Thursday, July 17, 2008

TIỀN ĐEN CỦA VIỆT CỘNG Ở TÀI KHOẢN NGÂN HÀNG THỤY SĨ

- Thuỷ-Triều -

Đảng viên Việt Cộng đã mắc phải cái bệnh kinh niên tham ô tham nhũng, nhưng họ còn vướng thêm một căn bệnh di truyền khoe khoang phô trương. Căn bệnh khoe khoang phô trương này đã bị di truyền từ người cha già vô cùng gian manh xảo quyệt của họ.

Một người đã tự mình tạo ra nhiều huyền thoại để tự khen ngợi chính mình, và là một người đã được cả một tập thể đảng viên Việt Cộng tô điểm thêm nhiều màu sắc để ca tụng và thờ phụng như một lãnh tụ thiên tài, một thần tượng cao đẹp cho các thế hệ thanh niên Việt Nam noi theo. Tuy nhiên, sự thật còn đó như ánh sáng mặt trời luôn luôn soi tỏ bóng tối để lần lượt phơi bày những dối trá lường gạt của cả một tập thể đảng viên Việt Cộng bao gồm người-cha-già-không-được-lành-mạnh của họ khiến cho toàn dân Việt Nam nhất là thanh niên Việt Nam thấy rõ ràng vị lãnh tụ thiên tài kia thực ra chỉ là một người quá đỗi tầm thường.

Một trong những cái tầm thường đáng nêu ra đây là cái tật bẩm sinh đạo văn ăn cắp tư tưởng của người khác làm của mình trong bản tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945, mà cả một tập thể mệnh danh trí thức cộng sản đã bán rẻ lương tri để cam tâm làm văn nô bồi bút chỉ biết ca ngợi vị lãnh tụ xảo trá kia. Người cha già của các đảng viên Việt Cộng, ở đây Nhân Dân Việt Nam phải khẳng định rằng ông ta hoàn toàn không thể nào là Người Cha Già Dân Tộc, đã ăn cắp tư tưởng của người Mỹ một cách trực tiếp từ bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Thomas Jefferson:

"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo Hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

Căn bệnh di truyền khoe khoang phô trương của người cha già bất lương kia của các đảng viên Việt Cộng dĩ nhiên đã lây nhiễm tới cả một tập thể truyền thông quốc doanh của Việt Cộng hiện tại. Họ luôn luôn phải che giấu sự thật đồng thời họ phải tô điểm cho những cái xấu hoá trang thành những cái tốt và những cái thấp kém ngu dốt trở nên những đỉnh cao trí tuệ để cố giữ được thể diện và tính tự ái tự cao tự đại của một đảng cầm quyền độc tài vừa độc ác vừa xuẩn động luôn luôn chống lại sự tiến bộ thực sự và các lợi ích của Nhân Dân Việt Nam.

Một trong những thành tích tuyên truyền láo khoét của giới truyền thông quốc doanh Việt Cộng trong phép thuật hô biến những cái thấp kém ngu dốt trở nên những đỉnh cao trí tuệ là những bài báo của bọn văn nô bồi bút ca ngợi Nguyễn Tấn Dũng, một người rõ ràng đã không biết đọc và hiểu cả cái Bản Cân Đối Tài Khoản Ngân Hàng đơn giản mà đã giữ chức Thống Đốc Ngân Hàng Trung Ương Nhà Nước Việt Cộng trong những năm 1997, 1998, và 1999 trước khi bàn giao chức vụ cho Lê Đức Thuý. Hắn đã được báo chí quốc doanh tuyên dương là một nhân tài Phó Thủ Tướng kiêm Thống Đốc Ngân Hàng Trung Ương với những giải pháp tài chánh có hiệu quả tốt (?) đã giúp nước CHXHCNVN thoát khỏi cơn khủng hoảng tài chánh ở Đông Á và Đông Nam Á vào những năm 1997, 1998. Sự thật là nước CHXHCNVN của Nguyễn Tấn Dũng trong những năm 1997, 1998 là một nước ở ngoài lề của các hoạt động tài chánh trong khu vực Á Châu.

Trong khi guồng máy tuyên truyền nói rằng nước CHXHCNVN đã cải cách nền kinh tế Việt Nam để dần dần hội nhập vào nền kinh tế thị trường thế giới, thì tập đoàn cầm quyền trung ương đảng Việt Cộng vẫn chỉ hé cánh cửa kinh tế một chút để tìm các nguồn đầu tư của nước ngoài. Mức độ cởi mở kinh tế trong những năm 1995 – 1999 của nước CHXHCNVN rất thấp cho nên đã không bị ảnh hưởng gì khi cơn khủng hoảng tài chánh Á Châu trong hai năm 1997, 1998 xảy ra ở các nước Nhật Bản, Đài Loan, Đại Hàn, Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, và Phi Luật Tân. Hơn nữa, số liệu thống kê kinh tế còn cho thấy mức tăng trưởng kinh tế của nước CHXHCNVN đã liên tiếp giảm sút từ 9% của năm 1996 xuống 8.8% trong năm 1997 và tiếp tục xuống 5.8% trong năm 1998.

Sự thật quá rõ là Ngân Hàng Trung Ương Nhà Nước Việt Cộng của Nguyễn Tấn Dũng trong những năm đó đã là một ngân hàng đứng bên lề chứ không phải nhờ tài ba lãnh đạo của ông Thống Đốc ngu dốt kia để giúp cho nó thoát nạn phá sản, giống như lời bọn văn nô bồi bút đã ca ngợi thành tích của nhân tài Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng khi hắn được bè phái của hắn trong Bộ Chính Trị Việt Cộng tranh giành cho hắn chiếc ghế Thủ Tướng vào tháng 5 năm 2006.

Giới truyền thông quốc doanh Việt Cộng chỉ có văn nô bồi bút với nhiệm vụ ca tụng chế độ độc tài và khen ngợi lãnh đạo đảng, những kẻ vừa độc ác ngu xuẩn vừa phản động chống lại sự tiến bộ thực sự và các lợi ích của Nhân Dân Việt Nam, bởi vì những người trong giới truyền thông này thực ra cũng là những đảng viên Việt Cộng từ cấp chỉ huy ngành cho tới ký giả hay thông tín viên. Trong năm 2006 khi Nguyễn Tấn Dũng giành được chức Thủ Tướng thì họ đã viết những bài báo khen ngợi như một nhân tài do đảng Việt Cộng đào tạo từ một em du kích giao liên ở tỉnh Cà Mau nay trở nên rất tài giỏi để làm thủ tướng.

Trong năm 2007 tiếp theo sự ca tụng ông bố làm thủ tướng là có một loạt bài báo khen ngợi cô gái con ông thủ tướng có tên là Nguyễn Thanh Phượng. Vào tháng 12 năm 2003 cô nhận văn bằng Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh của trường Đại Học Geneva, Thuỵ Sĩ vào lúc 25 tuổi và trở về Việt Nam vào tháng 6 năm 2004 đã được làm Phó Giám Đốc Tài Chánh cho công ty liên doanh Holcim-Việt Nam chuyên kinh doanh xi măng trong nước. Công ty liên doanh Holcim-Việt Nam có vốn đầu tư của người Thuỵ Sĩ và một phần vốn của nhà nước Việt Cộng gồm có nhà máy và các cơ sở vật chất khác. Công ty liên doanh Holcim-Việt Nam trước kia là công ty xi măng Sao Mai còn gọi là Hà Tiên 1 (trước năm 1975 là nhà máy xi măng Hà Tiên của VNCH) ở tỉnh Kiên Giang. Khu vực này từng là lãnh địa của lãnh chúa Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng. Thời gian đầu công ty này lấy tên là Sao Mai và có nhản hiệu là hình Đầu Con Trâu. Bây giờ công ty đổi tên là Holcim-Vietnam.

Nguyễn Tấn Dũng đã từng là một lãnh chúa Việt Cộng tại huyện Hà Tiên và tỉnh Kiên Giang. Từ tháng 10 năm 1981 đến tháng 1 năm 1995 đã lần lượt giữ các chức vụ quan trọng là Ủy Viên Tỉnh Ủy Kiên Giang, Phó Ban Tổ Chức Cán Bộ Tỉnh Ủy; Ủy Viên Thường Vụ Tỉnh Ủy Kiên Giang, Bí Thư Huyện Ủy Hà Tiên; Phó Bí Thư Thường Trực rồi Bí Thư Tỉnh Ủy; Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân; Bí Thư Đảng Ủy Quân Sự Tỉnh Kiên Giang; Ủy Viên Đảng Ủy Quân Khu 9; Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Tỉnh Kiên Giang trước khi về trung ương làm Thứ Trưởng Bộ Nội Vụ (1/1995 - 5/1996), Đảng Ủy Viên Đảng Ủy Công An Trung Ương. Trong quá trình làm lãnh chúa Việt Cộng ở Hà Tiên-Kiên Giang đó Nguyễn Tấn Dũng đã có quá nhiều cơ hội để móc ngoặc cấu kết với công ty Holcim một công ty Thuỵ Sĩ chuyên cung cấp xi măng và vật liệu xây dựng trên toàn thế giới dưới danh nghĩa của một công ty liên doanh Holcim-Vietnam.

Công ty Holcim có trụ sở tại Geneva-Thuỵ Sĩ đã có thể đứng ra làm trung gian đầu mối cho Nguyễn Tấn Dũng mở những tài khoản tiền mỹ kim và vàng thỏi ký gởi tại Ngân Hàng Thuỵ Sĩ kể từ thời gian đó. Hơn nữa, Nguyễn Tấn Dũng đã có liên quan đến công ty Holcim rất nhiều và mối quan hệ này đã tự bộc lộ rõ bằng sự nghiệp tiến thân dễ dàng của con gái ông ta khi Nguyễn Thanh Phượng đã được đi du học tại Thuỵ Sĩ và đã được làm Phó Giám Đốc Tài Chánh của công ty này với chỉ một tấm bằng MBA rất tầm thường vào năm 2004 lúc 25 tuổi và chưa có một chút kinh nghiệm chuyên nghiệp tài chánh. Ngoài ra công ty liên doanh Holcim-Vietnam này còn chịu áp lực của Nguyễn Tấn Dũng can thiệp phải ký hợp đồng mua bao bì tại công ty bao bì Hakipack.

Là con cháu của người cha già bất lương cho nên không có một đảng viên Việt Cộng nào mà không bị nhiễm căn bệnh di truyền khoe khoang phô trương, Nguyễn Thanh Phượng cũng không ngoại lệ khi được ca ngợi là một nhân tài trẻ tuổi của đảng Việt Cộng.

Tờ báo Phụ Nữ Việt Cộng cũng khen tặng Nguyễn Thanh Phượng là một nhân tài trẻ tuổi của đảng Việt Cộng bởi vì ngay từ lúc còn là sinh viên cô ta đã là một đảng viên Việt Cộng xuất sắc.

Vào năm 2005 cô ta đã làm Giám Đốc Đầu Tư của công ty Vietnam Holding Asset Management quản lý một ngân quỹ 112,5 triệu Mỹ Kim của các nhà đầu tư Thuỵ Sĩ (?).

Rồi tiếp đến năm 2006 cho tới nay 2008 cô ta đã đang là Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị Công Ty Cổ Phần Quản Lý Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán Bản Việt-Viet Capital Fund Management Joint Stock Company hay được viết ngắn gọn là Công Ty Quỹ Đầu Tư Bản Việt hoặc VCFM với quy mô vốn từ 500 tới 800 tỉ đồng Việt Cộng mà theo lời cô cho biết là cô đã huy động vốn chủ yếu từ các cá nhân và doanh nghiệp tư nhân Việt Nam. Trong thời gian gần đây, Công Ty VCFM đã đang bận rộn các cuộc quảng cáo vận động để huy động một ngân quỹ "công chúng nước ngoài" với qui mô dự kiến là 100 triệu Mỹ Kim. Trong cuộc quảng cáo vận động để huy động vốn nước ngoài này thì chính Nguyễn Thanh Phượng là người chủ chốt đứng ra thuyết trình và giải đáp những thắc mắc cho các nhà đầu tư ngoại quốc vào Việt Nam. Một câu hỏi trong nhiều câu hỏi là "Tại sao nên ủy thác công việc đầu tư cho Công Ty VCFM ?" Và nó được trả lời rằng "Bởi vì Công Ty VCFM được chính con gái của đương kim Thủ Tướng Công An Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng quản lý!"

Nguyễn Thanh Phượng quả thật là "một đảng viên Việt Cộng trẻ có ba đầu sáu tay rất năng động" năm nay 29 tuổi và được báo chí quốc doanh Việt Cộng ca ngợi là một trong những doanh nhân trẻ nhất và thành công nhất trong giới lãnh đạo các quĩ đầu tư tài chính chuyên nghiệp ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, khi so sánh với những quỹ đầu tư khác ở Việt Nam như Mekong Capital, Vina Capital, Indochina Capital, IDG Venture. Đa số những người lãnh đạo của những quỹ đầu tư này không có ai trẻ như Nguyễn Thanh Phượng, cô còn quá trẻ và non kém nếu so tuổi và kinh nghiệm chuyên nghiệp với họ. Bởi vì trong công việc quản lý đầu tư chứng khoán ngoài tài năng còn phải có cả kinh nghiệm chuyên nghiệp, phải có ít nhiều uy tín trong quan hệ xã giao tốt ở trong chuyên ngành tài chánh và ngân hàng, và phải được người trong giới chuyên nghiệp ngân hàng và tài chánh công nhận thành tích thì mới có khả năng huy động vốn và công việc đầu tư mới thật sự có hiệu quả.

Như vậy tính ra quá trình làm việc của Nguyễn Thanh Phượng cho thấy trung bình Nguyễn Thanh Phượng đã làm cho mỗi công ty là một năm, hay là cùng một lúc cô "có ba đầu sáu tay" để làm việc cho cả ba công ty (?). Xét trên phương diện nguyên tắc quản lý cho thấy điều này không tốt vì Nguyễn Thanh Phượng đã thay đổi nhiệm sở một cách liên tục trong một thời gian tương đối ngắn, cô đã không có gắn bó với những công ty cô đang làm. Cũng có thể cô quả thật là "một đảng viên Việt Cộng thiên tài có ba đầu sáu tay" nên có thể kiêm nhiệm các chức trách lãnh đạo ở cả ba công ty khác nhau (?). Những công ty bổ nhiệm cô không biết căn cứ vào đâu để tính ra đủ thời gian và kinh nghiệm cho cô đảm trách chức vụ phó giám đốc, giám đốc và chủ tịch công ty của họ?

Những người quan sát và phân tích tình hình của nước CHXHCNVN đã nêu ra nghi vấn là Công Ty Liên Doanh Holcim-Vietnam, Công Ty Vietnam Holding Asset Management, và Công Ty Quỹ Đầu Tư Bản Việt - Viet Capital Fund Management hiện tại chỉ là "những sân nhà của Thủ Tướng Công An Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng". Một cách quá rõ là một sinh viên mới ra trường làm việc chưa tròn bốn năm như Nguyễn Thanh Phượng thì làm sao cô có được một tổng số cổ phần rất lớn để được nắm giữ chức Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị Công Ty Quỹ Đầu Tư Bản Việt. Cho nên mọi người chắc chắn tài sản kia là của cha cô, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã mượn tên tuổi và mượn bàn tay của con gái để rửa tiền tham ô tham nhũng và Nguyễn Thanh Phượng đã dùng số tư bản kếch sù kia để đầu tư công khai danh chính ngôn thuận ở trong nước.

Ở trong cả nước CHXHCNVN hiện nay các đảng viên Việt Cộng sáng tạo ra một thứ chủ nghĩa tư bản gia tộc và nó đang được áp dụng triệt để ráo riết; vô hình chung, họ tự bộc lộ cho thấy rõ một hình ảnh xã hội đã đang bị đảng Việt Cộng độc tài cai trị có những cha mẹ hoặc anh chị em đang cầm quyền thống trị xã hội, nên họ dễ dàng tạo mọi cơ hội thuận tiện cho những người con hoặc anh chị em của họ gấp rút tha hồ kinh doanh đủ loại để làm giàu.

Gia đình dòng họ của các đảng viên Việt Cộng đã đang làm giàu rất nhanh nhờ sự kinh doanh đủ loại của những người con và anh chị em. Một cách hiển nhiên là ở phía sau cái sự kinh doanh đủ loại đó luôn luôn phải có bóng dáng của cha mẹ hoặc anh chị em đầy quyền thế đương thời của họ. Vị trí cầm quyền cai trị độc tài của cha mẹ hoặc anh chị em đảng viên Việt Cộng đã đưa lại những hợp đồng kinh doanh kiếm được rất nhiều tiền, những mối quan hệ mua bán kiếm lời dễ dàng cho con cái hoặc anh chị em đảng viên Việt Cộng. Thực trạng của cả nền kinh tế thị trường có định hướng XHCN của Việt Cộng là con cháu anh chị em đảng viên Việt Cộng đã có thể nhanh chóng thâu tóm tất cả những ngành kinh doanh quan trọng của đất nước Việt Nam từ trung ương xuống tận các địa phương.

