Friday, December 30, 2016

Cô giáo trẻ và những học sinh hư.


Đây là một câu chuyện có thật trong lịch sử. Tại một trường trung học ở Mỹ, có một lớp học nọ với 26 em học sinh cá biệt. Những em học sinh trong lớp học này đều có tiểu sử không mấy hay ho: em từng tiêm chích ma túy, em từng vào trại cải tạo, thậm chí có một học sinh nữ mà trong một năm đã phá thai tới 3 lần.

Gia đình đều chán nản và đã buông bỏ chúng, các thầy cô giáo trong trường thậm chí cũng coi chúng là đồ bỏ đi. Tưởng chừng cuộc sống đã hết hy vọng thì một ngày kia, Phila, một cô giáo mới về trường đã tình nguyện làm chủ nhiệm của những đứa trẻ hư hỏng này.

Khác với suy đoán của bọn trẻ, trong ngày đầu tiên nhận lớp, Phila đã không hề quát nạt hay ra oai với chúng. Trong chiếc đầm lụa màu xanh nhạt, mái tóc màu nâu hạt dẻ búi cao, Phila bước nhẹ lên bục giảng. Cô dịu dàng nhìn xuống lũ trẻ một lượt rồi cất tiếng với vẻ trầm ngâm:

Cô sẽ kể cho các em nghe về quá khứ của 3 người đàn ông khác nhau:

Người thứ nhất đã từng có những vụ bê bối về chính trị, rất tin vào y thuật của thầy cúng, ông ta từng có tới 2 tình nhân, hút thuốc nhiều và uống 8-10 ly rượu mạnh mỗi ngày.

Người thứ hai đã 2 lần bị đuổi việc, hôm nào cũng ngủ tới trưa mới dậy và tối nào cũng uống 1 lít rượu brandy. Ông ta từng hít thuốc phiện khi còn là sinh viên…

Người thứ ba là anh hùng chiến tranh của một đất nước. Ông ta ăn chay trường, không bao giờ hút thuốc và thỉnh thoảng mới uống rượu, có uống bia nhưng uống không nhiều. Thời thanh niên chưa từng làm gì phạm pháp và chưa từng có một vụ bê bối tình ái nào
.

Cô hỏi cả lớp, trong 3 người, ai sau này sẽ có cống hiến nhiều nhất cho nhân loại?”

Những đứa trẻ đồng thanh chọn người thứ ba sau khi nghe xong câu chuyện, nhưng câu trả lời của Phila đã khiến lũ trẻ chết lặng.

Các em thân mến! Cô biết chắc là các em sẽ chọn người thứ 3 và cho rằng chỉ ông ta mới có thể cống hiến được nhiều cho nhân loại. Nhưng các em đã sai rồi đấy. Ba người này đều là những nhân vật nổi tiếng trong thế chiến thứ 2.

Người thứ nhất là Franklin Roosevelt, tuy tàn tật nhưng ý chí kiên cường. Ông ta đã đảm nhận chức vụ Tổng thống Mỹ trong bốn nhiệm kỳ liên tiếp.

Người thứ hai là Winston Churchill, vị Thủ tướng nổi tiếng và tài ba nhất trong lịch sử nước Anh.

Còn người thứ ba là Adolf Hitler, con ác quỷ phát xít Đức đã cướp đi sinh mạng của hàng chục triệu người dân vô tội”.


Adolf Hitler (Ảnh: Deviantart)

Những đứa trẻ như ngây người trước câu trả lời của Phila và dường như không thể tin nổi vào những gì chúng vừa nghe thấy.

Các em có biết không, những điều mà cô vừa nói là quá khứ của họ, còn sự nghiệp sau này của họ, là những việc mà họ đã làm sau khi đã thoát ra khỏi cái quá khứ đó. Các em ạ, cuộc sống của các em chỉ mới bắt đầu. Vinh quang và tủi nhục trong quá khứ chỉ đại diện cho quá khứ, còn cái thực sự đại diện cho cuộc đời một con người chính là những việc làm ở hiện tại và tương lai. Hãy bước ra từ bóng tối của quá khứ, bắt đầu làm lại từ hôm nay, cố gắng làm những việc mà các em muốn làm, và cô tin các em sẽ trở thành những người xuất chúng…– Phila vừa nói vừa nhìn chúng với ánh mắt đầy hi vọng.

Và bạn biết không, sau này khi trưởng thành, rất nhiều học sinh trong số họ đã trở thành những người thành đạt trong cuộc sống. Có người trở thành bác sĩ tâm lý, có người trở thành quan tòa, có người lại trở thành nhà du hành vũ trụ. Và trong số đó phải kể đến Robert Harrison, cậu học sinh thấp nhất và quậy phá nhất lớp, nay đã trở thành Giám đốc tài chính của phố Wall.

Robert Harrison – Giám đốc tài chính phố Wall. (Ảnh: internet)

Suy ngẫm:

Ý nghĩa của câu chuyện ở đây là bạn hãy đừng bao giờ ngừng hy vọng, ngừng yêu thương, ngừng cố gắng bởi hôm qua chỉ là quá khứ, ngày mai là một điều bí mật, còn ngày hôm nay là một món quà. Và đó là lý sao nó được gọi là “The Present” (hiện tại/món quà).

Trong cuộc đời của con người, mỗi ngày đều có thể là một sự bắt đầu mới mẻ còn những vinh quang và tủi nhục của ngày hôm qua đều chỉ là dĩ vãng. Những việc trong quá khứ nói cho người khác biết bạn đã từng là người như thế nào, nhưng chính những việc làm ở hiện tại và tương lai mới nói lên bạn là ai.


Thế nên:

Đừng bao giờ hạ thấp giá trị của mình bằng cách so sánh với người khác.

Đừng bao giờ đặt mục tiêu của mình dựa vào những gì mà người khác cho là quan trọng. Chỉ bạn mới biết được những gì tốt nhất đối với chính mình.

Đừng bao giờ để cuộc sống vuột khỏi tầm tay bằng cách sống khép mình vào trong quá khứ, hay uốn mình vào trong tương lai. Hãy sống cho hiện tại, lúc này và ở đây.

Hãy hướng về phía mặt trời và bạn sẽ không bao giờ nhìn thấy bóng tối.

Và cuối cùng, hãy nhớ rằng, dù người khác có nói với bạn điều gì đi nữa, hãy tin rằng cuộc sống này là kỳ diệu và đẹp đẽ.

Phong Vân
Cha Mẹ Già

ThaiNC


Image result for old couple
Đem hai bọc chai lọ gói gọn ghẻ để cạnh thùng rác, vợ tôi nhìn rất vừa lòng: vậy cho ông cụ lấy cho gọn. Tuần này ông trúng mối rồi. Hai bọc đầy ứ. Mấy hôm trước nhà tôi có party ăn nhậu nên kết quả thu lượm được mấy tá chai bia và nước lọc.

Gia đình hai vợ chồng họ ở chung một đoạn đường với tôi, cách nhau khoảng 5, 6 căn, có đưá con gái kháu khỉnh dễ thương, sống cùng cha mẹ già trên dưói 70. Cả hai cùng đi làm nên cuộc sống có vẻ thoải mái, gia đình hạnh phúc. Chúng tôi chỉ quen biết sơ giao qua tình đồng hương hàng xóm thôi, chưa phải bạn bè thân thiết gì.

Một điều khó hiểu là tuy gia đình có vẻ khá giả như vậy, nhưng cách đôi ngày lại thấy ông cụ, có khi cả bà, đẩy một cái xe đi...lục thùng rác!

Mỗi tuần đúng ngày đổ rác, sáng sớm tôi ra đi làm là thấy ông cụ đẩy xe tới mấy thùng re-cycle trong xóm bới kiếm những chai nước plastic, hoặc vỏ chai bia trống… những loại có thể bán recycle lấy tiền. Tôi để ý vậy nên mỗi tuần bao giờ cũng đặt những chai lọ đó riêng bên cạnh thùng rác để ông lấy cho dễ. Ngày khác, tôi lại thấy ông đẩy xe sang khu xóm lân cận, hoặc có khi ra cả công viên gần nhà lang thang đi lượm chai lọ.

Không thể hiểu tại sao hai vợ chồng có vẻ rất gương mẫu đó lại để cho cha mẹ phải đi kiếm tiền lẽ cực nhọc như vậy! Nhưng thôi kệ, chuyện nhà người ta mà!

Một hôm anh chồng đến nhờ tôi dùng xe van chở những chai lọ ông bà cụ kiếm được ra chỗ recycle bán. Xe anh bị hư. Tôi đi cùng anh, và thấy số tiền bán hôm đó dưới $30. Ôi công trình ông bà cụ sáng sáng đi lục thùng rác một tháng trời chỉ được $30? Chưa kể công bao bì đóng gói sạch sẽ và công đứng chờ đong đếm để bán mất cả tiếng đồng hồ của con cái.

Trên đường về, như đoán được những gì tôi đang nghĩ trong đầu, anh tâm sự:

Số tiền này khi về đưa cho bố mẹ sẽ tăng lên …gấp đôi.

Tại sao? Tôi ngạc nhiên.

