Wednesday, September 23, 2026

CHỢ VIỆT, QUÁN VIỆT – MỘT GÓC QUÊ HƯƠNG TRÊN ĐẤT MỸ

Đối với người Việt xa quê, có lẽ không gì gần gũi hơn một khu chợ Việt, một tiệm phở, một quán cơm hay một cửa hàng bán những món ăn mang hương vị quê nhà. Dù đã sống trên đất Mỹ, đi giữa những thành phố hiện đại và quen với nhịp sống phương Tây, chỉ cần bước vào một khu chợ Việt, nghe tiếng người Việt trò chuyện, nhìn những bó rau thơm, những trái cây quen thuộc hay ngửi thấy mùi phở, mùi bún bò, mùi cá kho… lòng người xa xứ đôi khi chợt thấy quê hương như trở về rất gần.

Ở những tiểu bang có đông người Việt sinh sống như California, Texas, Florida, Washington hay Virginia, hay Georgia nơi tôi đang sống, các khu thương mại và chợ Việt đã trở thành những địa điểm quan trọng trong đời sống cộng đồng. Người Việt có thể tìm thấy từ gạo, nước mắm, rau thơm, bánh tráng, các loại gia vị cho đến những món ăn đã quen thuộc từ thuở nhỏ. Những nhà hàng Việt Nam cũng ngày càng hiện diện nhiều hơn, phục vụ từ những món ăn bình dân cho đến những nhà hàng sang trọng.

Điều đáng quý là dù sống trong một xã hội hiện đại, người Việt vẫn cố gắng giữ lại một phần nếp sống của gia đình qua bữa cơm Việt. Một nồi canh, một đĩa cá kho, chén nước mắm, vài món rau và những câu chuyện của cha mẹ, con cái quanh bàn ăn – những điều tưởng như rất bình thường ấy lại trở thành sợi dây nối các thế hệ với quê hương.

Tuy nhiên, cách tổ chức đời sống và kinh doanh trên đất Mỹ cũng có một điểm khác khá rõ so với Việt Nam. Ở Mỹ, cửa hàng, nhà hàng hay cơ sở kinh doanh thường là một không gian dành riêng cho việc buôn bán, làm việc và phục vụ khách hàng. Nhà ở và nơi kinh doanh thường được tách biệt. Cửa hàng không phải là nơi để ngủ nghỉ hay trở thành không gian sinh hoạt chính của gia đình.

Trong khi đó, tại Việt Nam, đặc biệt ở các thành phố và khu phố buôn bán, chúng ta dễ bắt gặp hình ảnh “trên bán hàng, dưới là nhà ở”. Cả gia đình có thể sinh hoạt ngay phía sau hoặc phía trên cửa tiệm. Cách sống ấy rất gần gũi với truyền thống của người Việt: nhà vừa là nơi ở, vừa là nơi làm ăn, vừa là nơi gặp gỡ bà con và hàng xóm.

Sang Mỹ, nhiều gia đình Việt phải thích nghi với một cách sống khác. Công việc có giờ giấc, cửa hàng có quy định, khu dân cư có những nguyên tắc riêng. Sự phân chia giữa nơi ở và nơi làm việc tạo ra tính chuyên nghiệp, trật tự và riêng tư hơn, nhưng đôi khi cũng làm cho những sinh hoạt gia đình và sự gắn bó giữa người với người trở nên khác trước.

Dẫu vậy, người Việt trên đất Mỹ vẫn có một điều rất đáng quý: khả năng thích nghi nhưng không dễ dàng đánh mất cội nguồn. Người Việt học cách sống trong một xã hội mới, làm việc theo những quy định mới, kinh doanh theo phương thức mới, nhưng vẫn tìm cách giữ tiếng Việt, món ăn Việt, những ngày lễ truyền thống và những bữa cơm gia đình.

Có lẽ đó chính là hình ảnh đẹp của người Việt xa quê: đôi chân đứng trên đất Mỹ nhưng trong tâm hồn vẫn có một khoảng trời Việt Nam. Chúng ta tiếp nhận những điều tốt đẹp của xã hội mới, đồng thời gìn giữ những giá trị đã được cha ông trao truyền. Một khu chợ Việt, một quán phở hay một bữa cơm gia đình vì thế không chỉ là chuyện ăn uống hay buôn bán; đó còn là một cách để người Việt nhắc nhau rằng dù đi xa đến đâu, quê hương vẫn có một chỗ rất sâu trong lòng mỗi người.