Ở đây chỉ nói tới những tên tuổi tiêu biểu nổi bật trong công cuộc xây dựng thành công Chủ Nghĩa Mậu Dịch Cộng Sản Việt Nam, ý nghĩa cộng sản ở đây thực sự là cộng thêm vào tài sản tích luỹ đang có, qua việc thực hiện chủ trương tích tụ tư bản của gia tộc.

* Một cách cụ thể là Lê Nam Thắng con trai của Lê Đức Thọ nắm quyền kinh doanh Bộ Bưu Chính Viễn Thông;

* Lê Mạnh Hà con trai của Lê Đức Anh nắm quyền kinh doanh Sở Bưu Chính - Viễn Thông Thành Phố Hồ Chí Minh;

* Trương Gia Bình con trai của Trương Gia Triều tức Trần Bạch Đằng và là con rể của Võ Nguyên Giáp làm Tổng Giám Đốc công ty FPT;

* Ngô Hoàng Hải con rể của Nông Đức Mạnh làm quản lý phòng tư vấn Chương Trình PMU18;

* nổi bật nhất là Nguyễn Thanh Phượng con gái của đương kim Thủ Tướng Công An Nguyễn Tấn Dũng làm Phó Giám Đốc Tài Chánh của Công Ty Liên Doanh Holcim-Vietnam, làm Giám Đốc Đầu Tư của Công Ty Vietnam Holding Asset Management, và làm Chủ Tịch HĐQT của Công Ty Quỹ Đầu Tư Bản Việt - Việt Capital Fund Management;

* và dĩ nhiên là còn rất nhiều Con Ông Cháu Cha của các gia tộc Việt Cộng khác nữa đã đang được làm chủ các Cây Xăng, các tiệm Kim Hoàn, các Siêu Thị, các Khách Sạn, các Cao Ốc, v.v... ở khắp các tỉnh thành trong nước.

Công cuộc xây dựng Chủ Nghĩa Mậu Dịch Cộng Sản Việt Nam (đó là chủ nghĩa Mua Bán kiếm lời Cộng thêm tài Sản tích luỹ của Việt Cộng đã đang có) càng ngày càng bộc lộ rõ ràng tính cách độc quyền của bè lũ gia tộc Việt Cộng. Hầu như toàn thể đảng viên Việt Cộng đã đang ráo riết ra hết sức xây dựng nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm mục đích chỉ để tạo ra một giai cấp thống trị mới càng ngày càng giàu có và càng cách biệt với đại đa số Nhân Dân Việt Nam. Rất rõ ràng là nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Cộng có một bản chất độc đáo là "đảng trị được tăng cường gia đình trị".

Một thí dụ cụ thể của "nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa có bản chất đảng trị được tăng cường gia đình trị" được nêu ra đây là mối quan hệ cha con của đương kim Thủ Tướng Công An Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng và đương nhiệm Chủ Tịch HĐQT Công Ty Quỹ Đầu Tư Bản Việt Nguyễn Thanh Phượng. Trong khi người cha nắm quyền nhà nước quản lý thì người con không thể nắm quyền kinh doanh trong các lãnh vực kinh tế quan trọng và đầu tư chứng khoán; nhất là trong một môi trường kinh doanh thiếu sót tính cách minh bạch khiến cho người con lợi dụng quyền lực của người cha, và người cha cũng lợi dụng bàn tay của người con để rửa tiền tham ô tham nhũng. Trong một tình hình như vừa nêu ra, làm sao các nhà đầu tư ngoại quốc có thể tin cậy Nguyễn Thanh Phượng mà uỷ thác cho cô quản lý đầu tư số tiền mỹ kim của họ. Cái-yếu-tố-con-gái-của-đương-kim-thủ-tướng-công-an-việt-cộng-đầy-quyền-lực không đủ sức lôi cuốn thuyết phục được các nhà đầu tư ngoại quốc sẽ đem tiền mỹ kim của họ giao cho một cô gái còn non kém trong trò chơi chứng khoán.

Đến nay Nhân Dân Việt Nam đã nhận biết rất rõ tất cả các công ty quốc doanh lớn nhỏ với số vốn và cơ sở tài sản là của quốc gia Việt Nam đều đã bị các đảng viên Việt Cộng cưỡng đoạt. Trong thời gian qua các công ty này đã bị đảng Việt Cộng cho tư nhân hoá để trở thành tài sản riêng của các đảng viên Việt Cộng dưới hình thức cổ đông và tập đoàn kinh doanh.

Tập đoàn cầm quyền trung ương đảng Việt Cộng đã ra lệnh thực hiện một cuộc kiểm kê tài sản của toàn thể đảng viên Việt Cộng, nhưng đáng tiếc thay đây chỉ là một nổ lực lường gạt Nhân Dân Việt Nam để những đảng viên Việt Cộng còn tiếp tục tham ô tham nhũng tinh vi hơn trong một môi trường kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Cộng với một bản chất độc đáo là "đảng trị được tăng cường gia đình trị" có quan hệ mạng nhện đầy quyền lực ngầm. Đến nay công cuộc kiểm kê tài sản của toàn thể đảng viên Việt Cộng bị bỏ dở dang vì có quá nhiều đảng viên đã không nghiêm chỉnh thi hành tự kê khai tài sản và không ai có can đảm nhắc tới nó.

Nhân Dân Việt Nam xin nhắc lại một chân lý mà nó cũng là một mệnh lệnh tuyệt đối nghiêm khắc để cho toàn thể đảng viên Việt Cộng nhớ rõ, hoặc nếu đã không biết thì phải lập tức khắc cốt ghi tâm mãi mãi về sau. Cái chân lý đó và cũng là một mệnh lệnh tuyệt đối kia là "CÁI GÌ CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM THÌ NHẤT ĐỊNH PHẢI TRẢ LẠI CHO NHÂN DÂN VIỆT NAM."

Ngay bây giờ, Nhân Dân Việt Nam chỉ nêu ra một trường hợp điển hình tiêu biểu nhất của tập thể đảng viên Việt Cộng, đó là đương kim Thủ Tướng Công An Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng. Trước khi Nhân Dân Việt Nam ra tay kiểm kê toàn bộ tài sản chìm nổi hiện có ở trong nước và các trương mục tiền mỹ kim và vàng thỏi ký gởi ở ngân hàng Thuỵ Sĩ, Nguyễn Tấn Dũng phải tự mình nghiêm túc kê khai toàn bộ tài sản của chính mình đã có được kể từ ngày làm một anh du kích trẻ cho tới nay làm một ông thủ tướng của một nước độc tài.

Nhân Dân Việt Nam và Nhân Dân Thế Giới chắc chắn sẽ thán phục đảng Việt Cộng vì đã quá siêu phàm vượt trên cao hơn hẳn các đảng chính trị khác khi đã đào tạo được một người từng là du kích thành thủ tướng, một người đã từng không có một mỹ kim nay có được hàng tỷ mỹ kim và vàng thỏi ký gởi ở ngân hàng nước ngoài. Nguyễn Tấn Dũng cũng như toàn thể đảng viên Việt Cộng đã lường gạt tiếm danh Nhân Dân Việt Nam để có được số tài sản kếch sù gồm có đủ loại kia, thì chắc chắn Nguyễn Tấn Dũng sẽ phải trả lại đầy đủ những gì thuộc về Nhân Dân Việt Nam kể cả cái danh xưng đầy hãnh diện là Nhân Dân Việt Nam mà toàn đảng Việt Cộng đã gian xảo tiếm danh và mạo xưng với cộng đồng quốc tế.

Một lần nữa xin nhắc lại cho toàn thể đảng viên Việt Cộng phải ghi nhớ một chân lý mà cũng là một mệnh lệnh tuyệt đối, "CÁI GÌ CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM THÌ NHẤT ĐỊNH PHẢI TRẢ LẠI CHO NHÂN DÂN VIỆT NAM."./.


Thuỷ-Triều
16/07/2008

NGẠO NGHỄ CỜ VÀNG TUNG BAY…

Đại Hội Thanh Niên Thế Giới, Sydney – Australia – tháng7/2008. Thân tặng các Bạn Trẻ Việt Nam và Năm Châu. Kính riêng tặng LM Paul Văn Chi và bạn Đường Phước Lộc, đã thông báo cho tôi biết lúc Cờ Vàng được tung bay trên lễ đài khai mạc Đại Hội).

Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)

1. Qua đường dây điện thoại
Tiếng vọng về âm vang :
“Đã giương được Cờ Vàng
Trên lễ đài trang trọng !”
Trời đêm đông, lửa lòng tôi rực nóng
Nước mắt bỗng rưng tròng.
Tôi khóc mừng trong kiếp sống lưu vong
Vẫn treo được Ngọn Cờ Chính Nghĩa.
Này Bạn Năm Châu tụ về chung tuyến địa
Vì Công Bằng, Lẽ Sống, Yêu Thương !
Này Lương Tâm Nhân Loại đang bừng nở hướng dương

Hãy cùng tôi chiêm ngưỡng
Lá Cờ Vàng linh thiêng biểu tượng
Tự Do Dân Chủ muôn đời !
Niềm Tin Yêu bừng sáng khắp nơi
Không riêng vì Tôn Giáo.
Triệu lòng Thanh Niên hòa chung Chính Đạo :
Đạo Sống Con Người – máu chảy về tim.
Hàng triệu cánh tay chung sức nhận chìm
Bao tà ma tội ác,
Bao chế độ phi nhân sẽ trờ thành hoang mạc
Mầm Yêu Thương rạng nở từ đây !
Đâu phải « thói đời đối kháng » hôm nay
Mà Sức Sống đã bừng lên Chính Nghĩa !
Từ trăm phương ngàn phía
Biển người cuồn cuộn sóng dâng.
Tôi hòa chung, cùng nhịp bước chen chân
Ngước cao nhìn Cờ cho rõ.
Tổ Quốc tôi còn đó
Đang nghạo nghễ tung bay.
Trong vạn màu rực rỡ hôm nay
Tôi bỗng khóc, Cờ Vàng tôi lộng lẫy !
Xin Tạ Ơn Người - những bàn tay run rẩy
Từ mẹ già, em bé, giương cao.
Thế hệ con tôi như biển sóng trào
Giơ tay phất, tiếng gào chen nước mắt.
Đòi lại cho nhau những gì đã mất
Từ Yêu Thương qua Đạo Lý Con Người !


2. Hai mươi năm chinh chiến mỏi mòn hơi
Chúng tôi đã giữ Cờ qua tuyến máu.
Bao địa danh vẫn còn in dấu
Bước chân hùng đồng đội, anh em.
Trời hỏa châu rực sáng từng đêm
Trên Cổ Thành Quảng Trị.
Phú Vân Lâu trở nên đài cao quý
Dựng Cờ lên, chặn bước hung tàn.

Rừng U Minh, Đồng Tháp, xóm vắng làng hoang
Chúng tôi đứng bên Cờ bay lộng gió.
Đồi Charlie thời gian dù úa cỏ
Vẫn còn nguyên tên tuổi dáng Hùng Anh.
Đèo Chu Prao, An Lộc, Bình Thành,
Ta giữ vẹn màu Vàng thiêng Tổ Quốc.
Lịch sử sang trang, quặn lòng Dân Tộc,
Bao Người Con tuẩn tiết hy sinh.
Nguyện lòng son, thà quyết tử, chết Vinh,
Xin tận hiến, giữ nguyên Cờ Chính Nghĩa.
Đáy trùng dương thành hoang vu huyệt địa
Triệu hồn dân quyện mãi sắc Cờ Thiêng.
Chốn tù lao bao khổ nạn xích xiềng
Ta vẫn thấy màu Vàng qua vết máu.
Trời hải ngoại vẫn bền tâm chiến đấu
Phất cao Cờ vì Đại Nghĩa mai sau !

3. Này Bạn Uganda, từ rừng thẳm Phi Châu
Da ngời đen, nắng xuyên vùng xích đạo
Đang nhìn tôi, cười vang huyên náo
Răng trắng ngà voi.
Này Bạn Samoa, không đứng lẻ loi
Mà chân nhịp theo điệu kèn hoang đảo.
Này em Na Uy, từ mùa băng tuyết bão
Đang tìm đường qua phố Sydney.
Bao sắc dân từ muôn hướng về đây
Đang trẩy hội, triệu lòng chung một hướng.
Có thấy không, giữa biển người sóng lượn
Cờ Vàng tôi đang ngạo nghễ tung bay ?
Không cần chi ngôn ngữ, tay vẫn ấm bàn tay
Ta hạnh ngộ trong ngày vui Đại Hội.
Cờ tôi đó, tung hoành trong gió nổi
Chia Niềm Tin cùng Thế giới hôm nay.
Cờ không nói, nhưng vẫn vẹn Tình Say
Cùng Nhân Loại hòa chung nguồn Đạo Sống.
Tôi vẫn còn quê hương trong cờ bay gió lộng
Màu Vàng tươi linh hiển của Non Sông.
Tôi lắng nghe lời Giáo Lý Hiệp Thông
Đang lừng vang tám hướng.
Kêu gọi Con Người từ tâm rộng lượng
Sống bình an, lòng dung thứ cho nhau.
Lời xin lỗi qua những tiếng kinh cầu
Cho Nhân Loại sống Tình Thương Đạo Lý.
Nhưng còn thiếu, vì trong lòng thế kỷ
Mãi hôm nay còn Tội Ác giăng đầy.
Quê hương tôi hằng khổ nạn đêm ngày
Vì chế độ đang đọa đày Dân Tộc.
Sao không có một lời vạch sâu tận gốc
Vi phạm Nhân Quyền trên đất quê tôi ?
Này Bạn Âu Châu, Mỹ quốc, xa xôi
Xin góp sức cùng chúng tôi tiếng nói.
Tôi chợt thấy trong biển người trẩy hội
Có thanh niên từ Châu Á, Việt Nam.
Bạn đứng đấy, ngơ ngác, âm thầm
Niềm sợ hãi còn vương trên ánh mắt.
Như lạc loài, chút lương tâm dằn vặt
Chưa dám tung cờ đỏ máu mang theo.
Này em Hà Nội, xuất xứ quê nghèo
Không phải thẹn vì thiếu thua vật chất.
Nhưng có lẽ lần đầu tiên Sự Thật
Đang chói lòa hai chữ Tự Do.
Sống thực đi em, hãy thét gào to
Cùng Nhân Loại hưởng chung nguồn Nhân Bản.
Thế kỷ này của em, hãy bắt tay chung Bạn
Cùng Năm Châu đòi lại Quyền Người.

4. Tôi ra về, trên chuyến tàu xuôi
Thấy em bé nằm ngủ ngon lòng mẹ.
Tay em cầm lá Cờ Vàng phất phơ chuyển nhẹ
Mà tôi vui, nhìn thế kỷ trong em.
Rồi mai đây em sẽ lớn lên
Tiếp nối bao người viết trang sử mới.
Tiếng vọng non sông ru về dịu vợi
Cờ Vàng tươi em giữ vẹn cho Đời.
Tuổi Trẻ Việt Nam – tôi khấn nguyện một lời
Cho em sống giữa triều vui Đại Hội !.

Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)
Viết trong những ngày Đại Hội Thanh Niên Thề Giới tại Sydney, Australia. Tháng 7/2008

Tuesday, July 15, 2008

Mắm ba khía Cà Mau

Wednesday, July 02, 2008

Nam Sơn Trần Văn Chi

Có bốn món ăn ngon dân dã của người Lục Tỉnh là: cá lóc nướng trui, thịt ba rọi xắt phay, mắm thái và tôm đất luộc lột vỏ. Ðây là bốn món ăn ngon mà khoái khẩu, hấp dẫn, được dân sành điệu ngợi khen và đặt mỹ danh là “Tứ quí”- Bốn món ăn quí trong dòng ẩm thực Lục Tỉnh, chẳng thua gì bát bửu cao lầu của Tàu...

Mắm là món ăn đã từ lâu rất quen thuộc với người miền Nam. Nhưng cái tên mắm ba khía nghe còn lạ tai! Bởi nhiều người không biết ba khía là con gì! Thấy người Tàu sống ở Miền Tây ưa ăn mắm ba với cháo trắng nên người mình tưởng lầm rằng món mắm ba khía gốc của người Tàu! Không phải vậy!

Mắm ba khía được người bán gọi theo tên địa phương làm ra nó. Như mắm ba khía Bạc Liệu, ba khía Châu Ðốc, ba khía Rạch Gốc, ba khía Năm Căn, Cà Mau,v.v... Trong đó mắm ba khía Cà Mau có tiếng ngon nhứt. Mắm ba khía Cà Mau nay trở thành thương hiệu.

Con ba khía giống như con cáy ở miền Bắc dùng làm mắm cáy. Ba khía thuộc loại cua, có càng và ngoe, sống vùng nước mặn. Ba khía nhỏ hơn cua, gần giống như con rạm, con còng. Con ba khía màu “sậm sịt“như màu đất bùn, trên mu/mai có khía nên ai đó đạt tên là con ba khía. Nghe rất Nam kỳ... cục!

