Tuesday, November 3, 2015

"Mưa Trên Biển Vắng" là một ca khúc tiếng Pháp ?


Tuấn Thảo

Mưa Trên Biển Vắng là phiên bản tiếng Việt của một ca khúc ngoại quốc khá ăn khách. Nhạc phẩm này gắn liền với tên tuổi của cố ca sĩ Ngọc Lan. Theo các nguồn trên mạng, đây là một tình khúc tiếng Pháp (Je n’pourrai jamais t'oublier) do Nicoletta ghi âm vào năm 1970, tức cách đây đúng 45 năm. Thế nhưng, nguyên tác bản nhạc này có thật sự là một bài hát tiếng Pháp ? Trong chương trình Góc vườn Âm nhạc của RFI hôm nay, thực tế cho thấy câu chuyện không đơn giản như vậy.

Giai thoại của bài Mưa Trên Biển Vắng bắt đầu với một cú điện thoại. Ông Hristo Kurtev, người gốc Bulgary, là một gương mặt khá quen thuộc của làng giải trí (showbiz) tại Pháp. Ngoài đời, ông là người sáng lập trường quốc tế nghệ thuật sân khấu tại Paris (Académie Internationale Des Arts), nhờ giao lưu rộng rãi mà quen biết nhiều văn nghệ sĩ. Vào mùa thu năm 1968, ông Hristo Kurtev nhận được một tin nhắn đề nghị ông tới sứ quán Bulgary ở Paris để gặp Vassil Andreev, một người tự xưng là manager của ca sĩ kiêm tác giả trẻ tuổi người Bulgary Emil Dimitrov.
Không biết thực hư ra sao, nhưng do ông Hristo Kurtev thuộc vào diện tỵ nạn chính trị cho nên ông mới đề nghị là cả ba người nên gặp nhau tại quán cà phê Le Royal nằm trên đường Grenelle, ở Paris quận 7, không xa cho lắm toà đại sứ Bulgary (tọa lạc trên đại lộ Rapp). Hoá ra, trong thời gian ghé thăm Paris, ca sĩ kiêm tác giả Emil Dimitrov (sinh năm 1940, mất năm 2005) muốn hợp tác với giới nghệ sĩ Pháp và anh trông cậy vào sự dìu dắt hướng hẫn của ông Kurtev, vì dù sao họ vẫn là đồng hương tuy rằng chưa hề quen biết nhau.
Nhờ vào sự gửi gấm của ông Kurtev mà vào năm 28 tuổi Emil Dimitrov bắt đầu xuất hiện trong các show ca nhạc truyền hình tại Pháp. Ca sĩ người Bulgary cũng về làm việc cho nhóm sáng tác của ông Léo Missir, giám đốc nghệ thuật của hãng đĩa Barclay. Trong nhóm tác giả này có nữ ca sĩ người gốc Ý Patricia Carli.
Tuy từng đoạt giải nhất vào tháng Hai năm 1964 nhân liên hoan ca nhạc thành phố San Remo nhờ ca khúc Je Suis à Toi / Em thuộc về Anh (tựa tiếng Ý là Non Ho l’Eta), nhưng sự nghiệp ca hát của Patricia Carli vẫn chưa đạt tới tột đỉnh thành công. Do khó có cơ hội trở thành ca sĩ hạng A, cho nên cô mới chuyển qua sáng tác cho các ca sĩ cùng thời, kể cả David-Alexandre Winter (bố ruột của ca sĩ Ophélie Winter sau này), Dalida, Claude François hay Daniel Guichard ….
Quan hệ làm việc giữa Patricia Carli và Emil Dimitrov khá tâm đầu ý hợp, do cả hai đều là ca sĩ kiêm tác giả, cho nên họ thừa hiểu đâu là thế mạnh cũng như điểm yếu của từng giọng hát, và cũng như trong quá trình thục hiện một bộ phim, việc tuyển lựa diễn viên sao cho vừa vai là một khâu quan trọng, thì việc sáng tác một ca khúc cũng có nhiều khả năng ăn tiền khi chọn đúng người diễn đạt thích hợp. Bằng chứng là nhạc phẩm La Tendresse (1972) ban đầu được viết cho Mireille Mathieu, nhưng rốt cuộc lại được Patricia Carli tặng cho một ca sĩ khác và nhờ vậy mà làm nên tên tuổi của Daniel Guichard.
Vào cuối những năm 1960, tài năng đang tỏa sáng thời bấy giờ là nữ ca sĩ Nicoletta, sau khi cô phá kỷ lục số bán vào năm 1968 với nhạc phẩm Il est mort le soleil / The Sun Died (lời của Pierre Delanoë / nhạc của Hubert Giraud). Nicoletta cũng là một trong những giọng ca nữ đầu tiên ký hợp đồng độc quyền 10 năm với hãng đĩa Barclay. Patricia Carli được giao trách nhiệm soạn nguyên một album cho Nicoletta.
Để cho đủ số lượng bài hát, ngoài các ca khúc mới, cô còn dựa vào những giai điệu sẵn có của người bạn đồng nghiệp người Bulgary để đặt thêm lời tiếng Pháp, và đó là trường hợp của nhạc phẩm Je n’pourrai jamais t'oublier (Em sẽ chẳng bao giờ có thể quên anh), một phiên bản phóng tác tiếng Pháp từ một giai điệu nguyên tác của Emil Dimitrov (емил димитров /Не ще мога да те забравя). Chữ ‘’có thể’’ ở đây được viết theo thì tương lai (pourrai, không có thêm chữ s) thể hiện cho sự quả quyết tin chắc, chứ không phải là theo thì điều kiện (pourrais) như theo các nguồn ghi chép trên mạng.
Chỉ có điều là khi phát hành đĩa nhựa 45 vòng, giai điệu nguyên tác của Emil Dimitrov chỉ được ghi trên mặt B, trong khi bài hát Ma Vie C'est Un Manège lại được ghi trên mặt A. Điều ấy có thể giải thích vì sao vài năm sau đó, Emil Dimitrov khăn gói trở về Bulgary. Tuy anh đã từng ghi âm với chính giọng ca của mình nhiều ca khúc bằng tiếng Pháp (tập hợp lại trên album đề tựa Emil en français), và từng sáng tác nhiều bản nhạc ăn khách cho giới nghệ sĩ nổi tiếng, nhưng Emil Dimitrov vẫn có cảm tưởng là các sáng tác của anh bị dìm hàng, tài năng của anh không được phát huy trọn vẹn.
Điều ấy cũng có thể giải thích vì sao tuy giai điệu rất hay nhưng khi phát hành vào năm 1970, bài Em sẽ chẳng bao giờ quên anh, do là bài hát phụ, nên không thu hút được nhiều sự chú ý cho lắm. Mãi tới đầu những năm 1980, khi dàn nhạc hoà tấu của Paul Mauriat, và sau đó là dàn nhạc của Raymond Lefèvre đưa bài này vào trong tuyển tập nhạc không lời của họ, thì nhạc phẩm Je n’pourrai jamais t'oublier lại trở nên ăn khách ở châu Á, đặc biệt là tại xứ hoa anh đào, từng được đặt thêm lời tiếng Nhật cho các giọng ca của Yoshida hay là Akiko Okuda ….
Còn trong tiếng Việt, bài hát này có tới hai lời hoàn toàn khác nhau. Tác giả đầu tiên Việt hóa bài này là nhạc sĩ Phạm Duy. Dựa vào lời tiếng Pháp, ông chuyển ngữ bài này thành ca khúc ‘’Nhớ anh mà thôi’’. Tới năm 1991, tác giả Nhật Ngân đặt thêm một lời Việt thứ nhì với tên là Mưa trên biển vắng. So với phiên bản tiếng Pháp, thì lời Việt của Phạm Duy gần sát hơn, chuyển thể lối phủ định, có ý nghĩa nhấn mạnh nhưng hơi nặng câu văn, thành một ý tưởng đơn giản, gẫy gọn hơn, ‘’sẽ chẳng bao giờ có thể quên anh’’ đồng nghĩa với ‘’sẽ mãi nhớ anh’’. Cũng may là tác giả Patricia Carli không dùng thủ pháp tu từ theo lối phủ định kép.
Lời Việt phóng tác của tác giả Nhật Ngân thông thoáng hơn nhiều, dựa vào tiếng nhạc sẵn có trong ngữ điệu để bám sát tiết tấu của tác giả Emil Dimitrov. Lối đặt ca từ dùng những hình tượng gần gũi với thị hiếu nghe nhạc người Việt. có lẽ cũng vì thế mà bài Mưa trên biển vắng được công chúng đón nhận và hưởng ứng nhiệt tình. Ngọc Lan là ca sĩ đầu tiên từng ghi âm cả hai phiên bản tiếng Việt của bài hát. Bài hát Mưa trên biển vắng trở nên gắn liền với tên tuổi của cô và ngoài Ngọc Lan, còn có nhiều ca sĩ khác đều từng thể hiện bài này kể cả Như Quỳnh, Thu Phuơng, Lâm Thúy Vân, Cẩm Ly, Hà Vân …..
Mưa buồn mãi rơi trên biển xưa âm thầm
Ôi biển vắng đêm nao tình trao êm đềm
Cơn sóng nào, gợi lên nỗi đau trong em
Bao nhiêu chiều lang thang …. một mình
Trong phiên bản tiếng Pháp, bài hát không có mãi rơi hạt mưa mà cũng chẳng có âm thầm biển xưa. Nội dung của bài Je n’pourrai jamais t'oublier nói về cuộc gặp gỡ bất ngờ trên đường phố, hai tình nhân cũ gặp lại nhau sau bao năm tháng xa cách. Thế nhưng giây phút tái ngộ ấy lại diễn ra trong nỗi ngỡ ngàng, thực tế hơi phũ phàng cho thấy mối nhân duyên thật sự bẽ bàng. Tình sử tưởng chừng sống mãi với năm tháng, nào ngờ từ lâu đã sang trang ….
Bài Mưa Trên Biển Vắng còn cho thấy một điều khác lạ. Đó là lúc sinh tiền, tài nghệ của Emil Dimitrov chưa được công nhận đúng mức. Sinh trưởng trong một gia đình là nghệ sĩ gánh xiếc, từ nhỏ Emil Dimitrov đã nuôi mộng trở thành nghệ sĩ. Sau khi tốt nghiệp trường cao đẳng nghệ thuật sân khấu và điện ảnh cùng một khoá với nữ diễn viên d’Ilka Zafirova.
Trong thời gian lập nghiệp tại Paris, anh từng sáng tác một giai điệu mà sau này trở thành nhạc phẩm Moya Strana, Moya Bălgaria (Моя страна, моя България) nói lên tinh thần yêu nước của một người con Bulgary, còn nặng tình với quê hương. Bài hát này sau đó từng được dư luận Bulgary bình chọn làm một trong những ca khúc hay nhất thế kỷ XX. Nhưng vào thời điểm phát hành cuối những năm 1970, bài hát này lại bị cấm phổ biến, do bị cho là có tư tưởng ‘’phản động’’ thân các nước Tây phương.
Theo lời của ông Hristo Kurtev, có lẽ cũng vì bị xếp vào diện thành phần ‘’bất hảo’’ mà Emil Dimitrov sẽ chẳng bao giờ được kết nạp vào Hiệp hội các tác giả Bulgary, trong khi tại Pháp, ông lại nhận được tiền tác quyền Sacem nhờ có nhiều bài hát được chuyển thể phóng tác, không những trong tiếng Pháp mà còn trong tiếng Ý, tiếng Đức, Hoà Lan hay Liban ….
Ăn trái nhớ kẻ trồng cây. Có lẽ đây cũng là dịp để viết bài nhắc nhở tài nghệ của Patricia Carli và Emil Dimitrov nói riêng, của những nghệ sĩ dày công sáng tác nói chung. Bởi vì đằng sau những nét chấm phá sắc sảo của giai điệu Mưa Trên Biển Vắng, tiềm ẩn cả một chân trời giai thoại bập bùng, nhạt nhoà mông lung ....



