, nguyên một cái giò heo, có khi nguyên một tảng thịt bò đem về nhà..Muốn đuổi đâu có đuổi ngang xương được, muớn một người mới phải training cả tháng trời. Cho nên nhiều khi biết mà phải giả nhắm mắt làm ngơ, khổ lắm....
Ngọc trước ở San Jose, có nhiều bạn học cũ để giao du lui tới như Nga, Thoa, Tấn, Lý, Lợi, Hạnh, thỉnh thỏang mới gọi xuống thăm tôi...Bây giờ ở.San Diego, nhìn quanh chỉ có mỗi bạn học cũ thân ở gần nhứt hiện giờ là tôi, tôi nghiệp buồn buồn hay gọi thăm, kể chuyện này chuyện kia, rủ về Việt nam chơi, rủ đi Âu châu, bàn chuyện rủ bạn bè cũ cho đủ10 đứa mua vé máy bay được "discount", rủ đi Pháp chơi, nhờ Thái, Tân, hay Trí ở Paris hướng dẫn đi chỗ này chỗ kia. Có khi rủ tôi cùng về Việt nam, cho ở free nhà lầu 4 tầng của con cháu bỏ không, khỏi mướn hotel tốn tiền., dẫn đi ăn những chỗ nấu nướng sạch sẽ, tinh khiết, lành mạnh, rủ đi chơi Phú quốc, Thái lan, Singapore. Có lần nhờ con gái lái chở lên đi ăn đám cưới con của Liễu, bạn học cũ ở Wesminster, đêm về theo tôi chở về nhà ngủ ở Riverside vì không quen ai ở Orange county. Cả đêm hai đứa kể lể không hết chuyện học trò thời học Duy tân, thời học tư ở Saigon, kể chuyện bà cô này, ông thày kia, chuyện đứa này "cua" con kia, đứa kia "bồ" con nọ, kể các mối tình hồi con gái, cười chảy nước mắt luôn...
Tội nghiệp Ngọc, cũng như tôi, tuổi già đến, con cái có gia đình ở tứ tán, chồng ở xa, không cón mong gì ở tương lai, thường sống với dĩ vãng, mà khi nhìn lại dĩ vãng thì chỉ còn có bạn học cũ là phần đời hạnh phúc trong sang, vô tư thật sự nhất của mình, bạn bè biết mình là ai, hiểu tánh tình mình ra sao, nói chuyện bậy bạ đùa giỡn với nhau tự nhiên, có những kỉ niệm vui buồn chung để chia xẻ qua những giai đọan lịch sử thăng trầm từ quê hương ra tới xứ người. Tuổi già, cha mẹ qua đời, không còn nhìn lên để bấu víu, cứ phải nhìn xuống lo cho với con cháu mãi cũng mệt, thấy còn trống vắng một cái gì gần gũi ngang hàng với mình, để nhìn thẳng ngang vai vế, đó là bạn bè. Già mà còn có một vài người bạn học cũ tốt gần gũi để an ủi, trò chuyện, để tung tăng du lịch đây đó, kể lể, chia sẻ những thất bại và thành công trong cuộc đời mình là một hạnh phúc tinh thần vô giá, không phải có tiền mà mua đươc.
Thursday, December 18, 2008
THIÊN LÝ
HUYỀN THOẠI THỊNH HƯƠNG
Năm 1976, tôi làm thiện nguyện cho cơ quan USCC để giúp người Việt ổn định trong những ngày đầu bỡ ngỡ trên một xứ sở đầy khác biệt. Mỗi chiều, sau công việc ở sở làm chính, tôi đến đây khoảng hai giờ đồng hồ. Thứ bảy, tôi làm trọn ngày. Chủ nhật tôi dành cho riêng tôi. Ngoài ý nghĩ "làm phúc lấy đức", tôi cũng muốn bận rộn để quên bớt nỗi buồn thất tình đang gậm nhấm con tim . Hồi trước, tôi có một anh bạn gốc người Long An. Lúc người yêu ôm cầm sang thuyền khác, anh buồn quá, đêm đêm ôm cái cassette, nghe đi nghe lại bài hát có câu " Thôi là hết em đi đường em. Tình duyên mình chỉ bấy nhiêu thôi! &" Lúc đó, tôi thấy tội nghiệp anh ta, và tự hỏi sao lại có người yêu hết mình đến cỡ đó. Làm như trên đời không còn ai nữa để mà yêu! Nhưng bây giờ thì tôi hiểu được nổi sầu của kẻ bị "bồ đá".
Sơ Catherine cho tôi hay có một cô Việt Nam mới đến xin làm thiện nguyện "on-call". Nghĩa là khi nào chúng tôi cần thì gọi cho cô biết, nếu cô sắp xếp được thời giờ thì cô đến giúp, chứ cô không muốn có thời khóa biểu nhất định. Tôi không hỏi sơ cô này là ai, nhưng đoán cô là dân đang du học trong lúc quân của ông Hồ vô Nam giải phóng tự do. Chứ người mới tới, ai có điều kiện mà đi làm thiện nguyện!
Cô đến làm hồ sơ và nhận thẻ nhân viên nhằm lúc tôi đang có mặt. Đó là một cô gái nhan sắc trung bình, nhưng có nụ cười rạng rỡ, khoe hai hàm răng đều như hai hàng bắp. Cô cao hơn những người con gái Việt Nam mà tôi quen, và tướng đi của cô cũng không tha thướt hoặc làm dáng chút nào. Cô mặc quần jean, áo sơ mi màu xanh đậm bỏ ngoài quần, chân mang giầy tennis trắng. Tóc cô cột ngược về phía sau thành một một lọn rỗi giữ chặt bằng cây trâm nhựa nhọn hoắt. Đôi vai ngang của cô vì vậy càng thêm ngang. Căn cứ vào tờ khai lý lịch, tôi biết cô kém tôi một tuổi. Cô tên Thiên Lý, Lê Thiên Lý. Sau khi giúp cô hoàn tất hồi sơ, tôi gợi chuyện:
- Cô đang đi học?
- Tôi vừa đi học vừa đi làm. Lấy GD xong thì học nghề y tá.
Vậy là cô không phải dân du học. Tôi hỏi tiếp:
- Cô đi làm ở đâu? Có gần đây không?
Vừa cất giấy tờ vào chiếc xách tay bẳng vải denim, cô vừa trả lời:
- Buổi chiều "moa" làm waitress ở nhà hàng kiếm tiền giúp "ông bà già". Thứ bảy tới võ trường dậy Judo. Cũng gần đây thôi.
Trời đất, nàng dậy Judo? Hèn gì tướng tá nàng nhiều nam tính hơn nữ tính, kể cả bộ ngực rất khiêm tốn của nàng. Nàng "ăn tiền" nhờ nụ cười tươi và đôi mắt long lanh như hai ánh sao. Tôi kéo dài câu chuyện:
- Wow... Cô dậy võ! Chắc đẳng cấp phải cao lắm?
Nàng dấm dẳng trả lời:
- Đai đen. Đệ nhất đẳng .
Bỗng nàng trở nên bực dọc, nói tiếp:
- Mẹ kiếp, dạo 54, ông bà cha mẹ tôi chạy bọn Việt Cộng trối chết. Năm ngoái chạy tiếp, kéo theo cả đàn con, trong đó có tôi.
Lần đầu tiên tôi mới nghe một cô gái chửi thề tỉnh bơ trước mặt nam giới chẳng ngại miệng. Bị kích thích vì tính khí khác người của nàng, tôi hỏi thêm:
- Gia đình cô có ai bị sót lại không?
- Ông anh rể và thằng em trai. Chẳng biết bây giờ ra sao.
Nàng chuẩn bị ra về. Tôi cố hỏi thêm:
- Gia đình cô ở gần đây?
- "Ông bà già" ở thành phố kế bên. Tôi ở đây với mẹ nuôi.
Câu trả lời của nàng tôi làm tôi thắc mắc, nhưng không dám hỏi thêm, sợ nàng gắn cho cái nhãn hiệu tò mò thì quê lắm. Những ngày sau đó, nghĩ đến vẻ ngang tàng và thái độ coi tôi như cục gạch của Lý, tôi cảm thấy thú vị và tự nhủ sẽ tìm hiểu hơn về nàng.
Sau mấy lần tiếp xúc với tôi trong công việc, Lý có vẻ thân thiện và cởi mở hơn. Nàng bảo nàng muốn học điều dưỡng vì hồi còn bên Việt Nam nàng có những kinh nghiệm không mấy đẹp với giới y tá bên đó. Thay vì "lương y như từ mẫu" thì phần đông họ dữ như hà bá, muốn làm "ma nhà thương" thay vì tiên nương áo trắng. Có dạo mẹ Lý đau nặng phải nằm bệnh viện . Tâm lý người bệnh thường lo sợ, và vì vậy hay gọi y tá. Gọi năm lần bảy lượt y tá mới đến, trợn mắt quát nạt:
- Đau thì ráng mà nhịn, kêu gì mà kêu hoài! Mỗi chút mỗi kêu. Bộ tôi làm đầy tớ mấy người hả?
Cảm nhận được tâm tình của những người bệnh qua chính mẹ mình, Lý muốn học làm bác sĩ, nhưng tự biết không đủ điều kiện nên cô quyết định học điều dưỡng. Tôi nhìn Lý, thán phục. Đằng sau cái bề ngoài ngang tàng và ngổ ngáo của nàng là một tấm lòng nhân ái vị tha.
Lý cho tôi biết hiện nay "ông bà già" đang ở với hai cậu con trai và bốn cô con gái trong một chung cư ở thành phố kế bên, chỉ cách nửa giờ lái xe. Lý là con thứ hai trong gia đình. Người chị cả của nàng ở căn apartment kế cạnh với bốn đứa con nhỏ. Đứa lớn mới có bảy tuổi. Đứa nhỏ nhất vừa ăn sinh nhật thứ hai tháng trước. Chị đang đi làm "house keeping" cho gia đình một ông mục sư. Mẹ Lý làm việc vặt trong nhà bếp của trường tiểu học địa phương và "ông gìa" nàng làm tài xế gia đình, đưa đón vợ con và bốn đứa cháu ngoại mỗi ngày. Lý bảo tôi nàng và "ông già" nàng kỵ tuổi nên rất khắc khẩu, hai cha con cứ xáp lại một lúc là có chuyện để hục hặc nhau.
Lúc còn bên Việt Nam, "ông già" đi làm trên Sàigon trong khi gia đình ở Biên Hòa do việc buôn bán của mẹ nàng ở đây. Là công chức trung cấp nhưng công việc của ông không có "tài ngoài" nên tiền lương của ông chẳng đủ nuôi bầy con chín đứa. Vì vậy, vợ ông phải tảo tần bán buôn với cái cửa hàng tạp hóa ngoài chợ. Ông ở trọ trên Sàigon với gia đình người anh, chỉ về với vợ con vào mỗi cuối tuần nên bao nhiêu chuyện trong gia đình ông giao phó hết cho vợ. Lý lén mẹ theo học Judo, cứ rảnh rỗi là vô võ trường đấm đá huỳnh huỵch. Có lần đấu biểu diễn, nàng bị người bạn đồng môn đá vẹo mũi. Nàng bảo "ông già" nàng bị té Honda để bị ông đánh cho một trận kinh hồn vì tội nói láo không có "căn". Té Honda mà sao chỉ vẹo lỗ mũi, còn thân thể chẳng có một vết trầy. Chưa học hết lớp mười hai thì Lý bỏ ngang đi làm, vì một cô bạn giới thiệu nàng vào làm thông dịch viên cho cơ quan DAO ở Sàigòn với số lương gấp ba số lương của ông già nàng! Ông già biết nàng đi làm sở Mỹ thì giận lắm. Ông chỉ vào mặt nàng quát :
- Tao chưa đến nỗi để cho chúng mày chết đói thì mày cũng đừng để người ta cười vào mặt tao! Nhục nhã lắm, mày có biết không?
Lý sợ, nhưng vẫn cố biện minh cho việc làm của mình. Nàng ra đứng gần cửa, chuẩn bị... chạy nếu bị đánh:
- Làm gì mà bố phải nhục? Bộ đi làm cho Mỹ là phải làm đĩ hay sao?
Ông già gầm lên:
- Mày còn già họng hả? Mày không làm đĩ, nhưng người ta cứ cho mày là đĩ! Mai đây có... chó nó cưới mày về làm vợ! Mày muốn làm gái già thì tao cho mày vừa ý! Tao không cần tiền của mày. Gia đình này chưa có chết đói!
Mặc cho "ông già" sỉ vả nàng cứ tiếp tục đi làm. Lý không muốn thấy mẹ đăm chiêu tính toán chuyện chi tiêu, mua sắm trong gia đình. Nàng muốn các em được ăn mặc tươm tất và không phải mang mặc cảm nghèo hèn với bạn bè. Bởi vậy, mỗi cuối tuần Lý sang nhà Hiền, cô bạn thân đã giới thiệu sở làm cho nàng , để lánh mặt và tránh những cơn lôi đình của ông già. Không chửi được Lý, thì ông quay qua tấn công vợ, đổ thừa vợ tham tiền, không răn đe con cái thay ông.
Nhưng rồi chính nàng là người đã cứu cả gia đình, đem mọi người di tản theo cơ quan hai ngày trước khi miền Nam lọt vào tay cộng sản Bắc Việt, kể cả bà chị lớn và bầy con nhỏ. Ông anh rể và người em trai của Lý không tháp tùng được vì lúc đó cơ quan của nàng không được phép di tản những người của quân đội. Lý nghe nói thế nào rồi họ cũng sẽ được di tản theo đơn vị khi có lệnh của cấp trên. Lúc lên xe ra phi trường, anh rể và em trai cô bịn rịn đưa tiễn, cố giấu những giọt nước mắt đằng sau cặp kính sậm mầu, không mấy tin vào ngày đoàn tụ trong một tương lai . Hai người đàn ông chấp nhận ở lại như một hy sinh cho sự sống còn của những người thân yêu . Nhìn mấy đứa cháu vươn mình lên cố quay lại nhìn bóng cha đang dần khuất phía sau xe nàng cắn răng nén khóc, ôm lấy mẹ đang rũ người trong những tiếng nấc đứt đoạn. Bố nàng mím chặt môi , hai con mắt đỏ hoe, một bàn tay nắm chặt, tay kia giơ cao vẫy chào từ biệt hai người con đang chay bên hông xe như cố thâu cho hết những hình ảnh cuối cùng của người thân vào trong trí nhớ.
Gia đình Lý rời trại tạm cư Pendleton do sự bảo lãnh của một gia đình ở Kansas. Khi mọi người đã tạm ổn định với cuộc sống mới, Lý bắt đầu xúc tiến việc lấy chứng chỉ GD vì đây là đòi hỏi đầu tiên của chương trình học điều dưỡng. Trong thời gian đi học, Lý chiếm được cảm tình của một bà giáo góa bụa không con. Bà nhận Lý làm con nuôi, đem nàng về ở với bà để nàng có thể chú tâm vào việc học. Bà mua cho nàng một chiếc xe tuy cũ nhưng còn khá để nàng di chuyển.
Tình bạn giữa tôi và Lý tăng theo tỉ lệ thuận với số ngày chúng tôi quen nhau. Tôi bị vẻ bạo dạn và tính tình ngay thẳng của nàng chinh phục, nhưng tôi biết mối quan hệ của chúng chưa có bóng dáng của tình yêu. Hình như Lý cố tránh né, không muốn cho tôi cơ hội để đến gần nàng hơn. Thỉnh thoảng đi coi movie ngoài trời với nhau, ngồi chung trong xe giữa môi trường rất riêng tư, nhưng tôi chưa bao giờ dám lộ một cử chỉ âu yếm thân mật nào với nàng . Có lần tôi đánh bạo kéo nàng lại gần để dò phản ứng. Lý dựa đầu vào vai tôi một cách... ngoan ngoãn, vừa nhai kẹo vừa theo dõi màn ảnh. Nhưng khi tôi vuốt ve cánh tay nàng, Lý liền bảo:
- Nhột! Lý không thích!
Tôi làm gan tán nhảm:
- Cho anh hôn thì hết nhột liền một khi!
Nàng hất tay tôi ra khỏi vai nàng, vênh mặt, bỉu môi:
- Đừng có ham. Để yên thì Lý tiếp tục đi chơi với, còn không thì nghỉ chơi luôn đi! Mấy người đàn ông sao ưa lộn xộn quá thể!
Tôi thở dài, để yên tay trên vai nàng. Tự nhiên tôi đâm ra ghiền cô con gái khô khan này mới khó hiểu. Hoa Thiên Lý là một loài hoa trắng nho nhỏ hiền lành. Người ta dựng giàn cho hoa leo để mùi thơm thoang thoảng của hoa làm dịu đi cái oi nồng của những ngày nóng cháy. Khi hoa gần tàn, người ta hái hoa nấu canh ăn cho mát. Nhưng Thiên Lý ngồi bên tôi lại là một hành trình ngàn dặm đầy thử thách mà tôi đang cố vượt qua.
Một hôm Lý mời tôi về nhà cha mẹ ruột để ăn mừng vì mới nhận được tin của người anh rể và đứa em trai từ Việt Nam. Họ vẫn còn sống nhưng đang bị nhốt trong mấy trại tập trung mà người ta gọi là "trường cải tạo". Từ ngày sang đây, bố nàng bớt khó khăn, bớt càm ràm với Lý, vì ông biết rằng nếu không nhờ nàng, nhờ cái "sở Mỹ" của nàng, thì giờ đây ông cũng đang đi tù "mút mùa lệ thủy". Đến nhà nàng hôm đó tôi mới biết là Lý rất khác các cô em gái và bà chị của nàng. Tất cả đều xinh đẹp hơn nàng, thùy mị hơn nàng, và ai cũng trang điểm phấn son. Lý đi làm với gương mặt trần, chỉ một chút má hồng và một thoáng phơn phớt son môi. Nàng thường mặc quần và áo sơ mi. Có một lần thấy nàng mặc váy và áo jacket mầu xanh nhạt, tôi khen nàng duyên dáng và đề nghị nàng mặc váy thường xuyên hơn. Nàng lắc đầu:
- Mặc váy vướng víu thấy "bà". "Chơi" quần jean là tiện nhất. Bộ đồ này bà già nuôi mua tặng nên "moa" mặc cho bà vui.
Lúc Lý ra đón tôi ở cửa tôi ngạc nhiên đến sững sờ! Lần đầu tiên tôi thấy nàng mặc áo dài! Nàng xinh đẹp một cách lạ lùng! Nữ tính nàng thể hiện rất rõ rệt qua làn tóc buông xõa trên bờ vai và chiếc áo dài ôm gọn thân hình thon thả của nàng. Tôi vẫn nghĩ chiếc áo dài Việt Nam là loại y phục kín đáo nhưng gợi cảm nhất thế giới, và lúc này, Lý là một nhân chứng hùng hồn nhất. Có lẽ tôi đã thật sự bị tiếng sét ái tình kể từ giây phút đó. Nhìn bản mặt ngơ ngẩn của tôi, Lý cười dòn:
- Coi kìa! Làm gì như kẻ mất hồn vậy hả?
Tôi nhìn nàng mê muội:
- Ừ, anh mất hồn thật. Hôm nay Lý đẹp như tiên giáng trần.
Lý cỏ vẻ thẹn thùng. Nàng nguýt yêu tôi và nói nhỏ:
- Nịnh đầm vừa vừa thôi nghen!
Lần đầu tiên gặp ông già của nàng tôi hơi khớp, nhưng ông cụ tiếp đãi tôi khá vui vẻ. Có lẽ ông cần đẩy nàng đi lấy chồng cho mau kẻo nàng mang họ ê sắc đến nơi. Nhìn mẹ nàng, tôi nghĩ có lẽ thời còn trẻ bà đã từng làm nhiều gã đàn ông đêm về ngủ mơ, vì nay tuy đã lớn tuổi mà bà còn mang nhiều nét ưa nhìn. Tóc bà điểm rất ít sợi bạc, da mặt bà trắng và mịn màng. Bà có nụ cười chừng mực quí phái. Các em gái của Lý giống bà, cô nào cũng nhẹ nhàng và đằm thắm, trong khi Lý có nhiều nét giống cha, nhất là cái vẻ mặt cứng cỏi, cương nghị của nàng.
Thời gian sau đó Lý mời tôi về nhà mẹ nuôi những khi nàng trổ tài nấu món ăn Việt Nam đãi bà. Hình như nàng cũng đã có nhiều cảm tình với tôi hơn, vì dạo này nàng không cự nự khi tôi gọi nàng bằng "em" hoặc "cưng" nữa, dù thỉnh thoảng nàng vẫn còn gọi tôi bằng những danh từ và đại danh từ chẳng mấy ngọt ngào . Tôi cũng vẫn chưa có can đảm nói câu "anh yêu em" với nàng. Sợ bị nàng cho "nghỉ chơi" thì buồn biết mấy!
Vài tuần lễ sau khi được tin của em và anh rể, nàng cũng nhận được tin Hiền, cô bạn ngày xưa đã từng "chứa chấp" mỗi khi nàng phải trốn tránh ông già. Vợ chồng Hiền cũng không chạy thoát được trong thời gian di tản, và cũng như anh rể và em trai của Lý, chồng Hiền đang ở tù vô hạn định. Lý đến báo tin mừng cho tôi biết, rồi tuyên bố:
- Lý phải nghỉ việc "chùa" ở USCC để đi kiếm thêm việc làm giúp con Hiền. Với lại cũng phải gởi tiếp tế về nhờ nó đi thăm nuôi em trai và anh rể của Lý luôn.
Lúc đó nàng sắp mãn khóa. Tôi sợ nàng đi làm nhiều quá sẽ ảnh hưởng đến ngày ra trường, nhưng nàng bảo:
-Lý tự lượng sức mình, anh đừng lo.
Nghe nàng gọi mình bằng anh, tôi mừng hết lớn. Vậy là tôi cũng có một chút hy vọng được nàng cho ôm hôn một ngày đẹp trời nào đó!
Vừa đi học full time, vừa đi làm hai jobs, người Lý sút thấy rõ. Sau, nàng quyết định thôi dậy võ làm tôi mừng rỡ thở phào. Thỉnh thoảng tới võ trường xem nàng dậy, tôi sợ và phục nàng sát đất! Nàng nhảy tới, phóng lui, phạt ngang phạt dọc rồi chặt chém lung tung làm tôi chóng cả mặt. Học trò của nàng toàn là những tên Mỹ to lớn kềnh càng, có đứa to gấp đôi nàng. Tôi tự dặn lòng, đừng bao giờ dại dột chọc cho nàng giận! Nàng chỉ xách tôi lên quăng cho một cái thì gẫy xương, dập phổi!
Thời đó chưa có dịch vụ gởi tiền về Việt Nam. Người ta chỉ gởi quà, mỗi năm hai lần bằng hàng hóa. Bởi vậy, mỗi lúc rảnh rỗi, Lý đi mua thuốc tây, áo quần, xà bông, dầu gội đầu để dành. Khi thấy đã kha khá, Lý rủ tôi tới chợ Việt Nam gởi về cho Hiền, giao phó trách nhiệm đi nuôi ba người tù. Có lần Lý lén giấu tiền vào mấy thứ đồ chơi rồi viết note dặn Hiền đừng bán những món này, giữ lại cho con chơi! Lúc đó Hiền chưa có con, nên Hiền hiểu ám hiệu. Được vài ba lần thì bể mánh, công an Hải Quan tóm được, chẳng những bị tịch thâu tiền mà Hiền còn phải đi học lý thuyết ở công an phường hết mấy ngày! Thấy Lý vất vả quá tôi xót xa. Mỗi lần Lý đi mua hàng, tôi năn nỉ nàng cho tôi ké vài món, với lý do là tôi cũng thương tù như nàng vậy. Nàng miễn cưỡng nhận lời cho tôi vui. Khi đã lấy được bằng Registered Nurse rồi, Lý bảo tôi:
- Bây giờ Lý đi làm kiếm tiền cho con Hiền vượt biên. Khi nào nó sang tới đây thì Lý học tiếp lên cao.
Lúc đó ông bà già của Lý đòi dọn qua California ở, vì nghe bên đó có nhiều ngưòi Việt Nam, sinh hoạt cộng đồng náo nhiệt, nhất là khí hậu lại ôn hòa, ấm áp. Một lần nữa, họ chuẫn bị... di cư . Lý bảo tôi nàng muốn theo ông bà già, để có gì thì còn tiện bề thăm nom chăm sóc. Không muốn xa nàng, tôi vội xin nàng nhận tôi làm chồng. Nàng bảo:
- Lý nặng gánh lắm, anh không sợ à?
Nàng hỏi để mà hỏi, chứ nàng thừa biết là nàng đã cột chặt tôi vào ngón tay nàng từ lâu rồi! Nàng lại phán:
- Lấy Lý thì anh cũng phải "move" qua Cali!
Thế là tôi mau mắn ca bài "em ở đâu thì anh đó", xin nghỉ việc rồi từ giã cha mẹ lên đường theo vợ! Ông già nàng nghe tôi chịu theo nàng, có lẽ ông mừng phát khóc, vì cuối cùng cũng có đứa chịu được cô con gái " ngỗ nghịch" mà ông tưởng chẳng thằng đàn ông nào dám rớ tới vì sợ... vỡ mông. Đám cưới của chúng tôi được tổ chức vội vàng để kịp ra đi vào thời gian bố mẹ nàng đã dự trù. Hôm đám hỏi, ông hỏi tuổi tôi rồi gật gù:
- Được... được đấy. Anh hơn nó một tuổi. Nhất gái hơn hai, nhì trai hơn một. Có điều anh phải ráng... dưới cơ nó một chút, vì nó cao số hơn anh!
Ôi, điều này ông không nói thì tôi cũng đã biết từ lâu. Nội việc tôi mau mắn từ giã gia đình, bỏ công bỏ việc để theo nàng cũng đã nói lên tất cả cái sự trên dưới của nàng và tôi rồi. Nàng theo đạo Phật, tôi theo đạo Tin lành. Chẳng có chùa chiền gì quanh đây, nên ông già nàng bằng lòng cho làm lễ cưới ở nhà thờ. Nàng còn nghĩ ra được một chuyện khác để thử thách sự dễ bảo của tôi:
- Hôm làm lễ ở nhà thờ Lý cho anh mặc đồ veston, nhưng lúc tiếp tân anh phải mặc áo dài khăn đóng.
Tôi không ham cái màn trình diễn thời trang đó chút nào, đang tìm cách thoái thác thì nàng phán, "Lý đã gởi mua cho anh rồi. Không mặc thì ông già không gả!"
Trời ơi đất hỡi, tống được con gái đi lấy chồng, đáng lẽ ổng phải mừng, phải thương tôi mới đúng, cớ sao mà còn hành hạ tôi cỡ này mới hả lòng? Đã trót thì phải trét (nói theo kiểu của mẹ nàng), tôi chẳng dám cãi. Hôm tiếp tân, tôi xém té mấy lần vì vấp ống quần. Gia đình tôi ai cũng có cảm tình với nàng, nên chẳng ai phàn nàn, bàn ra tán vào về đòi hỏi của gia đình nàng. Lúc tôi mặc thử bộ đồ "quốc hồn quốc tuý" lụng thụng, ai cũng phải cười nghiêng cười ngả.
Qua Cali, tôi và nàng may mắn kiếm được việc trong vòng hai tháng. Chúng tôi tìm mướn cho gia đình nàng một căn nhà bốn phòng ngủ gần khu chợ Việt Nam ở Westminster. Tôi và nàng thuê apartment gần nhà thương nàng làm. Hai vợ chồng đi làm trái giờ, nên mỗi đứa phải đi xe riêng. Trước khi Lý ra đi bà mẹ nuôi cho nàng một số tiền kha khá. Đáng lẽ dùng để làm downpayment mua một chiếc xe mới thì nàng lại quyết định:
- Thôi, em không mua xe mới đâu. Mắc nợ thêm mệt.
Vậy là tôi miễn cưỡng đưa nàng đi mua một chiếc xe second-hand, để nàng dành tiền gởi về cho Hiền tìm đường vượt biên, vì lúc đó phong trào vượt biên đang rầm rộ, và nhiều người đã sang được các trại tị nạn bên Thái, bên Phi. Tôi hỏi nàng:
- Nếu Hiền đi được thì ai sẽ lo cho ba người đang ở tù?
- Gia đình nó sẽ lo! Đi được người nào, hay người đó. Ở bên đó đói khổ lắm, tôi nghiệp nó anh à.
Tôi chẳng hiểu vì sao hai người đàn bà này thân nhau đến độ vợ tôi cứ lăn lóc đi làm, cứ cắc củm từng đồng, cứ nhịn tiêu xài để gởi về cho Hiền. Hiền cũng nghe lời khuyến khích của vợ tôi, nhưng đi chui mấy lần đều bị bể. Vài lần bị công an biên phòng bắt nhốt, vợ tôi lại gởi tiền về để gia đình Hiền lo lót cho nàng được thả. Lấy nhau vài năm mà Lý cũng chưa chịu có con . Tôi không vui thì nàng an ủi :
- Ráng thêm ít lâu nữa anh ạ! Thế nào Hiền cũng sẽ đi được thôi. Lúc nó qua đây đi làm kiếm tiền lo cho mấy người bên đó thì em nhẹ gánh, mình có con cũng không muộn !
Mấy năm sau Hiền vẫn chưa đi lọt. Vợ tôi bắt đầu thấy nản nên quyết định có con, vì sợ cái tuổi lý tưởng cho người đàn bà sanh con sẽ qua mất. Ngưng kế hoạch hóa mấy tháng mà chẳng thầy động tịnh gì, vợ tôi đi hỏi bác sĩ sản khoa. Bác sĩ nói nàng bị "stress" quá, làm việc nhiều quá, lại ngừa thai lâu nên bây giờ hơi khó thụ thai. Thế là tụi tôi phải đi trị bệnh hiếm muộn. Bác sĩ bắt nàng phải nghỉ ngơi, cắt bớt giờ làm việc ở nhà thương. Vợ tôi làm bớt giờ thì tiền lương hụt xuống. Để cho nàng yên tâm, tôi bèn xung phong đi làm thêm hai đêm cuối tuần ở một night club. Có hôm đi làm về mệt mỏi, tôi khuyên vợ tạm ngưng lo việc vượt biên của Hiền , chỉ nên chú trọng việc thăm nuôi ba người tù thôi, nhưng nàng không chịu. Lý rưng rưng bảo nàng tự thấy có bổn phận phải lo cho Hiền, vì dầu sao Hiền cũng là người gián tiếp đem lại những may mắn của gia đình nàng ngày nay. Càng ngày Lý càng cho tôi thấy rõ hơn cái tâm hồn cao quí của nàng và tôi yêu nàng hơn. Người ta chỉ thấy vợ tôi qua hình ảnh một người đàn bà bộ dạng cứng cỏi với những câu nói "bốp chát" và những thế võ kinh hồn . ..Thương vợ, tôi tiếp tục ngậm bồ hòn làm ngọt, cắm cúi đi làm bảy ngày một tuần, chẳng còn thì giờ và hơi sức đâu để đưa nàng dung dăng dung dẻ nơi này nơi kia , dù chung quanh có bao nhiêu bãi biển thơ mộng dọc con đường Highway I, từ chỗ chúng tôi chạy dài tới Long Beach. Phải thú thật, lắm lúc vợ chồng tôi cũng hục hặc điều qua tiếng lại vì tiền bạc không được xài thoải mái, nhưng luôn luôn tôi là người phải nhận lỗi và xin lỗi. Chỉ cần vợ cau mày là tôi đã muốn đầu hàng vô điều kiện, ngoại trừ mấy hôm lấy rượu làm thuốc liều tôi mới có can đảm nói những điều mà nàng bảo " nghe không lọt lỗ tai". Hèn gì ông già nàng hồi đó khuyên tôi phải chịu dưới cơ nàng. Con ổng tạo ra, ổng phải biết là đúng sách vở rồi! Đã chẳng thương tôi, mà mấy thằng em vợ còn mỉa mai :
- Anh sao sợ vợ quá xá, làm tụi tôi cũng khó ăn khó nói với mấy bà nhà này.