Tại sao ba khía ở Cà Mau mới ngon?
Cà Mau là bán đảo nằm ở về cực Nam của đất nước mình. Cà Mau xưa là đất hiểm địa:
- Cà Mau là xứ quê mùa,
Muỗi bằng gà máy, cọp tùa bằng trâu.
(Tùa, tiếng Triều Châu là lớn)
- Cà Mau khỉ khọt trên bưng,
Dưới sông sấu lội, trong rừng cọp um.
(Um là kêu rống to)
Ca dao Cà Mau

Cà Mau, người Khmer gọi là Tuk-Khmâu nghĩa là Nước đen, được người mình đọc trại là Khmâu rồi Cà Mau như tên gọi tới ngày nay. Cà Mau nguyên là đất của người Phù Nam, rồi sau thuộc về Thủy Chân Lạp. Cuối thế kỷ 17 Mạc Cửu cùng bộ hạ thuộc nhóm người Tàu phản Thanh phục Minh đến ngụ ở vùng đất Hà Tiên, lập 7 xã dọc bờ biển vùng đất Rạch Giá, Cà Mau ngày nay.

Theo lịch sử, năm 1714 Mạc Cửu dâng đất nầy cho chúa Nguyễn. Năm 1808 Gia Long đổi vùng nầy là huyện Long xuyên, đến Thời Minh Mạng mới chánh thức đặt quan tri huyện để cai trị. Thời Pháp thuộc, Cà Mau thuộc tỉnh Bạc Liêu. Năm 1954, theo hiệp định Genève, Cà Mau được chọn làm vùng tập kết cán binh của Việt Minh ra Bắc. Ngày 9 tháng 3 năm 1956, với sắc lịnh 32 NV, chánh phủ Ngô Ðình Diệm chánh thức cải danh Cà Mau thành tỉnh An Xuyên.

Bán đảo Cà Mau nhô ra biển, càng về phía Nam vịnh Thái Lan càng nhỏ và nhọn; nên bản đồ địa lý Việt Nam gọi là Mũi Cà Mau. Thực ra nó không nhọn và nhỏ như ta tưởng, bởi nơi nầy càng ngày càng lớn rộng thêm nhờ sự bồi đáp của phù sa. So với bản đồ ngày trước, mũi Cà Mau hiện nay dài thêm trên 15 cây số.

Người Việt mình đến ở Cà Mau từ thuở khai hoang trên 400 năm, nhưng tới nay Cà Mau vẫn luôn là “vùng đất xa lạ hoang dã” trong tâm tưởng của chúng ta! Bởi Cà Mau luôn tiến dần ra biển. Cà Mau là vùng ngập nước mặn, cây rừng bạt ngàn xanh tươi quanh năm, cảnh quan đặc biệt không nơi nào có. Cà Mau mang trong nó những địa danh như Ðầm Dơi, Chà Là, Bảy Háp, U Minh, Năm Căn, Cái Nước, mũi Ba Quan, vàm Rạch Gốc, sông Trèm Trẹm, Cái Tàu, Cái Ngay, Cái Bát, Rẫy Chệc& những tên nghe còn hoang dã và lạ tai.

Rừng Cà Mau có nhiều loại cây nghe cũng lạ tai. Nào là cây gừa, cây tràm (dùng đóng cừ làm nhà), cây đước cây vẹt (dùng làm than), nhum, mốp (làm nón cối), cây vông (làm guốc vông), su, cây đà (nhuộm áo quần, thuộc và nhuộm da bò), kè, cóc, mắm...

Riêng cây mắm có nhiều ấn tượng đối với con người Cà Mau. Cây mắm là loại cây đặc trưng, gắn liền với lịch sử khẩn hoang Cà Mau. Bởi cây mắm là loại cây rể bám sâu dưới đất mặn, giữ đất không bị lở và còn có tác dụng làm giảm phèn rửa mặn đất. (Ðọc thêm truyện Rừng Mắm của Bình Nguyên Lộc). Thân mắm dùng làm củi. Củi mắm chuyên dùng để đốt lò hầm than đước, than vẹt, cung cấp chất dốt cho người Sài Gòn và các thành thị miền Nam hàng thế kỷ, trước khi có bếp lò dầu hôi, lò điện, lò ga.

***
Rừng mắm Rạch Gốc, Rẫy Chệc ở Cà Mau bạt ngàn, xưa thuộc loại rừng cấm. Trái mắm chín rụng làm mồI nuôi ba khía. Mắm ba khía Cà Mau có tiếng ngon là nhờ ăn toàn trái cám.

Vào mùa mưa, đầu tháng 7, trái mắm bắt đầu chín và rụng cho đến hết tháng 8. Ðây là lúc con ba khía Rạch Gốc mập và chắc thịt, có gạch son đầy mai. Lúc nầy người ta bắt đầu đi bắt ba khía gọi là ngày Hội Ba Khía, giống như ngày Hội Còng Lột mùng 5 tháng 5 ở Gò Công vậy.

Thuở xưa ba khía chưa là đặc sản thì chỉ có người nghèo mới ăn mà thôi. Người dân các nơi chưa biết ăn ba khía. Tới mùa trái mắm rụng, người địa phương chèo ghe vô rừng bắt ba khía. Rửa sạch từng con một, cho vào lu nước muối. Ðộ 7 ngày sau thành ba khía muối. Sau mới có tên là mắm ba khía.

Mãi sau nầy mới có thương lái đem Ghe Mũi Nhọn (tên gọi bấy giờ) đến Cà Mau thâu gom ba khía và họ làm mắm tại chỗ. [Ghe Mũi Nhọn là ghe dùng đi xa, làm theo kiểu ghe đi biển của người Hoa Nam, người Hoa phản Thanh phục Minh Thời Mạc Cửu đến Hà Tiên. Tiếng GHE cũng do đọc trại từ tiếng “Kha”, “Ca” theo âm giọng người Hoa Nam rồi biến âm thành GHE như ngày nay]. Thương lái thường là người Hoa và người Việt gốc Hoa (họ có óc thương mại) nên có sự hiểu lầm mắm ba khía là món của người Tàu. Người Hoa ăn mắm ba khía với cháo; còn người mình ăn mắm ba khía với cơm. Mắm ba khía trộn thêm gia vị chanh ớt, ăn với thịt phay, bún, rau sống... rất ngon.

... Ba khía Rạch Gốc nổi tiếng ngon nên đến mùa mắm có trái, nhiều đoàn ghe miệt trên chở theo muối hột hoặc muối đen Bạc Liêu (muối hột Bạc Liêu có màu đen) xuống đậu thường trực tại rừng cấm, gom mua ba khía làm mắm tại chỗ. Khi đầy ghe thì lui về Lục Tỉnh hoặc lên Sài Gòn mà đếm sỉ/bán sỉ.

Người ta mang bao tay bắt ba khía cho khỏi bị kẹp. Bao tay làm bằng bao bố (loại bao chứa lúa), hay bao bằng da nai hoặc vải ny lông dày. Tay trái cầm cái lồng đèn, đèn chai hay đèn “pin”, trên vai mang cái giỏ đương bằng sóng dừa nước. Tay mặt lẹ làng chụp từng con ba khía, hoặc có khi hai con, bỏ vào giỏ đậy nắp lại. Nếu chậm tay ba khía bò xuống hang trốn và lâu lắm chúng mới dám bò lên. Khi chụp hụt thì phải lẹ chân đè miệng hang lạI cho chúng không thể chạy trốn được. Khi nước ngập, ba khía bò lên cây mắm đeo từng chùm, nghe tiếng động chúng lặng xuống nước; vì vậy người ta thường đi bắt ba khía lúc nước ròng. Ban đêm có nhiều ba khía mà cũng dễ bắt, bởi ban
ngày ba khía sống rút xuống hang.

Người chuyên về nghề, từ chạng vạng đến nửa đêm, bắt được đến cả ngàn con, nhờ đèn “pin” làm lòe mắt, ba khía bò mau không được. Khi đầy giỏ rồi, người bắt đem xuống ghe đậu gần đó, đếm cho chủ từ trăm. Họ đổi lấy muối hoặc bán lấy tiền.
Chủ ghe nào cũng dành sẵn một khoang ghe lớn có đậy nắp, ba khía đếm xong cho xuống khoang có chứa nước, cho ba khía sạch bùn non. Hai ngày sau, bỏ ba khía sạch vào mái vú (loại mái lơn) có khuấy sẵn nước muối thật mặn (thử độ mặn bằng cách thả hột cơm vào, thấy không chìm là vừa). Khi lu và mái vú đã đầy cả rồi, cũng là lúc hết mùa ba khía. Ghe lui về miệt trên. Thời gian đi ghe từ Rạch Gốc về đến nơi thời xưa phải mất hết 5, 7 ngày, thời gian ấy đủ làm cho ba khía thấm muối và ăn được. Ba khía muối quá mặn , thịt ăn “xẵng”. Nếu muối quá lạt thì thịt ba khía mau bị “bủng”, khi ăn (nút càng và ngoe) thịt không chạy vô miệng. Mất ngon! (Phỏng theo Huỳnh Minh, Cà Mau xưa và nay)

Ba khía sau khi được bẻ ngoe tách mai ra, nặn chanh hoặc trái tắc vào, thêm tỏi sống xắt nhỏ vớiớt cay, chấm với thịt phay ăn cơm rất ngon miệng. Cơm nóng trộn với gạch ba khía ăn bùi, giống như gạch son cua muối vậy. Ba khía tươi luộc xả, trộn với trái bần ổi chua xắt miếng cho thêm gia vị chanh đường ớt... là món nhậu của người Cà Mau.

Ngoài món ba khía, Cà Mau còn có món cháo cá khoai ngon không đâu sánh bằng! Con cá khoai hình thù lớn hơn cá bống, màu trắng trong, thịt mềm nhũn nhưng rất ngọt, không có mùi tanh. Khô cá khoai, cũng là món đặc sản Cà Mau rất được nhiều người ưa chuộng. Khô nướng sơ, trộn với nước giấm chua cay ngọt làm món nhậu với rượu đế tuyệt vời... Hai món nầy tới nay vẫn còn được nhiều người thích.

Cà Mau cón có món canh chua nấu với trái giác.
Trái giác có nhiều và mọc tự nhiên ở vùng U Minh. Canh chua nấu với trái giác ngon và độc đáo hơn nấu với trái bần hoặc với lá giang. Ở Cà mau vào mùa mưa người ta nấu canh chua trái giác với cá đồng, với đọt dây choại. Nồi canh chua có vị chát của lá choại, vị chua diệu nhẹ của trái giác, vị ngọt của con cá đồng, mùi rau thơm, ớt cay... nhai đến đâu thấy đã đến đó!

Ba khía món ăn hấp dẫn của người dân Cà Mau từ khi nó chưa trở thành đặc sản.
Giờ đây trong ẩm thực Lục Tỉnh không thể thiếu món ba khía muối/mắm ba khía. Và ba khía Rạch GốcCà Mau đã trở thành thương hiệu.

Cho nên mới nói “ba khía Cà Mau, rau Ðà Lạt” là vậy...
Ngày 27 tháng 6 năm 2008

Monday, July 14, 2008

Nội

Tiểu Tử

LGT: Tiểu Tử, tên thật Võ Hoài Nam, tốt nghiệp kỹ sư tại Pháp, về VN làm việc và năm 1975, bị kẹt lại một thời gian, sau đó vượt biên và hiện định cư tại Phạp. Ông là tác giả những hồi ký đặc sắc mô tả những góc cạnh đặc biệt trong cuộc sống của người Việt sau cuộc "đổi đời" tháng 4, 1975. 

Ngôn ngữ của ông giản dị, đối thoại tự nhiên, đậm đà hương vị miệt vườn Nam ky, nên người đọc thấy bồi hồi xúc động như chính mình được sống lại những năm tháng của ngày xưa, khi còn ở quê nhạ. 

Hồi ký "Nội" sau đây cũng là những ghi nhận vô cùng cảm động những tình cảm chân thành của tác giả dành cho Nội, cho vợ, cho các con, trong hoàn cảnh tác giả phải chuẩn bị vượt biên, để lại người Mẹ già, vợ trẻ và các con thợ
*

- Nội xuống kìa!

- Nội xuống! Ê! Nội xuống!

- Nội xuống!

Bầy con tôi reo mừng, chạy ùa ra ngọ. Ngoài đó, tiếng xích lô máy cũng vừa tặt. Trong buồng, vợ tôi gom vội mấy giấy tờ hồ sơ nhét vào xắc tay, nhìn tôi, im lặng. Tôi hiểu: bà già xuống như vậy, làm sao giấu được chuyện tôi và hai đứa lớn sẽ vượt biển. Sáng sớm mai là đi rội. Tôi choàng tay ôm vai vợ tôi, siết nhẹ:

- Không sao đậu. Để anh lựa lúc nói chuyện đó với má

Khi vợ chồng tôi bước ra hiên nhà thì bầy nhỏ cũng vừa vào tới sận. Đứa xách giỏ, đứa xách bao, đứa ôm gói, hí hửng vui mựng. Bởi vì mỗi lần bà nội chúng nó từ Gò Dầu xuống thăm đều có mang theo rất nhiều đồ ăn, bánh trái thịt thà ... Những ngày sau đó, mâm cơm dưa muối thường ngày được thay thế bằng những món ăn do tay bà nội tụi nó nấu nướng nêm nệm. Nhờ vậy, mấy bữa cơm có cái phong vị của ngày xưa thuở mà miền Nam chưa mất vào tay VC... Mấy con tôi thường gọi đùa bà Nội bằng "trưởng ban hậu cần" hoặc chị "nuôi" và lâu lâu hay trông có bà Nội xuộng. Và lúc nào câu chào mừng của chúng nó cũng đều giống như nhau: "Nội mạnh hả Nội. Nội có đem gì xuống ăn không Nội". Mới đầu, tôi nghe chướng tai, nhưng sống trong sự thiếu thốn triền miên của chế độ xã hội chủ nghĩa, lần hồi chính bản thân tôi cũng chỉ nghĩ đến miếng ăn thôi!

Con gái út tôi, mười một tuổi, một tay xách giỏ trầu của bà nội, một tay cặp kè với bà nó đi vào như hai người bạn. Bà nó cưng nó nhứt nhạ. Lúc nào xuống, cũng ngủ chung với nó để nghe nó kể chuyện. Nó thích bà nội ở điều đó và thường nói: "Ở nhà này chỉ có nội là thích nghe em kể chuyện thôi!" Thật ra, nó có lối kể chuyện không đầu không đuôi làm mấy anh mấy chị nó bực. Trái lại, bà nó cho đó là một thi vị của tuổi thơ, nên hay biểu nó kể chuyện cho bà nghe, để lâu lâu bà cười chảy nước mặt.

Tôi hỏi má tôi:

- Sao bữa nay xuống trưa vậy nội

Vợ chồng tôi hay gọi má tôi bằng "nội " như các cọn. Nói theo tụi nó, riết rồi quen miệng. Lâu lâu, chúng tôi cũng có gọi bằng "má" nhưng sao vẫn không nghe đầm ấm nồng nàn bằng tiếng "nội" của các cọn. Hồi cha tôi còn sống, tụi nhỏ còn gọi rõ ra "ông nội" hay "bà nội". Cha tôi mất đi, ít lâu sau, chúng nó chỉ còn dùng có tiếng "nội" ngắn gọn để gọi bà của chúng nó, ngắn gọn nhưng âm thanh lại đầy trìu mện. Má tôi bước vào nhà, vừa cởi áo bà ba vừa trả lời:

-Thôi đi mày ơi!... Mấy thằng công an ở Trảng Bàng mắc dịch! Tao lên xe hồi sáng chớ bộ Tới trạm Trảng Bàng tụi nó xét thấy tao có đem một lon ghi-gô mỡ nước, vậy là bắt tao ở lại. Nói phải quấy bao nhiêu cũng không nghẹ. Cứ đề quyết là tao đi buôn lậu!

Rồi má tôi liệng cái áo lên thành ghế bàn ăn, nói mà tôi có cảm tưởng như bà đang phân trần ở Trảng Bàng:

- Đi buôn lậu cái gì mà chỉ có một lon mỡ nưởc. Ai đó nghĩ coi! Nội tiền xe đi xuống đi lên cũng hơn tiền lon mỡ rội Đi buôn kiểu gì mà ngu dại vậy hổng biết!

