Thursday, December 3, 2015

Con Sáo Sang Sông Trên Đất Mỹ




vb2_12-31_3mien
Ba cô kỹ sư ca sĩ dân ca ba miền tại tiệc tất niên Hội người Việt trong công ty Intel. 

Từ bao năm nay tôi có một cái lệ cho riêng mình: sáng đi làm nghe đài radio Mỹ, chiều về nghe đài Việt Nam. Làm hoài thành thói quen, rồi lâu ngày trở thành chuyện tự nhiên, cho tới gần đây tôi mới tự thắc mắc tìm hiểu lý do. Và tôi nghiệm ra rằng mỗi ngày từ khi lùi xe ra khỏi garage là tôi đã chuẩn bị tư thế ứng phó với việc làm. Những câu hỏi đến từ cấp trên và cấp dưới, từ văn phòng cùng dãy tới phía bên kia địa cầu; những buổi họp với người gặp hàng ngày và qua internet với người chưa bao giờ biết mặt; những khúc mắc giải quyết được trong năm phút hay những vấn đề có thể làm công việc khựng lại cả tháng …. chuyện gì cũng có thể xảy ra trong ngày. Sáng sớm khi nghe những tin tức nóng hổi và gắn liền với đời sống chung quanh từ đài radio Mỹ, đối với tôi, giống như người thợ vô dầu mỗi sáng trước khi đề máy. Còn buổi chiều khi công việc đã xong, tôi chọn tiếng Việt để đồng hành với tôi trở về nơi bình an đang chờ đón. Có những ngày đầu óc mệt mỏi, không cần chú ý lắng tai, tiếng Việt thân thương nghe sơ vẫn hiểu, câu nhạc quen thuộc dù bật lên nửa chừng cũng vẫn đầy âm điệu thân mến, du dương…

Một hôm sửa đường, kẹt xe quá sức. Ngồi trên xe nhích nhích, cứ mười phút radio lại báo “quãng xa lộ 237 West dẫn vào Santa Clara vẫn còn kẹt cứng như bãi đậu”, tôi hết muốn nghe. Vói tay nhấn nút chuyển qua đài Việt Nam, bỗng cái gì đó chụp lấy sự chú ý của tôi. Một giọng nói. Không phải là giọng của xướng ngôn viên chuyên nghiệp mà là một giọng nói địa phương miền Trung.

Nghe tiếp tôi mới biết đó là trích đoạn phỏng vấn một giáo dân tại Cồn Dầu, một giáo xứ nhỏ bé ven sông Hàn, Đà Nẵng. Thêm một chuyện công an và chính quyền địa phương thừa lệnh những thế lực bí mật trên cao ngang nhiên đánh dân tới chết để bật gốc họ khỏi khu đất có vị trí đẹp. Người ta muốn biến những mảnh đất đẹp đó thành khu “sinh thái”, thành đô thị thượng lưu, nơi một căn biệt thự trị giá hơn tài sản của hàng chục thế hệ người dân đã đổ mồ hôi nước mắt khai phá và xây dựng chính khu đất đó. Chuyện Việt Nam bao giờ cũng làm tôi đau lòng, suy nghĩ, nhưng lần đó giọng nói mới là điều đưa tư tưởng của tôi đi xa. Giọng Đà Nẵng tình cờ gặp giữa San Jose sao thân thương quá! Cách phát âm đặc biệt, lâu lắm mới được nghe một cách chân chất, không chút sửa sang, gợi lên cái gì nao lòng bàng bạc mà chính tôi cũng không gọi tên được.

Giống như cảm giác chợt nghe một bài dân ca ở thành phố Berkeley, hơn hai mươi năm trước.

Đêm, gió lớn và trời rất lạnh. Mười một giờ thư viện đóng cửa, tôi lầm lũi ra xe đi về. Đi ngang một quán cà phê nhỏ, bụi bặm, tôi chợt khựng chân. Rõ ràng là bài Lý Chim Quyên của Việt Nam thổi bằng sáo! Tôi đứng lặng. Gió thổi rung các cành cây, cả con phố dài chỉ còn bóng tôi quẩy cái ba lô to hơn nửa người, đổ dài dưới ánh đèn đường vàng vọt. Nhưng tôi vẫn thấy ấm cúng và vui. Tôi lẩm nhẩm hát theo 

Chim quyên quầy, quen trái quây… Nhãn lồng … Nhãn lồng ….” Và sực nhớ hôm đó là 29 Tết.

Hồi còn nhỏ ở Sài gòn, thời chiến tranh, Bố Mẹ tôi là nhà giáo nên đủ cơm ăn áo mặc là vui rồi, chẳng dư dả cho con “học đàn, học địch”. Vì theo quan niệm xưa nên Bố Mẹ tôi chỉ muốn chúng tôi học, học, học, chứ không cổ súy chuyện “văn nghệ, văn gừng”. Thỉnh thoảng Bố tôi mới cho nghe nhạc từ vài cái đĩa nhựa qúy. Những bài hòa tấu như Nocturne in C sharp Minor của Chopin, MoonLight Sonata của Bethoveen, Air on G string của Bach đã mê hoặc tôi. Trong trí óc còn non của tôi thời bấy giờ, chỉ có nhạc bán cổ điển Tây phương là hay, là mẫu mực của âm nhạc. Còn mấy bài dân ca “Ví dầu cầu ván đóng đinh…” , mấy bài Lý thỉnh thoảng nghe trên TiVi thì cũng dễ thương nhưng thường quá! Con nít Việt Nam thời đó, có lẽ ít nhiều đều mang tâm trạng “nỗi buồn nhược tiểu”(*). Nói về cô gái đẹp thì phải “đẹp như lai”, nói về lịch sự thì phải “sang như Tây”, còn nét tiểu thư lãng mạn thì phải giống Hàn Ni mong manh bên phím dương cầm trong phim Mùa Thu Lá Bay của Hồng Kông thì mới đủ “quý phái”.

Rồi tôi qua Mỹ, may mắn học được bao nhiêu điều, và càng học tôi càng thấy nước Mỹ là cường quốc thế giới cũng vì họ biết gom cái hay cái đẹp. Từ thời lập quốc, nước Mỹ đã là nơi gặp gỡ của kinh nghiệm và kiến thức đến từ khắp mọi nơi. Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ hiểu rõ hơn ai hết rằng khi những nét văn hóa cộng lại với nhau thì kết quả là một xã hội sinh động, mạnh mẽ, và nhạy bén với mọi thay đổi. Gắn liền với mỗi dân tộc là một gia sản văn hóa độc đáo, vì thế những gì thuần chất là rất quý. Những điều đó, sống ở Mỹ, tôi cảm thấy và hiểu rõ nhưng vẫn chưa in sâu vào óc tôi…

Cho đến một hôm…

Tôi tham dự buổi trình diễn hôm đó vì cháu David con cô em đánh đàn piano rất giỏi. Hôm đó cháu đại diện cho trường trong một buổi trình diễn tài năng học sinh. Ở Mỹ, con nít quả thật là sướng, hầu như gia đình trung lưu nào cũng cố gắng cho con học ít nhất một nhạc cụ. Chương trình chỉ gồm học sinh trung học trong một học khu mà rất các cháu chơi xuất sắc từ những bài cổ điển tới những tấu khúc nổi tiếng đương thời. Cháu David trổ tài chạy ngón bằng bài Nostaliga vũ bão của Yanni, nhìn tay cháu bay trên phím đàn mà tôi ngẩn ngơ thán phục. Nhưng thú thật, toàn là piano với vài bài violin, tới khoảng tiết mục thứ mười lăm là đầu óc tôi bắt đầu rón rén “đi hoang”. Và, ngay lúc đó, người điều khiển chương trình giới thiệu hai chị em họ Nguyễn song tấu bài Hòn Vọng Phu bằng đàn tranh và đàn bầu.

