Monday, November 30, 2015

Thảm kịch nhân 150 năm nhà hát Bataclan


Tuấn Thảo    

Đợt khủng bố kinh hoàng tại Paris hôm 13/11/2015 vừa qua đã làm cho 130 người thiệt mạng, trong đó có khoảng hai phần ba các nạn nhân đã bỏ mình tại nhà hát Bataclan. Sự kiện tang thương này diễn ra đúng vào lúc nhà hát Bataclan ăn mừng 150 năm ngày được thành lập.

Tọa lạc ở số 50 trên đại lộ Voltaire, giữa lòng Paris quận XI, nhà hát Bataclan đã được khánh thành vào đầu tháng Hai năm 1865. Nhà hát này đã nhiều lần đổi chủ, nơi tổ chức nhiều hình thức sinh hoạt giải trí, kể cả biểu diễn hoà nhạc, chiếu phim xinê hay là hộp đêm vũ trường. Nhưng với thời gian, nhà hát Bataclan cũng như nhà hát Olympia, trở nên gắn liền với nếp sống sinh hoạt của người dân Paris, và được dưa vào danh sách các di sản văn hóa thủ đô Pháp từ năm 1991.Description de cette image, également commentée ci-après
Về mặt kiến trúc, có thể nói là nhà hát Bataclan được xem như là một ‘’kỳ công’’, bởi vì kiến trúc sư Charles Duval (1808-1876) chỉ có 9 tháng để phác họa sơ đồ và điều hành việc xây cất nhà hát. Nguyên là con trai của kiến trúc sư Pierre Joseph Duval, người đã quy hoạch toàn bộ thành phố Beauvais, Charles Duval nối nghiệp thân phụ trong ngành kiến trúc.

Thế nhưng, đam mê đầu đời của ông vẫn là sân khấu kịch nghệ, điều đó giải thích vì sao ông nổi tiếng sau đó như là gương mặt đã xây cất các nhà hát lớn tại thủ đô Paris, trong đó có sân khấu Eldorado, vũ trường Alcazar, cũng như nhà hát Le Grand Café Parisien (1857), được xem như là rạp hát lớn nhất thế giới vào giữa thế kỷ XIX, với hơn 1.200 chỗ ngồi.

Khi đốc thúc việc xây cất nhà hát Bataclan, kiến trúc sư Charles Duval đã vẽ một toà nhà đồ sộ bề thế với gần hai ngàn chỗ ngồi. Làng nghệ thuật Pháp thời bấy giờ đang có cái mốt yêu chuộng ‘’của lạ’’ đến từ các nước Viễn Đông, kể cả Nhật Bản và Trung Hoa cho nên ngành kiến trúc cũng như ngành trang trí nội thất đều gợi hứng vay mượn ít nhiều các đường nét, họa tiết Á Đông. Có lẽ cũng vì thế mà sau nhà hát Le Grand Café Parisien (1857), nhà hát Bataclan (tên nguyên gốc là Ba-Ta-Clan) khi được khai trương, còn được mệnh danh là Le Grand Café Chinois.

Nhà hát có xây một mái chùa theo kiểu Trung Hoa, chót vót ở trên nóc nhà. Tấm màn bằng nhung che phủ sân khấu lớn mang hình cánh quạt Nhật Bản, với những họa tiết anh đào gợi lại văn hóa xứ Phù Tang. Nhà hát này nhanh chóng trở thành một trong những tụ điểm khét tiếng giải trí vui chơi. Dân Paris thời bấy giờ đến đây không đơn thuần để xem vũ kịch hay ca múa mà còn để chơi bida, uống cà phê, thưởng thức champagne hay dùng tiệc trà ở tầng phía trên, một cơ hội lý tưởng để cho quý cô trưng diện, để cho quý bà khoe các kiểu áo dạ hội thời trang.

Nhà hát được đặt tên Bataclan theo tựa đề của vở ca vũ kịch của Jacques Offenbach, sau đó trở thành một sân khấu ‘’tạp kỷ’’ theo đúng nghĩa của nó tức là tập hợp trên cùng một sàn diễn nhiều tiết mục khác nhau kể cả hài kịch, ca hát, múa ballet, ảo thuật hay trò xiếc.

Từ những năm 1905 trở đi, Bataclan trở thành nơi chuyên biểu diễn các vở tuồng opérette cũng như các đại nhạc hội gồm nhiều hoạt cảnh ca vũ kịch có chuyên đề (revue musicale). Những tên tuổi lớn thời bấy giờ như Mistinguett, sau đó là Maurice Chevalier hay là Georges Milton đều từng biểu diễn tại Bataclan.

Trong giai đoạn giữa hai Thế chiến (1920-1938), nhà hát Bataclan được biến thành một rạp chiếu phim, ban đầu là phim câm rồi sau đó là phim có âm thanh đi thoại. Sau một vụ hỏa hoạn lớn, Bataclan buộc phải đóng cửa, rồi xây cất lại một phần bên trong rạp hát, mái chùa nằm ở trên nóc nhà bị san bằng, dỡ bỏ. Giờ đây, chỉ có trên logo thương hiệu của nhà hát Bataclan, thì người ta còn giữ lại cái hình tượng ban đầu của mái chùa Đông Phương.

Mãi tới đầu những năm 1970, Bataclan mới mở cửa trở lại để tiếp đón khán giả. Nhà hát trở thành một sân khấu chủ yếu dành cho nhạc rock, nhắm vào đối tượng thanh niên, hầu tạo ra một nét khác biệt với các nhà hát khác nổi tiếng của Paris thời bấy giờ, điển hình nhất là nhà hát Olympia chuyên về nhạc nhẹ.

Gần đây trong bộ phim tài liệu mang tựa đề “Các thế hệ Bataclan” (Générations Bataclan) chiếu vào hôm 20/11 một mặt để tưởng niệm các nạn nhân, mặt khác để nói về 150 năm lịch sử của nhà hát này kể từ ngày khánh thành, khán giả có thể thấy sự gắn bó của giới nghệ sĩ với nhà hát này qua bao thế hệ. 

Hiện giờ, Bataclan là chặng đường không thể thiếu trong lịch biểu diễn của các ban nhạc rock, kể cả các nghệ sĩ Pháp và các tên tuổi trứ danh trong làng nhạc quốc tế, từ các gương mặt như Lou Reed, Alain Bashung, Police, The Cure, Téléphone những năm 1980 cho tới các nghệ sĩ gần đây hơn như Stromae, Robbie Williams hay Eagles of Death Metal …..

Bên cạnh các buổi trình diễn nhạc rock, nhà hát Bataclan trong thời gian qua còn là nơi biểu diễn của các diễn viên hài (như Djamel Debbouze, Dany Boon, Jean Marie Bigard), lâu lâu một lần, Bataclan lại được biến thành một hộp đêm dành cho giới yêu chuộng sàn nhảy, do người ta có thể mướn nhà hát này để tổ chức những chương trình ‘’clubbing’’ theo chuyên đề.