- Ủa Rồi làm sao nội đi đưởc Bộ tụi nó giữ lại lon mỡ hả nổi. Con gái lớn tôi chen vạo

- Dễ hôn! Nội đâu có đễ cho tụi nó "ăn" lon mỡ, con! Mỡ heo nội thắng đem xuống cho tụi con chớ bộ. Ngừng lại, hớp một hớp nước mát mà con út vừa đem ra, xong bà kể tiếp, trong lúc các con tôi quây quần lại nghe:

- Cái rồi ... cứ dan ca riết làm nội phát ghét, nội đổ lì, ngồi lại đó đợi tụi nó muốn giải đi đâu thì giải. Nghe đến đây, bầy con tôi cười thích thụ. Bởi vì tụi nó từng nghe ông nội tụi nó kể những chuyện "gan cùng mình" của bà nội hồi xựa. Con út nóng nảy giục:

- Rồi sao nữa nội

- Cái rội lối mười một mười hai giờ gì đó nội hổng biết nựa ?... cở đứng bóng ạ. Có thằng cán bộ đạp xe đi ngạng. Nó đi qua khỏi rồi chớ, nhưng chắc nó nhìn thấy nội nên hoành xe lại chào hỏi: "Ủa Bà Tám đi đâu mà ngồi đó vẩy" Nội nhìn ra là thằng Kiểu con thầy giào Chén ở Tha-La, tụi bây không biết đậu. Kế nội kể hết đầu đuôi câu chuyện cho nó nghẹ. Nó cười ngật. Rồi nhờ nó can thiệp nên nội mới đi được đọ. Lên xe thì đã trưa trờ rội. Ti! Kiếm cây quạt cho nội, con!

Ti là tên con ụt. Cây quạt là miếng mo cau mà má tôi cắt, vanh thành hình rồi đem ép giữa hai tấm thớt dầy cho nớ bớt cọng. Má tôi đem từ Gò Dầu xuống bốn năm cây quạt mo phân phát cho mấy cháu, nói: "Nội thấy ba má tụi con gỡ bán hết quạt máy, nội mới làm thứ này đem xuống cho tụi con xại. Kệ nó, xấu xấu chớ nó lâu rách". Con út cầm quạt ra đứng cạnh nội quạt nhè nhẹ mà mặt mày tươi rói: tối nay nó có "bạn" ngủ chung để kể chuyện! Vợ tôi đem áo bà ba của má tôi vào buồng mấy đứa con gái, tôi trong đó hỏi vọng ra:

- Nội ăn gì chưa nổi

- Khỏi lo! Tao ăn rội. Để tao têm miếng trầu rồi tao với mấy đứa nhỏ soạn đồ ra coi có hư bể gì không cái đạ.

Rồi mấy bà cháu kéo nhau ra nhà sạu. Tôi nhìn theo má tôi mà bỗng nghe lòng dào dạt Từ bao nhiêu năm nay, trên người má tôi chẳng còn gì thay đội. Vẫn loại quần vải đen lưng rùa, vẫn áo túi trắng ngắn tay có hai cái túi thật đặc biệt do má tôi cắt may: miệng túi cao lên tới ngực chớ không nằm dưới eo hông như những áo túi thường thậy Mấy đứa nhỏ hay đùa: "Chạ bộ sợ chúng nó móc túi hay sao mà nội làm túi sâu vậy nổi"

Má tôi cười: "Ậy! Vậy chớ túi này chứa nhiều thứ quí lắm à bây". Những thứ gì không biết, chớ thấy má tôi còn cẩn thận ghim miệng túi lại bằng cây kim tây!

Tôi là con một của má tội Vậy mà sau khi cha tôi chết đem về chôn ở Gò Dầu, quê tôi, má tôi ở luôn trên đọ Nói là để châm sóc mồ mả và vườn tược cây trại Thật ra, tại vì má tôi không thích ở Saigon, mặc dù rất thương mấy đứa chạu Hồi còn ở chung với vợ chồng tôi để tránh pháo kích - dạo đó, VC hay bắn hỏa tiễn vào Gò Dầu về đêm - má tôi thường chắc lưỡi nói: "Thiệt không biết cái xứ gì mà ăn rồi cứ đi ra đi vô, hổng làm gì ráo".

Cái "xứ" Sài gòn, đối với má tôi, nó "tù chân tù tay" lắm, trong lúc ở Gò Dầu má tôi có nhà cửa đất đai rộng rãi, cây trái xum xuê, và dù đã cao niên, má tôi vẫn thường xuyên xách cuốc xách dao ra làm vườn, làm cọ.  Vả lại chung quanh đất má tôi, là nhà đất của các anh bà con bên ngoại của tôi, thành ra má tôi qua lại cũng gận Các anh chị bà con tới lui thăm viếng giúp đỡ cũng dệ Cho nên, dù ở một mình trên đó, má tôi vẫn không thấy cô đơn hiu quạnh Lâu lâu nhớ bầy con tôi thì xuống chơi với chúng nó năm bảy bữa rồi vệ. Má tôi hay nói đùa là "đi đổi gió".

Mấy năm sau ngày mất nước, cuộc sống của gia đình tôi càng ngày càng bẩn chật. Cũng như thiên hạ, vợ chồng tôi bán đồ đạc trong nhà lần lần để ặn. Má tôi biết như vậy nên xuống thăm mấy đứa nhỏ thường hơn, để mang "cái gì để ăn" cho chúng nọ. Nhiều khi nằm đêm tôi ứa nước mắt mà nghĩ rằng lẽ ra tôi phải nuôi má tôi chớ, dù gì tôi cũng mới ngoài bốn mươi lăm còn má tôi thì tuổi đã về chiệu. Vậy mà bây giờ, mặc dù là công nhân viên nhà nước xã hội chủ nghĩa với lương kỹ sư "bậc hai trên sáu", tôi đã không nuôi nổi má tôi, mà trái lại chính má tôi phải cắt ca cắt củm mang đồ ăn xuống tiếp tế cho gia đình tôi, giống như má tôi mớm cơm đút cháo cho tôi thuở tôi còn thơ ấu!

Thật là một "cuộc đổi đời" đúng như VC thường rêu rao: "Cách mạng là một cuộc đổi đời!" Nhưng cuộc đổi đời của mẹ con tôi thì thật là vừa chua cay vừa hài hước!

Lắm khi tôi tự hỏi: "Rồi sẽ đi đến đẩu". Bấy giờ tôi đã trở thành "trưởng ban văn nghệ" của cơ quan, một lối đi "ngang" mà nhờ đó tôi còn được ở lại với sở cụ. Bởi vì mấy chục năm kinh nghiệm trong nghề nghiệp chánh của tôi, nhà nước "cách mạng" cho là vô dụng, không "đạt yêu cầu". Thành ra, tối ngày tôi chỉ lo cho đoàn "nghiệp dư" của cơ quan tập dượt hát mụa. Thật là hệ. Còn về phần các con tôi, tương lai gần nhứt là đi đánh giặc Kampuchia, tương lai xa hơn thì thật là mù mịt!

Trong lúc tôi không có lối thoát thì một người bạn đề nghị giúp chúng tôi vượt biên, nhưng chỉ đi được có ba ngượi. Vậy là chúng tôi lấy quyết định cho hai đứa lớn đi theo tội. Chuyện này, chúng tôi giấu má tôi và mấy đứa nhỏ, kể cả hai đứa đã được chọn Phần vì sợ đổ bể, phần vì sợ má tôi lo. Ai chẳng biết vượt biên là một sự liều lĩnh vô cụng. Rủi đi không thoát là bị tù đày chẳng biết ở đâu, may mà đi thoát cũng chưa chắc là sẽ đến bờ đến bện. Người ta nói trong số những người đi thoát, hai phần ba bị mất tích luộn. Thành ra, "vượt biên" là đi vào miền vô định.

Theo chương trình thì sáng sớm ngày rằm cha con tôi đi xe đò xuống Cần Thơ rồi từ đó có người rước qua sông ông Đốc để xuất hành ngay trong đêm đọ. Tôi thắc mắc hỏi: "Tổ chức gì mà đi chui nhằm ngày rằm cha nổi" Bạn tôi cười: "Ai cũng nghĩ như anh hệt Tụi VC cũng vậy Cho nên hể có trăng sáng là tụi nó nằm nhà nhậu, không đi tuần đi rỏn gì hệt Hiểu chửa"

Bữa nay là mười bốn ta nhằm ngày thứ bảy, vợ chồng tôi định không nói gì hết, chờ sáng sớm mai gọi hai đứa lớn dậy đi với tôi xuống Cần Thợ Như vậy là chúng nó sẽ hiệu Và như vậy là kín đáo nhứt, an toàn nhựt Rồi sau đó vợ tôi sẽ liệu cách nhắn tin về cho má tôi hạy Chừng đó thì "sự đã rồi"...

Bây giờ thì má tôi đã có mặt ở đây, giấu cũng không được Đành phải nói cho má tôi biệt Nhưng nói lúc nào đẩy Và nói làm sao đẩy. Liệu má tôi có biết cho rằng tôi không còn con đường nào khảc. Liệu má tôi có chấp nhận cho tôi không giữ trọn đạo hiếu chỉ vì lo tương lai cho các con. Liệu má tôi ... liệu má tôi. Tôi phân vân tự đặt nhiều câu hỏi để chẳng thấy ở đâu câu trả lợi

Tôi ngồi xuống thềm nhà, nhìn ra sận Ở đó, bờ cỏ lá gừng xanh mướt ngày xưa đã bị chúng tôi đào lên đấp thành luống để trồng chút đỉnh khoai mì, một ít khoai lan, vài hàng bặp. Không có bao nhiêu nhưng vẫn phải có. Cho nó giống với người ta, bởi vì nhà nào cũng phải "tăng gia" cho đúng "đường lối của nhà nước". Thật ra, trồng trọt bao nhiêu đó, nếu có trúng mùa đi nữa, thì cũng không đủ cho bầy con tôi "nhét kẻ răng"! Vậy mà tên công an phường, trong một dịp ghé thăm, đã tấm tắc khen: "Anh chị công tác tốt đấy chự. Tăng gia khá nhất khu phố đấy! Các cháu tha hồ mà ăn". Anh ta không biết rằng mấy nhà hàng xóm của tôi, muốn "tăng gia", họ đã phải đào cả sân xi-măng hoặc sân lót gạch, thì lấy gì để "làm tốt"?

Khi tôi trở vào nhà thì con út đang gãi lưng cho nội Nó vén áo túi nội lên đến vai, để lộ cái lưng gầy nhom, cong cong và hai cái vú teo nhạch Tôi tự hỏi: "Lạ quá! Chỉ có mình mình bú hồi đó mà sao làm teo vú nội đến như vậy đưởc" Rồi tôi bồi hồi cảm động khi nghĩ rằng chính hai cái núm đen đó đã nuôi tôi lớn lên với dòng sữa ấm, vậy mà chẳng bao giờ nghe má tôi kể lể công lạo Tôi cảm thấy thương má tôi vô cụng Tôi len lén từ phía sau lòn tay măn vú má tôi một cại. Má tôi giựt mình, rút cổ lại:

- Đừng! Nhột! Thằng chơi dại mậy!

Rồi má tôi cười văng cốt trậu Con Ti la lên:
- Má ôi! Coi ba măn vú nội nè!

Tôi cười hả hê thích thụ Trong khoảnh khắc thật ngắn ngủi đó, tôi bắt gặp lại những rung động nhẹ nhàng sung sướng khi tôi măn vú mẹ thuở tôi mới lên ba lên nặm. Và cũng trong khoảnh khắc đó, tôi đã quên mất rằng má tôi đã gần tám mươi mà tôi thì trên đầu đã hai thứ tóc! Và cũng quên mất rằng từ ngày mai trở đi, có thể tôi sẽ không bao giờ còn gặp lại má tôi nữa, để măn vú khi bất chợt thấy má tôi nhờ cháu nội gãi lưng như hôm nay.

Chiều hôm đó, khi ngồi vào bàn ăn, mắt bầy con tôi sáng rợ. Bữa cơm thật tươm tất, đầy đủ món ăn như khi xựa Có gà nấu canh chua lá giang, một loại giây leo có vị chua thật ngọt ngào mà hình như chỉ ở miệt quê tôi mới cọ Món này, bà nội mấy đứa nhỏ nấu thật đậm đạ. Bà thường nói: "Canh chua phải nêm cho cứng cứng nó mới ngon". Mà thật vậy. Tô canh nóng hổi, bốc lên mùi thơm đặc biệt của thịt gà lẫn với mùi chua ngọt của lá giang, mùi mặn đằm thấm của nước mắm và mùi tiêu mùi hạnh. Húp vào một miếng canh chua, phải nghe đầu lưỡi ngây ngây cứng cứng và chân tóc trên đầu tăng tăng, như vậy mới đụng. Nằm cạnh tô canh chua là tô cá kèo kho tiêu mà khi mang đặt lên bàn ăn nó hãy còn sôi kêu lụp-bụp, bốc mùi thơm phức vừa mặn vừa nồng cay lại vừa béo, bỏi vì trong cá kho có tép mỡ và trước khi bắt xuống, bà nội có cho vào một muỗng mỡ nước gọi là "để cho nó dằn"! Đặc biệt, khi làm cá kèo, bà không mổ bụng cá, thành ra khi cắn vào nó, mật cá bể ra đăng đắng nhẹ nhàng làm tăng vị bùi của miếng cá lên gấp bội. Ngoài hai món chánh ra, còn một dĩa măng luộc, tuy là một món phụ nhưng cũng không kém phần hấp dẫn nhờ ở chỗ sau khi luộc rồi măng được chiên lại với tỏi nên ngã màu vàng sậm thật là đậm đạ.

Sau khi và vài miếng, vợ tôi nhìn tôi rồi rớt nước mặt. Nội hỏi:
- Bộ cay hả

Vợ tôi "dạ", tiếng "dạ " nằm đâu trong cộ. Rồi buông đũa, mếu máo chạy ra nhà sạu Tôi hiệu Bữa cơm này là bữa cơm cuối cùng, bữa cơm mà cả gia đình còn xum họp bên nhạu. Rồi sẽ không còn bữa cơm nào như vậy nựa Gia đình sẽ chia hai. Những người đi, rồi sẽ sống hay chểt. Còn những người ở lại, ai biết sẽ còn tan tác đến đẩu

Tôi làm thinh, cắm đầu ăn lia lịa như mình đang đói lặm. Thật ra, tôi đang cần nuốt thật nhanh thật nhiều, mỗi một miếng nuốt phải thật đầy cổ họng để đè xuống, nén xuống một cái gì đang trạo trực từ dưới dâng lện. Mắt tôi nhìn đồ ăn, nhìn chén cơm, nhìn đôi đũa, để khỏi phải nhìn má tôi hay nhìn bầy con, ngần đó khuôn mặt thân yêu mà có thể tôi sẽ vĩnh viễn không còn thấy lại nựa. Trong đầu tôi chợt hiện ra hình ảnh người đang hấp hối, trong giây phút cuối cùng lưỡi đã cứng đơ, mắt đã dại, vậy mà họ vẫn nhìn nuối những người thương để rồi chảy nước mắt trước khi tắt thợ. Rồi tôi thấy tôi cũng giống như người đang hấp hối, không phải chết ở thể xác mà là chết ở tâm hồn, cũng một lần vĩnh biệt, và cũng sẽ bước vào một cõi u-minh nào đó, một cõi thật mơ hồ mà mình không hình dung được, không chủ động được!

Má tôi gắp cho tôi một cái bụng cá to bằng ngón tay cái:
- Nè! Ngon lắm! Ăn đi! Để rồi mai mốt hổng chắc gì có mà ăn!

Ý má tôi muốn nói rằng ở với VC riết rồi đến loại cá kèo cũng sẽ khan hiếm như các loại cá khạc Nhưng trong trường hợp của tôi, lời má tôi nói lại có ý nghĩa của lời tống biệt Nó giống như: "Má cho con ăn lần này lần cuội Ăn đi con! Ăn cho ngon đi con!". Tôi ngậm miếng cá mà nước mắt trào ra, không kềm lại được Nếu không có mặt bầy con tôi, có lẽ tôi đã cầm lấy bàn tay của má tôi mà khóc, khóc thật tự do, khóc thật lớn, để vơi bớt nỗi thống khổ đã dằn vật tôi từ bao nhiêu lâu nạy. Đằng này, tôi không làm như vậy được. Cho nên tôi trạo trực nuốt miếng cá mà cảm thấy như nó thật đầy xương xóc! Má tôi nhìn tôi ngạc nhiên:

- Ủa Mày cũng bị cay nữa sao

Rồi bà chồm tới nhìn vào tô cạ Các con tôi nhao nhao lên:
- Đâu có cay, nội
- Con ăn đâu thấy cay. Hai có nghe cay hôn Hải
- Chắc ba má bị gì chớ cay đâu mà cay
- Con ăn được mà nội Có cay đẩu

Các con tôi đâu có biết rằng cái cay của tôi không nằm trên đầu lưỡi, mà nó nằm trong đáy lọng Cái cay đó cũng bắt trào nước mắt! Tôi đặt chuyện, nói tránh đi:

- Hổm rày nóng trong mình, lưỡi của ba bị lở, nên ăn cái gì mặn nó rạt

Rồi tôi nhai thật chậm để có thời gian cho sự xúc động lắng xuộng. Miếng cơm trong miệng nghe như là sạn sỏi, nuốt không trội

Sau bữa cơm, bà cháu kéo hết vào buồng tụi con gái để chuyện trọ Thỉnh thoảng nghe cười vang trong đọ Chen trong tiếng cười trong trẻo của các con, có tiếng cười khọt khọt của nội, tiếng cười mà miếng trầu đang nhai kềm lại trong cổ họng, vì sợ văng cốt trậu. Những thanh âm đó toát ra một sự vô tư, nhưng lại nghe đầy hạnh phục. Lúc này, có nên nói chuyện vượt biên với má tôi hay khổng Tội nghiệp bầy con, tội nghiệp nội.

