Thursday, August 27, 2015

Nhà Có Hoa Trắng

Hoàng Nga
Hoàng Nga là tên thật. Tác giả cho biết Bà sang Úc từ năm 1988, làm việc tại Đức từ năm 1993-2008 rồi sang Mỹ. Đang sống tại thành phố Sioux Falls từ tháng 07 năm 2012 với gia đình con gái, rể và hai cháu ngoại. Có viết cho các tạp chí Làng Văn (Canada), Văn (Hoa Kỳ) Văn Học (Hoa Kỳ), Phố Văn (Hoa Kỳ), Việt Luận (Úc)… Tham dự Viết Về Nước Mỹ năm thứ XVII, tác giả cho thấy có sức viết mạnh mẽ. Sau đây là bài thứ năm của bà.
* * *
Căn nhà nằm bên phải con dốc tôi đi nhà thờ mỗi tuần. Ở trên một nơi cao nhất của con dốc nên chỉ cần đứng từ ngã tư đường nhìn lên là đã có thể thấy một phần phía bên hông nhà sơn màu xám sẫm và một mảnh sân thường vẫn bị tuyết phủ kín vào mùa đông, và lá vàng vào mùa thu. Căn nhà thật ra rất bình thường, nếu không muốn nói là tầm thường, hoàn toàn chẳng có gì đáng để được chú ý chỉ trừ khi những đóa hoa trắng muốt trước hàng hiên và chung quanh nhà nở rộ.

Khi tôi đến thành phố này được vài tháng thì mùa đông cũng đã vội về. Cái lạnh của miền trung nước Mỹ, nếu so ra với thành phố tôi từng sống nằm dưới chân núi Alpe quanh năm băng giá có lẽ cũng không khác gì mấy. Tôi hay đùa, từ nơi âm hai mươi độ Celcius đổi sang vùng trừ vài độ Fahrenheit có lẽ giống hệt nhau, vì ở đâu cũng phải mặc áo choàng, mang găng tay và quấn khăn quàng cổ. Khi đi ra đường thì ở cả hai nơi, cũng đều phải vội vã nhảy lên xe, chẳng bao giờ có đủ thì giờ ngắm nghía cảnh vật quanh mình.

Và có lẽ vì vậy mà mùa xuân năm đầu tiên sống ở đây, khi mấy bà cháu rủ nhau đi bộ để được ngắm những chồi non vừa mới nhú, được nhìn những tảng mây trên bầu trời xanh lơ nghe tiếng chim hót nhẹ nhàng và vui theo bầy sóc đuổi nhau trên những nhánh cây cây già, bất thình lình nhìn thấy những đóa hoa huệ trắng mượt mà trên sân nhà ấy, tôi đã ngẩn người. Sang đến đầu mùa hè thì bên hông nhà, các bụi cẩm tú cầu trắng nõn, nở những đóa hoa lớn như quả bóng và đong đưa trên mái những nhánh clematis thơm ngát còn khiến tôi ngẩn ngơ hơn.

Không biết bao nhiêu lần tôi đã dừng chân bên vệ đường, dán mắt vào hàng hiên nhỏ và khoảng sân ngợp một màu trắng thánh khiết, trắng tinh khôi như màu áo cô dâu ấy, mà ngỡ như mình đang lạc bước vào chiêm bao. Cái màu trắng, trắng đến nao lòng của những đóa hoa huệ và cẩm tú cầu nổi bật trên đám lá xanh biếc làm tôi không còn để ý đến những bức tường gỗ cũ kỹ dường như đã lâu ngày không hề được sơn phết. Cả cái mái lợp nâu đen có nhiều mảnh gãy lỗ chỗ cũng không hiện ra dưới tầm nhìn của tôi khi được che bằng những nhánh hoa có cái tên tiếng Việt rất ngộ nghĩnh, “hoa ông lão”. Nếu tôi nhớ không lầm thì mãi đến cuối thu, khi tất cả những đóa hoa huệ đã tàn úa và những đóa cẩm tú cầu bắt đầu ngả sang xanh hay hồng xám, và clematis chỉ còn trơ lại những sợi dây leo khô khốc đen đủi như đã chết, tôi mới nhận ra vẻ tiêu điều, ảm đạm của căn nhà.

Một căn nhà, một khu vườn thật lạ. Bởi toàn bộ cỏ hoa ở đó chỉ có màu trắng, kể những bụi lily cánh nhỏ và những đóa cúc dại mọc sát ở bờ tường cũng vậy. Nhiều bận bắt gặp khoảng không gian quanh nơi ấy bừng sáng lên một cách hết sức khác thường, tôi cứ tiếc thầm trong bụng. Cứ nghĩ phải chi chủ nhân ngôi nhà bỏ ra chút thì giờ sơn sửa lại, đổi bức tường xám ngoắt kia thành ra màu rượu chát hoặc thay cánh cửa nhàn nhạt u buồn ở trước mặt nhà ra gỗ nâu thì tuyệt biết dường nào. Và tôi gọi đó là nhà có hoa trắng, bắt chước cái tựa truyện “nhà có hoa mimosa vàng” của nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn ngày xưa, bởi như Đà lạt, ở nơi này cũng có những hôm trời se se lạnh, cũng có những con dốc cao cao chạy vòng quanh, chỉ thay cho màu vàng kiêu sa của những đóa mimosa bằng màu trắng tinh khôi của huệ, của cẩm tú cầu, của cúc dại…

Tôi thường hay tự hỏi chủ nhân của căn nhà ấy là ai, làm sao có thể có được một hàng hiên, một khu vườn đầy hoa trắng như thế dẫu vẫn biết hoa huệ, loại Cascablanca lilies, hay cẩm tú cầu hydrangea, hoặc hoa “ông lão” clematis vẫn đơm hoa trổ nụ hằng năm sau những ngày chôn mình dưới giá tuyết lạnh lùng. Mỗi Chúa Nhật khi đi ngang qua đó, là câu hỏi “không biết cái ý niệm nào đã khiến người chủ nhà chỉ trồng toàn hoa trắng” lại hiện ra với tôi.

Có đôi lúc chỉ để mường tượng cho vui, nhưng tôi cứ nghĩ nếu như bước ra từ bên trong cánh cửa màu xám tro ấy, là một cô gái có dáng dấp mảnh khảnh, tóc xõa ngang vai, hay một thiếu phụ với gương mặt thanh tú pha thêm đôi chút buồn bã, u sầu nhè nhẹ nào đó, hẳn tôi sẽ không ngạc nhiên bao giờ. Vì thế tôi lại còn lãng mạn vẽ thêm trong trí, một bức tranh cuộc đời đầy thơ mộng của một người họa sĩ, một thi nhân đang trú ngụ trong căn nhà ấy, giữa một vườn hoa trắng thanh khiết.

Sự thực, hoàn toàn không như tôi tưởng tượng.
*
Khi dọn về thành phố này khoảng chừng hơn ba mươi dặm, con gái và rể tôi cứ nghĩ sống ở gần phố sẽ vui hơn và tiện lợi hơn, nên đã chọn khu vực downtown. Tuy nhiên chưa được vài năm, thì cả hai mới biết ra downtown là chỉ dành để… đi uống cà phê, hay đi ăn sáng! Bởi giống như mọi downtown khác, bất cứ thứ gì ở đây cũng đắt đỏ hơn, phiền phức hơn, đã thế nhà cửa vừa nhỏ lại vừa cũ, ra đường kiếm ra chỗ đậu xe cũng khó khăn hơn nơi khác.

Nên các con tôi bắt đầu có ý muốn dọn đi. Một hôm trong bữa cơm chiều, con gái tôi bảo hội đồng thành phố đang chuẩn bị xây dựng lại và sửa đường ở chung quanh khu vực này. Con rể tôi đáp:

- Đường số Ba và đường Mười Bốn nhiều ổ gà, nhà cửa thì xập xệ, cũ và xấu. Nếu không xây dựng lại chắc vài ba năm nữa ở đây sẽ thành những khu nhà ổ chuột.

Con đường trước mặt nhà chúng tôi cũng không khá. Nhà cửa chẳng mới mẻ gì. Có thể nói là gần như chỉ có gia đình chúng tôi và hai người hàng xóm ở phía đối diện còn chịu khó sửa chữa hằng năm, còn lại, nhất là khu chung cư ở cuối đường, lúc được xây lên ra sao thì cho đến thời điểm ấy vẫn giữ nguyên như vậy.

Thời tiết miền trung Mỹ vốn khắc nghiệt, hằng năm hứng đủ mọi thảm họa từ tuyết, gió, mưa đá, bão lớn bão nhỏ trọn những mùa xuân, thu và đông, sang đến hè thì nắng gắt gay, nắng cháy bỏng, nếu không được chăm sóc, tu bổ, có lẽ thứ gì cũng có thể thành tồi tệ.

Đề tài mua, bán nhà, nhanh chóng bỗng trở nên rộn rã trong gia đình tôi. Nhưng riêng tôi thì không muốn, vì mới vừa dọn từ Nam bán cầu sang, lại tìm ra được nhà thờ gần, chỉ cần nghĩ đến chuyện phải bắt đầu làm quen với khung cảnh mới và người mới, là tôi thấy ngán đến tận cổ. Tôi bàn ra nhiều lần. Một lần không hiểu sao tôi lại nhắc đến ngôi nhà có hoa trắng ở đường số Mười Bốn và nói thật ra con đường ấy cũng đâu có xấu xí gì. Con rể tôi bật cười, trêu:

- Thì ra mẹ không thích dọn đi chỉ vì ưa căn nhà ấy.

Con gái tôi đùa thêm:

- Vậy nếu dọn qua nhà mới, mẹ sẽ được trọn quyền bỏ hết hoa cũ để trồng lại toàn hoa trắng. Và như vậy thì mẹ khỏi cần phải mất công… lén lút tới ngắm nhà người ta!

Tôi chống chế vì trường học cho mấy con bé gần, siêu thị chỉ cần vài bước là tới nơi nên không muốn đi. Các con tôi không nói gì. Nhưng cho đến một hôm chúng tôi phát giác ra hai chiếc xe đạp dựng ngoài sân dùng cho mùa hè bị đánh cắp; một chuyện chưa bao giờ xảy ra kể từ khi con rể tôi được sinh ra và lớn lên ở thành phố này, thì tôi mới bắt đầu thấy lao chao.

Con gái tôi nói gần đây, khu vực nhà chúng tôi có thêm nhiều người lạ - những người mà thoạt nhìn, dẫu không muốn “đánh giá” vẫn thấy khó có thể tin là người hiền lành. Con tôi bảo không phải chỉ vì dáng dấp bên ngoài, hay bởi cách ăn mặc cẩu thả bẩn thỉu đầu bù tóc rối của họ, cũng không phải vì thấy họ xâm mình đặc kín, mà vì cách ăn nói dữ dằn cùng những tiếng chửi thề liên tục trên miệng, trong mỗi câu nói…

Tôi ái ngại nhớ lại nhiều lần tình cờ trong siêu thị, hay dọc đường đi, nghe những người như vậy chửi thề, tôi cũng đã phải nói nhỏ, nói khéo với hai đứa cháu ngoại rằng họ có cách nói khác với những gì chúng được dạy ở nhà và ở trường, nên cứ xem như là chưa nghe thấy gì. Một lần con bé lớn bảo tôi:

- Mẹ của Hailee cũng có nói giống như vậy.

“Mẹ của Hailee” chính là Amelia, bà chủ ngôi nhà có hoa trắng. Tôi hỏi lại:

- Con nghe cô ấy nói như vậy hồi nào?

Con bé đáp thấy Amelia nói chuyện với một người đàn ông ở ngoài khuôn viên nhà thờ lúc phụ với cô giáo trường Chúa Nhật mang đồ đạc ra xe.

Phải thành thật mà nói là tôi đã khá bối rối, không biết trả lời như thế nào, vì Amelia là người cùng học chung lớp membership với tôi để trở thành hội viên của nhà thờ. Tôi là hội viên cũ của giáo hội Úc mới chuyển đến, còn Amelia là người mới, chẳng thuộc về một tổ chức tôn giáo nào trước đây.

Hôm ấy, để tạo không khí vui vẻ với người mới và để chúng tôi làm quen với nhau, vị mục sư quản nhiệm đã đặt câu hỏi tại sao chúng tôi chọn nhà thờ này. Tôi đùa vì gần nhà và vì ở đây không có nhà thờ người Việt. Người khác thì bảo do được người quen hay người thân giới thiệu. Dường như ai cũng vui vẻ nói giễu đôi ba câu. Chỉ trừ Amelia. Đến lượt mình, người phụ nữ này đã nhún vai đáp tình cờ nhìn thấy một cái nhà thờ nằm sát bên quán rượu, nên tò mò muốn vào thử cho biết. Vị mục sư mỉm cười:

- Rồi các bạn thấy như thế nào khi sinh hoạt ở đây?