Cám Ơn Hạnh Phúc - Cám Ơn Khổ Đau


Nguyễn Bích Thủy

Chúng ta là những người lữ hành đang đi tìm hạnh phúc ròng rã suốt cả một kiếp người cho bản thân mình, gia đình mình hay cho cộng đồng mình. Cái hạnh phúc mà chúng ta đi tìm lúc được lúc mất, lúc ẩn, lúc hiện khiến đôi khi làm ta chao đảo vì nó quá mong manh và mơ hồ. Lắm lúc ta cảm thấy mệt mỏi vì cố rượt đuổi theo nó, tưởng đã sở hữu được trong tầm tay nhưng rồi bỗng một ngày nó lặng lẽ bỏ ta đi để lại một nổi đau ê chề cả thân xác lẫn tâm hồn.

* Hạnh Phúc

Theo tài liệu cho biết hạnh phúc là trạng thái cảm xúc khi con người được thỏa mãn một nhu cầu nào đó mang tính nhân bản, chịu tác dụng của lý trí và chỉ có ở con người.

Cảm nhận về hạnh phúc ở mỗi độ tuổi, mỗi giới tính cũng thay đổi theo thời gian. Lúc còn nằm trong nôi hạnh phúc của bé thơ là được bú một bầu sữa đầy, được ôm ấp vỗ về. Ở tuổi đến trường hạnh phúc của các cô cậu học sinh là vào cuối tuần không phải làm homework, được cha mẹ cho đi chơi, gặp bạn bè vui đùa thỏa thích. Đến tuổi biết yêu hạnh phúc của các chàng trai, cô gái là tìm được một người như-trong-mộng. Khi đã lập gia đình hạnh phúc của những người trưởng thành đã thôi bay bỗng, nó bình dị như mỗi buổi chiều vợ chồng, con cái quây quần bên mâm cơm quên hết những nhọc nhằn, tất tả ở bên ngoài. Rồi đến tuổi gần đất xa trời hạnh phúc của những bậc làm ông, làm bà là được sống bên cạnh con cháu cho đến ngày “cưỡi hạc, quy tiên”!

Nhưng lại có những quan niệm cho rằng hạnh phúc là hy sinh, là cho đi không cần nhận về (nếu cần nhận về là đã có toan tính); hạnh phúc là biết bằng lòng với cái mình đang có; hạnh phúc là được sống một cách an nhiên tự tại giữa cuộc đời nhiều va vấp. Còn theo Dan Harris, người sản xuất chương trình “Nightline” và “Good Morning America” trên đài ABC cho biết Thiền là chiếc chìa khóa giúp ông cảm thấy sống hạnh phúc hơn. Một nền minh triết của con người đã khuyên nếu muốn hạnh phúc, hãy tập sống vô ngã để thấy được tánh giác của chơn tâm của mình.

Thế thì hạnh phúc của con người thật muôn màu, muôn vẻ. Nhưng muốn đạt những điều này đôi khi không dễ chút nào. Lại có lắm lúc người ta thường không đi tìm hạnh phúc dưới chân mình mà cứ ngó trên chín tầng mây. Nhiều khi họ không thấy hạnh phúc trong hiện tại mà cứ đau đáu nhớ về hạnh phúc của một thuở nào đã xa! Đó là tất cả tâm trạng của một anh bạn đồng nghiệp người Mỹ của tôi, có lần anh cho biết:

- Lúc còn nhỏ vào những dịp nghỉ hè bọn tôi thường được cha mẹ cho đến nhà của ông bà ở cạnh bờ biển thuộc vùng Atlantic City - New Jersey. Đây là dịp mấy anh chị em họ chúng tôi tha hồ vui chơi với nhau bằng thích! Có thể nói, cho đến bây giờ đó là những ngày tháng tuyệt vời nhất của đời tôi.

Giọng nói của anh như thầm tiếc nuối cả một thời quá khứ mà nơi đó anh đã có biết bao kỷ niệm đẹp. Anh cũng kể rằng sau khi vừa tốt nghiệp Trung Học, anh đã từ giã cha mẹ leo lên tàu lửa làm một chuyến xuôi Nam để thỏa mộng “tang bồng hồ hải”. Anh đã từng đi qua nhiều tiểu bang của nước Mỹ, cuối cùng đã đến đây và phải lòng một nàng thuộc xứ “cao bồi Texas”. Để rồi cho mãi đến hôm nay anh vẫn chưa một lần nào có dịp trở về thăm lại vùng biển tuổi thơ của mình!

Anh đã cưới vợ rồi ly dị do người vợ trước mắc chứng vô sinh! Anh kết hôn lần nữa với một nàng người Mễ kém anh gần 20 tuổi và cô đã cho ra đời ba mụm con. Tuy nhiên, anh cũng không hề cảm thấy hạnh phúc bên người vợ trẻ bởi những chông chênh về tuổi tác, ngôn ngữ và văn hóa. Thêm vào đó, anh luôn mặc cảm có lỗi với vợ cũ khi biết rằng cô đã không chịu "đi bước nữa” để toàn tâm toàn ý lo cho đứa con mà lúc trước họ đã xin ở cô nhi viện. Giờ đây con gái nuôi của hai người đã học thành tài, mẹ con cô có một cuộc sống rất ổn định còn anh thì vẫn cứ lao đao lận đận với một mái gia đình không bao giờ như ý! Có thể anh vẫn còn yêu vợ cũ của mình nhưng anh không mặt mũi nào để quay lại. Nhất là nếu ly dị lần nữa anh sẽ phải trả tiền trợ cấp cho ba đứa con chắc "te tua" lắm!!! Hiểu được tâm trạng của anh, tôi liền bảo:

- James! Cuộc sống của anh cũng quá tuyệt mà. Bây giờ anh không cảm thấy quý nó nhưng biết đâu khi đã 70 hay 80 anh sẽ thấy rằng đây mới chính là thời gian đẹp nhất đời mình. Bởi vì hiện nay anh vẫn còn sức khỏe, vẫn còn đầy đủ một mái gia đình khi con cái vẫn còn ở cạnh.

Anh chỉ nhìn tôi cười buồn:

- Thì cứ hy vọng là vậy!