Anh nói ông bà cụ tự nguyện làm việc này để kiếm thêm tiền góp công quả giúp cho một ngôi chùa nào đó ở Việt Nam đang nuôi dưỡng một số đông trẻ mồ côi, hoặc những trẻ sơ sinh mà cha mẹ không đủ điều kiện nuôi dưỡng, đem đến bỏ lại cho chùa nuôi. Những ngôi chùa từ thiện đó không được chính phủ trợ cấp đồng nào cả. Tất cả chi phí hoàn toàn do từ bá tánh.

Anh muốn công khai đóng góp tiền cho cha mẹ giúp đỡ cũng được, nhưng chọn cách này để ông bà cụ tiếp tục đi lục thùng rác kiếm chai lọ.

Tôi càng ngạc nhiên

Dễ hiểu lắm, anh giải thích: Sức khoẻ, đường, máu, huyết áp…cả ông lẫn bà đều rất tốt đến nỗi bác sĩ gia đình phải ngạc nhiên. Sau khi hỏi qua sinh hoạt của ông bà, bác sĩ nói chính nhờ sự đi bộ thường xuyên đó, nhất là đối với ông cụ, đã khiến sức khoẻ trở nên tốt hơn rất nhiều.

Một điều nữa là yếu tố tâm lý. Anh thấy cha mẹ từ ngày làm việc này, tinh thần của họ cũng trở nên vui vẻ, lạc quan hẳn lên vì cảm thấy mình vẫn còn khả năng kiếm tiền để làm việc hữu ích cho xã hội mà không cần phải nhờ đến con cái.

Cho nên, anh cười: tuy biết hình ảnh ông bà cụ già đẩy xe đi kiếm chai lọ có vẻ…kỳ cục, nhưng thực ra đang mang lại sức khoẻ, niềm hạnh phúc cho cả hai ông bà, vậy tại sao phải ngăn?

Nghe anh nói, tôi cảm thấy xấu hổ vì lỡ có ý nghĩ không tốt cho anh mấy tháng nay!

Mỗi năm một lần, bác sĩ gia đình lại làm giấy tôi phải đi check up cân - đo - đong - đếm…máu, mỡ, đường, sữa, vv…và vv

Sáng nay đi thử máu. Trong lúc ngồi chờ được gọi tên, đối diện có hai cha con người Việt. Cô con gái khoảng 40, còn ông cụ trông khoảng trên dưới 80. Ông cụ vẫn có thể tự đi đứng chậm chạp một mình với cây gậy 3 chân của ông.

Sau khi làm mọi thủ tục và được phát một lọ plastic để thử nước tiểu, thấy cửa bathroom đang mở không có ai, cô giục ông cụ

- Bố vô thử nước tiểu đi bố.

- Chưa, chút xíu nữa. Ông trả lời

- Bây giờ bathroom đang trống bố không đi chút xíu nữa có người bố lại muốn đi, không kịp đó

- Không sao! Chút nữa đi mà.

Cô con gái có vẻ hờn:

- Bố sao á! Cứ làm theo ý mình không ha.

Ông cụ vẫn một mực

- Không sao không sao! Chút nữa được mà!

Tôi chịu không được nữa phải xen vô

- Này cô, cái chuyện đó… bác chưa muốn đi thì muốn cũng không được. Đợi bác chút đi. Hay là cô xin họ ly nước uống vô chắc sẽ mau hơn chút.

Tội nghiệp. Cô ta chắc cũng không quen mấy vụ này nên không để ý, nghe tôi nói mới chợt tỉnh. Cô quay sang bố, nắm tay ông cụ đang dựa trên cây gậy, xiết chặt một cái như ngỏ ý xin lỗi bố hồi nãy có hơi sẵng giọng.

Yên một lúc, ông cụ nói bây giờ thì OK, muốn vô thử nước tiểu. May sao bathroom lại đang trống. Cô nhờ tôi mở cửa còn cô nắm tay bố định dẫn đi. Ông hất ra nói

- Bố đi một mình được rồi.

Cô không chịu

- Ối, bố đi một mình không ai giúp là sẽ vương vãi cả ra.

Ông cãi

- Được mà. Bố đi một mình được. Không vãi đâu! Con cứ ở đây.

- Bố ơi không được đâu. Ở nhà bố đi một mình té mấy lần nằm trong bathroom rồi. Nguy hiểm lắm. Để con phụ bố cho.

Ông vẫn khăng khăng

- Bố bảo không cần mà. Bố sẽ cẩn thận. Đừng lo.

Cô con gái đành năn nỉ

- Lần nào bố cũng bảo cẩn thận… mà cũng té mấy lần rồi. Bố để con đưa bố vào nhe?

- Không cần! Bố bảo không cần mà… Ông nói như mếu.

Đến đây tôi không đành lòng nữa lại xen vô:

- Thôi cô để tôi giúp ông cụ cho, ok?

Cô mừng quá cám ơn rối rít. Ông cụ cũng không có lý do gì để từ chối.

Thành thực mà nói, cô con gái liệu việc không sai chút nào. Không có tôi bên cạnh, ông cụ mới rời tay khỏi cây gậy để chuẩn bị tháo dây nịt là đã lảo đảo xiêu vẹo, may mà tôi đã sẵn sàng, không thì ông đã té thiệt rồi chứ chẳng chơi.
...
Tôi xong chuyện về trước, hai bố con vẫn còn ở đó.

Lái xe trở lại sở. Đường phố vắng thênh thang vì đã qua giờ thiên hạ đi làm. Nhớ lúc chia tay, cô xiết tay tôi và nói “Cám ơn anh!”

Hôm nay trời đẹp hơn mọi hơn bởi vì có người con gái đẹp đẹp nắm tay gọi tôi Anh!”.

Nhưng lại bỗng nghĩ tới mai sau sẽ có ngày một mình đơn côi trong một restroom nào đó, không biết có cậu thanh niên nào chịu giúp đỡ mình?

ThaiNC
Phụ nữ Thái Lan chuyên dùng đồ giả Trung Quốc đánh tráo hàng hiệu kiếm triệu đô

Một người phụ nữ Thái Lan đã lừa đảo được hàng triệu USD bằng cách mua hàng hiệu ở Mỹ rồi dùng hàng giả của Trung Quốc để đổi trả, sau đó bán lại túi xịn cho người khác kiếm lời.

Praepitcha Smatsorabudh, 41 tuổi, đến từ Thái Lan, hiện đang sinh sống tại quận Arlington, tiễu bang Virginia, Mỹ với visa dành cho sinh viên du học. Từ cuối năm 2014 đến cuối năm 2015, cô ta đã điên cuồng đặt mua các loại túi hàng hiệu qua mạng rồi đánh tráo hàng giả để trả lại hàng. Sau đó, cô ta đem hàng xịn rao bán trên mạng xã hội nhằm kiếm lời.


Praepitcha hiện đang sinh sống tại Mỹ dưới danh nghĩa sinh viên du học.
Trong vòng hơn 1 năm trời, Praepitcha đã dùng mánh khóe lừa đảo tinh vi này để qua mặt hơn 60 cửa hàng bán đồ hiệu tại 12 tiễu bang của Mỹ, với tổng số thiệt hại ước tính khoảng 400.000 USD (tương đương 9,1 tỷ đồng). Cô ta từng là khách hàng quen thuộc của các cửa hàng đồ hiệu giảm giá, mỗi tuần đều vung tiền mua sắm hàng loạt túi hàng hiệu rồi… trả lại. Thậm chí, có cửa hàng còn bị cô ta trả hàng tới 276 lần.

Vở kịch của Praepitcha được diễn đi diễn lại quá nhiều lần khiến cho chủ của các cửa hàng sinh nghi và nhanh chóng báo cảnh sát. Lực lượng chức năng đã đóng giả làm người mua túi của Praepitcha và bóc trần hành vi lừa đảo của cô ta.

Bằng mánh khóe lừa đảo tinh vi, người phụ nữ này đã kiếm được hàng triệu USD.

Sau khi tiến hành khám nhà Praepitcha, cảnh sát đã thu giữ tổng cộng 572 chiếc túi, trong đó có không ít túi giả được sản xuất tại Trung Quốc.

Trong hộp thư điện tử của Praepitcha vẫn còn lưu e-mail giao dịch mà cô ta từng gửi cho nhà sản xuất hàng giả từ tháng 9/2014. Trong đó, cô ta nhận xét: “Đây là chiếc túi giả giống thật nhất mà tôi từng thấy.”


Được biết, Praepitcha thường xuyên tạo cho cuộc sống của mình một chiếc vỏ bọc sang chảnh và không ngừng khoe khoang những món đồ đắt tiền trên mạng xã hội. Chính vì vậy, nhiều người đã bị vẻ ngoài hào nhoáng của cô ta đánh lừa và nô nức mua hàng của cô ta. Praepitcha đã bán được cả ngàn chiếc túi với mức giá chưa bao giờ thấp hơn 2.000 USD (tương đương 46 triệu đồng).

Trước những chứng cứ đanh thép, Praepitcha đã phải cúi đầu nhận tội và chịu mức án 30 tháng tù giam, bị quản chế 3 năm, đồng thời phải nộp phạt 403.250 USD (tương đương 9,2 tỷ đồng).