Cây đàn mười sáu giây đi với cây đàn một giây. Hầu như mọi người đều ngồi thẳng lên, lắng nghe vì tò mò về hai cây đàn lạ. Bây giờ kể lại thì … mắc cỡ nhưng hôm đó ngồi nghe mà tôi muốn khóc. Muốn khóc vì bài nhạc Việt Nam nghe không thua gì những bài nổi tiếng nãy giờ, vì cách trình diễn say mê và trang trọng của hai cháu làm tôi thấy quá tự hào. Tới lúc đó tôi mới nhận thấy rằng trên thế giới không có một nhạc cụ nào có thể chơi những câu 

Nơi man khê còn tung gió bụi mịt mùng, Nơi tiêu tương còn thương tiếc ai ngàn trùng, Người đi ngoài vạn lý xa xăm, Người trông chồng còn đứng …muôn năm” ngọt ngào, tình tự hơn tiếng đàn bầu. Tiếng nhạc như bóp vào tim. Khi hai cháu chấm dứt, cả hội trường vỗ tay rào rào. Không phải chỉ mình tôi với nỗi niềm người Việt, mà mọi người đều thấy màn trình diễn này độc đáo nhất.

Tôi để ý nghe dân ca và các nhạc cụ thuần Việt hơn, từ đó. Và tôi thấy rằng mỗi loại nhạc đều có chỗ đứng riêng giống như cội nguồn của chúng là những phần khác nhau trên thế giới. Ngẫm nghĩ cho cùng, cây đàn bầu làm bằng một khúc cây với một sợi dây duy nhất mà vang lên những thanh âm uyển chuyển gần nhất với tiếng người mới quả thật là tuyệt diệu.

Mỗi năm hội người Việt trong hãng Intel đều tổ chức tiệc tất niên. Không chỉ họp mặt ăn uống mà còn trình diễn văn nghệ giúp vui. Toàn “cây nhà lá vườn” nhưng chương trình có đầy đủ ca, vũ, nhạc, kịch và năm nào cũng có ít nhất là một bài múa thuần túy Việt Nam.

Năm đó, để chương trình thêm gần với văn hóa Việt, chúng tôi có một màn dân ca ba miền. Tôi “điếc không sợ súng”, xung phong làm ca sĩ. Chuyện phân chia bài hát cũng đơn giản, nhẹ nhàng. Chị M người xứ Quảng nhưng làm dâu gia đình Bắc Ninh hơn ba mươi năm, rất rành các bài hát quê chồng nên dĩ nhiên chị đảm nhận bài quan họ miền Bắc. Chị P thích một bài có âm hưởng Nghệ An nên hát phần miền Trung, và tôi lãnh vai cô gái miền Nam. Dù hàng ngày nói giọng Bắc nhưng tôi thấy không có chi đáng lo. Ít gì tôi cũng sinh ra ở Tân Định, uống nước từ nguồn sông Đồng Nai mà lớn, nghe cải lương từ bé, và biết nói giọng Sài Gòn. Hát dân ca miền Nam chỉ là chuyện nhỏ, tôi nghĩ vậy.

Vì công việc hãng bận rộn nên chúng tôi đồng ý phần ai nấy tập, cuối cùng mới ráp lại với nhau. Tôi về nhà, lên Internet chọn bài có nhạc sẵn để tập theo. Nghe Bạch Yến hát Lý Ngựa Ô, thích lắm, nhưng hì hục tập rồi tôi mới thấy khó. Âm điệu ngựa ô đi lóc cóc, dồn dập, hát phải thật vững nhịp và trình diễn bài hát vui nhộn này cần phải dạn sân khấu, diễn tả thật linh động, duyên dáng. Lần đầu làm ca sĩ mà phải vừa hát vừa diễn, chắc chắn tôi không đủ sức làm Bạch Yến. Kiếm bài mùi có lẽ chắc ăn hơn…

Nghĩ vậy nhưng bao nhiêu chuyện bận rộn dồn dập, tôi chẳng có nhiều giờ tìm. Tới khi chỉ còn gần hai tuần tôi mới chọn được bài Lý Cái Mơn. Tất tả chạy lên thương xá Grand Century mua một đĩa Karaoke, tôi hối hả tập. Cũng may, bài này không khó. Sau mấy lần tập luyện, ra vô đúng nhịp và hát không sai một note nào, tôi nghĩ sắp xong rồi. Giờ nghỉ trưa tôi hay vào phòng họp, đóng kín cửa, bật nhạc lên vừa ăn vừa nghe Phượng Mai ca thánh thót. Tôi muốn nghe cho nhập tâm, lúc lên sân khấu lỡ có run quá thì còn hát theo … phản xạ.

Một ngày kia, tôi nhờ một người bạn rành về dân ca nghe tôi hát thử. Anh ta lắng nghe rồi góp ý 

Hát bài này muốn hay cần láy cho thiệt mùi và phát âm giọng miền Nam thiệt ngọt… Người miền Nam dễ tính, xuề xòa ngay trong cả giọng nói. Họ phát âm lơi lơi, không cần uốn miệng nhiều. Chữ â, chữ ô đớt đớt, nhè nhẹ chứ không rõ ràng như Khôi An nói…” 

Mấy ngày sau đó, giờ ăn trưa tôi đi dạo trong một bãi đậu xe rộng, ít người qua lại. Nắng đầu Xuân hưng hửng dịu dàng, tôi vừa đi vừa tập hát cho đúng giọng Bến Tre. Trên cành cây, những chú chim ríu rít rồi bay vút lên, lòng tôi cũng bay cao theo câu hát Đôi bờ dẫng nghe chim nhạng tìm nhaaao…

Áp dụng đúng tiêu chuẩn làm việc ở Intel, trước ngày trình diễn chúng tôi phải cho chương trình chạy thử. Màn dân ca ba miền dợt trước năm sáu khán giả, trong đó có một anh từng sinh hoạt văn nghệ lâu năm. Anh nói với tôi 

Khôi An hát được rồi nhưng cần diễn tả thêm. Chỗ như tóc em bay theo lòng thủy chung câu hẹn ngày xưa... em phải hát mềm mại chứ đừng căng thẳng vậy. Em làm được mà! Ráng chút nữa thôi!” 

Tới đây thì bắt tôi đầu lo. Hát dân ca miền Nam lần đầu mà bảo không được căng thẳng, coi bộ anh này nghĩ sau mấy lần vừa ăn trưa vừa tập hát tôi đã hóa thân thành “kỹ sư-ca sĩ”.

Còn hai hôm nữa là tới ngày trình diễn. Áo bà ba đã mượn xong, ngày hôm đó chị H đem cho tôi cái nón lá, thế là đủ bộ. Chiều hôm đó, tôi muốn ráng tập thêm một lần. Đã hơn sáu giờ, phòng lab chỉ còn vài người, nhưng tự nhiên đứng hát thì cũng kỳ. Nhưng nếu bây giờ tôi làm không được với hai người bạn thì làm sao cuối tuần tôi làm được trước hai trăm người? Thế là tôi cắp nón vào phòng lab, mời hai người bạn nghe tôi hát Lý dân ca. Trước hai khán giả mặc lab coat, giữa đám máy móc, tôi mặc quần jean, cầm nón lá, bắt đầu “Đàn cò bay, về nơi thương nhớ…” Tôi tưởng tượng mình là cô thôn nữ hát dưới hàng dừa xanh, trên con đò xuôi trên dòng Cái Mơn. Tôi gởi lòng qua đuôi mắt khi nhắn nhủ thiết tha có sang sông thì chim sáo hát câu hẹn hò làm cô bạn phá lên cười “Coi đưa đẩy ác liệt chưa kìa! Tới lắm!”