Tôi cãi, không phải là tôi sợ vợ, mà là tôi quá yêu vợ , không muốn làm vợ buồn. Thế thôi. Chưa bao giờ nàng phải xử dụng Judo để nói chuyện với tôi thì tôi có gì mà phải sợ!
Để rút ngắn câu chuyện, tôi xin nói ngay rằng sau khi Lý sanh đứa con đầu lòng được sáu tháng thì Hiền đi thoát và qua với vợ chồng tôi sau mấy tháng nằm đảo. Dĩ nhiên là vợ tôi mừng lắm lắm Tôi cũng mừng, vì từ nay không phải đi làm security ở night club mỗi cuối tuần, và có thêm thời giờ coi con thay vợ. Ngày trước Hiền cũng đi làm cơ quan DAO như vợ tôi nên qua đây cô tìm việc không khó lắm. Hiền vừa đi làm part-time tại một văn phòng bác sĩ, vừa đi học lớp "pharmacy technician".
Số là, hồi đó Hiền được một gia đình cho lên tầu, lấy trước một cây vàng, sau khi đến Mỹ thì vợ chồng tôi trả thêm cho họ hai ngàn nữa. Lý sai tôi ra ngân hàng vay tiền, vừa trả nợ cho Hiền vừa down cho nàng mua chiếc xe mới, vì giờ đây nàng muốn cho Hiền chiếc xe cũ của nàng. Tôi răm rắp nghe lời vợ, dậy Hiền lái xe mỗi cuối tuần! Hiền học lái mau lắm, thi chỉ một lần là đậu. Nhưng có một địều tôi không làm sao dậy nàng cho thành thạo được! Đó là việc de xe từ garage ra đường. Chả là cái garage nhà tôi nằm tuốt phía sau nhà. Mỗi lần đem xe ra đi làm, Hiền không thể nào de thẳng được! Hôm thì quẹt hàng rào, hôm thì leo vô sân cỏ! Trời mưa thì, ô hô, vườn cỏ của tôi tự nhiên có hai rãnh nước sâu hoắm. Mấy lần phải đắp đất trồng lại cỏ, tôi ước gì tôi có thể đá vào mông cô mấy cái cho cô bớt ngu! (Xin lỗi, tôi chửi lén cho đỡ tức).
Mấy năm sau, chồng Hiền, em trai và anh rể của Lý cũng lần lượt sang Mỹ sau nhiều đợt đi chui trầy da tróc vảy. Ngày nay thì ai cũng nhà cửa đề huề, công ăn việc làm chẳng thua kém những người đến trước là bao. Hiền và Lý lúc nào cũng như keo sơn, thương nhau còn hơn chị em ruột, lắm lúc làm tôi phát ghen, phát phiền lên được. Không phải chạy tiền gởi về VN nữa, vợ tôi đi học trở lại . Ngày nay nàng là một nurse practitioner tận tuỵ. Vợ chồng tôi có hai con, một trai một gái. Đứa con trai có tên trong giấy tờ là Benjamen, goị tắt là Ben. Đứa con gái tên Holly. Vậy mà nàng bắt mọi người gọi chúng là Biên và Hoà, để kỷ niệm nơi gia đình nàng cư ngụ lúc còn bên quê nhà. Mỗi tuần nàng bắt cha con tôi chở nhau đi học tiếng Việt, vì sợ con cái quên tiếng mẹ đẻ! Một hôm, sau lớp học, cha con tôi dẫn nhau đi ăn . Con gái tôi dõng dạc order đồ ăn:
- Chú cho bố cháu tô phở tái, cho anh cháu tô hủ tiếu Mỹ Tho. Còn cháu, một tô bún riêu không có huyết!
Anh chàng waiter ngạc nhiên, trợn mắt nhìn nó như nhìn một Maika từ trên trời rơi xuống. Cả phút sau, anh ta "hòan hồn", cười toe toét nói với cô waitress vừa đi tới:
- Trời đất ơi, cô bé người Mỹ này nói tiếng Việt rành hơn con Việt Nam!
Con gái tôi vội trả lời:
- Không phải! Cháu là người Việt Nam chính hiệu con nai vàng chú ơi!
Cô waitress cười rũ người:
- Dóc quá đi! Người Việt Nam chính hiệu mà da trắng, mũi lõ!
Quay sang tôi, cô hỏi bằng tiếng Anh:
- Bé học tiếng Việt bao lâu rồi mà nói rành quá hả ông?
- Dạ... học từ hồi còn trong bụng mẹ!
Tôi trả lời bằng tiếng Việt. Thực khách mấy bàn xung quanh quay lại nhìn cha con tôi, ngạc nhiên và thích thú lắm.
Và, còn điều này nữa, tên cúng cơm của tôi là Calvin, mà suốt ngày nàng gọi tôi là Công, vì nàng tên Lý! Có công lý giữa vợ chồng tôi hay không thì tôi không dám chắc, nhưng tôi biết chắc là suốt đời tôi không bao giờ dám "kháng án" dù nàng có xử ức cho tôi cỡ nào chăng nữa ! Bây giờ thì tôi hiểu vì sao ông gìa vợ tôi nói câu "Nhất gái hơn hai, nhì trai hơn một"! Tôi sanh nhằm năm con trâu, còn nàng sanh năm con cọp. Nhiều khi tôi tự hỏi cha con tôi là người Việt gốc Mỹ, hay người Mỹ gốc Việt?
HUYỀN THOẠI THỊNH HƯƠNG
Năm 1976, tôi làm thiện nguyện cho cơ quan USCC để giúp người Việt ổn định trong những ngày đầu bỡ ngỡ trên một xứ sở đầy khác biệt. Mỗi chiều, sau công việc ở sở làm chính, tôi đến đây khoảng hai giờ đồng hồ. Thứ bảy, tôi làm trọn ngày. Chủ nhật tôi dành cho riêng tôi. Ngoài ý nghĩ "làm phúc lấy đức", tôi cũng muốn bận rộn để quên bớt nỗi buồn thất tình đang gậm nhấm con tim . Hồi trước, tôi có một anh bạn gốc người Long An. Lúc người yêu ôm cầm sang thuyền khác, anh buồn quá, đêm đêm ôm cái cassette, nghe đi nghe lại bài hát có câu " Thôi là hết em đi đường em. Tình duyên mình chỉ bấy nhiêu thôi! &" Lúc đó, tôi thấy tội nghiệp anh ta, và tự hỏi sao lại có người yêu hết mình đến cỡ đó. Làm như trên đời không còn ai nữa để mà yêu! Nhưng bây giờ thì tôi hiểu được nổi sầu của kẻ bị "bồ đá".
Sơ Catherine cho tôi hay có một cô Việt Nam mới đến xin làm thiện nguyện "on-call". Nghĩa là khi nào chúng tôi cần thì gọi cho cô biết, nếu cô sắp xếp được thời giờ thì cô đến giúp, chứ cô không muốn có thời khóa biểu nhất định. Tôi không hỏi sơ cô này là ai, nhưng đoán cô là dân đang du học trong lúc quân của ông Hồ vô Nam giải phóng tự do. Chứ người mới tới, ai có điều kiện mà đi làm thiện nguyện!
Cô đến làm hồ sơ và nhận thẻ nhân viên nhằm lúc tôi đang có mặt. Đó là một cô gái nhan sắc trung bình, nhưng có nụ cười rạng rỡ, khoe hai hàm răng đều như hai hàng bắp. Cô cao hơn những người con gái Việt Nam mà tôi quen, và tướng đi của cô cũng không tha thướt hoặc làm dáng chút nào. Cô mặc quần jean, áo sơ mi màu xanh đậm bỏ ngoài quần, chân mang giầy tennis trắng. Tóc cô cột ngược về phía sau thành một một lọn rỗi giữ chặt bằng cây trâm nhựa nhọn hoắt. Đôi vai ngang của cô vì vậy càng thêm ngang. Căn cứ vào tờ khai lý lịch, tôi biết cô kém tôi một tuổi. Cô tên Thiên Lý, Lê Thiên Lý. Sau khi giúp cô hoàn tất hồi sơ, tôi gợi chuyện:
- Cô đang đi học?
- Tôi vừa đi học vừa đi làm. Lấy GD xong thì học nghề y tá.
Vậy là cô không phải dân du học. Tôi hỏi tiếp:
- Cô đi làm ở đâu? Có gần đây không?
Vừa cất giấy tờ vào chiếc xách tay bẳng vải denim, cô vừa trả lời:
- Buổi chiều "moa" làm waitress ở nhà hàng kiếm tiền giúp "ông bà già". Thứ bảy tới võ trường dậy Judo. Cũng gần đây thôi.
Trời đất, nàng dậy Judo? Hèn gì tướng tá nàng nhiều nam tính hơn nữ tính, kể cả bộ ngực rất khiêm tốn của nàng. Nàng "ăn tiền" nhờ nụ cười tươi và đôi mắt long lanh như hai ánh sao. Tôi kéo dài câu chuyện:
- Wow... Cô dậy võ! Chắc đẳng cấp phải cao lắm?
Nàng dấm dẳng trả lời:
- Đai đen. Đệ nhất đẳng .
Bỗng nàng trở nên bực dọc, nói tiếp:
- Mẹ kiếp, dạo 54, ông bà cha mẹ tôi chạy bọn Việt Cộng trối chết. Năm ngoái chạy tiếp, kéo theo cả đàn con, trong đó có tôi.
Lần đầu tiên tôi mới nghe một cô gái chửi thề tỉnh bơ trước mặt nam giới chẳng ngại miệng. Bị kích thích vì tính khí khác người của nàng, tôi hỏi thêm:
- Gia đình cô có ai bị sót lại không?
- Ông anh rể và thằng em trai. Chẳng biết bây giờ ra sao.
Nàng chuẩn bị ra về. Tôi cố hỏi thêm:
- Gia đình cô ở gần đây?
- "Ông bà già" ở thành phố kế bên. Tôi ở đây với mẹ nuôi.
Câu trả lời của nàng tôi làm tôi thắc mắc, nhưng không dám hỏi thêm, sợ nàng gắn cho cái nhãn hiệu tò mò thì quê lắm. Những ngày sau đó, nghĩ đến vẻ ngang tàng và thái độ coi tôi như cục gạch của Lý, tôi cảm thấy thú vị và tự nhủ sẽ tìm hiểu hơn về nàng.
Sau mấy lần tiếp xúc với tôi trong công việc, Lý có vẻ thân thiện và cởi mở hơn. Nàng bảo nàng muốn học điều dưỡng vì hồi còn bên Việt Nam nàng có những kinh nghiệm không mấy đẹp với giới y tá bên đó. Thay vì "lương y như từ mẫu" thì phần đông họ dữ như hà bá, muốn làm "ma nhà thương" thay vì tiên nương áo trắng. Có dạo mẹ Lý đau nặng phải nằm bệnh viện . Tâm lý người bệnh thường lo sợ, và vì vậy hay gọi y tá. Gọi năm lần bảy lượt y tá mới đến, trợn mắt quát nạt:
- Đau thì ráng mà nhịn, kêu gì mà kêu hoài! Mỗi chút mỗi kêu. Bộ tôi làm đầy tớ mấy người hả?
Cảm nhận được tâm tình của những người bệnh qua chính mẹ mình, Lý muốn học làm bác sĩ, nhưng tự biết không đủ điều kiện nên cô quyết định học điều dưỡng. Tôi nhìn Lý, thán phục. Đằng sau cái bề ngoài ngang tàng và ngổ ngáo của nàng là một tấm lòng nhân ái vị tha.
Lý cho tôi biết hiện nay "ông bà già" đang ở với hai cậu con trai và bốn cô con gái trong một chung cư ở thành phố kế bên, chỉ cách nửa giờ lái xe. Lý là con thứ hai trong gia đình. Người chị cả của nàng ở căn apartment kế cạnh với bốn đứa con nhỏ. Đứa lớn mới có bảy tuổi. Đứa nhỏ nhất vừa ăn sinh nhật thứ hai tháng trước. Chị đang đi làm "house keeping" cho gia đình một ông mục sư. Mẹ Lý làm việc vặt trong nhà bếp của trường tiểu học địa phương và "ông gìa" nàng làm tài xế gia đình, đưa đón vợ con và bốn đứa cháu ngoại mỗi ngày. Lý bảo tôi nàng và "ông già" nàng kỵ tuổi nên rất khắc khẩu, hai cha con cứ xáp lại một lúc là có chuyện để hục hặc nhau.
Lúc còn bên Việt Nam, "ông già" đi làm trên Sàigon trong khi gia đình ở Biên Hòa do việc buôn bán của mẹ nàng ở đây. Là công chức trung cấp nhưng công việc của ông không có "tài ngoài" nên tiền lương của ông chẳng đủ nuôi bầy con chín đứa. Vì vậy, vợ ông phải tảo tần bán buôn với cái cửa hàng tạp hóa ngoài chợ. Ông ở trọ trên Sàigon với gia đình người anh, chỉ về với vợ con vào mỗi cuối tuần nên bao nhiêu chuyện trong gia đình ông giao phó hết cho vợ. Lý lén mẹ theo học Judo, cứ rảnh rỗi là vô võ trường đấm đá huỳnh huỵch. Có lần đấu biểu diễn, nàng bị người bạn đồng môn đá vẹo mũi. Nàng bảo "ông già" nàng bị té Honda để bị ông đánh cho một trận kinh hồn vì tội nói láo không có "căn". Té Honda mà sao chỉ vẹo lỗ mũi, còn thân thể chẳng có một vết trầy. Chưa học hết lớp mười hai thì Lý bỏ ngang đi làm, vì một cô bạn giới thiệu nàng vào làm thông dịch viên cho cơ quan DAO ở Sàigòn với số lương gấp ba số lương của ông già nàng! Ông già biết nàng đi làm sở Mỹ thì giận lắm. Ông chỉ vào mặt nàng quát :
- Tao chưa đến nỗi để cho chúng mày chết đói thì mày cũng đừng để người ta cười vào mặt tao! Nhục nhã lắm, mày có biết không?
Lý sợ, nhưng vẫn cố biện minh cho việc làm của mình. Nàng ra đứng gần cửa, chuẩn bị... chạy nếu bị đánh:
- Làm gì mà bố phải nhục? Bộ đi làm cho Mỹ là phải làm đĩ hay sao?
Ông già gầm lên:
- Mày còn già họng hả? Mày không làm đĩ, nhưng người ta cứ cho mày là đĩ! Mai đây có... chó nó cưới mày về làm vợ! Mày muốn làm gái già thì tao cho mày vừa ý! Tao không cần tiền của mày. Gia đình này chưa có chết đói!
Mặc cho "ông già" sỉ vả nàng cứ tiếp tục đi làm. Lý không muốn thấy mẹ đăm chiêu tính toán chuyện chi tiêu, mua sắm trong gia đình. Nàng muốn các em được ăn mặc tươm tất và không phải mang mặc cảm nghèo hèn với bạn bè. Bởi vậy, mỗi cuối tuần Lý sang nhà Hiền, cô bạn thân đã giới thiệu sở làm cho nàng , để lánh mặt và tránh những cơn lôi đình của ông già. Không chửi được Lý, thì ông quay qua tấn công vợ, đổ thừa vợ tham tiền, không răn đe con cái thay ông.
Nhưng rồi chính nàng là người đã cứu cả gia đình, đem mọi người di tản theo cơ quan hai ngày trước khi miền Nam lọt vào tay cộng sản Bắc Việt, kể cả bà chị lớn và bầy con nhỏ. Ông anh rể và người em trai của Lý không tháp tùng được vì lúc đó cơ quan của nàng không được phép di tản những người của quân đội. Lý nghe nói thế nào rồi họ cũng sẽ được di tản theo đơn vị khi có lệnh của cấp trên. Lúc lên xe ra phi trường, anh rể và em trai cô bịn rịn đưa tiễn, cố giấu những giọt nước mắt đằng sau cặp kính sậm mầu, không mấy tin vào ngày đoàn tụ trong một tương lai . Hai người đàn ông chấp nhận ở lại như một hy sinh cho sự sống còn của những người thân yêu . Nhìn mấy đứa cháu vươn mình lên cố quay lại nhìn bóng cha đang dần khuất phía sau xe nàng cắn răng nén khóc, ôm lấy mẹ đang rũ người trong những tiếng nấc đứt đoạn. Bố nàng mím chặt môi , hai con mắt đỏ hoe, một bàn tay nắm chặt, tay kia giơ cao vẫy chào từ biệt hai người con đang chay bên hông xe như cố thâu cho hết những hình ảnh cuối cùng của người thân vào trong trí nhớ.
Gia đình Lý rời trại tạm cư Pendleton do sự bảo lãnh của một gia đình ở Kansas. Khi mọi người đã tạm ổn định với cuộc sống mới, Lý bắt đầu xúc tiến việc lấy chứng chỉ GD vì đây là đòi hỏi đầu tiên của chương trình học điều dưỡng. Trong thời gian đi học, Lý chiếm được cảm tình của một bà giáo góa bụa không con. Bà nhận Lý làm con nuôi, đem nàng về ở với bà để nàng có thể chú tâm vào việc học. Bà mua cho nàng một chiếc xe tuy cũ nhưng còn khá để nàng di chuyển.
Tình bạn giữa tôi và Lý tăng theo tỉ lệ thuận với số ngày chúng tôi quen nhau. Tôi bị vẻ bạo dạn và tính tình ngay thẳng của nàng chinh phục, nhưng tôi biết mối quan hệ của chúng chưa có bóng dáng của tình yêu. Hình như Lý cố tránh né, không muốn cho tôi cơ hội để đến gần nàng hơn. Thỉnh thoảng đi coi movie ngoài trời với nhau, ngồi chung trong xe giữa môi trường rất riêng tư, nhưng tôi chưa bao giờ dám lộ một cử chỉ âu yếm thân mật nào với nàng . Có lần tôi đánh bạo kéo nàng lại gần để dò phản ứng. Lý dựa đầu vào vai tôi một cách... ngoan ngoãn, vừa nhai kẹo vừa theo dõi màn ảnh. Nhưng khi tôi vuốt ve cánh tay nàng, Lý liền bảo:
- Nhột! Lý không thích!
Tôi làm gan tán nhảm:
- Cho anh hôn thì hết nhột liền một khi!
Nàng hất tay tôi ra khỏi vai nàng, vênh mặt, bỉu môi:
- Đừng có ham. Để yên thì Lý tiếp tục đi chơi với, còn không thì nghỉ chơi luôn đi! Mấy người đàn ông sao ưa lộn xộn quá thể!
Tôi thở dài, để yên tay trên vai nàng. Tự nhiên tôi đâm ra ghiền cô con gái khô khan này mới khó hiểu. Hoa Thiên Lý là một loài hoa trắng nho nhỏ hiền lành. Người ta dựng giàn cho hoa leo để mùi thơm thoang thoảng của hoa làm dịu đi cái oi nồng của những ngày nóng cháy. Khi hoa gần tàn, người ta hái hoa nấu canh ăn cho mát. Nhưng Thiên Lý ngồi bên tôi lại là một hành trình ngàn dặm đầy thử thách mà tôi đang cố vượt qua.
Một hôm Lý mời tôi về nhà cha mẹ ruột để ăn mừng vì mới nhận được tin của người anh rể và đứa em trai từ Việt Nam. Họ vẫn còn sống nhưng đang bị nhốt trong mấy trại tập trung mà người ta gọi là "trường cải tạo". Từ ngày sang đây, bố nàng bớt khó khăn, bớt càm ràm với Lý, vì ông biết rằng nếu không nhờ nàng, nhờ cái "sở Mỹ" của nàng, thì giờ đây ông cũng đang đi tù "mút mùa lệ thủy". Đến nhà nàng hôm đó tôi mới biết là Lý rất khác các cô em gái và bà chị của nàng. Tất cả đều xinh đẹp hơn nàng, thùy mị hơn nàng, và ai cũng trang điểm phấn son. Lý đi làm với gương mặt trần, chỉ một chút má hồng và một thoáng phơn phớt son môi. Nàng thường mặc quần và áo sơ mi. Có một lần thấy nàng mặc váy và áo jacket mầu xanh nhạt, tôi khen nàng duyên dáng và đề nghị nàng mặc váy thường xuyên hơn. Nàng lắc đầu:
- Mặc váy vướng víu thấy "bà". "Chơi" quần jean là tiện nhất. Bộ đồ này bà già nuôi mua tặng nên "moa" mặc cho bà vui.
Lúc Lý ra đón tôi ở cửa tôi ngạc nhiên đến sững sờ! Lần đầu tiên tôi thấy nàng mặc áo dài! Nàng xinh đẹp một cách lạ lùng! Nữ tính nàng thể hiện rất rõ rệt qua làn tóc buông xõa trên bờ vai và chiếc áo dài ôm gọn thân hình thon thả của nàng. Tôi vẫn nghĩ chiếc áo dài Việt Nam là loại y phục kín đáo nhưng gợi cảm nhất thế giới, và lúc này, Lý là một nhân chứng hùng hồn nhất. Có lẽ tôi đã thật sự bị tiếng sét ái tình kể từ giây phút đó. Nhìn bản mặt ngơ ngẩn của tôi, Lý cười dòn:
- Coi kìa! Làm gì như kẻ mất hồn vậy hả?
Tôi nhìn nàng mê muội:
- Ừ, anh mất hồn thật. Hôm nay Lý đẹp như tiên giáng trần.
Lý cỏ vẻ thẹn thùng. Nàng nguýt yêu tôi và nói nhỏ:
- Nịnh đầm vừa vừa thôi nghen!
Lần đầu tiên gặp ông già của nàng tôi hơi khớp, nhưng ông cụ tiếp đãi tôi khá vui vẻ. Có lẽ ông cần đẩy nàng đi lấy chồng cho mau kẻo nàng mang họ ê sắc đến nơi. Nhìn mẹ nàng, tôi nghĩ có lẽ thời còn trẻ bà đã từng làm nhiều gã đàn ông đêm về ngủ mơ, vì nay tuy đã lớn tuổi mà bà còn mang nhiều nét ưa nhìn. Tóc bà điểm rất ít sợi bạc, da mặt bà trắng và mịn màng. Bà có nụ cười chừng mực quí phái. Các em gái của Lý giống bà, cô nào cũng nhẹ nhàng và đằm thắm, trong khi Lý có nhiều nét giống cha, nhất là cái vẻ mặt cứng cỏi, cương nghị của nàng.
Thời gian sau đó Lý mời tôi về nhà mẹ nuôi những khi nàng trổ tài nấu món ăn Việt Nam đãi bà. Hình như nàng cũng đã có nhiều cảm tình với tôi hơn, vì dạo này nàng không cự nự khi tôi gọi nàng bằng "em" hoặc "cưng" nữa, dù thỉnh thoảng nàng vẫn còn gọi tôi bằng những danh từ và đại danh từ chẳng mấy ngọt ngào . Tôi cũng vẫn chưa có can đảm nói câu "anh yêu em" với nàng. Sợ bị nàng cho "nghỉ chơi" thì buồn biết mấy!
Vài tuần lễ sau khi được tin của em và anh rể, nàng cũng nhận được tin Hiền, cô bạn ngày xưa đã từng "chứa chấp" mỗi khi nàng phải trốn tránh ông già. Vợ chồng Hiền cũng không chạy thoát được trong thời gian di tản, và cũng như anh rể và em trai của Lý, chồng Hiền đang ở tù vô hạn định. Lý đến báo tin mừng cho tôi biết, rồi tuyên bố:
- Lý phải nghỉ việc "chùa" ở USCC để đi kiếm thêm việc làm giúp con Hiền. Với lại cũng phải gởi tiếp tế về nhờ nó đi thăm nuôi em trai và anh rể của Lý luôn.
Lúc đó nàng sắp mãn khóa. Tôi sợ nàng đi làm nhiều quá sẽ ảnh hưởng đến ngày ra trường, nhưng nàng bảo:
-Lý tự lượng sức mình, anh đừng lo.
Nghe nàng gọi mình bằng anh, tôi mừng hết lớn. Vậy là tôi cũng có một chút hy vọng được nàng cho ôm hôn một ngày đẹp trời nào đó!
Vừa đi học full time, vừa đi làm hai jobs, người Lý sút thấy rõ. Sau, nàng quyết định thôi dậy võ làm tôi mừng rỡ thở phào. Thỉnh thoảng tới võ trường xem nàng dậy, tôi sợ và phục nàng sát đất! Nàng nhảy tới, phóng lui, phạt ngang phạt dọc rồi chặt chém lung tung làm tôi chóng cả mặt. Học trò của nàng toàn là những tên Mỹ to lớn kềnh càng, có đứa to gấp đôi nàng. Tôi tự dặn lòng, đừng bao giờ dại dột chọc cho nàng giận! Nàng chỉ xách tôi lên quăng cho một cái thì gẫy xương, dập phổi!
Thời đó chưa có dịch vụ gởi tiền về Việt Nam. Người ta chỉ gởi quà, mỗi năm hai lần bằng hàng hóa. Bởi vậy, mỗi lúc rảnh rỗi, Lý đi mua thuốc tây, áo quần, xà bông, dầu gội đầu để dành. Khi thấy đã kha khá, Lý rủ tôi tới chợ Việt Nam gởi về cho Hiền, giao phó trách nhiệm đi nuôi ba người tù. Có lần Lý lén giấu tiền vào mấy thứ đồ chơi rồi viết note dặn Hiền đừng bán những món này, giữ lại cho con chơi! Lúc đó Hiền chưa có con, nên Hiền hiểu ám hiệu. Được vài ba lần thì bể mánh, công an Hải Quan tóm được, chẳng những bị tịch thâu tiền mà Hiền còn phải đi học lý thuyết ở công an phường hết mấy ngày! Thấy Lý vất vả quá tôi xót xa. Mỗi lần Lý đi mua hàng, tôi năn nỉ nàng cho tôi ké vài món, với lý do là tôi cũng thương tù như nàng vậy. Nàng miễn cưỡng nhận lời cho tôi vui. Khi đã lấy được bằng Registered Nurse rồi, Lý bảo tôi:
- Bây giờ Lý đi làm kiếm tiền cho con Hiền vượt biên. Khi nào nó sang tới đây thì Lý học tiếp lên cao.
Lúc đó ông bà già của Lý đòi dọn qua California ở, vì nghe bên đó có nhiều ngưòi Việt Nam, sinh hoạt cộng đồng náo nhiệt, nhất là khí hậu lại ôn hòa, ấm áp. Một lần nữa, họ chuẫn bị... di cư . Lý bảo tôi nàng muốn theo ông bà già, để có gì thì còn tiện bề thăm nom chăm sóc. Không muốn xa nàng, tôi vội xin nàng nhận tôi làm chồng. Nàng bảo:
- Lý nặng gánh lắm, anh không sợ à?
Nàng hỏi để mà hỏi, chứ nàng thừa biết là nàng đã cột chặt tôi vào ngón tay nàng từ lâu rồi! Nàng lại phán:
- Lấy Lý thì anh cũng phải "move" qua Cali!
Thế là tôi mau mắn ca bài "em ở đâu thì anh đó", xin nghỉ việc rồi từ giã cha mẹ lên đường theo vợ! Ông già nàng nghe tôi chịu theo nàng, có lẽ ông mừng phát khóc, vì cuối cùng cũng có đứa chịu được cô con gái " ngỗ nghịch" mà ông tưởng chẳng thằng đàn ông nào dám rớ tới vì sợ... vỡ mông. Đám cưới của chúng tôi được tổ chức vội vàng để kịp ra đi vào thời gian bố mẹ nàng đã dự trù. Hôm đám hỏi, ông hỏi tuổi tôi rồi gật gù:
- Được... được đấy. Anh hơn nó một tuổi. Nhất gái hơn hai, nhì trai hơn một. Có điều anh phải ráng... dưới cơ nó một chút, vì nó cao số hơn anh!
Ôi, điều này ông không nói thì tôi cũng đã biết từ lâu. Nội việc tôi mau mắn từ giã gia đình, bỏ công bỏ việc để theo nàng cũng đã nói lên tất cả cái sự trên dưới của nàng và tôi rồi. Nàng theo đạo Phật, tôi theo đạo Tin lành. Chẳng có chùa chiền gì quanh đây, nên ông già nàng bằng lòng cho làm lễ cưới ở nhà thờ. Nàng còn nghĩ ra được một chuyện khác để thử thách sự dễ bảo của tôi:
- Hôm làm lễ ở nhà thờ Lý cho anh mặc đồ veston, nhưng lúc tiếp tân anh phải mặc áo dài khăn đóng.
Tôi không ham cái màn trình diễn thời trang đó chút nào, đang tìm cách thoái thác thì nàng phán, "Lý đã gởi mua cho anh rồi. Không mặc thì ông già không gả!"
Trời ơi đất hỡi, tống được con gái đi lấy chồng, đáng lẽ ổng phải mừng, phải thương tôi mới đúng, cớ sao mà còn hành hạ tôi cỡ này mới hả lòng? Đã trót thì phải trét (nói theo kiểu của mẹ nàng), tôi chẳng dám cãi. Hôm tiếp tân, tôi xém té mấy lần vì vấp ống quần. Gia đình tôi ai cũng có cảm tình với nàng, nên chẳng ai phàn nàn, bàn ra tán vào về đòi hỏi của gia đình nàng. Lúc tôi mặc thử bộ đồ "quốc hồn quốc tuý" lụng thụng, ai cũng phải cười nghiêng cười ngả.
Qua Cali, tôi và nàng may mắn kiếm được việc trong vòng hai tháng. Chúng tôi tìm mướn cho gia đình nàng một căn nhà bốn phòng ngủ gần khu chợ Việt Nam ở Westminster. Tôi và nàng thuê apartment gần nhà thương nàng làm. Hai vợ chồng đi làm trái giờ, nên mỗi đứa phải đi xe riêng. Trước khi Lý ra đi bà mẹ nuôi cho nàng một số tiền kha khá. Đáng lẽ dùng để làm downpayment mua một chiếc xe mới thì nàng lại quyết định:
- Thôi, em không mua xe mới đâu. Mắc nợ thêm mệt.
Vậy là tôi miễn cưỡng đưa nàng đi mua một chiếc xe second-hand, để nàng dành tiền gởi về cho Hiền tìm đường vượt biên, vì lúc đó phong trào vượt biên đang rầm rộ, và nhiều người đã sang được các trại tị nạn bên Thái, bên Phi. Tôi hỏi nàng:
- Nếu Hiền đi được thì ai sẽ lo cho ba người đang ở tù?
- Gia đình nó sẽ lo! Đi được người nào, hay người đó. Ở bên đó đói khổ lắm, tôi nghiệp nó anh à.
Tôi chẳng hiểu vì sao hai người đàn bà này thân nhau đến độ vợ tôi cứ lăn lóc đi làm, cứ cắc củm từng đồng, cứ nhịn tiêu xài để gởi về cho Hiền. Hiền cũng nghe lời khuyến khích của vợ tôi, nhưng đi chui mấy lần đều bị bể. Vài lần bị công an biên phòng bắt nhốt, vợ tôi lại gởi tiền về để gia đình Hiền lo lót cho nàng được thả. Lấy nhau vài năm mà Lý cũng chưa chịu có con . Tôi không vui thì nàng an ủi :
- Ráng thêm ít lâu nữa anh ạ! Thế nào Hiền cũng sẽ đi được thôi. Lúc nó qua đây đi làm kiếm tiền lo cho mấy người bên đó thì em nhẹ gánh, mình có con cũng không muộn !