Tôi vui vẻ trả lời tôi rất thích vì tôn chỉ và cách thờ phượng của Hội Thánh ông quản nhiệm giống hệt như nơi tôi từng sinh hoạt ở Sydney. Tôi nói thêm vì ở hai lục địa khác nhau và hai cộng đồng cũng khác, một Mỹ, một Việt, nhưng có điểm chung, nên tôi đã yên tâm muốn trở thành hội viên chính thức. Mọi người trong nhóm cũng trả lời tương tự. Riêng Amelia thì lại nhún vai, nhếch một bên mép, nhát gừng bảo “cũng ok”, rồi uể oải tiếp:

- Chưa thấy có gì đặc biệt.

Cái câu trả lời chẳng có vẻ gì là sợ người khác mích lòng hay phật ý, dẫu có thể rất đúng với những gì mà cô đang nhận xét, cũng không đụng chạm gì đến tôi, nhưng nghe như vậy, rồi nhìn thêm cái nét chán chường vẫn thường thấy ở một số người trẻ có lối sống bất cần đời, bỗng dưng lại khiến tôi thấy khó chịu. Tôi liếc nhìn xuống cánh tay để trần, xâm đủ loại rồng rắn, màu mè, nghĩ thầm trong bụng, không biết người phụ nữ này có tưởng tượng một cái nhà thờ nằm cạnh quán rượu thì sẽ có một sinh hoạt khác thường nào đó so những ngôi nhà thờ nằm một mình trên đồi cao hay không. Rồi tôi lại thắc mắc chẳng biết cô nghĩ gì vì đã “không thấy đặc biệt” mà vẫn muốn trở thành hội viên…

Ngay hôm ấy, tuy không dám nhìn thẳng mặt người phụ nữ này, nhưng những tuần sau đó tôi cứ dán mắt ở đàng sau lưng cô. Trong lòng lại nơm nớp sợ cháu tôi sẽ nghe cô chửi thề ở đâu đó một lần nữa.
*
Hệt như một dạng người mà Chúa Giêxu nhắc đến nhiều lần, loại “hypocrite”, giả hình, tuy ngoài mặt vẫn tươi cười lịch sự nhưng trong lòng hay thích xét đoán, hay chỉ trích người khác, tôi đã âm thầm quan sát rồi nghĩ ngợi lung tung về Amelia, đoán già đoán non về quá khứ của cô. Mà có thể nói là đến hơn chín mươi phần trăm là những suy đoán không hay ho, không đẹp đẽ gì cả.

Amelia có sáu đứa con. Đứa lớn nhất khoảng độ mười bốn tuổi, và đứa bé nhất còn bế trên tay. Chúa Nhật, cứ nhìn thấy bốn đứa lóc nhóc, loai choai đi theo mẹ và thằng lớn nhất đẩy xe cho em, là tôi lại liên tưởng đến những cô bạn hàng xóm bị bế em đến vẹo cả sườn vì mẹ sinh nhiều. Nhưng thay vì thương cảm cho người phụ nữ ấy, tôi lại nghĩ đến những chuyện không ai nhờ tôi… nghĩ giùm. Thay vì thán phục, khen cô giỏi, biết chăm sóc sáu đứa con, chuyện hy hữu ở Mỹ, ở một phụ nữ Mỹ, thì tôi lại cứ nghĩ một cách hết sức hồ đồ rằng đây có thể là một trong những gia đình đang làm xã hội nặng gánh. Trong đầu tôi cứ lẩn quẩn những an sinh xã hội, những welfare...

Tôi không nhớ nổi tên bọn trẻ. Không nhớ rõ đứa nào anh, đứa nào chị, nhưng khi biết ra có vài đứa này không cùng họ với vài đứa khác, thì lòng lại trĩu thêm thành kiến. Tôi không hề nghĩ đến một ngày tôi được nghe chuyện đời cô trong một buổi sinh hoạt phụ nữ sau khi đi nhà thờ khoảng chừng một năm.

Tôi không biết phải bắt đầu câu chuyện của Amelia ra sao, nên xin thuật lại lúc tôi nghe nghe chính cô kể chuyện đời cô, vẫn bằng cái giọng lạnh tanh bất cần đời. Amelia nói:

- Tôi lớn lên trong một gia đình tệ mạt không ra gì. Ba tôi là một người vừa nghiện rượu vừa thô bạo, còn mẹ tôi thì yếu đuối và phụ thuộc hoàn toàn vào ba tôi. Tôi chưa bao giờ thấy bà có một quyết định rõ ràng, đúng đắn cho bản thân, nói gì đến cho người khác, cho các con. Mỗi ngày chính mình bị ăn một trận đòn, rồi thấy mấy chị em tôi bị quất bằng roi da, bằng những thanh gỗ nặng, mà bà chỉ biết khóc rồi mặc tình ông muốn làm gì thì làm. Năm tôi mười sáu tuổi, tôi bị một trận đòn thừa chết thiếu sống. Lý do rất khốn nạn là ba tôi đã muốn tôi đồng ý ngủ với một thằng già để lấy tiền xài riêng cho mình. Một thằng già… Phải, một thằng già nhăn nheo ghê tởm, người lúc nào cũng hôi hám, đầy mùi thuốc lá và rượu. Vậy đó mà ba tôi đã nói với tôi, “mày chỉ cần uống thuốc ngừa thai, rồi ngủ với nó chứ có làm gì khác đâu mà không chịu. Tao có bắt mày giết người cướp của đâu mà sợ!”.

Tôi sững người nhìn lên khuôn mặt lành lạnh cố hữu của Amelia. Tưởng chừng như có ai vừa giáng xuống đầu mình một nhát búa. Tôi lùng bùng cả hai tai khi nghe Amelia kể tiếp:

- Giết người cướp của… Giết người cướp của thì ngồi tù, trong khi chịu ngủ với thằng già đó thì ba tôi có tiền và tôi cũng sẽ được chia chác chút đỉnh. Ba tôi quan niệm “khi mày có bạn trai, mày cũng sẽ ngủ với thằng đó nhưng chắc chắn là không có đồng bạc nào hết!”…

Rồi Amelia bật cười:

- Lúc nhỏ mẹ tôi hay nói đến một trong mười điều răn của Chúa, là “hãy hiếu kính với cha mẹ để được sống lâu trên đất”. Hiếu kính và sống lâu… Xin thử tưởng tượng tôi sẽ được sống đến bao lâu khi “hiếu kính” với một người cha như vậy. Thử tưởng tượng tôi sẽ ra như thế nào khi đền đáp “công ơn” ông đã góp phần tạo ra tôi trên cõi đời này bằng cách kiếm tiền cho ông như vậy.

Những giọt nước mắt không tràn ra được trên đôi mắt đỏ hoe của Amelia, cô thở hắt ra một hơi dài và nặng:

- Dĩ nhiên là tôi đã phản đối cho tới cùng. Về phần ba tôi cũng quyết liệt muốn lấy số tiền nào đó của thằng già ấy, nên cuối cùng đã phang cho tôi không phải một mà là nhiều trận. Ban đầu mẹ tôi không hay biết chuyện này. Bà cứ tưởng tôi chỉ bị ăn đòn “như thường lệ”, nên không can thiệp, nhưng cuối cùng, vào cái ngày tôi sinh tử với ba tôi thì mẹ tôi mới bàng hoàng khi nghe tôi la hét như một con điên và nói huỵch toẹt ra, bảo ông có muốn giết thì cứ giết, chứ tôi sẽ không bao giờ muốn ngủ với thằng già hôi hám đó. Mẹ tôi cũng la lên rồi cuối cùng là lao đến, nhào vào giữa những thanh củi đang bổ xuống tôi. Bà hét lên bảo tôi chạy đi…

Amelia chạy ra khỏi nhà. Chạy về phía những đứa thanh thiếu niên hay tụ tập dưới phố. Trong những đứa homeless, lang thang không về nhà ấy, có một đứa học chung với cô lúc còn tiểu học, thỉnh thoảng gặp vẫn còn chào hỏi nhau. Thằng bé này cho cô nhập bọn. Amelia trở thành vô gia cư. Bỏ học. Lang thang. Và rồi thay vì trốn chui trốn nhủi để khỏi bị bắt gặp, Amelia đi Minneapolis, cách tiểu bang chúng tôi gần ba trăm dặm. Sống ở thành phố lớn, không tiền, không nghề nghiệp, cuối cùng Amelia trở thành gái giang hồ. Cô thở ra một hơi mạnh:

- Tôi không liên lạc với bất cứ ai chỉ trừ một lần duy nhất gọi về cho dì tôi, bảo bà nhắn mẹ tôi là đừng ra cảnh sát khai tôi mất tích… Trong mấy năm liền, tôi không hề biết cha mẹ, anh chị em tôi sống chết như thế nào. Không hề gặp bất cứ người quen biết nào, cho tới lúc gặp anh ấy, người chồng đầu tiên của tôi.

John học chung với Amelia năm cuối cùng trước khi cô bỏ nhà đi, người tình cờ nhìn thấy những vết bầm trên tay cô mặc dầu khi đi học, cô đã dấu kín chuyện bị đánh bằng cách mặc áo tay dài. Điểm đặc biệt đã khiến John để ý đến Amelia là thỉnh thoảng khi trời chưa lạnh, cô vẫn quấn khăn quàng cổ. Amelia cười, nụ cười tôi chưa bao giờ nhìn thấy ở cô:

- John nói có một lần ở cuối sân trường, có lẽ do nóng quá mà tưởng chung quanh không có ai, tôi đã kéo ống tay áo lên cho mát, không ngờ anh ngồi ở đàng sau tự bao giờ. John đã thấy những vết bầm đó, và biết ngay là tôi bị đánh vì chính anh cũng là người thường xuyên bị ăn đòn ở nhà. Bố anh cũng là một người nát rượu…

Sau khi tôi bỏ nhà đi, thì John vẫn tiếp tục đến trường và sau đó học xong đại học. Chính con người có cuộc đời khá hơn tôi do nhiều nghị lực và ý chí ấy đã lôi tôi ra khỏi vũng bùn. Chúng tôi cưới nhau...

Khuôn mặt Amelia đang sáng, bỗng trở lại u buồn và ảm đạm:

- Nhiều lần John khuyên tôi nên trở về thăm mẹ tôi và các em. Cũng khuyên tôi nên tha thứ cho ba tôi. Anh bảo ba anh cũng đối xử thật tệ bạc với mình thời thơ ấu nhưng anh không hận ông lâu. John nói khi không tha thứ cho người khác được, thì chính mình sẽ là người nặng lòng hơn hết. Tôi cãi lại John vì tôi nghĩ John không biết cái đớn đau của tôi, không hiểu được tôi đã sống tủi nhục như thế nào. John chỉ bị đánh, bị hất hủi, trong khi tôi thì gần như bị bán cho quỷ dữ. John không biết tôi căm hận ba tôi đến độ nào…

Amelia thở dài:

- Chúng tôi ở với nhau được ba đứa con thì đột ngột John trở bịnh. Cái chứng bịnh ung thư quái ác không có những biểu hiện đặc biệt để chúng tôi kịp trở tay. Trong nhiều năm liền tôi vẫn tự hỏi tại sao tôi là người phải chịu đựng những đau đớn, tại sao tôi luôn luôn là nạn nhân, luôn luôn gặp những điều bất hạnh như vậy.

Cả hội trường nín lặng. Không một tiếng thở nào có thể bật ra. Tim tôi càng lúc càng như có ai đang siết cứng. Tôi vừa xấu hổ vì những đoán xét vội vã của mình về người phụ nữ này, vừa thấy thương cô quắt quay. Cô hít thở liên tục để chận cơn xúc động:

- John đã qua đời sau sáu tháng chữa trị. Không còn John, tôi như người hụt chân. Thế giới chung quanh tôi đổ sụp xuống không ngờ. Tôi chẳng tưởng tượng được sao mình lại có thể bơ vơ đến độ ấy. Nếu không vì các con tôi, chắc là tôi đã tự tử lâu lắm rồi.