Cảnh sát đã thu giữ được hàng trăm chiếc túi tại nhà của Praepitcha, trong đó có không ít túi giả.
Đào Bắt Vòi Voi Biển


Cách đây mấy năm, anh Nguyễn Viết Tân người cùng quê Kinh 5 với tôi, có viết một bài về việc đi đào hến vòi voi ở Dillon Beach, California đăng trên Việt Báo. Năm nay mùa hè lại đến, chúng tôi cũng tổ chức một chuyến picnic y chang như vậy, mà có phần "hoành tráng" hơn, vì còn thêm cái vụ câu cua biển và đốt lửa trại nữa.

Hơn hai mươi người lớn bé tập họp ở nhà tôi từ buổi chiều để đi ngủ sớm, vì mai phải khởi hành lúc 3g đêm, để có thể đến nơi đào hến đúng lúc thủy triều đang xuống thấp nhất là 6g sáng.

Bọn con nít nằm sắp lớp nơi phòng khách như xếp cá mòi trong hộp, tụi nó nhi nhô ồn ào, quát mãi mới chịu im.

Tôi gọi mọi người dậy thì mới biết bọn nhóc náo nức suốt đêm nên chúng không ngủ được, cứ sợ ngủ thì bị bỏ lại tại nhà. Khi lên xe rồi chúng mới bắt đầu ngủ gà ngủ vịt. Xe lớn và mạnh nhất kéo theo chiếc hors-bord.

Đến Lawsons Landing chúng tôi phải mua license cho mười người lớn, check in xe cộ. Nếu không ở lại đêm thì chỉ có $8 cho một xe, còn ở lại camping qua đêm thì $26.

Tại đây có chia ra làm nhiều khu vực: Khu cho xe RV, những nhà nhỏ Cabin, khu có lều bạt sẵn như những tent nhà binh, nhưng chúng tôi ở khu chỉ có nền để căng lều bạt đã mang theo.

Đi sớm như thế nhưng vì có con nít đi theo nên lục đục mãi 8g sáng mới ra tới cồn cát. hors-bord lại hơi nhỏ, mỗi lần chở được có bảy người nên phải ba chuyến mới đem hết người ra đến nơi.

Chúng tôi tản ra thành từng nhóm, mỗi nhóm có mang theo thùng, xẻng và cái ống plastic lớn để đào hến.

Cồn cát này nằm chìm dưới nước, chỉ mấy tháng hè mới lộ ra khi thủy triều xuống thấp, tháng hai lần, mỗi ngày độ vài giờ mà thôi.

Màu cát đen nhờ nhờ vì pha bùn, trên mặt cát chi chít lỗ hến, có lẽ đến hàng triệu con. Vì nó ở dưới sâu gần một mét, nên người không có dụng cụ và không biết cách thì cũng rất khó mà đào, cho dù chỉ được một con.


Nhóm chúng tôi đã có kinh nghiệm và được chỉ huy bởi ông Hảo, sếp của công ty Amland, nên chỉ trong vòng có hai giờ đồng hồ mà đã đào được cả hơn trăm con. Nên nhớ là mỗi con giá khoảng $20.


Đến 10g sáng thì nước bắt đầu dâng cao, không thể đào thêm được nữa nên chúng tôi lên tàu qua một hòn đảo gần đó. Đảo nhỏ, cây cối khô cằn, cỏ dại lúp xúp nhưng cũng có vài cây khuynh diệp khá to, gốc khoảng hai người ôm. Trên cây, có ai đó đã cột mấy sợi dây thừng lớn để làm xích đu nên trẻ con tha hồ đùa giỡn.


Trong khi mấy bà, mấy cô đang xúm nhau mồi lửa nấu nước bằng bếp ga mang theo, làm món Sushi từ hến vòi voi, đám đàn ông đưa tàu ra cách bờ chừng dăm chục mét, thả lồng bắt cua. Lồng làm bằng một vòng sắt có lưới, ở giữa cột túm mồi là đầu cá hoặc mấy đùi gà. Chúng tôi thả xuống bốn năm lồng một lúc, chừng mười phút lại kéo lên một lần.

Hôm nay trúng mánh, cua nhiều quá sức, có khi đươc ba bốn con một mẻ, ngoài cua đá còn có cả cua trắng (loại vỏ mềm hay bán ở siêu thị) nhưng cua trắng chỉ được bắt con đực và đúng size mà thôi nghĩa là phải dài 6" tức dài bằng đồng tiền đô, nhỏ hơn phải vứt xuống biển trở lại.


Cua thì hấp với beer chấm muối tiêu chanh, vòi voi thì trụng sơ qua nước sôi rồi thái ra ăn với mù tạt wasabi. Chúng tôi trải bạt ra dưới tàng cây hoặc trên bãi cát cho mấy bà và bọn trẻ nhỏ, còn mấy ông thì có người nằm soài ra trên cát mà nhậu.


Thức ăn được đựng trong dĩa giấy, beer lạnh mở nghe lốp bốp. Đó đây vang lên tiếng hát và tiếng cười trong như thủy tinh của lũ trẻ.

Cua và hến nhiều quá, chúng tôi ăn không hết một phần, còn bao nhiêu xếp vào thùng để mang vô bờ.


Đã hơn 4g chiều, chuyến thứ nhất yên ả, bỗng chuyến thứ hai đi về đã khá lâu mà không thấy trở ra. Chúng tôi liên lạc điện thoại thì mới biết là tàu hư giữa đường. Thật may có chiếc tàu nhỏ hơn của những thanh niên Mỹ cũng trên đường về ghé lại tiếp cứu. Sửa không được nên họ chạy vô bờ chở người bạn biết sửa máy và có đồ thử điện nữa ra giúp.

Coi mòi không thành công trước khi trời tối, họ dùng tàu của mình mà chạy ra đảo chở chúng tôi về. Vì tàu nhỏ hơn tàu chúng tôi, nên phải đi hai chuyến mới hết. Nếu không có sự giúp đỡ này, chắc mấy người đi chuyến chót của chúng tôi phải ngủ ngoài đảo, không có mùng mền chiếu gối gì hết, mà còn đói bụng khát nước nữa chứ.

Sau cùng tàu cũng sửa xong vì hệ thống xăng bị nghẹt. Chúng tôi cám ơn đám thanh niên tốt bụng kia và ngỏ ý chia xẻ với họ tiền xăng. Họ cười vui vẻ rồi nói "Các bạn đừng lo, hôm nay tôi giúp các bạn, một ngày nào đó sẽ có người giúp chúng tôi".


Sau khi căng lều, tắm rửa xong chúng tôi bắt đầu đốt lửa trại và nướng BBQ. Để tỏ lòng biết ơn, chúng tôi bưng sang lều nhóm thanh niên Mỹ mấy dĩa sườn bò Đại Hàn. Họ khen rối rít rằng thịt nướng thơm quá, nhậu với beer là hết xẩy.

Để trả lễ, họ tặng lại chúng tôi cả thùng cua bự.

Thật là một xứ sở đầy tình người, nếu chúng tôi bị hư máy ở một quốc gia nào khác, có thể bị yêu sách trả tiền rất nhiều để được kéo vô bờ, còn hôm nay họ giúp đỡ mình mà vẻ mặt tươi cười, giọng nói thân thiện như đã quen nhau lâu ngày.

Lúc nói chuyện, tôi mới biết nhóm của họ vừa quen nhau trên Net đây thôi, kẻ có xe RV, người khác có tàu, người nữa có xe trượt nước, ở nhiều thành phố khác nhau, cùng hẹn một ngày để đi cắm trại chung, để kết thêm bạn mới trong những mùa hè.

Đêm nay trời trong, ngàn sao nhấp nhánh trên cao, chúng tôi có mang theo đàn để hát với nhau y như những buổi sinh hoạt Thiếu Nhi ngày còn nhỏ ở quê nhà. Lều bạt căng ở phía sau những cồn cát, nên gió biển đã không thổi trực tiếp vào lều hoặc bếp lửa của chúng tôi.

Hát hò chuyện vãn đến gần nửa đêm chúng tôi mới chui vào sleeping bag. Tiếng sóng biển ầm ào ru chúng tôi vào giấc ngủ.

Sáng sớm hôm sau, khi bọn con nít đã dậy sớm chạy đuổi bắt, chơi giỡn trên bãi biển, đám thanh niên đàn ông chạy tàu ra cồn cát "dzớt cú chót". Lần này không vướng chân vướng cẳng vì lũ trẻ, chúng tôi đào rất nhanh được hơn một trăm con vòi voi nữa rồi trở vào bờ, dọn dẹp để ra về.


Chúng tôi đã mua 11 license (mỗi license là $13 nếu mua cho một ngày, còn hai ngày là $20) cho 11 người lớn, nên chỉ có thể lựa 110 con lớn nhất mà mang về. Trẻ em không được tính theo đầu người, nên tuy nhóm đi hơn 20 người mà chỉ mang được số giới hạn đó mà thôi.

Tôi hy vọng sẽ đề nghị với đám thanh niên thiếu nữ quen biết, nên tổ chức mỗi mùa hè vài ba lần picnic như vầy, ai muốn tham gia thì liên lạc trước để biết ngày giờ đi dã ngoại.

