Wednesday, September 16, 2026

NGỌC TRAI ĐEN

(Trích Hồi ức Kinh tế mới sau 75) 

Tác giả: Hoàng Kao - 

Rừng nguyên sinh thời đó có nhiều loại trái cây ăn được, dù không phải ăn no, mà chỉ ăn giải trí cho vui. Có một loại trái mà chị em phụ nữ ở thành phố rất thích ăn. Đó là trái Xay, loại trái chỉ lớn bằng ngón tay có vỏ đen mịn như nhung, khi trái còn non thì ruột xanh, nhưng khi chín trong ruột chuyển sang vàng nâu. Có vị chua và ngọt, phảng phất mùi thơm nhẹ đặc trưng của loại trái rừng này. Cây Xay mọc trong rừng sâu. Thân cây cao vài chục mét và thẳng tắp. Gỗ Xay thì thời đó không búa rìu nào chặt nổi vì nó cứng như thép. Thường vào mùa xay, người đi khai khác chỉ trèo lên ngọn cây, rồi mé( chặt) từng cành chi chít trái chín cho rơi xuống, và người bên dưới chỉ việc tuốt trái cho vô bao là xong. Công việc đơn giản nhưng, cũng có tai nạn khi lỡ sẩy tay rơi từ ngọn Xay vài chục mét xuống đất coi như " Xuân này con không về..." 

Mùa Xay chín hình như vào tháng 6 hay tháng 7(tôi không nhớ rõ lắm). So với việc chặt củi hay làm lò than thì việc hái Xay nhàn hơn nhiều. Và một gánh Xay bán cũng nhiều tiền hơn gánh củi. Nhưng trên kinh tế mới thời đó rất ít người có kinh nghiệm đi rừng và biết khi nào Xay vào mùa trái chín. Vậy mà bác Mười hàng xóm với ba tôi, ổng lại rành từ việc đi rừng tìm chỗ có cây Xay, cho đến việc trèo lên cây cao mấy chục mét. Tối hôm đó, khi lai rai xị nước mắt quê hương với ba tôi. Bác Mười bỗng nói: Nay đang vô mùa Xay, tụi mình đi hái ít ngày kiếm tiền. Tôi dẫn bà xã với đứa con gái đầu và thằng Mạnh đi theo. Còn anh với thằng Hoàng chuẩn bị 4 cái bao và đòn gánh để tuốt trái. Ba hỏi: Anh tính khi nào đi? Ba Mười cầm chung rượu ực 1 phát gọn hơ. Rồi thủng thẳng nói: Khuya nay lên đường, vì Xay nó mọc tuốt trong rừng sâu nên cần đi cho sớm. Hái xong còn về trong ngày. Hai cha con nhớ giở cơm theo ăn sáng và ăn trưa luôn. 

Ba quay sang tôi đang ngồi chơi gần đó: Con vô lấy bơ gạo bắc lên bếp. Để chút ba làm cơm vắt mai đem theo. Nấu xong rồi đi ngủ mai còn đi sớm. Tôi vô lấy gạo ra đãi, xong nhóm lửa bắc lên bếp. Canh khi cơm gần chín, tôi lấy vài cục than hồng bỏ lên cái nắp xoong. Vậy là xong nhiệm vụ, tôi lên giường và đánh thẳng giấc. Không biết mấy giờ sáng, nhưng khi tiếng gà rừng cất lên đâu đó bên vạt rừng thưa là ba đánh thức tôi dậy. Ba đã chuẩn bị sẵn hành trang. Bên nhà bác Mười cũng đã dậy từ khi nào. Có tiếng bác hỏi vọng sang: Cha con chuẩn bị xong chưa để lên đường cho sớm! 

Lát sau, 4 người nhà của bác Mười đã đứng trước ngõ và chúng tôi bắt đầu khởi hành. Trời hãy còn tối thăm thẳm, sương mù giăng giăng trên đầu và trên con đường đất nhiều dốc cao, dốc thấp... Hành trang mỗi người mang theo gồm những cái bao, loại bao gạo 50kg. Dụng cụ là rựa chặt cây, thức ăn chỉ cơm vắt trong lá chuối, cùng ít muối hột giã với ớt xiêm và ít cá khô. Không mang theo nước, vì trong rừng luôn có sẵn nước suối tinh khiết miễn phí. Ra tới con lộ chính, bác Mười đi đầu trực chỉ về hướng Tây. Chúng tôi như những bóng ma rừng lầm lũi đi, lâu lâu chỉ có ba và bác Mười trò chuyện dăm câu. Nhớ lại những năm trước 75, khuya khoắt vầy là giờ tôi còn ngủ khò trên giường, chứ có đâu lọ mọ gồng gánh trên con đường xa hút dẫn về những cánh rừng u thẳm hãy còn tối tăm trong màn đêm và sương ngàn lạnh buốt da thịt. 