Một tuần lễ sau khi chôn cất John xong, người nhà của John cũng đã về, quá trơ trọi, Amelia mới bắt đầu nghĩ đến những gì anh đã từng đề nghị với cô. Cô gọi điện thoại về nhà cho mẹ và các em. Đến lúc ấy mới hay mẹ cô bịnh rất nặng, và ba cô thì còn đang ngồi trong tù với tội hành hung gây thương tích cho mẹ cô nhiều lần, và một vài tội danh khác. Nghe vậy, Amelia vội vã đưa các con về thăm và ở lại với bà vài tuần. Cô kể:

- Tôi chỉ về thăm được mẹ tôi lần ấy dầu từ Minneapolis về nhà mẹ tôi không xa. John mất đi rồi, tôi phải bươn chải nuôi con nên rất khó khăn. Tuy nhiên tôi có gọi điện thoại thăm bà gần như mỗi tuần…

Tôi nhớ có nhiều lần Amelia đã cúi nhìn xuống bàn tay mình một cách buồn bã như thể nhìn sự bất lực của mình:

- Mẹ tôi chỉ sống được một thời gian ngắn, chỉ độ hơn nửa năm kể từ sau ngày tôi về thăm bà. Nhưng có lẽ đó là khoảng thời gian quí nhất trong cuộc đời tôi, vì đó là lần đầu tiên tôi cảm thấy mình thật sự có một người mẹ, một chốn để nhớ.

Amelia chậc lưỡi, rồi nói một cách bâng quơ như kiểu nói hằng ngày của cô:

- Ai cũng cần có một người mẹ…

Tôi nắm chặt lấy hai tay mình lại với nhau. Amelia tiếp tục câu chuyện của cô:

- Lúc còn sống, mẹ tôi có nói với tôi về những điều bà mơ ước. Bà bảo nếu tôi có được những điều ấy, thì bà mới có được sự bình an khi nhắm mắt xuôi tay. Là bà mong tôi sẽ có được một người chồng tử tế như đã có John. Điều thứ hai là bà muốn tôi có một căn nhà, mua cũng được mướn cũng được, lớn cũng được mà nhỏ cũng không sao, và đẹp hay xấu đều cũng không thành vấn đề, miễn đó sẽ là chỗ mà tôi muốn trú ngụ, là chỗ mà tôi không muốn rời xa cho dẫu bất cứ hoàn cảnh nào xảy ra trong đời tôi…

Amelia chớp mắt:

- Những mơ ước thật bình thường với mọi người, nhưng có lẽ đối với chúng tôi, từ mẹ tôi cho đến bản thân tôi đều là những điều rất khó để mà thực hiện. Tôi biết tìm đâu ra được một người như John, một người có thể hiểu, có thể thông cảm và có thể chịu đựng những đau đớn vẫn ám ảnh tôi hằng ngày như vậy… Tôi là người không biết cười từ thời còn thơ ấu, là người không muốn thấy mặt trời lên hoàng hôn buông xuống lúc trưởng thành. Trong mắt tôi điều gì cũng không đẹp. Người nào tôi cũng không tin…

Nhưng như vậy đó mà cuối cùng Amelia đã tái hôn. Với một người mà cô bảo không tài giỏi như John, không hiểu cô hoàn toàn như John, nhưng biết thông cảm và sẵn sàng giúp cô lo cho các con. Amelia chép miệng:

- Tôi chỉ tiếc một điều là mẹ tôi đã không thể thấy những nụ cười của tôi bên cạnh người ấy, vì tôi gặp anh hơi muộn, sau khi mẹ tôi qua đời vài năm… Anh hiểu rất rõ hoàn cảnh của tôi, nên đề nghị chúng tôi đi tìm một thành phố khác để sống, để quên đi chuyện cũ. Nhưng sau khi đi lòng vòng vài nơi, cuối cùng tôi nói với anh, tôi chọn về sống lại ở nơi này. Tôi muốn trở về để đối mặt với quá khứ. Bởi tôi nghĩ chỉ khi nào tôi vượt qua được chính mình thì quá khứ mới không còn làm khó dễ tôi nữa… Cả khi tôi đến nhà thờ này, cái nhà thờ nằm cạnh một quán rượu, tôi cũng đã thách thức chính mình, rằng để xem mình bình tịnh đến đâu khi nhìn thầy một hình ảnh như vậy.

Tôi ngước nhìn Amelia, hai bàn tay đặt trong lòng tôi cứ run lên từng chập một. Tôi hồi hộp đến độ muốn nín thở. Chỉ sợ Amelia bật khóc. Chỉ sợ cô nói cô thua cuộc. Phải khó khăn lắm tôi mới nghe tiếp được chuyện lòng của cô:

- Ở tại nơi này tôi nghe nói về lòng nhân ái, về tình yêu thương và sự tha thứ. Nhưng với tôi, chỉ cần nghĩ đến chuyện tìm thăm ba tôi một lần trong tù đã thấy khó rồi, huống gì là tha thứ. Nhiều lần tôi tự nói, cứ kể như ông đã chết rồi nhưng tôi làm không được. Tôi cứ nghĩ đến điều mẹ tôi không dám nói thẳng với tôi, mà nói bóng gió về việc Chúa dạy hãy tha thứ cho kẻ nghịch thù. Mẹ tôi muốn tôi tha thứ.

Amelia rùn vai:

- Tha thứ… Có tha thứ được hay không? Cho một người sẵn sàng đẩy con mình xuống vực, đánh vợ mình ra nông nỗi như vậy. Sau khi tôi đi rồi, mẹ tôi còn bị đánh nhiều lần nữa, cho đến lúc hàng xóm chịu hết nổi nên đã kêu cảnh sát. Nhưng ở tù vài tháng ra, ông lại giở trò vũ phu như trước, và lần cuối cùng là em trai tôi đi thưa với đầy đủ bằng cớ. Tội nọ cộng tội kia, ba tôi bị tống giam cho đến bây giờ.

Amelia chùi nước mắt:

- Có thể tha thứ hay không? Tôi loay hoay mãi cho đến hôm quyết định vào khám, muốn mặt đối mặt với ba tôi để xem mình còn căm hận ông đến đâu. Tôi suy nghĩ kỹ càng và chuẩn bị kỹ càng đủ mọi điều. Soạn ra trong đầu những gì sẽ nói, kể cả những câu chửi mắng như có lần tôi chửi một người quen biết cũ của ông ở ngay cạnh sân nhà thờ này khi ông ta nhắc đến ba tôi.

Amelia nói cô vẫn tưởng mình sẽ phản ứng dữ dội lắm.

- Vậy đó mà lúc thấy mặt ông rồi, tôi hoàn toàn không biết phải nói gì. Ông tiều tụy, già nua thì đã hẳn, mà còn như một người mất trí. Ba tôi bị bịnh Alzheimer, không nhớ gì nhiều. Tôi đã ngồi ngó ba tôi, cơ hồ ngó một cái bóng nắng ngã trên đường, ngó một cây cải tàn tạ cuối mùa. Chẳng thăm hỏi cũng chẳng mắng mỏ như đã nghĩ. Tôi chỉ ngó. Rồi tôi đi về. Nhưng tự dưng trước khi tôi quay lưng đi, thình lình ba tôi bỗng hỏi “mấy cái hoa trắng bà ấy trồng có còn sống không vậy?” Tôi sững sờ nhìn lại ba tôi với hình ảnh những giọt nước mắt trào ra hai bên khóe như một ông già hiền lành, chất phác nào đó đang nhắc đến người vợ yêu thương đã qua đời của mình.

Mấy cái hoa trắng… Tôi không thể nào ngờ ba tôi còn nhớ mẹ tôi yêu hoa trắng, và trồng hoa trắng như vậy, dù ngày xưa mẹ tôi chưa bao giờ có được một mảnh đất, một miếng vườn để trồng những loại hoa mình thích. Bà chỉ có một hai cái chậu sứt mẻ ở đầu nhà mà ba tôi luôn dọa sẽ đạp đổ… Tôi bật khóc nức nở. Tôi tự hỏi, có phải chăng, con người, khi đến cuối cuộc đời mới biết đâu là cội nguồn?

Amelia kết thúc:

- Có thể ba tôi sẽ được thả khỏi tù sớm vì căn bịnh của ông, và không biết người ta sẽ đưa ông đi đâu, cho ông ở chỗ nào. Thật lòng mà nói, tôi chưa dám chắc mình đã thương yêu, đã tha thứ cho ông đủ để đưa ông về nhà ở, nhưng mỗi bận đi ra vườn, nhìn thấy những bụi cây tôi đã trồng từ ngày về lại thành phố này, thì tôi lại nghĩ tới câu ba tôi hỏi, mấy cái hoa trắng…

Hoàng Nga

Việt Nam: Đại họa diệt vong đã đến, qua sự khủng bố của Trung cộng, Lào, Miên, từ các đập thủy điện

Mường Giang


Năm 2006, Cao Guangjing, phó giám đốc quản lý công trình thủy điện của Hoa Lục, đã tuyên bố với báo chí trong và ngoài nước, rằng Trung Cộng sắp hoàn thành Ðập Thủy Ðiện Tam Hiệp, lớn nhất thế giới, trên sông Dương Tử và hãnh diện xác nhận: Ðây là một kỳ quan cũng như biểu tượng kinh tế của Tàu, trong thế kỷ XXI.

Có điều lạ trong lần khoe tốt này, ngay chính đương sự cũng không dám khẳng định, công dụng của đập thủy điện trên tốt xấu thế nào, mà chỉ nói bâng quơ rằng phải chờ tới những ba chục năm sau, hay đúng hơn phải coi nó có thể ngăn chống được sự tàn phá hằng năm của lũ lụt thường trực trên sông Dương Tử, lúc đó mới có thể kết luận.

Câu chuyện làm cho người ta nhớ lại Vạn Lý Trường Thành, xưa nay ai cũng nói do Tần Thủy Hoàng xây dựng trước Thiên Chúa giáng sinh, từ lâu được đanh giá là một công trình kiến trúc vĩ đại, chẳng những của nước Tàu, mà còn là của nhân loại. Tuy nhiên huyền thoại này, vào năm 1969 đã bị đánh đổ, bởi Arthur Waldron, giáo sư khảo cổ tại Trung tâm nghiên cứu về Ðông Á, thuộc Trường Ðại học Harvard (Hoa Kỳ).

Trong tác phẩm ‘The great wall of China’, trình bày những nghiên cứu lịch sử và khảo cổ tại chổ sau nhiều năm đi khắp nước Tàu, cuối cùng tác giả đã khẳng định rằng Vạn Lý Trường Thành, đã tồn tại suốt bao chục thế kỷ qua, thực chất chỉ là huyền thoại. Theo ông, từ năm 700 trước Tây lịch tới nay, khắp nước Tàu đã có rất nhiều thành lũy được xây dựng rãi rác mọi nơi, mọi thời. Nên câu chuyện bức tường thành được kiến trúc duy nhất thời nhà Tần, là không đúng sự thật. Ðể chứng minh, tác giả dựa vào lịch sử Trung Hoa, từ thời nhà Hán cho tới thế kỷ thứ XIII, khi Nhà Nam Tống bị quân Mông Cổ xâm lăng và tiêu diệt, cho thấy Tàu lúc đó không hề có một bức tường thành nào cả, nên đã không thể ngăn cản được vó ngựa trường chinh của Thành Các Tư Hản ở phương Bắc. Ngoài ra ông còn dựa vào các tác phẩm văn chương cổ điển của Trung Hoa qua bao thời dại, xác nhận các văn nhân lúc đó, chẳng hề xử dụng tới danh từ nào đồng nghĩa với ‘The great wall’, mà Tây phương chỉ mới dùng sau này.

Ngay đến tài liệu phòng thủ của nhà Minh (1368-1644), cũng không hề nhắc tới Vạn Lý Trường Thành. Mãi đến nửa thế kỷ thứ XVI, trước nguy cơ đe dọa của các dân tộc du mục phuơng Bắc như Mãn, Mông, Tạng.. đã làm cho các Hoàng đế cuối cùng của nhà Minh, mới nghĩ tới việc xây dựng Trường Thành, mục đích phân biệt ranh giới địa lý và nhân vân của Trung Nguyên với các dân tộc trên. Ðó chính là hình ảnh mà người Tây phương đầu tiên đã mang tới cho thế giới bên ngoài, hồi thế kỷ XVIII và phổ biến tới ngày nay. 