Ôi có biết bao kẻ như James trên cuộc đời này? Họ sống với vợ (hay chồng) của mình một cách miễn cưỡng, hời hợt nên chỉ cần một chút va chạm nhỏ xẩy ra là có thể đưa đến nhiều xung đột lớn. Nhưng họ vẫn không tài nào “dứt ra” được chỉ vì “đã lỡ” đứng tên chung với nhau cái nhà, cái xe và đàn con! Họ cứ phải đi song đôi với nhau nhưng mỗi người nhìn về một hướng, chả ai buồn nói với ai lời nào như đã hết tình, hết nghĩa với nhau rồi. Họ nghĩ giờ chỉ còn sống vì bổn phận và trách nhiệm để chu toàn cho một mái gia đình!!! Chỉ thế thôi.

Rồi cũng đến một ngày có một người sẽ “đi trước”. Kẻ ở lại giờ mới thấm mùi cô độc. Chẳng còn ai nữa để nghe càm ràm, chẳng còn ai nữa làm cho mình tức tối, bực bội. Một mình. Vâng! Chỉ còn lại một mình mình, đi suốt quãng đời còn lại cũng… một mình! Ôi cái người đã đi bên mình mấy chục năm trời ròng rã, giờ mình mới biết thương, biết quý thì đã quá muộn màn. Nên mới có những câu thơ thành bài hát xiết bao ân tình:

Có tốt với tôi thì tốt với tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi xa người
Đừng đợi ngày mai đến khi tôi phải ra đi
Ôi muộn làm sao nói lời tạ ơn …

Nếu có yêu tôi thì hãy yêu tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi qua đời
Đừng đợi ngày mai đến khi tôi thành mây khói
Cát bụi làm sao mà biết lụy người...
(Thơ Ngô Tịnh Yên, Trần Duy Đức phổ nhạc)

Người ta thường sống bằng kỷ niệm vì có lẽ kỷ niệm bao giờ cũng đẹp. Tôi cũng là một người đã từng sống với hoài niệm để nhớ về những tháng ngày cũ khi còn có đầy đủ một mái gia đình. Có lẻ không riêng gì tôi mà bất cứ ai mới bước chân đến Mỹ đều mang một tâm trạng na ná như nhau. Cái cảm giác thân xác ở bên này mà tâm hồn cứ để ở bên kia, ban ngày ở Mỹ nhưng ban đêm thì cứ mơ về Sàigòn với bao mộng mị, thật vô cùng khổ sở! Phải khó khăn lắm người ta mới có thể tạm quên được quá khứ của mình để làm-lại-từ-đầu tại vùng đất mới. Tôi biết có khá nhiều người đã không thể nào bước qua được chính mình nên họ cứ phải bay đi, bay về giữa hai bờ đại dương xa thăm thẳm để níu kéo quá khứ và vẫy vùng trong hiện tại!

Hạnh phúc luôn đòi hỏi sự nỗ lực và cố gắng liên tục! Một trong những triết lý sống của người Ấn Độ là “Những gì đã qua, cho qua”. Nội dung như sau:

Khi điều gì đó trong cuộc sống của chúng ta kết thúc, thì có nghĩa là nó đã giúp ích xong cho sự tiến hoá của chúng ta. Đó là lý do tại sao, để làm phong phú thêm trải nghiệm của mình, tốt hơn hết là chúng ta hãy buông bỏ và tiếp tục cuộc hành trình.

Người ta thường ước mơ về hạnh phúc với nhà cao cửa rộng, vợ đẹp con xinh, tiền tài danh vọng, địa vị xã hội đủ đầy. Nhưng thật ra những điều đó hoàn toàn không có giá trị vĩnh hằng và không có gì bảo đảm sẽ tuyệt đối. Chẳng có ai trên đời này mong cầu đau khổ! Nhưng nếu đường đời cứ suôn sẻ, êm đềm không chông gai thử thách thì làm sao rèn cho con người có được tính chịu thương, chịu khó và đức nhẫn nại, hy sinh. Chỉ có đi qua khổ đau người ta mới biết thương yêu những người cùng khổ. Chỉ có đã từng sống trong cảnh đàn áp, bất công thì người ta mới biết hết giá trị của sự tự do, dân chủ. Chỉ khi đã đối diện với chiến tranh, loạn lạc thì người ta mới hiểu hết ý nghĩa của hai chữ hoà bình...

* Và Khổ Đau

Dường như không phải chỉ có người nghèo mới khổ mà “người giàu cũng khóc”! Cái khổ không từ một ai! Từ hàng đế vương cho đến hạng cùng đinh thì mỗi người đều mang một nổi khổ khác nhau, không ai giống ai. Biển khổ thật mênh mông bất tận!

Con người phải đối diện với muôn vàn cái khổ trên cõi đời này. Khổ vì nghèo. Khổ vì bệnh tật. Khổ vì dốt nát. Khổ vì chồng (vợ) con. Khổ vì không con. Khổ vì đông con. Khổ vì thiên tai, đói kém, mất mùa. Khổ vì bị áp bức, bóc lột. Khổ vì đắm chìm trong dục lạc, cờ bạc, rượu chè. Khổ vì côi cút không cha, không mẹ, không anh em. Khổ vì nồi da xáo thịt. Khổ vì nước mất nhà tan. Khổ vì bom rơi đạn lạc. Khổ vì gia đình không hạnh phúc, con cái hư hỏng. Khổ vì tuổi già bệnh tật, neo đơn, nghèo túng… Lại thêm có cái khổ vì yêu mà phải chia lìa. Khổ vì ghét mà phải sống chung. Khổ vì mong cầu mà chẳng được. Khổ vì hy vọng bất thành. Khổ vì tán gia bại sản. Khổ vì nợ nần chồng chất. Có lắm người khổ vì quên, do bệnh lú lẫn của tuổi già nhưng lại cũng có người khổ vì nhớ! Mà càng già người ta càng nhớ nhiều, nhớ dai. Thế nên đã khổ càng thêm khổ!!!

Có những nổi khổ vì quên
Có những nổi đau vì nhớ
Có những điều cố quên vẫn nhớ
Có những điều cố nhớ lại quên
Khổ đau chất chồng bởi nhớ và quên (nbt)

Ôi! Còn biết bao nhiêu cái khổ khác trên đời này nữa, nên mới có câu: Hữu thân hữu khổ! Ngẫm chẳng sai chút nào! Với muôn vàn đau khổ vây quanh con người phải làm thế nào để hết khổ? Chính sự có mặt của Tôn giáo đã gian rộng đôi tay để cứu khổ cho muôn loài. Có khá nhiều tôn giáo đang hiện diện trên thế giới này và mỗi tôn giáo thường chiếm lĩnh một vùng lãnh thổ riêng biệt trên bình diện toàn cầu. Theo thống kê có bốn tôn giáo lớn trên hành tinh theo thứ tự sau:

- Kitô giáo: 2.1 tỷ người

- Hồi giáo: 1.5 tỷ người

- Ấn Độ giáo: 900 triệu

- Phật giáo: 376 triệu người

Vậy thì tôn giáo nào là tốt nhất. Kitô giáo ư? Hay Hồi giáo? Đức Đạt Lai Lạt Ma có lần đã phát biểu:

- Tất cả cái gì làm anh biết thương cảm hơn, biết theo lẽ phải hơn, biết từ bỏ hơn, dịu dàng hơn, nhân hậu hơn, có trách nhiệm hơn, có đạo đức hơn. Tôn giáo nào biến anh thành như vậy là tôn giáo tốt nhất.

Đời sống tâm linh là điều gần như không thể thiếu được cho con người. Có lẽ chính vì thế mà ở Mỹ nhà thờ cũng nhiều ngang như trường học?! Tại một đất nước giàu có bậc nhất hành tinh này tưởng như giá trị của con người chỉ được đong đo bằng vật chất; nhưng thật ra cuộc sống càng văn minh, càng tự do thì người ta càng cần có một đức tin mạnh mẻ để nương tựa và quay về.

Tôi từng biết có rất nhiều vị Bác Sĩ đã giã từ thiên chức của mình để dấng thân vào con đường phục vụ nhân sinh qua chiếc áo thụng của các vị Linh Mục hay chiếc áo cà sa của những Nhà Sư… Thoạt đầu, tôi rất ngạc nhiên và tự hỏi tại sao họ lại từ bỏ sở học của mình trong khi có biết bao con bệnh đang ngày đêm cần đến bàn tay chăm sóc của họ? Phải đến khi đã hiểu Đạo và hiểu Đời tôi mới biết rằng một người Thầy thuốc có thể chữa được thân bệnh nhưng họ không thể nào chữa lành được tâm bệnh cho con người! Mà trong khi đó có rất nhiều những nổi đau của thân bắt đầu từ tâm. Nếu biết cách chữa cho tâm được yên ổn, bình an thì ắt thân sẽ khỏe và người ta sẽ biết cách sống tốt hơn. Người Bác sĩ có thể trị được bệnh cho tha nhân nhưng đứng trước cái khổ của chính mình đôi khi họ cũng phải đành…. bó tay!

Hơn thế nữa làm thầy thuốc có thể chữa được một số người nhất định trong một phạm vi nhất định nhưng lời nói của một đấng chăn chiên hay của một vị lãnh đạo tinh thần có thể cứu vớt hàng triệu triệu sinh linh ra khỏi vực thẳm của khổ đau! Trong một dịp hết sức tình cờ, cô bạn đồng nghiệp đã có lần hỏi tôi:

- Tôn giáo của you là gì?