Kể từ năm 2004 trở đi, nhà hát Bataclan nằm dưới sự điều khiển của một nhóm chuyên tổ chức các sự kiện bao gồm nhiều nhà hát khác nhau, trong đó có sân khấu Bouffes du Nord. Nhà hát Bataclan do có 1.500 chỗ ngồi nên được xem là khá lý tưởng cho các nghệ sĩ mới vào nghề cũng như các ban nhạc có tầm cỡ trung bình. Các nghệ sĩ có khả năng thu hút đông đảo khán giả trong cùng một đêm diễn thường chọn những sân khấu lớn hơn nữa như sân vận động Stade de France, cung thể thao Bercy (vừa mới đổi tên thành (Accor Arena), các rạp hát lớn như Palais des Congrès hay Palais des Sports …..
alt
Vào đầu năm 2015, chi nhánh giải trí của tập đoàn Lagardère đã mua lại 70% cổ phần của nhà hát Bataclan. 

Nhà hát này đã được tân trang sau khi có chủ mới, lên lịch biểu diễn khá hấp dẫn hầu đem lại một luồng sinh khí mới cho sân khấu nhạc rock ở thủ đô Paris, kể cả các nhóm nhạc đến từ dòng chính (mainstream) hay các ban nhạc rock theo phong trào luân chuyển, độc lập hay dòng ngầm (alternative, indie, underground).

Thế nhưng, với đợt khủng bố đẫm máu ngày 13/11 vừa qua, thế giới giờ đây gắn liền nhà hát Bataclan với những hình ảnh tang thương chết chóc. Năm Bataclan ăn mừng sinh nhật 150 tuổi lại nhuốm đầy tử khí, khoác lên nhà hát này một tấm màn nhung đen, đạm màu tang tóc.


Sunday, November 29, 2015

Cánh đồng hoa tulip Hoà Lan

Thoạt nhìn những bức ảnh này, người ta sẽ tưởng nó là một bức tranh được tạo ra bởi những chiếc bút chì màu đủ sắc
.
Nhưng thực tế, đó là những cánh đồng hoa tulip Hoà Lan nổi tiếng.

Những luống hoa màu xanh sống động, màu đỏ, màu vàng, hồng nằm xen kẽ mượt mà như nhung giống như ai đó trải những tấm lụa đủ sắc màu xuống mặt đất để phơi giữa nắng hè ở vùng Lisse, miền Tây Hoà Lan, nơi người nông dân chuyên trồng hoa để cung cấp cho hàng ngàn cửa hàng trên khắp thế giới.

Những ai biết tới đất nước Hoà Lan có lẽ đều đã từng bị mê hoặc bởi khung cảnh này. Và mỗi năm đến mùa thu hoạch, hàng vạn du khách lại đổ xô tới khu vực này để chiêm ngưỡng.

Hoa tulip được trồng tại Hoà Lan từ 4 thế kỷ trước. Người Hoà Lan trồng hơn 9 tỷ bông hoa tulip mỗi năm và 2/3 số hoa này được xuất cang, chủ yếu sang Mỹ và Đức.

Mùa hoa tulip kéo dài từ tháng 3 tới tháng 8, nhưng thời điểm này được coi là đẹp nhất trong năm. Kết thúc mùa hoa, người dân lại chuyển sang trồng rau thay thế.



































Saturday, November 28, 2015

Vườn Nhớ


Orchid Thanh Le


Trước mắt bà là người đàn ông độ ngoài sáu mươi tuổi. Hai bàn tay gân guốc đáng nể. Cái miệng hay toác cười. Trông dáng người tầm thước như thế liệu có làm khỏe như dân Mễ không đây, bà nghi ngại. Được cái cùng là người Việt nên bà có thể điều đình. Bà giao hẹn:

- Tôi muốn nhìn thấy cái vườn gọn ghẽ, mát mắt.

- Vâng! Tôi hay giồng cây, đi đâu giồng đấy và hầu như tôi giồng cây nào là cây ấy sống hết. Họ bảo là tôi mệnh "Thổ" nên cây có đất bám, làm gì mà chẳng sống. Không biết họ nói thực hay đùa nữa.

Nói xong ông lại toác miệng cười. Không dưng bà mất cảm tình khi nghe giọng ông nói. Bà thẳng thừng mặc cả:

- Này nhé, tôi trả công ông bằng tem phiếu thực phẩm vì đằng nào ông cũng phải đi chợ thôi.

- Ấy không được, tôi nào ăn hết với số tem phiếu ấy. Xin bà cứ chi tiền mặt cho.

Bà bực dọc, thầm nghĩ lão này đã làm chui mà còn hét cao. Nghe từ người giới thiệu rằng ông mới được cô em bảo lãnh sang định cư tại Mỹ được vài tuần, còn chân ướt chân ráo và muốn kiếm thêm thu nhập. Vườn nhà bà bỏ hoang bấy lâu nay nên bà sẽ có việc để giao ông làm quanh năm. Bà đã muốn dọn dẹp ra trò cái vườn ngổn ngang bẩn mắt từ lâu rồi nhưng bà kén cả người làm vườn lẫn công chi trả bởi bà chỉ thích mặc cả, đổi chác công sức của con người bằng các thứ bà không phải bỏ tiền ra mua. Bà nhắm nếu ông mà làm được việc thì bà có nhiều dự kiến cho khu vườn: chỗ này bà muốn ông đào đất đặt hồ sen nhân tạo, chỗ kia rải sỏi, chỗ nọ trồng hoa, chỗ khác trồng cây ăn quả. Việc đầu tiên, bà giao ông đốn hạ cây hồng mộc cuối vườn.

Mất gần năm buổi mới hoàn tất việc đốn chặt. Ấy là chưa kể dọn dẹp và đào bứng gốc rễ. Gốc cây đủ to sau hơn hai mươi năm phát triển. Ông lầm lũi cưa chặt, bất kể những giọt mồ hôi thi nhau chảy nhễ nhại. Ông không kỳ nài đòi thêm thù lao. Bà hài lòng ra mặt. Có vậy chứ, thuê dân Mễ làm dễ họ hét gấp đôi tiền công trả cho ông. Lúc nghỉ giải lao trong mùi hương hồng mộc còn nồng rôm rả, ông suýt soa:

- Giá là cây xà cừ thì hay quá, vân gỗ xà cừ đẹp nên có thể dùng để đóng bàn, ghế, tủ. Gốc cây xà cừ, người ta đào lên, lấy cả bộ rễ, vì nó là rễ chùm cơ mà, rồi cắt gọt, tỉa tót cẩn thận, tạo dáng và làm thành mặt bàn, các rễ sẽ là những chân bàn, còn ghế thì lấy ngay những gốc của cành. Những gốc nào, cành nào có càng nhiều mấp mô thì khi cưa ra càng đẹp, không những chỉ đẹp về vân gỗ mà còn cả về hình dáng ngộ nghĩnh tự nhiên nữa, bà ạ!