Trải qua và tôi nhận ra rằng quê hương không chỉ nằm trong ký ức, mà còn hiện diện qua một tô phở, chén nước mắm, tiếng Việt thân thương và bữa cơm gia đình. Chúng ta có thể thay đổi cách sống, học một nền văn hóa mới, nhưng đừng để những điều giản dị của quê nhà phai nhạt. Bởi giữ được cội nguồn cũng là giữ lại chính mình.

Vuong Nguyen

GIỮA HAI THẾ HỆ

Tôi lớn lên và sống ở Việt Nam cho đến năm 15t và từ đó tôi sống ở nước Mỹ cho tới ngày hôm nay đã được hơn 51 năm.

Khi mới tới Mỹ tôi không được sống trong thành phố xa hoa của đô thị mà thay vào đó tôi được đưa đến một cái làng nhỏ xíu ở vùng quê hẻo lánh do một nhà thờ bảo lãnh.

Hầu như cả làng này ai cũng đi đến đây nghe giảng đạo mỗi chủ nhật vì ở cái làng này chỉ có một cái nhà thờ duy nhất nên giáo dân rất đông. Tôi được nhà thờ bảo lãnh nhưng hình như cả làng bảo lãnh cho tôi đến đây vì họ đã biết trước là tôi được nhà thờ bảo lãnh nên họ coi tôi như một đứa con trong gia đình vậy. Ngày tôi bước xuống máy bay trên áo còn dán một mãnh giấy đề tên, ngày sinh. Rồi một cô tiếp viên hàng không cầm tay dẫn tôi ra cổng phi trường.

Ở đây một đám người đã đứng chờ sẵn vừa gặp tôi đi ra họ đã vồn vã đến ôm tôi như quen biết từ bao giờ. Thế là tôi được đưa lên một chiếc xe bus trắng xóa của nhà thờ rồi chở tôi một mạch mấy tiếng về cái làng quê hẻo lánh này và từ đó tôi trở thành thằng cowboy bất đắc dĩ.

Khi xe vừa dừng lại ở ngôi nhà thờ thì người ta đã tụ tập ở đó rất đông. Người lớn con nít đủ hết đến xem thằng nhóc Việt Nam tóc đen da vàng nhìn ra sao. Cả cái làng này chỉ có mình tôi là người Á Đông hơn nữa là người Việt Nam mà họ thường xem trên tv. Họ mang bao nhiêu là đồ ăn. Đồ đông lạnh, đồ hộp, trái cây, quần áo ôi thôi không thiếu thứ gì chất đầy dưới hầm nhà thờ. Tôi đươc ở nhà ông bà mục sư sau nhà thờ. Ông bà có bốn đứa con ba trai một gái bằng lứa tuổi của tôi, đứa nào tóc cũng trắng xóa.

Họ dậy tôi đủ thứ từ bữa ăn, cầm dao, cầm nĩa, cho đến những cái lặt vặt nhứt. Họ tưởng tôi ở rừng mới ra hay sao ấy. Mấy đứa con thì rất thích tôi lúc nào cũng mang đủ thứ trò chơi cho tôi chơi.

Một ngày đẹp trời mấy thằng cu con rủ tôi đi câu cá. Ok cái gì chứ câu cá là nghề của chàng mà lỵ. Tụi nó dẫn theo mấy đứa bạn và mấy con ngựa. Thế là ba lô, đồ ăn cần câu đủ hết sữa soạn lên đường. Thằng Bob con trai lớn của ông bà mục sư 16t nói mày đi với tao. Thế là nó nói tôi leo lên lưng ngựa để nó chở, tôi nghĩ bụng con ngựa cao như vậy sao lên được. Ở quê nhà có chiếc honda leo lên ngồi sau thì dễ chư leo lên lưng ngựa không phải là chuyện dễ đâu, nhưng sao tụi nó cứ phóng lên dễ dàng như thế kể cả những đứa con gái 13,14 tuổi. Sau vài lần leo lên thất bại.Thằng Bob nói mày đừng có từ..từ..leo lên mà phải lấy đà phóng lên. Tôi nghe nó nói một tràng chẳng hiểu gì vì lúc đó mới qua nên tiếng Anh tôi cũng chưa biết nhiều chỉ biết một ít chữ thông thường học ở quê nhà. Nó thấy tôi không hiểu nên nhảy xuống, nhảy lên vài lần cho tôi xem. Trước tiên tay phải cầm cái cục ở yên ngựa, chân phải để vào cái để chân rồi lấy đà nhảy lên lưng ngựa chứ từ..từ..leo lên là không được. Sau chục lần thử thì tôi đã làm được. Ngồi sau lưng thằng Bob cho nó chở mà người tôi cứ tưng..tưng..như muốn rơi xuống đất, tôi xanh mặt ôm thằng Bob cứng ngắt, đang chạy nhanh như vậy ngã thì không bể đầu cũng gẫy xương. Vừa chạy tụi nó vừa reo hò như đi đánh trận.