Tôi hơi bị bất ngờ. Có lẻ cô ta tò mò vì thấy tôi là dân Châu Á hiếm hoi đang làm trong hãng hay chắc cô nghĩ tôi từ một nước Cộng Sản đến nên theo “vô thần giáo” chắc? Tôi cười và cho cô biết tôn giáo mà mình đang theo đuổi. Ngay lập tức cô liền hỏi tiếp, lần này thì có vẻ hốc búa hơn:

- Thế tôn giáo của you khuyên tin về điều gì?

Suy nghĩ giây lát tôi bèn trả lời thật chậm rãi:

- Tin vào chính mình!!!

Tôi đọc được cả một sự ngạc nhiên gần như sửng sốt từ người đối diện, không đợi cô phải hỏi tiếp, tôi đã giải thích cho rõ thêm:

- Tôn giáo của tôi dạy rằng nếu tôi làm một điều gì tốt tôi sẽ nhận được những điều tốt lành và ngược lại nếu như tôi làm điều gì không tốt tôi sẽ gặt lấy hậu quả khôn lường. Chính tôi sẽ là người tạo nên hạnh phúc và khổ đau cho chính cuộc đời tôi mà không phải bất kỳ ai khác.

Một thoáng nghi ngờ hiện trên gương mặt cô. Tôi lại phải nói cặn kẽ hơn:

- Nếu tôi làm một điều gì đó tốt cho bản thân hay cho cộng đồng, tôi sẽ cảm thấy hạnh phúc và ngược lại nếu như đi cướp của, giết người thì tôi sẽ bị luật pháp trừng phạt. Không ai có thể ngồi tù thay cho tôi cả. Chính tôi là kẻ duy nhất có trách nhiệm với mọi hành vi của mình. Do đó tôi phải biết sống tốt và làm đúng!

Gương mặt của cô đã có phần giãn ra đôi chút. Tôi thêm vào ngay:

- You có định hỏi tôi làm thế nào để biết mình sống tốt và làm đúng không??! Xin trả lời luôn rằng gia đình, trường học và xã hội sẽ dạy chúng ta những điều đó nhưng đặc biệt hơn hết chính tôn giáo sẽ giúp cho chúng ta biết cách sống hướng thượng và thoát khổ!

Lần này cô đã cười thật tươi như đồng ý với tôi. Thật vậy! Tôn giáo chính là ngọn đuốc soi đường và những người hướng dẫn tâm linh đã trao ngọn đuốc đó vào tay chúng ta. Bổn phận của mỗi người chúng ta là cầm lấy nó và phải biết vận dụng trí tuệ sáng suốt của mình để tìm một quang đạo mà bước ra bể trầm luân này.

*
Trong cái khoảnh khắc không đầu không cuối của thời gian, con người đã lần lượt đến rồi đi trong cuộc đời này một cách hết sức chóng vánh. Mới thấy đó rồi mất đó!

Tôi cũng là một con người bình thường với những hạnh phúc và khổ đau rất bình thường đang có mặt hơn năm mươi năm qua trên cuộc đời. Tôi rồi cũng sẽ ra đi như biết bao nhiêu người đã giã từ cõi tạm này. Cũng sẽ chẳng còn ai nhớ đến tôi, một người đã từng gắn bó với thế gian; đã trải qua đủ hết những hỉ, nộ, ái, ố, tham, sân, si để rồi ra đi với hai bàn tay trắng cùng những nghiệp lành dữ khác nhau. Tuyệt nhiên, không ai biết tôi sẽ đi về đâu. Tôi cũng chẳng biết mình sẽ trôi lăn vào chốn nào. Nhưng! Dù sẽ về bất cứ nơi đâu thì tôi vẫn thật mong rằng vào những giây phút cuối cùng của cuộc đời mình tôi sẽ nở một nụ cười thật toại nguyện để cám ơn những hạnh phúc, cám ơn cả những khổ đau đã giúp tôi vững vàng bước qua kiếp nhân sinh này.

Nguyễn Bích Thủy
Câu chuyện cậu bé đi tìm mẹ khiến cả nước Đức cảm động


Bé trai Derby hơn 9 tuổi là một cậu bé bị bỏ rơi và lớn lên ở cô nhi viện. Cậu bé mong muốn được tìm thấy mẹ. Tình yêu của Derby đối với người mẹ trong mơ của mình và con đường tìm mẹ đặc biệt của em đã làm cảm động người dân nước Đức.


Mẹ ơi, con đã tìm mẹ từ rất lâu lắm rồi! Con xin mẹ đừng bỏ con nữa, được không mẹ?”. (Ảnh: Internet)

Con đường tìm mẹ đặc biệt của Derby
Tháng 2/1994, ở phía Bắc nước Đức tuyết trắng phủ dầy đặc, trại trẻ mồ côi Yite Luo nằm bên ven sông Rhine, tĩnh lặng trong gió tuyết. Sáng sớm hôm ấy, nữ tu sĩ Terri, 50 tuổi ra ngoài làm việc. Lúc vừa ra đến cổng, bà láng máng nghe thấy có tiếng trẻ con khóc. Bà liền tìm theo tiếng khóc thì phát hiện một bé trai tóc vàng được đặt trong một bụi cây ở cạnh cổng trại. Nữ tu sĩ này đã đưa cậu bé về trại trẻ nuôi dưỡng và đặt tên cho cậu là Derby.

Bảy năm ở cô nhi viện, cậu bé Derby lớn lên khỏe mạnh và ngoan ngoãn. Cậu bé có tấm lòng lương thiện, nhưng tính cách lại có chút u buồn. Một ngày thời tiết nắng ráo, các nữ tu sĩ đã dẫn bọn trẻ đi qua một rừng cây để đến một đồng cỏ xanh ở ven bờ sông dạo chơi. Những người ở trong thị trấn gần rừng cây đều chỉ vào những đứa trẻ này và nói: 

“Những đứa trẻ này đều là bị cha mẹ bỏ rơi, nếu con mà không nghe lời, mẹ cũng sẽ đem bỏ con vào cô nhi viện đấy!”

Nghe thấy những lời nói này, Derby cảm thấy vô cùng đau lòng. Cậu bé không nhịn được liền hỏi nữ tu sĩ:

“Mẹ ơi! Tại sao cha mẹ con lại không cần con? Có phải là họ ghét con không?” 

Giọng nói của cậu bé tràn đầy bi thương không hề giống với lời nói của những đứa trẻ khác cùng độ tuổi.

Nữ tu sĩ nghe xong giật mình hỏi Derby: “Tại sao con lại nghĩ như vậy?”

Derby trả lời: “Tại vì con nghe thấy mọi người đều nói như vậy, chúng con đều là những đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi!”

Nữ tu sĩ an ủi cậu bé: 

Mặc dù mẹ chưa từng gặp mặt mẹ của con, nhưng mẹ tin rằng nhất định mẹ của con rất yêu thương con. Trên đời này không có người mẹ nào là không yêu thương con của mình cả. Năm đó mẹ của con để con lại, chắc chắn là vì một lý do bất đắc dĩ nào đó thôi”.

Derby nghe xong lặng im không nói lời nào, nhưng từ đó trở đi cậu bé thay đổi rất nhiều. Cậu thường xuyên đứng bên cửa sổ của cô nhi viện nhìn ra dòng sông Rhine. Cậu hy vọng những dòng nước đang chảy trên sông Rhine có thể đem tình cảm của cậu đến với mẹ.


Derby thường xuyên đứng bên cửa sổ của cô nhi viện nhìn ra dòng sông Rhine. Ánh mắt của em không khỏi mong mỏi, khát khao tìm thấy mẹ. (Ảnh: Internet)
Vào “ngày của mẹ” năm 2003, không khí ấm áp của ngày lễ lại một lần nữa dấy lên khát vọng mãnh liệt được gặp mẹ của Derby. Ngày hôm đó, các đài truyền hình đều đưa tin về các hoạt động ăn mừng, đăng tải những hình ảnh về tình mẹ con. Có một cậu bé 6 tuổi, mồ hôi chảy đầm đìa trên người đang giúp mẹ cắt cỏ. Mẹ của cậu bé nhìn cậu bé mà cảm động rơi nước mắt. Derby khi xem tới hình ảnh này đã nói với nữ tu sĩ: 

“Con cũng muốn được làm việc giúp mẹ! Mẹ ơi! Mẹ có biết cha mẹ của con đang ở đâu không ạ?”

Nữ tu sĩ trầm tư, không nói được lời nào, bởi vì suốt mấy năm qua bà không hề nhận được tin tức gì của cha mẹ cậu bé cả. Đột nhiên, Derby chạy ra ngoài đường, cậu cứ chạy, trên đường có rất nhiều người mẹ nhưng lại không có ai là mẹ của cậu bé cả. Derby đau khổ và gào khóc.