Ngoài phòng khách, tôi đi tới đi lui suy nghĩ đắn đọ. Vợ tôi còn lục đục sau bếp, và cho dù vợ tôi có mặt ở đây cũng không giúp gì tôi được với tâm sự rối bời như mớ bòng bọng Tôi bèn vào buồng ngủ, trải chiếu dưới gạch - từ lâu rồi, vợ chồng tôi không có giường tủ gì hết - rồi tắt đèn nằm trong bóng tối, gác tay lên trán mà thở dại.

Thời gian đi quạ Trăng đã lên nên tôi thấy cửa sổ được vẽ những lằn ngang song song trắng đục Trong phòng bóng tối cũng lợt đị Không còn nghe tiếng cười nói ở phòng bên và tôi nghĩ chắc đêm nay vợ tôi ngủ với hai đứa lớn ngoài phòng khách, để trằn trọc suốt đêm chờ sạng Bỗng cửa phòng tôi nhẹ mở, vừa đủ để tôi nhìn thấy bóng má tôi lom khom hướng vào trong hỏi nhỏ:

- Ba con Ti ngủ chưa vẩy

Tôi hơi ngạc nhiên, nhưng cũng trả lời nho nhỏ vừa đủ nghe:
- Dạ chưa, má

Má tôi bước vào đóng cửa lại, rồi mò mẫm ngồi xuống cạnh tôi, tay cầm quạt mo quạt nhè nhẹ lên mình tôi, nói:

- Coi bộ nực hả mẩy

- Dạ. Nhưng rồi riết cũng quen, má ạ

Tôi nói như vậy mà trong đầu nhớ lại hình ảnh tôi và thằng con trai hè hụi tháo gỡ mấy cây quạt trần để mang đi bạn Im lặng một lucTạy má tôi vẫn quạt đệu. Rồi má tôi hỏi:

- Tụi bây còn gì đề bán nữa hổng

- Dạ

Tôi không biết trả lời làm sao nựa. Chiếc xe hơi bây giờ chỉ còn lại cái sườn, không ai chịu chở đị. Trong nhà bây giờ chỉ còn bộ bàn ăn, cái tủ thờ nhỏ và bộ sa-long mây "sứt căm gãy gọng". Ngoài ra, trên tường có chân dung "Bác Hồ" dệt bằng lụa và nhiều "bằng khen", "bằng lao động tiên tiến"... những thứ mà nhà nào cũng có hết, cho, chưa chắc gì có ai thèm lấy! Bỗng tôi nhớ có một hôm tôi nói với bầy con tôi: "Ba tự hào đã giữ tròn liêm sĩ từ mấy chục năm nạy Bây giờ, đổi lấy cái gì ăn cũng không được, đem ra chợ trời bán cũng chằng có ai mụa Sao ba thấy thương các con và tội cho ba quá!" Lúc đó, tôi tưởng tượng thấy tôi đứng ở chợ trời, dưới chân có tấm bảng đề "Bán cái liêm sỉ, loại chánh cộng Bảo đảm đã hai mươi năm chưa sứt mẻ". Thật là khùng nhưng cũng thật là chua chát! Nghe tôi "dạ" rồi nín luôn, má tôi hiểu, nên nói: "Rồi mầy phải tính sao chớ chằng lẽ cứ vậy hoài ả Tao thấy tụi bây càng ngày càng trõm lơ, còn mầy thì cứ làm thinh tao rầu hết sực"

Má tôi ngừng một chút, có lẽ để lấy một quyết định:

- Tao xuống kỳ này, cốt ý là để nói hết cho mầy nghe. Tao già rồi, mai mốt cũng theo ông theo bạ. Mầy đừng lo cho tao. Lo cho bầy con mầy kịa. Chớ đừng vì tao mà bắt mấy đứa nhỏ phải hy sinh tương lai của tụi nọ. Mầy liệu mà đi, đi! Kiếm đường mà kéo bầy con mầy đi, đi! Ở đây riết rồi chết cả chụm. Không chết trận trên Miên thì cũng chết khùng chết đọi. Thà tụi bây đi để tao còn thấy chút đỉnh gì hy vọng mà sống thêm vài năm nựa. Mầy hiểu hổn.

Nghe má tôi nói, tôi rớt nước mặt. Chuyện mà bao lâu nay tôi không dám nói với má tôi thì bây giờ chính má tôi lại mở ngỏ khai nguộn. Và tôi thật xúc động với hình ảnh bà mẹ già phải đẩy đứa con duy nhứt đi vượt biên để vui mà sống với ít nhiều hy vọng! Thật là ngược đời: có người mẹ nào lại muốn xa con. Chỉ có ở chế độ xã hội chủ nghĩa khốn nạn này mới xảy ra những chuyện "đổi đời" như vậy! Tôi nắm bàn tay không cầm quạt của má tôi, lắc nhẹ:

- Má à! Lâu nay con giấu má. Bây giờ má nói, con mới nói. Sáng sớm mai này, con và hai đứa lớn sẽ xuống Cần Thơ để vượt biện.

Tôi nghe tiếng cây quạt mo rơi xuống gạch. Rồi yên lặng. Một lúc lâu sau, má tôi mới nói:

- Vậy hạ

Tôi nghe có cái gì nghẹn ngang trong cộ. Tôi nuốt xuống mấy lần, rồi cố gắng nói:

- Con đi không biết sống hay chệt. Con gởi má vợ con và ba đứa nhỏ, có bề gì xin má thương tụi nọ

Nói tới đó, tôi nghẹn ngào rồi òa lên khóc ngật Tôi nghe có tiếng quạt phe phẩy lại, nhanh nhanh, và bàn tay má tôi vuốt tóc tôi liên tục giống như hồi nhỏ má tôi vỗ về tôi để tôi nín khóc. Một lúc sau, má tôi nói :

- Thôi ngủ đi, để mai còn dậy sợm

Rồi bước ra đóng nhẹ cửa lại. Sau đó, có tiếng chẹt diêm quẹt rồi một ánh sáng vàng vọt rung rinh lòn vào khuôn cửa, tôi biết má tôi vừa thắp đèn cầy trên bàn thợ. Tiếp theo là mùi khói nhang, chắc bà lôi mấy đứa nhỏ đang cầu nguyện ngoài đọ. Tôi thở dài, quay mặt vào vách, nhắm mắt mà nghe chơi vơi, giống như đang nằm trong một cơn mộng. Năm giờ sáng hôm sau, má tôi kêu tôi dậy đị. Hai con tôi đã sẵn sàng, mỗi đứa một túi nhỏ quần ạo. Chúng nó không có vẻ gì ngạc nhiên hay xúc động hệt. Có lẽ mẹ tụi nó đã gọi dậy từ ba bốn giờ sáng để giảng giải và chuẩn bị tinh thận. Riêng tôi, thật là trầm tịnh. Nước mắt đêm qua đã giúp tôi lấy lại quân bịnh. Thật là mầu nhiệm!

Tôi vào buồng hôn nhẹ mấy đứa nhỏ đang ngủ say, xong ôm vo tôi, ôm má tội. Hai người thật là can đảm, không mảy may bịn rịn. Tôi chỉ nói có mấy tiếng:

- Con đi nghe má!

Rồi bước ra khỏi cộng

*
Lần đó, tôi đi thoát. Rồi phải ba bốn năm sau, tôi mới chạy chọt được cho vợ con tôi rời VN sang sum họp với tôi ở Pháp. Má tôi ở lại một mịnh. Mấy ngày đầu gặp lại nhau, vợ con tôi kể chuyện "bên nhà" cho tôi nghe, hết chuyện này bắt qua chuyện nọ Bà Nội được nhắc tới nhiều nhứt và những chuyện về bà nội được kể đi kể lại thường nhựt. Tụi nó kể: "Ba đi rồi, mấy bữa sau cơ quan chỗ ba làm việc cho người đến kiệm. Tụi con trốn trong buồng, để một mình nội rạ Nội nói rằng nội nhờ ba về Tây Ninh rước ông Tư xuống bởi vì trên đó đang bị Cao Miên pháo kích tơi bời, tới nay sao không thấy tin tức gì hết, không biết ba còn sống hay chết nựa. Nói rồi, nội khóc thật mùi mẫn làm mấy cán bộ trong cơ quan tin thiệt, họ an ủi nội mấy câu rồi từ đó không thấy trở lại nữa". Rồi tụi nó kết câu chuyện với giọng đầy thán phục: "Nội hay thiệt!"

Nghe kể chuyện, tôi bồi hồi xúc động. Tôi biết lúc đó má tôi khóc thiệt chớ không phải giả khóc như các con tôi nghị. Bởi vì, trong hai trường hợp dù sự việc xảy ra có khác nhau, nhưng hoàn cảnh sau đó vẫn giống nhau y hệt "Ba con Ti đi không biết sống hay chết" vẫn là câu hỏi lớn đè nặng tâm tư của má tôi. Bề ngoài má tôi làm ra vẻ bình tĩnh để an lòng con dâu và cháu nội, nhưng là một cái vỏ mỏng manh mà trong khi kể chuyện cho các cán bộ, nó đã có dịp bể tung ra cho ưu tư dâng đầy nước mặt.

"Rồi sau đó - tụi con tôi kể tiếp - nội ở lại nhà mình để chờ tin tức và cũng để ra tiếp chuyện hàng xóm và chánh quyền địa phương, chớ má thì ngày nào cũng đi chùa, còn tụi con nội sợ nói hé ra là mang họa cả đạm. Lâu lâu, nội về Gò Dầu bán đồ rồi mua thịt thà đem xuống tiếp tế cho tụi cọn. Thấy nội già mà lên lên xuống xuống xe cộ cực nhọc quá, tụi con có can ngăn nhưng nội nói nội còn mạnh lắm, nội còn sống tới ngày con Ti lấy chồng nội mới chịu theo ông theo bà!" Tôi biết: má tôi là cây cau già - quá già, quá cỗi - nhưng vẫn cố bám lấy đất chỉ vì trên thân cây còn mấy dây trầu. Hình ảnh đó bỗng làm tôi ứa nước mặt. Thương má tôi và nhớ cả quê hượng

Cái quê hương tuyệt đẹp của tôi mà VC đã cướp mật. Cái quê hương mà trên đó tôi không còn quyền sống như ý mình muốn, phát biểu những gì mình nghĩ, ca tụng những gì mình thịch. Ở đó, ở quê hương tôi, tôi còn bà mẹ già, bà mẹ tám mươi đã cắt ruột đuổi con đi, bỏ quê hương mà đi, để bà còn chút hy vọng sống thêm vài ba năm nữa! Bây giờ, vợ con tôi cũng đã đi hệt. Má tôi còn lại một mịnh. Thân cây cau giờ đã nhẵn dây trầu, thêm tuổi đời một nắng hai mựa. Tôi biết! Má ơi! Con biết: cây cau già bây giờ đang nhớ thắt thẻo mấy dây trầu nọn.

Theo lời các con tôi kể lại, hôm tiếp được điện tín của bạn tôi ở Pháp đánh về báo tin tôi và hai đứa lớn đã tới Mã Lai bình yên, cả nhà tưng bừng như hội. Tụi nó nói: "Nội vội vàng vào mặc áo rồi quì trước bàn thờ Phật gõ chuông liên hội. Đã giấu không cho ai biết mà nội gõ chuông giống như báo tin vui cho hàng xóm!"

"Mấy hôm sau, bỗng có công an phường lại nhà. Công an đến nhà là lúc nào cũng có chuyện gì đó cho nên nội có hơi lo. Thấy dạng tên công an ngoài ngõ, trong này nội niệm phật để tự trấn an. Sau đó, nội cũng kể chuyện ba về Tây Ninh rồi nội kết rằng ba đã chết ở trên đọ. Rồi nội khóc " Mấy con tôi đâu biết rằng đối với má tôi, dù tôi còn sống, sống mà vĩnh viễn không bao giờ thấy lại nhau nữa thì cũng giống như là tôi đã chệt " Sau đó nội than không biết rồi sẽ ở với ai, rồi ai sẽ nuôi nội, bởi vì má buồn rầu đã bỏ nhà đi mật. Nghe vậy, tên công an vội vàng an ủi: Bà cụ đừng có lo! Rồi chúng cháu sẽ đem bà cụ về ở với chúng cháu. Cứ yên chí!" Sau khi tên công an ra về, nội vào buồng kể lại chuyện đó cho tụi con nghe, rồi nói: "Nội nghe thằng công an đòi đưa nội về nuôi mà nội muốn xỉu luôn! Không phải vì cảm động mà vì sợ! Ở với tụi nó, thà chết sướng hơn!"

Vợ con tôi được đi chánh thức nên hôm ra đi bạn bè thân quyến đến chia tay đầy nhạ Lúc mẹ con nó quì xuống lạy má tôi để giả biệt - hay đúng ra để vĩnh biệt - tất cả mọi người đều khóc. Đó là lần cuối cùng mà má tôi khóc với bầy cháu nội. Và tôi nghĩ rằng má tôi khóc mà không cần tìm hiểu tại sao mình khóc, chỉ thấy cần khóc cho nó hả, chỉ thấy càng khóc thân thể gầy còm càng nhẹ đi, làm như thịt da tan ra thành nước mắt, thứ nước thật nhiệm mầu mà Trời ban cho con người để nói lên tiếng nói đầy câm lặng. Bầy bạn học của các con tôi đứng thành hai hàng dài, chuyền nước mắt cho nhau để tiễn đưa tụi nó ra xe ngoài ngọ. Tôi hình dung thấy những cặp mắt thơ ngây mọng đỏ nhìn các con tôi đi mà nửa hồn tê dại, không biết thương cho bạn mình đi hay thương cho thân phận mình, người ở lại vơi đầy chua xọt. Mấy con tôi nói: "Nội không theo ra phi trượng. Nội ở nhà để gõ chuông cầu nguyện".
*
Tôi làm việc ở Cotê d'Ivoire (Phi Châu), cách xa vợ con bằng một lục địa, và cách xa mẹ tôi bằng nửa quả địa cậu. Những lúc buồn trống vắng, tôi hay ra một bãi hoang gần sở làm để ngồi nhìn biển cạ. Mặt nước vuốt ve chân cát, tiếng sóng nhẹ nghe như thì thạo những thứ đó làm như chỉ dành cho riêng tội. Tự nhiên tôi cảm thấy như được vỗ về an ụi. Những lúc đó, sao tôi nhớ má tôi vô cụng. Trên đời này má tôi là người duy nhứt an ủi tôi từ thuở tôi còn ấu thơ cho đến khi trên đầu tôi đã hai thứ tọc. Ngay đến đêm cuối cùng trên quê hương, cũng chính trong vòng tay khẳng khiu của má tôi mà tôi khóc, khi gởi vợ gởi cọn. Lúc nào tôi cũng tìm thấy ở má tôi một tình thương thật rộng rãi bao la, thật vô cùng sâu đậm, giống như đại dương mà tôi đang nhìn trước mặt. Bây giờ tôi hiểu tại sao tôi hay ra ngồi đây để nhìn biển cạ
Phố bỗng là dòng sông uốn quanh!

Hoàng Ngọc Vạn Tường

Tôi về lại Sài Gòn. Mượn một chiếc xe của người nhà, chạy loanh quanh khắp phố , mặc kệ bụi, khói, nắng. Tôi chạy như một người lãng mạn cuối cùng còn sót lại ở thành phố Sài Gòn ...

Khi đầu trần , mặt phơi ra giửa nắng nóng , bụi khói như vậy. Chạy xe giửa một đám đông, mà mình như một dấu ấn lạ mặt, chưa thể hòa hợp bởi quanh tôi bây giờ, khó tìm thấy được khuôn mặt của người đồng hành, bởi ai ra đường cũng che chắn cẩn thận, kể cả đàn ông con trai? Lang thang dong ruổi trên những con đường quen thuộc, tìm lại những đặc trưng cũ của thời học trò thích đi dưới mưa, thích ăn quà vặt . Thích cúp cua đi xem ciné ...Ngang qua Thư viện quốc gia cũ, chẳng tìm ra đâu " Phượng đỏ có chàng tới hỏi " của Viên Linh ..Tôi nhìn vào tiếc nuối khi thấy một Thư viện hoàn toàn khác lạ không còn quang đãng như xưa với nhiều gian hàng quanh đó. Chợt nhớ câu thơ của Đinh Tiến Luyện mà hồi xưa tôi và "người ấy" vô cùng ưa thích

Thư viện hôm nay , buồn hơn hôm qua , buồn hơn hôm kia
Buồn như chuyện tình khốn khổ của tụi mình
Như bài toán anh không thể chứng minh
Như bài vạn vật em học hoài không thuộc ...