Chi phí cho mỗi người chỉ dưới 200 đồng, mà được hưởng vài ngày thoải mái, thở hít không khí trong lành, ăn uống mấy bữa, no nê như người tiền sử hoặc Robinson ngoài hoang đảo, mà lại còn mang cả chục con hến vòi voi về làm quà cho gia đình nữa.

Phan Hữu Chí


Thursday, December 29, 2016

Đời Phi Công


Phương Toàn

Hai vợ chồng tôi lấy nhau được hơn một năm thì vượt biên, vị chi đến nay định cư ở Mỹ được hai chục năm.

Ngày mới sang đến trại ty nạn, hăm hở lắm với những tin đồn được đãi ngộ tại Mỹ. Tôi là phi công của Không quân, vợ tôi là phụ tá nghiệm chế ở Dược khoa, chắc Mỹ chẳng bỏ rơi mình.

Đúng, Mỹ nó chẳng bỏ rơi hai vợ chồng tôi khi đặt chân đến phần đất mới này. Nó cho vợ tôi cái nghề rửa chén, và cho tôi một cái xẻng để làm helper đi đào đất chôn ống cống. Mỹ còn ưu ái hơn, cho chúng tôi mỗi đứa một số quần áo ”tốt”, tha hồ lựa ở kho Salvation Army. Hai vợ chồng từ đó biết thân phận mình, vừa làm, vừa học và vừa góp tiền cắc để gửi về giúp gia đình.

Một hôm, hình như cám cảnh cái nghề mới của tôi, vợ tôi hỏi:

– Kể cho em nghe, tại sao anh lại trở thành phi công?

– Tại anh có chí tang bồng hồ thỉ, muốn làm Đường Minh Hoàng đêm đêm du nguyệt điện.

Đây là lần đầu tiên nói dối vợ, không hiểu tại sao vợ tôi lại biết, nó bĩu môi đáp:
– Xạo ke.

***
Thú thực đời phi công của tôi bắt đầu chẳng phải vì chí tang bồng, mà nó bắt đầu bằng một sự ngẫu nhiên.

Biết khả năng mình chẳng thế nào lái nổi chiếc máy bay. Vì di truyền sao đó, có thể tại ông già bị má tôi dợt cho quay mòng mòng hoài, nên cứ ngồi lên cái gì nhúc nhích là tôi nhức đầu, kể cả ngồi võng.

Tôi ở Rạch Giá, thời học trò thỉnh thoảng được về thăm quê, cứ mỗi lần xe đò chạy tới Bình Chánh là tôi bắt đầu ói mửa như con gái có bầu. Nghĩ đến Không Quân, tôi cũng khoái lắm, khoái không phải vì bay bổng mà là vì khỏi lội sình. Nhưng cứ nghĩ sang Không Quân mà không bay được, thế nào nó cũng đuổi về Bộ Binh thì quê lắm.

Tôi gia nhập khóa 1/69 Bộ Binh, đang thụ huấn tại Quang Trung thì Không Quân sang tuyển người. Tôi chẳng tha thiết gì nhưng thằng Trương Phương Tuyên dụ:

– Ghi danh vào Không Quân, theo xe về Trung Tâm Y Khoa khám sức khoẻ, mỗi ngày mình chỉ cởi quần áo cho ông bác sĩ xem, nhảy tưng tưng mấy cái cho ổng đo, rồi vù ra phố chơi chiều về lại quân trường, đã lắm.

Tôi và nó ghi danh vào Không Quân và đúng như nó nói, hai thằng nhởn nhơ một tuần lễ đi khám sức khoẻ. Khám chẳng được là bao, nhưng chiều nào về ngang qua Ngã ba Chú Ía, hai thằng cũng không quên vẫy tay chào mấy nàng Kiều cho thắm tình Quân Dân cá nước.

Mãn khóa Quang Trung, tôi được chuyển về Thủ Đức học tiếp để chờ ngày ra trường. Một hôm chuẩn bị ra tuyến ứng chiến, tôi được lệnh trả quân trang để về Không Quân. Thằng Tuyên nói:

– Chỉ còn 6 tuần nữa ra trường, mang lon Chuẩn uý, bây giờ về Không Quân mang Alpha dài dài.

Hai thằng bèn hạ quyết tâm ở lại.
Tôi nói với ông Thượng Sĩ già:

– Thượng Sĩ, tôi không về Không Quân đâu.

Ông trợn mắt lên nạt:
– Giỡn chơi cha non, quân đội chứ ở nhà hay sao? Bộ muốn làm gì thì làm hả? Đến 8 giờ tối mà không ký giấy trả đồ, An Ninh nó ghép vô tội nội tuyến là bỏ mẹ.

Nghe nói tới An Ninh là tóc tôi dựng đứng đàng sau, tôi bèn trả đồ và lấy Sự vụ lệnh để về Không Quân.

Tôi được xếp học khóa 69A, toàn là những tay thông minh và gốc bự, như thằng Phan Huy Bách, ba nó là Thủ tướng Phan Huy Quát, thằng Hà Thúc Việt chi chòm ông Hà Thúc Ký, Hồ Văn Anh Tuấn con cháu Hồ Biểu Chánh (Nó thề độc là mình không có dính dáng gì đến Hồ Chí Minh). Chỉ có tôi là bần cố nông mê muội, ngay cả ông già cũng chết ngắc ngày còn nhỏ.

Ra đến Nha Trang tôi được niên trưởng chào đón và dạy dỗ rất chí tình. Khóa đàn anh, tôi gọi là niên trưởng; khóa lớn hơn tôi gọi là đại cồ; lớn nữa thì gọi là siêu đại cồ; rồi dần dà lên đến Thiếu uý Sinh viên sĩ quan, Trung uý, Đại uý… Có một ông Niên trưởng tự xưng là Đại tá sinh viên sĩ quan siêu đại cồ niên trưởng. Hôm mới ra Nha Trang ông bắt tôi chào con Đại bàng ở cổng, ông cầm khẩu carbine lên đạn lách cách tuyên bố: – Bắn bỏ ba mươi phần trăm không cần làm báo cáo.

Tôi hoảng hồn. Té ra tôi chọn lầm binh chủng rồi, ở đây nó coi mạng sống con người rẻ như bèo.

Ông niên trưởng hay ví von thời gian đi lính của tôi ít hơn ngày ông khai bịnh lậu ở quân trường. Ông dạy tôi về tinh thần ”thượng mã” của phi công, ông nói ra trận, hạ máy bay địch, nếu phi công nó nhảy dù ra thì bay ngang, lắc cánh mà chào chứ không bắn pilot. Ông dạy về chữ: ”Không bỏ anh em, không bỏ bạn bè”. Ông nói:

– Tất cả mọi người đeo con rồng lên ngực, sống chết có nhau, là ăn cùng mâm, ngủ cùng giường.

Thằng Hà Thúc Việt cười phá lên, ông niên trưởng đến gần gằn giọng: – Ông này cười cái gì?

– Dạ cười ngủ chung với Tiếp Viên Hàng Không.

Ông ngạc nhiên nhìn nó, đi tới đi lui, ngẫm nghĩ, chợt ông đừng lại gằn giọng:
– Mặt ông ngu hơn thằng chăn trâu, Tiếp Viên nào cho ngủ chung mà mơ.

Nó dí dỏm đáp:
– Dạ tại niên trưởng nói ai đeo con rồng lên ngực thì mình được ngủ chung một giường.

Ông bực lắm, với giọng kẻ cả, ông giải thích:
– Có nhiều loại rồng, rồng Không Quân là rồng khạc lửa, rồng Nữ Tiếp Viên là rồng…lộn.

Đến lượt thằng Tuyên phì cười. Ông quát:
– Ông kia cười cái gì?

Nó bí thế đáp:
– Dạ cười con rồng.

Ông trợn mắt hỏi:
– Con rồng có gì mà cười?

Tuyên đáp bằng giọng Huế:
– Dạ, tại nó … lộn.

Cả hàng quân cười ồ lên, ông thấy mấy thằng đàn em này lếu láo qúa, ông phải ra oai kẻo chúng lờn, ông nạt tiếp:
– Rồng lộn có gì mà cười?

– Dạ con rồng lộn không có gì để cười, nhưng Nữ Tiếp Viên rồng lộn thì buồn cười.

Ông tức mình bắt hai thằng móc giò lên cửa sổ, miệng hô to một trăm lần câu: ”Nữ Tiếp Viên rồng lộn không có gì phải cười”.

Tưởng như chưa đã nư, ông đến gần một thằng thấp nhất khóa, gằn giọng hỏi:
– Tại sao ông đã xấu, mà lại còn dám lùn?

Thằng Tú ngơ ngác vài giây rồi đáp sảng:
– Dạ tại … ông già lùn.

Ông niên trưởng lại đi thêm một bài giáo khoa thư:
– Xe trước đổ thì xe sau tránh, cây đắng thì phải cố sinh trái ngọt, ông già lùn thì con phải cao, ông biết vậy mà còn ngoan cố cứ lùn. Móc giò lên đuôi bom cho tôi.

Giải quyết xong thằng Tú, ông bước sang đứa kế, ông hỏi:
– Ông tên gì?