Mấy tháng sau, khi Derby được 9 tuổi, cậu bé rời khỏi cô nhi viện để đến học tập ở một ngôi trường gần đó. Một lần lên lớp, thầy giáo kể cho học sinh nghe một câu chuyện: 

“Thời xưa, có một vị hoàng đế rất yêu thích chơi cờ vây, vì vậy ông liền quyết định ban thưởng cho người phát minh ra trò chơi này. Kết quả, người phát minh này lại mong muốn ban thưởng cho anh ta mấy hạt gạo. Tại ô thứ nhất trên bàn cờ đặt một hạt gạo, ô thứ hai đặt hai hạt gạo, tại ô thứ 3 số hạt gạo gấp lên 4 lần…Theo đó suy ra, đến khi bỏ đầy bàn cờ thì số hạt gạo đã là 18 triệu tỷ hạt”.

Cậu chuyện này làm cho hai con mắt của Derby lập tức sáng lên. Cậu nghĩ nếu như cậu giúp một người, sau đó yêu cầu người đó giúp 10 người khác…Với cách này, Derby hy vọng một ngày nào đó biết đâu người được yêu cầu trợ giúp lại là mẹ cậu. Ý nghĩ này đã khiến Derby vui mừng khôn tả. Từ đó về sau, mỗi lần cậu làm một việc tốt giúp một người nào đó, lúc người đó cảm ơn cậu, cậu đều nói: 

Xin cô (chú…) hãy giúp đỡ 10 người khác ạ! Đó là cách cảm ơn lớn nhất đối với cháu!”

Những người này sau khi nghe xong, đều vô cùng cảm kích trước tấm lòng lương thiện của cậu bé. Tất cả họ đều thực hiện lời hứa của mình, mỗi khi họ giúp ai đó họ lại đề nghị người kia giúp đỡ 10 người khác. Cứ như vậy, toàn bộ người dân ở thành phố đó đều âm thầm thực hiện lời hứa của mình.

Sức mạnh của “10 việc tốt”

Derby không thể ngờ mình lại có thể giúp đỡ ông Rick, một người dẫn chương trình nổi tiếng của Đức.

Rick là một người dẫn chương trình nổi tiếng của Đức. Mặc dù ông đã 50 tuổi nhưng với ngôn ngữ hài hước hóm hỉnh của mình, ông vẫn thu hút sự yêu mến của khán giả. Các chương trình của ông gần như đều vạch trần hết những bí mật của những người nổi tiếng. Tuy nhiên, có lẽ là do áp lực từ hãng truyền hình và sự cạnh tranh trong công việc, hơn nữa phải chứng kiến quá nhiều mảng tối của xã hội nên vào năm 2003, ông mắc bệnh trầm cảm và không thể tiếp tục được công việc.

Tháng 10/2003, ông đã xin đài truyền hình cho ông được nghỉ dưỡng một năm. Ông hy vọng trong thời gian nghỉ ngơi, ông có thể thả long để sức khỏe được tốt hơn lên. Một thời gian ngắn sau, ông Rick đã tới thành phố mà Derby đang sinh sống để tham quan. Ông đã bị vẻ đẹp của dòng sông Rhine thu hút. Một lần khi trời chạng vạng tối, đang đi trên bờ sông dạo chơi thì bệnh tim của ông đột nhiên tái phát. Ông chưa kịp lấy thuốc từ trong túi ra uống thì đã ngã ngất xỉu trên mặt đất. Cậu bé Derby lúc ấy đang câu cá trên bờ sông phát hiện ra ông bị ngất xỉu nên đã gọi điện cho xe bệnh viện đến đưa ông đi cấp cứu.

Nhờ được cấp cứu kịp thời, ông Rick đã qua khỏi, ông nắm lấy đôi tay của Derby và nói: “Cháu bé, ông phải làm sao để cảm ơn cháu đây? Nếu như cháu cần tiền, ông có thể cho cháu rất nhiều tiền!”.

Derby nghe xong liền lắc đầu nói: “Nếu như ông có thể giúp đỡ 10 người khác khi họ cần sự giúp đỡ, như vậy chính là ông đã cảm ơn cháu rồi ạ!”.

Ông Rick cảm thấy khó hiểu liền hỏi cậu bé: “Cháu cái gì cũng đều không cần sao?”. Derby cười và lắc đầu.

Ông Rick liền bị cậu bé kỳ lạ này thu hút. Ông đã để lại cách liên lạc cho Derby và đưa cậu bé trở về trường. Trước khi ông Rick rời đi, Derby lại dặn dò ông một lần nữa: “Cháu xin ông nhất định hãy làm đủ “10 việc tốt” ạ!” Ông Rick nhìn qua đôi mắt đang rực sáng của cậu bé, trong lòng ông cảm thấy ấm áp thế là ông nghiêm túc gật đầu.

Từ đó về sau, ông Rick cảm thấy sống vui vẻ hơn và chăm chú giúp đỡ 10 người khác. Mỗi lần giúp đỡ được một người, trong lòng ông lại cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Nhất là những lúc họ nói lời “cảm ơn” với ông, ông cảm thấy bản thân mình có giá trị hơn rất nhiều.

Chưa đến nửa kỳ nghỉ phép, ông Rick đã trở lại đài truyền hình làm việc. Khi ông quay lại làm việc, tất cả mọi người đều ngạc nhiên vì sự thay đổi chóng mặt của ông. Ông trở nên vui tươi, lạc quan và hòa đồng với mọi người hơn.

Ngày 01/12/2003, ông Rick lần đầu tiên lên sóng truyền hình sau kỳ nghỉ dài. Tại đây ông đã nói với khán giả: 

“Trước đây, tôi đã nói rất nhiều những câu chuyện của người khác, hôm nay tôi sẽ kể câu chuyện của chính mình”. 

Ông xúc động kể về sức mạnh của “10 việc tốt” trong vòng một tiếng đồng hồ. Cuối cùng, ông nói: 

Có lẽ, không ai tin đây là chuyện thật, nhưng chuyện này đã tiếp thêm rất nhiều động lực sống cho tôi. Xin các bạn cũng hãy giúp đỡ 10 người khác khi họ cần giúp, tôi tin rằng bạn cũng sẽ cảm nhận được loại cảm giác kỳ diệu này!

Thông qua truyền hình, chương trình của ông Rick được phát sóng trên khắp nước Đức. Mọi người đều rất xúc động về câu chuyện này. Đã có rất nhiều người gọi điện cho ông Rick nói rằng họ sẵn lòng làm “10 việc tốt”này. Thậm chí còn rất nhiều khán giả yêu cầu được nghe Derby nói chuyện trên truyền hình bởi vì họ muốn gặp cậu bé lương thiện này.

Tháng 1/2004, Derby đã đến đài truyền hình chia sẻ về câu chuyện của mình. Tại hiện trường, có người đã hỏi cậu:

“Tại sao cậu lại có suy nghĩ như vậy?”. 

Derby cảm thấy do dự, cậu cắn môi đứng lặng một lúc, rồi mới cất tiếng kể rõ chuyện đời mình. Rất nhiều người đã vô cùng xúc động và bật khóc trước tình yêu vô bờ bến của cậu bé dành cho mẹ mình.

Ông Rick đã ôm chặt lấy thân thể gầy yếu của Derby và nói: 

“Mẹ của cháu nhất định yêu cháu vô cùng, cháu nhất định sẽ tìm được mẹ!”

Tình yêu của hàng ngàn người mẹ

Sau sự tình ấy, toàn bộ người dân biết chuyện này đã đề ra chiến dịch “10 việc tốt”. Trước đây, mọi người đều lạnh lùng thì giờ đây lại đối xử với nhau rất có tình. Mọi người đều mong rằng người mà mình đang giúp chính là mẹ của cậu bé Derby kia.

Derby đã trở nên rất nổi tiếng và đài truyền hình cũng giúp cậu tìm mẹ, nhưng mẹ của Derby mãi vẫn không thấy xuất hiện…

Tháng 2/2004, một sự việc bất hạnh và đau lòng đã xảy ra với Derby. Nơi Derby sinh sống là một khu phố nghèo. Sau khi Derby nổi tiếng, các tay xã hội đen nghĩ rằng cậu bé có nhiều tiền. Đêm ngày 16/02/2004, trên đường trở về trường học, Derby đã bị một nhóm lưu manh vây quanh, nhưng bọn họ không tìm thấy tiền trên người cậu bé, nên đã đâm trọng thương cậu bé.

Cậu bé Derby bị đâm thủng bụng và gan, cậu nằm trên vũng máu mãi đến hai tiếng đồng hồ sau mới được cảnh sát tuần tra phát hiện. Họ đưa cậu bé vào bệnh viện cấp cứu. Tại bệnh viện, trong lúc hôn mê, Derby một mực gọi “Mẹ! Mẹ! Mẹ!…” mãi không thôi.

Đài truyền hình tiếp sóng trực tiếp tình trạng của Derby. Tất cả mọi người đều cầu nguyện cho cậu. Mấy chục sinh viên đến quảng trường Alexanderplatz, nắm tay nhau thành một vòng tròn và kêu gọi: “Mẹ! Mẹ!…”Những tiếng gọi này làm cảm động những người qua đường, họ liền gia nhập vào nhóm đứng xếp thành hình trái tim. Số người tham gia càng lúc càng đông lên, trái tim cũng càng lúc càng lớn hơn.