Cuối cùng thì cũng đến một cái hồ lớn có một khe nước từ trên cao chảy xuống trông rất đẹp, hồ này cũng lớn chung quanh nhiều cây cổ thụ rất mát mẽ. Chúng tôi tìm một gốc cây mát mẽ bỏ đồ xuống. Thằng Bob hỏi tôi mày biết câu cá không? Tôi lắc đầu vì ở quê nhà tôi chỉ câu cá bằng nhánh tre, còn ở đây cần câu của tụi nó khác nhưng ném đi xa được nhìn cũng ngộ ghê! Nhưng mà sao tụi nó toàn dùng mồi giả, quăng ra, kéo vô mỏi cả tay chẳng có nhẫn nại chút nào cả lạ thật. Thằng nhóc con khác chạy đến cầm cần câu chỉ tôi khi quăng ra là phải bấm cái nút này rồi nhả ra. Sau một vài lần tôi đã biết cách dùng. Cầm cần câu tôi len lõi đi đến một nơi vắng vẽ, mặt nước im lìm không có tiếng la hét, không có những tiếng quăng ra kéo vô liên tục của những cần câu làm cho mặt nước lúc nào cũng rung chuyển.

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ là đúng với hoàn cảnh lúc này. Là một thằng con nít Việt Nam đã trãi qua bao nhiêu là kinh nghiệm bắt dế, câu cá đá banh thì làm sao mà đi về tay trắng cho được. Tôi đi đào giun nhưng thấy ở đây rất nhiều cào..cào. thôi kệ bắt nó câu thử xem Sau khi bắt được mấy chục con cào..cào..tôi móc mồi vào quăng ra xong ngồi xuống chưa kịp bóc cái thỏi kẹo chocolate thì cái cần câu cong veo xuống tận mặt nước rồi đùng một cái cần câu bay ra hồ. Tôi hốt hoảng bay ra bơi theo chụp được cái đuôi cần câu, may quá thiếu vài giây là mất cần rồi. Tôi từ..từ..run..run.. kéo con cá vào nhìn cái đầu bự tổ chảng có mấy cái râu đen xì. Tôi nghĩ bụng: cá trê ở đây to thế. Sau một hồi quần thảo cuối cùng tôi cũng kéo được con cá khủng lồ lên. Ở quê nhà tôi chưa bao giờ thấy con cá trê nào to như vậy. Con này chắc cũng phải trên mười ký. Ngồi ở đây cá cắn câu liên tục không có thời giờ ăn cái gì. Một lúc sau đã câu hơn chục con rồi. Con gái ông mục sư chạy đi tìm tôi. Vừa đi nó vừa đưa tay để lên mồm gọi tên tôi. Tiếng của nó lợ..lợ. gọi tên tôi nghe mà buồn cười. Tôi giơ tay làm hiệu vẫy nó đến. Vừa đến nó vừa nói: anh tao câu được hai con cá to như vậy nè. Nó đưa bàn tay xòe ra như hình con cá. Tôi nghĩ bụng cá đó đối với cá ông cố nội của tôi thì chẳng thấm vào đâu. Nó hỏi tôi có câu được con nào không? Tôi cầm cái xâu cá dưới nước lên cho nó xem. Mắt nó tròn xe nhìn mười mấy con cá, và có một con cá ông nội mười mấy ký. Nó vội chạy đi kêu anh nó, thế là cả đám chạy đến nhìn những con cả rồi hỏi tôi làm sao mày câu được nhiều vậy tôi chỉ vào cái lon cào..cào.. thế là tụi nó đua nhau đi bắt cào..cào..