Còn huyền thoại về Vạn Lý Trường Thành do Tần Thủy Hoàng xây dựng, theo Waldron cũng không phải phát xuất từ sách vở của người Tàu, mà được Mao Tôn Cương, hồi thế kỷ XIX do các nhà thám hiểm và khảo cổ Châu Âu. Riêng nhũng ghi chú về Trường Thành, trên bản đồ mà Bắc Kinh phổ biến hiện nay, cũng là sản phẩm của các Giáo sĩ truyền đạo Thiên Chúa, thuộc Dòng Tên, vào thời Nhà Thanh (1644-1912) . Tóm lại, theo các nhà nghiên cứu trong hội nghị quốc tế vừa được tổ chức tại Bắc Kinh, thì Vạn Lý Trường Thành, phần lớn được xây dựng từ thời Nhà Minh. Còn quan niệm cho rằng nhửng thành lũy thời Chiến Quốc, được nhà Tần nối lại với nhau, thành bức Trường Thành, ngày nay kể cả người Tàu vẫn nghi ngờ về phương diện khảo cổ, còn các sử gia thì nói đây là sự giả định, vì không có tài liệu nào minh chứng.

Nhưng đó là chuyện của nước Tàu, nó chỉ liên quan đến chúng ta, là liệu đập thủy điện Tam Hiệp trên sông Dương Tử, có ảnh hưởng gì tới những đập thủy điện khác, mà Trung Cộng đã xây dựng trên thượng nguồn của sông MeKong và Hồng Hà, trong tỉnh Vân Nam, trước khi chảy vào lãnh thổ nước ta, được đánh giá như là một sự khủng bố trắng trợn, đối với vận mệnh của Dân tộc VN. Ðây là nguy cơ trước mắt, được cả thế giới thấy rõ, cho dù Ðảng VC đang đô hộ cả nước, vì sợ Tàu, nên đã cố tình bưng bít nội vụ một cách công khai.  

Bao chục năm qua, người Việt trong và ngoài nước đã căm thù đến tận xương tuỷ, trước những sự việc Trung Cộng xâm lăng cưởng chiếm lảnh thổ của chúng ta. Nhưng đó cũng chỉ là một trong ngàn muôn nổi buồn của thân phận nhược tiểu VN, trong biển máu lệ nước mắt thống hận. Bởi vì cùng lúc, giặc Tàu còn gây ra nhiều cuộc khủng bố khác, mà tàn khốc nhất là đang xữ dụng những đập thủy điện trên các dòng sông phat nguyên trên đất Tàu, chảy vào VN, như một thứ vũ khí môi sinh chiến lược, liên quan  tới sự sống còn của dân tộc.

Ai có thể ngăn được sự phẩn uất, trước lời tuyên bố xấc xược và ngạo mạn của Wang Xiaodong, chuyên viên nghiên cứu của Trung Cộng, về việc khai thác sông Mekong ‘Ðây là đất nước Tàu, nên muốn làm gì cũng được, ai dám ngăn cản ‘.

Mới đây báo chí tại Trung Cộng đã đồng loạt đăng tải sự lên tiếng của các chuyên gia môi trường tại Hoa Lục, trong đó có Giáo sư Ðại học về môn đia chất là Yuan Aiguo. Theo họ thì tình trạng ô nhiễm đang xãy ra trên sông Dương Tử rất nguy kich, ngoài việc gây bệnh ung thư vì nước uống, dòng sông có thể chết trong 5 năm sắp tới, do việc đổ xuống đây tất cả các loại rác rưởi, trong đó có hóa chất độc hại và cả xác tàu thuyền bị chìm. Hiện 80% nguồn nước ngọt của Thượng Hải là do sông Dương Tử cung ứng (80% thiếu vệ sinh và có chứa hoá chất). Dù Tàu Cộng cố bưng bít nhưng thảm trạng cũng đã bị phanh phui trên dòng sông Tùng Hoa.

Xem như vậy làm sao các dòng sông thiêng của VN như Hồng Hà, Ðà Giang, Lô Giang và quan trọng nhất là sông Cưu Long, đều phát xuất từ bên Tàu, chảy qua tỉnh Vân Nam, trước khi vào lãnh thổ chúng ta, chắc chắn cũng đang mang chung số phận của sông Dương Tử. Có điều chừng nào VC mới dám công khai lên tiếng phản đối Tàu và thông báo tình trạng ô nhiểm nguy kịch chết người, để đồng bào cả nước biết., một sự kiện đáng làm trước hết hơn là phung phí ngân khố quốc gia, để lãnh tụ và ca sĩ quốc doanh xuất ngoại làm trò cười cho đồng bào tị nạn khắp nơi trên thế giới.

1- ÐẬP THỦY ÐIỆN : VŨ KHÍ MÔI SINH CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG CỘNG .

Giang Nam là tên gọi của lưu vực hạ nguồn sông Dương Tử, do nhà Thanh (1644-1912) đặt ra, gồm các tỉnh Giang Tây, Giang Tô và Triết Giang. Miền này thời Ðường, Tống được gọi là Giang Châu, nguyên là đất đai của Bách Việt (Ngô Việt, Mân Việt, Âu Việt và Lạc Việt..), thủ công tinh xảo, dân trí thanh lịch, non nước hữu tình.

Sông Dương Tử còn có tên là Trường Giang, đứng thứ ba trên thế giới sau sông Amazone (Nam Mỹ) và sông Nile (Ðông Phi), có chiều dài 6380km, phát nguyên tại vùng rừng núi Thanh Hải (Tây Tạng), từ trên độ cao 6600m, chảy qua phía tây Tứ Xuyên, xuống phía bắc Vân Nam, rồi đổi hướng chảy ngược lên phía đông Tỉnh Tứ Xuyên, ngang qua các tỉnh Hồ Bắc, An Huy, Giang Tô và ra Biển Ðông tại Hoàng Hải. Nếu tính luôn các phụ lưu, chi nhánh chằng chịt khắp miền Hoa Trung, thì chiều dài của sông Dương Tử lên tới 80.000 km, với hơn 12 triệu dân, gồm 55 sắc tộc, sinh sống ở hai bên bờ sông với đủ nghề.

Trên thượng nguồn, sông Dương Tử có 3 khe núi lớn gồm 25 thác đổ, nhiều nơi nước chảy xiết nhất là vào mùa mưa, khiến cho các ghe thuyền xuôi ngược dễ bị chìm vì đá ngầm. Ðó là hẽm Kingtanxia dài 5km, hẽm Wuxia dài 25km và hẽm Xilingxia dài 47km, tuy ngày nay đã được nạo vét nhưng tàu qua lại vẫn phải có hoa tiêu hướng dẫn để tránh nguy hiểm.

Lưu vực sông Dương Tử hiện nay có hơn 400 triệu người sinh sống. Ngoài ra vùng này còn có 5 hồ lớn, thường đước nhắc nhớ trong các tác phẩm thơ văn của Trung Hoa . Phân Dương Hồ, chứa nước ngọt , rộng tới 5000 km2, nằm trong tỉnh Giang Tây, gần thành phố Vũ Hán. Ðộng Ðình Hồ có các sông Tiêu và Tương đổ nưóc vào và thông với Trường Giang qua sông Hán. Hồ nằm phía tây tỉnh Hồ Nam, nổi tiếng với Nhạc Dương Lầu, măng tre Thần Châu và quít ngọt Ðộng Ðình Hồng. Thái Hồ chứa nước mặn nằm giữa hai tỉnh Giang Tô và Giang Tây. Sào Hồ và Tây Hồ .

+ ÐẬP THỦY ÐIỆN TAM HIỆP TRÊN SÔNG DƯƠNG TỬ :

Tháng 12-1994, Trung Cộng chính thức khởi công xây dựng Ðập Thủy Ðiện Tam Hiệp (Three Gorges Dam), trên khúc sông Dương Tử, chảy trong tỉnh Hồ Bắc, vừa để khống chế nạn lụt hàng năm, đồng thời xây dựng một nhà máy thủy điện với công suất tổng cộng lên tới 12.000 MW. Ðể thực hiện công trình trên, đảng cộng sản đã đuổi hơn 1,5 triệu người dân bản địa, đồng thời làm xáo trộn sinh hoạt của 20 thành phố lớn nhỏ trong vùng.

Tam Hiệp, địa điểm được chọn để xây dựng đập thủy điện, là tên một khúc sông Dương Tử dài hơn 200km, từ phía tây tỉnh Tứ Xuyên, chảy qua phía đông tỉnh Hồ Bắc, được coi như điểm nối của vùng thung lũng Tứ Xuyên với các đồng bằng miền Hoa-Trung, phía dưới hạ nguồn. Khúc sông này chảy qua ba hẽm núi lớn và 25 thác đổ. Theo nhận xét của nhiều bậc thức giả trong và ngoài nước, thì dự án Ðập Thủy Ðiện Tam Hiệp tuy đã được manh nha từ thời Dân Quốc, do Tôn Dật Tiên đề xướng. Nhưng bị các hội bảo vệ môi trường sinh thái địa cầu chống đối, vì nó sẽ hủy diệt vĩnh viễn cãnh quan thiên nhiên trong vùng, đồng thời xóa tên 140 thành phố lớn nhỏ, 4500 làng mạc, 30.000 ha đất trồng trọt, hằng ngàn di tích lịch sử và tiêu phí một ngân khoản khổng lồ, mà không chắc đạt được kết quả mong muốn.

Với nước Tàu, từ trước tới nay sông Dương Tử là nguồn nước tưới cho cả khu vực đồng bằng Hoa Trung, miền đất cá và gạo, chiếm nửa tổng sản lượng của cả nước. Nhưng đồng thời sông Dương Tử cũng là tai ương ngàn năm của Hán Tộc, riêng trong thế kỷ XX lụt lội đã gây cho hơn 300.000 dân chúng trong vùng thiệt mạng. Giống như sông Mekong, sông Dương Tử cũng phát xuất từ Tây Tạng, chảy qua khu vực Tam Hiệp, trước khi vào thành phố Trùng Khánh, được coi như lớn nhất hiện nay tại Hoa Lục.

Từ nhiều lý do, trong đó quan trong nhất cũng vẫn là mục tiêu chính trị, khiến cho Bắc Kinh đã nhắm mắt lao vào một công trình rất tốn kém về tiền bạc, sức người lẫn thời gian, gây ảnh hưởng nặng nề đến vấn đề tâm lý, khi đàn áp đuổi dân, phá hoại các công trình kiến trúc bao đời trong vùng. Thực hiện được đập thủy điện này, về quốc tế Trung Cộng sẽ hãnh diện có thêm một kỳ quan, sau Vạn Lý Trường Thành. Về kinh tế, Ðảng Cộng Sản nuôi hy vọng, nhờ nó giúp mức phát triển 11% hàng năm qua nguồn cung cấp điện cho công nghệ và sinh hoạt.

Ðây là một cái đập khổng lồ, kinh phí dự chi tốn khoảng 30 tỷ đô la, thực hiện trong 14 năm. Chiều cao của dập 607 bộ, chiếm một diện tích hơn 1 dặm vuông, bao gồm một hồ chứa nước dài 370 dặm và một hệ thống khóa đặc biệt : Hút nước từ các nguồn nước khác khi thiều, cũng như xã nước vào mùa lụt, vừa giúp sự giao thông trên sông Dương Tử, đồng thời vét vơ nước từ các con sông khác, qua hệ thống kênh đào, để tưới cho các vùng đất khô hạn xa xôi ở phía tây.

So với các đập thủy điện khác trên thế giới, dập Tam Hiệp không cao và rộng hơn nhưng lại trội nhiều về sức mạnh, với 26 Turbin mà trọng lượng mỗi chiếc 400 tấn/1 chiếc, sẽ tạo ra 18.200 magawatt điện, công suất tương đương với 18 nhà máy điện nguyên tử. Ðập này mạnh hơn các đập Itapu (giữa Brazil và Paraguy có công suất 12.600 megawatt ), dập Guri ở Venezuela có 10.300 megawatt, dập Grand Coulee ở Colorado của Mỹ có 6809 megawatt và đập Sayano Shushensk ở Nga với 6400 megawatt.

Theo nhận xét của thế giới, Trung Cộng đã tốn hết 75 tỷ Mỹ kim cho công trình vĩ đại này (chứ không phải 19 tỷ như tuyên bố của đảng). Vì mục tiêu chính trị, Trung Cộng không cần biết tới tính khả thi và hiệu quả kinh tế của dự án, hầu như đều bị sự phê bình chỉ trích của các nhà đầu tư và tài chính quốc tế. Bởi thế nên không làm lạ khi nghe Phó giám đốc xây dựng đập là Cao Guangjing, nói rằng muốn biết đập có hoàn hảo hay không, phải đợi tới 30 năm sau mới thấy được.