Điều cảm động hơn nữa là có hàng trăm người mẹ đã gọi điện đến đài truyền hình xin được giả làm mẹ của Derby. Cô Rita, một giáo sư tại trường đại học Munich đã khóc nức nở và nói: 

“Derby là một đứa trẻ tốt như vậy, được giả làm mẹ của cậu bé, tôi cảm thấy vô cùng tự hào”. 

Một phụ nữ khác 35 tuổi gọi điện đến nói: 

“Tôi từ nhỏ đã không có mẹ. Tôi cũng vô cùng khát khao được gặp mẹ. Tôi có thể hiểu được tâm tình của Derby”.

Có hàng trăm người mẹ đã gọi điện đến để xin được làm mẹ của Derby, nhưng mẹ của Derby thì chỉ có một. Cho nên, đài truyền hình đã thảo luận và chọn cô Judy làm mẹ của Derby. Bởi vì cô ấy sống cùng thành phố với cậu bé, hơn nữa giọng nói của cô ấy cũng giống với giọng của cậu bé, như vậy sẽ càng có cảm giác thân thiết hơn.

Sáng sớm ngày 17/02/2004, sau một thời gian dài bị hôn mê, cậu bé Derby đã mở mắt. Cô Judy đã ôm một bó hoa loa kèn đẹp xuất hiện ở đầu giường của Derby. Cô nắm lấy bàn tay nhỏ bé của Derby và nói: 

Con trai Derby yêu quý! Mẹ chính là mẹ của con đây!”. 

Derby dường như nhìn thấy ánh mặt trời, đôi mắt cậu đột nhiên sáng rực lên, cậu đã rất ngạc nhiên và hỏi:

“Mẹ thực sự là mẹ của con sao?”

Cô Judy dùng hết sức ngậm lấy nước mắt và gật gật đầu. Tất cả mọi người có mặt ở đây cũng mỉm cười nhìn Derby và gật đầu. Hai dòng nước mắt nóng chảy ra từ đôi mắt của Derby: 

Mẹ ơi, con đã tìm mẹ từ rất lâu lắm rồi! Con xin mẹ đừng bỏ con nữa, được không mẹ?”

Cô Judy gật đầu và nghẹn ngào nói: “Con trai yêu quý của mẹ, con hãy yên tâm đi, mẹ sẽ không bao giờ rời xa con nữa…!”. 

Trên khuôn mặt tái nhợt của Derby nở một nụ cười. Cậu còn muốn nói nhiều hơn nữa nhưng đã không còn sức lực nữa rồi…

Đây là ngày cuối cùng của Derby ở trên cõi đời này, cậu bé luôn nắm thật chặt bàn tay của mẹ mà không buông ra, cậu cũng không muốn nhắm mắt lại vì muốn được nhìn thấy mẹ nhiều hơn… Tất cả mọi người đều òa khóc, cảm thấy như trái tim mình đang vỡ tan ra.

Hai giờ sáng ngày 18/02/2004, Derby đã nhắm mắt lại, vĩnh viên rời xa thế gian nhưng đôi bàn tay của cậu bé vẫn còn nắm chặt bàn tay của mẹ.


Monday, November 2, 2015

Thôn Chè Cầu Đất và Cà Phê Tùng
Hải Vân (Hồi ký)
Quán cà-phê Tùng

Những ngày cuối Tháng Hai. Trước khi từ giã Châu Âu trở về Bắc Mỹ ngồi trong quán cà phê bên giòng sông Eble tại thành phố Dresden, tôi và bằng hữu thân quen chợt nhớ đến Thôn Chè Cầu Đất (còn gọi là Thôn Xuân Trường) và Cà Phê Tùng - hai địa danh gắn liền với thành phố ngàn thông.
Từ trung tâm thành phố Đà Lạt, du khách đi thẳng theo đường Trần Hưng Đạo - Hiền Vương lên Trại Mát; từ đây hỏi bất cứ người dân nào, họ cũng sẽ chỉ rất rõ ràng đường đến Thôn Chè Cầu Đất. 
So với mặt nước biển, Thôn Chè Cầu Đất ở độ cao trên 1.650m, khí hậu quanh năm mát mẻ. Nếu đến chân đồi lúc hừng đông hay lúc hoàng hôn, du khách sẽ nhìn thấy sương mù giăng khắp lối. Xa xa mặt hồ Phát Chi êm đềm không gợn sóng, tưởng như mọi tất bật đời thường không thể khuấy động sự êm đềm của đồi chè bạt ngàn. Hình ảnh những cô gái tay thoăn thoắt hái chè, bên cạnh từng cánh hoa trắng mong manh ngát hương, bên cạnh những trái chè nho nhỏ xinh xinh, là bức tranh sinh động đặc biệt của núi rừng cao nguyên. 
Vào những tháng cuối năm, hoa dã quỳ nở vàng chung quanh đường lên Thôn Chè Cầu Đất, khiến quang cảnh nơi này đẹp như tranh vẽ. Du khách mặc nhiên cảm nhận sự ngất ngây say đắm thấm vào đến tận linh hồn, khi nhìn thấy những ngôi biệt thự cổ kính mang đậm nét kiến trúc Gothic, ẩn hiện trong vườn hoa rực rỡ hay trong vườn hồng chín đỏ; tất cả nổi bật giữa rừng thông xanh thẫm.
Thôn Chè Cầu Đất hiện diện tại thành phố Đà Lạt đã gần 100 năm. Những thông tin có tính lịch sử được ghi lại như sau:
- Năm 1927: Những chủ nhân người Pháp thành lập Sở Trà Cầu Đất. Diện tích trồng và khai thác chè trên 600 héc ta.
- Từ năm 1960 đến năm1975: Các thương gia người Hoa quản lý Sở Trà Cầu Đất.
- Từ năm 1975 đến năm 2005: Thôn Chè Cầu Đất trực thuộc Công Ty Chè Lâm Đồng.
- Tháng 02 năm 2005: Chuyển đổi thành Công Ty Cổ Phần Chè Cầu Đất- Đà Lạt; hiện Thôn Chè đang canh tác và khai thác 230 héc ta, trong đó có 200 hecta chè xanh và chè đen, 30 hecta chè ô long giống.
Bên cạnh Thôn Chè Cầu Đất, có thể nói Cà Phê Tùng là một phần không thể thiếu của thành phố Đà Lạt. Chú Tùng - chủ nhân của quán cà phê này - là người Miền Bắc vào Miền Nam từ trước năm 1954, định cư tại Đà Lạt. Tính đến nay Cà Phê Tùng hiện diện tại Đà Lạt hơn nửa thế kỷ. Chú Tùng đã qua đời, nhưng người thân trong gia đình vẫn giữ được truyền thống của quán cà phê cổ. Những chiếc bàn cũ kỹ, những bức tranh bạc mầu, những miếng gỗ ốp tường, chiếc cửa ra vào luôn mở hé…Tất cả những gì có từ ngày Cà Phê Tùng bắt đầu sáng nghiệp, đến nay không thay đổi. Giữa cái lạnh sắt se của trời đêm Đà Lạt, ngồi trong quán cà phê Tùng nhìn từng ngọn đèn đường mờ ảo qua ô cửa kính, người ta thật sự cảm nhận trọn vẹn sự thơ mộng của thành phố mù sương. Những hôm quá lạnh, Cà Phê Tùng là lò sưởi làm ấm lòng lữ khách. Nhưng cũng có người không ngại ngồi trên balcon - chỉ có một bàn duy nhất - nhìn xuống đường, để thưởng thức sự rét mướt bao phủ khắp núi đồi Đà Lạt.
Những ai ở Đà Lạt trong thập niên 1960, 1970 đều biết: Thứ Năm là ngày Cà Phê Tùng cho khách nghe nhạc Pháp. Dĩa hát của những giọng ca vàng từng ngân vang trong quán, như Francois Hardy với “Tous les garcons et les filles, Ton meilleur ami”; Sylvie Vartan trình bày thật vui tươi “La plus belle pour aller danser, En ecoutant la pluie, Quand le film est triste.” Dalida tài danh thể hiện “Bambino, Histoire D’un Amour, Bésamé Mucho.” Christophe hát “Mal, Aline, Main Dans La Main,” hay Charles Aznavour trầm ấm lả lướt với ca khúc “Et Moi Dans Mon Coin..”
Những ngày cuối Tháng Hai. Trước khi từ giã Châu Âu trở về Bắc Mỹ, hình ảnh Thôn Chè Cầu Đất, hình ảnh Cà Phê Tùng hiện ra trong trí tưởng, khiến tôi và bằng hữu bỗng ngậm ngùi. Chúng tôi đi qua nhiều quốc gia ở miền Viễn Đông, ở Châu Âu, ở Bắc Mỹ…, nhưng lòng không quên Đà Lạt - địa danh chỉ cần nghĩ đến đã thấy lòng bình yên, đã thấy rất thân thiết. Tưởng như Đà Lạt khói tỏa, sương lồng, cây xanh, lá biếc đang hiển hiện giữa giòng sóng Elbe. Cùng đường viễn khách tha hương, quá giang nước chảy tầm phương nhớ nguồn. Lên cao khói sóng hồ tuôn, phố hoa khẽ gọi chợt buồn chân mây. Thôn Chè Cầu Đất hay đây, Cà Phê Tùng vẫn mộng đầy hư không.
HẢI VÂN
PHỤ CHÚ CỦA MỘT ĐỘC GIẢ SỐNG TAI DALAT :
1) Quán Cà phê Tùng và thôn Cầu đất cách xa nhau trên dưới 20 km. Quán cà-phê Tùng ở trung tâm thành phố Đà lạt. Làng Cầu đất ở về hướng Bắc Dalat là tên gọi của dân trong vùng, vì làng nầy lập ngay bên cạnh con đường nhựa duy nhất chạy về hướng Phan rang, đi ngang qua một chiếc cầu bằng đất, nằm dưới một đồi trà có khe nước ngọt cung cấp cho dân trong vùng.
2) Trước năm 1955, người ta gọi vùng này là vùng Trà Cầu đất, chứ không ai gọi là vùng Chè Cầu đất. Vùng này là vùng duy nhất trồng trà xuất cảng sang Pháp. Sau năm 1955, khi người Bắc di cư vào miền Nam, mới có thêm vùng Trà Blao. Vùng Trà Cầu đất đã nhiều lần đổi chủ và đổi hiệu (marque). Người chủ sau cùng có hiệu trà Ô Long là một người đàn bà vừa bị giết tại Trung cộng, vì chuyện tranh dành làm ăn.