Nghe ông tả, bà đâm tiếc rẻ. Bà chỉ tay vào các khúc cây cưa cắt ngổn ngang, vớt vát:

- Ngần ấy thứ dễ cũng đẽo gọt được bộ bàn ghế ngoài vườn.

- Cây hồng mộc này chưa đủ già nên chẳng ra tấm ra miếng để làm đâu.

Bà cố chèo kéo:

- Khéo tay như ông thì thứ gì mà chẳng xong.

- Tôi chịu. Cái gì không được là tôi nói không. Tôi luôn nghĩ tôi là người dân quê, nghĩ và nói đúng theo ý mình. Vậy thôi!

Bà sượng sùng. Chẳng qua là bà muốn tranh thủ một công hai việc. Hừm, lão nói chuyện khí phách chẳng vừa, bà thấy tưng tức.

Thuê ông làm vườn được một thời gian, bà nhận ra một khi thoả thuận giá cả xong là ông xắn tay làm, còn hỏi đến chuyện vườn tược thì ông mau chuyện. Tai bà vẫn thích nghe nhưng miệng thì nói mát mẻ cố hữu. Nhắc đến mùa nào ông cũng có đề tài cây cối để kể. Ông say sưa tả cho bà nghe về cây lộc vừng quê ông, loại thân gỗ, rụng lá vào mùa đông và nảy lộc vào mùa xuân. Hoa của cây lộc vừng kéo thành dải dài, cây nào lá càng to thì dải hoa càng dài, có khi đến cả thước. Trên dải ấy là những bông hoa kéo suốt từ gốc đến ngọn dải. Cả cây lộc vừng khi ra hoa trông như một vầng gốm đỏ. Các hoa rụng xuống đất như trải một tấm thảm vậy. Mùi hoa thơm nhẹ nhàng, man mác.

- Ông có biết tại sao gọi là cây lộc vừng?

- Tôi chỉ phỏng đoán có lẽ vì cây trổ lộc vào mùa xuân và quả giống quả vừng, loại lấy hạt để làm muối vừng ấy, mà có tên là "lộc vừng" chăng.

Bà cố ý hỏi lắt léo cốt để dồn ông vào thế bí, nhưng dường như ông rất hồn nhiên trong suy nghĩ, vẫn nói chuyện sôi nổi.

- Những người chơi cây cảnh liệt lộc vừng vào loại tứ quý chứ chẳng chơi đâu, bà ạ!

- Ông thử kể bốn loại cây cảnh quý là gì?

- Tôi trộm nghĩ chúng là cây sung, cây đa, cây si, và cây lộc vừng. Muốn biết chính xác ắt phải hỏi các nhà thực vật học!

Một ngày gió heo may, bà đích thân ra chợ Việt mua chiếc chổi tre đem về. Bà giao nó cho ông gom quét lá cây rụng ngoài vườn. Do khoán việc nên chẳng thể giục ông làm nhanh hơn, miễn là ông làm xong để nhận tiền công. Đôi lần bà cố ý quá bước ra vườn hoặc đứng ở góc khuất để theo dõi việc ông làm. Thật lạ lùng! Ông đứng áp tai vào thân cây thật tĩnh lặng như thể lắng nghe tiếng rì rầm, thì thào của cây cối đang tâm sự với ông. Cái chổi nằm lười ngoan trong tay ông. Ông như hoà quyện với cỏ cây. Trong nắng thu thấp thoáng, những chiếc lá rệu rạo lìa cành lặng lẽ thả nhịp đời xuống tâm tư ông.

Hắng giọng, cốt đưa ông về thực tại, bà vẫn không bỏ qua dịp châm biếm mỗi lần nói chuyện với ông:

- Ông có thể tức cảnh làm thơ?

Mắt ông xa xăm. Mùa thu khác hẳn các mùa khác, nó cứ làm ông bâng khuâng trong nỗi nhớ và buồn man mác. Ông chậm rãi nói với bà như thể đọc thơ:

Cái chổi tre
Lang thang
Vun vén lá vàng
Vùi chôn trong huyệt nhớ
Bần thần
Quét đi nỗi hoài niệm
Tẩn mẩn
Lùa dần vào hư không
Mùa thu rã rời!

Vậy đó sao? Cảnh vật nào giờ thay đổi ra sao bà chẳng màng. Thế nhưng từ khi có ông trong khu vườn mùa này nối tiếp mùa kia, bà lại nhận ra cỏ cây như quyến luyến ông. Tay ông chạm vào cây cối như tăng thêm sinh khí cho chúng và miệng ông lẩm nhẩm như chuyện trò cùng thiên nhiên.

Vào mùa gió với cái lạnh se se trườn nhẹ qua khung cửa nơi xứ người là lúc ông hồi tưởng những gì xa xôi.

- Cái tiết tháng này lạ lùng lắm bà ạ. Gió cằn nhằn, mưa nhấm nhẳn thế nào ấy!

Ông kể bà nghe quê ông có những lúc trời nồm, ẩm, và mưa bụi giăng giăng suốt ngày. Ông hình dung con đường mòn chập chờn, mờ ảo giữa màn mưa. Đầu con đường mòn là cây sưa đứng trầm mặc. Phải rồi, ông nhớ ra lúc đó đang là mùa hoa sưa. Rồi một ngày ông chợt thấy cây sưa cựa mình nở tung hoa trắng.

- Cây sưa hay cây sữa cùng loại, hẳn thế?

- Ồ, không đâu! Cây sưa và cây sữa khác nhau nhiều lắm. Trước hết là về gỗ. Gỗ sưa được coi là gỗ quý. Họ cứ truyền miệng nhau là nhà ai có được đồ thờ cúng bằng gỗ sưa đỏ thì gia đình gặp may mắn lắm. Thương lái Tàu săn lùng gỗ sưa thật ghê gớm. Họ chỉ cần bỏ tiền đô ra vét gỗ quí của ta là chả mấy chốc cả rừng Trường Sơn bị tàn phá.

Xem ra ông cũng nắm bắt tình hình thời cuộc. Ông buồn rầu lo ngại nếu chặt nhiều cây gỗ quí lâu năm, những cây gỗ còn lại sẽ tự nhiên mà chết đi hoặc bị bão đánh gãy, giông sét đánh cháy, lũ quét cuốn phăng, đời sống cây cỏ trở nên đảo lộn.

Bà dửng dưng trước nỗi ưu tư của ông, tiếp tục hỏi kháy:

- Vậy cây sữa ắt cho sữa?

Bà liên tưởng đến một chuyện đùa cho ngày cá tháng tư từ đài BBC vào khoảng năm 1957. Đó là một đoạn phim tả công đoạn người ta thu hoạch mì ống, tiếng Việt gọi nôm na là nui, từ trên cây. Đoạn phim dàn dựng sống động đến độ nhiều người thời đó kháo nhau phải tìm trồng cho được loại cây này vì thân cây dáng đẹp với những sợi mì ống rủ xuống tua tủa như những cọng liễu.