Buổi tiệc thành công, ai cũng khen các màn trình diễn. Và tôi tin rằng nếu chúng tôi có quá run mà vấp váp chút đỉnh cũng chẳng ai chấp nhất. Điều quan trọng hơn cả, ai cũng thấy, là các “nghệ sĩ” không chuyên nghiệp đã trình diễn hết sức, hết lòng.

Tôi thật sự không nhớ mình có hát thật đúng giọng miền Nam hay không, không nhớ mình có mỉm cười, liếc mắt khi hát câu hẹn hò hay không, nhưng tôi thấy vui. Vi tôi đã hát dân ca cho mọi người nghe, đã dùng hết khả năng của tôi để nhắn nhủ với bạn Intel rằng dân ca Việt Nam là gia sản quý báu, là một phần làm âm nhạc Việt Nam đáng nhớ trong muôn ngàn thanh âm trên thế giới.

Mới đây tôi nghe cháu David kể lại rằng cô chị đánh đành bầu trong buổi trình diễn năm ấy được nhận vào Stanford. Tôi tin rằng khả năng xử dụng cây đàn độc đáo của cô bé có ảnh hưởng phần nào tới thành quả rực rỡ mà cô đạt được. Bởi vì tất cả các chuyên viên cố vấn cho học sinh (counselors) và các cha mẹ đã trải qua con đường đưa con vào đại học đều đồng ý rằng ở những trường nổi tiếng, cách lựa chọn giữa hàng chục ngàn học sinh xuất sắc là tìm những học sinh có năng khiếu hay thành tích xã hội đặc biệt. Đối với tôi và mọi người được xem hai cô bé biểu diễn, điều cô sinh ra trên đất Mỹ mà xử dụng nhuần nhuyễn một nhạc cụ thuần túy từ quê cha, mà trân trọng nhạc của quê mẹ, đó là một điều hết sức đẹp đẽ và đặc biệt.

Hơn hai mươi năm làm công dân Hoa Kỳ, tôi không còn xem đất nước này là nơi tạm dung hay nơi tôi phải ở vì không có lựa chọn khác. Tôi cảm thấy tôi là một phần của đất nước này, và tôi chia sẻ niềm tự hào, niềm tin Hoa Kỳ - đã từng được chứng minh và lập lại nhiều lần: hoàn thành những sứ mạng khó khăn gần như không tưởng là đặc trưng của đất nước Mỹ, là truyền thống của người dân Mỹ. Tại sao người Mỹ làm được như vậy? Bởi vì họ gom sức mạnh từ các nơi, bởi vì họ hiểu, quý trọng, và phát huy từng cái đặc biệt, từng cái hay của mỗi sắc dân. Ngay từ còn nhỏ, nhà trường đã dạy học sinh tôn trọng sự khác biệt và học hỏi từ người khác bằng những buổi thảo luận, những ngày Diveristy Day.

Người Việt lưu vong như “những phấn hoa tản khắp phương trời” (**). Ở Mỹ, phấn hoa đã rơi xuống mảnh đất vô cùng màu mỡ. Nở thành một nhánh hoa đẹp đẽ, độc đáo hay một bông hoa giông giống các bông hoa khác trong vườn, là tuỳ theo mỗi người. Riêng tôi, tôi mong đó vẫn là những nhánh hoa đầy sắc thái Việt Nam.

Khôi An

(*) Nỗi Buồn Nhược Tiểu: tên bản dịch một tác phẩm của Pearl Buck, nữ văn sĩ Hoa Kỳ được giải Nobel Văn chương năm 1938

(**) Những Phấn Hoa Tản Khắp Phương Trời: tựa bài viết năm 2000 về giải thưởng VVNM của cố nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh (1921 – 2012)

Tuesday, December 1, 2015

Chuyện Tình Đôi Sao


Hà Bắc
Hôm thứ ba 24/11/2015 tại tòa Bạch Ốc, TT Mỹ Obama đã trao tặng huy chương "Medal of Freedom 2015" - loại huy chương dân sự cao quí nhất của nước Mỹ - cho 17 công dân Mỹ xuất sắc trong các lãnh vực khoa học, nghệ thuật, phục vụ công cộng và hoạt động xã hội. Hai trong số 17 người này là cặp vợ chồng ca nhạc sĩ Emilio và Gloria Estefan của ban nhạc "Miami Sound Machine" ở Florida. 

Tên huy chương "Medal of Freedom" đã phản ảnh đúng đối với hai người này; nhất là Gloria Estefan, với lập trường chống cộng sản kiên định và quá trình hoạt động nghệ thuật, chính trị không ngừng của cô; nổi tiếng nhất qua các thành tích: Từ chối sang Cuba hát trong dịp thăm viếng mục vụ của Thánh Giáo Hoàng John Paul II từ 21/1 đến 25/1/1998 theo lời mời của GHCG Cuba; phúc đáp lời mời hát tại Vatican bằng bức thư vạch trần tội ác của chế độ Fidel Castro đối với dân tộc Cuba nói chung, gia đình cô nói riêng; và khi hát thì nội dung sáng tác khiến chế độ cộng sản Cuba phải nhức đầu qua bản "Go Away" bóng gió đuổi khéo Fidel ra khỏi xứ sở của mình! Nhạc họ sáng tác và trình diễn đẹp ra sao thì chuyện tình của họ cũng đẹp làm vậy.

Gloria tên thật Gloria Maria Milagrosa Fajardo sinh ngày 1/9/1957; lập gia đình ngày 2/9/1998 lúc cô vừa tròn 21 tuổi. Vì mẹ cũng tên "Gloria" nên gia đình thường gọi cô là "Glorita", tên "cúng cơm" để phân biệt. 

Chuyện tình của cô bắt đầu từ một đám cưới mà ban nhạc Miami Latin Boys của Emilio Estefan được mướn đến phục vụ; trong đó thực khách Gloria đã lên hát giúp vui vài bài. Cô lúc đó mới 17 tuổi; tánh e lệ nhưng khi lên sân khấu lại khá dạn dĩ vì đã quen hát từ nhỏ. Có thể nói nếu mỗi người Việt là một nhà thơ thì mỗi người Cuba là một ca nhạc sĩ; vì âm nhạc là linh hồn của họ. 

Hôm ấy cô đi ăn cưới với mẹ Gloria Garcia và cô chị em họ tên Merci Murciano. Ban đầu được ban nhạc mời lên thử giọng nhưng cô từ chối. Tuy nhiên bà mẹ lại khuyến khích: "cứ hát đi Gloria; con hát hay đấy!". Thế là cô lên sân khấu và rủ Merci song ca như hai người vẫn từng hát chung bấy lâu nay. Lúc đó cô đang là sinh viên y khoa học bán thời gian tại University of Miami, Florida môn chính thần kinh học; đồng thời làm thông ngôn viên Anh, Pháp ngữ toàn thời gian tại Miami International Aiport.

