Thursday, August 7, 2008

Đi xe đò, đi xe ôm


Tiểu Tử

Năm đó, tôi về Việt Nam ăn Tết và cũng để mừng má tôi tròn một trăm tuổi. Đó là lần thứ hai tôi về Việt Nam. Kỳ trước về với vợ con nên đi đâu chúng tôi cũng dùng xe nhà của thằng em bà con cho mượn với tài xế ( Thằng em này ' biết làm ăn ' nên bây giờ nó khá lắm ) Kỳ này về một mình, tôi định nếu có dịp sẽ dùng xe công cộng một lần cho biết.

Sau một tuần ở Gò Dầu với má tôi ( Gò Dầu quê tôi thuộc tỉnh Tây Ninh, nằm cách thành phố 63 km ) thấy còn năm hôm nữa mới tới Tết, tôi bèn sửa soạn xuống Sài Gòn để đi thăm vài người bạn.

Lần này, tôi muốn đi bằng xe đò ( bây giờ người ta gọi là ' xe khách ' - trong bài viết này tôi vẫn dùng từ ' xe đò ' cho dễ hiểu ! ) Một thằng cháu - hồi trước làm thầy giáo, bây giờ sửa xe đạp và bán sách vở học trò - nói :

· Để cháu lấy Honda chở chú Hai lên bến xe kiếm xe gởi chú đi.

· Khỏi cần, chú đi một mình được.

Nó phì cười :
· Cái tướng Việt Kiều của chú lên đứng lớ ngớ trên đó, tụi nó dám chém nhẹ vài chục ngàn cái vé đi thành phố thay vì chỉ có tám ngàn thôi. Tụi nó bây giờ 'mánh' lắm chú ơi !

Vậy là nó chở tôi lên bến xe đò ( Ở quê tôi, vì có con sông Vàm Cỏ Đông chảy ngang, nên dân chúng thường nói ' trên ' và ' lên ' để chỉ những nơi nào nằm về phía thượng lưu con sông - đối với khu chợ nằm ở giữa - và ' dưới ' hay ' xuống ' để chỉ những xóm nằm về phía hạ lưu ).

Ở bến xe, thằng cháu nói :
· Chú đứng đây giữ dùm cháu cái Honda. Để cháu ' thả ' một vòng coi.

Trong lúc nó ' thả một vòng ', tụi bắt mối hai ba đứa rà rà lại :
· Đi thành phố hả chú ? Chạy liền giờ nè !

· Thằng xạo đó chú ! Xe nó chưa tới ' tài '. Xe cháu kìa, xe đầu vàng đang rồ máy đó chú. Đi chú ! Cháu xếp chỗ tốt đằng trước cho chú, nè !

Vừa nói, thằng nhỏ vừa nắm cái ba-lô của tôi kéo đi trong lúc thằng kia cũng lôi về phía nó. Tôi rị lại la lên :

· Tao không có đi xe đò ! Tao đợi thằng cháu. Bộ tụi bây không thấy xe Honda đây sao ?

Một thằng khác, có vẻ anh chị, ' xẹt ' vô can thiệp :
· Buông ra ! Tụi bây làm gì vậy ? ' Quậy ' hả ?

Trong lúc hai tên kia bỏ đi, nó hạ giọng thân mật :
· Chú Hai đi thành phố hả chú Hai ?

Tôi lắc đầu, lại chỉ cái Honda, nói :
· Tao đợi thằng cháu chở đi công chuyện.

Thằng nhỏ bỏ đi. Tôi nhìn theo nó mà nghe ngượng vô cùng. Mấy thằng nhỏ bắt mối cỡ tuổi hai thằng cháu nội tôi thôi, vậy mà tôi sợ gì lại phải nói trớ là không đi thành phố ?

Có lẽ tại vì mấy chục năm nay ở xứ người, tôi đã sống quen với cái xã hội có tổ chức, có trật tự, nên tôi không biết cách ứng xử phù hợp với môi trường chụp giựt mánh mung này. Cho nên phản ứng của tôi là né !
Không biết phải làm sao, thôi thì né tránh đi cho nó xong chuyện ! Tự nhiên, tôi thở dài.

Thằng cháu tôi dẫn lại một người đàn ông còn trẻ gầy nhom, giới thiệu :
· Thằng Đực nè chú Hai. Nó lái xe cho cậu Năm Bộn. Nó là chồng con Hường, con của chị Ba Đầy ở xóm nhà máy đó chú nhớ hôn ?!!

Tôi mỉm cười gật gật đầu ' ờ ' cho lấy có. Thằng cháu nói tiếp :
· Còn đây là chú Hai con bà Tám, mầy kêu ổng bằng ông lận.

Thằng Đực chấp tay xá :
· Dạ, lâu nay con có nghe nói ông Hai ở bên Tây, bây giờ mới gặp. Về chơi hả ông Hai ?

Rồi không đợi tôi trả lời, nó vói tay xách cái ba lô :
· Ông Hai đi theo con. Xe con đằng nầy nè.

Thằng cháu tôi dặn vói :
· Xuống dưới nhớ kiếm xe ôm cho ổng, nghe mậy !

· Được rồi ! Cậu ba yên chí !

Thằng Đực dẫn tôi lại xe của nó, giới thiệu tôi cho hai thằng cỡ mười tám đôi mươi đang đứng hút thuốc ở đầu xe

· Đây là ông Hai, con bà cố ở đường đất đỏ, đó ! Còn đây là hai thằng em vợ con, tụi nó vừa là phụ xế vừa là lơ nữa.

Rồi nó đỡ tôi lên đưa lại ngồi phía tay trái cách chỗ tài xế hai hàng băng. Trên xe đã có nhiều người ngồi, chắc họ quen nhau nên nghe nói chuyện rân như họp chợ !
Chiếc xe đò là xe loại đầu bằng, có hai cửa lùa cho hành khách lên xuống. Chỗ ngồi hẹp té, tôi đo vừa đúng hai gang tay. Trên kiếng chắn gió trước mặt tài xế, về phía phải, có viết mấy hàng chữ bằng sơn đủ màu. Vì tôi ngồi trong xe nên phải đọc ngược, nhưng vẫn đọc được :
TP Hồ Chí Minh / Gò Dầu
Vidéo / Karaoké
Chính giữa xe, ngang ngang với đầu anh tài xế, có một cái lồng sắt hàn dính lên trần, trong đó có cái télé.

Tôi tự hỏi :
· ' Vidéo thì còn hiểu được, chớ Karaoké thì hành khách hát hí ra làm sao ?'

Thật là mới mẻ quá ! Dưới chân tấm kiếng chắn gió, cũng ngay chính giữa, có gắn một kệ nhỏ, trên đó có một tượng Phật Bà, một bình bông, một bình cắm nhang và ba chung nước. Tất cả mấy món vừa kể đều được gắn xuống mặt kệ bằng băng keo chằng chịt ! Cho nó đừng nhúc nhích hay lật đổ khi xe chạy hay khi xe thắng gắp. Nhìn tượng Phật Bà chằng chịt băng keo, tôi nghĩ chắc Ngài cũng phải mỉm cười mà từ bi hỉ xả.?

Thằng Đực lên ngồi, đề cho máy chạy, rồi cứ rồ máy từng chập giống như làm cho nóng máy. Hai thằng lơ đứng dưới đất la ó :
· Lên đi bà con ! Chạy à ! Chạy à !

Tài xế sang số cho xe nhúc nhích nhúc nhích, trong lúc hành khách cứ lần lượt trèo lên xe tỉnh bơ không thấy có chút gì hối hả. Không thấy ai bán vé, thiên hạ cứ lên xe thấy ghế trống là ngồi. Hàng hoá mang theo lỉnh kỉnh để đầy hành lang chính giữa. Những người lên sau phải bước choàng ngang để đi !

Một bé gái cỡ mười hai mười ba tuổi, lên xe với hai bao ni-long lớn đựng đầy dép, loại dép cao su Nhựt Bổn. Nó ngồi vào ghế trống cạnh tôi. Vừa đặt đít xuống nó vừa trao cho tôi một bao dép, nói :
· Ông ngoại giữ dùm con.