Sự lạnh giá của tâm hồn

Bạn sẽ làm gì để giữ tâm hồn mình luôn ấm? 

Sáu con người, do sự tình cờ của số phận, mắc kẹt vào cùng một cái hang rất tối và lạnh. Mỗi người còn một que củi nhỏ trong khi đống lửa chính đang lụi dần. 
Người phụ nữ đầu tiên định quẳng que củi vào lửa, nhưng đột nhiên rụt tay lại. Bà vừa nhìn thấy một khuôn mặt da đen trong nhóm người da trắng.

Người thứ 2 lướt qua các bộ mặt quanh đống lửa, thấy một người trong số đó không đi chung nhà thờ với ông ta. Vậy là thanh củi cũng bị thu về.

Người thứ 3 trầm ngâm trong một bộ quần áo nhàu nát. Ông ta kéo áo lên tận cổ, nhìn người đối diện, nghĩ thầm: "Tại sao mình lại phải hy sinh thanh củi để sưởi ấm cho con heo béo ị giàu có kia?"

Người đàn ông giàu lui lại một chút, nhẩm tính: "Thanh củi trong tay, phải khó nhọc lắm mới kiếm được, tại sao ta phải chia sẻ nó với tên khố rách áo ôm lười biếng đó?"

Ánh lửa bùng lên một lần cuối, soi rõ khuôn mặt người da đen đang đanh lại, lộ ra những nét hằn thù: "Không, ta không cho phép mình dùng thanh củi nầy sưởi ấm những gã da trắng!"

Chỉ còn lại người cuối cùng trong nhóm. Nhìn những người khác trầm ngâm trong im lặng, anh ta tự nhủ: "Mình sẽ cho thanh củi, nếu có ai đó ném phần của họ vào đống lửa trước". 

Cứ thế, đêm xuống dần. Sáu con người nhìn nhau căng thẳng, tay nắm chặt những khúc củi. Đống lửa chỉ còn than đỏ rồi lụi tắt. Sáng hôm sau, khi những người cứu hộ tới nơi, cả 6 người đều đã chết cóng.

Tôi đã đọc và suy nghĩ rất nhiều... 6 con người ấy không chết vì cái lạnh bên ngoài, mà chết vì sự buốt giá trong sâu thẳm tâm hồn họ.

Cuộc sống không hề bằng phẳng, những thử thách luôn chực chờ trước mắt. Nó không buông tha ai cả, dù bạn thuộc màu da nào, dù bạn tốt hay xấu, giàu hay nghèo. Điều cốt yếu là cách bạn vượt qua những trắc trở ấy. Bạn sẽ một mình đương đầu? Sống vị kỷ với thế giới chung quanh?

Giữ khư khư “một que củi nhỏ” để rồi chết cóng, hay góp thành một khối lửa to để sống sót qua “những đêm giá buốt” của cuộc đời? Không ai có thể quyết định thay bạn. Một vấn đề sẽ được giải quyết nhanh hơn nếu có được sự góp sức suy nghĩ của nhiều cái đầu, một nỗi buồn sẽ vơi nhanh hơn nếu có được sự sớt chia, đồng cảm và tất nhiên, niềm vui sẽ được nhân lên nếu ta chia sẻ với nhiều người.

English in China

Hồi ở trung học, gần như tất cả chúng ta đều học Anh ngữ với bộ Anglais Vivant của Pierre Carpentier và Madeleine Carpentier-Fialip, bộ sách mà nhiều người cho là tại sao học sinh Việt Nam phải dùng bộ sách do một cặp giáo sư Pháp viết cho các học sinh Pháp.

Nhưng nghĩ lại thì bộ sách ấy đã giúp chúng ta rất nhiều khi học tiếng Anh và văn hóa của nước Anh. Ngoại trừ một số ngữ vựng hơi cũ, nhưng chúng ta không thấy bỡ ngỡ bao nhiêu khi tiếp xúc với người Anh và người Mỹ hồi những năm 60 khi đi học ở các nước sử dụng tiếng Anh. Sau đó, bộ Life With The Taylors, Let’s Learn English, English For Today của những năm 60 thì mới hơn để học tiếng Mỹ cùng những bộ dậy Anh ngữ của nhà xuất bản Longman mà ở Việt Nam cũng được sử dụng rất nhiều để học.

Ngày nay, những bộ sách đó không còn được dùng ở Việt Nam nữa, mà người ta dùng những sách của Tầu dịch sang tiếng Việt để dậy tiếng Anh. Những bộ sách chúng ta dùng trước đây đều do các nhà giáo đầy kinh nghiệm dậy tiếng Anh viết nên tất cả đều là những tài liệu giá trị đã qua được những thử thách ở nhiều nước trên thế giới.

Nhưng những cuốn sách Tầu thì có thể tin được không? Sách thì do Tầu viết, giáo viên thì thuê Phi dậy cho rẻ thì lối giáo dục như thế ở Việt Nam sẽ dậy người học Anh ngữ ra làm sao?

Thì đây, học thứ sách vở, tài liệu giảng huấn như thế chỉ làm được có một việc là tập cho học sinh làm quen với cái bản đồ lưỡi bò và lá cờ ngũ tinh hồng kỳ của Tầu chứ dậy được cái gì. Học những thứ sách như thế thì sẽ nói và viết tiếng Anh như thế nào?

Bạn coi thử mấy thí dụ về cái thứ tiếng Anh dùng những thứ tài liệu học tiếng Anh mà người ta thấy ở Hoa lục nhé.


You consciously flush là cái gì?
Nhớ giật nước thì tại sao không viết DON’T FORGET TO FLUSH?



Don’t Play Dog In Park thì ai chẳng nghĩ là đừng đóng vai chó (người Tầu chắc đóng vai này xuất sắc lắm) trong công viên.

Tại sao không viết là DO NOT LET YOUR DOGS RUN FREE IN THE PARK?



Muốn dặn người sử dụng nhà cầu là tiểu vào bồn mà viết Urinating into the pool you are the best thì mọi người sẽ tiểu vào bể bơi mới là con người tốt hay sao? Tại sao không viết DO NOT URINATE OUTSIDE THE URINALS?


Tất cả các món trong thực đơn đều ghê rợn, nhưng dễ sợ nhất là món Fries pulls out the rotten child.

Có thể đây là món khoai chiên. Fries số nhiều tại sao động từ đi sau lại là pulls?
Nhưng món khoai chiên này lại móc ra từ một đứa bé ung thối thì bố Mao Trạch Ðông cũng không dám đụng đũa.


Programmers Urine Shrimp là tôm nước đái thảo chương viên điện toán ăn thế nào thì may ra Tập Cận Bình mới biết được.


Tấm bảng này dặn khách chú ý dùng răng thì khỏe mạnh thay vì dùng cái gì đây?


Lời căn dặn là trượt chân một cách cẩn thận. Thế không cẩn thận thì té vào cái thằng ...hay sao?



Boiled Meat (Lamp) , món thịt đèn luộc là món ăn dưới ánh đèn cho … sáng dạ chắc. Thịt cừu non là LAMB, thịt cừu …lớn tuổi là MUTTON chứ bộ đói lắm hay sao phải đớp cả cái đèn (LAMP)?



We can not speak English but We can feel you !! là chúng tôi không nói tiếng Anh nhưng chúng tôi có thể sờ nắn quí vị !!



A dairy style Rain coat. It can put on the day of rain the day of chilly.
May ra người đọc sẽ hiểu là áo mưa kiểu sữa (daily mới là thường ngày). It can put on… là cái áo tự nó mặc lấy trong ngày mưa lạnh hay sao?
Tại sao không viết CONVENIENT FOR RAINY, CHILLY DAYS?



Lời dặn dò rất chất phác: xin chỉ đái vào đây, nếu không sẽ bị phạt.
Ối chao ôi là tiếng Anh!