Thập niên 70 làm gì mà có phone tay, làm gì mà có internet để chơi game. Những trò chơi nhân gian thì tụi con nít Mỹ làm gì mà biết thế là tôi dậy cho tụi nhóc này những trò chơi mà tụi nó chưa từng thấy bao giờ như: bịt mắt bắt dê, cõng gà đá nhau. Ném ống long..v..v.. mấy đứa thích thú la hò vang trời. Thế là từ đó tụi con nít trong cái làng này đồn ra ai cũng biết thằng cao bồi chì khôi như tôi.

Mỗi cuối tuần có người tới mời tôi đi làm. Nghe nói mời mà thấy kỳ..kỳ..làm sao nhưng đó là sự thật vì nói đúng ra họ muốn mời mình đến nhà chơi mà tìm một lý do nào đó. Có người thì nói mình quét vài cái lá khô rồi cho ăn trưa, cho tiền, có người nói sơn cái cửa rồi cũng cho ăn, cho tiền. Có người làm thầu về xây nhà cửa cuối tuần cũng gọi mình đến công trường đang xây dỡ làm cái này, làm cái kia rồi cho tiền. Dân Mỹ kỳ lắm họ ít khi nào cho tiền mà có làm thì mới có ăn là vậy.

Dân chúng ở đây rất tốt nhất là mấy đứa trẻ Mỹ ở vùng quê này. Hình như họ sống ở đây hết đời này đến đời kia gắn bó nhau nên ai cũng biết ai hơn nữa cả làng này ai cũng đi nhà thờ, tụ họp ở đây cuối tuần ăn uống vui vẽ, chứ ở đây chẳng có nhà hàng quán cà phê, hay shopping gì cả tuy cái làng nhỏ đơn sơ nhưng con người thì lại qua tốt. Nhất là những đứa trẻ ở đây rất hồn nhiên và dễ gần gủi. Cuộc sống ở quê tuy rằng mộc mạc nhưng đầy tình người.

Tôi lúc nào cũng nhớ và ghi ơn cái làng đầy tình thương này, và suốt đời không bao quên những giây phút thần tiên lúc ban đầu đặt chân đến đất Mỹ.

Dung Dinh
Con Gái Mà Cơm Điện Cũng Không Biết Nấu

Qua những trại tị nạn, đúng là được cho gì thì ăn nấy, lúc ngon lúc dở. Má tôi cũng chưa phải nấu nướng cho gia đình. Cho đến khi gia đình dọn ra ở riêng, sau hai tuần ở với người bảo trợ, má mới phải bắt đầu nấu ăn cho tám người.

Tôi là con gái lớn nhất nhà, theo lẽ thường thì chắc phải là người chị cả tháo vát, lo cho các em và biết nấu nướng. Nhưng tôi lại hoàn toàn khác!

Ở Việt Nam, tôi gần như không đụng tới bếp, chỉ lo ăn học vì nhà có người giúp việc. Má tôi còn chưa cần phải vào bếp, huống chi là tôi. Nói cho đúng thì tôi cũng có xuống bếp, nhưng chỉ để… nấu chè, nhất là những ngày học thi, thức khuya. Tôi cũng chẳng phải giữ em bao giờ.

Qua tới Mỹ, má bắt buộc phải vào bếp. Ba tôi thì luôn phụ má phần rửa chén - một hình ảnh khá hiếm thấy trong những gia đình Việt Nam thời đó.

Tôi nhớ má không phải là người nấu ăn giỏi, nhưng chắc cũng không đến nỗi nào, vì chẳng nhớ có ai trong nhà phàn nàn gì. Nhất là ba, tôi chưa bao giờ nghe ba chê món má nấu.

Tôi đoán má nấu ăn theo kiểu miền Trung nên khá nhiều món xào. Chẳng hạn, chỉ cần một miếng ức gà và một ít tôm, má xắt nhỏ rồi rim mặn với xì dầu, đường và tiêu. Sau đó, món gà rim với tôm này có thể dùng để chế biến thành nhiều món khác, xào trộn với đủ loại rau củ, hoặc làm miến gà.

Mỗi khi má nấu đồ cúng, trên bàn có rất nhiều dĩa, nhưng nhìn kỹ thì… món nào cũng hơi giống món nào! Dĩa xào với su su, dĩa xào với măng, dĩa xào với miến, dĩa xào với cải làn… rồi dĩa xào với bánh tráng bẻ nhỏ - một món đặc trưng của quê ba má. Sau cùng, trên mặt mỗi dĩa đều rắc một ít ngò xắt nhỏ.
Lúc ấy, tôi mới phụ má được phần cuối cùng: rắc ngò và rắc tiêu. Vậy thôi!