Nó làm một cách tự nhiên, chẳng thấy một chút ngượng nghịu gì hết. Còn tôi thì thật ngỡ ngàng bối rối không biết phải làm sao ?

Vậy mà tôi cũng ôm bao dép vào lòng, ôm một cách máy móc ! Tôi biết nó ' đi ' hàng lậu ( Xưa nay, Gò Dầu được biết tiếng nhờ có chợ trời hàng lậu ở biên giới Cao Miên ) nhưng tôi không thể tưởng tượng được một bé gái mới mười hai mười ba tuổi mà đã đi buôn lậu và còn bắt người khác giữ hàng lậu giùm mình một cách tỉnh bơ coi như chuyện bình thường ! Xã hội bây giờ thật quá nhiều thay đổi, mà tôi thì quê trân, giống như ' một thằng mán ra chợ ' !

Thằng Đực rồ máy cho xe chạy tới trong lúc hai thằng lơ phóng lên xe - mỗi thằng một cửa - vừa phóng vừa la ' Bà con ơi ! Chạy à ! Chạy à !'.

Xe chạy được mươi thước, ngừng lại, máy rồ từng chập một lúc rồi xe lui về vị trí cũ ! Hai thằng lơ nhảy xuống đất, miệng vẫn bô bô :
· ' Lên đi bà con. Chạy liền giờ nè !'.

Hành khách vẫn lai rai từ tốn leo lên xe?
Mươi phút sau thì xe lại chạy. Lần này, nó ra khỏi bến xe, chạy rề rề. Đến ngả ba ( Chỗ này có đường xuống chợ, có đường vô xóm Mới, nhưng vẫn được gọi là 'ngả ba' !) nó rước một vài người khách rồi chạy thẳng về hướng thành phố. Tưởng chạy luôn, té ra xuống khỏi Trâm Vàng - cách ngả ba lối ba cây số - nó quay đầu lại chạy về bến đậu. Lại nhúc nha nhúc nhích một lúc lâu đến khi có tiếng tu hít thổi ( Chắc là hiệu lịnh của cán bộ điều hành bến xe ) xe lại rồ máy chạy. Lần này, đúng là nó chạy thiệt bởi vì nó không có rề rề như hồi nãy ! Tôi thở cái khì.?

Xe không có bán vé, nhưng có một chị đi thâu tiền. Cái hay của chị này là chị ta nhớ người nào đã thâu rồi người nào chưa. Cho nên trong suốt ' hành trình ' trèo qua trèo lại trên những kiện hàng nằm ngổn ngang dọc hành lang để thâu tiền, không thấy ai phàn nàn phản đối gì hết.

Xe đang chạy, bỗng thấy thằng lơ cửa trước đứng thẳng lên mở dây nịt, kéo phẹt-mơ-tuya... cởi quần ! Hành khách tỉnh bơ. Có lẽ trên xe chỉ có một mình tôi là ngạc nhiên trố mắt nhìn. Một cô gái ngồi gần đó đưa cho nó mấy cây thuốc lá ' 555 ' và một nạm vòng thun, nó cầm lấy, xỏ vòng thun vào hai chân, cách khoảng nhau độ hơn một tấc, rồi nhét mấy cây thuốc vào đó, dài từ háng xuống mắc cá và ôm tròn chân từ mặt trong ra mặt ngoài. Trông nó giống Robocop của phim Mỹ !

Thì ra thằng lơ giấu hàng lậu dùm cô gái. Nó vừa mặc quần xong là đến lượt thằng lơ cửa sau.

Nhưng thằng này quá gầy nên nó không cần cởi quần. Nó kéo ống quần đì-rét lên tới bẹn rồi làm y như thằng trước. Thằng này thì ' cao cấp ' hơn, vì nó còn ' chêm ' vòng theo thân mình tới năm cây thuốc lận ! Xong nó khệnh khạng đi về hướng cửa sau. Tôi nhìn theo, phục quá !

Xe vừa chạy vừa bóp kèn, đường trống vẫn bóp kèn. Làm như đã thành cái tật ! ( Ở Việt Nam bây giờ, chạy xe hơi, xe gắn máy trên đường - Nhà Nước gọi là ' tham gia lưu thông ', nghe thật là văn vẻ - ai ai cũng bóp kèn, chạy ngoài đồng hay chạy trong thành phố gì cũng vậy hết. Lạ lắm ! )

Còn hai thằng lơ thì hể thấy có người chạy lạng quạng phía trước thì lòn người ra ngoài, vừa la to ' Vô ! Vô !' vừa vỗ vào thùng xe đùng đùng. Làm như kèn xe không đủ cho người ta nghe vậy !

Thấy ai đứng lớ ngớ đàng xa bên lề đường như có vẻ đón xe thì lơ hét to cho tài xế ' Bà già đó ! Bà già đó !' hay ' Con mẹ cầm nón đó ! Con mẹ cầm nón đó !'.

Nếu là hành khách đưa tay ngoắc thì xe chạy chậm lại, rề sát vào. Thằng lơ phía trước mở cửa rồi một tay nắm cây cột sắt nằm cạnh cửa lùa, lấy thế nghiêng nguời xuống hốt người khách đẩy vào trong xe trong lúc xe vẫn tiếp tục lăn bánh chớ không ngừng lại ( Sau này tôi mới biết rằng xe đò không được phép rước khách ngoài những nơi đã được ấn định bởi chánh quyền. Vì vậy xe không được ngừng dọc đường ngoại trừ khi xe ăn-banh !)

Thằng Đực vừa lái xe, vừa bóp kèn, vừa lách tránh những xe khác - đủ loại :
· Honda, xe đạp, xe thùng, xe ba gác, xe bò, xe ngựa... vừa liếc dài theo lề đường để ' bắt ' khách.

Xe đang chạy ngon lành ( 50 km/giờ, tốc độ tối đa ấn định bởi Nhà Nước ) bỗng nó ' nhả ga ' chạy bớt lại và la lên :
· ' Giao thông nghen ! Giao thông nghen ! Lấy tay lấy đầu vô bà con !'.

Hai thằng lơ cũng la theo :
· ' Đừng ló đầu ra nghe bà con ! Giao thông đó !'.

Xa xa về phía trái, thấy có hai ông công an giao thông ngồi chàng hảng trên xe mô-tô dưới tàn cây bên lề, hút thuốc. Khi xe chạy ngang qua, mấy ổng chỉ nhìn theo cười cười, chắc hài lòng với sự biết ' chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ giao thông ' của tài xế Đực !

Đường xuống thành phố, ngày xưa, hai bên là ruộng lúa ruộng mía và giồng rau cải. Bây giờ nhà cửa cất dài dài, đồng ruộng còn rất ít. Quán ăn, quán nhậu thì quá nhiều. Phần lớn mang bảng hiệu rất thơ mộng như :
· ' Hẹn hò ', ' Vườn Thúy ', ' Quán Trăng '
Làm như bây giờ người ta thèm được' phiêu phiêu ' để quên đi một phần nào cuộc sống xơ cứng của hiện tại !

Bến xe Trảng Bàng nằm trước sân banh. Xe đò vừa vào bến thì một bầy trẻ con bán dạo ùa lên xe như ruồi, rao hàng ó trời ! Trong xe bỗng ồn ào như cái chợ. Nhiều đứa nhỏ mang hàng đầy hai vai. Hàng đựng trong những túi ni-long nhỏ bằng nắm tay, miệng cột túm lại bằng vòng thun. Mỗi loại được xỏ chung với nhau thành một đùm. Tụi nhỏ đeo nhiều đùm như vậy lên hai vai, nhiều đến nỗi không còn thấy cái cổ ! Chỉ còn thấy cái đầu nhỏ lòi ra trên đống túi ni-long tròn tròn.?

Tụi nhỏ bán loại này rao hàng có ca có kệ. Rồi vì muốn cho ' có ca có kệ ' nên nhiều tiếng để sai dấu, tôi nghe mà không hiểu hàng gì và hàng gì !
Phải nghe vài lần mới?' nắm bắt ' được :

· ' Sâm lạnh. Thuốc lá. Huynh gum. Trứng cúc. Bánh tráng muối. Nem chay. Đây?'