Mấy năm sau Hiền vẫn chưa đi lọt. Vợ tôi bắt đầu thấy nản nên quyết định có con, vì sợ cái tuổi lý tưởng cho người đàn bà sanh con sẽ qua mất. Ngưng kế hoạch hóa mấy tháng mà chẳng thầy động tịnh gì, vợ tôi đi hỏi bác sĩ sản khoa. Bác sĩ nói nàng bị "stress" quá, làm việc nhiều quá, lại ngừa thai lâu nên bây giờ hơi khó thụ thai. Thế là tụi tôi phải đi trị bệnh hiếm muộn. Bác sĩ bắt nàng phải nghỉ ngơi, cắt bớt giờ làm việc ở nhà thương. Vợ tôi làm bớt giờ thì tiền lương hụt xuống. Để cho nàng yên tâm, tôi bèn xung phong đi làm thêm hai đêm cuối tuần ở một night club. Có hôm đi làm về mệt mỏi, tôi khuyên vợ tạm ngưng lo việc vượt biên của Hiền , chỉ nên chú trọng việc thăm nuôi ba người tù thôi, nhưng nàng không chịu. Lý rưng rưng bảo nàng tự thấy có bổn phận phải lo cho Hiền, vì dầu sao Hiền cũng là người gián tiếp đem lại những may mắn của gia đình nàng ngày nay. Càng ngày Lý càng cho tôi thấy rõ hơn cái tâm hồn cao quí của nàng và tôi yêu nàng hơn. Người ta chỉ thấy vợ tôi qua hình ảnh một người đàn bà bộ dạng cứng cỏi với những câu nói "bốp chát" và những thế võ kinh hồn . ..Thương vợ, tôi tiếp tục ngậm bồ hòn làm ngọt, cắm cúi đi làm bảy ngày một tuần, chẳng còn thì giờ và hơi sức đâu để đưa nàng dung dăng dung dẻ nơi này nơi kia , dù chung quanh có bao nhiêu bãi biển thơ mộng dọc con đường Highway I, từ chỗ chúng tôi chạy dài tới Long Beach. Phải thú thật, lắm lúc vợ chồng tôi cũng hục hặc điều qua tiếng lại vì tiền bạc không được xài thoải mái, nhưng luôn luôn tôi là người phải nhận lỗi và xin lỗi. Chỉ cần vợ cau mày là tôi đã muốn đầu hàng vô điều kiện, ngoại trừ mấy hôm lấy rượu làm thuốc liều tôi mới có can đảm nói những điều mà nàng bảo " nghe không lọt lỗ tai". Hèn gì ông già nàng hồi đó khuyên tôi phải chịu dưới cơ nàng. Con ổng tạo ra, ổng phải biết là đúng sách vở rồi! Đã chẳng thương tôi, mà mấy thằng em vợ còn mỉa mai :
- Anh sao sợ vợ quá xá, làm tụi tôi cũng khó ăn khó nói với mấy bà nhà này.
Tôi cãi, không phải là tôi sợ vợ, mà là tôi quá yêu vợ , không muốn làm vợ buồn. Thế thôi. Chưa bao giờ nàng phải xử dụng Judo để nói chuyện với tôi thì tôi có gì mà phải sợ!
Để rút ngắn câu chuyện, tôi xin nói ngay rằng sau khi Lý sanh đứa con đầu lòng được sáu tháng thì Hiền đi thoát và qua với vợ chồng tôi sau mấy tháng nằm đảo. Dĩ nhiên là vợ tôi mừng lắm lắm Tôi cũng mừng, vì từ nay không phải đi làm security ở night club mỗi cuối tuần, và có thêm thời giờ coi con thay vợ. Ngày trước Hiền cũng đi làm cơ quan DAO như vợ tôi nên qua đây cô tìm việc không khó lắm. Hiền vừa đi làm part-time tại một văn phòng bác sĩ, vừa đi học lớp "pharmacy technician".
Số là, hồi đó Hiền được một gia đình cho lên tầu, lấy trước một cây vàng, sau khi đến Mỹ thì vợ chồng tôi trả thêm cho họ hai ngàn nữa. Lý sai tôi ra ngân hàng vay tiền, vừa trả nợ cho Hiền vừa down cho nàng mua chiếc xe mới, vì giờ đây nàng muốn cho Hiền chiếc xe cũ của nàng. Tôi răm rắp nghe lời vợ, dậy Hiền lái xe mỗi cuối tuần! Hiền học lái mau lắm, thi chỉ một lần là đậu. Nhưng có một địều tôi không làm sao dậy nàng cho thành thạo được! Đó là việc de xe từ garage ra đường. Chả là cái garage nhà tôi nằm tuốt phía sau nhà. Mỗi lần đem xe ra đi làm, Hiền không thể nào de thẳng được! Hôm thì quẹt hàng rào, hôm thì leo vô sân cỏ! Trời mưa thì, ô hô, vườn cỏ của tôi tự nhiên có hai rãnh nước sâu hoắm. Mấy lần phải đắp đất trồng lại cỏ, tôi ước gì tôi có thể đá vào mông cô mấy cái cho cô bớt ngu! (Xin lỗi, tôi chửi lén cho đỡ tức).
Mấy năm sau, chồng Hiền, em trai và anh rể của Lý cũng lần lượt sang Mỹ sau nhiều đợt đi chui trầy da tróc vảy. Ngày nay thì ai cũng nhà cửa đề huề, công ăn việc làm chẳng thua kém những người đến trước là bao. Hiền và Lý lúc nào cũng như keo sơn, thương nhau còn hơn chị em ruột, lắm lúc làm tôi phát ghen, phát phiền lên được. Không phải chạy tiền gởi về VN nữa, vợ tôi đi học trở lại . Ngày nay nàng là một nurse practitioner tận tuỵ. Vợ chồng tôi có hai con, một trai một gái. Đứa con trai có tên trong giấy tờ là Benjamen, goị tắt là Ben. Đứa con gái tên Holly. Vậy mà nàng bắt mọi người gọi chúng là Biên và Hoà, để kỷ niệm nơi gia đình nàng cư ngụ lúc còn bên quê nhà. Mỗi tuần nàng bắt cha con tôi chở nhau đi học tiếng Việt, vì sợ con cái quên tiếng mẹ đẻ! Một hôm, sau lớp học, cha con tôi dẫn nhau đi ăn . Con gái tôi dõng dạc order đồ ăn:
- Chú cho bố cháu tô phở tái, cho anh cháu tô hủ tiếu Mỹ Tho. Còn cháu, một tô bún riêu không có huyết!
Anh chàng waiter ngạc nhiên, trợn mắt nhìn nó như nhìn một Maika từ trên trời rơi xuống. Cả phút sau, anh ta "hòan hồn", cười toe toét nói với cô waitress vừa đi tới:
- Trời đất ơi, cô bé người Mỹ này nói tiếng Việt rành hơn con Việt Nam!
Con gái tôi vội trả lời:
- Không phải! Cháu là người Việt Nam chính hiệu con nai vàng chú ơi!
Cô waitress cười rũ người:
- Dóc quá đi! Người Việt Nam chính hiệu mà da trắng, mũi lõ!
Quay sang tôi, cô hỏi bằng tiếng Anh:
- Bé học tiếng Việt bao lâu rồi mà nói rành quá hả ông?
- Dạ... học từ hồi còn trong bụng mẹ!
Tôi trả lời bằng tiếng Việt. Thực khách mấy bàn xung quanh quay lại nhìn cha con tôi, ngạc nhiên và thích thú lắm.
Và, còn điều này nữa, tên cúng cơm của tôi là Calvin, mà suốt ngày nàng gọi tôi là Công, vì nàng tên Lý! Có công lý giữa vợ chồng tôi hay không thì tôi không dám chắc, nhưng tôi biết chắc là suốt đời tôi không bao giờ dám "kháng án" dù nàng có xử ức cho tôi cỡ nào chăng nữa ! Bây giờ thì tôi hiểu vì sao ông gìa vợ tôi nói câu "Nhất gái hơn hai, nhì trai hơn một"! Tôi sanh nhằm năm con trâu, còn nàng sanh năm con cọp. Nhiều khi tôi tự hỏi cha con tôi là người Việt gốc Mỹ, hay người Mỹ gốc Việt?
Bối cảnh đằng sau vụ án các nhóm ăn cắp hoành hành liên quan đến vụ bắt phi công phụ của hãng Hàng không Quốc gia VN
DT, 18.12.08
Liên quan đến vụ án bắt phó cơ trưởng của hãng Hàng không quốc gia VN ngày hôm qua, hiện tại Ủy ban hỗn hợp cảnh sát 16 tỉnh đang lần ra nhiều đầu mối dính líu đến các đường dây ngườI VN ăn cắp hàng hóa trong các siêu thị mà hầu hết họ đến Nhật với tư cách là các tu nghiệp sinh do chính phủ VN phái cử sang Nhật học tập kỹ thuật. Vụ án cũng hé lộ sự việc động trời đó là lộ ra hoạt động buôn người với quy mô chính phủ có liên quan đến các công ty trực thuộc Bộ Lao Động và Thuơng Binh Xã hội của chính phủ VN.
Tại tỉnh Kumamoto ,cảnh sát cũng đã bắt giữ 2 tu nghiệp sinh người VN được các tổ chức trộm cắp này điều động đến tỉnh này để ăn cắp. Cả 2 người này hiện đang bị tòa án địa phương Kumamoto khởi tố với đồng tội danh.
Hai bị cáo này tên là Hoàng Văn Hưng (23 tuổi) và Lâm Tang Túc (23 tuổi) bị bắt tại trung tâm mua sắm phố Kikuyou ở thị xã Tamana vào ngày 10 tháng 8 năm nay với số tang vật là mỹ phẩm cao cấp gồm có 107 món trị giá tương đuơng 260000 yen.
Theo lời công tố của Viện Kiểm sát thì cả 2 bị cáo đến Nhật vào cuối tháng 2 với tư cách là Tu nghiệp sinh do một công ty trực thuộc Bộ Lao Động và Thương Binh Xã hội VN có tên là Sovilaco phái cự. Tại đây họ được một công ty kiến thiết ở thị xã Koshi nhận vào hướng nghiệp và được cho sinh sống tại ký túc xá của hảng.
Mỗi tháng họ được nhận tiền trợ cấp hướng nghiệp theo luật quy định dành cho tu nghiệp sinh là 80000 yen. Số tiền này họ gửi về VN 60000 yen trong đó 10000 yen gọi là tiền Quản lý phí bắt buộc phải nộp cho cán bộ công ty nói trên của chính phủ. Họ chỉ giữ lại 20000 yen để sinh sống. Có thể nói rằng với mức sống hiện tại thì 20000 yen là không thể nào trả nổi tiền sinh hoạt tại Nhật. Đây là nguyên nhân đẩy họ đến con đường cùng cực phải tham gia vào các băng đảng ăn cắp VN để kiếm sống. Theo lời khai của bị cáo Tức thì họ là những nông dân nghèo ở quê ở VN, họ không phải là các kỹ sư hay chuyên viên có nhu cầu cần tu nghiệp kỹ thuật để đem kiến thức kỹ thuật về phục vụ quốc gia như tinh thần của Hiệp Định hợp tác đào tạo Tu nghiệp Sinh cho VN mà chình phủ VN đã ký với chính phủ Nhật.
Mỗi người muốn đi sang Nhật phải nộp một số tiền lớn tương đuơng 1 triệu yen cũng như phải thế chấp nhà cửa cho các quan chức chính phủ, và số tiền họ gửi về VN hầu hết là dùng vào việc trả số nợ lớn này. Được biết lương của một giảng viên đại học VN hiện tại là 540000 VND tuơng đương 3000 yen, theo đó con số 1 triệu yen là số
tiền rất lớn với thu nhập của ngườI VN. Theo lời phát ngôn không chính thức từ một cảnh sát viên trực tiếp điều tra thì Có thể coi đây là một hoạt động buôn nguời ở cấp chính phủ. Từ lời khai này cảnh sát đang mở ra hướng điều tra mới có lẽ cần đến sự hợp tác của Tổ chức hình cảnh Quốc tế (ICPO) hầu tìm hiểu về các hoat động buôn người quốc tế tại Nhật dưới chiêu bài phái cử Tu nghiệp Sinh của chính phủ VN.
Theo lời của một nữ nhân viên văn phòng của công ty hướng nghiệp cho họ thì bị cáo Hưng có gửi rất nhiều thùng hàng sang các tỉnh Mie, Gunma, Hiroshima tổng cộng 4
lần vào cuốI tháng 7 cho đến đầu tháng 8. Theo lời khai bị cáo thì vào tháng 7 anh ta nhận được lời đề nghị tham gia vào nhóm ăn cắp mỹ phẩm từ một nhân viên của hảng Hàng không Quốc gia VN tên là Quyên, số hàng ăn cắp sau khi gửi tới cho họ ở các văn phòng của hảng Hàng không VN và các địa điểm chĩ định sẽ được định giá và sẽ được chia 50% sau khi đưa về nước trót lọt. Tuy nhiên họ khai rằng chưa nhận được đồng nào thì đã bị bắt. Với tội danh tham gia ăn cắp ở mức độ băng đảng trên Viện kiểm sát đề nghị xử họ theo khung hình phạt giam giữ 1 năm sáu tháng.
Một Tu nghiệp sinh 35 tuổi làm việc cùng công ty hướng nghiệp của họ đến từ tỉnh Sơn Đông Trung Quốc cho biết họ làm việc rất siêng năng. Nếu họ không phải gửi tiền về nước thì thu nhập cũng đủ để sống và học tập. Người vợ của giám đốc công ty kiến thiết này đã bị sốc về việc họ bị bắt vì theo bà họ làm việc rất chăm chỉ. Bà cho biết sẽ không bao giờ nhận tu nghiệp sinh của VN nủa.
Trong lời trần thuật cuối cùng trước phiên xử , bị cáo Hưng đã nói ‘ Tôi rất hối hận việc đã làm, có thể người phụ nữ rủ rê chúng tôi cũng đã rủ rê rất nhiều tu nghiệp sinh khác.
Trong kỳ tới chúng tôi sẽ đăng tiếp phóng sự về nỗi khỗ cùng cực của các tu nghiệp sinh VN tại Nhật dưới tiêu đề 'Tu nghiệp sinh VN, những nô lệ mới của thế kỷ'.
Link ban tieng Nhat cua bao Asahi Shinbun
http://wwwasahicom/national/update/1218/SẸB200812180003html
DT, 18.12.08
Liên quan đến vụ án bắt phó cơ trưởng của hãng Hàng không quốc gia VN ngày hôm qua, hiện tại Ủy ban hỗn hợp cảnh sát 16 tỉnh đang lần ra nhiều đầu mối dính líu đến các đường dây ngườI VN ăn cắp hàng hóa trong các siêu thị mà hầu hết họ đến Nhật với tư cách là các tu nghiệp sinh do chính phủ VN phái cử sang Nhật học tập kỹ thuật. Vụ án cũng hé lộ sự việc động trời đó là lộ ra hoạt động buôn người với quy mô chính phủ có liên quan đến các công ty trực thuộc Bộ Lao Động và Thuơng Binh Xã hội của chính phủ VN.
Tại tỉnh Kumamoto ,cảnh sát cũng đã bắt giữ 2 tu nghiệp sinh người VN được các tổ chức trộm cắp này điều động đến tỉnh này để ăn cắp. Cả 2 người này hiện đang bị tòa án địa phương Kumamoto khởi tố với đồng tội danh.
Hai bị cáo này tên là Hoàng Văn Hưng (23 tuổi) và Lâm Tang Túc (23 tuổi) bị bắt tại trung tâm mua sắm phố Kikuyou ở thị xã Tamana vào ngày 10 tháng 8 năm nay với số tang vật là mỹ phẩm cao cấp gồm có 107 món trị giá tương đuơng 260000 yen.
Theo lời công tố của Viện Kiểm sát thì cả 2 bị cáo đến Nhật vào cuối tháng 2 với tư cách là Tu nghiệp sinh do một công ty trực thuộc Bộ Lao Động và Thương Binh Xã hội VN có tên là Sovilaco phái cự. Tại đây họ được một công ty kiến thiết ở thị xã Koshi nhận vào hướng nghiệp và được cho sinh sống tại ký túc xá của hảng.
Mỗi tháng họ được nhận tiền trợ cấp hướng nghiệp theo luật quy định dành cho tu nghiệp sinh là 80000 yen. Số tiền này họ gửi về VN 60000 yen trong đó 10000 yen gọi là tiền Quản lý phí bắt buộc phải nộp cho cán bộ công ty nói trên của chính phủ. Họ chỉ giữ lại 20000 yen để sinh sống. Có thể nói rằng với mức sống hiện tại thì 20000 yen là không thể nào trả nổi tiền sinh hoạt tại Nhật. Đây là nguyên nhân đẩy họ đến con đường cùng cực phải tham gia vào các băng đảng ăn cắp VN để kiếm sống. Theo lời khai của bị cáo Tức thì họ là những nông dân nghèo ở quê ở VN, họ không phải là các kỹ sư hay chuyên viên có nhu cầu cần tu nghiệp kỹ thuật để đem kiến thức kỹ thuật về phục vụ quốc gia như tinh thần của Hiệp Định hợp tác đào tạo Tu nghiệp Sinh cho VN mà chình phủ VN đã ký với chính phủ Nhật.
Mỗi người muốn đi sang Nhật phải nộp một số tiền lớn tương đuơng 1 triệu yen cũng như phải thế chấp nhà cửa cho các quan chức chính phủ, và số tiền họ gửi về VN hầu hết là dùng vào việc trả số nợ lớn này. Được biết lương của một giảng viên đại học VN hiện tại là 540000 VND tuơng đương 3000 yen, theo đó con số 1 triệu yen là số
tiền rất lớn với thu nhập của ngườI VN. Theo lời phát ngôn không chính thức từ một cảnh sát viên trực tiếp điều tra thì Có thể coi đây là một hoạt động buôn nguời ở cấp chính phủ. Từ lời khai này cảnh sát đang mở ra hướng điều tra mới có lẽ cần đến sự hợp tác của Tổ chức hình cảnh Quốc tế (ICPO) hầu tìm hiểu về các hoat động buôn người quốc tế tại Nhật dưới chiêu bài phái cử Tu nghiệp Sinh của chính phủ VN.
Theo lời của một nữ nhân viên văn phòng của công ty hướng nghiệp cho họ thì bị cáo Hưng có gửi rất nhiều thùng hàng sang các tỉnh Mie, Gunma, Hiroshima tổng cộng 4
lần vào cuốI tháng 7 cho đến đầu tháng 8. Theo lời khai bị cáo thì vào tháng 7 anh ta nhận được lời đề nghị tham gia vào nhóm ăn cắp mỹ phẩm từ một nhân viên của hảng Hàng không Quốc gia VN tên là Quyên, số hàng ăn cắp sau khi gửi tới cho họ ở các văn phòng của hảng Hàng không VN và các địa điểm chĩ định sẽ được định giá và sẽ được chia 50% sau khi đưa về nước trót lọt. Tuy nhiên họ khai rằng chưa nhận được đồng nào thì đã bị bắt. Với tội danh tham gia ăn cắp ở mức độ băng đảng trên Viện kiểm sát đề nghị xử họ theo khung hình phạt giam giữ 1 năm sáu tháng.
Một Tu nghiệp sinh 35 tuổi làm việc cùng công ty hướng nghiệp của họ đến từ tỉnh Sơn Đông Trung Quốc cho biết họ làm việc rất siêng năng. Nếu họ không phải gửi tiền về nước thì thu nhập cũng đủ để sống và học tập. Người vợ của giám đốc công ty kiến thiết này đã bị sốc về việc họ bị bắt vì theo bà họ làm việc rất chăm chỉ. Bà cho biết sẽ không bao giờ nhận tu nghiệp sinh của VN nủa.
Trong lời trần thuật cuối cùng trước phiên xử , bị cáo Hưng đã nói ‘ Tôi rất hối hận việc đã làm, có thể người phụ nữ rủ rê chúng tôi cũng đã rủ rê rất nhiều tu nghiệp sinh khác.
Trong kỳ tới chúng tôi sẽ đăng tiếp phóng sự về nỗi khỗ cùng cực của các tu nghiệp sinh VN tại Nhật dưới tiêu đề 'Tu nghiệp sinh VN, những nô lệ mới của thế kỷ'.
Link ban tieng Nhat cua bao Asahi Shinbun
http://wwwasahicom/national/update/1218/SẸB200812180003html
Chối Bỏ Quá Khứ
Bùi văn Quý -
Việt Tân, Việt Cộng, Việt Gian
Ba cái Việt ấy quậy tan hội đoàn
Chối bỏ quá khứ là trạng thái chán nản, tuyệt vọng, là khởi nguồn ý niệm đầu hàng của một người đang sinh hoạt trong đoàn thể , nhất là trong các đoàn thể chính trị đấu tranh ý thức hệ giữa Quốc Gia và Cộng Sản.
Hôm nay, tôi xin chối bỏ quá khứ của tôi. Tôi viết bài này ném lên không trung tiếng thở dài chán nản, nhưng chưa tuyệt vọng. Tôi sẽ về ẩn mình trên một ốc đảo im vắng không một bóng người, ngoài tôi với tâm tư mệt mỏi trầm mặc, nhưng không phải là đầu hàng vì tôi vẫn xác tín rằng, trong cuộc chiến ý thức hệ Quốc Cộng ngày nay, để phù hợp với trào lưu tiến hóa của văn minh thế giới, thế tất thắng phải là của người Quốc Gia, chủ thuyết Cộng Sản, và các chính quyền Cộng Sản trên thế giới đã và đang bị xóa dần.
Cứ một người thường xuyên gắn bó với các sinh hoạt trong cộng đồng mà "Chối bỏ quá khứ", rút vào ốc đảo sống âm thầm, là một tin vui, tin mừng chiến thắng của các cán bộ CS nằm vùng ở hải ngoại, của đám băng đảng Mặt Trận Phở Bò Việt Tân, trong thế "dành dân chiếm đất" ở hải ngoại.
Tôi, hôm nay " Chối bỏ quá khứ"! Trước khi viết bài này, tôi thành khẩn xin lỗi các vị còn tâm huyết, kiên cường, vẫn ghé vai chung sức, chống đỡ những gây rối, đánh phá, chia rẽ, các tổ chức đoàn thể ở hải ngoại, theo chủ chương nghị quyết 36 của Cộng Sản Việt Nam. Tôi xin lỗi vì tôi bỏ quý vị, tôi bỏ cuộc!
"Cái Tôi" trong một bài viết, (không phải "Tôi" Đại Danh Từ Nhân Xưng /Personal Pronoun) là cái thấp hèn, không nên đề cập tới, vì thường hàm ý khoe khoang thân thế . Tôi, trong bài viết này thật tầm thường, chẳng có gì để khoe khoang, nên, nếu chẳng đặng đừng trong bài viết có tiết lộ "Cái Tôi" xin bạn đọc thứ lỗi và miễn cho những dị nghị.
Tôi, hôm nay chối bỏ quá khứ của tôi với các hội: " cựu học sinh . . .", " hội đồng hương . . .", " Hội Giáo chức . . ." Hội . . ., Hội . . . vân . . . vân . Tôi chỉ xin giữ duy nhất: "Hội những người Tị Nạn CS", "Hội Gia Đình, Vợ, Con, Cháu (chưa có chắt)". Lý do thật đơn giản, với số lương hưu trí của tôi và khả năng di chuyển không còn cho phép tôi sinh hoạt, chạy ngược chạy xuôi như những năm về trước. Hơn nữa, theo luật đào thải của thời gian, dầm dần, tôi đã không còn tìm lại được những người bạn xưa, những người đồng hương, những bạn đồng nghiệp đã có với tôi những kỷ niệm thời ấu thơ, thời học sinh trung học và ngày mới bước chân vào đời, vào nghề.
Phải công nhận là những hội đoàn dân sự thuần thúy này ít ( Ít nhưng không phải là không có) bị ảnh hưởng chanh chấp, chia re,õ đánh phá bởi các mưu đồ chính trị, ít bị Cộng Sản và băng đảng Việt Tân quấy phá.
Có một quá khú mà tôi xót xa, không nỡ chối bỏ nhưng, sau cùng, hôm nay tôi quyết định chối bỏ là: ĐỜI LÍNH và TRƯỜNG HỌC LÀM LÍNH. Tuổi lính của tôi thì không được bao nhiêu, cấp bậc cũng chẳng đáng để khoe, chỉ sau năm năm làm lính, tôi trở về đời sống dân sự vì được biệt phái theo nhu cầu nghề nghiệp. Nhưng, tôi thực sự đã là một người lính, đã nếm đủ mùi cực nhọc, buồn vui, cũng một thời giầy saut, áo trận, lội ruộng, lội sông, qua rạch, băng rừng khắp chiến trường miền Tây. Tôi được quyền hãnh diện là một người lính, có đủ tư cách tham gia trong hội đoàn quân nhân và tôi đã tham gia từ những ngày đầu phôi thai, ngày ấy, ở thành phố San Diego này, chỉ có duy nhất một Hội Cựu Quân Nhân.
Những ngày đầu, các cựu quân nhân đến sinh hoạt với nhau êm ấm, thân thiện, không có chia rẽ, không có mưu đồ đảng phái, không có CS nằm vùng, và không có điều tệ hại hơn cả là, có đám đầu trâu mặt ngựa băng đảng Phở Bò,Việt Tân trá hình, xâm nhập trong các hội đoàn để đánh phá, dành dật, chia rẽ, để tạo uy thế cho đám thủ lãnh đang chờ được CS ban thí cho địa vị, quyền lợi, chờ để được hòa hợp hòa giải.
Hôm nay, những người còn sinh hoạt trong các hội đoàn quân nhân chỉ được vài người, đếm được trên đầu ngón tay, đó là thành quả chiến thắng của đám đầu trâu mặt ngựa, Cộng Sản nằm vùng và băng đảng Phở Bò Việt Tân trà trộn, trá hình trong hàng ngũ cựu quân nhân. Hôm nay, tôi chối bỏ quá khứ quân nhân của tôi đã là quá trễ, so với cả ngàn cựu quân nhân hiện đang định cư tại thành phố San Diego này đã chối bỏ quá khứ là lính và sống thầm lặng trước tôi. Tôi cầu chúc quý vị còn chút tình với lính , còn ở lại sinh hoạt trong các hội đoàn quân nhân, tìm lại được hình ảnh và kỷ niệm hào hùng của đời mình, của một thời làm lính.
Tôi xót xa chối bỏ TRƯỜNG HỌC LÀM LÍNH của tôi! Kể từ ngày mai, cộng đồng sẽ không bao giờ thấy sự hiện diện của tôi. Các ông trong hội Thủ Đức sẽ không thấy Huynh Đệ, Huynh trưởng này, tôi không phải là khóa 20, 21, hay 22 . . . và tôi cũng không cần biết sau tôi, khóa 1/68, 3/68, 4/69, 3/72 nghĩa là gì? khóa nào, năm nào nữa! . . . Mong các vị Alpha chính hiệu, giả hiệu vàng thau lẫn lộn, đang nháo nhào trộn gạo với cát tại San Diego này đừng buồn, đừng giận. Cho tôi nói hết, nói đủ một lần rồi thôi.
Dĩ nhiên, tôi là một "Cư An Tư Nguy", bị động viên nên có hơi ngập ngừng mỗi khi phải đứng chung với các bạn đọc câu: " Xếp bút nghiên theo việc đao cung". Ai đã ăn cơm nhà bàn 9 tháng trong trường Bộ Binh Thủ Đức đều có cùng những kỷ niệm đậm nét và khó quên. Riêng tôi, những ngày đầu tiên học làm lính , tôi nhớ như mới ngày hôm qua. Nhớ những tuần huấn nhục ở giai đoạn một, đầu gật gù với cái nón sắt nặng nề, giầy saut mang chưa quen còn khó chịu, lê lết, cà nhắc trên đồi Tăng Nhơn Phú. Nhớ buồi sáng sớm tập họp, những ngày gần tết lạnh co ro, nhưng rồi buổi trưa nắng gắt, nóng bức, áo lính còn rộng lùng thùng chưa sửa nhơ nhớp, ướt đẫm mồ hôi, mùi mồ hôi nồng nặc của mình của đồng đội, đó là "mùi lính đầu đời" khó quên! Nhớ mấy phút nghỉ tập ngắn ngủi mua ăn vội vàng nắm xôi, gói kẹo của "đội quân bán hàng rong" là các bà vợ lính trong khu gia binh. Nhớ bữa ăn ngoài bãi tập, tanh mùi cá mối, có tiếng khua cà-mèng lính lẻng xẻng. Nhớ nhất vẫn là cái cảm giác bồi hồi xúc động khi lần đầu nhận được lá thư của vợ gửi vào, chữ viết ngoài phong bì năn nót tô đậm đĩa chỉ . . . KBC 4100 và câu mở đầu: Khổ lắm phải không? chịu được không anh? . . . Qua đến gian đoạn 2, đã tàm tạm thành lính, quân phục sửa gọn gàng, nón béret tím than, bảng tên chữ vàng trên nền đen . . . đi đứng đã mạnh dạn hiên ngang, đã biết đường trốn sang khu gia binh, ra Chợ Nhỏ ăn cháo, ăn chè, biết ký sổ nợ và biết lỗ chui rào để "anh về với em", về với vợ rồi ra sao cũng đành . . . để rồi, ngày chủ nhật lại nhớ vợ, nhớ Sài Gòn mà phải nằm trong phòng tắm hơi, ẩm ướt có khai mùi nước đái của phòng giam F301! Tôi nhớ người bạn lính đầu đời, (Chú em) tên Khoa, mới vừa 18 tuổi, nằm giường trên tôi, nhà ở Nha Trang, chú khóc sướt mướt hàng đêm ở giai đoạn một vì đã lỡ dại vào đây, chú thi rớt tú tài một hai năm rồi tình nguyện đi lính, ngày đầu tiên chú lính trẻ con này còn ngập ngừng gọi tôi bằng chú: -"Cháu học hết nổi rối chú ơi!" Chú em Khoa đúng là mồ côi không ai thăm hỏi trong suốt 9 tháng quân trường, những lần đi phép đầu tiên chủ bỡ ngỡ, xa lạ với Sài Gòn, thương chú tôi phải đưa về nhà với gia đình tôi . . . Sau này chú ra TQLC không biết bây giờ ở đâu, hay là đã tìm về nương náu trên Trung Nghĩa Đài ??. Kỷ niệm thì nhiều lắm, làm sao kể hết, làm sao chối bỏ được ! ! !
Đó là những kỷ niệm "Cư An Tư Nguy" của quá khứ, chuyện bây giờ ở đây, ở thành phố San Diego này, cả ngàn Alpha lặn đâu cả rồi? Quân Trường Thủ Đức là quân trường đào tạo hầu hết các sĩ quan của QLVNCH. Cho đến ngày 30 tháng tư 75, sĩ quan xuất thân từ Thủ Đức có đầy đủ cấp bực, địa vị, bằng cấp, cao thấp cách biệt nhau, từ Sao dến cái Quai Chảo chuẩn úy mới ra lò, từ Tiến sĩ, Kỹ Sư, Luật Sư, Giáo Sư, Sinh Viên, đến trọc đầu chỉ có chứng chỉ đệ nhị, hoặc văn bằng trung học đệ nhất cấp. Quý vị trưởng thượng, cấp bậc cao, các vị Alpha có học thức bằng cấp uyên thâm, các vị trốn ở đâu? sao không ra gánh vác dìu đắt các Alpha. Để một đám lau nhau, Alpha thật, Alpha giả, CS nằm vùng, băng đảng Phở Bò lẫn lộn, trà trộn, quậy nát cái hội "Trường Dậy Làm Lính" của đời tôi, để hôm nay, tôi xin lỗi quý vị, tôi phải chối bỏ quá khứ "Cư An Tư Nguy" này!