Miệng lại toác cười, vẫn không chú ý đến vẻ riễu cợt của bà, ông đáp nghiêm túc:

- Chẳng phải thế bà ạ. Gỗ cây sữa thì chẳng làm được gì cả, có đem đốt cũng chỉ khói um lên thôi vì thân nó có nhiều nhựa mà. Thêm nữa, hoa sưa thì nở sau Tết, hoa sữa thì chủ yếu nở về mùa thu. Hoa sưa màu trắng tinh khôi, còn hoa sữa thì màu phớt xanh như màu cốm. Bà hẳn nghe lời hát "Hoa cốm vỉa hè thơm bước chân ai..." khi người nhạc sĩ bắt gặp những đóa hoa sữa rơi trên vỉa hè đấy ư?

Bà buột miệng:

- Lúc trước ông làm nghề gì mà hay thơ với thẩn?

- Tôi con nhà nghèo, chỉ học đủ. Tính tôi ham đọc sách, vớ quyển nào đọc quyển nấy. Lớn thêm thì tôi rong ruổi mọi miền để kiếm sống.

Bà lại buông lời châm chọc:

- Ông đi đến đâu hẳn trồng cây đến đó?

- Bà nói bỡn, chỗ ở thuê chật chội thì lấy đâu ra đất mà giồng dù chỉ khóm hoa nhỏ.

Một thoáng yên lặng. Lệ thường cứ ông cất tiếng là bà đều thấy khó chịu và bà muốn nói ngay điều gì đó cho ông ngầm hiểu cảm giác của bà. Lần này bà chỉ hỏi khẽ:

- Chắc ông thích đi đây đó hơn là ở lại quê?

Ông ngẩn người:

- Ngược lại là khác! Bà tính gì, tôi bỏ quê đi cũng chỉ vì sinh kế. Lần tôi ở xa quê lâu nhất là gần bảy năm. Mỗi khi nhớ quê thì tôi thấy có cái gì đó nó đau đáu, nặng nề. Cho dù có cố nén tiếng thở dài thì lúc nào đó nó vẫn bật ra. Quê luôn có cái gì đó thật da diết, bà ạ! Tôi nhớ, một đêm không ngủ được, tôi đã viết thế này:

Đêm thao thức
Nghe tiếng lòng
Buồn trăn trở
Nhớ quay quắt
Quê và người
Xa diệu vợi
Mơ đóng gói nỗi niềm
Chỉ trong một nắm nhớ!

Lại là quê. Bà bần thần ngơ ngẩn. Con người trước mặt bà có của nả gì nơi quê nhà mà nặng lòng với mảnh đất chôn nhau cắt rốn đến vậy?

Ông kể bà nghe ông hay đi về các miền quê và nhất là hay lên các miền núi. Dọc tuyến đường lên Tây Bắc, qua khu vực đèo Pha Đin thì vẫn còn nhiều cây gạo; còn riêng ở làng ông ngày xưa thì nhiều lắm nhưng mà bây giờ thì không còn cây gạo nào nữa. Bức tranh phong cảnh được bà hình dung qua lời ông kể mỗi độ hoa gạo nở, chim sáo bay về làm tổ, cô gái quê đi gom hoa rụng mà lòng thầm mơ về mối duyên thắm đượm như hoa. Lần này, bà không hỏi cắc cớ có phải cây hoa gạo cho hoa như hạt gạo không vì ông đã tả rõ hoa gạo nở như những ngọn nến đỏ thắp lên trời xanh vậy. Ông cho biết có nơi người ta gọi là hoa mộc miên, nhưng gọi là hoa gạo thì vẫn thông dụng hơn.

- Ở đó cuộc sống cơ cực lắm. Nhiều chuyến đi tới khi về mà tôi cứ buồn bã suốt dọc đường. Khi nhìn mấy cảnh trong phim ảnh, toàn thấy nhà cao cửa rộng với cuộc sống choáng lộn, tôi không chịu được và quyết định không bao giờ xem nữa. Thế đấy, bà ạ! Dân tình còn khốn khó thực sự. Lắm lúc, tôi không cầm nổi nước mắt.

Làng quê gắn với ông từ nhỏ và càng xa quê ông càng như thấy có gì đó níu kéo để về dù làng quê bây giờ biến đổi đến chóng mặt, không còn những nét xưa nữa. Tre pheo chặt hết cả, không còn những bức tường bằng những cây duối, cây ô rô hay cây dâm bụt như xưa kia mà thay vào là những bức tường trên có cắm những mảnh chai. Trông thì dáng dấp hiện đại nhưng chìm lắng lắm.

Không rõ khi nghe ông nói chuyện đời, chuyện thiên nhiên, trái tim thực dụng của bà có chút rung cảm chăng nhưng quả là bà cũng có ngóng ông đến làm vườn. Khu vườn dần dần ra dáng ra vẻ dưới bàn tay chăm sóc của ông. Bà hỏi ông về thứ cây bà hình dung sẽ có mặt trong vườn:

- Này ông, liệu có thể kiếm một cây xoan trồng ở góc vườn cho tôi không?

Ông chắc lưỡi:

- Cây xoan ư? Tới mùa đông thì lá cây rụng hết, chỉ còn trơ lại những cành cây gầy guộc, cong queo trông thật tội nghiệp. Mùa nó trổ hoa cũng là mùa có muỗi. Người ta gọi là muỗi hoa xoan đấy.

- Tôi nghe nói hoa của nó màu tím nhạt, từng chùm to nên đâm thích chứ thật sự chưa thấy tận mắt.

- Này nhé, hoa xoan có mùi hương ngan ngát nhưng hăng hắc nhè nhẹ. Lá của nó thì mùi hắc hơn, người ta dùng làm phân xanh và dùng để ủ cho chuối mau chín vì nó nóng lắm. Quả xoan khi chín màu vàng vàng từng chùm và chim chào mào rất thích ăn, vừa ăn vừa hót líu lo. Các cụ còn lấy phoi bào của gỗ xoan cho vào áo gối làm gối để gối đầu, chữa chứng đau đầu bà ạ.

- Vậy sao?

- Còn nữa, cành xoan thì rất giòn và dễ gãy, mà khi nó gãy thì tạo ra vết sắc như ngọn giáo vậy. Chẳng thế mà ngày xưa khi bọn trẻ con chúng tôi chơi trò đánh nhau, hễ gần cây xoan là nhảy lên bẻ lấy cành xoan và lập tức nó trở thành thứ vũ khí luôn.

Rồi ông lại cười hồn nhiên, lắc đầu:

- Nói thì nói vậy chứ tôi chịu thôi không biết kiếm đâu ra cây xoan, cây sấu để giồng cho bà.

Bà chép miệng:

- Ông nhắc cây sấu làm tôi nhớ thưở nhỏ đôi lần được ăn ô mai sấu.

Ông tiếp lời bà:

- Ấy, quả sấu non mới để làm ô-mai. Quả chin chín thì là thành phần không thể thiếu của nước giải khát những trưa nóng oi bức. Quả xanh già già thì dùng nấu canh chua hay om thịt vịt. Hoặc cho quả sấu vào nước luộc rau muống và ăn với cà muối những ngày hè thì nhiều người thích lắm.