Bởi bài toán anh không thể chứng minh khi đi thi , nên hỏng tú tài anh vào quân đội ..rồi đôi ngã chia xa như bóng chim tăm cá !! Ký ức của hơn 30 năm trôi về chậm chậm, làm trái tim tôi như đập lỡ lại một nhịp đập thảng thốt, khi đi ngang qua một kỹ niệm của ngày xưa.

Đi dọc lên phía Chùa Xá lợi, những quán ăn mọc lên như nấm ..Hồi xưa con đường Bà huyện Thanh Quan ngang hông trường Gia Long chỉ để dành cho xe Bò bia, Gỏi đu đủ, Nước mía, Đậu đỏ của phe kẹp tóc thì bây giờ đã là phố của những quán Cá kèo...
Ngược về con đường môt chiều Hiền Vương. Nắng dường như rút lui nhường cho gió và đám đám mây đen đang từ từ che phủ, báo hiệu trời sắp mưa. Nhìn từ đàng xa phía trường Quốc gia Hành chánh cũ, hình như đang mưa to thì phải? Thật là "cầu được ước thấy" Tôi đang mơ mình được đi trong mưa cơ mà? vẫn chạy xe dửng dưng không áo mưa , như để hưởng cảm giác mưa mát lạnh phất vào mặt tê rát ... và nói thầm với mình... " đã lâu lắm rồi mới hưởng lại cảm giác của thời nữ sinh đi học, thích đi giửa trời mưa ... ngày cũ " ... Tôi, người lãng mạn cuối cùng vẫn chưa biết sợ, lao vào phía con đường đang mưa tầm tã đó. Khi xe nhập cuộc con đường Trần Quốc Toản cũ, bây giờ đã đổi tên thành đường 3 tháng 2. Trời đất! tôi có lầm không ? " Phố bỗng là dòng sông uốn quanh " Không thể quay đầu xe lại được nữa rồi! Tôi bị cuốn hút vào dòng sông cạn đó, với dòng xe lẫn lộn không còn phương hướng xuôi ngược nữa, mạnh ai nấy chạy, có nhiều xe chết máy , người ta xuống dẩn xe đi bộ. và hình phạt cho người lãng mạn là chiếc xe trở chứng tắt máy, tôi phải xuống xe dắt bộ, mà xe lại nặng chình chịch, tôi dắt xe không nổi giửa cơn mưa nặng hạt, và cái xe đổ kềnh ra dòng sông cạn đó, quá khó khăn để dựng nó lên. Hơn nữa cái ống pô xe nóng dán vào chân tôi làm phỏng rát, chịu hết nổi! Tôi cầu cứu những người qua lại, chỉ thấy toàn những mắt nhìn thờ ơ hoặc khó chịu, khi thấy tôi là vật cản đường! Mưa nặng hạt, và nước mắt của tôi trút như mưa, càng tức tưởi hơn nữa khi có một anh chàng mặt mày trông bảnh bao, dắt xe ngang qua tôi giận dữ, miệng chửi rủa " Gì đây tiểu thư .. ăn bao nhiêu cơm , mà dắt có mỗi cái xe, cũng không nổi , đồ vô dụng ! " Tôi nhớ ông nhạc sĩ mà tôi yêu thích đã cảnh báo rồi, mà tôi quên cảnh giác ... " Phố bổng là dòng sông uốn quanh! " Vừa tủi thân, vừa đau khổ với vết bỏng mà cũng vừa quê mặt với lời nhiếc mắng nầy ..Tôi chỉ muốn bỏ mặc cái xe ..chạy tháo thân cho yên chuỵện.

Cuối cùng , cũng có cậu nhỏ sửa xe ven đường ra giúp tôi dựng xe lên, đưa vào vệ đường, đề nghị sửa xe, thôi thì để mặc cho cậu nhỏ sửa xe, tôi nước mắt vắn dài tuôn chảy, may mà trời mưa làm cậu ấy không thấy tôi " mít ướt " như vậy! Về nhà trên chiếc xe cyclo chở người và xe... cả nhà tôi hốt hoảng , nhưng vết phỏng cộng thêm ngâm chân lâu trong dòng sông cạn đó ( Mà chắc không được sạch sẽ gì cho lắm ? ) kết quả là chân tôi sưng tấy lên. 2 tuần lễ còn lại ở quê nhà, chỉ là chuyện điều trị cho vết phỏng bị nhiễm trùng ... Qua hơn ba năm , vết sẹo phỏng giờ chỉ còn lờ mờ , nhưng nó cho tôi một ấn tượng quá ư là sâu sắc ... bởi con phố của dòng sông cạn Sài Gòn ! " Phố bổng là dòng sông uốn quanh " lời hát thật hoa mỹ lãng mạn, nhưng bạn phải như tôi trong hoàn cảnh đó ..bạn mới hiểu thế nào là nghĩa đen của câu hát đó...bạn ạ !


* lời của một bài hát " Em còn nhớ hay em đã quên " của TCS

Source: Dien Dan Tho Van

TRỜI ĐẤT BAO LA

Phạm Tín An Ninh

Định cư ở Nauy hơn ba năm, sau khi ổn định công việc làm ăn và việc học hành cho mấy đứa con, tôi tổ chức một chuyến Âu du bằng xe hơi. Chiếc xe Ford của tôi vừa cũ kỹ vừa nhỏ, không thể nào vượt qua một chặng đường trên dưới bảy ngàn cây số, và dĩ nhiên cũng không đủ chỗ cho một gia đình lớn nhỏ tám người.

Lại nghe mấy người bạn tới trước “hù”, bảo là trên xa lộ Âu châu vào mùa hè, chạy một cái xe cũ có thể bị giữ lại giữa đường và nộp tiền phạt vì cái tội làm trở ngại giao thông. Tôi mướn một cái xe mới toanh mười hai chỗ ngồi, có máy lạnh và kính mát đàng hoàng. Tôi không muốn bất cứ điều gì làm mất cái hứng thú cho cuộc hành trình đầu tiên của chúng tôi trên những đất nước mà trước đây tôi đã từng một thời mơ ước nhưng chẳng bao giờ nghĩ là có một ngày được đi qua. Tôi và đứa con trai lớn vừa mới đủ tuổi lấy bằng lái xe thay nhau làm tài xế. Bà xã và cô con gái lớn chịu trách nhiệm xem bản đồ và theo dõi lộ trình.

Tuần lễ đầu tiên, chúng tôi rất thích thú khi đi qua những vùng đất xa lạ, mà ngày trước tôi chỉ biết mơ hồ qua sách vở. Sau một ngày, băng qua hai đất nước hiền hòa Thụy Điển, rồi Đan Mạch, chúng tôi sang Hamburg, thành phố lớn cực bắc của Tây Đức. Thời gian này nước Đức còn chia đôi, nên vừa mới đến ranh giới là không khí đã căng thẳng. Cảnh sát với súng ống đầy người, trông mặt người nào cũng đằng đằng sát khí làm tôi nhớ tới hình ảnh của Hitler trong bộ phim dài chiếu mỗi tuần trên truyền hình Nauy. Vừa mới thoát ra cảnh chiến tranh tù đày ở quê nhà, lại được định cư tại một quốc gia ban phát giải Nobel Hòa Bình, tôi không muốn phải ngộp thở trên quê hương của ông Hitler, nên sau khi qua khỏi Frankfurt, tôi rẽ sang Hòa Lan. Một đất nước nghe như huyền thoại: nằm dưới mặt nước biển trung bình, có một con đập dài nhất thế giới, cũng là một xa lộ băng qua biển. Chạy xe trên con đập này, tôi cứ ngỡ mình đang lái tàu chạy giữa biển khơi. Xứ sở của hoa tulip, với những chiếc quạt gió cùng những con kênh đào thơ mộng. Ở thủ đô Amsterdam, có một nơi dành cho những người nghiện đến nhận thuốc phiện miễn phí của chính phủ; nguyên cả một khu phố lớn dọc theo bờ sông thơ mộng lại là một khu dành cho mấy cô gái điếm đủ sắc dân. Đây là một cơ sở kinh doanh, có đóng thuế cho nhà nước, nên được cảnh sát bảo vệ. Trước mỗi nhà là một cái tủ kiếng, bày hàng thật cho khách bốn phương chiêm ngưỡng. Hàng thật là một hay hai cô gái thoát y, dĩ nhiên phải là đẹp, đứng như những pho tượng nữ thần Hy lạp. Chúng tôi ghé thăm gia đình mấy ngưòi bạn cùng quê, sống rải rác khắp nơi. May mà đất nước Hòa Lan này không rộng lắm, lái xe từ bắc xuống nam chỉ mất khoảng bốn tiếng đồng hồ. Dừng lại nhà một người bạn ở Bergen op Zoom, thành phố biển phía nam chúng tôi tha hồ ăn sò huyết và những con “hàu”. Mấy loại này ở đây chỉ cần lội xuống biển mười phút là mang lên cả thùng nướng ngay tại chỗ. Hôm sau, chúng tôi sang Bỉ, Lục Xâm Bảo, và cuối cùng đến Pháp.

Điểm đến cuối cùng cũng là nơi quan trọng nhất mà chúng tôi muốn đến. Tôi dành một nửa thời gian, hai tuần lễ còn lại, cho cái xứ sở mà lúc còn nhỏ, khi học lịch sử thì tôi thù ghét, nhưng khi học văn chương thì tôi lại mê thích nó. Nào là tháp Eiffel bên dòng sông Seine tình tự, nào là nhà thờ Notre Dame cổ kính mà tôi mơ hồ thấy trong phim Thằng Gù ở nhà thờ Đức Bà, nào là vườn Luxembourg, nơi hẹn hò của bao cặp tình nhân. Chúng tôi ở trong khách sạn của một người Hà Nội, sang Pháp lập nghiệp từ hơn năm mươi năm trước. Khách sạn nằm trên con phố chính trong quận 13, nơi có đông người Việt Nam sinh sống.

Hơn một tuần ở Paris, chúng tôi xuôi về miền Nam nước Pháp. Thành phố Nice nằm bên bờ Địa Trung Hải, gần thành phố Cannes, nơi qui tụ những tài tử điện ảnh hằng năm, và không xa đất nước Monaco với những sòng bài và những chuyện tình nóng bỏng của mấy nàng công chúa. Mười ngày nằm trên thành phố biển này, tôi tạm quên những bất hạnh trong quá khứ và những gì đang xảy ra trên quả đất có quá nhiều phiền muộn này.

Rời Nice, chúng tôi trở lại Paris trước khi về Nauy. Trời mùa hè đang nóng, bà xã và mấy cô con gái của tôi đề nghị chạy ban đêm, vừa cho mát vừa được ngắm những thành phố rực rỡ trong ánh đèn. Nhìn trên bản đồ, tôi thấy trên đường đến thành phố Lyon, mình có thể dừng lại Grenoble rồi rẽ sang Genève của Thụy Sĩ, xem thử nơi đã cho ra đời cái hiệp định làm khốn khổ quê hương mình ra sao. Như được trở lại thời trận mạc xa xưa, tôi gọi cả bầu đoàn thê tử lại để ban bố “ lệnh hành quân”. Chúng tôi không đi theo xa lộ 85 mà chọn con tỉnh lộ nhỏ trực chỉ Grenoble. Tôi đích thân xem bản đồ hướng dẫn cho cậu con trai làm tài xế.

Rời Nice lúc 7 giờ tối. Sau hơn ba giờ từ “tuyến xuất phát”, tôi mới biết là mình đã sai lầm khi xử dụng con đường tắt này. Bởi chúng tôi bắt đầu chạy qua một khoảng rừng và những đồng lúa mì mênh mông, không thấy một bóng người. Đang mơ màng thì nhìn thấy phía đầu xe bốc khói. Tôi ra dấu cho đứa con trai dừng lại, bảo cả nhà xuống xe gấp. Khói trước xe vẫn còn bốc lên mờ mịt. Tôi tái mặt, vì bao nhiêu năm nay, từ lúc còn ở Việt Nam cũng như sang đây, ngoài việc cầm vô-lăng và đổ xăng ra tôi có biết gì về xe cộ nữa đâu. Chờ cho khói tan hết và rờ vào nắp xe thấy không còn nóng, tôi mở nắp xe lên bảo cậu con trai rọi đèn pin vào máy nhìn thử. Đến đường cùng thì làm như phản xạ tự nhiên vậy thôi, chứ tôi có biết cái gì trong máy đâu mà xem. Nhìn quanh một chặp, tôi cảm giác có điều gì lạ lạ. Cuối cùng tôi mơí phát hiện là sợi dây cu-roa không còn nữa. Nước trong bình đã bốc hơi không còn một giọt. Thấy tôi xách đèn pin trở lại, bà vợ và đám con gái đang nằm trên bờ ruọâng lúa mì, ngồi bật dậy. Nghe tôi ra lệnh “đóng quân tại vị trí” vì xe hư không biết khi nào mới chạy được, bà vợ xỉ vả cho tôi một trận, bảo hèn chi ngày xưa ông đánh giặc thua là phải, đừng có đổ thừa tại tụi Mỹ nó phản bội bỏ miền Nam.

Tôi bảo đám đàn bà con gái lên xe nằm và khóa cửa lại cẩn thận, vì biết đâu khu này có thú dữ. Đàn bà coi dữ vậy chứ nhát gan, ríu rít tuân lệnh. Tôi và thằng con trai đi vòng vòng xem có nhà cửa gì không. Nhưng tất cả đều tối om, tĩnh mịch. Đến gần một giờ sáng, khi tôi đang nằm mơ màng trên ruộng lúa thì nghe có tiếng động. Dường như là tiếng của một loại động cơ nào đó, càng lúc càng gần hơn. Một lúc sau, tôi thấy có ánh đèn từ khu ruộng lúa chay ra. Một chiếc máy cày. Ai đi cày ruộng vào giờ này ? Chưa kịp tìm câu trả lời cho thắc mắc của mình, chiếc máy cày đã dừng lại trước mặt tôi. Qua ánh đèn xe, tôi thấy một người đàn ông trẻ, có lẽ là người Pháp, bước xuống tiến lại phía chúng tôi. Cử chỉ anh ta không phải là một người gian. Tôi yên tâm. Anh hỏi chúng tôi bằng tiếng Pháp, anh nói từng chữ vì sợ chúng tôi không hiểu :

- Chắc là xe các anh bị hư ? Có cần tôi giúp điều gì không ?

Lúc còn đi học, Pháp văn là sinh ngữ chính của tôi. Vậy mà lâu quá không xử dụng, tôi hiểu tiếng được tiếng mất, vừa trả lời vừa ra dấu :

- Xe tôi bị đứt dây cu-roa, khô hết nước, không chạy được nữa.

- Các anh ở tỉnh nào tới ?

- Chúng tôi từ Nauy sang, chứ không phải ở Pháp. Trên đường từ Nice về, thì xe bị hỏng.

Anh bảo bây giờ đã khuya rồi, nhà anh cũng ở gần đây, anh sẽ giúp chúng tôi kéo xe về nghỉ tạm, rồi ngày mai sẽ tính. Tôi mừng rỡ gật đầu. Anh ra dấu cho tất cả chúng tôi lên xe.

Chiếc máy cày kéo xe và chúng tôi chạy lòng vòng chỉ khoảng mười phút thì về đến nhà. Trời tối, tôi không thấy gì ngoài mấy cái nhà khá lớn nằm dưới những tàng cây. Anh đưa chúng tôi vào một gian phòng rộng, mang thêm vài tấm nệm và mấy cái mền mỏng. Một chặp sau anh lại mang vào bánh mì, phô- mát, và một ấm cà phê nóng, rồi chúc mọi người ngủ ngon.

Lạ nhà, nhưng có lẽ vì mệt quá, nên khi chúng tôi thức dậy thì trời đã sáng tự lúc nào. Kim của chiếc đồng hồ lớn treo trên tường chỉ 8 giờ 10 phút. Mở cửa sổ nhìn ra ngoài, tôi mới biết đây là một nông trại khá lớn. Chưa kịp gọi bà vợ và mấy đứa con dậy xem, thì có tiếng gõ cửa. Anh bạn trẻ tốt bụng tối hôm qua đến dắt tôi chỉ khu nhà tắm, nhà vệ sinh, rồi dặn tôi khoảng 45 phút nữa, anh sẽ trở lại đón chúng tôi ăn sáng.

Ngồi vào bàn ăn, anh giới thiệu vợ và hai đứa con nhỏ. Cô vợ khá xinh, vui vẻ, lúc nào miệng cũng cười, vừa nói vừa làm dấu với mấy đứa con gái của tôi.

- Các anh là người Việt nam ? anh ta vừa bưng tách cà phê vừa hỏi.

- Nhưng làm sao anh biết được vì ở Bắc Âu cũng có nhiều người Tàu, người Đại Hàn, người Thái Lan và cả người Nhật nữa? Tôi không trả lời mà hỏi ngược lại anh.