– Khóa sinh Lê Văn Nãi, khóa 69A trình diện niên trưởng.

Ông nhìn thằng Nãi đẹp trai, cố kiếm một tội để ghép. Ông chửi:
– Gái bán Bar cũng biết ông thuộc khóa 69A, tôi hỏi tên, khai chi cả khóa. Ông họ Lê, biết Lê Long Đĩnh không?

– Dạ không.

– Mặt ông và mặt Lê Long Đĩnh giống nhau như đúc mà còn chối. Lê Long Đĩnh là vua dâm dật Lê Ngọa Triều, ông tổ mười đời của ông mà ông còn chối thì mai sau ông sẽ chối bỏ bạn bè. Từ nay mỗi lần trình diện, ông phải nói: Khóa sinh Lê Văn Nãi, cháu đích tôn Lê Ngọa Triều, ông quên thì thác cô hồn với tôi.

Ông niên trưởng chừng như thấy quá mất giờ để phạt từng thằng, ông dõng dạc tuyên bố:
– Chưa có một khóa nào ngu như khóa này, mặt ông nào cũng đần đần độn độn, tôi đếm từ một tới năm, không muốn thấy một cái chân ông nào còn đứng trên quả địa cầu.

Ông bắt đầu đếm, hàng quân như ong vỡ tổ, mỗi đứa cố gắng kiếm một vị trí để móc cẳng mình cao hơn mặt đất, không cứ là móc lên cái gì, miễn là đôi giày bốt không còn chạm mặt đất cho ông niên trưởng hài lòng.

Tôi cắn chặt hai hàm răng, sợ bật cười sẽ bị ông ra lệnh móc cẳng lên ngọn cây dương thì khốn.

***
Thấm thoắt một năm trôi qua, tôi được trở về Tân Sơn Nhứt học Anh Ngữ rồi đi Mỹ để học lái máy bay.

Đây là lần thứ ba tôi được leo lên chìếc máy bay. Hai lần trước đều ngồi bệt dưới sàn chiếc C119 thủng đít đi từ Sài Gòn ra Nha Trang và về lại, lần nào mưa cũng hắt ướt như chuột lột, lần này chiếc máy bay của hãng Braniff International không dột mà lại có ghế đàng hoàng, cô chiêu đãi viên đẹp hết cỡ, cô ta hỏi chuyện tôi nhiều, nhưng tôi không hiểu mấy. Một lần tới bữa ăn cô hỏi:
– Do you want coffee, tea or milk?

Nhìn chiếc xe cô đẩy, tôi hiểu ngay rằng cô hỏi tôi muốn ăn uống gì không. Tôi trả lời là Yes. Cô lại hỏi:
– You want some coffee?

Tôi lập lại là Yes, với chữ S kéo dài thêm, ý nói muốn lắm.
Cô đưa cho tôi một ly cà phê đắng nghét. Mỉm miệng cười duyên, chắc cô đoán chuyến phi cơ này đụng toàn thứ thiệt, không cần phải hỏi thêm thằng Việt, cô đưa cho nó một ly sữa tươi. Cô hỏi hai đứa:
– Do you want some sugar?

Tôi tưởng cô hỏi muốn thêm cà phê không, nên trả lời rất lịch sự:
– No, thank you Sir.

Uống xong ly cà phê đắng, tôi hỏi thằng Việt, sao mầy được uống sữa, nó trả lời cũng không hiểu tại sao. Tôi nói ở quê tao sữa bột pha ra toàn cho heo ăn, người uống đau bụng chết. Nó nói, họ đưa gì thì uống nấy chứ bộ chọn được sao? Tôi than phiền phải uống cà phê đắng, nó nói chắc Mỹ nó không uống đường, hôm nay mình sang Mỹ tập uống cà phê đắng cho quen.

Sang đến Lackland Air Force Base tôi được học những từ ngữ chuyên môn Anh ngữ và mãn khóa.

Lúc này trình độ Anh ngữ khấm khá lắm rồi, ông thầy Anh văn dưới quê bị tôi bỏ xa. Dù sao tôi cũng phải mang ơn ông vì ông đã dạy cho tôi biết những câu vỡ lòng, như chữ bacon nghĩa là thịt mỡ, hot dog là thịt chó nóng hổi và ”chase the girl” nghĩa là rượt con gái. Tôi cũng đã biết chắc chắn rằng đồng mười xu tuy nó nhỏ hơn đồng năm xu nhưng giá trị gấp đôi.

https://i0.wp.com/www.centaursinvietnam.org/Memoriam/WoltersGate2012.jpg
Cuối cùng ngày chờ đợi đã đến, đó là ngày chuyển trại để đi học lái máy bay ở Fort Walter, Texas, tôi lo lắm, vì cái bệnh say gió của mình thế nào cũng bị rớt đài. Hôm đầu tiên ra phi đạo, thằng thầy cho tôi lên chiếc TH 55 nhỏ như cái trứng gà, lại không có cửa, nó bay lên tắp tít mây xanh nghiêng qua nghiêng lại phát khiếp, mỗi lần như vậy tôi phải uốn người vào trong cho máy bay thăng bằng trở lại, chỉ sợ mình rớt ra ngoài. Có nhiều lần tôi phải gồng tay lại nắm lấy thành ghế cho chắc. Sau gần một giờ biểu diễn, thằng thầy đáp xuống phi đạo, nhìn tôi cười cười. Tôi ra hiệu cho nó, ý nói phải ngừng ngay tại chỗ cho tôi nhảy xuống, bằng không tôi sẽ ói thẳng vào mặt nó. Thằng thầy đứng lại cho tôi ói. Tôi ói một cách thoải mái cho dù biết rằng cú ói này sẽ chấm dứt cuộc đời bay bổng cuả mình.

Lạ quá, sau khi đưa máy bay vào chỗ đậu, nó khen tôi chịu đựng giỏi và tiên đoán là tôi sẽ bay được. Tôi vận dụng khả năng Anh ngữ để hỏi là tại sao ói mà bay được? Nó cười cười trả lời:

Chẳng có thằng nào mà không ói ngày nó bay thử đầu tiên cả.

Tôi mừng lắm, thì ra tôi ói là do thằng này nó chơi, có lẽ cái sự quay mòng mòng của má tôi nó không áp phê ở xứ Mỹ này. Chắc là được Chúa Phật độ trì, sau gần một năm tôi thi mãn khóa và đậu. Bạn bè có đứa xì xào rằng tôi đậu vớt.

Về nước và chuyển về Không đoàn 43 Chiến thuật ở Biên Hoà. Một hôm đi hành quân ở biên giới Kampuchia, thả Biệt kích Lôi Hổ. Đang mơ mộng nhìn con suối thì đạn AK nổ như bắp rang, phi cơ tôi như cục sắt rớt cái bịch xuống sườn đồi, tôi chẳng còn nhớ tí ti gì về phương pháp đáp khẩn cấp mà trường đã dạy. Nhìn ra ngoài, thấy chiếc phi cơ móp bẹp như con cóc tiá, cánh quạt chém cây rừng đổ te tua và chiếc cánh quạt cũng te tua chẳng kém ngọn cây rừng. Hai chiếc Cobra của Mỹ hộ tống bắn rocket rầm rầm làm tôi hoảng quá, rút vội cái chốt gắn khẩu đại liên cùng thằng xạ thủ phóng ra rừng chạy một mạch. Chạy khoảng 200 mét, tôi hoàn hồn chút đỉnh và mệt quá, tôi chọn chiếc gò mối cao, căng chiếc càng đại liên ra, chuẩn bị một xạ trường để chiến đấu. Thằng VC nào vô phúc nhào lên là nhất định sẽ sinh Bắc tử Nam. Tôi thấy thiếu một cái gì mà nghĩ hoài không ra, bỗng thằng xạ thủ hỏi:
– Thiếu uý, mình không có đạn à?

Lúc bấy giờ tôi mới nhớ, thì ra vác cây đại liên mà chạy, tôi quên phéng ngay thùng đạn còn nằm trên phi cơ, tôi vội tháo lấy chiếc nòng, rồi vứt cây súng M60 vào bụi rậm và… chạy tiếp.

Tôi còn một cây P.38 và hai viên đạn, lúc này mới thấy nguy hiểm quá chừng, hai viên đạn thì làm được trò trống gì. Ngày lãnh súng, tôi được phát 6 viên đạn, ráp đầy các lỗ của trái khế trong ổ súng, tôi thấy hơi ít, hỏi ông Phi đoàn phó, ông nói:
– Pilot đi đâu cũng chỉ đeo có một cây súng và hai viên đạn, mày có 6 viên còn ít ỏi gì.

Nghe nói thế sau này mỗi lần đi bay gần bãi trống tôi hay bắn bia và cuối cùng còn lại đúng hai viên. Trên tay còn cái nòng súng M60, tôi nghĩ, Việt cộng đội nón cối, mình lựa thế, dến cho một nòng đại liên bằng sắt lên đầu, có mà trời cứu. Nghĩ thế nên tôi vững bụng đôi chút. Cũng may lần này có hai chiếc gunship hộ tống và mấy chiếc H34 thả Lôi Hổ ở Lào đang bay về gần, xuống bốc bọn tôi về an toàn.