Nếu có người mua, đứa nhỏ cầm túi ni-long giựt mạnh cho đứt sợi thun rồi trao cho khách, nhanh gọn lắm ! Ngoài ra, có những đứa bán ' chuyên ngành ' hơn, bán một thứ một, như chỉ bán giấy số hay thơm gọt sẵn, hay bánh tráng bánh phồng, hay thuốc lá..v.v... đủ thứ.

Đứng đầy xe như vậy mà khi xe rồ máy lìa bến thì tụi nó đứa trước đứa sau phóng xuống như trò đu bay ! Thấy chết như không !

Xe chạy chậm chậm, rước vài người ở khúc cua Trảng Bàng. Đến Cầu Ông Chừa - cách Trảng Bàng độ năm ba cây số - xe quay đầu chạy về bến trước sân banh ! Rồi cứ nhúc nha nhúc nhích để lấy thêm hành khách. Mấy đứa nhỏ lại ùa lên rao hàng. Độ hai mươi phút sau, xe lại lăn bánh. Lần này chạy thiệt.

Trên đường lúc nào cũng có người. Xe đạp, xe Honda ( Bây giờ, ' Honda ' là tiếng gọi chung cho xe hai bánh có gắn máy ) chạy loạn. Hai bên đường, thỉnh thoảng có bảng đề ' Bia tươi ' đặt trên lề trước quán nhậu. Tôi đã nghe nói ' bia hơi ', ' bia ôm ', nhưng loại ' bia tươi ' này là lần đầu !

Khều thằng lơ, tôi hỏi :
· Bia tươi là gì vậy cháu ?

Nó bật cười :
· Là bia làm tại chỗ, làm ngày nào là nhậu ngày nấy. Để vài ba bữa mà đớp vô là đi luôn à ông Hai !

Tôi gật gật đầu nhưng trong lòng sao nghe buồn chi lạ : bây giờ, đến ' cái nhậu ' cũng' không giống ai ' hết !

Bỗng thằng Đực vừa bớt ga rà thắng vừa la lên :
· Kinh tế ! Kinh tế ! Bà con.?

Trong xe, hành khách nhốn nháo. Kẻ thì đút giấu hàng dưới băng mặc dù ở đó đã đầy đồ, người thì chèn nhét hàng trong hốc trong kẹt, dưới đít mấy kiệng hàng rau cải gà vịt. Mấy bà mấy cô thì nhét trong áo trong quần chẳng thấy có chút gì xấu hổ hết !

Tôi nhìn con bé cạnh tôi, nó cười trấn an :
· Ông ngoại đừng lo. Mỗi người có quyền đi một bao dép. Con đi hoài hà !

Tôi ' ờ ' rồi hỏi một cách máy móc :
· Bộ con không có đi học hả ?

Nó cười rất tự nhiên :
· Đi học rồi lấy gì ăn, ông ngoại ?

· Tôi xúc động, không dám nhìn gương mặt dễ thương đó nữa, tôi nhìn vội ra ngoài.

Xe đã đậu lại. Bên kia đường, có một xe hàng nằm sau một xe Jeep. Hai ông công an kinh tế mặc sắc phục ( họ kiểm soát hàng lậu ) đang ' làm việc ' dưới tàn cây vệ đường với mấy người mà tôi đoán là lơ và tài xế của xe hàng. Thằng Đực cầm một xấp giấy tờ xum xoe chạy qua đó, chen vào chỉ chõ nói năng. Một lúc sau, thấy nó khúm núm cúi chào mấy cái rồi vui vẻ chạy trở về trèo lên xe sang số chạy thẳng !

Xe chạy không bao nhiêu xa, hành khách chộn rộn móc kéo hàng giấu hồi nãy cho vào bao vào bị. Hai thằng lơ cũng cởi quần lấy cây thuốc vòng thun trả lại cô gái, vừa làm vừa trò chuyện nói cười. Con nhỏ ngồi cạnh tôi kéo cái bao dép tôi đang ôm về phía nó, chẳng nghe một lời cám ơn. Mọi người đều hành động một cách tự nhiên, bình thường.

Tôi bỗng thấy tôi không giống ai hết. Tôi là người ' bất bình thường ', ngay trong lòng quê hương mà sao thấy thật là lạc lõng !

Xe ngừng ở Suối Sâu, hai thằng lơ - đứa trên mui, đứa dưới đất - xuống hàng :
· bao, bị, giỏ tre, cần xé lổn ngổn ( Những món này chắc của bạn hàng quen gởi và đã chất lên đó trước khi xe vào bến Gò Dầu )

Vừa làm, thằng lơ trên mui vừa nói lớn cho mấy người đang bu lại nhận hàng :
· ' Hai cái cần xé nầy của dì Ba. Cái giỏ bội này cũng của bả nữa. Mấy thứ tôi liệng xuống đây của cô Bảy nghen. Rồi ! Xong ! Bây giờ là đồ của chú tư Xáng '.

Cô gái ' đi ' thuốc 555 lấy hàng nằm dọc hành lang trao qua cửa sổ cho một bà sồn sồn đứng phía dưới, vừa làm vừa nói chuyện huyên thiên.
Bà đó hỏi :
· Mầy có ghé thăm con Hoa hông ? Nó đẻ chưa ?

· Chưa. Má lên trển mà coi. Cái bụng của chỉ bây giờ chang bang như cái mả vậy !
Nói rồi, cô ta cười hắc hắc. Chắc cũng là chuyện bình thường thôi.

Xe chạy tiếp. Bon bon 50 km/ giờ. Đến Củ Chi ngừng lại để xuống hàng lần nữa. Con nhỏ ngồi cạnh tôi xuống ở đây. Nó đứng lên, xách hai bao dép đi, không nói một lời, cũng không nhìn lại. Nó làm tự nhiên như tôi không có mặt trên xe !

Sau khi xuống hàng, xe chạy thẳng về thành phố, không ngừng ở trạm nào nữa hết.
· Tôi đoán :' Trên mui chắc không còn hàng '.

Bến xe Tây Ninh nằm ở Bà Quẹo. Bến này rộng lắm, vây quanh bởi một tường rào. Khi xe đò quẹo vào, thấy người ta chạy theo lố nhố. Chừng xe đậu rồi, nghe họ mời mọc tía lia mới biết họ là những người lái xe ôm, xe ba gác đang tranh nhau kiếm mối chở đi.

Thằng Đực nói :
· Ông Hai ngồi đây, đừng đi đâu hết. Để con kiếm mấy thằng xe ôm quen cho ông Hai.

Tôi nhìn đồng hồ thấy 10 giờ 20. Hồi ở Gò Dầu, tôi lên ngồi trên xe lúc 8 giờ sáng. Tính ra, tôi đi 63 km mất hết hai giờ hai mươi phút !

Một lúc sau nó dẫn đến một người đàn ông cỡ tuổi nó, vừa vỗ vai người đó vừa nói : Thằng này tên Chín, ở cùng đơn vị với con hồi trước. Nó đàng hoàng lắm, ông Hai. Mà ông Hai về đâu vậy ?

· Ông về nhà thằng cháu ở khu Đại học Phú Thọ.

Thằng Đực lại vỗ vai bạn :
· Tao giao ông Hai cho mày đó. Tính tiền cho có tư cách nghe mậy.

· Yên chí?

Vừa nói thằng Chín vừa cầm ba lô của tôi :
· Ông Hai đi theo con.

· Ủa ? Xe của cháu đâu ?

· Dạ để ngoài kia, chớ đâu được phép đem vô đây, ông Hai. Cấm mà !

Vậy là mấy phút sau, tôi ' ôm ' về nhà thằng cháu. Đó là lần đầu tiên tôi đi xe ôm.
* * *

Ở thành phố, người ta thường đi xe ôm, nếu chỉ đi có một mình. Xe ôm rẻ hơn xe taxi nhiều và nhanh hơn nhờ nó lòn lách dễ. Biết như vậy nên sáng hôm sau tôi ra đường đón xe ôm để đi thăm bạn bè.?