Phải nói, hội " CSVSQ Thủ Đức" là hội dễ bị CS và băng đảng Phở Bò Việt Tân xâm nhập và lèo lái nhất. Cả chục ngàn SVSQ nhập học một năm, ra vào trong vòng mấy tháng, rồi bay đi bốn phương trời, không ai biết ai, thì làm sao ai có thể đối chất, nhận diện được ai, một khi Cộng Sản nằm vùng và băng đảng Phở Bò cố tình xâm nhập, chiếm lãnh các chức vụ, từ hội trưởng trở xuống để lèo lái hoạt động của hội theo chỉ thị của đảng, của những tên thủ lãnh núp trong bóng tối. Hội chỉ mới được thành lập vài năm nay, mới chỉ đến đời ông hội trưởng thứ hai, ông Đặng Văn Trí mà cấp bực, lý lịch, học lực, xuất xứ của ông cũng mờ mờ ảo ảo !! . . .
Theo dõi đường đi nước bước, phe phái giao dịch, cách thức sinh hoạt của hội hiện nay là có thể đoán được "Nằm Vùng và Phở Bò" đã nắm trọn cái hội " CSVSQ Thủ Đức" này rồi! Ngay từ ngày mới thành lập, hội đã có những liên hệ mật thiết với ông trường cơ sở Nguyễn Văn Lộc và đài Tiếng Nước Tôi của băng đảng Mặt Trận Phở Bò. Ông hội trưởng đầu tiên của hội, ông Bùi Ngọc Hỉ đã là một nguyên nhân chính tại sao đa số các Alpha có trình độ học thức có cấp bực cao đã lánh xa, không thấy xuất hiện. Không biết phe nhóm, đảng phái hay bàn tay bí mật nào đã núp phía sau, trợ giúp gầy dựng lên hội và "maneuvre" để đưa ông Bùi Ngọc Hy ra làm hội trưởng khi mà lý lịch, văn hóa, xuất xứ của ông không ai biết rõ. Không ai trả lời được những câu hỏi về ông: HO? Vượt Biên? Tù Cải Tạo? Tù Hình Sự? Sĩ Quan? Hạ Sĩ Quan? Thủ Đức? Đồng Đế? Quốc? Cộng? Cách Mạng 30? Câu trả lời chỉ có thể dựa vào kiến thức xã giao khi tiếp xúc trực tiếp với ông và nhìn thấy những vết xâm trên cánh tay của ông, khó kiếm được người Sĩ quan QLVNCH học thức, đứng đắn mà có xâm tay xâm mình!
Thêm vào đó, ngay dưới trào ông Bùi Ngọc Hỷ, hội đã mang tai tiếng về nhậu nhẹt, say sưa, đánh lộn, chửi lộn ngoài công cộng mà có lúc dân nhậu San Diego đã phải đặt tên hội là "hội ve chai" . Mấy năm qua, tôi chỉ dám thập thò, chờ xem có vị nào có tên tuổi, có cấp bực, có kiến thức, có uy tín và đáng kính trọng ra sinh hoạt dễ tôi dấn thân, nhưng, chờ mãi chẳng thấy ai! chỉ thấy mấy chú nhỏ, Alpha thật, alpha giả, đầu trâu mặt ngựa lẫn lộn. Nhân sự chưa đếm đầy năm ngón của một bàn tay, năm này qua năm khác, quanh quẩn cũng chỉ thấy Đặng văn Trí, Bùi Ngọc Hỷ, Khiếu như Long, Trần Ngọc Dương, loáng thoáng thấy có ông "Cổ Cánh Phao Câu" là bậc lão thành và cấp bực cao nhất trong đám. Không rõ ai đặt biệt danh cho ông mà nghe đến là đã biết, ông thuộc băng "Chai Lọ" .
Hôm nay nhân tiện quyết định nghỉ hưu, "Chối Bỏ Quá Khứ" để từ giã các hội đoàn.
Tôi xin lỗi phải gửi lời tuyên dương công trạng đến các vị đang lèo lái hội " CSVSQ Thủ Đức San Diego":
- Các vị đang chất chai lọ, đổ rượu, vác AK, đổ Phở Bò lên phù hiệu "Cư An Tư Nguy", lên Đồi Tăng Nhơn Phú, lên Trung Nghĩa Đài.
Tôi xin lỗi cả ngàn Alpha thầm lặng, đang định cư tại thành phố San Diego này. Hôm nay, tôi xin được chối bỏ quá khứ của tôi, một cựu quân nhân, chối bỏ cả bốn chữ "Cư An Tư Nguy".
Bùi Văn Quý
Alpha không có khóa / không có năm
không có mặt trên đồi Tăng Nhơn Phú
Chết không về Trung Nghĩa Đài
Bùi văn Quý -
Việt Tân, Việt Cộng, Việt Gian
Ba cái Việt ấy quậy tan hội đoàn
Chối bỏ quá khứ là trạng thái chán nản, tuyệt vọng, là khởi nguồn ý niệm đầu hàng của một người đang sinh hoạt trong đoàn thể , nhất là trong các đoàn thể chính trị đấu tranh ý thức hệ giữa Quốc Gia và Cộng Sản.
Hôm nay, tôi xin chối bỏ quá khứ của tôi. Tôi viết bài này ném lên không trung tiếng thở dài chán nản, nhưng chưa tuyệt vọng. Tôi sẽ về ẩn mình trên một ốc đảo im vắng không một bóng người, ngoài tôi với tâm tư mệt mỏi trầm mặc, nhưng không phải là đầu hàng vì tôi vẫn xác tín rằng, trong cuộc chiến ý thức hệ Quốc Cộng ngày nay, để phù hợp với trào lưu tiến hóa của văn minh thế giới, thế tất thắng phải là của người Quốc Gia, chủ thuyết Cộng Sản, và các chính quyền Cộng Sản trên thế giới đã và đang bị xóa dần.
Cứ một người thường xuyên gắn bó với các sinh hoạt trong cộng đồng mà "Chối bỏ quá khứ", rút vào ốc đảo sống âm thầm, là một tin vui, tin mừng chiến thắng của các cán bộ CS nằm vùng ở hải ngoại, của đám băng đảng Mặt Trận Phở Bò Việt Tân, trong thế "dành dân chiếm đất" ở hải ngoại.
Tôi, hôm nay " Chối bỏ quá khứ"! Trước khi viết bài này, tôi thành khẩn xin lỗi các vị còn tâm huyết, kiên cường, vẫn ghé vai chung sức, chống đỡ những gây rối, đánh phá, chia rẽ, các tổ chức đoàn thể ở hải ngoại, theo chủ chương nghị quyết 36 của Cộng Sản Việt Nam. Tôi xin lỗi vì tôi bỏ quý vị, tôi bỏ cuộc!
"Cái Tôi" trong một bài viết, (không phải "Tôi" Đại Danh Từ Nhân Xưng /Personal Pronoun) là cái thấp hèn, không nên đề cập tới, vì thường hàm ý khoe khoang thân thế . Tôi, trong bài viết này thật tầm thường, chẳng có gì để khoe khoang, nên, nếu chẳng đặng đừng trong bài viết có tiết lộ "Cái Tôi" xin bạn đọc thứ lỗi và miễn cho những dị nghị.
Tôi, hôm nay chối bỏ quá khứ của tôi với các hội: " cựu học sinh . . .", " hội đồng hương . . .", " Hội Giáo chức . . ." Hội . . ., Hội . . . vân . . . vân . Tôi chỉ xin giữ duy nhất: "Hội những người Tị Nạn CS", "Hội Gia Đình, Vợ, Con, Cháu (chưa có chắt)". Lý do thật đơn giản, với số lương hưu trí của tôi và khả năng di chuyển không còn cho phép tôi sinh hoạt, chạy ngược chạy xuôi như những năm về trước. Hơn nữa, theo luật đào thải của thời gian, dầm dần, tôi đã không còn tìm lại được những người bạn xưa, những người đồng hương, những bạn đồng nghiệp đã có với tôi những kỷ niệm thời ấu thơ, thời học sinh trung học và ngày mới bước chân vào đời, vào nghề.
Phải công nhận là những hội đoàn dân sự thuần thúy này ít ( Ít nhưng không phải là không có) bị ảnh hưởng chanh chấp, chia re,õ đánh phá bởi các mưu đồ chính trị, ít bị Cộng Sản và băng đảng Việt Tân quấy phá.
Có một quá khú mà tôi xót xa, không nỡ chối bỏ nhưng, sau cùng, hôm nay tôi quyết định chối bỏ là: ĐỜI LÍNH và TRƯỜNG HỌC LÀM LÍNH. Tuổi lính của tôi thì không được bao nhiêu, cấp bậc cũng chẳng đáng để khoe, chỉ sau năm năm làm lính, tôi trở về đời sống dân sự vì được biệt phái theo nhu cầu nghề nghiệp. Nhưng, tôi thực sự đã là một người lính, đã nếm đủ mùi cực nhọc, buồn vui, cũng một thời giầy saut, áo trận, lội ruộng, lội sông, qua rạch, băng rừng khắp chiến trường miền Tây. Tôi được quyền hãnh diện là một người lính, có đủ tư cách tham gia trong hội đoàn quân nhân và tôi đã tham gia từ những ngày đầu phôi thai, ngày ấy, ở thành phố San Diego này, chỉ có duy nhất một Hội Cựu Quân Nhân.
Những ngày đầu, các cựu quân nhân đến sinh hoạt với nhau êm ấm, thân thiện, không có chia rẽ, không có mưu đồ đảng phái, không có CS nằm vùng, và không có điều tệ hại hơn cả là, có đám đầu trâu mặt ngựa băng đảng Phở Bò,Việt Tân trá hình, xâm nhập trong các hội đoàn để đánh phá, dành dật, chia rẽ, để tạo uy thế cho đám thủ lãnh đang chờ được CS ban thí cho địa vị, quyền lợi, chờ để được hòa hợp hòa giải.
Hôm nay, những người còn sinh hoạt trong các hội đoàn quân nhân chỉ được vài người, đếm được trên đầu ngón tay, đó là thành quả chiến thắng của đám đầu trâu mặt ngựa, Cộng Sản nằm vùng và băng đảng Phở Bò Việt Tân trà trộn, trá hình trong hàng ngũ cựu quân nhân. Hôm nay, tôi chối bỏ quá khứ quân nhân của tôi đã là quá trễ, so với cả ngàn cựu quân nhân hiện đang định cư tại thành phố San Diego này đã chối bỏ quá khứ là lính và sống thầm lặng trước tôi. Tôi cầu chúc quý vị còn chút tình với lính , còn ở lại sinh hoạt trong các hội đoàn quân nhân, tìm lại được hình ảnh và kỷ niệm hào hùng của đời mình, của một thời làm lính.
Tôi xót xa chối bỏ TRƯỜNG HỌC LÀM LÍNH của tôi! Kể từ ngày mai, cộng đồng sẽ không bao giờ thấy sự hiện diện của tôi. Các ông trong hội Thủ Đức sẽ không thấy Huynh Đệ, Huynh trưởng này, tôi không phải là khóa 20, 21, hay 22 . . . và tôi cũng không cần biết sau tôi, khóa 1/68, 3/68, 4/69, 3/72 nghĩa là gì? khóa nào, năm nào nữa! . . . Mong các vị Alpha chính hiệu, giả hiệu vàng thau lẫn lộn, đang nháo nhào trộn gạo với cát tại San Diego này đừng buồn, đừng giận. Cho tôi nói hết, nói đủ một lần rồi thôi.
Dĩ nhiên, tôi là một "Cư An Tư Nguy", bị động viên nên có hơi ngập ngừng mỗi khi phải đứng chung với các bạn đọc câu: " Xếp bút nghiên theo việc đao cung". Ai đã ăn cơm nhà bàn 9 tháng trong trường Bộ Binh Thủ Đức đều có cùng những kỷ niệm đậm nét và khó quên. Riêng tôi, những ngày đầu tiên học làm lính , tôi nhớ như mới ngày hôm qua. Nhớ những tuần huấn nhục ở giai đoạn một, đầu gật gù với cái nón sắt nặng nề, giầy saut mang chưa quen còn khó chịu, lê lết, cà nhắc trên đồi Tăng Nhơn Phú. Nhớ buồi sáng sớm tập họp, những ngày gần tết lạnh co ro, nhưng rồi buổi trưa nắng gắt, nóng bức, áo lính còn rộng lùng thùng chưa sửa nhơ nhớp, ướt đẫm mồ hôi, mùi mồ hôi nồng nặc của mình của đồng đội, đó là "mùi lính đầu đời" khó quên! Nhớ mấy phút nghỉ tập ngắn ngủi mua ăn vội vàng nắm xôi, gói kẹo của "đội quân bán hàng rong" là các bà vợ lính trong khu gia binh. Nhớ bữa ăn ngoài bãi tập, tanh mùi cá mối, có tiếng khua cà-mèng lính lẻng xẻng. Nhớ nhất vẫn là cái cảm giác bồi hồi xúc động khi lần đầu nhận được lá thư của vợ gửi vào, chữ viết ngoài phong bì năn nót tô đậm đĩa chỉ . . . KBC 4100 và câu mở đầu: Khổ lắm phải không? chịu được không anh? . . . Qua đến gian đoạn 2, đã tàm tạm thành lính, quân phục sửa gọn gàng, nón béret tím than, bảng tên chữ vàng trên nền đen . . . đi đứng đã mạnh dạn hiên ngang, đã biết đường trốn sang khu gia binh, ra Chợ Nhỏ ăn cháo, ăn chè, biết ký sổ nợ và biết lỗ chui rào để "anh về với em", về với vợ rồi ra sao cũng đành . . . để rồi, ngày chủ nhật lại nhớ vợ, nhớ Sài Gòn mà phải nằm trong phòng tắm hơi, ẩm ướt có khai mùi nước đái của phòng giam F301! Tôi nhớ người bạn lính đầu đời, (Chú em) tên Khoa, mới vừa 18 tuổi, nằm giường trên tôi, nhà ở Nha Trang, chú khóc sướt mướt hàng đêm ở giai đoạn một vì đã lỡ dại vào đây, chú thi rớt tú tài một hai năm rồi tình nguyện đi lính, ngày đầu tiên chú lính trẻ con này còn ngập ngừng gọi tôi bằng chú: -"Cháu học hết nổi rối chú ơi!" Chú em Khoa đúng là mồ côi không ai thăm hỏi trong suốt 9 tháng quân trường, những lần đi phép đầu tiên chủ bỡ ngỡ, xa lạ với Sài Gòn, thương chú tôi phải đưa về nhà với gia đình tôi . . . Sau này chú ra TQLC không biết bây giờ ở đâu, hay là đã tìm về nương náu trên Trung Nghĩa Đài ??. Kỷ niệm thì nhiều lắm, làm sao kể hết, làm sao chối bỏ được ! ! !
Đó là những kỷ niệm "Cư An Tư Nguy" của quá khứ, chuyện bây giờ ở đây, ở thành phố San Diego này, cả ngàn Alpha lặn đâu cả rồi? Quân Trường Thủ Đức là quân trường đào tạo hầu hết các sĩ quan của QLVNCH. Cho đến ngày 30 tháng tư 75, sĩ quan xuất thân từ Thủ Đức có đầy đủ cấp bực, địa vị, bằng cấp, cao thấp cách biệt nhau, từ Sao dến cái Quai Chảo chuẩn úy mới ra lò, từ Tiến sĩ, Kỹ Sư, Luật Sư, Giáo Sư, Sinh Viên, đến trọc đầu chỉ có chứng chỉ đệ nhị, hoặc văn bằng trung học đệ nhất cấp. Quý vị trưởng thượng, cấp bậc cao, các vị Alpha có học thức bằng cấp uyên thâm, các vị trốn ở đâu? sao không ra gánh vác dìu đắt các Alpha. Để một đám lau nhau, Alpha thật, Alpha giả, CS nằm vùng, băng đảng Phở Bò lẫn lộn, trà trộn, quậy nát cái hội "Trường Dậy Làm Lính" của đời tôi, để hôm nay, tôi xin lỗi quý vị, tôi phải chối bỏ quá khứ "Cư An Tư Nguy" này!
Phải nói, hội " CSVSQ Thủ Đức" là hội dễ bị CS và băng đảng Phở Bò Việt Tân xâm nhập và lèo lái nhất. Cả chục ngàn SVSQ nhập học một năm, ra vào trong vòng mấy tháng, rồi bay đi bốn phương trời, không ai biết ai, thì làm sao ai có thể đối chất, nhận diện được ai, một khi Cộng Sản nằm vùng và băng đảng Phở Bò cố tình xâm nhập, chiếm lãnh các chức vụ, từ hội trưởng trở xuống để lèo lái hoạt động của hội theo chỉ thị của đảng, của những tên thủ lãnh núp trong bóng tối. Hội chỉ mới được thành lập vài năm nay, mới chỉ đến đời ông hội trưởng thứ hai, ông Đặng Văn Trí mà cấp bực, lý lịch, học lực, xuất xứ của ông cũng mờ mờ ảo ảo !! . . .
Theo dõi đường đi nước bước, phe phái giao dịch, cách thức sinh hoạt của hội hiện nay là có thể đoán được "Nằm Vùng và Phở Bò" đã nắm trọn cái hội " CSVSQ Thủ Đức" này rồi! Ngay từ ngày mới thành lập, hội đã có những liên hệ mật thiết với ông trường cơ sở Nguyễn Văn Lộc và đài Tiếng Nước Tôi của băng đảng Mặt Trận Phở Bò. Ông hội trưởng đầu tiên của hội, ông Bùi Ngọc Hỉ đã là một nguyên nhân chính tại sao đa số các Alpha có trình độ học thức có cấp bực cao đã lánh xa, không thấy xuất hiện. Không biết phe nhóm, đảng phái hay bàn tay bí mật nào đã núp phía sau, trợ giúp gầy dựng lên hội và "maneuvre" để đưa ông Bùi Ngọc Hy ra làm hội trưởng khi mà lý lịch, văn hóa, xuất xứ của ông không ai biết rõ. Không ai trả lời được những câu hỏi về ông: HO? Vượt Biên? Tù Cải Tạo? Tù Hình Sự? Sĩ Quan? Hạ Sĩ Quan? Thủ Đức? Đồng Đế? Quốc? Cộng? Cách Mạng 30? Câu trả lời chỉ có thể dựa vào kiến thức xã giao khi tiếp xúc trực tiếp với ông và nhìn thấy những vết xâm trên cánh tay của ông, khó kiếm được người Sĩ quan QLVNCH học thức, đứng đắn mà có xâm tay xâm mình!
Thêm vào đó, ngay dưới trào ông Bùi Ngọc Hỷ, hội đã mang tai tiếng về nhậu nhẹt, say sưa, đánh lộn, chửi lộn ngoài công cộng mà có lúc dân nhậu San Diego đã phải đặt tên hội là "hội ve chai" . Mấy năm qua, tôi chỉ dám thập thò, chờ xem có vị nào có tên tuổi, có cấp bực, có kiến thức, có uy tín và đáng kính trọng ra sinh hoạt dễ tôi dấn thân, nhưng, chờ mãi chẳng thấy ai! chỉ thấy mấy chú nhỏ, Alpha thật, alpha giả, đầu trâu mặt ngựa lẫn lộn. Nhân sự chưa đếm đầy năm ngón của một bàn tay, năm này qua năm khác, quanh quẩn cũng chỉ thấy Đặng văn Trí, Bùi Ngọc Hỷ, Khiếu như Long, Trần Ngọc Dương, loáng thoáng thấy có ông "Cổ Cánh Phao Câu" là bậc lão thành và cấp bực cao nhất trong đám. Không rõ ai đặt biệt danh cho ông mà nghe đến là đã biết, ông thuộc băng "Chai Lọ" .
Hôm nay nhân tiện quyết định nghỉ hưu, "Chối Bỏ Quá Khứ" để từ giã các hội đoàn.
Tôi xin lỗi phải gửi lời tuyên dương công trạng đến các vị đang lèo lái hội " CSVSQ Thủ Đức San Diego":
- Các vị đang chất chai lọ, đổ rượu, vác AK, đổ Phở Bò lên phù hiệu "Cư An Tư Nguy", lên Đồi Tăng Nhơn Phú, lên Trung Nghĩa Đài.
Tôi xin lỗi cả ngàn Alpha thầm lặng, đang định cư tại thành phố San Diego này. Hôm nay, tôi xin được chối bỏ quá khứ của tôi, một cựu quân nhân, chối bỏ cả bốn chữ "Cư An Tư Nguy".
Bùi Văn Quý
Alpha không có khóa / không có năm
không có mặt trên đồi Tăng Nhơn Phú
Chết không về Trung Nghĩa Đài
Wednesday, December 17, 2008
NHỮNG CHIẾN BINH ĐÁNG GHI NHỚ TRONG CUỘC CHIẾN VIỆT NAM.
COLONEL JOHN B. HASEMAN
Colonel John B. Haseman is a Southeast Asia specialist, who spent more than 18 years in the region. He was in Vietnam (1967-1968) as a Captain with the 9th Infantry Division and later as a district-level advisor in the Mekong Delta (1971-1973). From July 1971 to June 1972, he was the Deputy District Advisor in Ham Long District. Then from June 1972 until February 1973, he was the Deputy District Advisor in Mo Cay District. From 1987 to 1990, he also served as the U.S. Defense and Army Attache in Rangoon, Burma. He had three separate assignments to Indonesia and was U.S. Defense and Army Attache in Jakarta from 1990 to 1994. In addition, the Colonel filled assignments in Thailand and South Korea.
His article concerning Colonel Nguyen Van Cu, the Mocay District Chief in Kien Hoa province is very well-written and down to earth. It appeared in Vietnam Magazine (in 1992). Mo Cay is famous for its coconut candy.
Colonel Haseman’s latest writing on Nguyen Van Kiet is in the December 2008 of Vietnam Magazine adding to more than 200 articles, book chapters, and book reviews for publications worldwide.
Nguyen Van Kiet is one of only two South Vietnamese who was awarded the Navy Cross for actions during the Vietnam War. Colonel William Charles Anderson (May 7, 1920-May 16, 2003) wrote a book about Mr. Kiet’s heroism. The book was later adapted into a 1988 movie named Bat*21. As of 2008, Mr. Kiet resides in the State of Washington.
Bat*21 was filmed in Sabah, Malaysia, directed by Pete Markle. The film stars Gene Hackman as Lt. Colonel Iceal E. “Gene” Hambleton, the downed navigator (EWO) officer, and Danny Glover as Captain Bartholomew Clark, an Air Force FAC pilot who files a Cessna Skymaster. The film is based on the real-life rescue of Lt. Colonel Hambleton by US Navy Seal Thomas R. Norris and team member Nguyen Van Kiet, a South Vietnamese SEAL.
The Navy Cross was awarded to Petty Officer Third Class Nguyen Van Kiet from the President of the United States with citation: For extraordinary heroism while serving with friendly forces engaged in armed conflict against the North Vietnamese and Viet Cong communist aggressors in the Republic of Vietnam. On April 13, 1972, Petty Officer Kiet participated in an unprecedented recovery operation for a downed United States aviator behind enemy lines in Quang Tri Province, Republic of Vietnam. He courageously volunteered to accompany a United States SEAL Advisor in an extremely hazardous attempt to reach the aviator , who was physically unable to move toward friendly positions. Using a sampan and traveling throughout the night, they silently made their way deep into enemy territory, past numerous major enemy positions, locating the pilot at dawn. Once, after being spotted by a North Vietnamese patrol, he calmly continued to keep the enemy confused as the small party successfully evaded the patrol. Later, they were suddenly taken under heavy machine gun fire. Thinking first of the pilot, he quickly pulled the sampan to safety behind a bank and camouflaged it while air strikes were called on the enemy position. Due to Petty Officer Kiet’s coolness under extremely dangerous conditions and his outstanding courage and professionalism, an American aviator was recovered after an eleven-day ordeal behind enemy lines. His self-discipline, personal courage, and dynamic fighting spirit were an inspiration to all; thereby reflecting great credit upon himself and the Naval Service.”
We would like to quote (reprined on pages 228-229 NEW WORLD ORDER AND MONOPOLY POWER****PUBLISHER VIET TIME****AUTHOR: NGUYEN KINH DOANH) from Captain Shelby L. Stanton’s letter to us dated February 24, 1992: “….History has now proven that the Republic of Vietnam and its people were fighting for the truly just cause of freedom and democracy from 1954-1975. The recent collapse of communism throughout much of the world has proved the righteousness of our mutual struggle. In this endeavor, our American soldiers – and advisors like myself – were honored to fight alongside your own valiant military ranks in battle. It is my hope that someday you and your countrymen as well as your descendants, will be restored to the positions of great honor that you richly deserve within Vietnam itself. This recognition is overdue now. The war division must be healed, property restored to its rightful owners and all Vietnamese forever welcome wherever they may choose to go – including the Vietnamese homeland as well as the United States. I have unbound admiration for the timeless martial qualities, virtue, pride, and sincerity of the Vietnamese people.”
Shelby L. Stanton is a prominent military historian. During the Vietnam War, he was an infantry officer and completed the Airborne, Ranger, and Special Officer courses. His six years on active military duty included service throughout Southeast Asia, where he earned the Vietnam service and campaign medals. He was also decorated for advisory duty in direct support of Cambodian operations. After being wounded in Laos, he was medically retired with the rank of captain.
The Captain received a B.A., M.Ed., and J.D. from Louisiana State University. In addition, he is the author of Rangers at War; Rise and Fall of an American Army; U.S. Ground Forces in Vietnam, 1965-1973; Vietnam Order of Battle; and Order of Battle, U.S. Army, World War II.
Now, let’s hear Colonel Haseman’s narration on the rise and fall of the Mo Cay district chief – courtesy of Vietnam Magazine (800) 829-3340:
Colonel Nguyen Van Cu was a maverick, a patriot
and soldier who was willing to die for his beliefs.
By Colonel John B. Haseman
Lieutenant Colonel Nguyen Van Cu, Army of the Republic of Vietnam, was a man who called forth-strong emotions from all who knew him. Vietnamese found him to be a good friend and a ruthless opponent. American advisers found him unpredictable, effective most of the time but seemingly immovable at others. Outspoken in a society that valued discretion, argumentative with superiors in a culture that valued hierarchy and status; breathtakingly courageous on the battlefield, Nguyen Van Cu was an enigma to all who knew him.
Above all else, however, he was a patriot who deeply loved his country and who believed in his people’s strength and dignity. He was a maverick. Nguyen Van Cu was the district chief of Mo Cay district, Kien Hoa province, I the northern part of the Mekong Delta. Mo Cay was only one of 254 districts in Vietnam, but it was a very special one. It was in Mo Cay that the Viet Cong movement was alleged to have had its beginnings in South Vietnam. It became legendary as a stronghold of Viet Cong military and political strength. As district chief in this area of shifting loyalties and radical history, Colonel Cu functioned as the top civilian and military official of some 72,000 people, with responsibilities ranging from tactical operations to school construction. It is difficult to govern a legend, and in the process Nguyen Van Cu became a legend himself.
Cu was born and raised in northern Vietnam and grew up in the turmoil of the Viet Minh revolt against the French. Following the 1954 Geneva Accords his family moved south, settling in coastal Binh Dinh province, a communist hotbed throughout the war period. During his 20-odd years of military service, he was separated from his family much of the time. Arrival of his wife and 10 children on visits to Mo Cay was a major event for him, an occasion of close family association not shared with outsiders. Although his quarters at the cramped district headquarters compound were hardly adequate for a family of 12, Cu always found room. Often he spoke of his hopes for a time of real peace so he and his family could stay together. A devoted father in the Vietnamese tradition, Cu used his every resource for his children and proudly talked of their accomplishments.
Cu’s intense patriotism made him an implacable foe of the Viet Cong. He vowed that he would never permit his family to live under Communist rule and swore to fight against the Communists as long as he lived. His aggressiveness made him ideal for Mo Cay. For years prior to his arrival, except for the district seat and a string of outposts between Mo Cay and the provincial capital of Ben Tre, the district had been effectively controlled by the Viet Cong. During the 1968 Tet Offensive, the Viet Cong entered and destroyed most of Mo Cay itself. They had effective control of the rich agricultural economy of the district, and travel to adjacent districts was impossible. It was to this almost hopeless situation that Cu came in 1968.
He had amazing success. Through sheer force of personality he slowly improved the local security situation. The prevalent attitude of apathy and defeat was replaced by an attitude of optimism. Aided initially by a young American captain who served as a district senior adviser, Cu reasserted friendly government strength for the first time in a decade. His accomplishments were awesome in scope and epic in their results.
What was in 1968 a Viet Cong district became by 1971 a district of strong governmental presence with renewed economic vigor and aggressive military forces. New bridges opened up areas closed to traffic for years. Produce flowed to markets, and the district town was rebuilt from the ashes. (It was Mo Cay, not Ben Tre, that was the subject of the epic quotation of the Tet Offensive: “We had to destroy the town in order to save it.”) Officials at higher levels, both Vietnamese and American, attributed the success in Mo Cay to Cu’s force and influence. He bullied, commanded, connived, cajoled, yelled, whispered and politicked, and in so doing, achieved results of heroic proportions. His methods of operation were unorthodox even in Vietnam. Cu combined stubbornness with genuine knowledge of his district’s needs, and with single-minded purpose he set out to accomplish his goals.
Cu presented a real challenge to his American advisers. He was a man of great ability, vision and depth. He was also ethnocentric to a high degree, a tremendous egotist and a leader who established his own order of priorities. As a result, the counterpart relationship between Cu and his advisers was a stormy one that ranged from close cooperation to open conflict. Cu never hesitated to disagree with his advisers, his fellow district chiefs or his superiors. His ability to get things done despite this constant series of confrontations won him the secret admiration of his peers even when he was using assets originally scheduled for use elsewhere in the province. Cu held firm views on the relative roles of the district chief and the American advisory team assigned to assist him, and often his views conflicted with the official line laid down by his superiors.
Cu had tremendous respect for American military might and technical know how, and he was deeply appreciative of America’s economic assistance to the people of his rural district. But he could not abide what he considered to be the Americans’ woeful lack of insight into the nature of the conflict in Vietnam and their failure to understand the Vietnamese culture in waging war. He was an expert on communism and guerilla warfare, and he viewed the American policy as naively preoccupied with machines and computers. He felt Americans were foolish and naïve in their ignorance of the realities of guerrilla warfare. He felt strongly that the war should be fought as a Vietnamese war, not as an American war, and he vigorously pursued his own concepts of fighting in Mo Cay district.
Cu was also bitter at what he considered to be a lack of understanding and sincerity on the part of most Americans in Vietnam. He felt contempt for officers who came to Vietnam to get their tickets punched and move on in their careers. As a Vietnamese fighting for the life of is country, he believed too many Americans were in Vietnam only for personal advancement.
Despite all the controversy about his methods, there was little question about his ability. Cu’s leadership was often spectacular, and he controlled his military forces with an iron hand. He was the equal of any American commander, but he lacked the extensive modern training and equipment available to American forces. He became frustrated when he could not accomplish a task because of a lack of troops or tactical assets, and reflected his frustration by deliberately ignoring his advisers or defying his superiors.