Chưa hết, Trung Cộng còn cho biết sau khi hoàn tất đập Tam Hiệp vào năm 2008, Ðảng lại tiếp tục xây thêm 10 đập khác trên thượng nguồn sông Dương Tử, nối tiếp vùng Tam Hiệp. Ðiều lo lắng nhất của người Tàu hiện nay, là làm thế nào để có thể giảm nhanh chóng một biển nước khổng lồ, luôn được chứa trong hồ với độ cao từ 512-574 ft, khi mùa mưa tới. Thãm kich về đập thủy điện Banqiao ở Hồ Nam, vào năm 1975 mưa nhiều vở đê kéo theo sự sụp đổ của cả một hệ thống đập chung quanh, gây lụt lội làm chết hơn 230.000 người. Nhưng Trung Cộng đã ém nhẹm tới gần đây thế giới mói biết. Ngoài ra đập thủy điện Tam Hiệp chưa khánh thành nhưng nhiều dấu hiệu bể nứt đã thấy xuất hiện. Ðiều này cũng dễ hiểu, vì trong thế giới của các nước xã hội chủ nghĩa anh em (Tàu, Nga, VC, Bắc Hàn, CuBa), gần hết ngân khoản của các công trình xây dựng, đều bị cán đảng và quan quyền lớn nhỏ, móc ngoặc với nhà thầu, chia, chặt, xén, bỏ túi.. cho nên đâu có kiến trúc nào được toàn vẹn, vì vậy chưa bàn giao đã lung lay hay sứt mẽ là cái chắc.


+ HỆ THỐNG ÐẬP THỦY ÐIỆN TẠI TỈNH VÂN NAM, TRÊN SÔNG MEKONG VÀ HỒNG HÀ CHẢY VÀO VN :

Sông MeKong phát nguyên từ Tây Tạng, chảy qua Trung Hoa, Lào, Thái Lan, Miến Ðiện, Kampuchia và VN rồi ra Biển Ðông tại chín cửa lớn nhỏ, nên phần sông chảy trong lãnh thổ VN, mới có tên là Cửu Long Giang. Cũng vì dòng sông có sự liên quan của nhiều nước, nên đã có chương trình hợp tác phát triển lưu vực sông Mekong, do nhiều tổ chức và các định chế tài chính quốc tế tham gia. Trên lý thuyết, đã có tới sáu chương trình và dự án phát triển con sông trên. Chương trình Ủy ban sông Mekong (MRC), do LHQ khởi xướng từ năm 1957, nhằm quản lý nguồn nước và tài nguyên của sông, được xúc tiến mạnh sau năm 1975, khi chiến tranh Ðông Dương lần 2 chấm dứt.

Năm 1992, Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) lại khởi xướng chương trình hợp tác sông Mekong, giữa các nưóc liên hệ (GMS), thúc đẩy sự đầu tư khai thác của các nước trong vùng, qua các dự án đầu tư do ADB chi phối. Năm 1993, Nhật Bản đề xướng diễn đàn phát triển toàn diện Ðông Dương (F&DI), chú trọng vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong vùng có sông Mekong chảy qua. Tiếp theo Nhật lại đưa thêm dự án AEM-MITI nhằm giúp Miến Ðiện, Lào, Kampuchia chuyển đổi sang cơ chế thị trường. Cũng năm 1993, Thái Lan lại đề xướng chương trình hợp tác sông Mekong, nhằm phát triển khu vực sông chảy qua các nước Tàu, Miến Ðiện, Thái Lan và Lào.

Tháng 12-1995, Tân Gia Ba và Mã Lai lại đề xướng dự án hợp tác phat triển sông Mekong của các nước thành viên Asean có sông Mekong chảy qua, ưu tiên là đặt hệ thống đường sắt.. Nhưng tất cả đều là lý thuyết, vì Trung Cộng là nước ở thượng nguồn sông Mekong, chẳng bao giờ tôn trọng các ảnh hưởng, sự tác động và lợi ích kinh tế của những nước khác ở hạ nguồn. Trung Cộng đã ỹ mình nước lớn, nên đã bất chấp sự phản đối của các nước liên hệ, bao chục năm qua đã xây dựng cả hệ thống Ðập Thủy Ðiện trên sông Mekong, trong tỉnh Vân Nam, gây thiệt hại nhiều nhất cho hai nước hạ nguồn là Kampuchia và VN.

Thật ra âm mưu khống chế sông Mekong, được Trung Cộng manh nha từ năm 1970. Do sự cô lập và bưng bít nên mãi tới năm 1989 khi Ðặng Tiểu Bình mở cửa đón tư bản vào cứu đảng, người ta mới biết được đại khái là Hoa Lục đang xúc tiến các dự án đập thủy điện tại Vân Nam. Theo tài liệu chính thức của Tỉnh Ủy Vân Nam và lời xác nhận của Hiroshi Hiro, người Nhật, một chuyên gia về sông Mekong, cho biết Trung Cộng đã xây dựng tới 14 con dập bậc thềm, trên thượng nguồn sông này, đó là chưa kể các con đập khác ở các phụ lưu và trên sông Hồng Hà. Theo thứ tự từ Bắc xuống Nam, ta thấy các đập thủy điện Liutongsiang, Jiabi, Wunenglong, Tuoba, Huangdeng, Tiemenkan, Guongguoqiao, Công Quả Kiều, Xiaowan, Tiêu Loan, Manwan, Daichaoshan, Ðại Triều Sơn, Nuozhado, Nọa Trát Ðộ, Jinhong, Cảnh Hồng, Ganlanba và Mãnh Tòng.

Sông Mekong hay Dza-Chu (Nguồn nước của đá), phát nguyên từ cao nguyên phía đông Tây Tạng, dài hơn 4000 km, chảy về hướng Nam, băng qua những hẽm núi sâu và rừng núi hoang lạnh của tỉnh Vân Nam với cái tên Lan Thương Giang (Lancang Jiang). Riêng khúc sông chảy giữa biên giới Lào-Thái mang tên Mae Nam Khong. Tại Cam Bot sông lại có tên là Tonle Thom và cuối cùng Cửu Long Giang trong lãnh thổ VN.

Trong cuốn sách ‘ Lan Thương Giang - Tiểu Thái Dương ‘ , do Vân Nam Nhân Dân Thư Xã ấn hành bằng tiếng Tàu, từ đầu tới cuối chỉ đề cao tới tiềm năng của sông cần khai thác, tuyệt nhiên chẳng thấy nói tới hậu quả nào do chuổi đập gây thiệt hại tới các nước ở hạ lưu. Ðiều này dễ hiểu,vì Trung Cộng luôn coi đó như một bí mật quốc phòng, thứ vũ khí môi sinh chiến lược, để khủng bố VN, quốc gia cuối cùng nơi dòng sông thoát ra biển.

Tóm lại chỉ riêng với ba con đập đầu tiên được xây dựng trên thượng nguồn Mekong là dập Mạn Loan, Ðại Triều Sơn và Cảnh Hồng, với các triền núi cao dùng làm vách hồ chứa nước vào mùa mưa và xã nước trong mùa nắng. Hậu quả sông Mekong sẻ không còn những cơn lụt hằng năm, mang phù sa và các loại thủy tộc, từ thượng nguồn xuống Biển Hồ, sông Tiền, sông Hậu. Cuối cùng các hồ chứa nước tại Vân Nam, sẽ giữ lại hết phù sa và nước ngọt tại chuổi đập bậc thềm, làm cho Biển Hồ khô chết, còn đồng bằng miền Nam ven biển Ðông, sẽ bị ngập mặn vì lòng sông thấp hơn mực nước biển.

Trước mắt những con đập tại Vân Nam, thường trực gây bất thường cho dòng sông Mekong, làm xói lở hai bờ, đọng nhiều muối trên đất, nguồn phù sa hằng năm từ thượng nguồn bị giữa lại, làm cho ruộng thiếu nguồn phân bón thiên nhiên. Tai hại hơn, là Trung Cộng đã trút đổ những chất phế thải độc hại từ các nhà máy công nghệ như chì, kẽm, cyanide.. gây ô nhiểm nước uống và hệ thủy sản trên sông, nhất là các loại cá .

Tháng 12-2001, theo tin Asian Pulse cho biết là Trung Cộng lại khởi công xây đập Tiểu Loan trên khúc giữa Lạn Thương Giang, lớn thứ nhì trên nước Tàu, chỉ thua đập Tam Hiệp. Ðập này có công suất điện 4200 MW, cao nhất thế giới 292 m, riêng hồ chứa nước lên tới 15 tỷ m3 khối nước, từ nguồn sông Mekong. Ðập hoàn thành năm 2010 với kinh phí 4 tỷ đola.

Ngày nay Trung Cộng đã công khai đe dọa thế giới, trực tiếp đối đầu với Mỹ, Nhựt, Liên Âu và LHQ, nên đâu có lạ khi thấy người Tàu toàn quyền khai thác sông Mekong và từ chối tham dự Ủy hội bảo vệ con sông này vào năm 1995 cũng như không cầm đếm xỉa tới thảm họa môi sinh của 5 nước dưới hạ nguồn. Thế giới ai cũng nhìn thấy rõ, nhát là mưu đồ dùng sông Mekong như một thủy lộ, khi có cuộc chiến trong tương lai gần.

2- ÐỒNG BẰNG VÀ SÔNG NGÒI VN, TRƯỚC THẢM HỌA KHỦNG BỐ CỦA TÀU :

Diện tích VN hiện nay là 331.000 km2, trong đó hai đồng bằng Bắc và Nam Việt, xưa nay được coi như là vựa lúa gạo của cả nước. Miền châu thổ Bắc Việt hình thang, giới hạn bởi tứ giác Phủ Lạng Thương, Ðồ Sơn, Việt Trì và Phát Diệm., với diện tích 15.000 km2, chỉ chiếm 12% Bắc Phần (115.700 km2), được hình thành bởi phù sa sông Hồng Hà và Thái Bình.

+ SÔNG HỒNG HÀ : Phát nguyên từ rặng Ngụy Sơn, kế Ðại Lý Hồ trong tỉnh Vân Nam (Tàu), có chiều dài 1200 km, phần chảy trên đất Trung Hoa gọi là sông Ma Lung hay Nguyên Giang. Riêng 500 cây số trong lãnh thổ VN, được gọi là Nhĩ Hà, Hồng Hà hay Sông Thao.

Sông vào địa phận Bắc Việt tại Hà Khẩu (Lào Kai), trước khi ra biển Ðông, đã tiếp nhận nhiều phụ lưu quan trọng như sông Lô ở tả ngạn. Sông này còn có tên là Thanh Giang, cũng phát nguyên từ bên Tàu và chảy vào VN tại Hà Giang, rồi đổ vào sông Hồng ở Việt Trì. Sông Lô còn có hai phụ lưu là sông Gầm va sông Chẩy thông với hồ Ba Bể.

Sông Ðà bên hữu ngạn, cũng phát nguyên từ Vân Nam, chảy vào VN song song với sông Hồng và đổ vào sông này tại Việt Trì. Ngoài ra còn có nhiều sông nhỏ khác, cũng đổ vào Nhĩ Hà như Nậm Pò, Nậm Na, Nậm Mấc, Ngòi Thia, Ngòi Lao ở thượng nguồn. Phía gần biển, có thêm các phụ lưu Sông Luộc, sông Ðuống, sông Ninh Cơ, Trà Lý.. Tất cả đã mang phù sa bồi đắp cho cánh đồng lúa mùa, miền Hạ Du, ngay từ thời Văn Lang lập quốc cho tới bây giờ. Từ Hà Nội lên Lào Kai, xuyên biên giới đi Vân Nam ,có con đường sắt được thiết lập từ thời Pháp thuộc, chay song song với tả ngạn sông Hồng, qua những nhà ga Bảo Hà, Trái Hút, Phố Lu.. mang đầy huyền thoại trong kho tàng văn học dân gian, về các câu chuyện ‘ Ma-Cọp ‘.

Lào Kai là tỉnh địa đầu của miền tây bắc, chỉ cách Trung Cộng có cây cầu biên giới Cốc Lếu, nên trong cuộc chiến năm 1979, giặc Tàu gần như làm cỏ thành phố, mãi cho tới năm 1991 mới chỉ có 1700 gia đình trở về nhà cũ của mình.. Ngày nay nhờ chương trình du lịch Sapa và nhất là buôn lậu, nên Lào Kai dân số gần 100.000 người. Thị xã nằm ngay trên ngả ba sông Nậm Thị từ Vân Nam đổ vào sông Hồng. Cầu Hồ Kiều dài 200m, ngăn đôi hai nước, bên này là Lào Kai, phía bên kia là thị trấn Hà Khẩu, thuộc châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam.