Nếu xích lô và taxi dễ ' nhận diện ' nhờ hình dáng và chữ ' taxi ' bên hông, thì xe ôm rất khó biết. Bởi vì trên đường lúc nào cũng đầy người chạy Honda, chạy xuôi chạy ngược, không có dấu hiệu đặc biệt gì hết thì biết ai ' ôm ' hay ai không ' ôm ' ?

Nếu xe ôm được sơn một màu ấn định, hay người lái xe có gắn một cái gì trên ngực trên lưng, hay ít ra cũng đội nón kết có in hai chữ ' xe ôm ' thì dễ cho mình nhìn ra, để ngoắc cho đúng. Đằng này, ai cũng như ai.

Ngoắc đại mấy lần thấy ' trật chìa ', tôi bèn đổi ' chiến thuật '. Tôi bước ra đứng trên mép vỉa hè, mặt làm ra vẻ dáo dác nhìn xuôi nhìn ngược như đang tìm xe ôm trong luồng người chạy Honda. Thấy một người vừa chạy vừa nhìn dài dài theo phố, tôi mừng rỡ vẫy tay ra dấu. Anh ta chạy luôn. Vậy là anh ta đang tìm cái gì khác chớ không phải tìm khách hàng. Tôi lại làm bộ dáo dác cho người khác để ý.

Lần này có một ông tấp vô, mỉm cười hỏi :
· Đi không ông Hai ?

Tôi gật đầu, nói địa chỉ, trả giá - căn cứ trên giá đi hôm qua - rồi ôm đi .
( Gọi là ' ôm ' chớ hành khách không có ôm người lái. Nhiều người không biết, cứ nghĩ rằng trèo lên xe là phải ôm ! Cho nên, khi trở về Paris thuật lại vụ đi xe ôm, vợ tôi hỏi :' Có đàn bà lái xe ôm hông ?' )

Trên đường, xe chạy như loạn. Hai luồng ngược chiều nhau lấn ép lòn lách, bóp kèn như điên ! Thấy tai nạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào !

May quá, ông lái xe của tôi - khá trộng tuổi - chạy từ tốn. Ổng cứ men theo lề mà chạy và đặc biệt là không nghe ổng bóp một tiếng kèn ! Ngạc nhiên, tôi hỏi :
· Sao ông không bóp kèn ?

· Bóp cho ai nghe ? Ai cũng bóp kèn hết, rền trời. Mình có bóp cũng vô ích !

Ngừng một chút rồi tiếp :
· Cứ làm thinh như vậy mà người ta để ý. Người ta nghe mình làm thinh !

Rồi ông ta cười ha hả. Tôi cũng bật cười theo. Khoái quá, tôi vỗ vai ổng :
· Hay ! Hay !

Rồi không kềm được, tôi hỏi thẳng :
· Hồi trước ông làm gì ?

Ngầng ngừ một lúc, ổng mới nói :
· Dạ, làm giáo viên.

· Dạy trường nào vậy ?

· Dạ, trường trung học X.

· Dạy trung học sao gọi là giáo viên được ? Phải gọi là giáo sư chớ.

· Xin lỗi ông. Hồi nãy nhìn ông tôi đã đoán ra ông là Việt Kiều. Bây giờ, ông hỏi như vậy đúng là ông không phải người ở trong nước. Bây giờ, đi dạy học cao thấp gì cũng gọi là giáo viên ráo. Muốn được gọi ' giáo sư ' phải được ' Hội Đồng Chức Danh Giáo Sư Nhà Nước ' xét duyệt hồ sơ. Khi họ công nhận, họ cấp cho mình chức danh giáo sư. Chừng đó, mình mới được gọi là giáo sư. Ông hiểu không ?

Tôi nhớ lại tôi có một người bạn hồi đó cũng dạy trường trung học X. Tôi nói :
· Tôi có một người quen cũng dạy ở trường X nữa. Ông tên Nguyễn Văn Y.

Giọng ông xe ôm có vẻ như reo lên :
· Anh Y dạy lý hoá. Ảnh mộc mạc dễ thương lắm. Lúc nào cũng thắt cà vạt đen !

Ông xe ôm nói đúng. Như vậy ổng là giáo sư thiệt, không phải ổng ba xạo.
Tôi bỗng nghe một xúc động dâng tràn lên ngực. Tôi đặt một tay lên vai ông ta, muốn nói gì đó thật nhiều. Nhưng sao tôi không tìm ra được lời, tiếng nói bị nghẹn ngang trong cổ.

Tôi chỉ biết bóp nhẹ vai của ổng, cái vai bây giờ tôi mới thấy là gầy. Chắc ổng hiểu cử chỉ của tôi nên làm thinh.

Tôi bóp vai ổng mà tưởng chừng như tôi đang bóp vai một người bạn cố tri, tưởng chừng như tôi đang mân mê một cái gì trân quí của thời cũ.

Tôi như thấy lại được cái thời đã mất đó với những giá trị tinh thần của nó, cái thời mà nhà giáo dù nghèo cũng chưa đến nỗi phải chạy xe ôm như bây giờ.

Ông xe ôm im lặng lái xe. Tôi im lặng nhìn cảnh tượng xô bồ hỗn tạp trên lòng đường phố. Bàn tay tôi vẫn đặt trên vai ông ta như để giữ thăng bằng. Sự thật, tôi muốn giữ nguyên như vậy để ổng cảm nhận rằng giữa ổng và tôi không có một sự cách biệt nào hết. Không có người lái xe ôm, không có khách đi xe ôm. Mà chỉ có hai thằng bạn...

Bỗng ở phía ngược chiều, một người đàn ông lái Honda nhìn về phía bên này gọi to :
· ' Thầy ! Thầy !'.

Tôi thấy anh ta chật vật lòn lách quay đầu xe lại, chạy theo chúng tôi. Chừng đến ngang nhau, anh ta hớn hở :
· Thầy mạnh hả thầy ?

Giọng ông xe ôm cũng vui vẻ :
· Ờ ! Mạnh ! Cám ơn ! Em đi đâu vậy ?

· Dạ ! Em chạy áp-phe. Thấy thầy em nhìn ra được liền hà ! Tụi thằng A thằng C nói có gặp thầy nên em thường để ý kiếm, bây giờ mới gặp. Mừng quá, thầy !

· Ờ ! Cám ơn ! Hai mươi mấy năm mà tụi em còn nhớ tới thầy là thầy vui rồi.

· Làm sao quên được, thầy ? Hồi đó, thầy là thần tượng của tụi em mà !

Ông xe ôm làm thinh. Chắc cả một dĩ vãng đang được quay nhanh lại trong đầu. Tôi bóp nhẹ vai ông ta, chia xẻ.

Hai thầy trò vừa lái xe vừa nói chuyện với nhau một lúc rồi người đó xin phép ' đi làm ăn '. Chúng tôi im lặng, tiếp tục đoạn đường còn lại. Sự im lặng nào sao cũng nói thật nhiều...

Đến nhà anh bạn tôi, tôi trả tiền cuốc xe ôm mà không dám cho thêm như tôi đã làm hôm qua với thằng Chín. Tôi muốn ông ta thấy rằng tôi vẫn kính trọng ông ta, vẫn xem ông ta là một giáo sư.

Ông ta nhìn tôi mỉm cười. Chúng tôi bắt tay nhau, cái bắt tay đó ngầm nói lên rằng, dù cuộc đổi đời có vĩ đại đến đâu, mình vẫn giữ được cái tình người trân quí của thời cũ.

Lần đi xe ôm đó tôi nhớ hoài đến bây giờ. Viết lại mà vẫn còn nghe xúc động.

Wednesday, August 6, 2008

Chuyện Tình Khoai Lang
(Kho^ng bie^'t ta'c gia?)

Tình yêu là gì?

Ai cũng hiểu, ai cũng biết. Thế nhưng không có một định nghĩa nào được cho là đúng khi giải thích về tình yêu cả. Lý do là, mỗi người hiểu tình yêu theo một nghĩa khác nhau.