Tôi hoàn toàn không đụng tới chuyện bếp núc. Hồi còn ở Việt Nam, má thường nói:
“Học thì khó, chứ nấu ăn đâu có khó. Học xong, có bằng cấp, có công ăn việc làm tốt rồi thì lúc đó học nấu ăn cũng chưa muộn.”

Vậy là sang Mỹ, tôi cứ theo đúng lời má dạy mà… chưa học nấu ăn!

Sau này, tôi dở nấu ăn, nhưng lại giỏi… kiếm tiền!
Có một anh bạn học cùng trường, sống một mình và tự nấu ăn. Một hôm anh nói thèm món cá kho mà không biết làm. Thời đó đâu có YouTube để mở lên học như bây giờ. Anh tưởng tôi là con gái thì chắc chắn phải biết kho cá, giống như chị và em gái anh.
Anh nhờ tôi kho cho anh một nồi.
Tôi phải thú thật:
“Nấu cơm bằng nồi điện mà tôi còn không biết nữa!”
Hahaha!

Thuở ấy, người Việt tị nạn thường đãi người bảo trợ hoặc bạn bè Mỹ bằng hai món quen thuộc là chả giò và cơm chiên. Ba má tôi cũng thường làm hai món này.

Ông anh họ của tôi - anh là anh của người đã mang bộ sưu tập tem của tôi sang Mỹ - chẳng biết học ở đâu mà chỉ vài tháng sau khi đến Mỹ đã biết gói chả giò để đãi những người ở nhà thờ. Hai anh em anh được một nhà thờ ở Seattle bảo trợ, nhưng cuối tuần thường lại về Tacoma chơi với gia đình tôi.

Nên tôi hay kể cái nhà nhỏ xíu chừng 1100 square feet với một bathroom xài chung mà chứa tới 10 mạng là vậy.

Những năm đầu ở Mỹ, má phải làm đủ thứ: phải nấu ăn, phải học lái xe, phải đi làm vì gia đình cần hai incomes mới mua được nhà, học tiếng Anh, rồi phải học thi công dân Mỹ. Cuộc sống lúc ấy thật sự rất vất vả.

Có lẽ vì vậy mà trong những năm đầu nơi xứ người, người hay than thở nhất nhà chính là… má tôi!

Linh Vang
Melbourne, Australia

Sống ở Úc bao lâu nay nhưng thú thật, mình chưa từng đặt chân đến Melbourne. Bị rào cản tâm lý bởi đủ lời đồn: "Melbourne lạnh lắm", "Thời tiết một ngày bốn mùa", "Người lớn tuổi toàn bỏ Melbourne tìm về vùng ấm áp thôi", rồi thì "Ở Melbourne dễ bị dị ứng phấn hoa lắm"... nên mình cứ chần chừ mãi.

Thế rồi, nhờ một "cú hẹn hò hụt" bất ngờ, mình mới có cơ hội đến với nơi này.
Hóa ra, Melbourne mùa xuân lại dễ chịu đến thế! Dù gió hơi to một chút, nhưng nắng mặt trời vừa đủ ấm áp để thỏa thích diện váy áo lả lướt. Điểm khiến mình mê ngay từ lần đầu chạm ngõ chính là kiến trúc rất xinh xắn: những con đường rợp bóng cây xanh hai bên, xen lẫn các ngôi nhà nhỏ kiểu cổ xinh xinh và đa dạng các loài hoa khoe sắc. Ngắm nhìn khung cảnh ấy, mình chợt nhận ra Melbourne mùa nào có lẽ cũng sẽ đẹp theo một cách rất riêng: xuân hoa nở, hè cây xanh, thu lá đỏ và đông về những cành lá khẳng khiu.

Ấn tượng tiếp theo trong chuyến đi là khi ghé thăm Queen Victoria Market. Phải công nhận khu chợ cá, chợ thịt ở đây sạch dã man! Mọi thứ tươi ngon, chỉn chu và không hề nặng mùi như chợ cá Sydney hay chợ cá ở Hàn Quốc mà mình từng đi. Rất nhiều nhóm khách du lịch thoải mái mua và thưởng thức hàu hay cá sống ngay tại quầy. Đặc biệt, ghé chợ mà không thử hàng kem ngon nhất từng đạt giải thưởng năm thì đúng là một thiếu sót lớn! 