For their part, angry advisers accused Cu of indecisiveness, lack of interest, and corruption. There was truth on both sides, yet the tragedy of the growing rift between Cu and the Americans was the lack of understanding for the two completely different viewpoints involved. The impasse was a cultural gap, and an issue of grave concern for the continued ability of the government in Mo Cay to resist the enemy.
Into this badly deteriorating situation came a remarkable American officer as the new district senior adviser to Mo Cay. Major George B. (Byron) Reed was a prematurely gray Carolinian with a wealth of prior advisory experience. He rapidly developed a remarkable counterpart relationship with Cu. A student of Vietnamese history and culture, the American major was able to discuss these subjects intelligently, and the two men used their mutual love of history and philosophy to cement their association into firm respect and friendship. While history and philosophy seem unusual subjects for the battlefield, the discussions rescued on adviser-commander relationship that was in danger of complete collapse.
Cu spent hours with his new adviser, discussing long into the night on subjects Vietnamese, interspersed with the more prosaic topics of tactical operations and strategic plans for civilian pacification. An Oriental philosopher and intellectual, Cu delighted in comparing the Vietnamese and American cultures. He had visited the United States and was pleased to find a friend with whom he could converse on the vagaries between East and West.
For his part, the American took advantage of the opportunity to plant ideas in Cu’s mind for future consideration. In these highly unusual circumstances, it was an opportunity for communication that had been sorely missed. The unorthodox system worked. Resources allocated to Mo Cay were put to good use. Cu planned and built new bridges, markets and schools. Well–trained military forces attested to his tactical ability with a series of small but significant victories. Cu’s previous attitude of obstructionism and bitterness disappeared. He still chose local officials because of their personal loyalty rather than ability, but he had an acute sense of popular moods and he knew what the people of Mo Cay needed most.
Colonel Cu’s hatred of the Vietnamese Communists made him an intense foe of a negotiated settlement with the Viet Cong. When his adviser once asked him what he would do if a cease-fire plan came in effect, Cu replied with characteristic candor: “The Viet Cong will never really cease their fire, and neither will I. I will fight them until I die.” This fervor, expressed months before the signing of the 1973 Paris Peace Accords, was a graphic illustration of the feelings of the fighters in this war.
Nguyen Van Cu viewed death on the battlefield as the sole reason he would stop fighting. An animist as well as a Buddhist (as are most Vietnamese), Cu believed that he would return to fight his enemies in another life. He often referred to events far in the future with the phrase “when I return,” invoking the deeply rooted Vietnamese belief in reincarnation. Such reasoning by a modern, well-educated engineer officer is hard for the Western mind to accept, but it plays a major role in understanding Nguyen Van Cu.
Because of his belief that he would return to fight again after death, Cu was absolutely fearless on the battlefield. He strolled along almost casually on tactical operations as if daring the enemy to fire. On one occasion he led an operation through a heavily booby-trapped enemy base area without casualties; on another operation he took the point on a night march, disregarding the danger of mines, booby traps, and enemy snipers. Of such performances are legends made.
During the 1972 North Vietnamese offensive, Mo Cay district was hard hit. Seven enemy battalions were ravaging the district, and Cu was everywhere, rallying his outnumbered troops to beat back a continuous series of major attacks. At the height of the offensive, provincial forces mounted a major operation in Mo Cay district but placed a province staff officer in command of the forces. Pride and vanity wounded, Cu planned his own parallel operation without consulting the province chief. Ostensibly a small operation to reconstitute an outpost overrun by enemy forces, Cu’s plan was, in reality, a major operation against a full-strength North Vietnamese battalion. It was foolish mistake, undertaken in a fit of pique.
Colonel Cu insisted on leading the operation himself instead of remaining at his command post, a tactical error of major proportions and a step his American adviser and friend urged him no tot take. Stung by the presence of troops not under his command and aching for combat, Cu disregarded the advice and continued on in the field. But the enemy had intelligence sources, too, and was waiting for Colonel Cu. The jungle erupted in the violence of a major ambush. Fearlessly marching erect, Cu urged his men through the ambush zone, helping wounded men to safety and directing fire on the battlefield. It was an incredibly brave performance. Major Reed later described it succinctly as “sheer John Wayne.” Friendly forces carried the fight to the numerically stronger enemy forces and extricated themselves from a bad tactical situation.
But Nguyen Van Cu had tempted fate once too often. An enemy rocket explored in the midst of the command group, and the “Maverick of Mo Cay” was killed instantly. A valorous company commander and the painfully wounded Reed (he later received the last Silver Star Medal awarded for ground combat in Vietnam) brought the stunned forces out of the trap.
The death of a legend is hard to accept. Nguyen Van Cu was indeed a maverick. His views often conflicted with those of his superiors, his peers and his advisers. He spoke his mind as he saw fit and expressed himself forcefully in a quiet-voiced society. Cu was proud of his country and its heritage and was determined to defend them. He was Vietnamese, proud of his patriotism, his people and his culture. He was determined that no enemy would subvert them and no friend would disregard them. He loved his country with great fervor, and his flaws were those on the side of his love. He was a man of great contradictions and of misunderstood values, but one who stood up for his beliefs. When the moment of reckoning arrived, he died fighting to preserve those things in which he believed most. No man can do more.
John B. Haseman
COLONEL JOHN B. HASEMAN
Colonel John B. Haseman is a Southeast Asia specialist, who spent more than 18 years in the region. He was in Vietnam (1967-1968) as a Captain with the 9th Infantry Division and later as a district-level advisor in the Mekong Delta (1971-1973). From July 1971 to June 1972, he was the Deputy District Advisor in Ham Long District. Then from June 1972 until February 1973, he was the Deputy District Advisor in Mo Cay District. From 1987 to 1990, he also served as the U.S. Defense and Army Attache in Rangoon, Burma. He had three separate assignments to Indonesia and was U.S. Defense and Army Attache in Jakarta from 1990 to 1994. In addition, the Colonel filled assignments in Thailand and South Korea.
His article concerning Colonel Nguyen Van Cu, the Mocay District Chief in Kien Hoa province is very well-written and down to earth. It appeared in Vietnam Magazine (in 1992). Mo Cay is famous for its coconut candy.
Colonel Haseman’s latest writing on Nguyen Van Kiet is in the December 2008 of Vietnam Magazine adding to more than 200 articles, book chapters, and book reviews for publications worldwide.
Nguyen Van Kiet is one of only two South Vietnamese who was awarded the Navy Cross for actions during the Vietnam War. Colonel William Charles Anderson (May 7, 1920-May 16, 2003) wrote a book about Mr. Kiet’s heroism. The book was later adapted into a 1988 movie named Bat*21. As of 2008, Mr. Kiet resides in the State of Washington.
Bat*21 was filmed in Sabah, Malaysia, directed by Pete Markle. The film stars Gene Hackman as Lt. Colonel Iceal E. “Gene” Hambleton, the downed navigator (EWO) officer, and Danny Glover as Captain Bartholomew Clark, an Air Force FAC pilot who files a Cessna Skymaster. The film is based on the real-life rescue of Lt. Colonel Hambleton by US Navy Seal Thomas R. Norris and team member Nguyen Van Kiet, a South Vietnamese SEAL.
The Navy Cross was awarded to Petty Officer Third Class Nguyen Van Kiet from the President of the United States with citation: For extraordinary heroism while serving with friendly forces engaged in armed conflict against the North Vietnamese and Viet Cong communist aggressors in the Republic of Vietnam. On April 13, 1972, Petty Officer Kiet participated in an unprecedented recovery operation for a downed United States aviator behind enemy lines in Quang Tri Province, Republic of Vietnam. He courageously volunteered to accompany a United States SEAL Advisor in an extremely hazardous attempt to reach the aviator , who was physically unable to move toward friendly positions. Using a sampan and traveling throughout the night, they silently made their way deep into enemy territory, past numerous major enemy positions, locating the pilot at dawn. Once, after being spotted by a North Vietnamese patrol, he calmly continued to keep the enemy confused as the small party successfully evaded the patrol. Later, they were suddenly taken under heavy machine gun fire. Thinking first of the pilot, he quickly pulled the sampan to safety behind a bank and camouflaged it while air strikes were called on the enemy position. Due to Petty Officer Kiet’s coolness under extremely dangerous conditions and his outstanding courage and professionalism, an American aviator was recovered after an eleven-day ordeal behind enemy lines. His self-discipline, personal courage, and dynamic fighting spirit were an inspiration to all; thereby reflecting great credit upon himself and the Naval Service.”
We would like to quote (reprined on pages 228-229 NEW WORLD ORDER AND MONOPOLY POWER****PUBLISHER VIET TIME****AUTHOR: NGUYEN KINH DOANH) from Captain Shelby L. Stanton’s letter to us dated February 24, 1992: “….History has now proven that the Republic of Vietnam and its people were fighting for the truly just cause of freedom and democracy from 1954-1975. The recent collapse of communism throughout much of the world has proved the righteousness of our mutual struggle. In this endeavor, our American soldiers – and advisors like myself – were honored to fight alongside your own valiant military ranks in battle. It is my hope that someday you and your countrymen as well as your descendants, will be restored to the positions of great honor that you richly deserve within Vietnam itself. This recognition is overdue now. The war division must be healed, property restored to its rightful owners and all Vietnamese forever welcome wherever they may choose to go – including the Vietnamese homeland as well as the United States. I have unbound admiration for the timeless martial qualities, virtue, pride, and sincerity of the Vietnamese people.”
Shelby L. Stanton is a prominent military historian. During the Vietnam War, he was an infantry officer and completed the Airborne, Ranger, and Special Officer courses. His six years on active military duty included service throughout Southeast Asia, where he earned the Vietnam service and campaign medals. He was also decorated for advisory duty in direct support of Cambodian operations. After being wounded in Laos, he was medically retired with the rank of captain.
The Captain received a B.A., M.Ed., and J.D. from Louisiana State University. In addition, he is the author of Rangers at War; Rise and Fall of an American Army; U.S. Ground Forces in Vietnam, 1965-1973; Vietnam Order of Battle; and Order of Battle, U.S. Army, World War II.
Now, let’s hear Colonel Haseman’s narration on the rise and fall of the Mo Cay district chief – courtesy of Vietnam Magazine (800) 829-3340:
Colonel Nguyen Van Cu was a maverick, a patriot
and soldier who was willing to die for his beliefs.
By Colonel John B. Haseman
Lieutenant Colonel Nguyen Van Cu, Army of the Republic of Vietnam, was a man who called forth-strong emotions from all who knew him. Vietnamese found him to be a good friend and a ruthless opponent. American advisers found him unpredictable, effective most of the time but seemingly immovable at others. Outspoken in a society that valued discretion, argumentative with superiors in a culture that valued hierarchy and status; breathtakingly courageous on the battlefield, Nguyen Van Cu was an enigma to all who knew him.
Above all else, however, he was a patriot who deeply loved his country and who believed in his people’s strength and dignity. He was a maverick. Nguyen Van Cu was the district chief of Mo Cay district, Kien Hoa province, I the northern part of the Mekong Delta. Mo Cay was only one of 254 districts in Vietnam, but it was a very special one. It was in Mo Cay that the Viet Cong movement was alleged to have had its beginnings in South Vietnam. It became legendary as a stronghold of Viet Cong military and political strength. As district chief in this area of shifting loyalties and radical history, Colonel Cu functioned as the top civilian and military official of some 72,000 people, with responsibilities ranging from tactical operations to school construction. It is difficult to govern a legend, and in the process Nguyen Van Cu became a legend himself.
Cu was born and raised in northern Vietnam and grew up in the turmoil of the Viet Minh revolt against the French. Following the 1954 Geneva Accords his family moved south, settling in coastal Binh Dinh province, a communist hotbed throughout the war period. During his 20-odd years of military service, he was separated from his family much of the time. Arrival of his wife and 10 children on visits to Mo Cay was a major event for him, an occasion of close family association not shared with outsiders. Although his quarters at the cramped district headquarters compound were hardly adequate for a family of 12, Cu always found room. Often he spoke of his hopes for a time of real peace so he and his family could stay together. A devoted father in the Vietnamese tradition, Cu used his every resource for his children and proudly talked of their accomplishments.
Cu’s intense patriotism made him an implacable foe of the Viet Cong. He vowed that he would never permit his family to live under Communist rule and swore to fight against the Communists as long as he lived. His aggressiveness made him ideal for Mo Cay. For years prior to his arrival, except for the district seat and a string of outposts between Mo Cay and the provincial capital of Ben Tre, the district had been effectively controlled by the Viet Cong. During the 1968 Tet Offensive, the Viet Cong entered and destroyed most of Mo Cay itself. They had effective control of the rich agricultural economy of the district, and travel to adjacent districts was impossible. It was to this almost hopeless situation that Cu came in 1968.
He had amazing success. Through sheer force of personality he slowly improved the local security situation. The prevalent attitude of apathy and defeat was replaced by an attitude of optimism. Aided initially by a young American captain who served as a district senior adviser, Cu reasserted friendly government strength for the first time in a decade. His accomplishments were awesome in scope and epic in their results.
What was in 1968 a Viet Cong district became by 1971 a district of strong governmental presence with renewed economic vigor and aggressive military forces. New bridges opened up areas closed to traffic for years. Produce flowed to markets, and the district town was rebuilt from the ashes. (It was Mo Cay, not Ben Tre, that was the subject of the epic quotation of the Tet Offensive: “We had to destroy the town in order to save it.”) Officials at higher levels, both Vietnamese and American, attributed the success in Mo Cay to Cu’s force and influence. He bullied, commanded, connived, cajoled, yelled, whispered and politicked, and in so doing, achieved results of heroic proportions. His methods of operation were unorthodox even in Vietnam. Cu combined stubbornness with genuine knowledge of his district’s needs, and with single-minded purpose he set out to accomplish his goals.
Cu presented a real challenge to his American advisers. He was a man of great ability, vision and depth. He was also ethnocentric to a high degree, a tremendous egotist and a leader who established his own order of priorities. As a result, the counterpart relationship between Cu and his advisers was a stormy one that ranged from close cooperation to open conflict. Cu never hesitated to disagree with his advisers, his fellow district chiefs or his superiors. His ability to get things done despite this constant series of confrontations won him the secret admiration of his peers even when he was using assets originally scheduled for use elsewhere in the province. Cu held firm views on the relative roles of the district chief and the American advisory team assigned to assist him, and often his views conflicted with the official line laid down by his superiors.
Cu had tremendous respect for American military might and technical know how, and he was deeply appreciative of America’s economic assistance to the people of his rural district. But he could not abide what he considered to be the Americans’ woeful lack of insight into the nature of the conflict in Vietnam and their failure to understand the Vietnamese culture in waging war. He was an expert on communism and guerilla warfare, and he viewed the American policy as naively preoccupied with machines and computers. He felt Americans were foolish and naïve in their ignorance of the realities of guerrilla warfare. He felt strongly that the war should be fought as a Vietnamese war, not as an American war, and he vigorously pursued his own concepts of fighting in Mo Cay district.
Cu was also bitter at what he considered to be a lack of understanding and sincerity on the part of most Americans in Vietnam. He felt contempt for officers who came to Vietnam to get their tickets punched and move on in their careers. As a Vietnamese fighting for the life of is country, he believed too many Americans were in Vietnam only for personal advancement.
Despite all the controversy about his methods, there was little question about his ability. Cu’s leadership was often spectacular, and he controlled his military forces with an iron hand. He was the equal of any American commander, but he lacked the extensive modern training and equipment available to American forces. He became frustrated when he could not accomplish a task because of a lack of troops or tactical assets, and reflected his frustration by deliberately ignoring his advisers or defying his superiors.
For their part, angry advisers accused Cu of indecisiveness, lack of interest, and corruption. There was truth on both sides, yet the tragedy of the growing rift between Cu and the Americans was the lack of understanding for the two completely different viewpoints involved. The impasse was a cultural gap, and an issue of grave concern for the continued ability of the government in Mo Cay to resist the enemy.
Into this badly deteriorating situation came a remarkable American officer as the new district senior adviser to Mo Cay. Major George B. (Byron) Reed was a prematurely gray Carolinian with a wealth of prior advisory experience. He rapidly developed a remarkable counterpart relationship with Cu. A student of Vietnamese history and culture, the American major was able to discuss these subjects intelligently, and the two men used their mutual love of history and philosophy to cement their association into firm respect and friendship. While history and philosophy seem unusual subjects for the battlefield, the discussions rescued on adviser-commander relationship that was in danger of complete collapse.
Cu spent hours with his new adviser, discussing long into the night on subjects Vietnamese, interspersed with the more prosaic topics of tactical operations and strategic plans for civilian pacification. An Oriental philosopher and intellectual, Cu delighted in comparing the Vietnamese and American cultures. He had visited the United States and was pleased to find a friend with whom he could converse on the vagaries between East and West.
For his part, the American took advantage of the opportunity to plant ideas in Cu’s mind for future consideration. In these highly unusual circumstances, it was an opportunity for communication that had been sorely missed. The unorthodox system worked. Resources allocated to Mo Cay were put to good use. Cu planned and built new bridges, markets and schools. Well–trained military forces attested to his tactical ability with a series of small but significant victories. Cu’s previous attitude of obstructionism and bitterness disappeared. He still chose local officials because of their personal loyalty rather than ability, but he had an acute sense of popular moods and he knew what the people of Mo Cay needed most.
Colonel Cu’s hatred of the Vietnamese Communists made him an intense foe of a negotiated settlement with the Viet Cong. When his adviser once asked him what he would do if a cease-fire plan came in effect, Cu replied with characteristic candor: “The Viet Cong will never really cease their fire, and neither will I. I will fight them until I die.” This fervor, expressed months before the signing of the 1973 Paris Peace Accords, was a graphic illustration of the feelings of the fighters in this war.
Nguyen Van Cu viewed death on the battlefield as the sole reason he would stop fighting. An animist as well as a Buddhist (as are most Vietnamese), Cu believed that he would return to fight his enemies in another life. He often referred to events far in the future with the phrase “when I return,” invoking the deeply rooted Vietnamese belief in reincarnation. Such reasoning by a modern, well-educated engineer officer is hard for the Western mind to accept, but it plays a major role in understanding Nguyen Van Cu.
Because of his belief that he would return to fight again after death, Cu was absolutely fearless on the battlefield. He strolled along almost casually on tactical operations as if daring the enemy to fire. On one occasion he led an operation through a heavily booby-trapped enemy base area without casualties; on another operation he took the point on a night march, disregarding the danger of mines, booby traps, and enemy snipers. Of such performances are legends made.
During the 1972 North Vietnamese offensive, Mo Cay district was hard hit. Seven enemy battalions were ravaging the district, and Cu was everywhere, rallying his outnumbered troops to beat back a continuous series of major attacks. At the height of the offensive, provincial forces mounted a major operation in Mo Cay district but placed a province staff officer in command of the forces. Pride and vanity wounded, Cu planned his own parallel operation without consulting the province chief. Ostensibly a small operation to reconstitute an outpost overrun by enemy forces, Cu’s plan was, in reality, a major operation against a full-strength North Vietnamese battalion. It was foolish mistake, undertaken in a fit of pique.
Colonel Cu insisted on leading the operation himself instead of remaining at his command post, a tactical error of major proportions and a step his American adviser and friend urged him no tot take. Stung by the presence of troops not under his command and aching for combat, Cu disregarded the advice and continued on in the field. But the enemy had intelligence sources, too, and was waiting for Colonel Cu. The jungle erupted in the violence of a major ambush. Fearlessly marching erect, Cu urged his men through the ambush zone, helping wounded men to safety and directing fire on the battlefield. It was an incredibly brave performance. Major Reed later described it succinctly as “sheer John Wayne.” Friendly forces carried the fight to the numerically stronger enemy forces and extricated themselves from a bad tactical situation.
But Nguyen Van Cu had tempted fate once too often. An enemy rocket explored in the midst of the command group, and the “Maverick of Mo Cay” was killed instantly. A valorous company commander and the painfully wounded Reed (he later received the last Silver Star Medal awarded for ground combat in Vietnam) brought the stunned forces out of the trap.
The death of a legend is hard to accept. Nguyen Van Cu was indeed a maverick. His views often conflicted with those of his superiors, his peers and his advisers. He spoke his mind as he saw fit and expressed himself forcefully in a quiet-voiced society. Cu was proud of his country and its heritage and was determined to defend them. He was Vietnamese, proud of his patriotism, his people and his culture. He was determined that no enemy would subvert them and no friend would disregard them. He loved his country with great fervor, and his flaws were those on the side of his love. He was a man of great contradictions and of misunderstood values, but one who stood up for his beliefs. When the moment of reckoning arrived, he died fighting to preserve those things in which he believed most. No man can do more.
John B. Haseman
Tấm lòng của Ban Tù Ca Xuân Ðiềm với 15 năm hoạt động
Monday, December 08, 2008

Nhạc Sĩ Xuân Ðiềm với cây đàn tự tạo trong trại tập trung "cải tạo" mang theo anh lên sân khấu đấu tranh từ mười lăm năm nay.
Lâu nay các bạn thường nghe tới Ban Tù Ca Xuân Ðiềm trong các buổi sinh hoạt ca nhạc tranh đấu của cộng đồng, ban nhạc này đã trình diễn nhiều nơi trong các sinh hoạt cộng đồng như Washington DC, Houston, San José, và tại Little Saigon. Tưởng Niệm 30 Năm Quốc Hận, trong chương trình "Ðấu Tranh cho Tự Do Việt Nam" tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, Ban Tù Ca đã hiện diện và trình bày hợp ca bài "Tôi Phải Ði Dựng Ngọn Cờ Vàng", một nhạc phẩm của nhạc sĩ Xuân Ðiềm viết cho chiến dịch Cờ Vàng đã được phát động rộng rãi khắp thế giới, những nơi có người Việt tỵ nạn Cộng Sản định cư..
Mới đây trong ngày Hội Ngộ Cựu Tù Nhân Chính Trị tại Dallas Ft, Worth, ban Tù Ca Xuân Ðiềm cũng đã hiện diện trong ba ngày gặp gỡ với những ca khúc đấu tranh hát cho bạn tù và những nhạc cảnh đã gây xúc động cho hàng nghìn người tham dự.
Ban Tù Ca Xuân Ðiềm đã mang lại một không khí mới trong các buổi trình diễn, khí thế của những bản hùng ca vang bóng một thời của dòng nhạc Chính Huấn của Quân Lực VNCH. Trưởng Ban Tù Ca này, không ai xa lạ, chính là Lê Xuân Ðiềm, người tù có gần tám năm bị giam cầm trong các trại "cải tạo", đã suốt trong mười hai năm nay, liên tục sáng tác trên 150 bài hát theo những chiến dịch đấu tranh của hải ngoại cho tự do và nhân quyền tại quê nhà.
Ban Tù Ca lúc đầu là tài tử, kết hợp một số anh em sinh hoạt trong chương trình phát thanh "Anh Vẫn Sống" của Nguyên Huy và một số anh em cựu tù Gia Rai Xuân Lộc Z.30A trên đài Little Saigon. Sau khi chương trình này chấm dứt, họ sắt son, gắn bó với nhau vì lý tưởng và trở thành một ban hợp ca độc đáo trong các buổi trình diễn văn nghệ.. Hai tiếng "Tù Ca" đã khẳng định họ là những giọng hát khởi đi từ ngục tù Cộng Sản, đang ươm mầm đấu tranh ở hải ngoại, với một tinh thần đáng cổ vũ, khâm phục. Tất cả các bạn này là cựu tù nhân chính trị hoặc liên hệ gia đình với cựu tù nhân chính trị và gồm gần ba thế hệ. Thiết nghĩ cũng nên điểm qua giọng hát của những bạn trong Ban Tù Ca, đã từng tạo hùng khí và hâm nóng nhiệt tình yêu nước qua những buổi trình diễn bất vụ lợi, không có thù lao từ mười lăm năm nay:
- Thanh Liễu (chị Xuân Ðiềm), Bích Thuận, Kim Chi, Minh Nguyệt, Ngọc Thanh, Minh Nguyệt, Kim Vân, Lan Hương, Mỹ Lý, Xuân Thi, Thi Hà, Phương Thảo, Mây Lan, Hoàng Yến, Tuyết Mai, Thái Hằng, Phương Lưu, Thảo Ly và Mai Trâm.
- Xuân Ðiềm, Việt Tiến, Ðoàn Khôi, Trần Gia Toản, Ðức Tuấn, Khánh Vân, Hoàng Nam, Vũ Hùng, Vũ Khang, Ngọc Ðăng, Tuấn Khải, Xuân Thanh, Ðình Ðông, Nguyễn Thiêm, Trần Quang, Như Hải, Dương Cơ, Phạm Quỳnh, Quang An, Hoàng Ðại, Nguyễn Lữ, Công Hóa.
Qua quá trình sáng tác và trình diễn của Ban Tù Ca, trong vòng mười lăm năm, Xuân Ðiềm và bạn bè đã cho ra đời 15 CD nhạc đấu tranh cho tổ quốc và người chiến sĩ mang tên: Anh Phải Sống, Vang Vang Tình Việt Nam, Sứ Mạng, Tình Quê Tình Người, Bà Mẹ Hai Con, Con Có Một Tổ Quốc, Tưởng Niệm Chiến Sĩ Tự Do,Tình Thu Trên Cao, Việt Nam Tổ Quốc Nghìn Năm, Hùng Sử Việt, Ta Về, Tôi Phải Ði Dựng Ngọn Cờ Vàng, Khối 840, Ngày Áo Trắng Cho Tự Do, Ðóa Hồng Vang Ánh Thép.
Nhạc sĩ Xuân Ðiềm theo học khóa 5/68 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức. Ra trường, ông được chuyển về Tiểu Khu Bình Dương, đã từng nắm Ðại Ðội ÐPQ 314 thuộc Liên Ðoàn 31, trấn đóng cầu Phú Lương và hành quân trong các vùng Phú Hòa Ðông, Chiến Khu D, Phú Gia... Sau đó, Xuân Ðiềm được Nha Ðộng Viên Bộ Quốc Phòng thuyên chuyển về Bộ, vì trước khi nhập ngũ, ông chính là tác giả bài nhạc "Tiếng Nói Ðộng Viên" mà chúng ta vẫn thường nghe trên Ðài Truyền Hình số 9 và Ðài Phát Thanh Quân Ðội. Cấp bậc và chức vụ cuối cùng của Xuân Ðiềm là đại úy trưởng ban Tài Nguyên Vật Lực Nha Ðộng Viên.
Sau tháng 4-1975, Xuân Ðiềm cũng như những sĩ quan miền Nam khác, đã trình diện "đi học tập cải tạo" vào tháng 6-1975 và đã ở gần 8 năm tù qua các trại tập trung Hốc Môn, Phú Quốc, Ðồng Ban, Bà Ðen, Bùi Gia Phúc, Z 30 D Hàm Tân. Tại trại Thành Ông Năm Hốc Môn, trong lúc sinh hoạt thường ngày của tù nhân chưa đi vào khắc nghiệt, Xuân Ðiềm đã mày mò kiếm trên bãi quân xa của Liên Ðoàn 5 Công Binh cũ, với cái bình lọc gió của xe Jeep, cái chân bàn bi-da trong câu lạc bộ, các loại dây điện thoại, ông đã làm thành một cái đàn để tiêu khiển và làm vui bạn tù trong những ngày tháng sa cơ. Âm thanh của cây đàn này không qua khỏi đôi tai đang lắng nghe và đôi mắt nhòm ngó của bọn vệ binh, do đó Xuân Ðiềm đã mất toi một công trình "nghệ thuật" khá công phu. Ông lại kiên nhẫn làm cây đàn thứ hai, lần này thân đàn làm bằng đầu vỏ bom, phần bụng là thau nhôm đựng cơm, phần lưng là dĩa nhôm đựng thức ăn từ nhà bếp. Lần này, may mắn hơn, khi chuyển trại đi Phú Quốc, ông đã mang theo được cây đàn và từ đó, cho đến hôm nay, tại hải ngoại, cây đàm "banjo" không rời Xuân Ðiềm nửa bước, như chúng ta đã nhìn thấy "nó" và "nhạc sĩ tù ca" trên sân khấu.
Trong thời gian chồng đi tù, chị Thanh Liễu, vợ ông cũng như bao nhiêu người vợ tù khác, đã sống qua những ngày cơ cực để có thể nuôi con và thăm chồng, chị phải làm và bán bánh chuối, hột vịt lộn và bán hủ tiếu lề đường. Chính nơi lề đường này, người cựu tù Xuân Ðiềm đã trở thành người "phụ việc đắc lực" cho vợ trong những ngày mới ra trại trở về nhà.
Sang Hoa Kỳ trong danh sách H.O.18, Xuân Ðiềm cũng dành thời giờ để sáng tác, tập dượt chuẩn bị trình diễn cho Ban Tù Ca của ông trong các chương trình ca nhạc đấu tranh.
Ngày nay, tên tuổi của Xuân Ðiềm gắn liền với Ban Tù Ca, cũng như cây đàn mang từ tù ngục gắn liền với người nhạc sĩ luôn luôn hiện diện với anh trong các buổi trình diễn trên khắp nước Mỹ.
Monday, December 08, 2008

Nhạc Sĩ Xuân Ðiềm với cây đàn tự tạo trong trại tập trung "cải tạo" mang theo anh lên sân khấu đấu tranh từ mười lăm năm nay.
Lâu nay các bạn thường nghe tới Ban Tù Ca Xuân Ðiềm trong các buổi sinh hoạt ca nhạc tranh đấu của cộng đồng, ban nhạc này đã trình diễn nhiều nơi trong các sinh hoạt cộng đồng như Washington DC, Houston, San José, và tại Little Saigon. Tưởng Niệm 30 Năm Quốc Hận, trong chương trình "Ðấu Tranh cho Tự Do Việt Nam" tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, Ban Tù Ca đã hiện diện và trình bày hợp ca bài "Tôi Phải Ði Dựng Ngọn Cờ Vàng", một nhạc phẩm của nhạc sĩ Xuân Ðiềm viết cho chiến dịch Cờ Vàng đã được phát động rộng rãi khắp thế giới, những nơi có người Việt tỵ nạn Cộng Sản định cư..
Mới đây trong ngày Hội Ngộ Cựu Tù Nhân Chính Trị tại Dallas Ft, Worth, ban Tù Ca Xuân Ðiềm cũng đã hiện diện trong ba ngày gặp gỡ với những ca khúc đấu tranh hát cho bạn tù và những nhạc cảnh đã gây xúc động cho hàng nghìn người tham dự.
Ban Tù Ca Xuân Ðiềm đã mang lại một không khí mới trong các buổi trình diễn, khí thế của những bản hùng ca vang bóng một thời của dòng nhạc Chính Huấn của Quân Lực VNCH. Trưởng Ban Tù Ca này, không ai xa lạ, chính là Lê Xuân Ðiềm, người tù có gần tám năm bị giam cầm trong các trại "cải tạo", đã suốt trong mười hai năm nay, liên tục sáng tác trên 150 bài hát theo những chiến dịch đấu tranh của hải ngoại cho tự do và nhân quyền tại quê nhà.