Tình yêu, ai cũng có một lần nghe qua, ai cũng đã có ít ra một lần yêu (thử hay thật cũng được), thế nhưng, khi nào thì được phép yêu? Khi nào thì nên... chấm dứt? Không ai dám trả lời cả! Người lính chiến quanh năm với bưng biền, tròn ba tuổi lính, chưa hề có bạn tâm tình, cũng không thể kết luận rằng anh ta không biết gì về tình yêu. Ngay cả ông lão đầu tóc còn vài cọng không đủ làm thuốc, răng cỏ theo nhau rụng xuống cầu hết trơn rồi, cũng không dám nói là mình có đủ kinh nghiệm về tình yêu. Tôi cũng như bạn vậy, cũng đã nghe nói về tình yêu, cũng đã làm thử một lần. Chỉ có một điều đặc biệt là tôi đã đuợc nghe kể lại một chuyện tình thời hậu chiến. Chuyện tình này có thật, rất là cảm động, đã được nhiều anh em biết tới. Theo đúng như những kết luận về chuyện tình thời cổ tích, hai vai chính tới nay vẫn còn sống, vẫn thương yêu nhau, gia đình thật là đầm ấm.

Chuyện tình yêu này thật là đẹp, thật là đáng ghi nhớ, hay hơn tất cả những chuyện tình yêu trên thế giới. Love Story của Mỹ cũng thua xa! Một câu chuyện tình yêu kéo dài cả ba năm trời, trong đó hai vai chính, một nam một nữ không hề quen biết nhau, không hề tiếp xúc với nhau, nhưng kết cục lại lấy được nhau thật là ngọt ngào. Câu chuyện tình yêu này đã được đặt tên là... Chuyện Tình Khoai Lang, theo lời kể của một chịến hữu Nhẩy Dù của tôi, như sau:

***
Ngày đó, vào khoảng năm 1977, tôi đang bị bọn VC bắt đi tù vì tội có ông Tổng Thống đầu hàng. Cả bọn tôi, đa số là các Sĩ Quan trẻ (cấp bậc từ Thiếu Úy tới Đại Úy) được tập trung ở trại Suối Máu, sau đổi qua Trảng Bom (Biên Hòa). Bọn VC độc ác bắt chúng tôi làm việc cật lực nhưng không cho ăn uống tử tế, thuốc men hoàn toàn không có . Ai sống được thì sống, ai về chầu ông bà ông vải thì cứ việc đi. Phương cách giết người này thật là độc ác, giết nguời mà không cần gươm súng. Mỗi ngày đi lao động bên ngoài, anh em cố gắng kiếm được thêm cái gì thì ráng mà kiếm để sống cho qua ngày. Có người lượm được cái trứng chim, bắt được con thằn lằn, rắn mối...cũng đã cho rằng mình có số sung sướng lắm rồi. Dân làng thì ở ngoài xa, thỉnh thoảng mới gặp một vài người. Bọn VC quái ác không cho dân tiếp xúc với anh em chúng tôi và cũng cấm tuyệt anh em chúng tôi không được lân la tới khu dân chúng. Đói, đói lắm, đói thê thảm, đói lả người ra! Nhưng anh em còn trẻ, sức chịu đựng cao, tinh thần càng cao hơn, nên ráng sống đợi một ngày mai tươi sáng.

Bọn VC khoe với chúng tôi: " Đảng ta đã . . . Đại Thắng Lợi"

Thì chúng tôi lại vui mừng nhìn nhau, nói trong ý nghĩ: "Anh em ta . . . Đợi Thắng Lại!"

Ruộng mía, khoai lang, khoai mì của đồng bào ở chung quanh rất nhiều, nhưng chúng tôi không đụng tới, vì đó là của dân, mồ hôi nước mắt của họ. Họ cũng đói như chúng tôi vậy, đâu thể nào lấy của dân được. Ngày xưa, chúng tôi bảo vệ họ, ngày nay không làm gì được nữa nhưng không vì đói mà mất tư cách. Đồng bào biết chúng tôi đang bị đầy đọa, họ cũng thương cảm lắm, họ cũng đã tìm đủ mọi cách mà giúp đỡ chúng tôi. Bọn VC cũng biết như vậy, cho nên mỗi lần phải đưa chúng tôi di chuyển ngang khu dân cư, bọn chúng đi kè kè sát bên, không cho ai tiếp xúc với ai. Muốn mua thêm ít đường, ít muối cũng khó lòng mà làm được!

Thế nhưng trời cao còn có mắt mà, không sao! Miễn được thấy dân là lòng người lính thấy ấm lại rồi! Buổi sáng hôm đó, chúng tôi đang trên đường đi lao động. Từ xa, chúng tôi đã thấy khu dân cư ở đằng trước, và thấy bóng dáng những trẻ em, những cô gái đang tung lúa, thẩy khoai lang ra trước nhà để phơi. Khi tới gần khoảng chừng chục thước, chúng tôi thấy một bóng dáng phụ nữ cầm thúng thẩy khoai lang ra ngoài đường đi, chỗ chúng tôi đang bước thấp bước cao. Chúng tôi tuyệt đối không đụng tới tài sản của dân, dù là mấy củ khoai lang nhỏ bé, nên vẫn cứ thế mà bước đều. Mấy hôm sau, khi đi ngang qua xóm nhà này, chúng tôi lại thấy bóng dáng người phụ nữ này. Cô cũng dáng điệu như cũ, cầm thúng khoai lang thẩy ra đường đi. Lần này cô nói bâng quơ:

- Má à, mấy đám khoai lang hư này, mình đâu có bán cho ai được! Thôi, dục bỏ, nha Má!

Cô vừa nói vừa thẩy khoai lang ra chỗ chúng tôi.

Cô đứng ở xa nói tới, chúng tôi cũng không đi gần nên chỉ nghe cô nói như vậy thôi. Nói là cô gái thì cũng là nói vậy thôi, chứ không thấy rõ hình dáng, nói chi tới mặt mày.

Mấy hôm sau nữa, chúng tôi lại có dịp đi lao động ngang qua khu dân cư này. Chúng tôi lại thấy cô gái hôm trước. Cô vẫn đứng xa xa, nhưng lần này cô cố tình cầm khoai lang thẩy vào chúng tôi rồi bỏ đi, dáng vẻ rất là bình thường.

Tối về khu trại, chúng tôi bàn tán về cô gái, về những củ khoai lang mà cô thẩy ra ngoài. Chúng tôi cùng đồng ý là thái độ của cô rất lạ: Không có ai phơi khoai lang ở chỗ đường đi đó, mà cũng không có ai dục khoai lang trên đường đi như vậy cả.

Một người bạn - tên Phúc - đã nói với tôi:

- Tao nghĩ rằng cô gái này muốn cho mình những củ khoai lang đó. Chứ nếu cô muốn dục đi, thì thiếu gì chỗ dục. Hơn nữa, khoai lang dù là hư, không cho người ăn được thì để cho heo ăn, dễ gì mà dục bỏ!

Lần sau nữa, khi đi ngang khu nhà dân đó, chúng tôi lại thấy cô. Lần này chúng tôi không thấy cô thẩy khoai lang ra nữa, mà đứng yên ở phía xa xa chỉ trỏ chỗ này, chỗ kia, ý như muốn chỉ cho chúng tôi những củ khoai lang mà cô đã thẩy ra trước đó.

Tối về, chúng tôi lại có dịp bàn tán. Phúc nói với tôi:

- Tao có nhìn thấy mấy củ khoai lang ngay trên đường mình đi. Tao thấy khoai lang kỳ này cũ rồi, không tươi như bữa trước nữa. Tao nghĩ rằng, cô thẩy ra cho tụi mình lượm, nhưng không ai lấy, nên cô lại thâu lại để dành, bữa nay thẩy ra nữa. Chắc chắn là cô cho tụi mình đó, tụi mày đồng ý không?

Tất cả cùng có ý nghĩ đó! Chắc là cô còn có lòng thương những người lính sa cơ đói khổ, mà tặng những củ khoai lang ăn lót lòng. Củ khoai lang nhỏ nhoi không đáng là bao, nhưng tấm lòng của cô thật đáng quý! Chẳng có ai ở không mà chờ anh em chúng tôi đi gần tới mới thẩy khoai lang ra. Cũng chẳng có ai có nhiều khoai lang để mà thẩy chơi như vậy. Chắc chắn là khi chúng tôi đi khỏi, cô lại thâu lại những củ khoai đó mà để dành thẩy lại cho chúng tôi vào ngày hôm sau. Anh em chúng tôi cùng đồng ý là kỳ tới, nếu có đi ngang khu nhà dân, nếu cô còn có lòng hảo tâm mà thẩy khoai lang ra, chúng tôi sẽ chia nhau lượm.