Bị mê hoặc bởi cặp mắt đẹp, làn da trắng mịn màng và vẻ e lệ trinh nguyên của Gloria, anh nhạc trưởng Emilio đã phải chính thức mời cô gia nhập ban nhạc. Và vì có thêm giọng ca nữ, ban nhạc phải đổi tên là Miami Sound Machine từ 1976. Ban nhạc tuy nổi tiếng nhất trong vùng nhưng còn nghèo nên cô đã thỏa thuận chia tiền cho Merci khi hát chung. Mẹ cô chỉ cho đi hát cuối tuần với Merci vì buộc cô phải tốt nghiệp đại học. Hôm đầu trình diễn dĩ nhiên có bà mẹ và em gái đi hộ tống. Cả hai cô được nhận như ca sĩ hậu bị của ban nhạc. 

Lúc đầu chưa quen với số cử tọa đông, Gloria thường dõi mắt xuống sàn rạp trước khi hát; có lẽ để lấy lại tự tin; sau này được Emilio sửa sai "cứ xem như có một mình tôi trong studio nghe thôi"! Trưởng ban nhạc có lần còn đánh giá "tệ" rằng cô "cần phải tiến bộ thêm 95% nữa!" khiến sau này đã là bồ tèo rồi, Gloria để bụng câu nói và mắng yêu Emilio "bộ anh mê phần khiếm khuyết 5% còn lại của tui chắc!". Việc chọn một giọng ca nữ và là giọng ca chính cũng là một cải tiến mới lạ và chủ trương khác biệt với tiêu chuẩn thông thường của một ban nhạc Latino!

Thời gian này cũng là lúc bố cô phải vào viện dưỡng lão quân đội cho đến khi qua đời tại đó. Ông José Munuel Fajardo từng là hiến binh lái Harley hộ tống cựu Tổng Thống Cuba Fulgencio Batista trước khi Fidel cướp chính quyền hôm 1/1/1959. Ông vượt biên qua Mỹ một tháng sau khi hai mẹ con Gloria đến Miami tháng 5/1960; rồi ông bí mật gia nhập quân phục quốc. Chỉ vài tuần sau khi được thả cùng 1,112 tù binh phục quốc quân hôm 25/12/1962 sau trận Vịnh Con Heo thất bại hồi tháng 4/1961, ông gia nhập ngay U.S. Army; đem gia đình theo đến các trại binh đóng ở San Antonio TX và South Carolina. Khi ông sang Việt Nam phục vụ, vợ con ông phải bỏ trại gia binh để trở lại Miami. Ông rời Việt Nam năm 1967 rồi đóng quân tại Panama Canal; được giải ngũ vì căn bệnh xơ cứng màng tế bào (sclerosis) có lẽ do chất độc da cam ở mặt trận VN.

Sau khi cưỡng chiếm Cuba bằng vũ lực ngày 1/1/1959, nhà độc tài cộng sản Fidel Castro đã mấy lần thách thức tuyên bố cho tự do di dân nhưng thực tế dân chúng không còn tiền để hối lộ quan chức CS địa phương sau khi bị tước đoạt hết tài sản qua hình thức đổi tiền và các hình thức trưng thu, quốc hữu hóa khác; do đó không mấy ai đi được. 

Lần đầu với chiến dịch "Pedropan" từ 1960-1962 di tản 14,000 trẻ em mà một nửa là đoàn tụ, nửa kia tìm cha mẹ Mỹ nhận nuôi. Sau vụ hỏa tiễn Nga ở Cuba tháng 10/1962, việc di dân bị gián đoạn đến 1965 mới có chiến dịch "Freedom Flights" kéo dài đến 1970. 

Đến 1980, Fidel buộc phải hứa nữa; tạo nên chương trình "Mariel Boatlift" đưa được khoảng 125,000 người đến Florida. Nhưng gia đình ông anh José "Papo" Estefan của Emilio không nằm trong số này mà phải bay qua Costa Rica rồi đến Mỹ vài tháng sau đó bằng đường bộ.

Emilio nói với mẹ là anh không có tình ý gì với cô ca sĩ; chỉ muốn ban nhạc lớn mạnh, thành công và bền vững để tạo sự nghiệp; không muốn trục trặc hay tan rã vì sì-căng-đan tình ái. Thế nhưng qua thán phục nhau, tình cảm của hai người ngày càng lớn dần và sâu đậm. 

Nhân một dịp lễ July Fourth, ban nhạc Miami Sound Machine được mời trình diễn trên một chiếc cruise du lịch. Trong giờ giải lao, Emilio nói dối hôm đó là "sinh nhật" của mình để có cớ xin Gloria cho mình một nụ hôn làm quà. Dĩ nhiên cô từ chối theo phản xạ của con nhà gia giáo; rồi cười nói "Không, em sẽ tặng anh một món quà". Nhưng áp dụng chiến thuật "đỉa đeo" cố hữu và lợi hại của nam giới, Emilio nài nỉ "chỉ một nụ hôn thôi mà; nhiều nhặn gì đâu!". Thế rồi Gloria bèn lưỡng lự, dè dặt đưa môi hôn vào cái bẫy má người có birthday giả, kẻ "giả hình" kia đã chớp lấy cơ hội ôm hôn người đẹp thắm thiết!

Cha mẹ của Emilio thấy Gloria thì chịu liền; nhất là bà nội của anh. Tuy nhiên mẹ của cô thì dè dặt và ái ngại cho việc học của con mình nên ra điều kiện tiên quyết rằng Gloria phải tốt nghiệp đại học; mọi chuyện khác chỉ là thứ yếu. Bà e rằng Emilio chỉ là một anh nhạc sĩ quèn; không xuất thân từ đại học, tương lai "không đi tới đâu"; "xướng ca vô loại" làm sao bảo đảm cuộc sống cho con gái bà?! 

Emilio ban đầu định từng bước lấy lòng bà "mẹ vợ" tương lai khó tính; dĩ nhiên không phải dễ trong hoàn cảnh anh phải dậy mỗi ngày từ 5 giờ sáng; vừa phải làm thư ký quảng cáo ở Bacardi suốt ngày; chiều đi học và làm mướn đủ nghề rồi tối còn phải đi đàn đến khuya. Emilio sống qua ngày; đi làm bằng xe đạp; bữa ăn thường là lon sữa và mấy cái bánh doughnut - loại bánh tầm thường mà nay là triệu phú rồi vẫn còn ghiền! Nhưng rồi anh dùng chiến thuật tập trung đánh vào "mặt trận" chính đối diện; quan trọng và cần "tiếp quản" càng sớm càng tốt; còn "mặt trận miền Tây" - bà già vợ kia - chỉ cần "vẫn yên tĩnh" là ô-kê!

Thế rồi vài ngày trước lễ Valentine 1978 tại nhà cha mẹ anh, Emilio thủ sẵn chiếc nhẫn hỏi trong túi quần; định sẽ tặng Gloria và hỏi cưới đúng vào ngày ấy nhưng vì nôn nao sốt ruột quá; thừa dịp Gloria đang ngồi thân mật tiếp chuyện mẹ mình, anh rút nhẫn ra tặng nàng. Gloria mở hộp nhẫn ra xem, cười và choàng tay qua ôm mẹ anh rồi bước sang ôm anh; một hình thức "say Yes" tế nhị. 

Mùa xuân năm sau, Gloria tốt nghiệp ưu hạng ra trường University of Miami; đồng thời cũng được nhận vào Sorbonne, Université de Paris ở Pháp nhưng bỏ không theo học mà cùng Emilio giốc hết thì giờ vào việc kiện toàn và phát triển ban nhạc. Emilio định làm đám cưới linh đình với một ban đại hòa tấu nhưng mẹ vợ cản ngăn; nại cớ bệnh tình của bố cô đang ở thời kỳ nguy kịch nhất.