Là một người cực kỳ mê bánh mì, mình luôn thương nhớ cái hương vị bánh mì chuẩn gu châu Âu hay tiệm bánh mì quen thuộc ở đầu ngõ nhà mình. Tới Úc, rất hiếm khi mình thấy thích một quầy bánh mì nào đó thực sự đặc biệt. Thế mà hôm nay, mình hoàn toàn bị chinh phục bởi các quầy bánh ở Queen Victoria Market — từ Sourdough, Olive bread, bánh mì kiểu Nga, cho đến Croissant hay Baguette chuẩn vị. Mỗi loại bánh đều giữ trọn cái chất nguyên bản vốn có.

Mới có trọn vẹn một ngày ở Melbourne thôi mà mình đã trót yêu mấy tiệm ăn ở đây mất rồi!

An Tran

Nói Thẳng, Nói Thiệt | Em Cuba Dắt Nhau Đi Dìa | 23.09.26




Người Không Định Đi Lại Được Đi

Hồi đó, ai có cơ hội “chạy” là cứ chạy. Vì thế mà có biết bao hoàn cảnh thương tâm, éo le: người bỏ cha mẹ, người bỏ vợ con, người bỏ người yêu. Có ông chồng bỏ lại vợ lớn, đưa vợ nhỏ đi. Có ông đưa cả bà vợ lớn lẫn cô vợ nhỏ. Ai cũng nghĩ mình đi rồi chắc chẳng bao giờ gặp lại nhau.

Qua đến xứ người, chồng có vợ khác, người yêu có người yêu khác, rồi cũng lập gia đình với người khác. Có anh đã có vợ con ở Việt Nam nhưng lại giấu nhẹm, nói mình chưa có vợ. Mẹ cô gái cẩn thận dò hỏi bạn bè của anh ta, nhưng bạn bè cũng giấu giùm. Đến khi cô vợ biết được sự thật thì “gạo đã thành cơm”. Anh ta phân bua rằng vì thương cô quá, sợ mất cô nên mới phải nói dối. Mà lúc ấy, cảnh gái thiếu trai thừa, cô gái cũng chẳng thiếu người theo đuổi!

Nhưng cũng có một hoàn cảnh thật trớ trêu: người không hề nghĩ đến chuyện đi lại được đi.

Có một gia đình đưa được cô gái giúp việc theo cùng. Khi gia đình được gọi đi quá gấp, họ chỉ nghĩ đến mấy đứa con còn nhỏ, cần có người phụ giúp. Cô gái vốn quê ở miền Trung, được một bà cô đưa vào giới thiệu làm người giúp việc. Lúc ấy cô còn nhỏ, nhà nghèo lại đông con. Cha mẹ cho cô đi làm thì bớt được một miệng ăn; ông bà chủ cũng hứa sẽ may cho cô quần áo đàng hoàng. Chỉ vậy thôi.
Đến lúc chạy loạn, cô sợ mình bị bỏ lại. Không tìm được người thân thì ở lại, cô biết nương tựa vào ai?

Qua mấy trại tị nạn, bà chủ ngại xếp hàng lấy cơm nên cô vẫn đi lấy thức ăn cho bà. Cô vẫn nghĩ mình là người giúp việc, nên cứ lo chuyện ăn uống, tắm rửa, chăm sóc mấy đứa nhỏ như trước.

Cô lại xinh đẹp nên ở Camp Pendleton có một chàng thanh niên để ý và theo đuổi. Khi gia đình được một nhà thờ bảo trợ đi định cư, anh chàng cũng tìm cách đi theo đến đúng thành phố nơi ông bà chủ cô sinh sống.

Anh ta đâu biết cô là người giúp việc. Anh cứ tưởng cô là cháu gái của bà chủ, vì trước đây gia đình vẫn giới thiệu cô như vậy. Là người tị nạn mới đến Mỹ, ai lại nói mình đưa theo một người giúp việc? Nghe chẳng khác nào tự nhận mình là “tiểu tư sản”!

Những người quen biết chuyện cũng chẳng ai nói ra.
Mà gia đình chàng trai cũng chẳng phải bình thường. Cha anh làm tới chức… tướng, chứ không phải nhỏ. Còn ông chủ của cô gái cũng xuất thân nhà binh, cấp bậc đến hàng trung tá. Xem ra, hai bên cũng khá “môn đăng hộ đối”!