Dịp may đã tới, chúng tôi lại có dịp đi ngang khu nhà dân cũ, và lại thấy bóng dáng cô từ xa. Cô lại thẩy khoai lang ra rồi bỏ đi. Chúng tôi đã bàn với nhau trước rồi, nên chia ra làm nhiều toán nhỏ: Toán đi trước bao chung quanh đám quản giáo để chúng khỏi nhìn thấy phía sau, toán thì đi chậm chậm lượm thật lẹ những củ khoai lang bỏ vào giỏ xách thật nhanh. Lính mà! Chúng tôi thanh toán chiến trường khoai lang lẹ lắm, không thua gì những lúc thanh toán bọn quỷ đỏ trên chiến trường trước đây.

Buổi trưa hôm đó, chúng tôi lại chia ra nhiều toán để dắt bọn quản giáo đi ra xa, trên đầu gió, để đám còn lại lo nướng khoai . Đói lòng ăn được củ khoai lang. Ôi, sung sướng nào hơn!

Đám này ăn xong thì lại ra canh bọn VC để đám kia trở lại ăn những củ khoai lang tình nghĩa đó. Lần sau đi ngang khu nhà dân, đến phiên Phúc lo lượm những củ khoai lang của cô gái hảo tâm. Buổi trưa, Phúc nói nhỏ với tôi:

- Đúng như tao dự đoán, mày ạ! Kỳ này cô ta cho mình toàn là khoai mới, bự và ngon hơn khoai bữa trước nhiều lắm! Chắc cô đã núp đâu đó, thấy mình đã lượm hết khoai kỳ trước nên mới đưa khoai lang mới ra đó!

Nhờ những củ khoai lang đó mà anh em chúng tôi có thêm sức khỏe. Nhờ ở cảm tình mà người dân đã dành cho chúng tôi qua củ khoai lang mà chúng tôi thêm được sức mạnh để chịu đựng cực khổ, chờ đợi ngày mai trời lại sáng. Chúng tôi ăn những củ khoai lang đó của cô gái tốt bụng, nhưng chỉ nhìn thấy dáng của cô từ phía xa xa mà thôi, chứ chưa bao giờ được nhìn thấy mặt cô cả. Cũng chỉ duy nhất có một lần được nghe giọng nói của cô mà thôi.

Thời gian cứ thế trôi qua, chúng tôi vẫn sống, vẫn hiên ngang với đời.

Rồi ngày mai đã tới, ngày tôi và Phúc được bọn VC trả về nguyên quán. Chúng nói là chúng tôi đã... học tập tốt. Nhưng đối với chúng tôi, với riêng tôi và Phúc, chúng tôi vẫn vậy. Muôn đời chúng tôi vẫn là người lính VNCH và càng căm thù bọn Việt Cộng hơn bao giờ hết. Tôi được gia đình lo liệu sẵn, một thời gian ngắn sau khi về lại nhà, tôi đã may mắn vượt biên trót lọt và qua định cư ở Melbourne xứ Úc Đại Lợi.

Tôi cũng có nghe bạn bè nói, Phúc cũng đã vượt biên và hiện ở Sydney, cùng xứ Úc với tôi.

Một ngày đẹp trời vào năm 1990, vợ chồng tôi có dịp đi Sydney và đã ghé thăm Phúc.

Bạn bè ngày xưa gập nhau mừng mừng tủi tủi, nói chuyện huyên thuyên - Chuyện xưa còn đó, nhưng bạn bè nay đâu? Thằng nào còn sống? Thằng nào chết trong trại tù? Thằng nào vượt trại? Thằng nào vượt biên? Đi đâu?

Cuối cùng mới tới chuyện đời sống hiện tại.

Mày lấy vợ hồi nào? Lấy từ hồi ở VN hay qua đây mới lấy? Bao nhiêu đứa con rồi? Đứa lớn bao nhiêu? Đứa nhỏ mấy tuổi. Chúng tôi nói như chưa bao giờ được nói.

Phúc kể, đã lấy vợ từ hồi ở VN, hai vợ chồng cùng vượt biên qua đây. Vợ của Phúc chỉ cười cười khi nghe chồng giới thiệu là tôi ở cùng trại tù với anh từ năm 1977.

Một lúc sau, vợ Phúc bưng ra một đĩa mà Phúc nói rằng rất đặc biệt: Khoai lang Dương Ngọc!

- Ăn đi mày, ăn để nhớ lại cái thời bị tù đầy, bị bọn VC vo tròn bóp méo!

Tôi sáng mắt lên, vồ lấy củ khoai lang, ăn không kịp bóc. Tại sao lại phải bóc vỏ? Vỏ khoai cũng là khoai vậy! Tại sao lại vứt bỏ đi?

Bao nhiêu kỷ niệm xưa quay trở lại. Tôi cũng đã kể chuyện khoai lang cho vợ tôi nghe nên tất cả đều cùng nhau góp lại chuyện xưa. Tôi vừa ăn vừa ngậm ngùi:

- Không biết cô gái đã cho mình những củ khoai lang đó, bây giờ ra sao? Có ai biết cô đó là ai không? Cô ta còn ở đó hay đã trôi nổi đi phương trời biền biệt nào rồi?

Phúc trầm ngâm một lúc rồi trả lời tôi:

- Cô gái cứu sống mình bằng những củ khoai lang... đang ở trước mặt mày đó! Tao cưới cổ rồi!

Thật là không ngờ! Vợ chồng tôi ngạc nhiên tới há hốc miệng, rớt cả củ khoai lang ra ngoài:

- Mày... mày nói cái gì? Cô này đây... vợ mày đây... là... là cô gái cho tụi mình khoai lang ở Trảng Bom? Mày... nói chơi hay... nói dỡn vậy? Thiệt không? Làm sao mà mày kiếm ra cổ ? Mà... phải thiệt là cổ không? Làm sao mày biết là cổ mà dám nói là cổ ? Dám lấy cổ?

Vợ Phúc (Dung) mỉm cười giải thích cho chúng tôi:

- Em đâu có gueng, đâu có biết ảnh là ai đâu! Tự dưng ảnh tới kiếm em rồi... hỏi cứ (cưới) em đó chớ!

Phúc giải thích rõ ràng hơn:

- Khi còn ở trong trại tù, mình đã nói chuyện với nhau thật nhiều về cô gái đó, tao thầm cám ơn cô đã còn nghĩ đến những người lính VNCH đang mắc nạn. Tao đã nghĩ trong đầu rằng, nếu có dịp trở về, thế nào cũng đi tìm cô gái đó mà cảm ơn. Nếu cô ta còn độc thân, tao sẽ cưới cô ta làm vợ. Mặc dù chỉ với một hành động nhỏ nhoi tặng những củ khoai lang cho chúng ta, nhưng cô đã chứng minh được rằng, cô là người chống lại bọn VC, cô là người đã còn nhớ đến người lính VNCH xưa. "Miếng khi đói bằng gói khi no" mà! Mình đang sa cơ mà còn có người dám nghĩ tới mình, thì làm sao mà không cảm động cho được? Đến khi được thả về, tao trở ra Phan Thiết ở với cha mẹ anh em một tuần, thì nói với ba má là tao kiếm đường làm ăn. Tao quay trở lại Biên Hòa, đi vào khu Trảng Bom, nói với Tổ Trưởng vùng đó là tao ở Biên Hòa, muốn về làm rẫy, mua đất trồng khoai lang. Ông này dẫn tao đi giới thiệu với những gia đình đang trồng khoai lang, có dư đất muốn bán. Nhà nào tao cũng vào làm quen để hỏi mua đất, hỏi kỹ thuật trồng khoai, nhưng mục đích chính là kiếm cho ra cô gái đó. Tao cũng như mày, như những anh em trong trại, đâu có ai biết mặt mũi cô ra làm sao? Ngay cả dáng người cũng không nhìn được, nên khó kiếm hết sức. Nhưng tao còn nhớ được giọng nói của cô ta khi nói: "Má à, khoai lang của mình hư hết rồi, không bán được đâu, dục đi nha Má!" T ao nhớ có nhiêu đó thôi. Rồi duyên số cũng giúp cho tao kiếm ra bả. Buổi chiều hôm đó, khi tao đã hết hy vọng kiểm cổ rồi, đang trên đường đi tới nhà Tổ Trưởng chào từ giã. Chợt tao đi ngang qua một căn nhà ở cuối xóm, thấy một cô gái đang gom khoai lang bỏ vô thúng. Tao ngừng lại hỏi bâng quơ:

- Cô lựa khoai lang đem bán hả?