Rồi một đám cưới đơn giản diễn ra hôm 2/9/1978 khi Gloria vừa tròn 21 tuổi. Cô dâu Gloria hiên ngang tiến bước vào thánh đường một mình; nói rằng không người đàn ông nào trên cõi đời này xứng đáng thay thế ông bố anh hùng để dẫn mình vào cung thánh theo đúng nghi lễ. Vị linh mục chủ tế hiểu ý nên đã rời bàn thánh xuống dẫn cô dâu đến với chú rể khi cô còn cách đó vài bước. Vị chủ tế già này cũng chính là vị chủ lễ hôn phối cho cha mẹ cô 22 năm về trước ở Havana, Cuba; khi quốc gia này còn tự do, dân chủ và thịnh vượng. 

Sau thánh lễ, cô dâu chú rể lặng lẽ rời thánh đường đến thẳng viện dưỡng lão quân đội Mỹ. Ông José Manuel Fajardo sau suốt nhiều tháng năm không nói một câu; nay thấy con gái lộng lẫy trong lễ phục cô dâu ngày cưới mới thốt lên "Glorita!" một cách yếu đuối từ trên giường bệnh như một lời chúc phúc súc tích nhất mà một người sắp lìa đời có thể làm nổi! Ông mất năm 1980 sau 13 năm dài chiến đấu với căn bệnh bất trị. Sau đám cưới mấy tuần, Gloria theo chồng về Santiago thăm gia đình anh chồng "Papo" còn kẹt lại "thiên đường cộng sản" Cuba.

Khác với ông bố tận tụy và anh hùng của Gloria, bố của Emilio suốt đời chỉ mê cờ bạc; không phải để kiếm tiền nuôi gia đình mà chỉ kiếm tiền để...gỡ! Có lần Emilio dành dụm được $1,200 định để mua trang bị lập nhà may và lo cho mẹ vé máy bay qua Mexico; đã bị ông bố lấy đi "nướng" hết sạch! Do đó gánh nặng gia đình đè lên hai vai người con trai 17 tuổi ngay từ khi hai bố con sang Mỹ tỵ nạn cộng sản qua ngả Madrid, Spain hồi tháng 2/1967. Do đó có lần ở Mỹ ông bố thắng ván bài lớn, Emilio phải giấu bớt một nửa tiền vào bao da đựng đàn để làm vốn sang tiệm may cho bố mẹ anh có công việc làm. Bà mẹ anh không cho gia đình tổ chức mọi tiệc birthday; thậm chí tiệc Noel; nại cớ gia đình ông con trai cả "Papo", giáo sư đại học Santiago môn năng lượng, còn kẹt lại Cuba mà vợ lại mới chết.

Emilio Estefan sinh ngày 4/3/1953 tại Santiago, cái nôi cộng sản của Fidel Castro ở Cuba. Anh từng chứng kiến cảnh Fidel đứng trên ban-công tòa thị sảnh tuyên bố chiến thắng hôm 1/1/1959, ngày đổi đời định mệnh cho gia đình anh và toàn dân xứ này. Bố Emilio Capetillo Estefan gốc Lebanon và mẹ Carmen gốc Spaniard là thương gia ngành may mặc nên tài sản, hãng xưởng và trang bị máy móc đều bị "giải phóng" toàn bộ; trắng tay như dân Saigon bên kia bán cầu 16 năm sau đó! Bà mẹ Carmen phải đi tỵ nạn CS qua ngả Mexico bằng máy bay rồi trốn qua Houston TX bằng đường bộ gian khổ năm 1970. Ông bà nội Jalin và Julia gốc Lebanon. Ông bà ngoại Antinio Gomez và Carmen Vasquez từng làm cho hãng rượu Bacardi nổi tiếng ở Spain và đã được chủ hãng Don Emilio Bacardi đích thân đứng ra làm chủ hôn cho hai người thời kỳ mới di cư sang Mỹ.

Emilio đàn accordion từ hồi 7 tuổi ở quê nhà; đến năm 17 tuổi ở Miami, anh phải nhờ ông dượng, chồng bà dì Javivi tốt bụng - người đã gởi từng gói thực phẩm và tiền bạc chắt chiu cho cha con anh từ Mỹ - đứng ra cosign mua trả góp chiếc accordion giá $277; mỗi tháng trả $17.58. Khi mới qua Mỹ, anh xin vào trường học nhạc; bị từ chối vì quá tuổi vì tuổi để nhập học từ 11 trở xuống. 

Sau thời gian hình thành hồi thập niên 1970s với Agustincio, Pundi, Carlitos, Danielito; và bổ sung hồi thập niên 1980s với Rafael Vigil, Joe Galdo, Lawrence Dermer; và nhất là sau ngày cưới, khi Emilio ngừng đàn để tập trung vào công việc điều hành và quản lý ban nhạc Miami Sound Machine nay có thêm những tay cự phách như Marcos Avila (bass), Kiki Garcia (trống) và Raul Murciano (saxo và keyboard), người đã cưới Merci và sau bất đồng - đòi trình diễn lời Anh ngữ nhiều hơn - đã cùng vợ rời bỏ ban nhạc. Gloria và Emilio cũng đã đào tạo và hỗ trợ nhiều đồng nghiệp nổi danh như Carlos Ponce, Jon Secada, Shakira Mubarak...

Khi hạnh phúc đến tràn đầy với hai con Nayib và Emily đồng thời định sẽ sanh đứa thứ ba - bất thành vì tai nạn; khi sự nghiệp lên đến tuyệt đỉnh tiền tài và danh vọng thì cũng như một định luật của tạo hóa, Gloria gặp vận xui - một dịp nữa để cô chứng tỏ nghị lực và can trường: Tháng 3/1990 sau khi rời White House theo lời mời của TT George Bush (bố), gia đình vợ chồng cô đi New York bằng tourbus để dự cơm tối với đồng nghiệp Toomy Mottola. Hôm sau trên đường đến Syracuse qua ngả Pennsylvania, xe bus của họ đã bị một xe vận tải đụng ngang hông rất mạnh. Không ai trong xe bị thương nặng nhưng Gloria bị ngất xỉu phải vào Scranton Hospital gần đó để cấp cứu. Khi được xác nhận là gãy cột sống, cô được không vận về New York để giải phẫu và uốn đốt xương sống bằng nẹp kim loại titanium với tiên đoán của bác sĩ rằng sẽ bị bại liệt suốt đời.

Nhưng lạ thay, với lời cầu nguyện, ý chí và nghị lực; với niềm yêu đời, yêu nghề và đức tính kiên trì nhẫn nại, cô đã nhanh chóng bình phục và xuất viện chỉ sau hai tuần điều trị. Danh ca người Spaniard, Julio Igosias đã cho mượn máy bay riêng để Gloria về nhà làm therapy tại chỗ dự trù kéo dài 6 tháng. Mỗi ngày cô phải tập ngồi, tập đứng rồi tập đi; từ lẫm chẫm từng bước ngắn đến bước dài. May thay, căn nhà hai tầng mới xây ở Star Island trong Biscayne Bay có gắn thang máy do sáng kiến của chính cô; dự trù để cho bố xử dụng sau khi bình phục nhưng bố đã nhường cho cô con gái dùng đúng lúc. Chả thế mà mới 4 tháng, cô đã cùng gia đình đi được đến studio của mình.