Thấy hai thằng Võ Trang bay vòng vòng có vẻ đỡ nguy hiểm hơn đi thả Lôi Hổ, tôi có ý định xin về bay trực thăng võ trang Gunship. Chưa kịp xin thì hên quá, xếp của tôi cho tăng cường vào Phi đội Gunship. Bay Gunship thì mệt một chút nhưng không phải lơ lửng trên ngọn cây đưa bụng cho chúng bắn.

Một hôm đi hành quân ở gần Bến Thế- Bình Dương, tôi phải yểm trợ cho Bộ Binh hành quân. Quân bạn cho biết họ ở sát bờ nam con rạch, địch ở phía bắc. Tôi nghĩ thầm, mấy cha Bộ Binh hay lừa mình, thôi thì bay cách hướng Nam con rạch hai cây số, bắn về phía Bắc, rồi cách con rạch một cây số ta vòng lại, nếu máy trục trặc thì cũng rớt lên đầu quân bạn. Tôi vào trục, nhắm mục tiêu bóp cò, rocket không nổ, tôi lượn ra mới hay mình bật lầm nút. Tôi nhào vào lại, bắn được hai quả rocket, một quả tịt, một quả nổ ở hướng nam con rạch, thì thấy đạn phòng không bay tứ phía, phi cơ bốc cháy ở bình xăng, tôi phải cho máy bay, bay ở vị thế nghiêng, cho khối lửa dạt ra ngoài, kẻo nó tràn vô phòng lái.

Theo bài bản học khi ở trường lái, nếu máy bay cháy, việc đầu tiên là phải bấm nút release cho hai bó rocket rớt khỏi thân tàu, kẻo nó bắt lửa nổ là bỏ mẹ cả đám. Tôi tính làm như vậy nhưng chợt nhớ lời ông già dặn hồi nhỏ:

- Đánh nhau, nếu bị thằng hàng xóm đấm vào mặt, không đấm lại được, thì lấy đất cày mà phang vào mái nhà nó, gặp thằng keo kiệt, tiền sửa mái nhà làm nó đau hơn bị đấm thiệt.

Nên thay vì release hai bó rocket, tôi bèn bật nút cho nó nổ ”la phan”. Ôi thôi mười sáu quả còn lại thi nhau chui khỏi giàn phóng, quả thì nổ ở hướng bắc con rạch, quả thì bay tuốt sang bên kia sông Sài Gòn nổ ở tận mật khu Bời Lời. Tôi quẹo 180 độ và cho phi cơ nhào đại xuống con rạch gần đó.

Chiếc máy bay cày tung bùn như con cá thòi lòi phóng dưới bãi sình và tôi phóng vội ra ngoài. Cụ mẹ cuộc đời, tôi bị lừa, Bộ Binh nó cách con rạch tới hai cây số. Sau này hỏi lại, tôi được trả lời là nó sợ tài bắn cuả tôi, nếu không nói vậy lỡ tôi bắn trúng đầu nó thì sao. Mà nó hay thiệt, nếu nó ở phía nam con rạch như lời nó nói, thì quả rocket vừa rồi đã làm nó chạy té đái trong quần.

Cũng may số tôi còn lớn, thằng Gunship 2 kề kịp và bốc tôi lên an toàn, bỏ lại chiếc máy bay cháy mịt mù ven bờ suối. Về đến Phú Lợi, tôi mới hoàn hồn hẳn và nhận ra Phi hành đoàn thiếu một người. Tôi hỏi Cơ Phi là thiếu ai, nó nói thằng Xạ Thủ nóng quá phóng ra lúc còn ở cao độ hơn trăm bộ. Và cũng may mắn là nó rớt xuống cái bào và thằng C & C hành quân gần đó bốc lên rồi.

Hôm sau đơn vị cho biết, tôi sẽ được Anh Dũng Bội Tinh, công bắn mười sáu quả rocket, trúng hầm đạn VC gây nhiều tiếng nổ phụ, tôi còn được Chiến Thương Bội Tinh vì vết phỏng trên tay do quên mang chiếc găng tay chắn lửa Nomex, cộng thêm chiếc Phi Dũng Bội Tinh vì tôi bay hay quá, máy bay đã cháy mà còn lết cả mấy trăm thước mới chịu rớt.

***
Trời phú cho tôi cái tính hay sợ chết, sau lần chết hụt này, tôi nhắm xem có loại phi vụ nào ngon hơn bay Gunship hay không.

May thay, phi đoàn trưởng nói tôi có tướng ”sát phi”. Cả phi đoàn có không đầy hai chục chiếc phi cơ bay được, tôi đã nướng hết hai, ông không muốn mất thêm nữa, nên cho tôi bay những phi vụ liên lạc, và bay VIP thật là nhàn hạ.

Một hôm nhận lệnh bay cho Phủ Phó Tổng Thống, đáp ở bãi đáp VIP Air Vietnam. Tôi tưởng là mình sẽ chở tướng Kỳ hoặc bay theo chiếc Triệu Minh Vô Kỵ của ông, tôi đáp chỗ ấn định thì chẳng thấy tướng tá nào, chỉ thấy một ông già râu tóc bạc phơ cùng hai cô bé thơm như mít tố nữ, tháp tùng bằng một anh Đại uý với chiếc máy truyền tin PRC 25. Ông Đại uý hách xì xằng này ra lệnh cho tôi đi Trà Vinh. Tôi hỏi Trà Vinh là ở đâu? Ông trợn mắt nhìn tôi như nhìn một dị nhân, có lẽ ông nghĩ sao có thằng phi công ngu như vậy. Nhướng đôi lông mày, ông nói Trà Vinh nó ở Vĩnh Bình.

Tôi tưởng rằng mình sẽ bay vòng vòng ở Quân khu 3 nên hỏi: Vĩnh Bình có gần Phước Bình không? Ông hỏi: Phước Bình nào? Tôi nói Phước Bình ở gần núi Bà Rá trên Phước Long.

Ông chán đời nói: Mình đi Vùng 4. Tôi nói là không có bản đồ đi Vĩnh Bình ở Vùng 4 vì tôi hành quân ở vùng 3 Chiến thuật, ông nói cứ bay đi rồi ông chỉ.
Tôi bay xuống Vĩnh Bình, ông liên lạc sao đó, Tỉnh trưởng ra đón vào tòa hành chánh, để lại tôi và hai em bé xinh xinh chờ ở phi trường.

Tôi hỏi:
– Hai cô đi đâu mà xuống đây?

– Dạ em đi ăn giỗ ngoại.

Bây giờ thì tôi biết là phi vụ cuả tôi có nhiệm vụ đưa hai cô gái về quê ăn giỗ ông ngoại.

Chiếc xe Jeep cuả tỉnh chạy ra chở thêm mấy người nữa, có ông già búi tó, có bà mặc bà ba. Ông Đại Uý lại ra lệnh cho tôi:
– Mình đi Chợ Lách.

Tôi lại hỏi:
-Chợ Lách nó ở đâu?

Ông chán nản nhìn tôi và lập lại câu cũ: – Bay đi rồi tôi chỉ.

Ông khoác tay chỉ tôi bay về hướng Vĩnh Long, qua con sông Mỹ Thuận, rồi vòng vòng một hồi, ông chỉ một con sông, bảo tôi theo đó mà bay. Đến một con rạch nhỏ, ông dòm xuống một xóm làng và bảo tôi đáp xuống một con đê, gần đồn Nghĩa Quân. Ông ra lệnh:
– Tắt máy rồi mình vào đây ăn giỗ, chiều về.

Bốn thằng Phi Hành Đoàn tụi tôi nhìn nhau, tôi không dám để chiếc máy bay nằm đây cho Nghĩa Quân coi để vào ăn giỗ, sợ vợ nó xúi hút xăng về nấu rờ sô hoặc bỏ muối vào bình xăng chút ra đề khó nổ. Tôi năn nỉ ông cho bọn tôi về Mỹ Tho hay đâu đó để kiếm cơm bình dân mà ăn. Ông nói đi đâu thì đi 4 giờ trở lại đón Phái đoàn. Tôi bực mình cho phi cơ bay về Vĩnh Long đáp xuống bãi nổi ở bờ sông trước dinh Tỉnh trưởng. Một anh Địa Phương Quân ra đuổi, nói bãi đó dành riêng cho tỉnh trưởng, thằng Cơ Phi cương ẩu:
– Tỉnh Trưởng lớn bằng Phó Tổng Thống không? Phi cơ này của phủ Phó Tổng Thống.

Anh Địa Phương Quân chạy vào trong, lôi ra một anh Đại Uý, anh này khúm núm như tôi là Phó Tổng Thống vậy. Anh hỏi tôi cần gì, tôi mượn một xe Jeep đi ăn cơm. Cơm xong tôi phanh ngực áo bay, tụt phẹc ma tuya tới gần háng cho mát, giăng võng nằm ngủ. Ông Đại Uý thỉnh thoảng ra dòm chừng, có lẽ ông thắc mắc, sao Phi hành đoàn của Phó Tổng Thống mà quá bình dân và xấu trai như vậy. Gần bốn giờ chiều, trở lại Chợ Lách đón phái đoàn. Hôm sau kể chuyện lại cho thằng Tuất nghe, nó trợn mắt:

– Mày điếc không sợ súng, vùng đó tụi tao ít thằng nào dám la cà vào, bay thấp thì AK nó bắn, bay cao thì hoả tiễn tầm nhiệt SA7 nó chào.