Cô này không quay lại, vừa tiếp tục lựa khoai, vừa trả lời:

- Tui lựa khoai lang dư đặng mai đem thẩy cho mấy người lính "học tập cải tạo".

Tao thấy coi bộ trúng mối rồi, bèn hỏi tới:

- Khoai lang trồng cực khổ mới có. Bộ cô có bà con đang học tập trong đó hay sao mà lại cho họ khoai lang?

- Tui đâu có gueng ai ở trỏng đâu! Bị tui thấy họ tội nghiệp thì tui giúp đở chúc ít dzậy mà! Hồi xưa, mấy người này đi lính để giữ cho làng xóm được yên, khỏi bị bọn VC phá đám giết hại người ta. Nay những người này bị bắt ở tù, mình phải nhớ ơn họ, phải giúp họ chớ! Hổng giúp được nhiều thì có mấy củ khoai lang cũng giúp họ chút đỉnh dzậy mà!

Mới nghe bả nói là tao nhớ lại liền. Đúng y là giọng nói "Má à, đám khoai lang này hư rồi . . ." mà tao nhớ không bao giờ quên. Tao lại còn kỹ càng hỏi cho ra lẽ tại sao bả lại giúp mấy đám tù cải tạo như mình? Nghe bả trả lời ngon lành như vậy là tao chịu quá đi, nhất định giá nào cũng phải làm quen, nếu được, sẽ cưới bả làm vợ. Lính mà! Dễ lắm! Giản dị lắm: "Hễ ai thương lính là lính thương lại liền".

Tao lại đang trong tình trạng độc thân... "Tròn năm năm lính, chưa hề có bạn tâm tình". Tới luôn! Tao đi tới đi lui nhiều lần làm quen với bả, với gia đình bả, nói là xin học làm rẫy. Khi biết rõ gia đình bả, và biết bả còn đang độc thân, chưa có đám nào, tao mới trở về Phan Thiết kể lại chuyện của bả cho ông bà già tao nghe và nói ý định muốn cưới cô gái quê, nhưng có lòng thương lính đó. Ba má tao đồng ý tao muốn lấy ai thì lấy, miễn là hai vợ chồng hạp với nhau là được rồi. Nhưng mà cô đó có lấy tao hay không thì lại là chuyện khác nữa. Tao trở lại nhà Dung phụ làm rẫy tiếp. Trong một bữa nghỉ trưa ở ngoài ruộng, chỉ có một mình tao với bả, tao mới nói rõ tao là ai? Đã cảm cái tấm lòng của bả và muốn được cưới bả làm vợ. Bả rất ngạc nhiên mà nói với tao, y như bả vừa mới nói với mày vậy: - Tui đâu có gueng biếc gì anh đâu? Tui cho mấy anh khoai lang là cho nguyên đám đó chớ đâu phải cho một mình anh! Bị tui nhớ hồi xưa mấy anh đã đi lính giữ làng xóm tụi tui, chứ tui đâu có biết anh ở trỏng đâu? Mà anh . . . cứ (cưới) tui làm chi?

Làm chi thì tao không biết làm chi, nhưng tao nói tao cảm tấm lòng của bả mà cưới bả, vậy thôi. Tao nói:

- Ít ra thì anh với em cũng còn giống nhau ở một điểm là "THƯƠNG LÍNH".

Nói ba điều bẩy chuyện một hồi, bả cũng không biết nói sao nữa, kêu tao muốn gì thì về nói chuyện với ba má cổ, chứ cổ... hổng biết. Vậy là chịu rồi! Tao mừng quá, cả hai đưa nhau về gập ông già bà già của bả, tao lại kể rõ lai lịch của tao ra và xin đưa cha mẹ tới xin cưới Dung. Hai ông bà ngạc nhiên hết sức, cuối cùng nói là:

- Nếu vậy đúng là duyên số rồi. Con Dung nhà tui nó đâu có gueng biếc gì ông đâu. Nó xin tui ít phai lang, nói là để cho mấy ông bị tù cải tạo, tội nghiệp mấy ổng quá. Ai dè có ông ở trỏng, ông thương nó, ông được dzìa rồi thì ráng lội bộ đi cùng khắp chốn kiếm cho ra nó đặng xin 'cứ' nó! Đó là do Ông Tơ Bà Nguyệt cột đó, chứ hổng có ai bầy ra được đâu!

Tụi tao định ngày, đưa cha mẹ tao tới làm đám hỏi, xong rồi mới mời ổng bả và Dung về nhà tao chơi. Tới Phan Thiết, thấy nhà cửa của ba má tao thì ổng bả và Dung hoảng hồn, vì nhà tao hồi đó cha mẹ cũng còn nhà cửa, cơ sở làm ăn khá lắm! Dung đã nghéo tao ra sân mà nói:

- Nhà anh giào như zậy, mà anh cứ tui là gái guê làm chi? Thôi, thả tui zìa Trảng Bom tui làm rẫy sướng hơn!

Tao phải nói khó với bả:

- Mấy thứ đó là của cha mẹ anh, chứ anh... "Trên Răng Dưới . . . Dế ", đâu có cái gì nữa đâu! Có cái mạng cùi cũng nhờ em cho mấy củ khoai lang mới còn sống tới ngày nay. Mà em đừng có lo, mình còn đủ chân đủ tay, mình tự làm mà nuôi thân, chịu không?"

- Anh nói dzậy thì tui chịu!

Chịu hay không chịu thì cũng trễ rồi! Lính đã nói là Lính làm:

- Em có ý kiến nhiêu đó là đủ rồi, mọi thứ còn lại để anh lo, đừng có lộn xộn gì hết nữa!

Rồi tụi tao làm đám cưới. Cưới xong, tao lo đường vượt biên. Ông bà già vợ thẩy một mớ khoai lang lên tàu, vậy là tụi tao dông. May mắn cho tụi tao, trời yên bể lặng. Sau bốn ngày lênh đênh trên biển, tàu tụi tao cặp được tới Bidong. Tao chọn đi Úc cho nó lẹ và an toàn. Khoảng hai tháng sau tụi tao tới Sydney, gởi điện tín cấp tốc về cho ông bà già tao hay. Hai ổng bả mừng quá, lập tức mướn xe chạy tới Trảng Bom cho ba má Dung hay. Ba Má Dung cũng mừng quá, xá trời xá đất cám ơn lia chia. Ba của Dung cười lớn:
- Dzậy là thằng rể tui khỏi sợ bị Diệc cộng bắt cải tạo nữa rồi ha!

Má của Dung hỏi thêm:
- Ở bển có đất cho tụi nó trồng khoai lang hông dzậy, anh chị sui?

Tụi tao ở bên đây thì cũng giống như tụi bay vậy, ra sức làm mà lo cho gia đình, con cái, lo cho cha mẹ bên Việt Nam. Tụi tao có hai con rồi. Bây giờ bả hết dám hỏi:
- Anh " cứ " tui làm chi, nữa rồi.

Tụi tao lo làm nuôi con ná thở, đâu còn thì giờ mà hỏi nữa! Hỏi nữa tao để ........ đẻ nữa!
Đại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH, kỳ II”


•Gần 10,000 người tham dự một buổi Đại Nhạc Hội ngoài trời đầy phấn khích và cảm động với 8 MCs và hơn 60 ca sĩ hàng đầu của hải ngoại cùng với 5 ban nhạc.