Thuốc bóp chân mà sao lại phải chà xát (rubbing the horny) cái của nợ ấy?


Biết chết liền!


Học tiếng Anh của sách Tầu thì sẽ viết những câu đại loại thế này: Loại mìn này được dùng để bú 4 tầu địch(suck 4 enemy's warships) bởi nhóm 126 của hải quân Việt Nam.
Học Anh ngữ bằng sách Tầu thì chỉ nói và viết tiếng Anh như … Tầu mà thôi.

Bùi Bảo Trúc

Giải “Hoà bình Khổng Tử”: khi triết gia bị gả bán

 

Tuấn Khanh

 




Trong cuộc đời của mình, Khổng Tử không có nhiều chuyện yêu đương, ngoại trừ là chuyện lấy vợ vào năm 19 tuổi, với thiếu nữ có tên là Nguyên Quan Thị. Thế nhưng vào thế kỷ 21, trong bàn tay của Bắc Kinh và giới tư bản thân chính quyền, Khổng Tử đáng thương trở thành người bị ép phải se duyên với nhiều nhà độc tài trên thế giới.

Khổng Tử, “thánh nhân” tư tưởng của các đời chế độ phong kiến nhà Hán. Ông mất năm 479 (Trước Công Nguyên), để lại một di sản bền vững về bổn phận tận trung cho giai cấp cầm quyền, bất luận chế độ đó có mục nát hay tàn bạo đi nữa. Có lẽ vì vậy, chính quyền Bắc Kinh luôn muốn xiển dương quan điểm này, hủ bại hoá toàn bộ các thế hệ trẻ lớn lên trên đất nước Trung cộng, rằng cách mạng, dân chủ hay thay đổi đều là xấu xa hoặc cần phải bị tuyệt diệt.

Năm 2010, khi Nobel Hoà Bình trao cho ông Lưu Hiểu Ba, một nhà tranh đấu cho nhân quyền và tự do, Trung Quốc đã tức giận và tuyên bố rằng giải thưởng này không công chính và “đã tạo ra 1,3 tỷ người bất đồng”. Ngay sau đó, hậu thuẫn cho giới doanh gia thân chính quyền, Bắc Kinh đã cho hình thành giải thưởng Hoà bình Khổng Tử – còn được ví von là Nobel Hoà bình Khổng Tử, nhằm đối chọi lại với giải Nobel Hoà bình hằng năm.

Đây cũng là giải thưởng có nhiều tai tiếng nhất, kể từ khi ra đời đến nay. Người nhận giải thưởng Hoà bình Khổng Tử đầu tiên là ông Liên Chiến, cựu phó tổng thống Đài Loan, đã từ chối sang Bắc Kinh nhận giải theo lòi mời, hơn nữa, ông còn nói rằng chẳng biết gì đến giải thưởng gọi là “Hoà bình Khổng Tử” này.

Nhưng từ sau mùa giải đầu tiên mang tính “rửa mặt” này, Nobel lập tức phát huy vai trò công cụ chính trị của mình. Năm 2011, Khổng Tử kết duyên với Tổng thống Nga, nhà độc tài đầy mưu lược Vladimir Vladimirovich Putin. Năm 2014, giải thưởng này trao cho Fidel Castro, với lý do là hơn 70 năm tham quyền cố vị ở Cuba, ông ta đã yêu hoà bình, không sử dụng vũ lực với Hoa Kỳ.

Lịch sử ngắn ngủi của giải “Hoà bình Khổng Tử” có một điều đáng ghi nhớ: đa phần người nhận giải đều im lặng và không đến nhận giải. Ngoài cựu tổng thống Đài Loan Liên Chiến chối bỏ, còn có cựu tổng thư ký LHQ Kofi Annan, Chủ tịch Fidel Castro, tổng thống Putin cũng không đến nhận giải.

Nhưng giải thưởng “Hoà bình Khổng Tử” năm 2015 mới thật sự là một cuộc tranh cãi dữ dội, khi Bắc Kinh dắt tay nhà Triết học vĩ đại của mình gả bán cho gã độc tài lừng danh ở Châu phi, tổng thống Robert Mugabe. Ngay khi giải thưởng này được công bố bởi Trung tâm Nghiên cứu hòa bình quốc tế của Trung cộng (viết tắt là CIPRC), khắp nơi đã xôn xao về sự kiện này, đa phần là mỉa mai và nhạo báng.

Lionel Jensen, một giáo sư về ngôn ngữ và văn hóa tại đại học Notre Dame (Úc) nói trên tờ The Christian Science Monitor rằng việc “trao giải thưởng Mugabe, tức là tự làm nhục và hết sức coi thường di sản văn hóa của Trung Quốc.”

Là một học giả nghiên cứu về Khổng Tử như ông Lionel Jensen, ông Daniel Bell, “nhà tư tưởng hàng đầu về giá trị của Trung Quốc và châu Á” tại Đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh nói rằng “Khổng Tử xác định điều tối thượng mà chính phủ cần đảm bảo điều kiện cho các phúc lợi vật chất của người dân, sau đó giáo dục cho họ.” Giáo sư Bell, tác giả của nhiều nghiên cứu về Trung Hoa cho biết thêm rằng, “So với triết lý Khổng Tử, Mugabe đã làm điều ngược lại.”

Tờ Huffington Post tường thuật lại bình luận của giới trí thức qua Twitter, và tổng kết rằng, hầu hết cùng quan điểm với nhau rằng nếu cứ theo tiền lệ này, khả năng chiến thắng của năm tới là Kim Jong-un của Bắc Triều Tiên. Các ý kiến khác còn vui đùa thêm rằng buổi lễ có thể sẽ diễn ra tại The Hague, Hà Lan, Tòa án Quốc tế.

Bắc Kinh ngợi ca Tổng thống Mugabe là đã “giữ được ổn định khu vực và phát triển kinh tế”. Có thể đó là lý do Bắc Kinh trao giải cho ông ta nhưng Robert Mugabe thì được thế giới biết đến nhiều nhất bởi vi phạm của ông về nhân quyền, bao gồm cả các vụ thảm sát hơn 20.000 người dân ở các tỉnh Matebeleland và Midlands trong năm 1980 để giữ gìn chế độ. Sức mạnh cai trị của Mugabe ở Zimbabwe là ám sát, đàn áp, tra tấn và dùng nhân viên an ninh mặc đủ loại thường phục để trấn áp mọi ý kiến bất đồng.

Zimbabwe là quốc gia lừng danh về sản xuất kim cương, nhưng mỗi viên kim cương xuất đi từ quốc gia này, đều thấm máu của người lao động hay nước mắt của người dân nghèo phải mang vác món nợ công bởi sự hoang phí của giai cấp cầm quyền.

Năm 2005, bộ phim “The Interpreter” do diễn viên Nicole Kidman và Sean Penn thủ vai, nói về một nhân vật hư cấu có tên là Edmond Zwanie. Câu chuyện rất giống cuộc đời của ông Mugabe, từ một giáo viên ăn nói nhỏ nhẹ đi làm cách mạng, đã hóa thành bạo chúa. Sau khi coi bộ phim này, ông Mugabe đã hành động y hệt như chủ tịch Kim Jong-un, tức là tuyên bố bộ phim do “CIA tài trợ” nhằm âm mưu lật đổ ông. Phim The Interpreter ở Zimbabwe hay The Interview ở Bắc Hàn cũng bị cấm lưu hành như nhau, và bị gọi tên là “âm mưu chống lại chính quyền của nhân dân”.

Nhưng vì sao Trung cộng lại háo hức trao tặng giải thưởng mà họ cho là cao quý nhất cho nhà độc tài Mugabe, bất chấp dư luận? Câu trả lời mang tính nguyên tắc vĩnh cữu là: Bắc Kinh không bao giờ làm gì mà không có lợi cho mình. Mối giao hảo của Zimbabwe và Trung cộng ngày càng đậm sâu hơn, kể từ chuyến thăm cấp nhà nước kéo dài 5 ngày của Mugabe vào năm 2014. Các báo cáo tài chính được Forbes tiết lộ, cho biết đầu tư của Trung cộng tại Zimbabwe đã vượt lên hơn 600 triệu USD, nhiều hơn bất kỳ quốc gia châu Phi khác. Và mối giao hảo này được gắn kết rõ hơn thông qua ít nhất hai công ty Trung cộng là Anjin Investment và Tế Nam để khai thác, điều hành mỏ kim cương Marange cực kỳ quý báu của Zimbabwe.

Trong cuộc chơi chính trị, kinh tế, văn hoá… của các quốc gia lớn, Trung cộng cũng muốn góp mặt mình vào đường đua của các nước phát triển, kể từ khi kinh tế của họ phất lên. Giải “Hoà bình Khổng Tử” là một ví dụ. Khi gã nhà giàu mới nổi nghĩ rằng mình có tất cả, đôi khi họ cũng cần có chút thời gian để thảng thốt nhận ra rằng thịnh vượng không đồng nghĩa là có được cả văn hoá. Minh chứng cụ thể nhất, là khi họ sẳn sàng gả bán văn hoá của dân tộc mình để đổi lấy chút leng keng tạm bợ của đồng tiền.



28/10/2015
Tuấn Khanh

Blog Archive