Sông ra biền bằng cửa Ba Lạt và Trà Lý ở thị xã Thái Bình. Trước đây khi Trung Cộng chưa xây dựng các đập thủy điện trên thượng nguồn của sông chảy trong tỉnh Vân Nam, thì Nhĩ Hà có lưu lượng rất lớn và thay đổi tuỳ theo mùa, từ 300m3/1 giây - 28.000 m3/1 giây nhưng trung bình là 700m3/1giây.. Nước sông dâng cao thường vào mùa mưa, tại Hà Nội có khi dâng cao tới 12m, trong khi mùa nắng mực nước chỉ có 2m.. Từ trước tới nay vùng Hoa Nam và Bắc Phần có nhiều mưa về mùa hè, làm cho mực nước sông Nhị dâng cao rất nhanh. Lúc trước tại Vân Nam, rừng chưa bị đốn để dựng đập nước, nên mùa mưa, phần nào giữ được nước tuôn từ thượng nguồn về.

Nay Trung Cộng xây đập khắp nơi, mùa nắng thì giữ nước ngọt lại trong hồ chứa để mà tưới, trái lại mùa mưa thì mở đập để nước trên sông lẫn trong hồ, tuôn về hạ nguồn, cho nên mấy năm qua, Hà Nội và các tỉnh Bắc Phần luôn bị nạn lụt. Trong khi đó , hệ thống đê điền ở miền Bắc tuy dài hơn 4000km, nhưng lại có quá nhiều khuyết điểm, chẳng hạn như đê phải đắp cao theo tình hình mực nước, khiến cho đê thường bị vở. Ngoài ra vì bị đê ngăn chặn phù sa, khiến cho đồng bằng Bắc Phần lần hồi không được bồi đắp, nên càng lúc thêm cằn cổi, thu hoạch kém, tốn nhiều phân bón.

Riêng hệ thống sông Thái Bình, dài độ 340km, chảy từ Phả Lại, qua Hải Dương ra biển, với các phụ lưu là sông Lục Nam, sông Thương và sông Cầu, đều phát nguồn trong nội địa VN. Tuy nhiên vì Sông Nhị có hai phụ lưu ở tả ngạn là sông Ðuống và sông Luộc, đều chảy vào sông Thái Bình, cho nên hệ thống sông này cũng bị ảnh hưởng khi nguồn nước hay dòng chảy của sông Hồng bị tắt nghẽn hay bất thường. do những ảnh hửng từ thượng nguồn bên Vân Nam gây ra.

+ ÐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG :

Ngày nay đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm 12 tỉnh miền tây Nam phần : Long An, Mỹ Tho, Bến Tre, Ðồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bac Liêu và Cà Mâu. Khu vực này chiếm một diện tích 40.000 km2 với hơn 16 triệu dân, gồm người Việt, Khmer, Hoa và Chàm. Do cấu tạo môi trường thiên nhiên khác nhau, ảnh hưởng từ sông, biển và khí hậu, nên khu vực này được chia thành bốn vùng riêng biệt :

            - Vùng phù sa nước ngọt : Từ nguồn sông chính tại Kampuchia, Mekong chảy vào Nam Phần bằng hai nhánh tại Châu Ðốc và Hồng Ngự, xuống tận Mỹ Tho, Bến Tre. Khu vực này chiếm một diện tích hơn 1 triệu Ha, phần lớn là vườn cây ăn trái đủ loại, mọc bạt ngàn theo hai bờ sông Tiền và Hậu, cùng với một hệ thống kênh rạch chằng chịt như mạng nhện. Ðặc biệt giữa dòng sông thường có nhiều cù lao lớn nhỏ như Cồn Phụng, Lân, Qui tại Mỹ Tho, cù lao Ông Hổ ở An Giang, cù lao Tân Lộc (Thốt Nốt-Cần Thơ), cù lao Bình Hòa Phước tại Vĩnh Long..

            - Vùng phù sa nước mặn : Chiếm diện tích khoảng 900.000 Ha, bao gồm lưu vực các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau. Ðặc điểm vùng này là có nhiều rừng nguyên sinh ngập măn, nhiều khu vực tập trung hàng ngàn loại chim cò đủ loại tại Vàm Hồ (Ba Tri-Bến Tre), Bạc Liệu hay Chùa Dơi (Sóc Trăng)..

            - Vùng bán đảo Cà Mau : Nằm cuối miền Nam nước Việt, rộng chừng 1 triệu Ha và hằng năm được phù sa của sông Hậu, bồi đắp thêm làm cho Mũi Cà Mâu càng lấn ra biển từ 60 ố 80m. Tại đây còn nhiều khu rừng tràm, đước được dùng làm củi đốt từ xưa tới nay Khắp khu vực có nhiều Sân Chim Cò, Cốc hơn 40 loại, sống tại Ngọc Hiển, U Minh, Hòn Khoai. Ðây cũng là vựa tôm, cá và đặc biệt là mật ong nổi tiếng của Miền Nam.

          - Vùng Ðồng Tháp Mười và Khu Tứ Giác Long Xuyên : Rộng 1 triệu ha, được coi như là những hồ chứa nước thiên tạo, vào mùa sông Tiền-sông Hậu lụt lội, nhờ vào năm miền trũng thấp. Trong số này quan trọng nhất vẫn là Ðồng Tháp Mười, với các khu rừng tràm Xẻo Quít (20 Ha), Tràm Chim (2441Ha).. có hơn 141 loài chim sinh sống, nhiều nhất là loài sếu đầu đỏ.

Nói chung đồng bằng sông Cửu Long được tạo thành bởi phù sa của hai nhánh sông Mekong, gọi là sông Tiền (Dòng chính) và sông Hậu, được chia thành chín nhánh nhỏ hình rẽ quạt, đổ ra biển bằng chín cửa, lại tạo thành nhiều cù lao rất phì nhiêu. Trong lãnh thổ VN, phía thượng nguồn, sông Cửu Long làm thành vùng trũng như những hồ chứa nước thiên nhiên trong mùa lụt. Về phía biển, đồng bằng được phù sa bồi đắp cao ráo, thành những giồng để cất nhà cửa, lập vườn cây ăn trái . Dòng sông cho nhiều tôm cá quanh năm, bù đắp phù sa như một thứ phân bón hữu to rất tốt cho đồng ruộng. Toàn vùng, Mỹ Tho được coi là lý tưởng nhất cho nghề nông vì đất đai phì nhiêu, sông rạch đầy tôm cá, người dân làm chơi ăn thiệt, cuộc sống sung túc, tạo thêm dân trí lễ nghĩa với các thú vui nghệ thuật, mà phát triển nhất nếp sống miệt vườn tao nhã qua đờn, ca, hát xướng, thơ ngâm, hò đáp khi chèo thuyền giả gạo.

Sông Tiền Giang chảy ngang qua thành phổ cổ kính Mỹ Tho, trước khi ra biển bằng nhiều nhánh. Giữa những nhánh sông có các cù lao rộng lớn phì nhiêu, làm thành tỉnh Bến Tre nổi tiếng với rặng dừa xanh lơn nhất nước. Trường Trung Học danh tiếng Nguyễn Ðình Chiểu tại Mỹ Tho, được coi như là ngôi trường đầu tiên của người Việt tại Nam Phần, trong lúc Sài Gòn mới có ngôi trường Trung học dành cho con cái người Pháp (nay là trường TH.Lê Quy Ðôn) , lập hồi cuối thế kỷ XIX. Vào năm 1926, Sài Gòn mới có trường TH.Petrus Ký, dành cho người Việt.

Ðất Gò Công sát biển, nổi tiếng với Ðức Từ Dũ (Mẹ ruột vua Tự Ðức nhà Nguyễn), căn cứ chống thực dân Pháp của anh hùng Trương Ðịnh (1863). Ngược về phía nam, xuyên QL4 (nay là QL1), trước khi đến cầu Mỹ Thuận (thay thế phà), hai bên đường lẫn bờ sông, nhà cửa san sát, xen lẫn với vườn đủ loại trái cây và đồng ruộng lúa nước xanh um ngút mắt.

Qua cầu, quẹo về hướng biển non 10 cây số, là tới Vĩnh Long, miền đất hiền lành xinh đẹp nằm trên Sông Cổ Chiên, một nhánh của Cửu Long. Chợ tỉnh trải dài theo bờ sông bồng bềnh những giề Lục Bình hắt hiu trong màu phù sa làm cho nước vàng đục. Thành cổ xưa còn đó với cây đa cổ thụ, làm nhớ tới Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông.. người uống thuốc độc quyên sinh để đền nợ nước, kẻ thỉ rời bỏ quê làng chôn nhau cắt rút, dắt díu gia đình ra tận Bình Thuận tị địa vào năm 1867, khi thành Vĩnh Long bị thực dân Pháp đánh chiếm. Gần chợ nay vẫn còn Văn Thánh Miếu được lập ra thờ Khổng Tử, nhưng ngày nay người Việt đến cúng bái, gần như chỉ biết tới Phan Thanh Giản và Nguyễn Thông mà thôi.

Bên kia sông Hậu là thành phố Cần Thơ, sung túc bề thế và xinh đẹp chỉ thua Thủ đô Sài Gòn. nên xưa nay vẫn được đời xưng tụng là Thủ phủ của Miền Tây-Nam Nam Phần, phát triển ngay từ đầu thế kỷ XX, ngay khi miền Hậu Giang trở thành vựa lúa gạo nuôi sống cả nước. Nhờ vậy mà cả cánh đồng lau sậy, tràm được, cá sấu, muỗi mòng, giữa sông Hậu và Vịnh Phú Quốc, được khai thác, đào kênh, đắp đường, mở mang làng xóm, trù phú như ngày nay. Thời Pháp thuộc, Cần Thơ có Chi nhánh Ngân hàng Ðông Dương, Nhà máy Ðiện lực rất lớn, cung cấp điện cho các tỉnh lân cận. Trường Trung học Công lập Phan Thảnh Giản thành lập từ năm 1926,hơn trăm năm qua đã đào tạo không biết bao nhiêu nhân tài của đất nước, trong đó không thể không nhắc tới Nhà Quân Sử nổi tiếng hiện nay tại hải ngoại là Pham Phong Dinh..

Cuối nước Việt, về hướng biên giới, đầu tiên là Cảng Cá, nằm ngay Vàm sông Ông Ðốc, qui tụ nhiều tàu đánh cá lớn khắp vùng. Xa hơn là Ngư Cảng Rạch Giá thuộc tỉnh Kiên Giang, nổi tiếng nhất nhì trong nước, ngang hàng với Ngư Cảng Phan Thiết-Bình Thuận. Biển ở đây cạn, nhiều bùn lại nhiều muỗi mòng nhưng ngược lại đầy tôm cá. Ngoài khơi Rạch Giá có hằng trăm đảo thuộc chủ quyền VN, trong đó có Hòn Tre diện tích lớn, dân đông. Kế bên là Hòn Sơn Rái nổi tiếng làm nước mắm cá biển

Sát biên giới Việt-Kampuchia là Thị Xã Hà Tiên, phong cảnh hữu tình với Ðông Hồ, núi Tô Châu, ngôi chợ tuy nhỏ nhưng đây cổ kính. Ðối diện là Hải Ðảo Phú Quốc, lớn nhất VN, chuyên trồng tiêu, làm nước mắm, ngư nghiệp

Từ Chợ Hà Tiên đi ngược lên dọc theo biên giới có Kênh Vĩnh Tế do Thoại Ngọc Hầu đào vào thập niên 1920, thời Vua Minh Mệnh nhà Nguyễn. Kênh này như một thủy đạo, nối liền sông Hậu thông ra Vịnh Phú Quốc. Vùng này trũng thấp, đất phèn mặn, nên ruộng đồng hoàn toàn bị ngập, vào mùa lụt do sông Cưu Long dâng cao. Bảy Núi hay Thất Sơn bao gồm nhiều hòn lớn nhỏ, chạy dài trên 30km, mà đỉnh cao nhất là ngọn Núi Cấm (700m), mây trắng che mịt mù vào mùa đông, trong nuí có nhiều hang động thiên nhiên, trên sườn mọc đầy sắn, đậu, hoa quả và các cây thuốc Nam.

Kế cận là Thị Xã Châu Ðốc, nổi tiếng ba miền là Miểu Thờ Bà Chúa Xứ Núi Sam, được xem là chốn linh thiêng, quanh năm có rất nhiều thiện nam tín nử tới hành hương cúng kính.. Chợ Châu Ðốc xây trên bờ sông Hậu, dưới sông tấp nập ghe thuyền. Phia bên kia sông có nhiều Làng Chàm Hồi giáo, chuyên sinh sống bằng ngư nghiệp và nghề dệt dệt tơ lụa.

