ĐÀ NẴNG _ KÝ ỨC KHÔNG QUÊN
Những khi buồn, tôi thường thả tiềm thức bay về thành phố Đà Nẵng. Bởi nơi đây là nơi tôi sinh ra và có nhiều kỷ niệm của một "tuổi thơ dữ dội". Nhưng Đà Nẵng trong ký ức tôi không chỉ là những buổi chiều đá bóng trên sân Chi Lăng, những buổi trưa trốn ngủ đi coi phim ở rạp cinema Trưng Vương hay Chợ Cồn, những lần trốn nhà đi tắm biển ở cầu chữ Y bến Bạch đằng hay những đêm cùng lũ bạn trong xóm đạo Chính Trạch chơi đùa nghịch phá trên sân ga Hoàng Hoa Thám hay con dốc Cầu Vồng.., mà Đà Nẵng còn hiện về trong tôi những cơn ác mộng những ngày cuối tháng 3/1975 kinh hoàng.
Đà Nẵng những ngày cuối tháng 3 ấy không còn là một thành phố biển yên bình dưới con mắt chứng kiến của một đứa trẻ 12 tuổi, mà là một bức tranh loang lổ màu xám đặc quánh của khói súng, màu đỏ của máu và màu bụi mù hỗn loạn.
Khi cơn lốc thời cuộc ập đến Đà Nẵng trong những ngày cuối tháng 3, căn nhà tôi trên đường Thống Nhất (nay là Lê Duẩn) không còn là chốn dung thân an toàn khi nhìn dãy phố với những căn nhà im lìm vì hầu hết đã đi tản cư. Lúc ấy, Đà Nẵng trở thành một cái phễu khổng lồ chứa đựng đầy lính rã ngũ và dân di tản từ Huế, Quảng Trị, Quảng Tín, Tam Kỳ, Hội An....đổ về. Khi những tuyến đường bộ bị cắt đứt, họ đổ dồn về phía các bến cảng với hy vọng tìm về phía Nam.
Và Ba tôi dắt díu Mẹ và 6 anh chị em tôi lao vào dòng người cuồn cuộn. Đó là cuộc đua sinh tử về phía Bến Bạch đằng và cảng Tiên Sa, nơi được coi là lối thoát duy nhất để kiếm được một chỗ ngồi trên tàu vào Nam.
Hành lý gia đình tôi chỉ mang theo những gì gọn nhẹ nhất. Ba thằng em tôi còn quá nhỏ, đứa còn ẵm trên tay và hai đứa bám áo mẹ. Hai Anh chị tôi mang những túi xách nhỏ, còn tôi cầm chiếc va li mới mang từ chủng viện về chưa kịp giở ra.
Chúng tôi đi giữa dòng người hỗn loạn. Đường phố như lên cơn động kinh. Tiếng động cơ GMC, xe Jeep gầm rú, tiếng còi tàu hú vang trời từ phía biển và tiếng chân chạy rầm rập của hàng vạn người. Ba tôi luôn miệng quát:" Đi sát vào nhau, lạc là chết đó!" Đường phố lúc ấy là một cảnh tượng không tưởng tượng nỗi đối với một đứa trẻ 12 tuổi như tôi. Những chiếc xe quân đội, xe hơi, xe gắn máy của dân bỏ lại giữa đường. Những bộ quân phục, mũ sắt giày lính, súng và đạn vương vãi như những mảnh đời vụn vỡ. Người ta không còn đi nữa, mà là bị cuốn trôi đi trong dòng người chen lấn, dẫm đạp nhau tìm đường sống.
Bước chân tôi run rẩy giữa những rác rưởi chiến tranh, đạp lên những vũng máu và trong tiếng khóc than của những đứa trẻ lạc gia đình.
Khi đến ngã ba Sơn Chà, ba tôi để gia đình ngồi nghỉ bên vệ đường vì họ đã quá đói và mệt. Ông vứt bỏ chiếc Honda bên lề và dắt tôi đi tìm đường.
Khi đến Bến Bạch đằng và rồi đến Cảng Tiên Sa, cảnh tượng càng kinh hoàng hơn. Bến cảng vốn yên bình trở thành chiến trường của sự tuyệt vọng.