Ban Tù Ca lúc đầu là tài tử, kết hợp một số anh em sinh hoạt trong chương trình phát thanh "Anh Vẫn Sống" của Nguyên Huy và một số anh em cựu tù Gia Rai Xuân Lộc Z.30A trên đài Little Saigon. Sau khi chương trình này chấm dứt, họ sắt son, gắn bó với nhau vì lý tưởng và trở thành một ban hợp ca độc đáo trong các buổi trình diễn văn nghệ.. Hai tiếng "Tù Ca" đã khẳng định họ là những giọng hát khởi đi từ ngục tù Cộng Sản, đang ươm mầm đấu tranh ở hải ngoại, với một tinh thần đáng cổ vũ, khâm phục. Tất cả các bạn này là cựu tù nhân chính trị hoặc liên hệ gia đình với cựu tù nhân chính trị và gồm gần ba thế hệ. Thiết nghĩ cũng nên điểm qua giọng hát của những bạn trong Ban Tù Ca, đã từng tạo hùng khí và hâm nóng nhiệt tình yêu nước qua những buổi trình diễn bất vụ lợi, không có thù lao từ mười lăm năm nay:
- Thanh Liễu (chị Xuân Ðiềm), Bích Thuận, Kim Chi, Minh Nguyệt, Ngọc Thanh, Minh Nguyệt, Kim Vân, Lan Hương, Mỹ Lý, Xuân Thi, Thi Hà, Phương Thảo, Mây Lan, Hoàng Yến, Tuyết Mai, Thái Hằng, Phương Lưu, Thảo Ly và Mai Trâm.
- Xuân Ðiềm, Việt Tiến, Ðoàn Khôi, Trần Gia Toản, Ðức Tuấn, Khánh Vân, Hoàng Nam, Vũ Hùng, Vũ Khang, Ngọc Ðăng, Tuấn Khải, Xuân Thanh, Ðình Ðông, Nguyễn Thiêm, Trần Quang, Như Hải, Dương Cơ, Phạm Quỳnh, Quang An, Hoàng Ðại, Nguyễn Lữ, Công Hóa.
Qua quá trình sáng tác và trình diễn của Ban Tù Ca, trong vòng mười lăm năm, Xuân Ðiềm và bạn bè đã cho ra đời 15 CD nhạc đấu tranh cho tổ quốc và người chiến sĩ mang tên: Anh Phải Sống, Vang Vang Tình Việt Nam, Sứ Mạng, Tình Quê Tình Người, Bà Mẹ Hai Con, Con Có Một Tổ Quốc, Tưởng Niệm Chiến Sĩ Tự Do,Tình Thu Trên Cao, Việt Nam Tổ Quốc Nghìn Năm, Hùng Sử Việt, Ta Về, Tôi Phải Ði Dựng Ngọn Cờ Vàng, Khối 840, Ngày Áo Trắng Cho Tự Do, Ðóa Hồng Vang Ánh Thép.
Nhạc sĩ Xuân Ðiềm theo học khóa 5/68 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức. Ra trường, ông được chuyển về Tiểu Khu Bình Dương, đã từng nắm Ðại Ðội ÐPQ 314 thuộc Liên Ðoàn 31, trấn đóng cầu Phú Lương và hành quân trong các vùng Phú Hòa Ðông, Chiến Khu D, Phú Gia... Sau đó, Xuân Ðiềm được Nha Ðộng Viên Bộ Quốc Phòng thuyên chuyển về Bộ, vì trước khi nhập ngũ, ông chính là tác giả bài nhạc "Tiếng Nói Ðộng Viên" mà chúng ta vẫn thường nghe trên Ðài Truyền Hình số 9 và Ðài Phát Thanh Quân Ðội. Cấp bậc và chức vụ cuối cùng của Xuân Ðiềm là đại úy trưởng ban Tài Nguyên Vật Lực Nha Ðộng Viên.
Sau tháng 4-1975, Xuân Ðiềm cũng như những sĩ quan miền Nam khác, đã trình diện "đi học tập cải tạo" vào tháng 6-1975 và đã ở gần 8 năm tù qua các trại tập trung Hốc Môn, Phú Quốc, Ðồng Ban, Bà Ðen, Bùi Gia Phúc, Z 30 D Hàm Tân. Tại trại Thành Ông Năm Hốc Môn, trong lúc sinh hoạt thường ngày của tù nhân chưa đi vào khắc nghiệt, Xuân Ðiềm đã mày mò kiếm trên bãi quân xa của Liên Ðoàn 5 Công Binh cũ, với cái bình lọc gió của xe Jeep, cái chân bàn bi-da trong câu lạc bộ, các loại dây điện thoại, ông đã làm thành một cái đàn để tiêu khiển và làm vui bạn tù trong những ngày tháng sa cơ. Âm thanh của cây đàn này không qua khỏi đôi tai đang lắng nghe và đôi mắt nhòm ngó của bọn vệ binh, do đó Xuân Ðiềm đã mất toi một công trình "nghệ thuật" khá công phu. Ông lại kiên nhẫn làm cây đàn thứ hai, lần này thân đàn làm bằng đầu vỏ bom, phần bụng là thau nhôm đựng cơm, phần lưng là dĩa nhôm đựng thức ăn từ nhà bếp. Lần này, may mắn hơn, khi chuyển trại đi Phú Quốc, ông đã mang theo được cây đàn và từ đó, cho đến hôm nay, tại hải ngoại, cây đàm "banjo" không rời Xuân Ðiềm nửa bước, như chúng ta đã nhìn thấy "nó" và "nhạc sĩ tù ca" trên sân khấu.
Trong thời gian chồng đi tù, chị Thanh Liễu, vợ ông cũng như bao nhiêu người vợ tù khác, đã sống qua những ngày cơ cực để có thể nuôi con và thăm chồng, chị phải làm và bán bánh chuối, hột vịt lộn và bán hủ tiếu lề đường. Chính nơi lề đường này, người cựu tù Xuân Ðiềm đã trở thành người "phụ việc đắc lực" cho vợ trong những ngày mới ra trại trở về nhà.
Sang Hoa Kỳ trong danh sách H.O.18, Xuân Ðiềm cũng dành thời giờ để sáng tác, tập dượt chuẩn bị trình diễn cho Ban Tù Ca của ông trong các chương trình ca nhạc đấu tranh.
Ngày nay, tên tuổi của Xuân Ðiềm gắn liền với Ban Tù Ca, cũng như cây đàn mang từ tù ngục gắn liền với người nhạc sĩ luôn luôn hiện diện với anh trong các buổi trình diễn trên khắp nước Mỹ.
Cái chết trong ngày Giáng Sinh!
Lữ Giang
Bất chợt, mở website vnfa.com, chúng tôi đọc được một số câu chuyện thương tâm về thân phận của những người bị chế độ cộng sản nghi ngờ và những người tù miền Bắc trước năm 1975 do ông Kiều Duy Vĩnh kể lại.
Ông Kiều Duy Vĩnh là một cựu đại úy trong Quân Đội Viễn Chinh Pháp đã ở lại miền Bắc sau năm 1954. Năm 1960 ông bị bắt vì tội "phản cách mạng" và bị giam giữ đến năm 1971
Năm 1972, khi Mỹ dội bom miền Bắc để làm áp lực buộc Hà Nội phải trở lại bàn hội nghị ở Paris, ông Kiều Duy Vĩnh lại bị bắt lần thứ hai cùng với nhiều người khác.
Ở miền Bắc, mỗi khi có biến cố gì xẩy ra, công an thường đi lùa những thành phần bị coi là nguy hiểm, nhất là những người có tham gia vào các hoạt động tôn giáo, đưa vào những nơi giam giữ để dễ kiểm soát. Chúng tôi nhớ lại năm 1976, khi chúng tôi được đưa ra giam tại trại Thanh Cẩm ở Thanh Hoá, chúng tôi khám phá ra tại đây còn có khoảng 170 giáo dân miền Bắc bị giam giữ từ năm 1970, mặc dầu không có tội gì cả. Theo họ kể lại, có những nơi chính quyền còn giúp tiền bạc cho giáo xứ tổ chức rầm rộ các ngày lễ tôn giáo để xem những ai thuộc thành phần tích cực, sau đó họ bắt những người này. Toán giáo dân nói trên về sau được chuyển qua trại Thanh Phong và phải đến năm 1983, tức 13 năm sau, họ mới được phóng thích.
Ông Kiều Duy Vĩnh đã tường thuật lại trường hợp của một người được ông coi như là một "Đức Thánh Tử Vỉ Đạo thứ hai" mà ông đã chứng kiến trong các trại tù cộng sản. Đó là ông Lâm Vĩnh Thúy. Ông Thúy đã bị chết vào ngày Giáng Sinh năm 1973, sau một trận đòn của bọn cai ngục.
Mặc dầu bị Cộng Sản hành hạ và đối xử tàn tệ trong hơn 15 năm, ông Kiều Duy Vĩnh đã tường thuật lại những câu chuyện mà ông đã chứng kiến một cách ung dung, khách quan, không để cảm xúc và long hận thù chi phối. Đây là những câu chuyện sẽ được ghi vào lịch sử.
Nhân mùa Giáng Sinh sắp đến, chúng tôi xin mời đọc giả đọc câu chuyện "Đức Thánh Tử Vì Đạo Thứ Hai mà tôi được gặp" của ông Kiều Duy Vĩnh để vinh danh những người anh hùng và tưởng nhớ đến những ngày đen tối trên đất nước chúng ta.
NHỮNG NGÀY ĐỊNH MỆNH
Đức thánh thứ nhất là tu sĩ Đỗ Bá Lung từ Ngọc Đông, Hưng Yên, đã chết ở Cổng Trời, còn đức thánh thứ hai này thì bị Quản giáo tù VC bức hại tàn ác dã man ở trại Phong Quang, Lao Kay.
Ngài tên là Lâm Đình Túy, người Nam Hà, giáo dân địa phận Bùi Chu. Đức thánh này quyết liệt hơn, dứt khoát hơn, những điều mà Ngài Lâm Đình Túy làm thì chỉ có một không có hai, trước không có và sau này cũng không thể có. Trước Ngài, chúng ta ai cũng ngả mũ cúi đầu kính cẩn nghiêng mình.
Tháng 5 năm 1972, Mỹ bỏ bom lại miền Bắc Việt Nam. Ngày 10 tháng 5, cầu Long Biên lại bị đánh sập. Đến chiều ngày 11 tháng 5, 1972, tôi lại bị bắt lần thứ hai với tội phản cách mạng. Điều này không có gì là bất ngờ đối với tôi cả. Tôi đã chờ đợi nó từ năm 1971. Khi Tổng thống Mỹ Nixon cho trực thăng đổ bộ xuống trại tù binh Mỹ ở Sơn Tây để hòng cướp lại các phi công bị bắt, tôi đã thấy tôi bị theo dõi từng bước. Luôn có một cái đuôi theo tôi.
Và đến năm 1976, khi cầm lệnh tha, tôi đọc thấy quyết định bắt tôi kể từ tháng 6 năm 1971, thế mà mãi đến một năm sau tôi mới bị bắt kể cũng hơi muộn. Thiếu tá Công an Cường, thường gọi là Cường cao, trực tiếp tới bắt tôi ở quê ngoại tôi: thôn Đông, xã Hội Xá, Gia Lâm, nơi gia đình tôi chạy bom sơ tán về đó. Lúc Công an xộc vào nhà, tôi đang sửa soạn đi tắm. Tôi cười, bảo với Cường cao là để tôi tắm xong rồi hãy bắt đi.
Cường cao rất tử tế bảo:
- "Thôi, anh Vĩnh vào Hỏa Lò rồi hãy tắm."
Tôi bảo:
- "Vào đó phải đến ngày đầu tháng mới được tắm chứ."
Cường cao bảo:
- "Tôi hứa là sẽ để anh tắm trước khi vào xà lim."
Mẹ tôi và vợ tôi gào lên:
- "Tội tình gì mà lại bắt người ta. Sao mà tàn ác thế. Đã giết người cướp hết của cải rồi mà vẫn không buông tha."
Cường cao ôn tồn bảo với vợ tôi:
- "Chị bình tĩnh lại, yên tâm. Khi nào Mỹ chấm dứt bỏ bom chúng tôi sẽ cho anh ấy về."
(Thế mà mãi đến năm 1976 sau khi chiếm được Sài Gòn một năm, họ mới tha cho tôi về).
Tôi mặc quần áo đi theo Cường cao, ra đầu làng lên xe vào Hỏa Lò, vào ngục Cửu U vì phải đi qua chín lần cửa mới tới xà lim giam tôi. Với tôi Hỏa Lò quen thuộc quá. Tôi đã trải qua tất cả các xà lim ở đó lần bị bắt trước. Giữ đúng lời hứa, trước khi tống tôi vào xà lim, Cường cao bảo Quản giáo cho tôi đi tắm cẩn thận không giục giã gì. Tôi vốn con nhà binh, nên rất bình tĩnh trước mọi hiểm nguy, lần trước cũng như lần này. Tắm xong tôi ung dung tự tại ngồi thở Yoga chờ cơm.
Vì đã được nghe kể và đã rút kinh nghiệm từ lần trước, ngay ngày hôm sau, vợ tôi thăm nuôi tiếp tế cho tôi, muối vừng rất mặn, kẹo bột và chè lam. Mấy ngày đầu tôi không đến nỗi đói, và đã có chiều dài thời gian 10 năm tù trước, đã từng ở Cổng Trời, sức chịu đựng của tôi đã được tôi luyện nên tôi cứ ngồi thở Yoga. Ba bốn ngày trôi qua, chả có ma nào hỏi cung mình cả. Cường cao nghe nói hắc xì dầu lắm, mà sao lại lịch sự tử tế với mình thế.
Trước lúc vào xà lim, Cường cao bảo tôi:
- "Anh chắc phải hiểu chứ, Mỹ lại bỏ bom. Vậy nên bắt lại anh là điều tất nhiên thôi. Chúng tôi buộc phải tháo cái ngòi nổ. Thôi, cứ đi trại ít lâu dừng ném bom là về."
Anh ta lại còn nói tiếng Pháp với tôi nữa:
- "Chắc anh lại mỉa chúng tôi: La Raison du plus fort est toujours le meilleur chứ gì."
Tôi im lặng vào xà lim không trả lời.
Một tuần trôi qua, rồi hai tuần. Cũng không ai hỏi han gì. Mà thực tình ra, còn gì nữa mà hỏi. Lần tù 10 năm trước khai báo ở ty Niết hết rồi. Lần này mới về được ít lâu thì bị bắt lại. Có gì để khai mà hỏi. Cũng mong đi trại cho nó yên một bề thế mà bỗng một hôm, được gọi lên hỏi cung. Mừng quá. Có dịp đi lại ra ngoài thở không khí.
Một cán bộ còn trẻ, ăn mặc chỉnh tề lịch sự. Hỏi toàn những chuyện đâu đâu: Bên Tây, bên Mỹ, bên Thái Lan và miền Nam. Tôi trả lời ấm ớ lửng lơ con cá vàng. Và rồi đột ngột, tôi bảo là quên hết tất cả rồi. Anh ta vẫn rất từ tốn, bảo tôi cố nhớ lại, giúp cho anh ta có thể đánh giá chính xác đúng những con người ở xa xôi đó.
Tôi bảo:
- "Tôi đang đói đây, đang ho lao đây, đang mệt rũ ra đây. Bây giờ là gần 11 giờ trưa rồi, tôi chưa được một hớp nước, chưa được một miếng gì cho vào bụng nên tôi đói lắm, mà dạ dầy đói thì không có tai để nghe. Xin để cho đến chiều hoặc mai. Đưa tôi về xà lim nghỉ thôi."
Tôi tưởng anh ta sẽ nổi cáu. Nhưng không:
- "Thôi được, anh về, mai tôi sẽ gặp lại."
Sáng mai, tôi được gọi lên. Sau khi ngồi vào ghế, anh ta rút trong cặp ra hai cái bánh mì Badega kẹp thịt, một gói thuốc ho Rimifon, một bánh xà phòng thơm đưa cho tôi:
- "Anh ăn đi. Còn các thứ này để dùng khi đi trại."
Giọng nói, ánh mắt đầy sự tử tế. Tôi ung dung ngồi ăn hết hai cái bánh mì và chờ đợi những câu hỏi hắc búa. Nhưng không, thấy tôi ăn xong, anh nói:
- "Tôi đã đọc kỹ hồ sơ lý lịch của anh rồi. Đọc kỹ, nhưng chưa đầy đủ bằng gặp chính con người của anh. Hôm qua gặp, thấy anh nói bị đói và bị ho nên hôm nay tôi đem đến cho anh ít thuốc. Thế thôi nhé. Anh có thể về được rồi."
Và anh ta gọi Quản giáo dẫn tôi về xà lim. Tôi hơi ngạc nhiên trước sự việc đó. Lúc ấy là tháng 5, năm 1972. Năm 1976 tôi được tha, đến năm 1979 tôi đang đạp xe đạp ở phố Lò Đúc thì thấy có người gọi:
- "Anh Vĩnh, anh Vĩnh."
Tôi quay lại không nhận ra ai. Anh ta cười bỏ mắt kính ra, tôi liền nhận ra anh: người cán bộ hỏi cung đã cho mình bánh mì và thuốc.
Tôi mời anh đi uống bia, anh từ chối và bảo:
- "Tôi rất mừng là thấy anh trở về mạnh khỏe thôi, tôi xin lỗi vì có việc bận không đi uống bia với anh được. Chúc anh khỏe và gặp nhiều điều tốt lành."
Tôi cố nài mời anh, anh nhất quyết chối từ, bắt tay xin lỗi và đi. Tôi có hỏi tên anh, anh vờ như không nghe thấy và không trả lời. Cảm ơn anh.
Sau câu chuyện hỏi cung trên, tôi đi trại Vinh Quang (thuộc tỉnh Vĩnh Phú). Gặp lại một số người quen cũ, tay bắt mặt mừng, cứ như là đi phép trở lại đồn vậy. Kể cũng nực cười. Và chính ở trại này, tôi gặp một vị thánh tử vì đạo nữa: Lâm Đình Túy, người Nam Hà, giáo dân địa phận Bùi Chu.
NGƯỜI TU SĨ TÊN HIẾU
Khi tôi lên trại Vinh Quang được ít lâu thì có một tu sĩ tên là Hiếu ở địa phận Thái Bình được thả về tự do. Nhưng chỉ độ ba tháng sau, lại thấy tu sĩ Hiếu bị bắt đem lên trại. Mọi người đều mừng mừng tủi tủi, và cũng coi như tu sĩ được đi phép về. Riêng giáo dân thì hồ hởi lắm. Hỏi ra thì mới biết là khi được tự do, Giáo hội đã phong tu sĩ Hiếu làm Linh mục và khi bị bắt lại, Linh mục Hiếu đã đem theo được "mình thánh" vào trại tù. Các tín đồ Thiên Chúa giáo một mực rất kính trọng Linh mục Hiếu, săn sóc, chăm nom cực kỳ chu đáo, có quà gì cũng đem biếu: một ấm chè ngon, một củ sắn luộc, vài cái bánh ngọt mới được tiếp tế.
Linh mục Hiếu có dáng vẻ một trí thức nho nhã, trắng trẻo, đẹp trai, thông minh, trạc 35 tuổi. Một con người không có gì để chê trách, phàn nàn về mọi phương diện. Ắn ở, ứng xử với mọi người lúc nào cũng khiêm tốn, nhã nhặn tươi cười, hòa đồng với mọi lớp người trong tù không phân biệt chính trị hay hình sự.
Linh mục Hiếu lên trại Vinh Quang lần thứ hai thì được Phó Giám Thị Cự công bố với toàn trại tù là ông cha đạo Hiếu này chính là một tên lưu manh chuyên nghiệp. Mọi người cứ há mồm, ngớ ra không hiểu.
PGT Cự giải thích như sau:
- "Hiếu là một tên vốn lười biếng, thích ăn ngon mà không thích lao động, một tên ăn bám xã hội, trông mẻ người anh ta thì thấy ngay là loại ăn trắng mặc trơn, ăn ngon mặc đẹp nên đi tu, làm nghề tôn giáo, lừa bịp các giáo dân để kiếm ăn. Thử hỏi, dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa của chúng ta, những người yêu lao động có thể nào chấp nhận phần tử ăn bám đó. Trí thức như Hiếu, thì giá trị không bằng cục cứt (trích Mao Trạch Đông), mà trí thức gì cái anh ta: Học được mấy chữ "la tanh tưởi" đến nhà thờ rao giảng, lẽ thường ra khấn khứa thì cứ theo như lối Việt Nam ta: gần bay là xa bay bổng mời các cụ về hưởng lộc cho con cháu. Nhưng y lại không khấn khứa như thế, y nói: 'Ca tê riom, ca thế dran,' ra cái điều cao siêu bí hiểm, nó có cái quái gì là bí hiểm đâu, nó là: cá trê rán, cá trê om nói trệch đi, thế thôi. Đấy y lừa bịp các giáo dân như vậy đấy. Chỉ để kiếm miếng ăn như mấy lão thầy cúng chập chững ấy mà. Lần thứ nhất đã bị bắt tưởng vào tù đã cải tạo được, nên tha cho về làm người lương thiện. Nhưng vẫn chứng nào tật ấy, ngựa theo đường cũ, lại tiếp tục hành nghề nên phải bắt lại lần thứ hai. Như thế là y đã tái phạm nhiều lần. Vậy thì y đích là tên lưu manh chuyên nghiệp rồi còn phải thắc mắc gì nữa."
Phó Giám Thị Cự nói trơn tru láo liên như vậy với bộ mặt xám và lạnh, tù nghe không một ai dám cười cả. Còn tôi, tôi cứ ngớ cả người ra. Đến ngay cả ở trại Cổng Trời cũng chưa thấy giám thị, quản giáo nào dám giải thích như vậy cả.
Hắn nói gì thì mặc hắn, chúng tôi để ngoài tai. Nhưng với ông Lâm Đình Túy, thì những điều mà Phó Giám Thị Cự nói làm ông khó chịu. Và ông lại tỏ vẻ khó chịu hơn khi thấy các giáo dân cứ quây quần quanh Linh mục Hiếu để ăn uống, quá chu đáo.
Thế rồi một ngày Chủ Nhật nghỉ, nhân lúc các tín đồ và Linh mục Hiếu đang ngồi ăn uống chuyện trò vui vẻ thì bác Lâm Đình Túy xuất hiện. Bác đứng trước mặt Linh mục Hiếu, chỉ tay nói với giọng giận dữ, Bác đọc một loạt những câu tiếng La Tinh ở trong Évangile (Bible) cốt để cho Linh mục Hiếu nghe. Tôi không hiểu những lời nói đó có ý nghĩa mạnh mẽ ra sao, nhưng tôi thấy Linh mục Hiếu tái mặt đứng dậy bảo các con chiên giải tán, và từ đấy không thấy tập hợp nhau nấu nướng ăn uống gì nữa.
Sau chuyện này, cuộc sống ở trại Vinh Quang cứ lặng lẽ trôi. Có điều đối với riêng tôi, một đối tượng cần phải chuyên chính đàn áp thì mũi dùi của Phó Giám thị Cự luôn chĩa vào tôi. Vợ tôi lên thăm nuôi tiếp tế bị đuổi về không cho gặp và nhận.
Thỉnh thoảng tôi lại bị gọi lên lục vấn, chấn chỉnh đe dọa, và những buổi nói chuyện ở Hội trường đều bóng gió nói đến tôi: liệu hồn mà chịu phép cải tạo. Tôi được phân công vào toán già đan lát cùng với bác Lâm Đình Túy.
THÁNH TỬ ĐẠO LÂM ĐÌNH TÚY
Bác Túy gầy yếu xanh xao. Rất ít nói. Nhìn bác, tôi lại nhớ đến tu sĩ Đinh Hiền Lương, dòng tu ép xác Châu Sơn, tù ở Cổng Trời với tôi và đã chết. Đầu cũng cắt ngắn gần như trọc, cả ngày chả nói một câu chuyện, cứ ngồi yên lặng lẽ nhìn, nhìn đấy mà chả nhìn thấy gì cả. Nhưng có một điều rất khác. Rất khác là khi làm việc thiêng liêng, bất cứ vào thời điểm nào, ngay cả trong lúc đang làm việc ở ngoài đồng, ngoài trại, bao giờ bác cũng quỳ xuống, kính cẩn cúi đầu như ở trong nhà thờ làm lễ. Bác để hết tâm trí vào việc cầu nguyện, lúc đó coi nhưng không còn ai ở xung quanh, kể cả Giám thị trại, Quản giáo, lính coi tù, bác vẫn quỳ xuống nguyện cầu, ngang nghiên làm như thường. Mà có cái lạ nữa là những Giám thị và Quản giáo không làm gì để ngăn cấm bác cả.
Khi tôi lên trại tù Vinh Quang thì mọi việc đã diễn ra như vậy rồi, và vẫn tiếp tục diễn ra như vậy, mọi người đều cho đó là một chuyện bình thường làm tôi rất ngạc nhiên khi tôi đem so sánh với những chuyện đã xẩy ra ở trại Cổng Trời lần tù trước (1960-1970). Tôi có tò mò hỏi một giáo dân cùng quê cùng xứ đạo với bác Túy thì giáo dân đã cho tôi biết là từ khi bị bắt lên đến trại giam Nam Định bác đã làm như thế rồi. Giam mãi ở xà lim, cùm mãi rồi lại phải thả ra, bác vẫn cứ thế. Cuối cùng, các ban Giám thị ở trại dưới đành chịu thua bác, đành để Bác như vậy, cho đi cùm ở xà lim thì chính ban Giám thị lại mắc mưu của ông ta, ông ấy chỉ thích nằm xà lim thôi. Không bị ai quấy rầy, lại cơm bưng nước rót, cùm thì chân ông ấy chỉ bằng cái que tăm ấy, có cùm thì cũng như không. Thế là ban Giám thị lại lôi ra bắt đi làm. Ông đi ra, nhưng không làm gì cả. Đến chỗ làm là ông ngồi vào một góc rồi quỳ xuống cầu kinh. Xong thì lại ngồi im lặng nhìn. Rồi đi về trại. Thế thôi. Chắc là họ đã họp lên, họp xuống nhiều lần lắm rồi, để tìm ra một đối sách trị ông. Kết quả: là cứ đành để mặc ông ta như vậy. Nếu không chỉ còn một cách là giết ông đi mà thôi. Thời điểm giết ông thì chưa đến. Nên mặc nhiên ông là người độc nhất trong trại được hưởng quyền ưu tiên như vậy.
Năm 1972 tôi lên trại Vinh Quang gặp ông, đã thấy ông như vậy. Cũng như tu sĩ Đinh Hiền Lương, ông rất ít nói, ông hay ngồi tĩnh lặng để nghe và nhìn, và chắc ông nhìn và nghe được nhiều điều lắm, nên ánh mắt ông nhìn tôi có rất nhiều thiện cảm. Chắc hẳn ông biết tôi đã đi tù nhiều năm, đã từng ở Cổng Trời, nên đôi lúc có trao đổi với tôi một vài điều, chứ không phải là một vài câu chuyện, tỷ như:
- "Trước ông Vĩnh có ở Bùi Chu à?"
- "Vâng, năm 1951-1952 tôi có đóng quân ở Hành Thiện ở cùng với Tiểu đoàn Công Giáo số 16. Tôi đã có hân hạnh được gặp Đức Giám Mục coi sóc địa phận Bùi Chu, Đức Cha Phạm Ngọc Chi."
Lần sau ông hỏi tôi:
- "Ông có ở tù cùng với cha Hân không?"
- "Có, tôi có được gặp cha Hân và được chứng kiến cái chết của cha Hân ở trong tù."
Lần sau nữa:
- "Ông cũng có biết tu sĩ Đinh Hiền Lương dòng ép xác Châu Sơn à?"
- "Vâng, tôi có ở tù cùng với tu sĩ Đinh Hiền Lương và tu sĩ Lương đã chết ở Cổng Trời rồi."
Ông hỏi ngắn gọn có thế, và chỉ cần tôi trả lời có thế, và thế là đủ. Đã là tù thì phần lớn đều phải thấy rằng:
Thứ nhất được tha, Thứ nhì tiếp tế, Thứ ba "ăn mềm" (thịt). Được gọi ra tiếp tế, mừng ra mặt. Bồn chồn mong cho chóng đến lượt mình để được gặp người thân và được ăn no. Thế mà có lần tù ở phòng tiếp tế thăm nuôi vào gọi đích danh Lâm Đình Túy ra gặp người nhà. Ông ngước mắt nhìn lên không đáp lại. Người gọi là một tù hình sự nên anh ta văng ngay ra:
- "Đ..., còn chần chờ gì nữa. Nhiều lắm, thấy một gánh nặng cật lực. Nhanh lên đi."
Ông lại ngước mắt nhìn, không nói năng gì. Và rồi ông không ra gặp người thân để nhận đồ tiếp tế. Ở đôi mắt hiền từ của ông, tôi thấy ánh lên một điều quyết định gì đấy, nó giống như ánh mắt của tu sĩ Đỗ Bá Lung ở Cổng Trời nhìn anh em trước khi đi xà lim và chết!
Thế rồi tháng 12 năm 1972, Mỹ bỏ bom B52. Tôi và một số phần tử nguy hiểm, trong đó có ông được lọc ra dẫn vào trại C sâu ở trong núi. Chúng tôi bị lùa tuốt vào một hầm ngầm đào sâu dưới lòng núi. Nếu bom Mỹ mà bỏ gần đấy, hầm sập là chết hết khỏi phải chôn. (Cái hầm này gần chỗ xà lim, giam phi công Mỹ, anh Phan Hữu Văn biết rất rõ vị trí này).
Được vài ngày, thấy tình hình quá căng thẳng, họ vội vã chuyển chúng tôi lên Lao Kay ở trại Phong Quang. Hết Vinh Quang rồi lại Phong Quang. Sao mà họ khéo đặt tên hay đến thế cho các nhà tù ở miền Bắc này. Nào là: Thanh Cầm Thanh Hóa: Đàn xanh, nào: Ba Sao Nam Hà: Ba vì sao sáng, nào: Hồng Ca Yên Bái: bài ca mầu hồng. Trại Ngọc: Ngọc ngà châu báu. Yên Hòa Phú Thọ: Yên vui hòa thuận. An Thịnh Tuyên Quang: An ổn và thịnh vượng.
Đi tù mà Vinh Quang, và ở chỗ Phong Quang thoáng mát, thì nhất rồi còn phải kêu ca phàn nàn gì nữa. Nhưng thật ra cái nhà tù Phong Quang này ở tít trong cùng tận của rừng xanh, núi đỏ, sát biên giới Việt - Trung nơi tận cùng của đất nước mà lại là Phong Quang thì cái tài dùng "mỹ từ pháp," tài lừa bịp đã đạt tới mức siêu đẳng rồi.
Chúng tôi được chuyển từ trại Vinh Quang lên Phong Quang, Lao Kay. Lên đến trại vào quãng nửa đêm. Trại ở sâu trong rừng và cũng phân ra A, B, C. Vì trại Cổng Trời được phong "Anh Hùng" nên các trại dưới đều phải học tập rút kinh nghiệm để noi theo.
Và nếu ta cho điểm Cổng Trời là 10 thì Phong Quang cũng được 7 hoặc là 8. Ở đây cũng ghê lắm. Có một Quản giáo ác ôn tên là Tằng, người Thái Bình, mặt da tai tái, mắt ti hí mắt lươn lại hơi toét, to béo, khỏe mạnh, vũ phu, tướng của một tên côn đồ đứng bến xe, cười cười nói nói, chuyên gọi tù bằng thằng. Khi cần, môi mím lại, mặt tái dại hẳn đi, lúc ấy là có chuyện giết người đấy.
Chúng tôi đến trại được Quản giáo Tằng tiếp đón chu đáo: đèn pin dọi và mặt từng người, tay thọc ngay vào hạ bộ chộp lấy sờ nắn, khám xét.