Thế là đám cưới vẫn diễn ra, dù rất đơn sơ. Ai cũng là người mới qua Mỹ, đến chai nước mắm còn phải lùng mãi mới tìm được chỗ bán, nói gì đến chuyện đòi hỏi lễ nghi, phong tục cho đầy đủ như ở quê nhà.

Sau này, cô gái vẫn chạy lui chạy tới chăm sóc ông bà chủ cũ như người thân trong gia đình. Có khi còn chăm sóc họ chu đáo hơn cả những người con ruột của họ.

Nhiều năm trôi qua, có người hỏi cô có trở về Việt Nam tìm cha mẹ, anh chị em ruột hay không.

Cô nói có. Cô đã về quê, nhưng cũng không chắc đó có thật sự là quê mình hay không. Ra đi khi còn quá nhỏ, cô chẳng nhớ được bao nhiêu. Cuối cùng, chuyến về quê cũng không giúp cô tìm lại được người thân.

Một cô gái nhỏ ngày nào, vì hoàn cảnh mà theo gia đình chủ chạy sang Mỹ. Cô không định đi, nhưng lại được đi. Rồi từ một người giúp việc, cô trở thành người thân trong một gia đình khác.

Cuộc đời đôi khi thật lạ. Có những người chạy đi để tị nạn CS, còn có người chẳng hề nghĩ mình sẽ đi đâu, vậy mà lại được số phận đưa đi thật xa.

Linh Vang
Điện ảnh Việt Nam 22 tháng 9

Nhà văn Đỗ tiến Đức giám đốc Nha Điện ảnh năm 1969, là người đề xướng ra ngày Điện ảnh Việt nam, và chọn ngày 22 tháng 9 năm 1969 là ngày Điện ảnh đầu tiên của Ngành Điện ảnh Việt nam.

Sở dĩ có ngày Điện ảnh VN xuất phát từ buổi họp của Nha Điện ảnh và Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hoá của cụ Mai Thọ Truyền. Trong phiên họp Cụ Mai thọ Truyền - cho biết Phủ Quốc Vụ Khanh Văn hoá sẽ tổ chức 1 tuần lễ Văn hoá. Trong tuần lễ Văn hoá sẽ trình diễn Cải lương, Kịch, Hát bội và Ciné.

Sau khi tham dự phiên họp xong, nhà văn Đỗ tiến Đức trở về Nha Điện ảnh đã bàn bạc với tất cả các nhân viên của Nha Điện ảnh làm cách nào để giới thiệu đến mọi người về Ngành Điện ảnh trong tuần lễ Văn hoá, không chỉ giới hạn trong các phim tài liệu hay phóng sự mà có các phim Truyện. Do đó nha Điện ảnh đã mời một số đạo diễn có tiếng tăm để thực hiện các bộ phim Truyện như “Xin nhận nơi này làm Quê Hương, Con búp bê nhồi bông, Ba cô gái suối châu ……

Đặc biệt trong tuần lễ Văn hoá, nha Điện ảnh đã khuyến khích Người Việt phải xem phim Việt, và trong ngày Điện ảnh tất cả các rạp Cine ở thành phố Sàigon sẽ đồng loạt chiếu phim Việt.

Trong ngày Điện ảnh 22 tháng 9 đầu tiên bộ phim “ Xin nhận nơi này làm Quê hương “ của cố đạo diễn Hoàng vĩnh Lộc được trình chiếu tại Rạp Rex với sự tham dự đông đảo các quan khách, các nam nữ tài tử, các đạo diễn, chuyên viên kỹ thuật, báo chí dưới chủ tọa của ông Nguyễn ngọc An Bộ trưởng thông Tin - Và trong Ngày Điện ảnh VN - ông Bộ trưởng bộ Thông tin Nguyễn ngọc An đã tuyên bố khai mạc ngày Điên ảnh Việt nam và ban hành chính sách phát triển Điện ảnh Việt nam cùng vạch một hướng đi cho nền Điện ảnh.

Sau sự thành công của ngày Điện ảnh Việt nam đầu tiên, các năm kế tiếp đúng ngày 22 tháng 9 là Ngày Điện ảnh Việt Nam - Ban Ngày chiếu phim Việt nam mới của các hãng phim được tuyển chọn trình chiếu ở Rạp Rex - buổi tối cùng ngày có buổi tiếp tân tại Khách sạn Caravelle.