Nói đoạn ông mơ màng tưởng như mình đang đi dưới tán cây sấu vào mùa ra hoa để hít căng lồng ngực cái mùi hương nhè nhẹ ngan ngát và thấy được những hoa trắng ngà như chiếc chuông bé tí xíu rơi xuống lòng đường. Nhớ lúc hoa sấu vừa rơi vẫn còn hương phảng phất, các cô gái làng ông hay xâu thành chuỗi rồi đeo lên cổ như chiếc vòng ngọc trai. Khi mùa bão giông đến với những cơn gió giật níu oằn thân cành thì những quả chín rơi rụng.

- Ngày trước bọn tôi hay lấy lá sấu, gói với vài hạt muối trắng để ăn, thưởng thức cái vị chua chua, hơi chan chát một chút. Nhà tôi hồi ốm nghén cũng chỉ thích ăn lá sấu, gần như là ăn trừ cơm. Tôi hay nói đùa "Vậy thì nay mai đẻ ra con bò mất thôi!"

Bà hỏi ngớ ngẩn:

- Vậy bà nhà đẻ ra con gì?

Lỡ lời, bà chữa vội:

- Ý tôi hỏi bà ấy sinh con trai hay con gái?

- Con giai bà ạ. Ấy thế mà thằng cháu lúc này ốm quá. Mấy ngày nay, gọi điện thoại về tôi nghe tiếng cháu ho hệt như tiếng con mèo hen. Tôi không biết cách nào chia sẻ được. Giá mà là gánh nặng thì tôi gánh phắt một cái giúp cho xong. Đằng này lại không thế. Vậy mới ray rứt cho tôi!

Tiếp theo là tiếng ông thở dài não ruột. Dưng không bà bổ nhát cuốc vào khu vườn nhớ của ông. Bà ngỡ ngàng nhìn ông. Mắt ông rân rấn ướt. Cái miệng hay toác cười có phần run nhẹ đôi môi, giọng ông trầm hẳn:

- Thằng cháu bệnh, nhà tôi lại mất rồi. Thằng cháu cố gắng thân tự lập thân nhưng bà tính cháu đi đứng oặt oẹo bẩm sinh thì phỏng làm việc gì ra hồn? Lắm lúc cháu buồn rầu nói bố mà đi xa thì con ăn mày mất. Tôi nghe mà rứt ruột, bảo rằng con không phải đi ăn mày, để bố tính. Cô em gái tôi goá chồng ở Mỹ bảo lãnh, đến lúc được gọi đi thì thằng cháu đã quá tuổi nên phải ở lại. Tôi sang đây cố sao được vào quốc tịch rồi bảo lãnh cháu, xem ra cũng mười mấy năm nữa, ấy là tính đến việc tôi đỗ quốc tịch và còn khỏe...

Ông nói chuyện bỏ dở nửa chừng, giọng nghèn nghẹn.

*

Bẵng đi một thời gian, ông không đến làm vườn cho bà và cũng không báo trước lý do nghỉ. Bà bâng khuâng tự hỏi chẳng biết có phải ông ghét cái tính riết róng của bà mà đi tìm nơi khác làm việc thoải mái hơn không. Bà nghĩ lại thấy mình lắm khi nghiệt ngã với ông.

Đến một hôm, người giới thiệu ông đến làm vườn cho bà ghé qua báo:

- Bà ơi, con trai ông ta mất rồi, chẳng biết ông có sang lại Mỹ không.

Thì ra bấy lâu nay ông trở lại quê nhà chăm con ốm. Vẫn biết cái sinh tử là lẽ thường tình nhưng ai cũng không thể không hụt hẫng. Bà nhớ đã có lần ông bộc bạch với bà rằng cuộc đời con người ta sẽ có ngày ngủ mê say theo giấc mơ bay về trời. Lúc ấy ông sẽ mặc chuyện dâu bể, chuyện khóc cười thế gian, chuyện nhân sinh chìm nổi. Trời còn cho ông tỉnh thức để nhận ra con của ông ngủ mãi không dậy nữa.

Bà hình dung giữa cái nắng chói chang, ông đưa tiễn đứa con mệnh khổ đến nơi yên nghỉ cuối cùng. Ông hẳn đầu trần thi gan với Trời ném cho con ông mấy nắm đất quê hương để nó yên lòng rồi chệnh choạng ra về trong cái nóng như thiêu như đốt với bao điều trăn trở.

Phải rồi, con người ta mãi trăn trở và thời gian cứ trôi. Xã hội bây giờ đang vậy. Bà hay ông cũng như bao con người khác đều phải vật lộn, phải vẫy vùng, quẫy đạp trong cái vòng xoáy của nó, mấy ai thoát ra được. Bà nhìn trân trân ra khu vườn nơi ông từng vun xới với một mảnh hồn quê mà ông mang theo. Hình như bà chưa nhận ra mình đang vun xới cái gì và rồi sẽ mang theo cái gì.

Thật mà! Thề có Trời, bà đang lo nghĩ rồi ra liệu có tìm thuê được người làm vườn vừa yêu cây cối vừa chấp nhận công giá bèo như ông.

Orchid Thanh Le

Friday, November 27, 2015

Sát thủ Ngọc Phan và Đoan Trinh

Lữ Giang
 
Súng nổ tư bề mà sao không thấy bóng dáng lính mình ở đâu cả. Chỉ thấy lính bộ đội Bắc Việt khắp nơi. Trên đường Hàm Nghi, Nguyễn Thị Đoan Trinh chạy ngang nhà nào mà y thị gật đầu là y như rằng trong nhà đó có người bị bắt đem ra, người thì bị bắn tại trước nhà, người thì bị dắt đi, mấy ông bà cụ trong nhà chạy theo nằm lăn ra đường khóc la thảm thiết… Bọn lính Bắc thì cứ chửi thề luôn miệng, đéo mẹ câm mồm, ông bắn bỏ mẹ bây giờ…”

Trên đây là một đoạn nói về những tội ác mà hai tên sát thủ Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Thị Đoan Trinh đã gây ra trong Tết Mậu Thân ở Huế do bà Nguyễn Thị Thái Hòa là một nạn nhân kể lại.
 
SÁT THỦ HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN
Báo chí trong nước nói rất ít về tông tích của hai tên sát thủ Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Thị Đoan Trinh, có lẽ vì những sự tàn ác của hai tên này trong Tết Mậu Thân quá ghê rợn và quá rõ ràng, nên phải giấu kín để tránh phản ứng của dân chúng, nhất là của gia đình các nạn nhân.

Hoàng Phủ Ngọc Phan, em ruột của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sinh năm 1939 tại Huế, nhưng quê ở làng Bích Khê, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, cùng quê với nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Bố của Tường và Phan làm y tá ở bệnh viện tỉnh Quảng Trị, sau về làm ở Huế, cư ngụ trong cư xá công chức ở đường Mai Thúc Loan, trong Thành Nội, gần trường Bồ Đề.
 