Mờ mờ sáng, chúng tôi tới chân núi, trước mặt là cánh rừng và con suối chắn ngang. Bác Mười dừng lại ven bờ suối có vạt đất trống. Bác nói: Nghỉ tạm ở đây ăn sáng xong xuôi rồi lên đường. Còn xa lắm mới tới! Chúng tôi lấy cơm ra ăn chung với nhau. Tuy 2 nhà, nhưng đồ ăn hệt nhau. Cũng muối ớt cùng vài con khô cá trích nướng và những nắm cơm vắt cứng như đất sét nén. Vừa ăn, tôi vừa hỏi: Rồi chừng nào mới tới vậy bác? Bác Mười đáp tỉnh bơ: Chỉ chừng nửa cái rựa là tới thôi! Bác dùng cách nói của người Thượng khi họ ước lượng khoảng cách đường đi. 

Ví dụ: Khi họ nói từ đây tới đó khoảng 1 rựa. Thì phải hiểu là đi gần 1 ngày mới tới. Còn chỉ nửa rựa là ít gì cũng vài ba tiếng đi đường. 

Lý do: Thường đi rừng hay cầm cái rựa để lên vai mà đi. Hễ mỏi vai này thì đổi sang vai kia. Cái rựa thì nhẹ hều, để nó trên vai mà chờ mỏi rồi sang qua vai kia phải mất vài tiếng đồng hồ. Cho nên khi nghe bác Mười nói vậy thì tôi áng chừng khoảng gần trưa mới tới chỗ có Xay. 

Cơm nước xong, nghỉ thêm chút xíu rồi 6 người chúng tôi tiếp tục lên đường. Con suối mùa này nước chỉ ngang bắp đùi nên lội qua dễ dàng. Nước suối vào buổi sáng sớm lạnh hệt nước đá. Chúng tôi tiến sâu vô rừng, con đường mòn nhỏ dần, nhỏ dần... Rồi có lúc hiện ra mờ mờ, rồi lại mất. Bác Mười đi vài chục bước lại bẻ 1 ngọn cây nhỏ quay đầu về hướng ra. Tôi hỏi: Bẻ ngọn cây chi vậy bác? Bác vừa bẻ 1 nhánh cây nhỏ vừa đáp: Làm vầy để khỏi sợ lạc, cứ đi theo hướng ngọn cây tao bẻ là ra khỏi rừng. Bài học sinh tồn đầu tiên của tôi khi đi rừng là bẻ nhánh cây là dấu. Những người từng sống với rừng ngoài kinh nghiệm thì họ còn có những kỹ năng sinh tồn trong rừng thẳm nếu chẳng may bị lạc( chuyện xui rủi mất mạng vẫn có, nhưng cứ làm hết khả năng và những gì mình biết). 

Tôi như chú chim non mới ra ràng mà bị lọt tuốt vô rừng sâu. Đi theo người lớn học hỏi, ghi nhớ để phòng thân. Như biết cách lấy nước uống tạm từ loại dây rừng có tên là dây Máu hay dây Mấu, hoặc chặt những cây lồ ô bị sâu đục thân... thế nào nước mưa cũng có trong đó để có thể uống tạm. Rồi biết vài loại trái rừng có thể ăn, và tránh những trái cây độc, cả những loại nấm rừng. Chúng tôi cứ đi hoài trong rừng già, khi tới một chỗ hơi thưa cây cối và nghe có tiếng nước chảy róc rách thì bác Mười dừng lại. 

Lúc này mặt trời đã lên khá cao, chắc khoảng chừng 10 giờ sáng. Bác Mười đi trước về hướng tiếng suối chảy, chúng tôi bám theo. Khi đến chỗ quang đãng thì bác dừng lại và biểu nghỉ ở đó để ăn cơm và chuẩn bị hái Xay. Tôi nhìn quanh quất tìm cây Xay. Cách chỗ chúng tôi nghỉ hơn 10m, có vài cây, nhưng có 1 cây khoảng 3 người ôm và thẳng tắp. Tôi ngước mắt nhìn lên. Trên đó là 1 thảm nhung đen tuyền, trái Xay dày đặc. Chúng chín rụng vương vãi gần chỗ chúng tôi. Tôi lượm 1 trái rồi đưa lên miệng ăn thử. Ngon hết sức, vừa mềm vừa thơm nhẹ và có vị chua ngọt. Hèn chi, đúng gu của phụ nữ. 

Bác Mười hối bày cơm ra ăn để còn làm. Có 1 thói quen mà tôi thấy ở bác. Là trước khi ăn, bác hay bốc một nhúm cơm rải gần chỗ ăn. Xong lầm rầm cầu nguyện gì đó. Ăn cơm xong, xuống suối uống 1 bụng nước là no cành hông. Nước suối trong vắt và lạnh tê răng. Tôi tới chỗ cây Xay cổ thụ rồi ngước lên thiếu điều mỏi cả cổ. Nó cao vầy sao mà trèo lên. Rồi thân nó trơn láng toàn rêu xanh... Đang suy nghĩ thì thấy bác Mười và ba tôi ôm mớ dây rừng tới và bắt đầu khoanh dây rừng vòng theo thân cây. Cái rựa được bác Mười cột theo sau lưng. Từng vòng 1 được thít chặt vào cây và lên cao dần. Một cái thang bằng dây rừng đã thành hình. 