Tôi ngẫm nghĩ, phi vụ nào cũng nguy hiểm cả, như thế làm sao sống nổi cho đến ngày biết yêu. Tôi hỏi ông Phi đoàn Trưởng có phi vụ nào đỡ nguy hiểm hơn không, ông nói:
– Có, ở ngoài Phù Cát bay đỡ nguy hiểm hơn, vì toàn là cát và nước biển, có rớt cũng rớt êm êm.

Thực ra ông chỉ nói chơi thôi, vì tôi là thằng cuối cùng luân phiên thuyên chuyển sau bốn năm ở phi đoàn. Tôi ra Phù Cát, an toàn thật, vì thời điểm này Mỹ cắt viện trợ, một tháng chỉ bay vài phi vụ, còn lại là chuyên học nhảy đầm và luyện Tae Kwon Do.

Đến hôm di tản chiến thuật về Nha Trang, tôi đang uống cà phê ở Câu lạc bộ thì nghe súng nổ tứ tung, chạy ra ngoài thấy lính Không Quân chạy đầy phi đạo, tôi vội chạy ra chiếc phi cơ cuả mình, còn cách khoảng 20 mét thì thấy nó tự động vọt lên trời, bên trong đen ngòm là người. Quýnh quá, tôi vòng ngược trở lại, thấy một chiếc phi cơ cũng đầy là lính, trên ghế lái có một anh mặc đồ bay ngồi đó, chiếc ghế trưởng phi cơ còn trống, tôi phóng lên ngồi, cả phi cơ đều nhìn tôi.

Tôi hỏi ông phi công:
– Vọt đi chứ cha, nó tràn ngập bây giờ.

Anh phi công nói:
– Em bay không được.

Tôi vội chụp cần lái, mở máy, cho phi cơ vội vọt lên trời và theo đoàn phi cơ hướng về Nam, đáp xuống Tân Sơn Nhất. Tôi hỏi ông phi công ngồi bên trái:
– Ông là phi công gì mà không biết bay?

– Dạ em chưa ra trường, với lại hôm nay máy bay nhiều quá, mà em thì không có Check list để mở máy.

Đó là phi vụ cuối cùng cuả tôi, nó chấm dứt cuộc đời bay một cách vô duyên, có lẽ cũng giống như nó đã bắt đầu cuộc đời bay bổng vô lý cuả tôi. Nó không bắt đầu bằng mộng mây trời và cũng không kết thúc bằng những chiến công oanh liệt.


Phi công của Không Quân toàn là những anh hùng, những người hào hoa và bay bướm, không hiểu tại sao lại đọa ra một thằng như tôi, vừa cù lần vừa dấm dớ. Hơn 5 năm khoác chiếc áo bay, tôi chẳng làm được cái gì nên tích sự, ngoại trừ lừa được một người con gái khờ, đó là má bầy trẻ của tôi bây giờ. Cho tới nay bà vẫn tin là tôi ngon lắm, hơn hẳn những thằng phi công khác, cho dù cứ mỗi lần tôi gáy, thì theo thói quen, bà vẫn đồng ý bằng câu trả lời cũ ”xạo ke”.

Hiện nay đã ”An cư lạc nghiệp” tại Mỹ, tuy cũng rất cùi đày chẳng kém ai, nhưng vào cuối tuần, tôi cũng hay la cà ở quán cà phê nghe anh em bàn chuyện thế sự.

Quán cà phê chỗ tôi ở, có đủ mọi chuyện dài ”Nhân dân tự vệ”, từ những ông đội đá vá trời một thuở, bây giờ làm Lã Vọng ở nhà ăn trợ cấp, đến những người biết quá nhiều nghề, chẳng nơi nào xứng đáng cho ông làm, bèn đi thụt bi da chờ thời. Tôi biết mình từng là pilot xạo ke thủa nọ, không dám gáy nồ trước đám đông, chỉ ngồi nghe kể chuyện thế thái nhân tình.

Hôm qua, có một ông sau khi kể thành tích long trời lở đất, thấy tôi ngồi im như Bụt, ông hỏi:
– Thế chú ngày xưa làm gì?

Bản tính bần cố nông của tôi tự nhiên vùng lên, không tự chế được mình, tôi gáy:
– Bay cho Phủ Phó Tổng Thống.

Cả quán bi da quay lại nhìn tôi, có nhiều câu bàn tán nhưng một câu tôi thấy thấm thía nhất do một anh thanh niên nói: “Xạo ke.”

Chuyện đóng góp vào cuộc chiến của tôi không có gì đáng ghi vào công trận, mà toàn là những chuyện làm mất mặt pilot và binh chủng. Tôi chỉ mong các phi công của Không lực thứ lỗi cho vì tôi bắt đầu nhận ra chân lý: ”Nhận cái dở mình có, hay hơn đánh bóng cái hay mình không có”.

Tuần rồi dự lễ ra trường của đứa con gái, nhìn lên câu khẩu hiệu mà lớp 2001 dùng làm kim chỉ nam cho cuộc đời tương lai của chúng, tôi suy nghĩ mãi. Câu nói rất giản dị của Tony Arata: ‘I will do my dreaming with my eyes wide open and I will do my looking back with my eyes closed”.

Tuy phải lưu vong ở quê người, ngày ngày đóng vai thằng phu ống nước, kiếm đồng bạc nuôi con ăn học, khó có hy vọng trở về quê cũ cầm lại cần lái chiếc trực thăng, tôi vẫn cầu mong sao, kiếp sau nếu có làm người, tôi sẽ cố gắng trở thành một phi công đàng hoàng hơn để xứng đáng với lời hát: ”Phi công ra đi lướt trên ngàn mây gió”.

Tôi cũng mong sao tập thể phi công không buồn lòng khi có một thằng ”Pilot ke” dám kể chuyện ”Xạo ke” mà tỏ ra chẳng ”ke” gì về dĩ vãng, ở cái mảnh đất tạm dung này. Thật là đa tạ, đa tạ.

Phương Toàn 

Tự Sự Của Một Người Lính Thủy



29


1. Lạc Lối Thiên Đàng
Đêm nay mưa dầm. Lạnh buốt da, cảm giác buồn ngủ kéo tới nhưng hãy còn sớm. Xưa nay tôi vốn không muốn ngủ sớm vì thấy đời quá ngắn, ngủ nhiều cũng là cách hoang phí cuộc đời. Hơn nữa, đối với người lính thủy, những giây phút trên đất liền luôn là những món quà cần trân quý.

Lấy xe dạo một vòng phố nhỏ, định bụng sẽ tìm một quán rượu nào đó để làm một ly cho ấm bụng và thưởng thức một điếu thuốc thơm. Thiên đàng bỗng thấy rất gần. Một thiên đàng giản đơn cho người lính viễn chinh.

Mưa vẫn rơi mãi trên đường phố vắng đêm khuya. Bài hát nào đó từ đâu vọng về.

Xưa nay tôi vẫn thích những con phố nhỏ dù chẳng có lý do gì. Có lẽ đó cũng là cách tôi tách mình ra khỏi Little Saigon, nơi dường như có tiếng eo sèo mặt nước buổi đò đông của Tú Xương. Nơi đó có quá nhiều hương vị cuộc sống, mà đôi khi sự giản đơn lại khó kiếm.

Phố Everett gần như bị bỏ rơi. Chỉ còn vài quán rượu còn đỏ đèn. Đậu xe ven đường, rảo bước trong cơn mưa dầm. Lướt qua những ô cửa kiếng chỉ thấy vài bóng người. Thôi thì hẹn dịp cuối tuần vậy. Con phố này có vẻ thiếu sinh khí trong ngày thường.

Rồi bỗng có một quán sáng đèn. Một bà cụ nhỏ thó nhìn ngoài bảy mươi đang ngồi thả từng ngụm khói nhỏ. Đời có vẻ như đang ngừng trôi.

Một quán cà phê đóng cửa muộn.

Mừng như bắt được vàng, ít ra cũng có chỗ dừng lại để làm một điếu thuốc thơm. Tôi mở cửa ghé vào.

Một thế giới lạ lẫm đang hiện ra. Những bức tường treo toàn những bức tranh nguệch ngoạc khó hiểu. Một nhóm người lặng thinh ngồi nghe một cô gái tuổi ngoài hai mươi đang đọc thơ.

Tôi phải vuốt mặt với bàn tay tê giá của mình để biết chắc là mình không mê ngủ. Tôi đang lạc vào đêm thơ nhạc của những người Mỹ yêu văn chương bình dị nơi phố nhỏ.

Định thần một chút, tôi nhận ra mình là người không phải Mỹ trắng duy nhất ở đây. Cảm giác mình như từ một hành tinh khác mới đến trong mắt đám đông. Nhưng rồi những ánh mắt thân thiện, những nụ cười dễ mến đã làm tôi vững tâm mà ở lại.

Tôi tới quầy gọi một chai bia và một cái bánh ngọt. Quán đơn sơ chỉ có vậy.