2015 MARCH 5 hoangphungocphan.jpg 300
Khi Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang phát động chiến dịch gây bạo loạn để cướp chính quyền ở Huế và Đà Nẵng năm 1966, Phan đang là sinh viên y khoa năm thứ 2 Đại Học Y Khoa Huế, đã tham gia vào “Đoàn Sinh Viên Quyết Tử” do Nguyễn Đắc Xuân làm Đoàn trưởng. Đây là một tổ chức ngoại vi của Đoàn Sinh Viên Phật Tử Huế.  Đoàn Sinh Viên Phật Tử Huế lúc đầu do Hoàng Văn Giàu làm Trưởng Đoàn, sau đó là Vĩnh Khacòn Thái Thị Kim Lan làm Phó. Đám này gồm có các tên chủ yếu sau đây: Trần Quang Long, Nguyễn Thiết, Nguyễn Hữu Châu Phan, Phan Chánh Dinh, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Tấn Hùng, Nguyễn Đắc Xuân, Thái Thị Kim Lan, Hoàng Thị Thọ, Phạm thị Xuân Quế, Bửu Chỉ…

Trong tập hồi kỳ “Năm tháng dâng người", Lê Công Cơ, một đảng viên Đảng Cộng Sản có tham dự vào Đoàn Sinh Viên Quyết Tử đã cho biết như sau:

Trước thời cơ ngàn năm có một, thông qua sự chỉ đạo của Thành ủy… Đoàn sinh viên quyết tử Huế ra đời với quân số trên 500, được chia làm 4 đại đội và do anh Xuân làm tiểu đoàn trưởng. Sinh viên quyết tử được trang bị các vũ khí tự tạo và một số súng, lựu đạn do binh lính tại Huế cung cấp. Đoàn Sinh viên quyết tử, với những chàng thư sinh ngày nào, giờ mặc những bộ đồ ka-ki, đội mũ tai bèo diễu hành qua các phố “thề bảo vệ Huế đến cùng” đã tiếp thêm sức mạnh cho người Huế trong cơn dầu sôi, lửa bỏng.(NTDN, tr.293-294)

Nguyễn Đắc Xuân có đính chính rằng đoàn “đội mũ lưỡi trai (theo kiểu Mỹ)” chứ không phải “đội mũ tai bèo”!

Nhưng cuộc nổi loạn thất bại, nhóm Đoàn Sinh Viên Quyết Tử một số bị bắt, một số được Hoàng Kim Loan đưa vào chiến khu theo Việt Cộng, một số chạy vào Sài Gòn ẩn nấp tại 3 nơi:

           - Trung Tâm Quảng Đức của Thích Thiện Minh ở số 294 đường Công Lý,
           - chùa Pháp Hội ở số 702/105 đường Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ) Quận 10,
           - cư xá Viện Đại Học Vạn Hạnh,
nhưng Trung Tâm Quảng Đức của Thích Thiện Minh là nơi tập trung đông nhất.
 
Trong hồi ký trên, Lê Công Cơ cũng tiết lộ rằng khi phong trào bị đàn áp, chính Cơ đã viết thơ cho Thành Ủy xin đưa Tường, Phan và Xuân ra hậu cứ. Trong bài Kỷ yếu về Hòa Thượng Thiện Siêu Nguyễn Đắc Xuân cho biết Xuân đã mượn áo cà sa mặc vào giả làm Ni-cô, được Phạm Văn Rơ và Cao Hữu Điền hộ tống lên chùa Từ Đàm, sau đó qua chùa Kim Tiên rồi chùa Tường Vân, nhưng: “Không ngờ chùa Tường Vân nằm trong địa bàn lõm của Thành ủy Huế.” 

Đến đầu tháng 7/1966, Hoàng Phủ Ngọc Tường từ Thành ủy Huế trên chiến khu gởi thư rủ Xuân ra chiến khu, chờ tình hình yên rồi trở lại. Xuân đã mặc áo cà sa ra đi hôm 10.7.1966… Những tiết lộ này cho thấy Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đi theo Việt Cộng trước biến cố 1966.

Nhóm ở Trung Tâm Quảng Đức do Hoàng Văn Giàu lãnh đạo gồm khoảng 90 tên, trong đó có Vĩnh Tùng, Vĩnh Kha, Huỳnh Ngọc Ghênh, Nguyễn Tấn Hùng, Nguyễn Thế Côn, Trần Xuân Kiêm, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Trần Triệu Luật, Phan Long Côn, Trần Văn Long… Sau biến cố này Thích Thiện Minh quyết định tách ra khỏi Thích Trí Quang và thành lập Phật Xã Đảng để hoạt động riêng, nhưng nghiêng hẳn về phía Cộng Sản. Một số trong nhóm này đã được đưa vào chiến khu, trong đó có Hoàng Phủ Ngọc Phan và Trần Triệu Luật (đã chết trong chiến khu).

Sau nhiều lần cảnh cáo, tối 25.2.1969 cơ quan an ninh đã lục soát Trung Tâm Quảng Đức, tìm thấy nhiều truyền đơn tuyên truyền cho Cộng Sản và một số vũ khí, bắt Thích Thiện Minh và 66 sinh viên đang cư ngụ và đưa về điều tra, trong đó có lãnh tụ Hoàng Văn Giàu.

Hoàng Văn Giàu sinh năm 1938 tại Phủ Cam, Huế, con ông Hoàng Văn Xương (ở khu sau nhà thờ), nhưng gia đình này không theo Công Giáo. Giàu là người hoạch định mọi kế hoạch đấu tranh của nhóm sinh viên Phật Giáo ở Huế cũng như ở Trung Tâm Quảng Đức và là “cố vấn” của Thích Thiện Minh. Đi sát với Giàu có Nguyễn Tấn Hùng, Phan Long Côn, Trần Văn Long… bị phát hiện là những cán bộ cộng sản nằm vùng. Khi dẫn đi, cảnh sát đã còng chung Giàu với Hùng.

Ngày 15.3.1969 Tòa Án Quân Sự Mặt Trận Vùng III đã xét xử và tuyên phạt Thích Thiện Minh, tên thật là Dỗ Xuân Hàng, sinh năm 1921, 10 năm khổ sai và 5 năm cấm cố. Ít lâu sau ông được ân xá vì cam kết không hoạt động cho Cộng Sản nữa.

Riêng nhóm Hoàng Văn Giàu được chia ra hai loại, loại cán bộ cộng sản thì bị giam giữ, có người cho đến 1975, còn loại sinh viên đấu tranh thì bị bắt đi nhập ngũ, sung vào những đơn vị thuộc Sư Đoàn 21 đóng ở Chương Thiện. 