- "Thôi được, vào ngủ đi. Sáng mai sẽ hay." Hắn bảo thế.
Và sáng hôm sau, tôi được chứng kiến một điều mà hai lần tù gần 15 năm tôi chưa thấy bao giờ, trước không có và sau này cũng khó có. Một chuyện động trời.
ooo
Quản giáo ác ôn Tằng, cầm bản danh sách tù đi đầu, theo sau lưng là một tiểu đội súng ống và một lũ tù hình sự tay sai làm trật tự viên trong đó có một tên hung ác nhất tên là Nhạn, người Hải Phòng.
Theo thường lệ, tù được gọi đến tên, ôm đồ đạc ra trước mặt Quản giáo, rồi để những tù hình sự trật tự viên lục lọi khám xét. Lần lượt như vậy. Cho đến lúc gọi tên Lâm Đình Túy. Không thấy trả lời. Ác ôn Tằng cao giọng đến lần thứ ba rồi cáu quát:
- "Nó đâu? Thằng Túy đâu. Câm hả."
Trong lúc khám xét ai cũng lo lấy thân mình trông lấy đồ đạc của mình. Cũng chẳng biết ông Túy ở đâu để mà giúp đỡ cả. Lúc đó ông Túy đang quỳ ở một góc để làm việc thiêng liêng. Cũng như ở các trại dưới, như ở trong nhà thờ, ông quỳ xuống cúi đầu nghiêm chỉnh, đàng hoàng, đĩnh đạc cầu nguyện thành kính. Với ông lúc ấy không có ai ở chung quanh, không có chuyện gì xảy ra cả. Vì mới đến hồi đêm, nên chưa kịp bàn giao những gì chi tiết, và cũng chưa có thì giờ để đọc hồ sơ lý lịch từng người nên hắn, Quản giáo ác ôn Tằng, cực kỳ giận dữ trước sự việc dám coi thường hắn đến như thế.
Hắn đã gọi, gọi đến ba lần mà thằng tù không thèm đáp lại. Lâu nay có thế này bao giờ đâu: hắn nói mọi người phải răm rắp tuân theo, bây giờ lại có một thằng tù chính trị dám coi thường hắn. Ác ôn Tằng lừ lừ đi đến. Sau này tôi mới được biết là tù ở đây sợ hắn như cọp, hắn đánh tù không tiếc tay, tự tay hắn đánh, mệt, hắn sai tù tay sai đánh tiếp cho hắn xem cho hả lòng ác độc và đánh cho đến chết. Có một tù hình sự còn trẻ, không biết lúc hắn đi qua, đùa với bạn, giơ tay giả làm súng bắn, miệng kêu: tằng, tằng, tằng. Thế là phạm húy, bỏ mẹ rồi. Hắn gọi ra cho ăn đòn và ít lâu sau ngấm đòn chết. Thành ra ai cũng sợ. Nhìn thấy hắn là sợ rồi. Con người hắn toát ra tử khí. Thế mà Lâm Đình Túy lại không biết điều đó.
Hắn lừ lừ đi đến. Hắn nắm gáy ông lôi đứng dậy, ông vốn nhẹ cân và gầy yếu.
- "Mày là thằng Túy. Sao tao gọi mày không trả lời hả?"
Ông nhìn hắn, từ từ quay người đứng thẳng dậy trước mặt hắn. Và thật là bất ngờ đối với tất cả, ông giơ tay tát thật mạnh vào tên ác ôn Tằng, rồi ông lại từ từ quay người quỳ xuống tiếp tục làm công việc thiêng liêng của mình.
Chắc chắn là đối với tất cả những người đi tù ở miền Bắc này, từ xưa cho tới lúc ấy chưa có ai, chưa có bao giờ một người tù dám tát vào mặt Quản giáo hay một người lính coi tù cả. Điều này xẩy ra ngoài sức tưởng tượng của ác ôn Tằng nên hắn phản ứng rất là chậm chạp. Hắn đứng yên, hai tay thõng xuống mặt nghệt ra. Chúng tôi ngơ ngác bàng hoàng và chờ đợi. Đây là chuyện động trời ở trong trại tù. Tù đánh Quản giáo. Không phải là chuyện khi bị đánh thì chống lại, đánh lại mà ngang nhiên đánh tát vào mặt. 15 năm tù tôi chưa bao giờ thấy có chuyện ấy xẩy ra: Tù tát vào mặt Quản giáo ác ôn và Quản giáo đứng yên chịu trận. Đối với tù: Quản giáo là chủ nô.
Đôi lúc tôi đã lẩn thẩn nghĩ rằng: Những kẻ nào bất tài, vô tướng, học thì dốt, đầu óc bã đậu, lại lười biếng thích ăn không thích làm nhưng lại muốn làm cha người ta, làm ông chủ người ta thì nên xin gia nhập làm ngành Công an làm Quản giáo coi tù. Làm Quản giáo sướng lắm chứ, có dưới quyền khoảng trên dưới 40 tên nô lệ. Gọi dạ, bảo vâng, sai gì làm nấy. Nếu láo xược, không nghe sẽ có ngay đòn trừng trị của chính Quản giáo, hay nếu không muốn ra tay thì đã có tay sai là mấy tên tù hình sự làm Trật tự viên. Ngoài ra còn có súng của mấy lính coi tù hỗ trợ nữa. Ngày ngày, cắp quyển sách, ngồi ghi ghi, chép chép, đi theo tù đến chỗ làm, chán thì đi tới đi lui bảo ban, sai phái. Hết giờ về, ăn cơm, ngủ. Mai lại thế. Vậy, hỡi ơi, hãy cho con cháu mình, người nhà mình, thằng nào mà ngu đốt đi làm Quản giáo.
Trở lại với ác ôn Tằng. Hắn đứng yên, mất đến gần một phút sau không có phản ứng gì. Lúc ông Túy tát xong, tôi sợ hãi chờ đợi một cuộc đánh đập trả thù tàn bạo. Nhưng không. Quản giáo ác ôn Tằng quay người đi ra cổng trại, theo sau là mấy tên tay sai trật tự viên.
Chúng tôi im lặng ngồi chờ. Độ nửa tiếng sau. Tằng quay vào, mặt tái đi vì giận dữ, cặp mắt ti hí mắt lươn hơi toét không nhìn vào ai. Đến trước mặt mấy cán bộ dưới quyền, hắn ra lệnh:
-"Cho tất cả tù vào trại. Khóa cửa lại. Còn thằng Túy để lại cho tôi."
Chúng tôi lại lếch thếch ôm đồ của mình vào trong nhà. Còn lại một mình bác Túy, bác vẫn bình thản quỳ ở một góc cúi đầu cầu nguyện. Tằng chỉ tay, mấy tên trật tự xông vào khênh bác ra cổng trại.
Mãi đến chiều tối, những thằng ấy lại khênh bác về vứt vào một xó trong trại giam. Người bác rách nát. Nhưng mặt mũi không thâm tím, không chảy máu. Chỉ thấy bác nằm im, thoi thóp thở. Khi chúng quay ra, có mấy giáo dân người đồng hương đến chăm sóc cho bác. Bác nằm im không nói, không ăn. Họ chạy chữa cho bác, và chúng tôi được biết bác bị đánh què chân và gẫy hai cái xương sườn.
Sáng hôm sau chúng tôi lại được lệnh ra sân tập họp sớm hơn mọi ngày. Đến đây tôi xin ngắt quãng để kể một chút về một nhân vật thật đặc sắc mà tôi gặp ở trại Phong Quang này: Anh Hoàng Tiên Như người Nghệ An. Trong đoạn này tôi chỉ kể một chút ít về anh thôi, còn chúng ta phải đi nốt với Đức thánh tử đạo Lâm Đình Túy, người đã vác cây thánh giá của Chúa cực kỳ nặng nhọc và gian khổ này.
Tập họp ngồi đầy đủ ở sân trại. Ban Giám thị và Quản giáo, lính coi tù lục tục kéo xuống. Mọi lần bình thường thì không có ban Giám thị, chỉ có Quản giáo và lính coi tù xuống nhận tù đi làm thôi. Vừa mới xuống đến nơi, chúng tôi đã thấy tiếng quát tháo ầm ầm ở phía hàng trên chỗ gần cổng trại. Rồi mấy tay tù trật tự tay sai xông vào đánh đấm lôi một người ra khỏi hàng. Khi người ấy đứng dậy, thì tôi thấy anh cởi truồng... thỗn thện. Cả trại cười ầm lên như vỡ chợ. Hỗn loạn. Đầu thì trọc, mặc một cái áo ngắn cộc rách tơi tả, cởi truồng, vừa đánh trả, vừa chạy vừa chửi. Anh cứ chạy quanh sân trại làm bọn tay sai mãi mới bắt được anh, lôi anh đi vào xà lim. Anh dẫy dụa, lăn ra đất, chửi bới om xòm với giọng Nghệ An:
"Đ.. ch... chúng bây, choa có sợ cái ... choa đây này."
Anh tên là Hoàng Tiên Như người Nghệ Tĩnh, vốn là Đại uý Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Anh Hùng. Anh ở binh chủng Pháo Binh, đã từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Hoạt động cách mạng từ năm 1945 đã từng chỉ huy cướp chính quyền ở tỉnh Nghệ An. Thế thì tại sao anh lại đi tù?
Anh bảo:
- "Tại vì tớ lấy vợ. Vợ tớ là con nhà địa chủ, lại là người theo đạo Thiên Chúa nữa cho nên chi bộ Đảng, cấp trên, chính quyền không cho lấy. Nhưng tớ yêu vợ tớ quá đi mất thôi. Không lấy thì không thể chịu được. Thà chết, thế là tớ cứ lấy. Bị kỷ luật ra khỏi quân đội, tớ theo vợ về xứ đạo, tớ theo vợ tớ thôi chứ tớ không theo Chúa, không theo đạo. Ầy thế mà bị bắt vào đây đấy."
Anh kể với tôi về anh như vậy và vỗ vai tôi bảo:
- "Cậu cũng Đại uý, tớ cũng Đại uý, hai thằng 'huề' nhé."
Vào tù anh gặp một người bạn chiến đấu cũ làm Phó Giám thị trại giam. Nghĩ lại tình cảm xưa cũ, Phó Giám thị cho anh làm vệ sinh quét dọn trên nhà ban Giám thị trại, và được hưởng quyền ưu tiên của tù tự giác, được đi lại tự do, được đun nấu, ăn uống đầy đủ. Nhưng có một hôm, một cán bộ Quản giáo sai anh làm một công việc gì đó, anh thấy bị xúc phạm, anh cầm chổi ném vào mặt Quản giáo và quát:
"Choa ... vào cái mặt mày. Choa về trại tù đây."
Anh bỏ về trại, không lên ban quét dọn nữa. Về trại, anh không làm gì cả. Cứ ngồi nhà, đun nước pha chè uống, đến bữa, xuống nhà bếp lấy cơm lên ăn no rồi chửi đổng. Không ai làm gì anh cả. Kẻ cả ác ôn Tằng cũng tránh mặt làm ngơ.
Đôi lúc anh nổi cơn lên như hôm nay, anh ra xếp hàng thật sớm, cởi truồng ngồi ngay hàng đầu, cầm cái nón rách che hạ bộ, chờ đến lúc ban Giám thị xuống thì anh bỏ cái nón ra để cho các vị ấy xem.
Và câu chuyện đã xẩy ra ầm ĩ như trên. Xong rồi cũng yên, nhưng không khí trang nghiêm thì không còn nữa. Ác ôn Tằng xuất hiện. Hắn giận lắm, giận lắm đấy. Không rào trước đón sau gì. Hắn đọc:
"Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc.
Lệnh kỷ luật: Lâm Đình Túy.
"Cùm một chân. Ắn chín cân."
ooo
Nhưng rồi ngày tận số của ông Lâm Đình Túy cũng phải đến. Vào ngày Lễ Giáng Sinh năm 1973, ông đã bị chết sau một trận đòn của bọn cai tù.
Trong cuộc suy niệm về 14 chặng đường Thánh Giá tại Roma vào tối Thứ Sáu Tuần Thánh 21.3.2008, Đức Hồng Y Trần Nhật Quân, Giám Mục Hồng Kông, đã nói:
"Qua đau khổ của các vị tử đạo, Giáo Hội được chúc phúc; xin cho máu của các vị là hạt giống cho những người Kitô hữu mới. Chúng ta mạnh mẽ tin rằng những đau khổ của họ, ngay cả trong lúc bị coi là thất bại hoàn toàn, sẽ là vinh quang thực sự cho Giáo Hội của Người".
Quả thật, chỉ trong 5 năm, số tín hữu công giáo Việt Nam ở trong nước đã tăng khoảng 14,3%.
Xin cho hoà bình được các thiên thần rao truyền trong đêm Giáng Sinh đến trên quê hương chúng ta.
Lữ Giang
Bất chợt, mở website vnfa.com, chúng tôi đọc được một số câu chuyện thương tâm về thân phận của những người bị chế độ cộng sản nghi ngờ và những người tù miền Bắc trước năm 1975 do ông Kiều Duy Vĩnh kể lại.
Ông Kiều Duy Vĩnh là một cựu đại úy trong Quân Đội Viễn Chinh Pháp đã ở lại miền Bắc sau năm 1954. Năm 1960 ông bị bắt vì tội "phản cách mạng" và bị giam giữ đến năm 1971
Năm 1972, khi Mỹ dội bom miền Bắc để làm áp lực buộc Hà Nội phải trở lại bàn hội nghị ở Paris, ông Kiều Duy Vĩnh lại bị bắt lần thứ hai cùng với nhiều người khác.
Ở miền Bắc, mỗi khi có biến cố gì xẩy ra, công an thường đi lùa những thành phần bị coi là nguy hiểm, nhất là những người có tham gia vào các hoạt động tôn giáo, đưa vào những nơi giam giữ để dễ kiểm soát. Chúng tôi nhớ lại năm 1976, khi chúng tôi được đưa ra giam tại trại Thanh Cẩm ở Thanh Hoá, chúng tôi khám phá ra tại đây còn có khoảng 170 giáo dân miền Bắc bị giam giữ từ năm 1970, mặc dầu không có tội gì cả. Theo họ kể lại, có những nơi chính quyền còn giúp tiền bạc cho giáo xứ tổ chức rầm rộ các ngày lễ tôn giáo để xem những ai thuộc thành phần tích cực, sau đó họ bắt những người này. Toán giáo dân nói trên về sau được chuyển qua trại Thanh Phong và phải đến năm 1983, tức 13 năm sau, họ mới được phóng thích.
Ông Kiều Duy Vĩnh đã tường thuật lại trường hợp của một người được ông coi như là một "Đức Thánh Tử Vỉ Đạo thứ hai" mà ông đã chứng kiến trong các trại tù cộng sản. Đó là ông Lâm Vĩnh Thúy. Ông Thúy đã bị chết vào ngày Giáng Sinh năm 1973, sau một trận đòn của bọn cai ngục.
Mặc dầu bị Cộng Sản hành hạ và đối xử tàn tệ trong hơn 15 năm, ông Kiều Duy Vĩnh đã tường thuật lại những câu chuyện mà ông đã chứng kiến một cách ung dung, khách quan, không để cảm xúc và long hận thù chi phối. Đây là những câu chuyện sẽ được ghi vào lịch sử.
Nhân mùa Giáng Sinh sắp đến, chúng tôi xin mời đọc giả đọc câu chuyện "Đức Thánh Tử Vì Đạo Thứ Hai mà tôi được gặp" của ông Kiều Duy Vĩnh để vinh danh những người anh hùng và tưởng nhớ đến những ngày đen tối trên đất nước chúng ta.
NHỮNG NGÀY ĐỊNH MỆNH
Đức thánh thứ nhất là tu sĩ Đỗ Bá Lung từ Ngọc Đông, Hưng Yên, đã chết ở Cổng Trời, còn đức thánh thứ hai này thì bị Quản giáo tù VC bức hại tàn ác dã man ở trại Phong Quang, Lao Kay.
Ngài tên là Lâm Đình Túy, người Nam Hà, giáo dân địa phận Bùi Chu. Đức thánh này quyết liệt hơn, dứt khoát hơn, những điều mà Ngài Lâm Đình Túy làm thì chỉ có một không có hai, trước không có và sau này cũng không thể có. Trước Ngài, chúng ta ai cũng ngả mũ cúi đầu kính cẩn nghiêng mình.
Tháng 5 năm 1972, Mỹ bỏ bom lại miền Bắc Việt Nam. Ngày 10 tháng 5, cầu Long Biên lại bị đánh sập. Đến chiều ngày 11 tháng 5, 1972, tôi lại bị bắt lần thứ hai với tội phản cách mạng. Điều này không có gì là bất ngờ đối với tôi cả. Tôi đã chờ đợi nó từ năm 1971. Khi Tổng thống Mỹ Nixon cho trực thăng đổ bộ xuống trại tù binh Mỹ ở Sơn Tây để hòng cướp lại các phi công bị bắt, tôi đã thấy tôi bị theo dõi từng bước. Luôn có một cái đuôi theo tôi.
Và đến năm 1976, khi cầm lệnh tha, tôi đọc thấy quyết định bắt tôi kể từ tháng 6 năm 1971, thế mà mãi đến một năm sau tôi mới bị bắt kể cũng hơi muộn. Thiếu tá Công an Cường, thường gọi là Cường cao, trực tiếp tới bắt tôi ở quê ngoại tôi: thôn Đông, xã Hội Xá, Gia Lâm, nơi gia đình tôi chạy bom sơ tán về đó. Lúc Công an xộc vào nhà, tôi đang sửa soạn đi tắm. Tôi cười, bảo với Cường cao là để tôi tắm xong rồi hãy bắt đi.
Cường cao rất tử tế bảo:
- "Thôi, anh Vĩnh vào Hỏa Lò rồi hãy tắm."
Tôi bảo:
- "Vào đó phải đến ngày đầu tháng mới được tắm chứ."
Cường cao bảo:
- "Tôi hứa là sẽ để anh tắm trước khi vào xà lim."
Mẹ tôi và vợ tôi gào lên:
- "Tội tình gì mà lại bắt người ta. Sao mà tàn ác thế. Đã giết người cướp hết của cải rồi mà vẫn không buông tha."
Cường cao ôn tồn bảo với vợ tôi:
- "Chị bình tĩnh lại, yên tâm. Khi nào Mỹ chấm dứt bỏ bom chúng tôi sẽ cho anh ấy về."
(Thế mà mãi đến năm 1976 sau khi chiếm được Sài Gòn một năm, họ mới tha cho tôi về).
Tôi mặc quần áo đi theo Cường cao, ra đầu làng lên xe vào Hỏa Lò, vào ngục Cửu U vì phải đi qua chín lần cửa mới tới xà lim giam tôi. Với tôi Hỏa Lò quen thuộc quá. Tôi đã trải qua tất cả các xà lim ở đó lần bị bắt trước. Giữ đúng lời hứa, trước khi tống tôi vào xà lim, Cường cao bảo Quản giáo cho tôi đi tắm cẩn thận không giục giã gì. Tôi vốn con nhà binh, nên rất bình tĩnh trước mọi hiểm nguy, lần trước cũng như lần này. Tắm xong tôi ung dung tự tại ngồi thở Yoga chờ cơm.
Vì đã được nghe kể và đã rút kinh nghiệm từ lần trước, ngay ngày hôm sau, vợ tôi thăm nuôi tiếp tế cho tôi, muối vừng rất mặn, kẹo bột và chè lam. Mấy ngày đầu tôi không đến nỗi đói, và đã có chiều dài thời gian 10 năm tù trước, đã từng ở Cổng Trời, sức chịu đựng của tôi đã được tôi luyện nên tôi cứ ngồi thở Yoga. Ba bốn ngày trôi qua, chả có ma nào hỏi cung mình cả. Cường cao nghe nói hắc xì dầu lắm, mà sao lại lịch sự tử tế với mình thế.
Trước lúc vào xà lim, Cường cao bảo tôi:
- "Anh chắc phải hiểu chứ, Mỹ lại bỏ bom. Vậy nên bắt lại anh là điều tất nhiên thôi. Chúng tôi buộc phải tháo cái ngòi nổ. Thôi, cứ đi trại ít lâu dừng ném bom là về."
Anh ta lại còn nói tiếng Pháp với tôi nữa:
- "Chắc anh lại mỉa chúng tôi: La Raison du plus fort est toujours le meilleur chứ gì."
Tôi im lặng vào xà lim không trả lời.
Một tuần trôi qua, rồi hai tuần. Cũng không ai hỏi han gì. Mà thực tình ra, còn gì nữa mà hỏi. Lần tù 10 năm trước khai báo ở ty Niết hết rồi. Lần này mới về được ít lâu thì bị bắt lại. Có gì để khai mà hỏi. Cũng mong đi trại cho nó yên một bề thế mà bỗng một hôm, được gọi lên hỏi cung. Mừng quá. Có dịp đi lại ra ngoài thở không khí.
Một cán bộ còn trẻ, ăn mặc chỉnh tề lịch sự. Hỏi toàn những chuyện đâu đâu: Bên Tây, bên Mỹ, bên Thái Lan và miền Nam. Tôi trả lời ấm ớ lửng lơ con cá vàng. Và rồi đột ngột, tôi bảo là quên hết tất cả rồi. Anh ta vẫn rất từ tốn, bảo tôi cố nhớ lại, giúp cho anh ta có thể đánh giá chính xác đúng những con người ở xa xôi đó.
Tôi bảo:
- "Tôi đang đói đây, đang ho lao đây, đang mệt rũ ra đây. Bây giờ là gần 11 giờ trưa rồi, tôi chưa được một hớp nước, chưa được một miếng gì cho vào bụng nên tôi đói lắm, mà dạ dầy đói thì không có tai để nghe. Xin để cho đến chiều hoặc mai. Đưa tôi về xà lim nghỉ thôi."
Tôi tưởng anh ta sẽ nổi cáu. Nhưng không:
- "Thôi được, anh về, mai tôi sẽ gặp lại."
Sáng mai, tôi được gọi lên. Sau khi ngồi vào ghế, anh ta rút trong cặp ra hai cái bánh mì Badega kẹp thịt, một gói thuốc ho Rimifon, một bánh xà phòng thơm đưa cho tôi:
- "Anh ăn đi. Còn các thứ này để dùng khi đi trại."
Giọng nói, ánh mắt đầy sự tử tế. Tôi ung dung ngồi ăn hết hai cái bánh mì và chờ đợi những câu hỏi hắc búa. Nhưng không, thấy tôi ăn xong, anh nói:
- "Tôi đã đọc kỹ hồ sơ lý lịch của anh rồi. Đọc kỹ, nhưng chưa đầy đủ bằng gặp chính con người của anh. Hôm qua gặp, thấy anh nói bị đói và bị ho nên hôm nay tôi đem đến cho anh ít thuốc. Thế thôi nhé. Anh có thể về được rồi."
Và anh ta gọi Quản giáo dẫn tôi về xà lim. Tôi hơi ngạc nhiên trước sự việc đó. Lúc ấy là tháng 5, năm 1972. Năm 1976 tôi được tha, đến năm 1979 tôi đang đạp xe đạp ở phố Lò Đúc thì thấy có người gọi:
- "Anh Vĩnh, anh Vĩnh."
Tôi quay lại không nhận ra ai. Anh ta cười bỏ mắt kính ra, tôi liền nhận ra anh: người cán bộ hỏi cung đã cho mình bánh mì và thuốc.
Tôi mời anh đi uống bia, anh từ chối và bảo:
- "Tôi rất mừng là thấy anh trở về mạnh khỏe thôi, tôi xin lỗi vì có việc bận không đi uống bia với anh được. Chúc anh khỏe và gặp nhiều điều tốt lành."
Tôi cố nài mời anh, anh nhất quyết chối từ, bắt tay xin lỗi và đi. Tôi có hỏi tên anh, anh vờ như không nghe thấy và không trả lời. Cảm ơn anh.
Sau câu chuyện hỏi cung trên, tôi đi trại Vinh Quang (thuộc tỉnh Vĩnh Phú). Gặp lại một số người quen cũ, tay bắt mặt mừng, cứ như là đi phép trở lại đồn vậy. Kể cũng nực cười. Và chính ở trại này, tôi gặp một vị thánh tử vì đạo nữa: Lâm Đình Túy, người Nam Hà, giáo dân địa phận Bùi Chu.
NGƯỜI TU SĨ TÊN HIẾU
Khi tôi lên trại Vinh Quang được ít lâu thì có một tu sĩ tên là Hiếu ở địa phận Thái Bình được thả về tự do. Nhưng chỉ độ ba tháng sau, lại thấy tu sĩ Hiếu bị bắt đem lên trại. Mọi người đều mừng mừng tủi tủi, và cũng coi như tu sĩ được đi phép về. Riêng giáo dân thì hồ hởi lắm. Hỏi ra thì mới biết là khi được tự do, Giáo hội đã phong tu sĩ Hiếu làm Linh mục và khi bị bắt lại, Linh mục Hiếu đã đem theo được "mình thánh" vào trại tù. Các tín đồ Thiên Chúa giáo một mực rất kính trọng Linh mục Hiếu, săn sóc, chăm nom cực kỳ chu đáo, có quà gì cũng đem biếu: một ấm chè ngon, một củ sắn luộc, vài cái bánh ngọt mới được tiếp tế.
Linh mục Hiếu có dáng vẻ một trí thức nho nhã, trắng trẻo, đẹp trai, thông minh, trạc 35 tuổi. Một con người không có gì để chê trách, phàn nàn về mọi phương diện. Ắn ở, ứng xử với mọi người lúc nào cũng khiêm tốn, nhã nhặn tươi cười, hòa đồng với mọi lớp người trong tù không phân biệt chính trị hay hình sự.
Linh mục Hiếu lên trại Vinh Quang lần thứ hai thì được Phó Giám Thị Cự công bố với toàn trại tù là ông cha đạo Hiếu này chính là một tên lưu manh chuyên nghiệp. Mọi người cứ há mồm, ngớ ra không hiểu.
PGT Cự giải thích như sau:
- "Hiếu là một tên vốn lười biếng, thích ăn ngon mà không thích lao động, một tên ăn bám xã hội, trông mẻ người anh ta thì thấy ngay là loại ăn trắng mặc trơn, ăn ngon mặc đẹp nên đi tu, làm nghề tôn giáo, lừa bịp các giáo dân để kiếm ăn. Thử hỏi, dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa của chúng ta, những người yêu lao động có thể nào chấp nhận phần tử ăn bám đó. Trí thức như Hiếu, thì giá trị không bằng cục cứt (trích Mao Trạch Đông), mà trí thức gì cái anh ta: Học được mấy chữ "la tanh tưởi" đến nhà thờ rao giảng, lẽ thường ra khấn khứa thì cứ theo như lối Việt Nam ta: gần bay là xa bay bổng mời các cụ về hưởng lộc cho con cháu. Nhưng y lại không khấn khứa như thế, y nói: 'Ca tê riom, ca thế dran,' ra cái điều cao siêu bí hiểm, nó có cái quái gì là bí hiểm đâu, nó là: cá trê rán, cá trê om nói trệch đi, thế thôi. Đấy y lừa bịp các giáo dân như vậy đấy. Chỉ để kiếm miếng ăn như mấy lão thầy cúng chập chững ấy mà. Lần thứ nhất đã bị bắt tưởng vào tù đã cải tạo được, nên tha cho về làm người lương thiện. Nhưng vẫn chứng nào tật ấy, ngựa theo đường cũ, lại tiếp tục hành nghề nên phải bắt lại lần thứ hai. Như thế là y đã tái phạm nhiều lần. Vậy thì y đích là tên lưu manh chuyên nghiệp rồi còn phải thắc mắc gì nữa."
Phó Giám Thị Cự nói trơn tru láo liên như vậy với bộ mặt xám và lạnh, tù nghe không một ai dám cười cả. Còn tôi, tôi cứ ngớ cả người ra. Đến ngay cả ở trại Cổng Trời cũng chưa thấy giám thị, quản giáo nào dám giải thích như vậy cả.
Hắn nói gì thì mặc hắn, chúng tôi để ngoài tai. Nhưng với ông Lâm Đình Túy, thì những điều mà Phó Giám Thị Cự nói làm ông khó chịu. Và ông lại tỏ vẻ khó chịu hơn khi thấy các giáo dân cứ quây quần quanh Linh mục Hiếu để ăn uống, quá chu đáo.
Thế rồi một ngày Chủ Nhật nghỉ, nhân lúc các tín đồ và Linh mục Hiếu đang ngồi ăn uống chuyện trò vui vẻ thì bác Lâm Đình Túy xuất hiện. Bác đứng trước mặt Linh mục Hiếu, chỉ tay nói với giọng giận dữ, Bác đọc một loạt những câu tiếng La Tinh ở trong Évangile (Bible) cốt để cho Linh mục Hiếu nghe. Tôi không hiểu những lời nói đó có ý nghĩa mạnh mẽ ra sao, nhưng tôi thấy Linh mục Hiếu tái mặt đứng dậy bảo các con chiên giải tán, và từ đấy không thấy tập hợp nhau nấu nướng ăn uống gì nữa.
Sau chuyện này, cuộc sống ở trại Vinh Quang cứ lặng lẽ trôi. Có điều đối với riêng tôi, một đối tượng cần phải chuyên chính đàn áp thì mũi dùi của Phó Giám thị Cự luôn chĩa vào tôi. Vợ tôi lên thăm nuôi tiếp tế bị đuổi về không cho gặp và nhận.
Thỉnh thoảng tôi lại bị gọi lên lục vấn, chấn chỉnh đe dọa, và những buổi nói chuyện ở Hội trường đều bóng gió nói đến tôi: liệu hồn mà chịu phép cải tạo. Tôi được phân công vào toán già đan lát cùng với bác Lâm Đình Túy.
THÁNH TỬ ĐẠO LÂM ĐÌNH TÚY
Bác Túy gầy yếu xanh xao. Rất ít nói. Nhìn bác, tôi lại nhớ đến tu sĩ Đinh Hiền Lương, dòng tu ép xác Châu Sơn, tù ở Cổng Trời với tôi và đã chết. Đầu cũng cắt ngắn gần như trọc, cả ngày chả nói một câu chuyện, cứ ngồi yên lặng lẽ nhìn, nhìn đấy mà chả nhìn thấy gì cả. Nhưng có một điều rất khác. Rất khác là khi làm việc thiêng liêng, bất cứ vào thời điểm nào, ngay cả trong lúc đang làm việc ở ngoài đồng, ngoài trại, bao giờ bác cũng quỳ xuống, kính cẩn cúi đầu như ở trong nhà thờ làm lễ. Bác để hết tâm trí vào việc cầu nguyện, lúc đó coi nhưng không còn ai ở xung quanh, kể cả Giám thị trại, Quản giáo, lính coi tù, bác vẫn quỳ xuống nguyện cầu, ngang nghiên làm như thường. Mà có cái lạ nữa là những Giám thị và Quản giáo không làm gì để ngăn cấm bác cả.