Độ hơn nửa tiếng sau thì bác Mười đã ngồi vắt vẻo tuốt trên cao. Bác nói lớn: Ở dưới lo phát bớt cây cho trống chỗ để tao mé nhánh xuống cho dễ tuốt khỏi mắc kẹt trên cây khác! Chúng tôi xúm nhau phát quanh quanh gốc Xay. Chỉ 1 loáng là xong. Tản ra đi! Để nhánh rớt trúng đầu bây giờ! - Tiếng bác Mười trên cao quát vọng xuống. Rồi bác bắt đầu chặt. Tiếng rựa trên cao phập vào nhánh nghe như tiếng con chim gõ kiến mổ cồm cộp liên tục vào thân cây. Những nhánh Xay dày đặc trái lần lượt từ trên cao rơi xuống đất. Cứ thế, hết nhánh này tới nhánh khác thi nhau chất chồng trên đất. Ngọn cây thưa dần, mảng màu đen trên đó cũng trống dần, ánh nắng trưa không bị khuất bởi tàn lá và trái Xay nên rọi thẳng xuống đất. Tiếng bác Mười: Đủ rồi! Tuốt trái cho vô bao đi! Tao xuống đây! Rồi bác đu theo cái thang dây và tuột dần xuống. Tôi nghĩ thầm: Cao như vầy, lỡ sút dây hay tuột tay chắc là.... 

Bác đã xuống tới đất ngồi nghỉ và lấy thuốc rê ra quấn hút. Chúng tôi xúm nhau tuốt trái cho vô bao. Những trái Xay đen mịn như nhung và tròn căng. Vừa tuốt trái, tôi vừa hỏi: Sao mình không chặt cây cho nó ngã xuống rồi lấy trái, chứ leo cao vừa tốn công vừa nguy hiểm quá bác? Bác Mười cười hiền: Ăn nay, chừa mai, thứ nhứt là cây Xay nó cứng như thép, chặt gãy rựa mẻ rìu... hai là, cây Xay cần 50 hay 70 năm mới cho trái. Mình chặt hạ nguyên cây thì chờ kiếp sau mới có trái mà hái. Còn như chỉ mé nhánh nhỏ trên cành, nó ra lại nhánh khác và chỉ 2 hay 3 năm sau lại có thể khai thác. Hiểu chưa mầy? Tôi khâm phục cách suy nghĩ nhân bản của bác Mười quá! Dù ít học hành nhưng có những suy nghĩ mà không phải ai cũng biết và trân trọng rừng. 

Khi tất cả bao đã đầy nhưng vẫn còn rất nhiều nhánh đầy trái nằm la liệt trên mặt đất. Bác Mười nói: Để lại đó, mai bán xong hết mớ này rồi lại đi lấy tiếp. Thôi lo chuẩn bị về chứ trời chiều rồi! Chúng tôi gồng gánh lên vai và bắt đầu rời rừng già, lẽo đẽo gánh theo nhau trên lối mòn khi mờ, khi rõ dẫn ra đường để về nhà. Vẫn bác Mười gánh trước dẫn đầu, chúng tôi bám theo sau mà đi. Rừng chiều hiu quạnh và buồn tênh. Chỉ có tiếng vượn hú dội vào vách núi và tiếng những bước chân nặng nề dẫm trên xác lá khô trong tiếng thở hổn hển vì mệt và trong tiếng kẽo kẹt của đòn gánh trên vai. 

Đến tối mịt, thì cũng đến nhà. Hai cha con lại lo nhóm lửa nấu cơm cho bữa tối. Cơm nước xong, tôi tót lên giường và lăn ra ngủ liền vì quá mệt. Để rồi, nửa đêm khi nghe tiếng gà rừng gáy thì ba lại đánh thức tôi dậy để cùng nhà bác Mười gánh Xay xuống thị trấn bán lấy tiền mua gạo và những nhu yếu phẩm thiết yếu. Mùa Xay kéo dài không lâu, và trong rừng có lẽ vẫn còn rất nhiều Xay, nhưng chúng mọc quá sâu trong rừng ở chỗ chúng tôi không thể đi tới được. Nên chỉ khai thác vài cây gần chỗ cây Xay đầu tiên là chấm dứt. Rồi lại trở về chặt củi, làm than như mọi khi. 

Trái Xay của một thời khó khăn đã hầu như đang hiếm dần. Giới phụ nữ sắp mất đi một loại trái cây để nhâm nhi lúc tụ tập tán chuyện gẫu với nhau. Và không riêng gì trái Xay, những sản vật khác của rừng cũng đã, đang đối diện với nguy cơ tuyệt chủng với tốc độ hủy diệt rừng như hiện nay. 

Chỉ một chữ... Buồn!

No comments:

Blog Archive