Riêng Hoàng Văn Giàu chỉ ở quân trường một thời gian thì được biệt phái về Tổng Cục Chiến Tranh Chánh TrịGiàu nhân danh Vụ Trưởng Sinh Viên Phật Tử Vụ tuyên bố giải tán Đoàn Sinh Viên Phật Tử Sài Gòn - Vạn Hạnh vì bị các sinh viên Mặt Trận Giải Phóng thao túng. Vì thế nhiều người tin rằng Giàu là phản gián của cơ quan an ninh. Nhưng có người lại cho rằng Giàu là một tên hèn nhát, lừa thầy phản bạn, bán đứng tổ chức.

Việt Cộng cũng không tin Giàu nên sau khi chiếm miền Nam, đã bắt Giàu giam ở Trại Phan Đăng Lưu (tức trại tù Gia Định cũ) một thời gian. Năm 1982 Giàu đã qua Úc và bắt đầu viết nhiều bài trên Sachhiem.net của nhóm Giao Điểm và Chuyenluan.net chửi Công Giáo và chế độ Ngô Đình Diệm với nhiều bút hiệu khác nhau để chứng tỏ “ta đây không phải là phản gián” hay phản bội! Nay thì Giàu đã bị tai biến và không còn viết lách gì được.

Khi giới thiệu tác phẩm “Dưới ánh hỏa châu của Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nhà xuất bản TRẺ ở Đà Nẵng đã viết 

Phan nguyên là sinh viên tranh đấu ở Huế thoát ly kháng chiến. Từ Miền Trung trôi dạt vào Sài Gòn, về vùng kháng chiến Miền Đông, Miền Tây Nam Bộ, lên R, sang chiến trường Campuchia...”

Hoàng Phủ Ngục Phan đã cùng với Trần Triệu Luật từ Sài Gòn đi vào chiến khu chứ không phải từ Huế, còn Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân đi từ Huế.

Trong biến cố Tết Mậu Thân, Phan đã trở lại Huế cùng với Nguyễn Thị Đoan Trinh và bộ đội Cộng Sản, đi tìm bắt hoặc giết các nhân viên chính quyền, quân đội, cảnh sát và những thành phần bị coi là chống cộng trong thành phố Huế.

Sau 30.4.1975 Phan đã trở lại Huế và làm “nhà văn” với bút hiệu là Hoàng Thiếu Phủ hay Ngọc Phang Lang. Trong tác phẩm “Dưới ánh hỏa châu”, Phan không hề nói gì đến chuyện Phan làm mưa làm gió ở Huế trong suốt 22 ngày trong Tết Mậu Thân mà chỉ cho biết 

“Khoảng trưa hôm ấy, đoàn công tác chúng tôi được lệnh tập kết ở khu vực Đại Nội để chờ đến tối sẽ rút ra khỏi thành phố” 

và Phan thấy ở đâu đều chật ních đồng bào lánh nạn.

MA NỮ NGUYỄN THỊ ĐOAN TRINH
Nguyễn Thị Đoan Trinh sinh năm 1949 tại Huế. Đoan Trinh có nghĩa là ngay ngắn và thủy chung, nhưng những gì mụ ta đã làm lại rất ghê rợn, dân Huế thường gọi mụ ta là Ác phụ hay Ma nữ. Chúng tôi phải nói qua gia đình của Đoan Trinh để đọc giả có thể hiểu tại sao đất kinh thành Huế theo Phật giáo thuần thành, phủ đầy chùa chiến mà lại sinh ra một con ác quỷ như vậy.

Nguyễn Thị Đoan Trinh là con của Nguyễn Văn Đóa, nhưng thường được gọi là Nguyễn Đóamột đảng viên đảng Cộng Sản. Lúc đầu Đóa là giáo viên tiểu học, rồi làm giám thị trường Khải Định, khi về hưu dạy Pháp văn ở trường Bồ Đề Thành Nội.

Trường Bồ Đề Thành Nội được Hội Tăng Già Trung Việt thành lập năm 1953 ở số 35 đường Đặng Dung, phường Thuận Thành, Huế, rất gần với nhà Đóa. Ông Lê Mộng Đào là hiệu trưởng đầu tiên và các giáo viên đều là Phật tử như Võ Đình Cường, Nguyễn Đóa, Nguyễn Hữu Ba, Cao Xuân Lữ, Tôn Thất Dương Tiềm, Cao Cự Phúc, Lê Quang Vịnh…. Nhưng đây là một ổ hoạt động trí vận của Cộng Sản. Những đảng viên nổi tiếng đều có mặt ở đây như Võ Đình Cường, Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Tiềm (rể của ông Đóa)…

Võ Đình Cườngngười được Việt Cộng gọi là “cây đại thụ của Gia đình Phật tử Việt Nam” sinh năm 1917 tại Huế, vào Đảng CSVN năm 1943, từng giữ chức Ủy Viên Tuyên Vận của Tỉnh ủy Thừa Thiên, bị bắt rất nhiều lần, nhưng mỗi lần Cường bị bắt, Thích Trí Quang đều can thiệp, cơ quan an ninh phải thả ra, vì Cường vừa là Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử, vừa là người chỉ đạo và “cầm tròng” Thích Trí Quang(chúng tôi đã chứng minh nhiều lần).

Nguyễn Đóa gốc Quảng Nam, có bốn người con, hai trai và hai gái, người con trai đầu tên là Nguyễn Bồng, năm nay cũng phải 82 tuổi, hiện đang ở Kim Long. Anh này không theo Cộng Sản. Đoan Trinh là con út. Cả gia đình đều đã quy y và được gọi là “Phật tử thuần thành” vì thế người ta thường gọi Nguyễn Đóa với danh xưng Đạo hữu Nguyễn Đóa”.

Tôn Thất Dương Tiềm, rể của Nguyễn Đóa, người thấp lùn, là một cán bộ nội thành và cũng như Võ Đình Cường, đã hoạt động cho Cộng sản từ trước 1954, y cũng dạy ở trường Bồ Đề. Tiềm là anh em con chú con bác với Tôn Thất Dương Kỵ. Kỵ hoạt động cho Cộng Sản đã bị chính phủ Phan Huy Quát trục xuất ra Bắc ngày 19.5.1965 qua ngả cầu Hiền Lương cùng với Bác sĩ Phạm Văn Huyến và ký giả Cao Minh Chiến.

Nhà Nguyễn Đóa ở kiệt 2 đường Âm Hồn trong thành nội Huế, gần trường Bồ Đề. Nguyễn Đắc Xuân kể lại: Nhân một buổi trưa vắng tiếng súng tôi theo chân cô Đoan Trinh - con cụ Nguyễn Đoá về nhà cô ở đầu kiệt 2 đường Âm Hồn xin nước giếng tắm. Tôi mới vào phòng tắm, vừa cởi cái tay nải ra khỏi thắc lưng treo lên cửa thì pháo Mỹ rót ầm ầm xuống khu vực chúng tôi đang có mặt. Nhà cụ Đoá sập, một vài bộ đội tự vệ đang trú trong nhà chết và bị thương nặng.” 

Sau 30.4.1975, ông Đóa trở về và được cấp một căn nhà khác cũng trên đường Âm Hồn, nay đổi là 22 Lê Thánh Tôn (khúc đường Tống Duy Tân), Phường Thuận Thành, Huế. Sau khi ông Đóa chết,  Đoan Trinh đã bán căn nhà này và vào ở Sài Gòn.