Có lẽ Gloria với nghị lực mạnh cá biệt sẵn có cộng với tấm gương kiên trì nhẫn nại học được của hai danh ca Julio Igosias và Edith Piaf - hai người đã từng bị tai nạn xe thảm khốc như cô - đã hồi phục nhanh ngoài dự liệu của bệnh viện. Trong lúc có mặt tại studio, Emilio lục trong túi quần thấy có tấm giấy nhỏ; có lẽ sống sót qua nhiều trận lốc xoáy nước của máy giặt nhưng vẫn còn dòng chữ đọc được "Coming out of the dark". Nhận thấy đây là dấu hiệu của vận may; vả lại, tình yêu nồng nàn và cảm hứng cao độ đã khiến họ sáng tác bản nhạc cùng tên để rồi chưa đầy một năm sau, hồi tháng 1/1991, Gloria đã bình phục hẳn và trở lại sân khấu; lộng lẫy trong trang phục nhung gấm và hát xuất thần bản nhạc ấy trong đêm phát giải American Music Awards!

Thế rồi họ mua cổ phần của NFL tháng 1/2009; rồi bản nhạc "Monday Night Football" ra đời. Họ mua Cardozo Hotel có Cardozo Bar & Grill; xây hồi thập niên 1930s cũng trên Ocean Dr. rồi tân trang và đổi tên thành "Costa d'Este (East Coast) Beach Resort" với ngụ ý "Este" là chữ tắt của tên dòng họ "Estefan" của mình. Họ mở "Bongos Cuban Café" nổi tiếng và nhiều chi nhánh cho đến nay. Họ có cổ phần trong Sony, Pepsi, AT&T, Starbucks. Họ lập Estefan Enterprises, Crescent Moon Records, Sony Worldwide Artist Development để gây vốn. 

Họ lập "Gloria Estefan Foundation" năm 1993 để gây quy giúp người tỵ nạn CS đồng hương Cuba ở trại tỵ nạn Guatanamo, bệnh nhân bại liệt, học sinh nghèo, thương phế binh Mỹ, nạn nhân các trận bão lụt Andrew, George, Katrina,..vv.. Sau ngày 11 Sept. 2001, họ tổ chức sân khấu với 60 nghệ sĩ nổi danh đồng ca "El Ultimo Adios" gây quy cho American Red Cross giúp nạn nhân khủng bố Hồi giáo.

Họ là thượng khách của TT Nelson Mandela (S. Africa), TT Bush bố và Bush con, TT Clinton, TT Obama, vua Juan Carlos và hoàng hậu Sophia (Spain), tỷ phú Donald Trump. Tên ban nhạc "Miami Sound Machine" của họ được đặt cho một đại lộ của thành phố. Emilio được tặng Star trên Hollywood Walking Fame. Cơ quan Ellis Island Foundation công bố giải "Ellis Island Family Herritage Awards" đã tặng gia đình Estefan chứng chỉ "B.C. Forbes Peopling of America Award" dành cho các gia đình di dân qua ngả hải cảng miền đông, nơi có tượng Nữ Thần Tự Do.

Họ được tặng nhiều giải American Grammy Awards, nhiều giải Latin Grammy Awards, nhiều bằng Tiến Sĩ Danh Dự, giải Pop Songwriter of the Year... Gloria đoạt giải Alma Awards về thành tích "thành tựu trọn đời" về âm nhạc. Mỗi lần nhận giải, họ luôn nói "cám ơn" nước Mỹ; hoặc bạn họ nói cám ơn "Columbia, Mexico..." nhưng không ai nói "cám ơn" Cuba với chế độ cộng sản độc tài đang thống trị, cướp của giết người và xua đuổi công dân để chiếm đất nước làm của riêng như CSVN. 

Họ cũng hiến tặng rộng lượng tài vật cho nạn nhân chiến tranh, nghèo đói, thiên tai và bệnh tật qua nhiều tổ chức từ thiện và quốc gia. Gloria định nghĩa "rộng lượng" không phải là "có bao nhiều và cho bao nhiêu"; mà là "có bao ít và cho bao nhiều"? Đặc biệt họ suốt đời tạ ơn nước Mỹ, quốc gia đã cưu mang họ và ban cho họ các vốn liếng quí giá của con người là nhân phẩm, cơ hội và nhất là Tự Do; những thứ đã bị chế độ hai anh em Fidel và Raul Castro tước đoạt mất từ tay Thượng Đế.

Cho nên đối với bọn độc tài cộng sản đang đứa "ngủ" ở Cuba và xin Mỹ bỏ cấm vận, đứa "thức" ở Việt Nam xin mua vũ khí sát thương; thay phiên nhau ngày đêm canh chừng để cướp của giết người và bán nước - như tên "chủ tịch" nước VC Nguyễn Minh Triết đã lố bịch mô tả một cách trào phúng - thì Gloria và Emilio Estefan không thèm bố thí; dù chỉ một xu! Cương nghị là thế! Lập trường bất di dịch là thế! Tầm vóc Gloria và Emilio Estefan là thế! Vĩ đại và đáng ngưỡng mộ là thế! 

Ngoài cặp vợ chồng Estefans, 15 người kia gồm: Barbara Streisand, Steven Spielberg, Stephen Sondheim, James Taylor, Itzhak Perlman, Willie Mays, Katherine G. Johnson, Bonnie Carroll, Sen. Barbara Mikulski, Rep. Lee Hamilton, William Ruckelshaus, Yogi Berra, Shirley Chisholm. Billy Frank Jr và Minoru Yasui do thân nhân thay mặt lãnh thế vì họ đã qua đời. Ruckelshaus đến từ Washington State.

HÀ BẮC
(tham khảo hồi ký của Emilio Estefan, The Washington Post và The Associated Press)
Tiết Lộ Mới Về Mặt Trận


Ký giả Nguyễn Xuyên
2015.11.30


Lần đầu tiên sau 14 năm lặng thinh, tổ chức thường được gọi tắt là "Mặt Trận - Mặt Trận Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh" đã chính thức xác nhận cái chết của các chiến hữu hàng đầu của họ cho dù từ năm 1987 đã có nhiều hình ảnh vàtin tức loan tải về những nhân vật này bị tử thương trong các trận đánh tại miền nam nước Lào.

Tuy nhiên đối với ông Hoàng Xuân Yên thì "chuyện này tôi biết chính xác từ lâu rồi."
Ông Yên cho biết như vậy trong cuộc phỏng vấn đặc biệt dành cho Việt Mercury, một ngày trước khi có cuộc họp báo tại khách sạn Double Tree thứ Bảy vừa qua.
Ông là một trong hai phóng viên nhiếp ảnh và truyền hình được vào xem tận mắt điều được Mặt Trận gọi là "chiến khu giải phóng" năm 1981. Thiên phóng sự "Tôi Về Thăm Chiến Khu Vùng Giải Phóng" ký tên Hoàng Xuyên đăng trên báo Văn Nghệ Tiền Phong đã gây được tiếng vang lớn khi từ 1,000 số báo hàng tuần đã tăng vọt lên 15,000 số phát hành dạo đó.