Tìm một góc khuất, tôi kéo ghế ngồi lặng thinh. Tôi đã lạc vào thế giới của những nghệ sỹ và những tâm hồn thơ. Tôi cảm nhận mới mẻ nhiều hồi hộp. Tôi là kẻ ngoại đạo nơi đây.

Hình ảnh một nước Mỹ phồn thực vật chất kim tiền bỗng bị một phụ nữ trung niên xóa sạch khi cô đọc những bài thơ Haiku bằng tiếng Anh do chính cô sáng tác. Cô nói rằng cô rất yêu thích thơ Haiku của Nhật Bản và văn hóa Phương Đông. Còn tôi, một người Á Đông mà chẳng biết gì về thơ Haiku.

Đêm nay tôi thua toàn tập, cũng vì đang lạc lối trong một thiên đàng bé nhỏ. Thiên đàng này đang giang tay đón nhận một kẻ ngoại đạo như tôi.

Ừ nhỉ, thiên đàng thì phải luôn rộng cửa cho người lạc lối.

2. Cuối Cùng Cho Một Tình Yêu
Hôm qua là ngày trực kề cuối sau gần ba năm làm việc ở đây. Sau lần đi tuần tra cuối ngày, lẽ ra đi thẳng về phòng tắm rửa rồi nghỉ ngơi, tôi lại quyết định rẽ qua phòng điều khiển trung tâm để coi anh lính trực thế nào, coi ảnh có chơi Facebook mà lơ là trực hay không.

Nói vậy thôi chứ tôi biết ảnh lướt Facebook là cái chắc. Cái thế hệ trẻ này có thể nhịn ăn nhưng khó mà nhịn Facebook được.

Xưa nay tôi vốn bước đi khá nhanh và không lê gót nên ít khi nghe tiếng động. Nhiều lúc có chuyện gấp phải vượt qua mặt mấy anh lính to nặng hơn, chúng đều gọi tôi là Nin-ja vì xuất hiện lúc nào mà nó không hay biết.

Nhưng mỗi khi tới phòng điều khiển là tôi cố tình đi mạnh gót để tụi nó còn có thời gian mà giấu cái phone, chứ lỡ bắt gặp mà không chửi hay phạt cái gì đó thì quân lệnh không nghiêm. Vậy mà lần nào chúng cũng chậm chạp, hay là vì tôi đi nhanh quá nên bắt gặp. Thành ra phải chửi vài câu cho đúng bài.

Vào tới nơi thì tôi gặp hai người lính trẻ. Một người trực chánh ở phòng điều khiển trung tâm và một người đi tuần tra ghi chép thông số kỹ thuật của máy móc. Đứa sếp thì mới 20 tuổi cấp hạ sỹ nhất, còn đứa xó thì lại 23 tuổi, là hạ sỹ, cách nhau một bậc lương. Lý do là đứa lớn đi lính trễ hơn vì mất hai năm ở đại học. Hắn học xong hai năm để cha mẹ thỏa chí có con vào đại học như người ta, nhưng rồi hắn bị bộ quân phục quyến rũ nên xếp bút nghiêng lên đường nhập ngũ.

Còn đứa sếp kia thì dứt khoát hơn, không thích tốn thời gian ở đại học, vì hắn thấy mình không hạp ở môi trường quá nhiều lý thuyết. Thế là vừa tốt nghiệp xong vài tháng, hắn tuyên bố hùng hồn với cha mẹ hắn là hắn sẽ đi làm lính thủy. Thường thì mấy đứa Mỹ trắng mà quyết rồi thì cha mẹ chúng chỉ có ủng hộ mà thôi, chứ không như cha mẹ Việt quăng ra một mớ vũ khí lợi hại như 'cá không ăn muối cá ươn' hay 'áo mặc không qua khỏi đầu' để trấn áp con trẻ.

Hắn tên là Mark. Còn đứa lớn kia tên là Ruben, là người Mễ sanh tại Mỹ. Nói ra chắc bị chụp mũ là kỳ thị chứ thiệt tình cái anh Mỹ trắng này hắn lanh lợi và thông minh hơn anh Mễ kia nhiều dù có thua hai năm đại học đi nữa. Bù lại, hắn cũng láu cá như mấy đứa thông minh trên đời này. Nhưng hắn làm được việc, lại có tư chất lãnh đạo nên ông Thượng Sỹ già cho nó làm sếp nguyên cái phòng máy gồm 5-6 tên, trong đó có cả một chàng trung sỹ trên nó một cấp. Và anh trung sỹ này lại là Mỹ đen lười biếng và hậu đậu, vừa không khéo tay vừa chậm học. Nói tới đây chắc bị chụp mũ lần hai. Nhưng có sao thì nói vậy thôi.

Thực tế đã chứng minh rồi. Nước Nam Phi có người da trắng thì mới là nước tiến bộ nhất châu lục đen, còn mấy nước thuần da đen như Somali thì chỉ có ăn xin thế giới cả thế kỷ nay, nếu không thì đi làm hải tặc.

Vì Mark được nhiều người sếp khác thích nên tôi không bao giờ tỏ vẻ thích hắn vì sợ hắn kiêu ngạo. Thành ra tôi hay bắt lỗi nó để hạ bệ cái thói tự kiêu của hắn, và vô tình đì hắn khi nào không biết. Tôi lại bị nhiễm cái giáo dục hồi nhỏ ở quê nhà, tức là cứ bênh vực người nghèo hay người thấp cổ bé họng. Thành ra ai thuộc giai cấp ở trên như người Mỹ trắng đều khó được cảm tình của tôi. Tâm lý bênh người thiểu số dù sao cũng thắng thế trong tôi xưa nay.

Tối qua tình cờ bước vào nghe Mark la mắng Ruben lớn tiếng, tự nhiên tôi bênh ngang người Mễ y hệt đang bênh một giai cấp bị trị trước thực dân đô hộ. Thấy Mark rất giận nhưng không dám nói vì khoảng cách quyền lực giữa nó và tôi quá xa, tôi đã biết mình sai. Thường thì tôi chỉ làm việc với Thượng Sỹ già là sếp lớn của Mark.

Bảo Ruben tiếp tục đi tuần, tôi ngồi xuống nói chuyện với Mark. Tôi hỏi nó có phải không phục vì bị tôi rầy hay không.

Mark nói:

- Tôi biết là tôi quá trẻ để giữ vị trí supervisor trên mấy đứa kia. Nhưng nếu mấy ông đã tin tôi thì phải ủng hộ tôi thì công việc mới chạy được. Chứ tôi đâu có muốn bị ghét mà la mắng tụi nó. Tụi nó lười biếng thì tất cả đều thất bại.

Lúc này tôi thấy đúng là Mark có tư chất lãnh đạo thật. Hắn có cái họ gốc Anh Quốc. Ngày xưa người Anh cai trị Hồng Kông nên người Hồng Kông mới văn minh hơn người đồng hương đại lục vài chục năm tiến hóa xã hội. Người Anh cũng từng đô hộ các quốc gia khác toàn cầu, và kết quả là nước nào cũng văn minh hơn láng giềng không bị thực dân Anh đô hộ.

Lắng nghe Mark nói xong. Tôi thấy đến lúc phải nói thật cho hắn nghe suy nghĩ của mình về hắn. Tôi nói:

- Tôi sắp chuyển đi rồi nên hi vọng anh sẽ tin là tôi nói thật. Thật ra tôi đánh giá rất cao về khả năng lãnh đạo của anh, cũng như khả năng tiếp thu kiến thức rất nhanh của anh. Nhưng tôi sợ anh không có được sự ủng hộ của cấp dưới vì anh còn quá trẻ nên thiếu đắc nhân tâm. Anh nên để ý lời lẽ của mình, cũng như thái độ quá cực đoan với cấp dưới. Nhưng tối nay tôi đã sai vì làm anh nghĩ là tôi không ủng hộ quyền hạn của anh.

Tới đây tôi thấy khóe mắt hắn long lanh, đầu hắn cúi xuống. Hắn chỉ mới đôi mươi, gương mặt vẫn nguyên nét thánh thiện. Suýt nữa là tôi đã không qua mặt được hắn khi cố giấu một luồng xúc cảm thật mạnh từ đâu ập tới. Tôi thấy hắn tội nghiệp kinh khủng. Tôi hắng giọng nói:

- Thôi, khuya rồi. Tôi phải về phòng. Hãy gọi tôi bất cứ lúc nào cần giúp đỡ hay thấy lo lắng về điều gì nhé. Gặp lại anh vào sáng mai.

Trở về phòng, tôi cũng bất ngờ với chính mình, vì không hiểu làm sao mà mình lại nói thẳng được với một người lính cách xa mình nhiều như vậy.

Có lẽ do mình sắp chuyển đi. Và đó có thể là cuối cùng cho một tình yêu, một tình yêu đối với một nơi và những người đã gắn bó với mình suốt ba năm đầu khó khăn nhất trong sự nghiệp làm sỹ quan kỹ thuật của mình.

Như dòng sông vẫn chảy ra biển lớn. Mình rồi cũng sẽ ra biển lớn, nhưng nhánh sông ngày xưa luôn là kỷ niệm đẹp.

Trần Du Sinh

Blog Archive