- Tôi không nói được nhưng hiểu một ít tiếng Việt. Bà ngoại tôi là người Việt Nam mà. Mẹ tôi cũng sinh ra và lớn lên ở Việt Nam. Lúc còn sống bà nhớ Việt Nam lắm và thường kể cho chúng tôi nghe những thắng cảnh bên ấy. Đặc biệt, bà thường nhắc đến một thành phố có tên là Đà Lạt. Bà bảo nơi đó thật thơ mộng và có những nơi hò hẹn thật dễ thương cho những cặp tình nhân. Tội nghiệp, bà mới mất hơn hai năm nay, trong một tai nạn xe hơi cùng cô em gái duy nhất của tôi.

Ăn điểm tâm xong, anh đưa chúng tôi vào thăm phòng đọc sách. Một tấm bản đồ Việt Nam thật to treo trên vách. Anh chỉ cho chúng tôi thành phố Đà Lạt mà mẹ anh thường kể cho anh và cô em gái nghe mỗi lần bà nhớ về quê mẹ.

Càng lúc chúng tôi càng thấy gần gũi và thân thiết với gia đình anh bạn trẻ có một chút gốc gác Việt Nam này. Anh bảo vợ anh đưa chúng tôi đi thăm khu nuôi bò sữa và vắt đem về vài lít sữa tươi để chúng tôi dùng thử, trong khi anh lấy xe chạy ra phố tìm mua sợi giây cu-roa để thay cho xe chúng tôi. Mấy cô con gái của tôi rất thích thú khi được cô chủ nhà chỉ cho cách vắt sữa bò. Sau đó chúng tôi vào thăm một vườn nho.

Khi trở về, thì anh ta đã sửa xong cái xe và đang cho máy nổ thử. Thấy chúng tôi, anh cười đưa ngón tay cái lên báo hiệu là xe đã tốt. Anh tắt máy xe và giao chìa khóa lại cho tôi. Tôi chưa kịp trả tiền sợi giây cu-roa và nói lời cám ơn thì anh đã vỗ vai mời chúng tôi ở lại chơi với gia đình anh vài hôm. Anh bảo là lâu lắm anh mới gặp được những người đến từ quê ngoại. Thấy ông bà chủ hiếu khách, phong cảnh ở đây hữu tình, lại có sẵn sữa tươi và rượu nho, bà xã và mấy cô con gái cười nheo mắt nhìn tôi. Tôi hiểu ý và nói với anh là chúng tôi chỉ có thể ở lại một đêm. Trưa ngày mai chúng tôi phải lên đường.

Ăn cơm chiều xong, trời dịu mát, anh đề nghị chúng tôi đi thăm khu vườn cam nằm trên ngọn đồi. Vào vườn cam, chúng tôi có cảm giác như lạc vào một chốn thiên thai nào đó. Những hàng cam thẳng tắp, trĩu vàng những quả, mùi hoa cam toả ra thơm cả một góc trời. Giữa vườn cam là một công viên nhỏ, trồng đủ các loại hoa. Bên kia công viên, ngay giữa đỉnh đồi là khu nghĩa trang nhỏ của gia đình. Vợ chồng anh mời chúng tôi đến thăm mộ của ba má anh và cô em gái. Ba ngôi mộ xây đơn giản, nhưng lại có nét đẹp cổ kính. Trên mỗi mộ bia đều có một tấm ảnh lồng trong khung kiến. Đến trước từng ngôi mộ, tôi cung kính cúi đầu, chấp hai tay trước ngực và đọc thầm từng tên khắc đậm trên bia. Khi đọc đến tên người mẹ: JACQUELINE CUVÉRO GAULTIER - tôi bỗng giật mình. Cái tên này tôi thấy quen quen. Bà mất lúc tròn 50 tuổi. Nhìn tấm ảnh thật lâu, tôi nghĩ đến một người.

Khi về nhà, tôi ngỏ ý muốn xem những tấm ảnh lúc cha mẹ anh còn trẻ. Anh bạn chủ nhà mang đến cho chúng tôi mấy quyển album. Bà xã và mấy cô con gái thì tranh nhau xem quyển album lúc ông bà làm đám cưới và nức nở khen mấy cái áo của cô dâu. Riêng tôi dành lấy tập album cũ với những tấm ảnh đen trắng mà nhiều cái đã ngã màu vàng. Bỗng tôi lạnh người khi xem những tấm ảnh của mẹ anh thời con gái, đặc biệt là tấm ảnh có mái tóc cắt ngắn giống ca sĩ Sylvie Vartan thời cô ta đang nổi tiếng. Chẳng lẽ lại là nàng ? – Không thể nào ! Tôi lắc đầu nói thầm trong miệng.

Năm học lớp đệ nhất trường Võ Tánh, Nha Trang, dù học không giỏi nhưng tôi cũng cố gắng để được trở thành một thằng sinh viên, dù chỉ là loại sinh viên hạng bét, và cũng để khỏi phụ lòng thương yêu, lo lắng của cha tôi, suốt một đời làm gà trống nuôi con. Vậy mà tôi bị một lúc hai cái tai ương. Tự dưng có một nàng con gái, mà lại là con gái đẹp, yêu tôi. Đang ngụp lặn trong tình yêu thì ông Trời phạt tôi : phận nhà nghèo mà lại đèo bồng yêu người đẹp, nên giáng cho tôi một cơn bệnh thập tử nhất sinh. Vì vậy khi bạn bè vác lều chỏng đi thi, thì tôi đang nằm bất động ở nhà thương tư của bác sĩ Thạch ở đường Trần Quí Cáp. Ba tháng sau, khi vừa xuất viện về tiếp tục điều trị tại nhà, tôi nhận được bức thư tạ từ. Người đẹp đi lấy chồng. Tôi bỏ thành phố Nha Trang, bây giờ với tôi là thành phố buồn, vào Sài gòn lang thang kiếm việc làm thuê để có tiền đi học tiếp. Học được ba năm thì tôi vào lính.

Khi chân ướt chân ráo vào Sài Gòn, tôi chẳng có ai quen, ngoài một bà cô họ xa, trước lấy chồng Tây. Chồng chết, bà ở với mấy đứa con mang hai dòng máu ở sau khu tiệm phở Tàu Bay, Tàu Thủy, trên đường Lý Thái Tổ. Tôi không ngờ trong khu này đa số là những gia đình có con lai Pháp, trắng có đen có, được toà đại sứ Pháp cưu mang lo lắng từ việc sinh sống tới việc học hành. Hầu hết đều mang quốc tịch Pháp và được theo học ở các trường Tây Sài Gòn, Đà Lạt. Những ngày cuối tuần tôi thường ghé lại đây chơi. Đang cô đơn ngơ ngác thì được mấy người con của bà cô họ giới thiệu cho tôi nhập bầy với đám Tây lai này. Họ cũng dễ thương và dĩ nhiên là có phong cách tây lắm. Chiều cuối tuần họ thường tụ tập để ăn uống và nhảy đầm. Anh con cả của bà cô họ tôi là trưởng nhóm, chỉ định một cô bé tóc vàng, có mái tóc ngắn và đôi mắt thật dễ thương dạy tôi nhảy đầm và cũng làm partner cho tôi khi có tiệc tùng. Nghe mọi người trong nhóm gọi cô là Sylvie Vartan, tôi cũng gọi theo, nhưng biết vì khuôn mặt và mái tóc của cô giống người ca sĩ Pháp đang được ái mộ này nên bè bạn gọi đùa, chứ đó không phải là tên thật của cô.

Chỉ đi chơi với nhóm một vài lần gì đó, thì tôi vào quân trường Thủ Đức. Hôm lễ gắn alpha, thấy anh em mời thân nhân bạn bè nhiều quá, tôi cũng tủi thân. Gia đình tôi và một số bạn bè thân ở tận Nha Trang, còn ở Sài Gòn này thì tôi tứ cố vô thân. Cuối cùng tôi nghĩ đến ba người con lai Tây của bà cô họ và mời họ đến dự lễ gắn alpha, rồi sau đó cùng đi dự tiệc với tôi. Hôm ấy cả ba người đều đến và còn dẫn theo nàng con gái Sylvie Vartan. Họ rất thích thú với khung cảnh quân trường và sinh hoạt của lính. Ai cũng chụp chung với tôi một tấm ảnh có mang cầu đai alpha.

Sau đó, trong những lần về phép ngắn ngủi, tôi cũng có ghé thăm họ một đôi lần. Đêm ra trường, họ cũng đến dự. Sau đó đưa tôi về Sài Gòn, họ làm một buổi tiệc chia tay tôi, và lần này tổ chức tại nhà cô gái có tên Sylvie Vartan. Gia đình cô không ở trong khu Lý Thái Tổ mà có một biệt thự riêng, khá xinh, nằm trên một con hẻm lớn trên Tân Định.

Tôi không gặp ai trong gia đình của cô hôm ấy, chỉ xem tấm ảnh người cha ruột của cô chụp với mẹ cô khi còn rất trẻ, và cả tấm ảnh chụp gia đình cô bây giờ, với ông cha Việt Nam, một người em gái cũng lai Tây như cô và hai người em nhỏ cùng mẹ khác cha. Mẹ cô có nhan sắc, nên ông chồng mới sau này thuộc lọai nhà giàu. Tôi nghĩ như thế.

Tới hơn hai giờ sáng tiệc mới tàn. Khi nói lời chia tay, không hiểu vì xa họ không biết khi nào gặp lại hay vì nghĩ đến đời lính chiến nay mai trên rừng núi cao nguyên mà tôi chạnh lòng, muốn khóc. Nàng cũng nhìn tôi nghẹn ngào. Khi mọi người đi tìm áo khoác và mang giày, nàng kéo tôi ra phía sau, tặng tôi một tấm ảnh, rồi bất ngờ hôn tôi trên má.

Ngồi trên máy bay ra trình diện đơn vị, bất chợt nhớ đến nàng, tôi mở xách tay ra tìm tấm ảnh. Nàng có mái tóc thật dễ thương, nhìn kỹ đúng là giống cô ca sĩ Sylvie Vartan. Sau tấm ảnh nàng viết một câu ngắn ngủi : À toi, avec tout mon coeur. Phía dưới cô chỉ ghi là người có mái tóc Sylvie Vartan

Nhớ tới nụ hôn bất ngờ tối hôm qua, tôi đưa tay lên sờ má, thấy vẫn còn thoang thoảng một mùi hương. Tôi mỉm cười và nói thầm một mình : Đúng là lãng mạn như Tây.

Tôi ra đơn vị đúng vào lúc chiến trưòng cao nguyên bắt đầu sôi động, cùng lúc nhóm người Thượng Fulro nổi loạn, giết một số sĩ quan, viên chức hành chánh người Kinh, chiếm một vài nơi, đặc biệt là tỉnh Quảng Đức và một vài quận lỵ. Đơn vị tôi đang tiếp viện cho chiến trường Quảng Nhiêu còn mịt mờ lửa đạn ở bắc Ban Mê Thuột thì được lệnh di chuyển về phi trường Phụng Dực, xử dụng máy bay dân sự của hàng không Việt Nam để đáp xuống Nhơn Cơ, một phi trường bỏ hoang nằm cách tỉnh lỵ Quảng Đức khoảng ba mươi cây số, do một đơn vị Lực Lượng Đặc Biệt mũ xanh của ta kiểm soát. Thằng trung đội trưởng mới ra trường như tôi làm sao có khả năng để ứng phó với một chiến trường nửa ta nửa địch, mà trong sách vở quân trường không hề nói tới. Lòng tôi thật băn khoăn. Nhưng cuối cùng thì mục tiêu cuộc hành quân Dân Thắng này cũng đạt được. Đơn vị tôi không hề tốn một viên đạn. Mấy lãnh tụ người Thượng thấy quân chủ lực bao vây bốn hướng, cộng với lời thuyết phục tài ba của vị chỉ huy nào đó, đã ra lệnh cho những lực lượng người Thượng buông súng.

Nằm trong cái tỉnh khỉ ho cò gáy mà dân chúng sống rải rác trong các buôn làng hầu hết là người Thượng, mấy thằng lính trẻ như tôi chỉ có buồn muốn khóc. Ai cũng mong sớm chuyển đi tỉnh khác Vậy mà riêng tiểu đoàn của tôi được lệnh nằm lại đây để giữ an ninh cho dinh điền Đạo Nghĩa nằm trong một thung lũng gần biên giới Cam Bốt. Một trong những dinh điền do tổng thống Ngô đình Diệm sáng lập vừa để thu hút di dân sau 1954, vừa là một trọng điểm chiến lược.

Ra trường đã hơn hai năm. Đời lính cao nguyên thật là vất vả và buồn. Nhiều lúc nằm giữa rừng già, nghe tiếng chim kêu vượn hú, tôi thường chạnh lòng nhớ tới thời còn đi học, và khuôn mặt những người quen. Đôi khi tôi cũng chợt nhớ tới cô con gái lai Tây và lấy tấm ảnh ra xem. Đến bây giờ tôi cũng không biết tên thật của nàng. Mà biết để làm gì. Vì giữa nàng với tôi là cả một thế giới cách biệt. Tôi, một thằng lính trận, gốc gác nhà nghèo, không biết sống chết ra sao. Còn nàng lại là một cô con gái lai Tây, xinh đẹp và quí phái. Nàng quen với tôi, thích tôi một chút, cũng là cái thích lãng mạn của một tiểu thư sống trong thành phố lâu ngày được bất ngờ ra thăm một vùng dân giả, thế thôi.

Ở Quảng Đức gần hai năm, đánh nhau một vài trận, tôi được mấy cái huy chương rồi lên làm đại đội trưởng. Trong mấy thằng đại đội trưởng, tôi là thằng trẻ nhất, và cũng nghèo kinh nghiệm chiến trường nhất. “Ra trường gần hai năm rồi mà trông mày vẫn cứ như thư sinh”. Ông tiểu đoàn trưởng bảo tôi như thế trước khi cho tôi dẫn đại đội “solo” xuống núi biệt phái cho Tiểu khu Lâm Đồng

Đoàn xe chở đại đội tôi vừa vào ranh giới Lâm Đồng, tôi nhận lệnh ông tiểu khu trưởng, trực chỉ đến khu cầu Đại Ngà để giữ an ninh cho công binh làm lại mấy cây cầu trên quốc lộ 20, từ Sài Gòn chạy lên Đà Lạt, vừa bị VC giựt sập hai đêm trước.

Đến vị trí, tôi phối hợp với một đại đội địa phương quân đã có mặt tại chỗ và một đơn vị công binh mới từ Đà Lạt xuống, bố trí quân theo nhu cầu. Riêng ban chỉ huy đại đội cùng trung đội vũ khí nặng nằm trên một đồn điền trà có cao độ tốt cho việc phòng thủ và yểm trợ hỏa lực. Phía duới khu đồn điền này là cầu Đại Ngà, cây cầu dài nhất vừa bị phá hoại.

Sau khi công binh làm xong mấy cái cầu tạm, lưu thông họat động trở lại. Do ứ động mấy hôm trước, nên ngày đầu tiên có khá nhiều xe đò từ Sài Gòn chạy lên Đà Lạt. Hơn nữa bây giờ đang là mùa hè, người Sài Gòn rủ nhau lên Đà Lạt nghỉ mát. Để bảo đảm an ninh, trước khi xe chạy vào khu quân sự, đều phải dừng lại, tất cả hành khách xuống xe để được kiểm soát giấy tờ. Trạm kiểm soát là một căn nhà bằng ván do công binh vừa mới dựng lên, toán quân báo của đại đội tôi phối họp cùng với ba nhân viên cảnh sát đảm trách. Mỗi ngày tôi lái xe đi kiểm tra các cây cầu và thường ghé lại ngồi nghỉ trong trạm kiểm soát này.

Buổi chiều, trời vừa tắt nắng, tôi định trở về vị trí đóng quân, thì một đoàn xe đò chạy tới. “Có lẽ đây là mấy cái xe cuối cùng từ Sàigon lên”. Anh cảnh sát bảo với tôi như thế. Trong số những hành khách xuống xe bước qua cái cổng chắn làm bằng kẻm gai dã chiến, tôi để ý tới một cô gái tóc vàng, mặc một cái jupe màu vàng sậm. Khi cô móc ví lấy giấây tờ, ngước mặt lên nhìn anh cảnh sát, tôi thấy thật quen và vội chạy ra

- À, cô Sylvie Vartan, cô lên đây làm gì ?

Tôi hỏi bất ngờ, rồi quay sang bảo anh cảnh sát : cô này là người nhà của tôi. Anh cảnh sát trao lại cho tôi tấm thẻ căn cước bằng tiếng tây mà anh chưa kịp hiểu.

Cô nhìn tôi cười rạng rỡ :

- Anh là anh Ninh, phải không ? Mấy năm rồi tụi mình không gặp. Em lên Đà Lạt đón cô em về Sài Gòn nghỉ hè. Nó học trên Lycée Domaine de Marie

- Tôi đóng quân trong đồn điền trà nằm trên đồi cao kia. –Tôi vừa nói vừa chỉ tay về hướng đồn điền -. Đẹp lắm, và ông chủ hình như cũng là người Pháp. Mời cô ghé lại chỗ tôi chơi. Tôi sẽ đón chuyến xe sau gởi cô về Đà Lạt.