Ảnh viettan.org
Tuy nhiên khi tiết lộ thêm những chi tiết mới với Việt Mercury, 20 năm sau khi bài phóng sự được đăng tải thì câu hỏi được đặt ra là tại sao đến bây giờ ông mới lên tiếng.
"Trong giới bạn bè thân hữu, tôi đều có nói hết những điều tôi biết về Mặt Trận và hồi nào giờ báo chí không hỏi thì tôi nói cho ai," ông Xuyên trả lời vắn tắt.
Lên Đường Vào Chiến Khu
Là một trong những người Việt tỵ nạn đầu tiên đến Mỹ khi được hãng truyền hình NBC - mà ông cộng tác trong 11 năm liền đưa ông và gia đình di tản thẳng từ Sài Gòn đến đảo Guam vào tháng Tư năm 1975, ông Hoàng Xuyên không muốn gì hơn là có một cuộc sống ổn định tại quê hương mới. 
Tuy nhiên vốn là một chuyên viên quay phim chuyên nghiệp và là bạn với ông Phạm Văn Liễu, từng là người đứng đầu ngành cảnh sát Sài Gòn và là nhân vật số hai của Mặt Trận nên hai yếu tố này đã khiến ông trở thành nhà báo duy nhứt được vào thăm "chiến khu giải phóng," nhiều năm sau đó. Định cư tại bang Maryland trong vài năm, ông và gia đình dọn về San Jose. Ông dạy học tại trường Overfelt cho đến khi hưu trí năm 1995.
Chính tại San Jose, thành phố sau này được mệnh danh "thủ phũ đấu tranh" của người Việt tỵ nạn, ông Hoàng Xuyên đã được ông Liễu mời vào chiến khu để tường trình về các hoạt động kháng chiến giải phóng Việt Nam.
"Tính hiếu kỳ của một nhà báo đã làm cho tôi rất mong được đi cho biết sự thể ra sao khi mà phong trào Mặt Trận đang ngày càng dâng cao tại khắp nơi có người Việt tỵ nạn."
Hướng dẫn đã có tổ chức lo, còn chi phí thì báo Văn Nghệ Tiền Phong bao hết vậy "tội gì không đi."
Ngày 22 tháng Hai, 1982 ông Hoàng Xuyên lúc đó đã 65 tuổi cùng với Nguyễn Ngọc Ấn làm cho hãng CBS, ông Trương Bổn Tài, một sinh viên và ông Phạm Văn Liễu cùng đáp chuyến bay từ San Francisco đến Bangkok, Thái Lan.
Ông Hoàng Xuyên cho biết đoàn người phải nằm chờ cả tuần lễ để đợi giấy phép của một viên tướng Thái Lan mới được vào khu rừng thuộc tỉnh Ubon, nơi có đặt bản doanh của "Kháng Chiến."
"Vào thời đó, mỗi tướng lãnh Thái có toàn quyền trong một lãnh vực kinh doanh; người thì nắm các nhà tắm hơi, người thì nắm sòng bài và người thì nắm một khu rừng để khai thác gỗ và bất cứ ai muốn đặt chiến khu chỉ cần đóng 10,000 đô la lệ phí và mỗi tháng thêm 2,000 đô la nữa cho viên tướng này là được cấp giấy phép hoạt động kháng chiến."
Sau cùng thì mọi việc cũng xong, đoàn người tiến vào rừng và được khoảng 10 người của Mặt Trận đón tiếp và hướng dẫn đường đi. 
"Phải mất hai ngày một đêm đường rừng mới đến được nơi đặt chiến lũy của ông Hoàng Cơ Minh."
Sau một đêm nghỉ ngơi là buổi trình diện các chiến hữu trong lực lượng kháng chiến và đọc bản cương lĩnh chính trị của Mặt Trận. Vào hôm đó có khoảng 40 thanh niên lấy từ các trại tỵ nạn ra.
Trong khi len lỏi vào hàng quân để chụp hình, ông Xuyên cho biết đã hỏi chuyện những người đứng phía sau thì ông rất ngạc nhiên thấy rằng chẳng ai trả lời.
Sau đó có một người nói được tiếng Việt cho ông biết những người Lào được thuê để đứng phía sau cho đông.
Ông còn hỏi thêm mấy nhân vật quan trọng trong tổ chức về lực lượng kháng chiến quân thì người trả lời là 400, người trả lời là 500, có người còn cho biết tổ chức có nhiều chiến khu khác nhau. 
"Họ nói lung tung không sao kiểm chứng được."
Điều gây ngạc nhiên hơn nữa cho ông Xuyên là khi vừa xong buổi lễ tuyên bố bản cương lĩnh vào khoảng 12 giờ trưa thì tất cả được yêu cầu ra về ngay lập tức "vì lý do an ninh."
Ông Xuyên nói tiếp rằng ông lại càng thêm bất ngờ khi đi vô chiến khu thì mất hai ngày một đêm khi đi ra thì không đầy ba tiếng đồng hồ đã về đến khách sạn.
"Họ dắt đi vòng vòng trong rừng để gây ấn tượng, thực ra thì trại cũng đâu đó sát bìa rừng," ông Xuyên nói.
Mất Niềm Tin
Sau khi nhìn thấy những cảnh tượng như một màn kịch được bày ra để quay phim chụp hình thì ông Hoàng Xuyên cho biết ông không còn tin tưởng gì vào thực tâm "kháng chiến giải phóng chế độ cầm quyền tại Việt Nam" như được nghe nói trước khi lên đường qua Thái Lan. Tuy vậy ông chỉ để bụng và không phê bình.
"Tôi nghĩ bước đầu tổ chức nào cũng có những khó khăn, ngay cả tổ chức của Việt Minh khi còn sơ khai cũng vậy thôi. Vì thế tôi quyết định không viết bài phóng sự như đã hứa với Văn Nghệ Tiền Phong."
"Viết hết sự thật thì mang tiếng không ủng hộ một mục tiêu cao quý, mà viết sai thì mang tiếng với lương tâm một phóng viên." 
Cuối cùng thì bài phóng sự đăng chín kỳ liên tiếp trên báo Văn Nghệ Tiền Phong cũng thành hình.
"Quả thật hình ảnh và bài viết của tôi đã giúp Mặt Trận vận động thêm được rất nhiều niềm tin và sự ủng hộ trong quần chúng." Đó là thời kỳ đâu đâu người ta cũng thấy hộp gây quỹ yểm trợ kháng chiến.
"Chính tôi cũng đã đóng góp mỗi tháng 30 đô la trong hai năm liền cho tổ chức."
"Khí thế dâng trào, lòng người đều có chung một quyết tâm: giải phóng quê hương, tôi cũng có ước nguyện đó," tác giả Hoàng Xuyên cho biết.
Cho đến nay không ai biết Mặt Trận đã thu được tổng số bao nhiêu tiền.
Chia Tay
Năm 1983 trong cuộc họp báo tại miền Nam California, lãnh tụ Hoàng cơ Minh cho biết "Mặt Trận có 10,000 quân với đầy đủ vũ khí đang hoạt động tại vùng biên giới," và đó là câu nói làm ông Hoàng Xuyên dứt khoát chia tay với tổ chức mà ông cho rằng đã "bịa đặt quá sức."
Sự chia tay đó có thể ảnh hưởng đến tính mạng, nên ông cho biết đã "xin giấy phép và mua súng phòng thân sau khi có nhiều người liên hệ đến nhóm này bị giết chết."
Người ta tin rằng Mặt Trận đã nhúng tay vào vụ giết hại năm nhà báo Việt Nam trong thời gian từ 1981 đến 1990 nhưng cho đến nay chưa có ai bị đưa ra trước pháp luật và Mặt Trận vẫn bác bỏ những lời cáo buộc này.
Trong cùng lúc ông Phạm Văn Liễu người bạn thân đã đưa ông Hoàng Xuyên đến gần với tổ chức chống cộng gây nhiều tiếng vang nhứt, cũng rút lui sau khi muốn biết rõ những khoản chi thu của tổ chức, theo lời ông Xuyên.
"Tuy là nhân vật đứng hàng số hai sau Hoàng Cơ Minh nhưng ông Liễu không hề biết gì về các khoản tiền quyên góp nên tôi khuyên ông ta rút lui để khỏi mang tiếng."
Ông Phạm Văn Liễu còn có bí danh Trần Trung Sơn hiện đang ở Texas và không muốn trả lời phỏng vấn của Việt Mercury.
Cái Chết Của Hoàng Cơ Minh
Theo những người Việt sống tại Thái Lan cho biết thì chi tiết về cái chết của ông Hoàng Cơ Minh không như báo chí đăng tải.
Họ nói rằng trong khi di chuyển từ Thái Lan đến Hạ Lào (vì Thái Lan không cho đặt chiến khu nữa do lời phản kháng của Hà Nội) ông Hoàng Cơ Minh và nhóm của ông đã bị quân Pathet Lào và quân Việt cộng phục kích vì bị nội phản. Một số người sống sót chạy sang Việt Nam cũng bị bắt luôn.
Cái chết của nhân vật đứng đầu tổ chức, sự rạn nứt trong nội bộ cùng các cuộc điều tra của cơ quan liên bang Mỹ đã đưa đến sự suy sụp dần dần của tổ chức mà những người còn lại cho rằng "lui vào bóng tối để củng cố hàng ngũ."
Ông Hoàng Xuyên cho rằng có thể lúc đầu ông Minh có lòng thật sự muốn kháng chiến lật đổ chế độ trong nước nhưng sau đó thấy khó khăn quá nên buông xuôi.
"Tôi rất phục tinh thần yêu nước của tổ chức này, nhưng muốn làm nên chuyện đòi hỏi nhiều yếu tố khác chứ không phải chỉ lập chiến khu, quyên góp tiền bạc và ra quân là đủ," ông nói.
Ông còn cho biết thêm rằng vì Mặt Trận đã để quá lâu mới xác nhận cái chết của các thủ lãnh nên chỉ chuốc thêm sự nghi ngờ vào lòng quần chúng.
Bây giờ có nói gì thì người ta cũng đặt câu hỏi.”