Thành phố Long Xuyên là thủ phủ của tỉnh An Giang, lúa gạo sung túc, đang phát triển mạnh nghề nuôi cá bè trên sông Hậu. Ðây là miền đất được mở mang sớm nhất ở Nam Phần, ngay từ năm 1700 khi Thống Suất Nguyễn Hửu Cảnh, được lệnh Chúa Nguyễn Phúc Chu, tới đây cũng cố biên giới, vì vậy các lưu dân từ Thuận Quảng theo chân đoàn quân vào đậy lập nghiệp rất đông đảo. Tại An Phú, đầu nguồn của sông Hậu trong tỉnh An Giang, nay còn sót lại Búng Bình Thiên, có diện tích rộng hơn 30.000 m2, là một vùng đất bị bỏ hoang vì nước sâu không thể trồng lúa được. Láng mọc đầy Sen và cỏ dại, là nơi chung sống của đủ loài thủy tộc, từ cá tôm, cho tới rắn rùa, sống dưới rừng củ co, bông súng, rau tràng.. cảnh sắc không gì thay đổi như từ hai ba thế kỷ trước. An Phú còn có tới 4 chợ trời biên giới và đông đảo người Chàm theo Hồi giáo cư ngụ.

Sa Ðéc hiện nay chỉ là thị trấn, trong khi Cao Lãnh trở thành thị xã tỉnh lỵ của Ðồng Tháp. Nằm bên hửu ngạn sông Hậu, Sa Ðéc là vùng đất cổ, nổi tiếng với những vườn cây ăn trái của Nam Phần,nhờ khí hậu trong lành so với các tỉnh khác. Chợ Sa Ðéc đẹp, vùng lân cận nổi tiếng về sản xuất hoa hồng. Trên con đường từ chợ tới Bắc Vàm Cống, có hai làng nghề truyền thống là Nem Lai Vung và Chiếu Lấp Vò. Ngoài ra tại làng Ðịnh Yên, còn có một Chợ chiếu độc đáo, mà người điạ phương gọi là ‘ Chợ Ma hay Chợ Âm Phủ ‘, vì chợ chỉ nhóm họp hằng đêm từ 12 giờ khuya tới hừng sáng thì dẹp. Ðây là truyền thống đã có từ 100 năm qua, chuyên bán sĩ và lẽ hai loại chiếu ‘Hà Niên’ là loại chiếu bông vuông nhỏ và loại ‘ Vẩy Ốc ‘ màu trắng, bông được in bằng khuôn, làm rất công phu, để lâu không bị bay màu và lên mùi mốc.

Ðồng Tháp Mười là vùng đất trũng, nhiều phèn, vào mùa lụt nước sông dâng cao tới 4m, cá tôm nhiều nhưng muốn có phải mua sắm dụng cụ mới khai thác được.. Tại đây còn có một loại lúa trời, mọc tự nhiên, ăn được nhưng không ngon. Trước đây Ðồng Tháp Mười coi như một đồng cỏ khổng lồ, ngày nay nhiều khu vực đã được khai khẩn để trồng lúa. Dân cư tứ xứ tới đây làm ăn rất đông, nhất là khu vực tiếp xúc với hai con sông Vàm Cỏ Ðông và Tây.

Tại những tỉnh về phía Nam, nơi hạ nguồn của sông Hậu như Trà Vinh, Sóc Trăng, đồng bằng được phù sa bồi đắp, thành những giồng đất cao ráo, không bị úng lụt vì nước rút ra biển rất nhanh. Ðây là địa bàn cư trú cũa người Việt gốc Khmer và người Minh Hương (Tiều Châu chiếm đa số) . Ngoài những cánh đồng lúa, ruộng muối cò bay thẳng cánh ở Bạc Liêu, dân địa phương còn trồng nhiều hoa màu phụ như cải, dưa hấu, cây ăn trái.. Với người Việt gốc Khmer, thì thu nhập chính vẫn là cấy lúa ngắn hạn loại Thần Nông, trên đất cao không cần nhiều nước.

3-TRỜI HÀNH LỤT LỘI MỖI NĂM TẠI ÐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG :

Từ trước tới nay, các tỉnh từ Hà Tĩnh vào tới Quảng Trị, thuộc Miền Trung nước Việt, luôn luôn hứng chịu thảm trạng chiến tranh và sự khắc nghiệt của thời tiết, thêm vào đó Rặng Trường Sơn lấn ra sát biển, làm cho đồng ruộng cằn khô vì cát lẫn với đá núi. Cho nên trong dân gian đã có câu ca dao ‘ Trời hành cơn lụt mỗi năm, mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu cơm ‘.Lời than thở này bây giờ đã vượt biên giới và trở nên thân quen đối với đồng bào miền Châu Thổ Sông Cửu Long,vì năm nào cũng phải cât lực đối phó với tình trạng lụt lội, đã trở nên thường trực trong cuộc sống của mọi người.

Trong dòng sinh mệnh của dân tộc Việt, tổ tiên ta bao đời vừa phải ngăn chống giặc ngoại xâm, đồng thời cũng luôn luôn diễn ra cuộc chiến sống chết chống thiên tai bảo lụt, khắp ba miền Trung, Nam , Bắc., mỗi miền có một địa hình, thời tiết khác nhau nên cách phòng chống cũng vô cùng phức tạp.

Dựa vào tài liệu của bao đời lưu lại, ta thấy người xưa đã biết rất rõ ràng phương pháp trị thủy. Miền Trung điạ hình hẹp và dốc, sông ngắn nên lụt lội dâng lên rất mau., phải luôn đề phòng để kịp thời phòng chống. Ở Bắc phần, đồng bằng thấp hơn mực nước sông vào mùa lụt từ 5m ố 7m, vì vậy cần phải đắp đê rất cao để ngăn lụt. Hằng năm vào mùa mưa, nước từ thượng nguồn bên Tàu chảy về, cộng thêm nước từ miền Trung Du và đồng bằng, lại còn thủy triều và nước biển dâng cao, do ảnh hưởng của bảo, là nguyên nhân mà các thời đại VN trong lịch sử, phải đắp đê ngăn ngừa lụt ở miền Bắc.

Năm 886 sau Tây lịch, miền Bắc đã bắt đầu khởi công xây dựng hệ thống đê điền, doc theo các con sông Hồng, Thái Bình và nhiều con sông quan trọng khác.. Hiện nay qua báo cáo, hệ thống đê tại Bắc Việt dài tới 3500 km, tổng khối lượng đất đá xữ dụng là 400 triệu m3, gồm 260 bờ kè, 800 cống thoát nước. Những con đê với bờ cao, dốc thoải, thảm cỏ xanh rờn, uốn lượn hai bờ sông, đã vẽ nên bức tranh quê làng VN, thật là êm đềm hạnh phúc. Khắp nơi chen chúc ruộng đồng, vườn tược và nhà cửa đình làng, ân hiện sau lũy tre xanh, đã nói lên thể phách văn minh văn hiến của Dân tộc Hồng-Lạc.

Từ khi Trung Cộng lén lút xây dựng các đập thủy diện trên hệ thống sông ngòi chảy qua tỉnh Vân Nam vào năm 1971, thì đại họa cũng bắt đầu đổ ập một cách âm thầm vào non nước VN, qua cảnh dòng sông không còn êm đềm chảy, mà dâng cao đục ngầu, mang đầy rác rưởi, gổ tre, khắp nơi đầy những vực xoáy hung dữ. 

Năm 1971, mực nước sông Hồng dâng cao tới 14,8 m,gần như lưu lượng nước (80-88%) đổ vào Sơn Tây, trung tâm của đồng bằng Bắc Việt. Từ năm 1920, bờ đê tại Hà Nội chỉ mới cao 11,5m. Năm 1932 là 13,3m và hiện nay đã cao tới 15-15,5m. Ngoài ra còn hy vọng vào các hồ chứa sông Ðà, Lô, Gầm, Chảy và Ba Bể.. để hạ bớt mực nước lụt. Câu chuyện thần thoại ‘ Sơn Tinh Thủy Tinh ‘ thời Tổ Hùng dựng nước, được nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp hồi tiền chiến, vẽ lại bằng bức tranh thơ, đã nói lên cuộc chiến quyết liệt của Dân Tộc Việt,trước thảm nạn lụt lội và giặc thù truyền kiếp, cả hai đều xuất phát từ nước Tàu. Vậy mà từ Hồ Chí Minh tới các chóp bu kế tiếp sau này, lúc nào cũng to miệng bưng bợ Trung Cộng, rằng là đồng chí đồng rận, chủ nghĩa xã hội anh em, môi hở răng lạnh, sông liên sông núi liền núi.. cho nên VC mới đem không biết bao nhiêu đất đai biên giới, biển đảo để mà dâng cúng cho quan thầy, cũng đâu có gì lạ.

Ðồng bằng sông Cửu Long trái lại bằng phẳng,cho nên trước đây người dân bản địa có tập quán là cứ sống chung với lủ lụt cho tới khi nước rút hết, chứ không làm gì cả. Ta biết Sông Mekong tuy phát nguồn tận Tây Tạng và chảy qua các nước Miến Ðiện, Thái Lan, Lào, Kampuchia mới vào Nam VN. Quan trọng nhất, là dù phần cuối của sông Mekong, với tổng diện tích tự nhiên chỉ có 3,9 triệu ha, chiếm 5% toàn bộ lưu lượng của cả dòng sông. Trong lúc đó hằng năm,miền tây nam Nam phần, phải nhận của sông Cửu Long, hơn 460 tỷ nước, cùng 200 triệu tấn phù sa, tạo nên miền châu thổ phì nhiêu sông Tiền, sông Hậu ngày nay.

Lãnh thổ VN, chỉ có địa hình Nam Phần bằng phẳng, thấp không có đồi núi nhiều (trừ núi Bà Rá, Bà Ðen ở miền Ðông-Bắc,Thất Sơn ở biên giới phía Tây). Nên dù khắp nơi có đầy kênh rạch, sông ngòi nhưng vào mùa nước lụt, vẫn không chịu nổi ảnh hưởng của thủy triều và lượng nước tuôn về từ thượng nguồn, khiến cho lòng sông không tải kịp nước ra biển, gây nên hiện tượng úng ngập tràn lan kéo dài hằng tháng.

Trước đây khi dòng sông Cửu Long chưa bị biến thái vì các đập thủy điện trên thượng nguồn tại Trung Cộng, Thái Lan, Lào.. thì hằng năm nước ngập, đã mang đến thật nhiều phù sa bồi đắp cho miền châu thổ , làm cho Mũi Cà Mau lấn thêm đất ra biển, sông rạch có thêm nhiều tôm cá và đủ cac loại thủy sản.. Từ năm 1961 tới 1994, miền Tây Nam Phần đã bị sáu trận lụt lớn, làm ngập 1.828.000 Ha ruộng, kéo dài từ 3-6 thang mới rút hết nước.

Thật ra vấn đề lụt lội tại Nam Phần, đã được người Pháp quan tâm từ năm 1926, khi Ðông Dương là thuộc địa của thực dân. Qua những hồ sơ lưu trữ, ta biết tới nay vùng này đã bị 31 lần lụt lội lớn nhỏ. Quan trọng nhất là năm 1966, vào mùa lụt, nước sông Cửu Long tại Tân Châu lên tới 5,28m (trước đó mực nước tối đa là 4,6m), đã làm cho toàn thể đồng bằng miền Tây chìm ngập trong biển nước. Trước đây người ta thường có quan niệm về sự lụt lội của Nam phần, là điều phải xãy ra theo chu kỳ qui định của thiên nhiên trong 4 năm. Ðó là những giai đoạn 1937-1940, 1946-1949.

Nhưng giai thoại trên, kể cả lụt lội đem phù sa bồi đắp cho đồng ruộng, coi như đã chấm dứt từ năm 1980, nguyên do vì Trung Cộng đã phá vở gần như tất cả những môi trường thiên nhiên tại thượng nguồn nhưng VN lại lãnh đủ hậu quả, nhưng cứ đem hiệu ứng nhà kính, đã gây ra sự thay đổi thời tiết, khí hậu, để mà đổ thừa hay che dấu sự thực.