Thành phần ban tổ chức Ngày Điện ảnh Việt nam được luân phiên thay đổi giữa Nha Điện ảnh, các chủ hãng phim, đạo diễn hay chuyên viên kỹ thuật v.v..

Ngày Điện ảnh Việt nam kỳ 5- 1973 là ngày Điện ảnh đặc biệt nhất vì ban tổ chức đã can đảm mời 10 phái đoàn Điện ảnh Á châu tham dự “ Mã Lai, Hongkong, Lào, Miến Điện, Tân Gia Ba, Nhật bản, Đại Hàn và Thái Lan – Sau ngày Điện ảnh, ban tổ chức đã đưa tất cả các nam nữ tài tử của 10 quốc gia và VN đi du lịch thăm Huế, Cổ thành Quảng Trị, Bờ sông Thạch Hãn, Vĩ Tuyến 17.

Khi đến phi trường Phú Bài Huế - phái đoàn Điện ảnh đã được đại tá tỉnh trường tỉnh Thừa Thiên chào đón và tặng các thành viên trong phái đoàn mỗi người 1 cái Nón Lá bài thơ - làm qùa kỷ niệm - Sau đó phái đoàn Điện ảnh đã đi thăm Hoàng Cung, lăng Tự Đức, dùng cơm trưa tại nhà thủy tạ với những món ăn Huế rất ngon. Khi hay tin có phái đoàn Điện ảnh ra thăm Huế, chuẩn tướng Bùi thế Lân tư lệnh Sư Đoàn Thủy Quân lục chiến cũng đã đáp trực thăng xuống dự bữa cơm trưa cùng phái đoàn trong vòng 30 phút sau đó lại bay ra chiến trường ngay, thật là vinh hạnh cho phái đoàn Điện ảnh.

Ngày hôm sau đến thăm Bờ Sông Thạch Hãn - mặc dù rất bộn rộn chuẩn tướng Bùi thế Lân Tư lệnh Thủy Quân lục chiến một lần nữa đã đáp trực thắng xuống thăm phái đòan kể cả Trung tướng Lâm quang Thi tư lệnh tiền phương của Quân đoàn 1.

Sau 4 ngày thăm viếng Huế, phái đoàn rời Huế về Sàigon trên máy bay của hãng hàng không Việt nam và đã được chiêu đãi tiệc “Champagne on air “, mặc dù máy bay ở độ cao vẫn êm ru, các diễn viên cùng nhau cụng ly với nhau, hàng ghế sau chồm lên ghế trước –hàng ghế ngang rất vui vẻ, thậm chí có nam diễn viên chạy dọc thân tàu lên xuống chạm ly hoặc hôn với các nữ diễn viên khách.

Cần được biết thêm trong chuyến ra thăm Huế có nam nữ tài tử Hongkong như Nhân Trân, Lý Thanh, Tạ Hiền, các nam nữ tài tử Thái Lan, Mã Lai, Nhật, Đại hàn, Việt nam như Thẩm thúy Hằng, Mộng Tuyền, Ngọc Tuyết, Băng Châu, các đạo diễn Bùi sơn Dzuân, Lê Dân, nam tài tử Trần Quang, Huy Cường, La thoại Tân v.v

Ghi chú thêm - trước khi phái đòan Điện ảnh ra Thăm Huế - ban tổ chức đã viết thư xin ý kiến của Đại tá tỉnh trưởng tỉnh Thừa Thiên -Huế về vấn đề An ninh cho đoàn Điện ảnh trong lúc cuộc chiến đang xẩy ra, vì nhận thấy không có gì nguy hiểm, nên Đại tá Tỉnh trưởng Thừa Thiên chấp nhận để phái đoàn Điện ảnh du lịch Huế, Bờ Sông Thạch Hãn.

Tổng kết Ngày Điện Ảnh Việt nam đã tổ chức được 9 lần - 6 lần trong nước 1969 -1974 và 3 lần ở Hải Ngoại 1993 -1994 và 2000 - Tôi đã tham dự 5 lần trong nước và 1 lần ở Hải Ngoại năm 2000.

Một số chi tiết trong bài viết theo tài liệu trong đặc san Ngày Điện ảnh VN Hải ngoại 1994.

Nguyễn Toàn nhóm thân hữu ký gỉa Tân nhạc - Điện ảnh

Blog Archive