Cô ngần ngừ một chút rồi gật đầu. Tôi đưa cô lại xe lấy túi hành lý và nói với anh tài xế:

- Cô này là người nhà của tôi, cô ở lại đây chơi với tôi rồi lên Đà Lạt sau.

Anh tài xế trẻ, nhìn tôi nhoẻn miệng cười.

Tối hôm ấy nàng ở lại với tôi. Có lẽ nàng cũng biết là chuyến xe của nàng là chuyến cuối cùng. Chẳng còn có chuyến sau nào để tôi gởi nàng lên Đà Lạt, như lúc tôi hăm hở nói với nàng, mà không biết là mình đang nói dối.

Giữa cảnh núi rừng, nàng đẹp rực rỡ như một bông hoa. Không biết nàng đã nói gì vơí ông chủ người tây, ông dành riêng cho cô một phòng ngủ và mời chúng tôi dùng bữa cơm chiều với ông. Bữa cơm đầy đủ hương vị tây, mà chai rượu chát ông khoe đã gởi mua từ bên Pháp. Sau bữa cơm, tôi đưa nàng đi dạo trong đồn điền trà.

Bây giờ đang là mùa hè, bầu trời trong vắt, ánh trăng tỏa vàng xuống cả một đồi trà. Đêm cao nguyên trời bắt đầu lành lạnh, thơ mộng như một muà thu. Chúng tôi nắm tay nhau bước tung tăng dưới ánh trăng, nghe từng nhịp đâp của trái tim giữa một vùng đất trời tĩnh mịch. Nàng kể cho tôi nghe về một ước mơ của nàng : muốn có lần trở về quê cha, thăm ngôi mộ của người và bà nội già còn đang sống ở đó với mấy người cô. Quê nội nàng đẹp lắm lại là một đất nước với nhiều thi ca lãng mạn. Chúng tôi đã xuống cuối chân đồi, nghe tiếng nước chảy từ một con suối nhỏ. Nàng bảo tôi dừng lại và dìu tôi đến ngồi xuống một bãi cỏ. Bên kia con suối là một cánh đồng cỏ rộng mênh mông

- Anh có thấy gì lạ không ?

Tôi đang ngơ ngác, thì nàng chỉ cho tôi mấy hàng cây bên kia bờ suối

- Bây giờ là mùa hè, mà sao có nhiều lá vàng đang rơi. Anh không thấy sao?

Nàng âu yếm dựa sát vào tôi và hỏi tôi có biết bài thơ Les feuilles mortes của Jacques Prevert không ?

- Lúc học Littérature Francaise, anh có học, nhưng lâu quá, anh chỉ còn nhớ một đôi câu. Bài thơ thật hay và cảm động.

Tôi đã đổi cách xưng hô tự lúc nào không biết.

Nàng cất tiếng khe khẽ hát bài thơ Les Feuilles Mortes được phổ nhạc. Hát xong bài hát nàng chậm rãi đọc lại mấy câu :

Mais la vie sépare ceux qui s’aiment
Tout doucement, sans faire de bruit
Et “le vent” efface sur la “plaine”
Les pas des amants désunis.

Tôi hỏi sao nàng dám đổi lời một bài thơ hay của tác giả. Nàng không trả lời mà ôm tôi hôn thật lâu. Trong say mê tôi cảm thấy có cái gì lành lạnh trên gò má. Tôi sờ tay lên mân mê: nước mắt.

Nàng ôm tôi ngồi khóc, nàng bảo là nàng có nhiều bạn bè, nhưng nàng có cảm tình thật nhiều với tôi từ khi nhìn tôi mặc áo lính. Nàng thấy ở tôi có cái gì khác lạ so với mọi chàng trai lai Pháp mà nàng quen. Và cũng ở nơi tôi nàng được thấy lại hình ảnh của cha nàng. Cũng làm lính cả một thời trai trẻ, rời quê hương, rồi chết sớm ở xứ người bỏ laị mẹ và hai chị em nàng.“Những người con gái mang hai dòng máu. Buồn lắm phải không anh ?” mấy lần nàng hỏi tôi như thế.

Đêm hôm ấy nàng không ngủ trong căn phòng sang trọng mà ông chủ đồn điền đã dành sẵn cho nàng. Nàng ra ngồi trong căn lều phủ poncho của tôi cùng uống trà tươi mà tâm sự thâu đêm. Nàng rủ tôi ngày mai cùng nàng lên Đà Lạt vài ngày để nàng làm thủ tục đón cô em gái về và đưa nàng đi thăm các thắng cảnh thơ mộng ở đây.

Sáng hôm sau, tôi lên máy gọi về trung tâm hành quân tiểu khu Lâm Đồng gặp ông tiểu khu trưởng, xin ông cho ba ngày phép và được xử dụng chiếc xe jeep của TK biệt phái, đón người vợ sắp cưới vừa mới lên Đà Lạt. Tôi tả oán thêm là cả một năm nay, phải tham dự nhiều cuộc hành quân, nên hai đứa chưa được gặp nhau. Ông tiểu khu trưởng tốt bụng, vui vẻ chấp thuận, và dặn dò tôi phải bàn giao công việc thật kỹ càng cho anh đại đội phó.

Ba ngày ở Đà Lạt là ba ngày thần tiên nhất trong đời lính của tôi. Sau khi đưa nàng đến trường thăm cô em gái và làm một số thủ tục cần thiết, chúng tôi lấy phòng ở khách sạn Palace nằm trên một ngọn đồi cao gần hồ Xuân Hương và cách khu phố Hòa Bình không xa lắm. Ban ngày chúng tôi đi tắm ở thác Cam Ly, thăm hồ Than Thở, cởi ngựa ở sân Cù, bơi thuyền trên hồ Xuân Hương. Buổi tối đi ăn bê thui, uống rượu vang, rồi ra nhà Thủy Tạ ngồi tâm tình đến khuya. Ngày hôm sau, chúng tôi rời thành phố. Sau khi thuởng thức cà phê Tùng, chúng tôi chạy về hướng thác Prenn. Nàng chỉ đường cho tôi tìm đến một hotel nằm trên núi, ông chủ cũng là một người Tây. Lấy phòng và gởi hành lý xong, chúng tôi đi bộ xuống thác Prenn, nằm không xa phía dưới. Nàng kéo tôi xuống tắm dưới dòng thác. Hai đứa ôm nhau trong cái lạnh của nước từ trên núi cao đổ xuống. Nàng dắt tôi chạy vào khu rừng phía sau để đùa với mấy con khỉ, con gấu và cả một con cọp nữa trong vườn bách thú. Rồi nàng đi trốn, giả vờ làm nàng Jane mắc nạn để bắt tôi làm Tarzan đi cứu. Nàng hò la và ôm tôi cười vang cả một khu rừng.

Trong ba ngày, nàng đã cho tôi tất cả những gì hạnh phúc nhất mà không đòi hỏi ở tôi bất cứ một điều gì. Hôm cuối cùng, tôi đưa nàng trở lại trường Domaine De Marie để gặp lại em nàng. Ngồi trên xe, nàng trầm ngâm không nói một lời. Đến cổng trường, nàng bảo tôi dừng lại. Nàng hôn tôi thật lâu. Tôi nghe tiếng nàng khóc. Tôi định nói một lời gì đó, nhưng nàng lấy một ngón tay để trên miệng tôi, không cho tôi nói, rồi bảo tôi ngồi yên trên xe chờ nàng. Hơn hai mươi phút sau nàng chạy ra, cầm tay tôi và trao cho tôi một tờ giấy nhỏ, rồi vụt chạy vào phía sau trường. Trên mảnh giấy nàng viết vội vàng bằng tiếng Việt.: Xin cám ơn và tạm biệt anh ở đây. Em và đứa em của em sẽ về Sàigòn vào sáng sớm ngày mai. Anh hãy trở lại đơn vị, đừng chờ và cũng đừng tìm em nữa. Hôn anh.

Tôi vội vàng bước xuống xe, chưa biết gọi nàng bằng tên gì, thì nàng đã mất hút phía sau trường. Tôi ngồi trên xe nhìn thẫn thờ vào khu trường. Tất cả đều vắng lặng, chỉ nghe một vài tiếng lá rơi từ những hàng cây đứng chơ vơ im lìm trước cổng.

Tôi trở lại nhà Thủy Tạ, tìm lại bóng dáng và mùi hương của nàng. Buổi trưa, bốn bề yên lặng. Một con chim lạ, có dáng của một con hải âu, đậu xuống con thuyền bơi phía trước, kêu vài tiếng, vụt cánh bay sà xuống mặt hồ, rồi biến mất trong rừng thông. Cả một khung trời Đà Lạt nhạt nhòa trong nước mắt. Tôi không biết mình đã khóc tự bao giờ.

Tôi lái xe trở về đơn vị mang theo một nỗi buồn kỳ lạ, dường như trong lòng chỉ còn là một khoảng trống bao la.

Suốt đêm hôm ấy, tôi lang thang trong đồi trà, ngồi một mình bên bờ con suối nhỏ, nhìn mấy chiếc lá vàng rơi xuống và trôi theo dòng nước, bàng bạc dưới ánh trăng. Nửa đêm tôi trở về căn lều cũ, đun đầy một ấm trà tươi mà không uống.

Tôi ngủ vùi từ lúc nào không biết. Thức giấc, mặt trời đã lên cao. Tôi vội vã xách xe chạy xuống trạm kiểm soát. Ngồi suốt cả ngày hôm ấy, tôi vẫn không tìm thấy bóng dáng của nàng.

Hai ngày sau, khi thay bộ đồ trận ra giặt, thò tay vào túi áo lấy mọi thứ ra, bất ngờ tôi thấy tấm thẻ căn cước của nàng, viết bằng tiếng Pháp do tòa đại sứ cấp. Tôi nhớ anh cảnh sát đã giao tấm thẻ này cho tôi hôm ở trạm kiểm soát và tôi đã quên trả lại cho nàng. Đến bây giờ tôi mới biết được tên thật của nàng : Jacqueline Cuvéro.

May mắn trong tấm căn cước có cả địa chỉ. Tôi gởi trả lại nàng tấm thẻ căn cước, viết kèm theo bốn câu thơ trong bài thơ Les feuilles mortes mà nàng yêu thích.

Les feuilles mortes se ramassent à la pelle
Les souvenirs et les regrets aussi
Mais mon amour silencieux et fidèle
Sourit toujours et remercie la vie

Tôi phập phồng chờ thư hồi âm, nhưng không thấy. Tôi viết thêm vài cái thư nữa cho nàng nhưng tất cả đều biệt vô âm tín. Ba tháng sau tôi xin bảy ngày phép thường niên về Sài Gòn. Trước khi tìm đến nhà nàng, tôi trở lại khu đường Lý Thái Tổ thăm gia đình bà cô và rủ người anh họ cùng đi. Anh bảo là nàng cùng cô em gái đã về định cư bên Pháp hơn hai tháng nay. Không biết khi nào mới trở lại Việt nam.

Tôi lang thang ở Sài Gòn hai ngày thì lấy xe đò về Nha Trang để thăm cha tôi. Nhưng ngày nào tôi cũng đi lang thang trên bờ biển, nhìn sóng đổ vào bờ cuốn theo tất cả mọi dấu chân mình trên cát, và nhớ đến nàng.

Tôi trở lại đơn vị, đúng vào lúc đại đội tôi nhận lệnh rời khỏi Lâm Đồng để di chuyển về Phan Thiết, tăng phái cho Tiểu khu Bình Thuận, hành quân phối hợp với một đơn vị thiết kỵ của Hoa Kỳ vừa mới đến Việt Nam, giải toả mật khu Lê Hồng Phong.

Kể từ ngày ấy, trên bảng tên may trên nắp áo lính, ngay phía dưới tên tôi, có thêu một chữ nhỏ : Jacqueline, màu vàng. Mấy chú lính bảo sao tôi lại có tên con gái. Tôi giả vờ : tại vì tao ái mộ bà vợ của tổng thống Kennedy.

******
Sáng ngày mai gia đình chúng tôi phải rời nông trại GAULTIER thơ mộng này để trở về Nauy. Vợ chồng anh chủ nhà cùng mấy cô con gái của tôi đang rượt bắt mấy con gà Tây. Anh muốn đãi chúng tôi một bữa ăn Tây truyền thống. Tôi đi lang thang khắp nơi trong khu nông trại, như để cố tìm ra những dấu tích của nàng.

Buổi chiều, khi bà xã và mấy đứa con đang ngồi ở phòng khách, say mê theo dõi một cuốn phim trên truyền hình, tôi một mình lặng lẽ ra vườn cam, rồi vào khu nghĩa địa.

Tôi ngồi trước mộ nàng rất lâu, hình dung lại hình ảnh của nàng trong những ngày cùng tôi trên đồn điền trà ở bên cây cầu Đại Ngà và tung tăng khắp nơi ở bờ hồ, thác Prenn và trong rừng thông Đà Lạt.

Một cơn gió xào xạc, mấy chiếc lá vàng trên tàng cây chầm chậm rơi xuống mộ nàng.

Tôi đưa tay sờ tấm ảnh nàng trên mộ bia, nói thì thầm trong gió :

Et la chanson que tu me chantais
Toujours, toujours je l’entendrai. !

( Và bài hát mà em đã hát cho anh nghe
Mãi mãi, mãi mãi, anh vẫn còn đang nghe đây )

Sunday, July 13, 2008

Nỗi lòng con chiên Sydney
Mai Ly

Đến nay chỉ còn hai ngày nữa là Đại Hội Giới Trẻ khai mạc tại Sydney, ngày 15/7. Người công giáo Việt Nam tại Sydney nôn nóng chờ đợi Đức Giáo Hoàng bao nhiêu thì lại ái ngại cho Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn bấy nhiêu.

Mỗi ngày trên các báo điện tử nhan nhản những bài viết, bài góp ý, lên án lá thơ của Đức Hồng Y thóa mạ cờ vàng. Đặc biệt, những bài lên án có vẻ “nặng ký” nhất lại thường đến từ những hàng giáo phẩm và các con chiên ngoan đạo nhất. Đúng như lời ông Giang Văn Hoan, Chủ tịch Cộng Đồng Công Giáo NSW đã tâm tình trong buổi họp với Cộng Đồng Người Việt và các Hội Đoàn ngày 2/7 rằng: “Lá thư của Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn làm cho các bạn đau một thì đối với anh chị em công giáo chúng tôi, nỗi đau đó còn gia tăng gấp 10.”

Người dân Sydney cũng đã viết thơ thẳng đến Đức Hồng Y George Pell và Ban Tổ Chức World Youth Day trình bầy nội vụ. Câu trả lời của Ban Tổ Chức là: “ Hoan nghênh các bạn cầm lá cờ biểu tượng cho các cộng đồng sắc tộc tại Úc để chào mừng Đức Giáo Hoàng.” Câu trả lời này cũng giống y như câu nhắn nhủ của Ban Tổ Chức đã loan báo ngay cả trước khi lá thư gây sóng gió trên xuất hiện. Câu nhắn nhủ ấy nội dung là: "Mọi tổ chức, mọi cộng đồng sắc tộc được khuyến khích dùng lá cờ, huy hiệu biểu dương tổ chức của mình để nói lên nền văn minh đa sắc tộc của nước Úc khi chào đón Đức Giáo Hoàng”.

Lá cờ biểu tượng cho người Việt tại Úc là lá cờ vàng bao sọc đỏ. Giản dị có vậy. Nước Úc nhận người Việt vào định cư dưới lá cờ này. Căn cước của người Việt tại Úc là lá cờ này. Người Việt nào không chấp nhận lá cờ này thì không nên sống ở Úc, một xứ sở của những người yêu tự do, dân chủ, nhân quyền, nhân bản, công bằng, những thứ “dị ứng” với cờ đỏ đang bị áp đặt tại Việt Nam thân yêu.

Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu và NSW đã chính thức kêu gọi đồng bào Việt Nam biểu dương lá cờ vàng thân yêu vào ngày 20/7, lễ bế Mạc Đại Hội. Dự trù cũng phải vài ngàn người tham dự.

Những trạm dừng chân của Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn và những diễn biến gần đây đều được theo dõi kỹ càng. Đức Hồng Y “họp kín” tại Seattle thay vì dâng lễ đồng tế công khai. Đức Hồng Y “cáo bệnh” không ghé San Jose để dâng lễ trọng thể tại hai địa điểm đông người Việt cư ngụ. Người dân Sydney mừng lắm, lại càng thở phào nhẹ nhõm trước tin Đức Hồng Y sẽ bay thẳng từ Washington DC về Việt Nam.

Nhưng có gì thay đổi vào giờ chót không?

Mọi sự đã lên khuôn! Chỉ cần biết giờ đáp máy bay của Đức Hồng Y đến Sydney là sẽ có một rừng cờ vàng ra đón ngài ngay tại phi trường!! Chuyện này thì ... Cha con nhìn nhau .....ê càng lắm!!

Tôi tin rằng từ trong đáy lòng, các con chiên tại Sydney đều mong rằng Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn ĐỪNG sang Sydney tham dự Đại Hội Thanh Niên Công Giáo. Mong thay!
Sydney 13/7/2008

Blog Archive