Hiện nay có tới 12 tỉnh thuộc đồng bằng sông Cưu Long, chiếm diện tích 3,9 triệu Ha nhưng vùng lụt lội hằng năm thường tập trung vào 7 tỉnh đầu nguồn là An Giang, Ðồng Tháp, Kiên Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang và Long An. Lụt lội hằng năm, làm cho 1 triệu Ha ruộng bị chìm ngập dưới nước sâu trong nhiều tháng, gần 10 triệu đồng bào địa phượng bị thiệt hại , từ nhân mạng tới vật chất. Lụt bây giờ ngập sâu và kéo dài hơn trước, lại đến sớm nhưng rút muộn, ảnh hưởng nặng nề tới nông vụ vốn là chén cơm manh áo bao đời của tầng lớp cư dân miệt vườn. Mặc khác lụt lớn, làm cho đất đai bị mòn xói, phá vở các công trình xây dựng hai bên bờ sông, kể cả đường xá kênh rạch. Riêng trận lụt năm 1996, làm cho 217 người chết trong đó có tới 162 trẻ nít, gây tổn hại tới 2182 tỳ tiền Hồ.

Sông Mekong khi chảy tới Kampuchia, trong tỉnh Kompong Cham thì lòng sông không đủ sức chuyển vận lưu lượng nước từ thượng nguồn, nên phần lớn ruộng đất trong vùng cũng bị ngập nước nhiều tháng, từ tháng 7-12 hằng năm. Nhờ nước tràn bờ nên lưu lượng giảm. Thêm vào đó tại NamVang, sông Cửu Long có một chi nhánh lớn là sông Tonle Sap, đã dẫn nước về chứa trong Biển Hồ có thể tích tới 80 tỷ m3.Nước này lại chảy ngược ra sông chính vào mùa khô.

Cũng tại Kompong Cham, sông Cửu Long lại chia thành hai nhánh : Nhánh chính tới Neak Luong và chảy vào VN tại Tân Châu gọi là Tiền Giang. Nhánh Phụ còn gọi là sông Bassaac vào Châu Ðốc, đó là sông Hậu và ra Ðông Hải bằng chín cửa nhưng nay cửa Ba Lai tại Bến Tre đã bị cát biển và phù sa bít kín. Tại đầu nguồn, vì lưu lương nước quá mạnh, nên dòng sông thường bị tràn bờ, đã tạo nên vùng nước úng thủy Ðồng Tháp Mười và Khu trũng Tứ Giác Long Xuyên. Ngoài ra vùng này còn phải tiếp nhận một khối lượng nước phèn, hơn 77% từ Kampuchia tràn sang trong mùa lụt.

Từ năm 1961 tới nay, miền Tây Nam Phần đã bị nhiều trận lụt rất lớn và thiệt hại, vào các năm 1961-1966-1984-1991-1994 với mực nước dâng cao từ 4,67m ố 5,28m. Năm 1978 tại Tân Châu, nước lên cao 4,88m làm 87 người chết, gây hư hại 307.000 Ha lúa và 9000 căn nhà. Năm 1994 mực nước lụt lên tới 5,11m làm chết 407 người, gây tổn thất 283.000 Ha lúa, 2799 căn nhà bị nước cuốn, thiệt hại tới 2284 tỷ tiền Hồ.Năm 1995 lại lụt, làm 150 người thiệt mạng, cuốn trôi nhiều nhà cửa và ruộng lua.

Nguy cơ trùng trùng nhưng Ðảng chẳng những chẳng giải thích một lời nào về thảm họa vì đâu nên nổi, trái lai vẫn cứ ru ngủ đồng bào nạn nhân bằng luận điệu tuyên truyền như Mùa Nước Nổi Hay Sống Chung Với Lũ.. nhờ đó mà đồng ruộng Miền Nam được kéo dài tuổi trẻ, vì có sự bồi đắp của phù sa. Trong khi đó, thực chất gần như đất đai màu mở, cá tôm thủy sản quý của thiên nhiên ban cho các dòng sông Hồng Hà, Mekong.. đã bị chuổi đập lớn nhỏ trên 14 cái, được xây dựng tại Vân Nam giữ lại. Kế tiếp những gì may mắn thoát được, lại bị kẹt ở chuổi đập của Lào-Thái. Cho nên ngày nay, Kampuchia và VN chỉ còn nhận đủ những thứ cặn bã, trong đó có hơn 80% các quặng, hóa chất.. được thải từ hằng trăm nhà máy bên Tàu, đổ xuống dòng nước, tống ra biển, như chúng đã làm trên sông Dương Tử, mà chính báo chí tại Trung Cộng, vừa to tiếng tố cáo.

Khôi hài nhất là bọn Tàu trắng Á Châu và các nước Tây Phương, trong cái gọi là Ủy Ban hợp tác và bảo vệ sông Mekong, lúc nào cũng to miệng về những chuyện trên mây, mục đích vẫn là những dự án đầu tư kiếm lời, chứ đâu thấy ai nhắc tới hiểm họa, khủng bố mà Trung Cộng đã gây cho các nước ở hạ nguồn sông Cửu Long.

4- ÐỒNG RUỘNG MIỀN NAM KÊU CỨU VÌ NẠN XÂM NHẬP NƯỚC MẶN :

Từ năm 1980 tới nay, các sông ngòi ở VN hầu hết đều biến đổi kỳ lạ : Mùa mưa thì tràn nước gây nên lụt lội, trái lại về mùa nắng nước thiếu gây nên cảnh khô hạn. Tại Nam Phần, chính việc thiếu hụt nước tại các sông, đã liên quan tới sự tấn công, xâm nhập của nước mặn từ biền tràn vào sông, trong các đợt thủy triều.

Ðã có trên hằng triệu Ha lúa và hoa màu tại các tỉnh hạ nguồn sông Cửu Long, bị nước mặn xâm nhập khốc liệt, vừa gây tổn hại tới thu hoạch cũng như làm cho mọi người trước nguy cơ thiếu nước ngọt để ăn uống,tắm giặt. Ðây là thảm họa chỉ mới xãy ra tại Nam Phần từ sau thang 5-1975, hiện tượng nước mặn theo thủy triều chảy sâu vào nội địa các tỉnh sát biển, nơi cửa sông Cửu Long. Sở dĩ có tình trạng trên, vì ảnh hưởng của hai yếu tố từ lưu lượng nước tại thượng nguồn và vùng hạ lưu, cộng thêm lượng nước mưa cũng như sự bốc hơi vào mùa nắng.

Thông thường hằng năm, từ cuối tháng 4-5, nước mặn theo thủy triều chảy sâu vào nội địa, khiến cho nước ngọt tại các kênh rạch không còn dùng được để mà tưới ruộng lúa và hoa quả, gây nên cảnh hạn hán thất thu. Theo định luật khoa học, thì tiêu chuẩn độ mặn cần có trong lượng nước ngọt để phục vụ cho nông nghiệp là 4%. Trong khi đó nguồn nước lợ (nước ngọt đã bị nước mặn xâm nhập), độ mặn chỉ có 2% nhưng cũng chỉ để tưới ruộng tạm thời khi không còn một lối thoát nào khác. Nguyên do vì thứ nước lợ này, chỉ có tác dụng cứu khô ngắn hạn, nếu để lâu, nước bốc hơi làm cho nồng độ muối trong ruộng tăng lên cao, làm chết hết lúa.

Do phần lớn đồng ruộng ở miền Nam, không có hệ thống bờ ruộng và kè đê tốt, nên đã lãnh đủ sự xâm nhập của nước mặn chảy vào ruộng,với số lượng bị ảnh hưởng lên tới 1,1 ố 1,3 Ha theo báo cáo của các cơ sở Nông Nghiệp. Ngoài ra nước mặn còn gây tổn hại rất lớn đối với những đồng bào nuôi các loại thủy sản như tôm, cá , ốc.. để xuất cảng.

Nạn nước mặn xâm nhập đồng ruộng được đánh giá trầm trọng, bắt đầu từ năm 1977, trên sông Vàm Cỏ Tây và Tiền Giang. Tại đây nước mặn chảy sâu vào nội địa từ 8-12km, nhiều hơn những năm trước. Trên sông Vàm Cỏ Tây, nước mặn theo thủy triều vượt qua Tuyên Nhơn về hướng thượng nguồn hơn 30km và kéo dài tới 10 ngày mới rút. Tại Mỹ Tho, nước mặn vào sông Tiền ít hơn và chỉ ở lại có 4 ngày. Nhưng vì nhu cầu nước tuới, đồng bào đã vô tình giúp nước mặn tràn lan nội địa. Những năm 1985-1986, vùng Tuyên Nhơn-Ðồng Tháp, tình trạng nước mặn xâm nhập có giảm so với các năm trước, nhờ con kênh Hồng Ngự mới đào, dẫn nước Vàm Cỏ Tây thông qua sông Tiền. Bắt đầu từ thập niên 1990 Ðồng Tháp Mười được khai thác triệt để diện tích ruộng lúa, nên lượng nước ngọt dùng để tưới trở thành thiếu thốn, tạo điều kiện cho nước mặn càng ngày càng dâng cao, xâm lăng tới tăp vào sâu trong nội địa.

Năm 1993, nước mặn theo sông Vàm Cỏ Tây, lên tới thượng nguồn và ở lại Tuyên nhơn tới 50 ngày. Trên Tiền Giang, do nhu cầu xữ dụng quá nhiều nước, nên ranh giới giữa nước ngọt và nước mặn cũng thay đổi từng năm. Tại Mỹ Tho, nước mặn đã vượt qua vài cây số và nằm lai tới 17 ngày mới rút ra biển. Năm 1998, tình trạng trên lại tái diễn một cách khốc liệt. Nguyên do vì mùa nước nổi tại đồng bằng sông Cửu Long vào năm 1997, diễn ra thật bất thường, nước từ thượng nguồn đổ về rất ít và rút đi rất sớm Tình trạng trên gây ra khô hạn kéo dài, tạo điều kiện để nước mặn dâng lên cao và ùn ùn kéo vào sông Vàm Cỏ Tây, chảy sâu vào nội địa tới 15-20km.

Trên sông Tiền, sông Hậu, Cổ Chiên tuy lưu lượng có kém so với các năm trước, nhưng vẫn còn sức mạnh, làm giảm thiểu phần nào sự xâm nhập của nước mặn, tuy nhiên cũng đã gây thiệt hại cho hơn 200.000 Ha ruộng lúa. Trong khi đó, vùng tứ giác đầu nguồn Long Xuyên và phía Tây sông Hậu, lại bị ảnh hưởng rất nặng bởi sự xâm nhập của nước mặn, vào sâu trong nội địa từ 16-20 km và ở lại hơn 3 tháng.

Sự xâm nhập của nước mặn vào các sông ngòi miền Nam, là nguyên nhân chính làm các nhà máy đường phải đóng cửa ngưng hoạt động, vì nước ngọt từ năm 1999 đã tăng lên 30.000/1m3 tiền Hồ. Từ đây nước mặn tấn công vào đất liền sớm hơn mấy năm trước. Tóm lại, không riêng gì Tuyên Nhơn, Mỹ Tho.. mà hầu như các tỉnh tại đồng bằng sông Cửu Long như Vàm Mỹ Hoá (sông Hàm Luông-Bến Tre), Trà Vinh,, An Thuận, Bến Trại, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Cần Thơ đều bị nước mặn xâm nhập phá hoại tàn khốc và không có triệu chúng nào, báo hiệu thảm họa trên sẽ ngừng hay chấm dứt. Thêm vào đó, từ mấy năm nay thời tiết lại thay đổi đột ngột, gió chướng thổi manh hơn mấy năm trước,dồn nước mặn vào sông nhiều hơn, đồng lúc thủy triều tại cửa sông hoạt động thêm dữ dội, trong khi lưu lượng dòng sông từ thượng nguồn chảy xuống càng lúc càng yếu dần, không đủ triều cường giữ giới hạn giữa hai con nước như mấy thập niên trước.

            Hỡi ơi viết chuyện nước mà đau lòng với nước’

            ‘Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
            Thương nhà mõi miệng cái gia gia
            Dừng chân ngoảnh lại trời non nước
            Một mảnh tình riêng ta với ta’
             (Bà Huyện Thanh Quan)

Hay     ‘Non cao đã biết hay chưa
            Nước đi ra bể, lại mưa về nguồn’
            (Tản Ðà)

Vẽ hửng hờ và êm ả của giòng sông, vào lúc chiều tà hay khi trăng treo trên đầu núi, không biết Nguyễn Du tiên sinh sống lại, đứng trước những thảm họa trên,đang ào ạt trút xuống những giòng nước thân thương đó, từng phút, từng giây, từng trong hơi thở của nhip sống Dân Tộc Việt, có còn đủ cảm hứng để hạ bút đề thơ :

‘Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác, biết là về đâu’ -/- 


Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 8-2015
Mường Giang  

Blog Archive