Mười chuyện tiếu lâm hay nhất thời Liên Xô do báo The Times (Anh) bình chọn...

PHẠM NGUYÊN TRƯỜNG DỊCH

BẢN DỊCH ĐƯỢC THỰC HIỆN NHÂN KY NIỆM CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA

Giải nhất:

Ba công nhân vừa bước vào nhà tù, hỏi nhau vì sao bị tù. 
Người thứ nhất: “Ngày nào tôi cũng đi muộn 10 phút, họ bảo tôi phạm tội phá hoại”. 
Người thứ hai: “Ngày nào tôi cũng tới sớm 10 phút, họ bảo tôi là gián điệp”. Người thứ ba: “Ngày nào tôi cũng đến đúng giờ, họ bảo tôi có đồng hồ ngoại”. 

Sau đây là 9 giải còn lại:

2) Trong một túp lều ở thảo nguyên có một ông lão đang hấp hối.
Có tiếng gõ cửa dồn dập
- Ai đấy? – ông lão hỏi.
- Thần chết, - có tiếng đáp.
- Lậy chúa tôi! – ông già nói – Cứ tưởng là KGB

3) Báo Sự Thật nói rằng tất cả thư từ gửi tới tòa soạn đều được tiếp nhận một cách trọng thị. Người gửi cần ghi rõ họ tên, địa chỉ của mình và của những người thân nhất trong gia đình.

4) Tại sao bao giờ KGB cũng đi thành nhóm 3 người?
Trả lời: một người biết đọc, một người biết viết, người thứ ba có nhiệm vụ theo dõi hai tay có học đó.

5) Leonid Brejnev thăm chính thức Pháp. Người ta đưa ông thăm quan Paris. Ông được đưa đến Điện Élysée, nhưng cũng như mọi khi, mặt ông vẫn lạnh như tiền. Rồi người ta đưa ông đến viện bảo tàng Louvre, nhưng vẫn không ai thấy phản ứng gì. Rồi người ta đưa ông tới Khải hoàn môn, nhưng vẫn không thấy một tí biểu hiện nào trên nét mặt hết. Cuối cùng, đoàn xe đến tháp Eiffel. Brejnev vô cùng kinh ngạc. Ông ta quay sang những người dẫn đường Pháp và hỏi: 

“Này, ở Paris có đến 9 triệu người… Các vị chỉ cần một tháp canh thôi ư?”

6) Stalin quyết định vi hành quanh thành phố xem công nhân sống như thế nào, một lần ông ta bí mật ra khỏi Điện Cẩm Linh. Sau đó ông rẽ vào rạp chiếu bóng. Phim vừa hết thì quốc ca vang lên và trên màn ảnh xuất hiện hình Stalin. Tất cả đều đứng dậy và hát quốc ca, riêng Stalin vẫn tiếp tục ngồi, tỏ vẻ rất hài lòng. Rồi ông ta thấy một người ngồi phía sau ghé vào tai thì thầm: 

“Này đồng chí, tất cả chúng tôi đều cảm thấy như thế, nhưng hãy tin tôi đi, đứng dậy sẽ an toàn hơn rất nhiều”. 

7) Một công dân Liên Xô tiết kiệm đủ tiền mua ô tô. Sau khi trả tiền, người ta nói với anh là ba năm nữa sẽ được nhận xe.
- Ba năm nữa lận! – Anh ta nói – Tháng mấy?
- Tháng tám.
- Tháng tám à? Ngày mấy?
- Ngày 2 tháng tám.
- Buổi sáng hay buổi chiều?
- Buổi chiều. Mà chuyện gì vậy?
- Buổi sáng sẽ có một thợ sửa ống nước đến nhà tôi.

8) Tại sao các cựu sĩ quan Stasi lại là những người lái taxi thông thạo nhất ở Berlin? Vì anh chỉ cần nói tên là họ đã biết anh sống ở đâu rồi.

9) Moskva những năm 1970. Mùa đông giá rét. Có tin đồn là ngày hôm sau cửa hàng bán thịt số 1 sẽ có thịt.

Ngay hôm đó trước cửa hàng đã có hàng chục ngàn người với áo khoác ấm, giày cao cổ, rượu và bàn cờ đứng thành hành dài.

Lúc 3 giờ chiều một người bán thịt đi ra và nói: “Thưa các đồng chí, Ban chấp hành trung ương vừa gọi xuống, thông báo rằng không đủ thịt bán cho tất cả mọi người vì vậy mà dân Do Thái nên về nhà”.

Dân Do Thái nhẫn nhục bước ra khỏi hàng. Những người khác tiếp tục đợi.
Lúc 7 giờ tối người bán thịt lại bước ra và nói: “Thưa các đồng chí, Ban chấp hành trung ương vừa gọi xuống, thông báo rằng hóa ra là không có thịt vì vậy mọi người nên về nhà”.

Đám đông tản ra, vừa đi họ vừa lầm bầm: “Bọn Do Thái khốn nạn lúc nào cũng gặp may!”.

10) Sĩ quan KGB vào công viên và trông thấy một ông già đang cầm cuốn sách. Người sĩ quan hỏi:  “Ông già đang đọc gì đấy”. 

Ông già đáp: “Tôi đang tự học tiếng Ivrit”. 

“Ông học tiếng Ivrit làm gì? Thị thực đi Israel phải chờ mấy năm lận. Ông sẽ chết trước khi làm xong giấy tờ”. 

“Tôi học tiếng Ivrit để khi lên Thiên đàng tôi có thể nói chuyện với Abraham và Moïse. Trên Thiên đàng chỉ nói bằng tiếng Ivrit thôi”. 

“Thế nếu ông xuống địa ngục thì sao?” – Người sĩ quan hỏi. 

“Tiếng Nga thì tôi biết rồi” – ông già trả lời.


Blog Archive