Các tàu lớn và xà lan đậu ngoài xa xa vì không cập sát bờ được, nên lính và dân tìm cách tiếp cận. Họ thuê hoặc cưỡng đoạt những chiếc ghe thuyền nhỏ để ra tàu lớn. Nhưng những chiếc ghe này thường bị lật úp giữa dòng vì quá tải người đu đeo ngay khi kịp tới đích. Nhiều người liều mình bơi ra với những chiếc can nhựa làm phao. Tại mạn tàu lớn, họ bám vào lưới bện hoặc dây thừng để leo lên. Không ít người đã tuột tay rơi xuống biển từ độ cao hàng chục mét hoặc bị cuốn vào chân vịt của những con tàu đang nổ máy rời bến.
Các chiến hạm hải quân và các tàu buôn dân sự quá tải đến mức người bám đen kịt từ sàn tàu đến cột ăng ten. Các xà lan khổng lồ không mái che, không lan can nghẹt người như kiến. Không thức ăn, không nước uống, nhiều người đã chết vì kiệt sức hoặc bị đẩy xuống biển trong cuộc tranh giành không gian sống dưới cái nắng thiêu đốt miền Trung. Thêm nữa là kỷ luật quân đội tan rã dẫn đến những nhóm binh lính bắn nhau. Có những người lính bắn chỉ thiên, thậm chí bắn trực diện vào đám đông để mở đường lên tàu. Tôi nghe tiếng súng chát chúa hoà lẫn trong tiếng gào thét gọi người thân như một địa ngục trần gian.
Khi những chiếc tàu cuối cùng thoát dần ra khơi, hàng ngàn người trên bờ rơi vào trạng thái hoảng loạn và tuyệt vọng. Nhiều người còn ở dưới làn nước biển vẫn cố bơi theo trên những chiếc phao tự chế dù biết không thể đuổi kịp. Và trên bờ, những người lính trút bỏ quân phục và súng đạn trong sự chán nản tuyệt vọng, mặc những đồ thường dân để hoà vào dòng người tạo thành những đống rác quân dụng khổng lồ dọc theo bờ biển. Tôi đã thấy có một anh lính Dù tự sát bằng súng lục và một anh lính Biệt động quân tự sát bằng lựu đạn. Thịt và máu loang lổ trên cát biển. Nhiều gia đình đứng ôm mặt khóc ly tán vì có người thân được lên tàu, còn họ bị kẹt lại.
Tôi và ba tôi đứng đó giữa những người bị bỏ lại. Hai cha con đứng nhìn mặt biển sủi bọt hồng_ nước biển hoà với máu. Ông nắm tay tôi lặng lẽ quay về. Ông hiểu, nếu cố giành giựt đi tiếp, cái giá phải trả có lẽ là mạng sống của cả gia đình.
Đường về nhà còn kinh khủng hơn cả lúc đi. Thành phố như một cái xác đang phân rã. Tôi giẫm đạp lên rác và vũng máu khô. Người ta đã đi gần hết, khu phố vắng tanh người quen chỉ đầy rẫy những kẻ xa lạ. Những người tản cư từ nơi khác tràn đến, họ phá cửa vào ở tạm những ngôi nhà vắng chủ. Tiếng kính vỡ, tiếng phá cửa sắt từ những cửa hiệu bị đập phá hôi của vang lên khô khốc.
Về đến nhà trong đêm 29, việc đầu tiên Ba làm là đóng kín tất cả các cửa. Cánh cửa gỗ khép lại, ngăn cách gia đình tôi với thế giới đảo điên ngoài kia. Trong bóng tối lờ mờ, ba tôi làm một việc lặng lẽ nhưng đau đớn: Đốt! Những bộ quân phục, những huân chương huy chương, sách vở, tài liệu giấy tờ_ những thứ từng là danh dự, là niềm tự hào của cuộc đời binh nghiệp của ông_nay lần lượt tan thành tro bụi trong chiếc thau đồng. Ba vội vã đốt những kỷ vật cuối cùng, như muốn đốt đi một quá khứ vừa khép lại.
Đêm ấy, phố Thống Nhất vắng lặng đến rợn người, chỉ có tiếng gió lùa qua những căn nhà trống hoác và tiếng súng hôi của thi thoảng vọng về. Ngồi co ro nhìn qua khe cửa, đứa trẻ 12 tuổi là tôi đã sớm hiểu thế nào là sự mong manh của thân phận con người trước vận đổi sao dời trong sự sợ hãi về một chế độ mới và về một tương lai mịt mù.
51 năm đã trôi qua, những vết thương trên da thịt thành phố đã lành, nhưng những gì xảy ra vào những ngày cuối tháng 3 bi thương năm ấy vẫn luôn âm ỉ trong lòng tôi- một chứng nhân lịch sử dù chỉ mới lên 12.
Dynh Anh
No comments:
Post a Comment