Khi tôi lên trại tù Vinh Quang thì mọi việc đã diễn ra như vậy rồi, và vẫn tiếp tục diễn ra như vậy, mọi người đều cho đó là một chuyện bình thường làm tôi rất ngạc nhiên khi tôi đem so sánh với những chuyện đã xẩy ra ở trại Cổng Trời lần tù trước (1960-1970). Tôi có tò mò hỏi một giáo dân cùng quê cùng xứ đạo với bác Túy thì giáo dân đã cho tôi biết là từ khi bị bắt lên đến trại giam Nam Định bác đã làm như thế rồi. Giam mãi ở xà lim, cùm mãi rồi lại phải thả ra, bác vẫn cứ thế. Cuối cùng, các ban Giám thị ở trại dưới đành chịu thua bác, đành để Bác như vậy, cho đi cùm ở xà lim thì chính ban Giám thị lại mắc mưu của ông ta, ông ấy chỉ thích nằm xà lim thôi. Không bị ai quấy rầy, lại cơm bưng nước rót, cùm thì chân ông ấy chỉ bằng cái que tăm ấy, có cùm thì cũng như không. Thế là ban Giám thị lại lôi ra bắt đi làm. Ông đi ra, nhưng không làm gì cả. Đến chỗ làm là ông ngồi vào một góc rồi quỳ xuống cầu kinh. Xong thì lại ngồi im lặng nhìn. Rồi đi về trại. Thế thôi. Chắc là họ đã họp lên, họp xuống nhiều lần lắm rồi, để tìm ra một đối sách trị ông. Kết quả: là cứ đành để mặc ông ta như vậy. Nếu không chỉ còn một cách là giết ông đi mà thôi. Thời điểm giết ông thì chưa đến. Nên mặc nhiên ông là người độc nhất trong trại được hưởng quyền ưu tiên như vậy.
Năm 1972 tôi lên trại Vinh Quang gặp ông, đã thấy ông như vậy. Cũng như tu sĩ Đinh Hiền Lương, ông rất ít nói, ông hay ngồi tĩnh lặng để nghe và nhìn, và chắc ông nhìn và nghe được nhiều điều lắm, nên ánh mắt ông nhìn tôi có rất nhiều thiện cảm. Chắc hẳn ông biết tôi đã đi tù nhiều năm, đã từng ở Cổng Trời, nên đôi lúc có trao đổi với tôi một vài điều, chứ không phải là một vài câu chuyện, tỷ như:
- "Trước ông Vĩnh có ở Bùi Chu à?"
- "Vâng, năm 1951-1952 tôi có đóng quân ở Hành Thiện ở cùng với Tiểu đoàn Công Giáo số 16. Tôi đã có hân hạnh được gặp Đức Giám Mục coi sóc địa phận Bùi Chu, Đức Cha Phạm Ngọc Chi."
Lần sau ông hỏi tôi:
- "Ông có ở tù cùng với cha Hân không?"
- "Có, tôi có được gặp cha Hân và được chứng kiến cái chết của cha Hân ở trong tù."
Lần sau nữa:
- "Ông cũng có biết tu sĩ Đinh Hiền Lương dòng ép xác Châu Sơn à?"
- "Vâng, tôi có ở tù cùng với tu sĩ Đinh Hiền Lương và tu sĩ Lương đã chết ở Cổng Trời rồi."
Ông hỏi ngắn gọn có thế, và chỉ cần tôi trả lời có thế, và thế là đủ. Đã là tù thì phần lớn đều phải thấy rằng:
Thứ nhất được tha, Thứ nhì tiếp tế, Thứ ba "ăn mềm" (thịt). Được gọi ra tiếp tế, mừng ra mặt. Bồn chồn mong cho chóng đến lượt mình để được gặp người thân và được ăn no. Thế mà có lần tù ở phòng tiếp tế thăm nuôi vào gọi đích danh Lâm Đình Túy ra gặp người nhà. Ông ngước mắt nhìn lên không đáp lại. Người gọi là một tù hình sự nên anh ta văng ngay ra:
- "Đ..., còn chần chờ gì nữa. Nhiều lắm, thấy một gánh nặng cật lực. Nhanh lên đi."
Ông lại ngước mắt nhìn, không nói năng gì. Và rồi ông không ra gặp người thân để nhận đồ tiếp tế. Ở đôi mắt hiền từ của ông, tôi thấy ánh lên một điều quyết định gì đấy, nó giống như ánh mắt của tu sĩ Đỗ Bá Lung ở Cổng Trời nhìn anh em trước khi đi xà lim và chết!
Thế rồi tháng 12 năm 1972, Mỹ bỏ bom B52. Tôi và một số phần tử nguy hiểm, trong đó có ông được lọc ra dẫn vào trại C sâu ở trong núi. Chúng tôi bị lùa tuốt vào một hầm ngầm đào sâu dưới lòng núi. Nếu bom Mỹ mà bỏ gần đấy, hầm sập là chết hết khỏi phải chôn. (Cái hầm này gần chỗ xà lim, giam phi công Mỹ, anh Phan Hữu Văn biết rất rõ vị trí này).
Được vài ngày, thấy tình hình quá căng thẳng, họ vội vã chuyển chúng tôi lên Lao Kay ở trại Phong Quang. Hết Vinh Quang rồi lại Phong Quang. Sao mà họ khéo đặt tên hay đến thế cho các nhà tù ở miền Bắc này. Nào là: Thanh Cầm Thanh Hóa: Đàn xanh, nào: Ba Sao Nam Hà: Ba vì sao sáng, nào: Hồng Ca Yên Bái: bài ca mầu hồng. Trại Ngọc: Ngọc ngà châu báu. Yên Hòa Phú Thọ: Yên vui hòa thuận. An Thịnh Tuyên Quang: An ổn và thịnh vượng.
Đi tù mà Vinh Quang, và ở chỗ Phong Quang thoáng mát, thì nhất rồi còn phải kêu ca phàn nàn gì nữa. Nhưng thật ra cái nhà tù Phong Quang này ở tít trong cùng tận của rừng xanh, núi đỏ, sát biên giới Việt - Trung nơi tận cùng của đất nước mà lại là Phong Quang thì cái tài dùng "mỹ từ pháp," tài lừa bịp đã đạt tới mức siêu đẳng rồi.
Chúng tôi được chuyển từ trại Vinh Quang lên Phong Quang, Lao Kay. Lên đến trại vào quãng nửa đêm. Trại ở sâu trong rừng và cũng phân ra A, B, C. Vì trại Cổng Trời được phong "Anh Hùng" nên các trại dưới đều phải học tập rút kinh nghiệm để noi theo.
Và nếu ta cho điểm Cổng Trời là 10 thì Phong Quang cũng được 7 hoặc là 8. Ở đây cũng ghê lắm. Có một Quản giáo ác ôn tên là Tằng, người Thái Bình, mặt da tai tái, mắt ti hí mắt lươn lại hơi toét, to béo, khỏe mạnh, vũ phu, tướng của một tên côn đồ đứng bến xe, cười cười nói nói, chuyên gọi tù bằng thằng. Khi cần, môi mím lại, mặt tái dại hẳn đi, lúc ấy là có chuyện giết người đấy.
Chúng tôi đến trại được Quản giáo Tằng tiếp đón chu đáo: đèn pin dọi và mặt từng người, tay thọc ngay vào hạ bộ chộp lấy sờ nắn, khám xét.
- "Thôi được, vào ngủ đi. Sáng mai sẽ hay." Hắn bảo thế.
Và sáng hôm sau, tôi được chứng kiến một điều mà hai lần tù gần 15 năm tôi chưa thấy bao giờ, trước không có và sau này cũng khó có. Một chuyện động trời.
ooo
Quản giáo ác ôn Tằng, cầm bản danh sách tù đi đầu, theo sau lưng là một tiểu đội súng ống và một lũ tù hình sự tay sai làm trật tự viên trong đó có một tên hung ác nhất tên là Nhạn, người Hải Phòng.
Theo thường lệ, tù được gọi đến tên, ôm đồ đạc ra trước mặt Quản giáo, rồi để những tù hình sự trật tự viên lục lọi khám xét. Lần lượt như vậy. Cho đến lúc gọi tên Lâm Đình Túy. Không thấy trả lời. Ác ôn Tằng cao giọng đến lần thứ ba rồi cáu quát:
- "Nó đâu? Thằng Túy đâu. Câm hả."
Trong lúc khám xét ai cũng lo lấy thân mình trông lấy đồ đạc của mình. Cũng chẳng biết ông Túy ở đâu để mà giúp đỡ cả. Lúc đó ông Túy đang quỳ ở một góc để làm việc thiêng liêng. Cũng như ở các trại dưới, như ở trong nhà thờ, ông quỳ xuống cúi đầu nghiêm chỉnh, đàng hoàng, đĩnh đạc cầu nguyện thành kính. Với ông lúc ấy không có ai ở chung quanh, không có chuyện gì xảy ra cả. Vì mới đến hồi đêm, nên chưa kịp bàn giao những gì chi tiết, và cũng chưa có thì giờ để đọc hồ sơ lý lịch từng người nên hắn, Quản giáo ác ôn Tằng, cực kỳ giận dữ trước sự việc dám coi thường hắn đến như thế.
Hắn đã gọi, gọi đến ba lần mà thằng tù không thèm đáp lại. Lâu nay có thế này bao giờ đâu: hắn nói mọi người phải răm rắp tuân theo, bây giờ lại có một thằng tù chính trị dám coi thường hắn. Ác ôn Tằng lừ lừ đi đến. Sau này tôi mới được biết là tù ở đây sợ hắn như cọp, hắn đánh tù không tiếc tay, tự tay hắn đánh, mệt, hắn sai tù tay sai đánh tiếp cho hắn xem cho hả lòng ác độc và đánh cho đến chết. Có một tù hình sự còn trẻ, không biết lúc hắn đi qua, đùa với bạn, giơ tay giả làm súng bắn, miệng kêu: tằng, tằng, tằng. Thế là phạm húy, bỏ mẹ rồi. Hắn gọi ra cho ăn đòn và ít lâu sau ngấm đòn chết. Thành ra ai cũng sợ. Nhìn thấy hắn là sợ rồi. Con người hắn toát ra tử khí. Thế mà Lâm Đình Túy lại không biết điều đó.
Hắn lừ lừ đi đến. Hắn nắm gáy ông lôi đứng dậy, ông vốn nhẹ cân và gầy yếu.
- "Mày là thằng Túy. Sao tao gọi mày không trả lời hả?"
Ông nhìn hắn, từ từ quay người đứng thẳng dậy trước mặt hắn. Và thật là bất ngờ đối với tất cả, ông giơ tay tát thật mạnh vào tên ác ôn Tằng, rồi ông lại từ từ quay người quỳ xuống tiếp tục làm công việc thiêng liêng của mình.
Chắc chắn là đối với tất cả những người đi tù ở miền Bắc này, từ xưa cho tới lúc ấy chưa có ai, chưa có bao giờ một người tù dám tát vào mặt Quản giáo hay một người lính coi tù cả. Điều này xẩy ra ngoài sức tưởng tượng của ác ôn Tằng nên hắn phản ứng rất là chậm chạp. Hắn đứng yên, hai tay thõng xuống mặt nghệt ra. Chúng tôi ngơ ngác bàng hoàng và chờ đợi. Đây là chuyện động trời ở trong trại tù. Tù đánh Quản giáo. Không phải là chuyện khi bị đánh thì chống lại, đánh lại mà ngang nhiên đánh tát vào mặt. 15 năm tù tôi chưa bao giờ thấy có chuyện ấy xẩy ra: Tù tát vào mặt Quản giáo ác ôn và Quản giáo đứng yên chịu trận. Đối với tù: Quản giáo là chủ nô.
Đôi lúc tôi đã lẩn thẩn nghĩ rằng: Những kẻ nào bất tài, vô tướng, học thì dốt, đầu óc bã đậu, lại lười biếng thích ăn không thích làm nhưng lại muốn làm cha người ta, làm ông chủ người ta thì nên xin gia nhập làm ngành Công an làm Quản giáo coi tù. Làm Quản giáo sướng lắm chứ, có dưới quyền khoảng trên dưới 40 tên nô lệ. Gọi dạ, bảo vâng, sai gì làm nấy. Nếu láo xược, không nghe sẽ có ngay đòn trừng trị của chính Quản giáo, hay nếu không muốn ra tay thì đã có tay sai là mấy tên tù hình sự làm Trật tự viên. Ngoài ra còn có súng của mấy lính coi tù hỗ trợ nữa. Ngày ngày, cắp quyển sách, ngồi ghi ghi, chép chép, đi theo tù đến chỗ làm, chán thì đi tới đi lui bảo ban, sai phái. Hết giờ về, ăn cơm, ngủ. Mai lại thế. Vậy, hỡi ơi, hãy cho con cháu mình, người nhà mình, thằng nào mà ngu đốt đi làm Quản giáo.
Trở lại với ác ôn Tằng. Hắn đứng yên, mất đến gần một phút sau không có phản ứng gì. Lúc ông Túy tát xong, tôi sợ hãi chờ đợi một cuộc đánh đập trả thù tàn bạo. Nhưng không. Quản giáo ác ôn Tằng quay người đi ra cổng trại, theo sau là mấy tên tay sai trật tự viên.
Chúng tôi im lặng ngồi chờ. Độ nửa tiếng sau. Tằng quay vào, mặt tái đi vì giận dữ, cặp mắt ti hí mắt lươn hơi toét không nhìn vào ai. Đến trước mặt mấy cán bộ dưới quyền, hắn ra lệnh:
-"Cho tất cả tù vào trại. Khóa cửa lại. Còn thằng Túy để lại cho tôi."
Chúng tôi lại lếch thếch ôm đồ của mình vào trong nhà. Còn lại một mình bác Túy, bác vẫn bình thản quỳ ở một góc cúi đầu cầu nguyện. Tằng chỉ tay, mấy tên trật tự xông vào khênh bác ra cổng trại.
Mãi đến chiều tối, những thằng ấy lại khênh bác về vứt vào một xó trong trại giam. Người bác rách nát. Nhưng mặt mũi không thâm tím, không chảy máu. Chỉ thấy bác nằm im, thoi thóp thở. Khi chúng quay ra, có mấy giáo dân người đồng hương đến chăm sóc cho bác. Bác nằm im không nói, không ăn. Họ chạy chữa cho bác, và chúng tôi được biết bác bị đánh què chân và gẫy hai cái xương sườn.
Sáng hôm sau chúng tôi lại được lệnh ra sân tập họp sớm hơn mọi ngày. Đến đây tôi xin ngắt quãng để kể một chút về một nhân vật thật đặc sắc mà tôi gặp ở trại Phong Quang này: Anh Hoàng Tiên Như người Nghệ An. Trong đoạn này tôi chỉ kể một chút ít về anh thôi, còn chúng ta phải đi nốt với Đức thánh tử đạo Lâm Đình Túy, người đã vác cây thánh giá của Chúa cực kỳ nặng nhọc và gian khổ này.
Tập họp ngồi đầy đủ ở sân trại. Ban Giám thị và Quản giáo, lính coi tù lục tục kéo xuống. Mọi lần bình thường thì không có ban Giám thị, chỉ có Quản giáo và lính coi tù xuống nhận tù đi làm thôi. Vừa mới xuống đến nơi, chúng tôi đã thấy tiếng quát tháo ầm ầm ở phía hàng trên chỗ gần cổng trại. Rồi mấy tay tù trật tự tay sai xông vào đánh đấm lôi một người ra khỏi hàng. Khi người ấy đứng dậy, thì tôi thấy anh cởi truồng... thỗn thện. Cả trại cười ầm lên như vỡ chợ. Hỗn loạn. Đầu thì trọc, mặc một cái áo ngắn cộc rách tơi tả, cởi truồng, vừa đánh trả, vừa chạy vừa chửi. Anh cứ chạy quanh sân trại làm bọn tay sai mãi mới bắt được anh, lôi anh đi vào xà lim. Anh dẫy dụa, lăn ra đất, chửi bới om xòm với giọng Nghệ An:
"Đ.. ch... chúng bây, choa có sợ cái ... choa đây này."
Anh tên là Hoàng Tiên Như người Nghệ Tĩnh, vốn là Đại uý Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Anh Hùng. Anh ở binh chủng Pháo Binh, đã từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Hoạt động cách mạng từ năm 1945 đã từng chỉ huy cướp chính quyền ở tỉnh Nghệ An. Thế thì tại sao anh lại đi tù?
Anh bảo:
- "Tại vì tớ lấy vợ. Vợ tớ là con nhà địa chủ, lại là người theo đạo Thiên Chúa nữa cho nên chi bộ Đảng, cấp trên, chính quyền không cho lấy. Nhưng tớ yêu vợ tớ quá đi mất thôi. Không lấy thì không thể chịu được. Thà chết, thế là tớ cứ lấy. Bị kỷ luật ra khỏi quân đội, tớ theo vợ về xứ đạo, tớ theo vợ tớ thôi chứ tớ không theo Chúa, không theo đạo. Ầy thế mà bị bắt vào đây đấy."
Anh kể với tôi về anh như vậy và vỗ vai tôi bảo:
- "Cậu cũng Đại uý, tớ cũng Đại uý, hai thằng 'huề' nhé."
Vào tù anh gặp một người bạn chiến đấu cũ làm Phó Giám thị trại giam. Nghĩ lại tình cảm xưa cũ, Phó Giám thị cho anh làm vệ sinh quét dọn trên nhà ban Giám thị trại, và được hưởng quyền ưu tiên của tù tự giác, được đi lại tự do, được đun nấu, ăn uống đầy đủ. Nhưng có một hôm, một cán bộ Quản giáo sai anh làm một công việc gì đó, anh thấy bị xúc phạm, anh cầm chổi ném vào mặt Quản giáo và quát:
"Choa ... vào cái mặt mày. Choa về trại tù đây."
Anh bỏ về trại, không lên ban quét dọn nữa. Về trại, anh không làm gì cả. Cứ ngồi nhà, đun nước pha chè uống, đến bữa, xuống nhà bếp lấy cơm lên ăn no rồi chửi đổng. Không ai làm gì anh cả. Kẻ cả ác ôn Tằng cũng tránh mặt làm ngơ.
Đôi lúc anh nổi cơn lên như hôm nay, anh ra xếp hàng thật sớm, cởi truồng ngồi ngay hàng đầu, cầm cái nón rách che hạ bộ, chờ đến lúc ban Giám thị xuống thì anh bỏ cái nón ra để cho các vị ấy xem.
Và câu chuyện đã xẩy ra ầm ĩ như trên. Xong rồi cũng yên, nhưng không khí trang nghiêm thì không còn nữa. Ác ôn Tằng xuất hiện. Hắn giận lắm, giận lắm đấy. Không rào trước đón sau gì. Hắn đọc:
"Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc.
Lệnh kỷ luật: Lâm Đình Túy.
"Cùm một chân. Ắn chín cân."
ooo
Nhưng rồi ngày tận số của ông Lâm Đình Túy cũng phải đến. Vào ngày Lễ Giáng Sinh năm 1973, ông đã bị chết sau một trận đòn của bọn cai tù.
Trong cuộc suy niệm về 14 chặng đường Thánh Giá tại Roma vào tối Thứ Sáu Tuần Thánh 21.3.2008, Đức Hồng Y Trần Nhật Quân, Giám Mục Hồng Kông, đã nói:
"Qua đau khổ của các vị tử đạo, Giáo Hội được chúc phúc; xin cho máu của các vị là hạt giống cho những người Kitô hữu mới. Chúng ta mạnh mẽ tin rằng những đau khổ của họ, ngay cả trong lúc bị coi là thất bại hoàn toàn, sẽ là vinh quang thực sự cho Giáo Hội của Người".
Quả thật, chỉ trong 5 năm, số tín hữu công giáo Việt Nam ở trong nước đã tăng khoảng 14,3%.
Xin cho hoà bình được các thiên thần rao truyền trong đêm Giáng Sinh đến trên quê hương chúng ta.
Subscribe to:
Posts (Atom)
Blog Archive
-
▼
2026
(2386)
-
▼
September
(198)
- Một vụ án đặc biệt nghiêm trọng liên quan trực tiế...
- Tiếng Miền Nam: Tí Nị là gì?Người Miền Nam thiệt h...
- Nhớ BaTấm hình này cũ lắm rồi, màu đã ngả sang vàn...
- NGỌC TRAI ĐEN(Trích Hồi ức Kinh tế mới sau 75) Tác...
- CODEPINK BỊ MỜI RA KHỎI PHIÊN ĐIỀU TRẦN HẠ VIỆN VỀ...
- Ăn Trái Cây Cho Đã Cơn ThèmNhững năm đầu mới qua M...
- “Vũ khí kiểm soát không gian"Hôm qua ngày 15/9, Bộ...
- NASA mới phóng thành công Kính viễn vọng Không gia...
- Trung Quốc đang kiểm duyệt người Cộng hòa trên Tik...
- Nguyên Nhân Chính Mất Miền Nam | 15.09.26
- MỘT SUY NGẪM CÁ NHÂN VỀ SỰ RIÊNG TƯ, CHUYỆN PHIẾM ...
- HẠNH PHÚC TÌNH CỜNgày cô về Việt Nam sau ba mươi n...
- Hở ra là chôm chỉa liềnSáu công ty AI đỉnh cao của...
- HTV Network, một công ty ở Hà Nội, chuyên bơm tin ...
- Đường dây lừa đảo tiền trợ cấp quỹ phúc lợi trẻ em...
- Ngôi sao trẻ đảng Dân chủ Nam California tài tình ...
- Chân dung của một trí thức hôm nayNicole Virzi...
- Kinh xáng và kinh đào - Ngõ hồn đất phương NamỞ N...
- Người hùngVào lúc 0 giờ 30 phút rạng sáng ngày 11 ...
- Đi lối nàyBài viết của Jancee DunnTính đến thời đi...
- GẶP GỠ BUỔI CHIỀU Ở BÙNG BINH NGÃ SÁUChiều âm u, g...
- Nhân Bất Học Bất Tri Lý | 13.09.26
- BẠN BIẾT TRỘM VÍA TỪ HỒI NÀO?Mấy năm gần đây, Toàn...
- Đi chơiChị tên là Lài, 70 tuổi.Cả cái Bệnh viện Bệ...
- ĐỂ NHỚ ĐẾN EM NGÔ ĐÌNH THẨM.MỘT BÀI VIẾT NHẬN THỨC...
- MÃI NỢ MỘT LỜI TẠM BIỆTVới … Mãi Nợ Một Lời Tạm Bi...
- ÔNG TRUMP SA LẦY VÀO TRẬN CHIẾN DÀI HƠI VỚI IRAN, ...
- Sáng nay, New York mưa.Không phải cơn mưa ào xuống...
- Thời khắc quyết định đã đếnElon Musk vừa đưa ra mộ...
- Hoàng Ky`Dù bạn không thích thậm chí gh.é.t lá cờ ...
- TÁC DỤNG CỦA CÀ PHÊ VỚI UNG THƯCác nhà khoa học vừ...
- Căn Nhà Đầu Tiên – Những Cái “Đầu Tiên” Ở Xứ Người...
- “Dĩ mô”Viết đúng là vĩ mô. Vì có một fan hỏi tui v...
- Tiến trình tách khỏi Vương quốc Anh
- "WeWorm"Calif, một công ty an ninh mạng có trụ sở ...
- Luật sư bào chữa cho hoạt động tôn giáo cũng bị vạ...
- Sau khi AI nổi loạn ở Hugging Face thì con sâu WeW...
- Một cựu sĩ quan tình báo cao cấp của nhà độc tài S...
- Nàng đã sa lưới FBIFBI vừa chính thức thông báo đã...
- John Brennan đã khuyên Giám đốc CIA Tenet không nê...
- "Public Charge"Đảng Dân chủ đang vội vã kiện ông T...
- PhiếmCó một người bạn trên Facebook hỏi tôi:“Anh s...
- PHIM “BROKEN COUNTRY” CẢNH CÁO NHỮNG VẤN ĐỀ TẠI CA...
- Ngày giỗ của BaBa rời xa tôi vào năm 1994. Đến hôm...
- NGƯỜI ĐÀN BÀ TỒI TỆ(Mavridika de Monbazon)*Lina là...
- Tin Việt NamSpaceX Starlink mới chính thức trao tặ...
- Công trình khổng lồ trị giá trên $2.5 tỷ đô ở Siha...
- Tin CanadaPhòng bào chế fentanyl lớn nhất Canada t...
- Những nỗ lực nhân đạo của SpaceX/Starlink nhằm giú...
- Từ gái quê Hoa Lục đến nữ trụ trì có biệt thự 40 t...
- Lại thêm một vụ gián điệp Trung Quốc tại DetroitNg...
- ĐI BỘ ...
- BẢN TÌNH CA HẠNH PHÚC*Ban đầu là những lời "phải l...
- THUẬN CẢNH CHƯA CHẮC LÀ PHƯỚC, NGHỊCH CẢNH CHƯA CH...
- Quả báoQuả báo đôi khi đến muộn nên nhiều người lầ...
- MỘT NĂM RỒI VẮNG ANH, CHARLIE KIRK"Hãy biết ơn vì ...
- CẦU ÔNG ĐẠO - ĐÀ LẠT Ai tới Đà Lạt đều đã từng đi ...
- Chữ của Nguyễn Ngọc Tư: Bắc Kỳ lai!Trong bối cảnh ...
- Ứng dụng kết bạn TQ dùng AI sản xuất hàng loạt “ng...
- HẾT DẦU ĐÈN TẮTỞ xã Tân An hồi cuối những năm 80, ...
- TÊN BA TUITên cúng cơm của ba tui là "Lê Văn Chươn...
- LAI RAI BA MÓN BÌNH DÂN Ở SÀI GÒN…Ăn để mà sống, n...
- "Sưu cao thuế nặng"Một ngày đẹp trời mở hóa đơn, n...
- Thấy báo chí thi nhau đăng TT Trump ngủ gụcDu...
- VỀ VIỆT NAM HƯỞNG GIÀ, NGHE THÌ SƯỚNG, NHƯNG CÓ MỘ...
- Tòa Tháp ĐôiCó những tác phẩm kinh điển chỉ thực s...
- BÀI KHÔNG TÊN CUỐI CÙNG CỦA NGÀY 911Vào một buổi s...
- Tôi làm ở tỉnh, sáng sớm, thằng bạn hàng xóm gọi đ...
- Đài tưởng niệm 9/11Trong số gần 3 nghìn cái tên nạ...
- Một Lần Ghé Đảo, Một Ngã Rẽ Cuộc ĐờiMột hôm, đang ...
- Sự Thật chung quanh Hillary ClintonAuthor: Hoàng H...
- Đi Mỹ: Vạn Dặm Tìm ChồngMười năm trước đây, mẹ chồ...
- NGÀY CUỐI..!!!Bà cụ sống tầng dưới đột nhiên đến g...
- MÂM CƠM NGÀY CŨHộ khẩu ghi tám người, nhưng nội th...
- CHIẾC NHẪN VÀ NGÔI MỘ Ở PHƯỚC ĐỒNGCó những ca bệnh...
- Ủng hộ truyền thống, chỉ trích chủ nghĩa xã hội: 1...
- Những ngày cuối cùng của Marlon BrandoMarlon Brand...
- LÃNH ĐẠO MICROSOFT, STARBUCKS, COSTCO VÀ HÀNG LOẠT...
- 5000Tui xem trực tiếp bài diễn văn của dượng. Định...
- Tám Người, Một Căn Nhà Nhỏ Và Những Ngày Đầu Đời T...
- Võ Lâm Ngũ Bá — Hoa Kỳ Sơn Luận KiếmHồi thứ 3Tây H...
- Betty Ong – Người nữ tiếp viên bình tĩnh giữa buổi...
- VỤ HỒ SƠ H-1B BỊ SIẾT CHẶT: BỘ LAO ĐỘNG HOA KỲ ĐÓN...
- VUA TIỆM NAIL, HẢI SA PA… VÀ CÂU HỎI “TIỀN ĐÂU RA?...
- Chả được miếng thịt, miếng xôi thì cũng được lời n...
- Nàng có người yêu rồi các bác ạ. Đừng ai hỏi nàng ...
- Vụ scandal của nhà sư Thái Lan pháp danh Luang Por...
- 权色交易 - Quyền Sắc Giao DịchQuyền Sắc Giao Dịch, một...
- Chiến dịch "Kẻ bị gạt ra ngoài lề kinh tế" (Operat...
- CÁI GIÁ CỦA HAI CHỮ “VIỆT KIỀU”Nhiều người vừa đặt...
- Võ Lâm Ngũ Bá — Hoa Kỳ Sơn Luận KiếmHồi thứ haiGhế...
- Đi Bắt Gian Mà Bị Gian Bắt LạiCó những cái máy sin...
- TƯỞNG NIỆM NGÀY 11 THÁNG 9 CỦA NƯỚC MỸNgày này 25 ...
- “Đi chơi với anh đi. Đến năm 30 tuổi anh sẽ làm CE...
- TẠM BIỆT ĐẢO KHARG: Ông Trump Cuối Cùng Đã Tấn Côn...
- Drone RAVN X của công ty Aevum AerospacePhi trường...
- Lực lượng đặc nhiệm phối hợp giữa FBI và IRS dưới ...
- Gương mặt nhiều triển vọng của đảng Cộng hoà Brand...
- Gian lận ở CaliĐây là Alexander Soofer, kẻ đã thàn...
- Toà phúc thẩm đã huỷ bỏ bản án của toà q...
- MỘT CUỘC ĐỜI ( Hồi ký ) Ngày xưa còn bé, gia đình ...
- Obama, lợi bất cập hại…Theo dõi chính trị Mỹ là mộ...
- Một bản yêu cầu hơn 100 ngàn chữ ký và những lời p...
- SỨC MẠNH LUẬT NHÂN QUẢQuang TửCũng nhờ hai lần gặp...
- CHUYỆN ANH RÔ BE VỀ LÀNGAnh Rô Be mà tui hay gọi l...
- LỚN THUYỀN THÌ LỚN SÓNG(May mắn, tui đứng ngoài rà...
- THỦA BAN ĐẦUSau khi vợ tôi có cái visa cầm trong t...
- Ngày còn trẻ, hắn có một tiêu chuẩn rất rõ ràng về...
- Chè Nước SôiCó những thứ mình tưởng đã gạt lại đượ...
- CHUYỆN BUỒN XỨ ÚCÔng chủ tiệm tạp hoá Hồng Hưng kh...
- Tiểu bang 51 (hết)Thấy bà con quan tâm đề tài này ...
- GIẢI THÍCH THÊM VỀ QUÂN ĐỘI MỸ7/8/2026—-Những ngày...
- HỦY CƯỚI(Valeria V.)*Dọn dẹp tủ đồ, tôi tìm thấy ...
- Nói tiếp chuyện chữ nghĩaBây giờ chỉ cần thấy lỗi ...
- HAROLD HOLT – VỊ THỦ TƯỚNG BƯỚC XUỐNG BIỂN RỒI BIẾ...
- CÀ PHÊ DINH ĐIỀN PLEIKU – KHÓI THUỐC BAY VỀ TỪ MỘT...
- Một chiến lược trộm công nghệ cao của Trung Quốc: ...
- CÔNG TỬ BỐThập niên sáu mươi, Sài Gòn tràn ngập nh...
- HÒN CỔ TRONÔng Từ Thông ra hòn Cổ Tron cất chòi mà...
- Hai công dân gốc Nigeria Lukman Owolabi Ganiyu và ...
- Một Lời Xin Lỗi Thu năm 1990, nhóm tôi gồm sáu ngư...
- Hồn Ma Xứ PhápChiều thứ bảy 26/3/2011Rời khỏi p...
- ĐAN MẠCH VÀ 4 QUỐC GIA ÂU CHÂU THỐNG NHẤT LẬP “TRU...
- YÊU XANgười ta nói mạng là ảo nhưng cái thời mà tô...
- TẠP GHI : EM ƠI, SÀI GÒN XÓMNhư NguyễnĐừng quên ph...
- Bài Ca Không TênCó những chuyện trong đời, người t...
- Người tị nạn Việt Nam tai IsraelVào tháng 6 năm 19...
- Viết Lách Vớ Vẩn... Rồi Thành Nhà VănTheo thủ tục ...
-
▼
September
(198)