Trước Tết Mậu Thân, Nguyễn Thị Đoan Trinh đang học dược tại Sài Gòn, được Nguyễn Đóa gọi về và dặn dò phải thể hiện tinh thần “Bi, Trí, Dũng” như thế nào khi Cộng quân chiếm Huế, rồi đi vào chiến khu. Ông Nguyễn Thúc Tuân, một cán bộ cao cấp được Việt Cộng giao cho theo dõi các hoạt động của Hòa Thượng Đôn Hậu ở chùa Thiên Mụ, đã kể lại như sau:

Tối mồng 4 Tết Mậu Thân, tôi cùng đi với bà Nguyễn Đình Chi (tên thật là Đào thị xuân Yến), cụ Nguyễn văn Đóa, ông Tôn Thất Dương Tiềm (3 người) lên chiến khu cách thành phố Huế độ 4km. Tối ấy ở lại một đêm, ngày sau lên chiến khu gặp Gs Lê Văn Hảo đã lên trước ngày 30 tháng Chạp, gặp Cụ Đôn Hậu cũng đã lên trước vài ngày, từ Văn Xá đi lên độ 3 km đường chim bay. Chúng tôi giờ đây gồm 6 người: Bà Nguyễn đình Chi, Ô Nguyễn văn Đóa, Ô Tôn thất dương Tiềm, Gs Lê văn Hảo, cụ Đôn Hậu và tôi. Chúng tôi lên gặp ô Hoàng Phương Thảo, chủ tịch thành phố Huế. Ông này lo toàn bộ. Ở tại chiến khu Huế 15 ngày.”

Sau khi thất bại ở Huế, những người trên đã được Việt Cộng đưa ra Bắc. Thích Đôn Hậu, Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Tiềm và bà Nguyễn Đình Chi đã đến gặp Hồ Chí Minh ba lần. Ngày 8.6.1969, khi “Chính phủ Cách mạng lâm thời” được thành lập, Huỳnh Tấn Phát làm Chủ Tịch, Nguyễn Đóa làm Phó Chủ Tịch, còn Thích Đôn Hậu làm Ủy Viên Hội Đồng Cố Vấn.

Vì bố là “Đạo hữu Nguyễn Đóa” được Đảng trọng dụng như thế, nên con gái là Đoan Trinh phải thực thi tinh thần “Bi – Trí – Dũng” một cách “kiên cường” khi Cộng quân chiếm Huế. Nguyễn Đắc Xuân xác nhận: “Đoan Trinh là con gái út của cụ (Nguyễn Đóa), hoạt động trong đội thanh niên công tác của tôi”. 

Đoan Trinh mặc bộ đồ màu hồng, đi xe Honda, vai đeo AK-47, lưng mang súng lục K-54, cùng với Hoàng Phủ Ngọc Phan “lục soát mọi nơi tìm bắt ngụy quân/quyền. Bất kỳ ai, khi hỏi giấy tờ, thị phát hiện là quân nhân hay cảnh sát ngụy thì thị nổ súng bắn chết ngay, không cần hỏi câu thứ 2.” 

Chuyện dài của Đoan Trinh và Hoàng Phủ Ngọc Phan sẽ được nói sau.

Sau khi Cộng quân rút khỏi Huế, Đoan Trinh đi theo và ra Hà Nội tiếp tục học ngành dược. Sau 30.4.1975 y thị đã trở lại Huế. Khi ông Đóa qua đời, y thị vào Sài Gòn, được cấp giấy phép số 2433 ngày 18.5.2011, mở tiệm thuốc tây lấy hiệu là HỮU THIỆN (!) ở địa chỉ G15/28G đường Ấp 7, Phường Lê Minh Xuân, quận Bình Chánh, Sài Gòn. Đường Ấp 7 nay đã được đổi thành Láng Le Bàu Cò, nên địa chỉ hiện nay của Đoan Trinh là:

Nhà thuốc HỮU THIỆN, G15/28G Láng Le Bàu Cò, Phường Lê Minh Xuân, quận Bình Chánh, điện thoại 84 91 249 48 09. Tại đậy có bán thuốc AK-47 và K-54, ai cần cứ đến mua.

KHI HAI SÁT THỦ RA TAY
Bà Nguyễn Thị Thái Hòa, năm 1968 là sinh viên năm thứ nhất trường Cán Sự Điều Dưỡng Huế và đang thực tập tại Bệnh Viện Trung Ương Huế khi biến cố Mậu Thân xảy ra ở Huế. Gia đình bà ở đường Hàm Nghi, Huế. Bà vừa là nạn nhân vừa là nhân chứng vụ Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Thị Đoan Trinh đánh lừa để giết 4 người thân trong gia đình bà, đó là 3 anh em ruột của bà mà Phan quen biết khi học ở Huế: Nguyễn Xuân Kính (sinh 1942, sinh viên Y khoa)Nguyễn Xuân Lộc (sinh 1946, sinh viên Luật) và Nguyễn Thanh Hải (sinh 1949, sinh viên Văn khoa). Sau khi giết 3 người này, Phan bắn chết luôn ông nội của bà là cụ Nguyễn Tín (70 tuổi). Sau đó, Phan bắt Lê Tuấn Văn, một sinh viên Văn khoa, đào huyệt tại vườn sau nhà cụ Tín để chôn 4 người trên rồi bắn Lê Tuấn Văn luôn.

Khi các cơ quan truyền thông hải ngoại phổ biến rộng rãi lời tố cáo của bà Nguyễn Thị Thái Hòa về những chuyện gian ác mà Phan và Trinh đã làm, Phan đã mượn tờ Tạp Chí Sông Hương ở Huế do Hoàng Phủ Ngọc Tường làm Tổng Biên Tập, và một nữ cán bộ có tên là thi sĩ Đông Hà làm cò mồi để giải thích bâng quơ: Đó là luận điệu tuyên truyền vu khống của kẻ địch.”

Khi được hỏi tại sao không phản biện, Phan nói: 

Thường thì tôi không có hứng thú tranh luận trên những trang web lá cải của những người CCCĐ (chống cộng cực đoan)… Gia đình tôi vốn theo đạo Phật. Cả anh Tường và tôi đều có pháp danh và có phái quy y với bổn sư Thích Đôn Hậu. Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, buộc lòng tôi đã phải lên tiếng vạch trần những chỗ trật lất và láo toét… 

Nhưng Phan chỉ cho rằng trong Tết Mậu Thân, Tường không có mặt ở Huế, chứ không hề đả động gì đến chuyện bà Thái Hòa đã tố cáo. Đó là kiểu “vạch trần” của Phan!
 
Bà Nguyễn Thị Thái Hòa hiện đang ở hải ngoại. Câu chuyện bà kể khá dài và rất bi thảm, chúng tôi sẽ trình bày đầy đủ trong một bài khác.
 
Ngày 14.8.2015
Lữ Giang

Blog Archive