•Hai vị nữ lưu làm rạng danh cho cộng đồng Việt Nam hải ngoại là khoa học gia Dương Nguyệt Ánh và Nữ Đại Úy Phi Công F.18 Elizabeth Phạm đã về tham dự và chụp ảnh với với đồng hương đây gây thêm quỹ cho thương binh.

•Ban Tổ Chức ước tính số thu gần $700.000. Từ một du học sinh Việt Nam cảm động vì những hình ảnh thương binh VNCH giúp $30.00, đến tỷ phú Trần Đình Trường từ New York ủng hộ $100,000.00.

*Bài và Ảnh của Huy Phương

Vào lúc 12:30 ngày Chủ nhật 3 tháng 8-2008, dưới ánh nắng chói chang của mùa hè California, gần 10,000 đồng hương đã tham dự buổi Đại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH, kỳ II” được tổ chức tại Sân Vận Động trường Trung Học Bolsa Grande, thành phố Garden Grove. Lần tổ chức của Đại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH”, lần này cũng do Hội H.O. Cứu Trợï TPB-QP/VNCH phối hợp với Trung Tâm Asia và Đài Truyền Hình SBTN, cùng sự yểm trợ giúp sức của Liên Hội Cựu Chiến sĩ VNCH Nam California.

Hiện diện trong Đại Nhạc Hội hôm nay có rất nhiều vị Cựu Tướng Lãnh VNCH, gần 200 cựu quân nhân VNCH thuộc các binh chủng, các quân nhân hiện dịch của Quân Lực Hoa kỳ, các vị Dân Cử, đại diện các tôn giáo và nhiều đồng hương về từ San José, San Diego, Pomona, Los Angeles...

Sân khấu lớn dược trang trí đơn giản nhưng đầy ý nghĩa với các hình ảnh của thương binh. Một lá đại kỳ VNCH được trang trong treo giữa sân khấu. Lễ rước Quốc, Quân kỳ VNCH đã được cử hành trọng thể bởi các cựu quân nhân VNCH với sắc phục của Hải, Lục, Không Quân, sau đó là lễ chào quốc kỳ VNCH, Hoa Kỳ và lễ truy điệu chiến sĩ với tiếng kèn đồng vang lên trong không khí nghiêm trang và đầy cảm động. Mở đầu chương trình bà Nguyễn Hạnh Nhơn, Chủ tịch Hội H.O. Cứu trợ TPB-QP/VNCH, một Hội Thiện Nguyện từ lâu nay rất có uy tín với đồng hương hải ngoại, đã lên sân khấu tường trình hoạt động của Hội và số hồ sơ TPB còn tồn động cần sự giúp đỡ khẩn cấp. Bà Hạnh Nhơn cũng đề cập đến sự giúp đỡ tận tình của Trung Tâm Asia cũng như Đài SBTN và Liên Hội Cựu Chiến Sĩ để Hội có thể tổ chức buổi gây quỹ trên một quy mô lớn như hôm nay. Hiện diện cạnh bà Hạnh Nhơn còn có bốn vị Phó Trưởng Ban Tổ chức Đại Nhạc Hội đặc trách các ngành tổ chức, yểm trợ, tài chánh và truyền thông như các ông Nguyễn Văn Ức, Trần Trọng An Sơn, Lê Quý, Phan Tấn Ngưu, Huy Phương.

Kế đến người MC quen thuộc với cộng đồng người Việt hải ngoại, và là người MC luôn luôn gắn bó với các chương trình gây quỹ cho Thương Binh, Nhạc Sĩ Nam Lộc đã lên sân khấu trước sự hoan hô nồng nhiệt của khán giả. Nhạc sĩ Nam Lộc đã giới thiệu Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh đến từ Hoa Thịnh Đốn, phát biểu về Thương Phế Binh VNCH. Bà Dương Nguyệt Ánh đã nói đến công ơn của các chiến sĩ đã hy sinh một phần thân thể cho đất nước, chịu nhiều nỗi thiệt thòi cho thân phận sau khi miền Nam thất thủ. Món nợ của các chiến sĩ VNCH là một món nợ mà chủ nợ không đòi, mà con nợ đôi khi không còn nhớ và quên trả. Bà Dương Nguyệt Ánh tha thiết kêu gọi lòng nhớ ơn của đồng hương đối với các thương phế binh VNCH dang sống khắc khoải ở quê nhà.

Trong phần giới thiệu và vinh danh các chiến sĩ VNCH và thế hệ tuổi trẻ VN tại Hoa Kỳ, bà đã giới thiệu với đồng hương Cựu Đại Úy Quách Vĩnh Trường. Đại Úy Quách Vĩnh Trường tình nguyện gia nhập Khóa 20 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Năm 1966 khi ông là Đại Đội Trưởng một Đại Đội Bộ Binh thuộc Sư Đoàn 7, trong một cuộc hành quân đêm tại Gò công, Cộng Sản đã ném một trái lựu đạn đã bị vào bộ chỉ huy, nơi các quân nhân đang tập họp. Ông đã can đảm và nhanh trí đá bạt trái lựu đạn ra ngoài cứu mạng sống cho hàng chục chiến sĩ. Tuy vậy, cựu đại úy Quách Vĩnh Trừơng đã bị thương, mất một tay, một chân, một ngón tay mặt và bị bể xương mặt. Với hành động quả cảm này, cựu Đại Úy Quách Vĩnh Trường đã được Tổng Thống VNCH đích thân trao Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương kèm Anh Dũng Bội Tinh với ngành Dương Liễu.

Sau năm 1975, Cựu Đại Úy Quách Vĩnh Trường đã phải chống nạng đi bán bánh mì để độ nhật. Đến Hoa Kỳ năm cựu Đại Úy Quách Vĩnh Trường đã trở lại đi học tại Đại Học và tốt nghiệp ngành Graphic Design.

Tiếp theo, Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh đã giới thiệu với đồng hương tham dự nữ Đại Úy phi công Hoa Kỳ Elizabeth Phạm. Đại Úy Elizabeth Phạm sinh ra tại Seattle, hai năm sau khi song thân cô đến định cư tại thành phố này, khi miền Nam mất vào tay Cộng Sản. Cô là ái nữ của Bác Sĩ Phạm Văn Minh hiện sống tại Seattle tiểu bang Washington. Liz Phạm tốt nghiệp từ Đại Học USD (University of San Diego) và theo học về kỹ thuật bay tại trường huấn luyện phi hành T 34 của Hải Quân Hoa Kỳ tại Pensacola (Florida) với cấp bậc Thiếu Úy. Sau đó, cô tiếp tục theo học về kỹ thuật bay cấp cao T 45 Goshawk tại trung tâm huấn luyện Meridian của Hải Quân Hoa Kỳ tại tiểu bang Mississippi. Cuối năm 2003, Trung úy Elizabeth Phạm đã tốt nghiệp “Top Hook” (Thủ Khoa) và được Đại Tướng Chỉ Huy Trưởng đích thân trao bằng tốt nghiệp, và được tuyển chọn là Phi Công đầu tiên của Quân Chủng TQLC Hoa Kỳ điều khiển một phóng pháo cơ siêu thanh F 18 Hornet (trị giá 7 triệu đô la). Liz Phạm được thăng Đại Úy từ năm 2005.

Cựu Đại úy Quách Vĩnh Trường đã thay mặt các Thương phế binh đang sống tại Việt Nam chân thành cám ơn Hội H.O, Cứu Trợ TPB-QP/VNCH và nhất là đồng hương đã cưu mang giúp đỡ anh em thương binh từ nhiều năm qua, đem lại niền an ủi và tin tưởng cho những người đang có cuộc sống bất hạnh ở quê nhà.

Nữ Đại Úy Phi Công Elizabeth Phạm, trong quân phục Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, đã đọc một bài diễn văn bằng hai thứ tiếng Anh Việt để tri ân thế hệ cha ông đã hy sinh cho cuộc chiến bảo vệ tự do trước năm 1975. Cô cũng giới thiệu người chồng của cô là Đại Úy Alexander Roloss, cũng là một sĩ quan Phi Công F 18 và hai vợ chồng cùng ở chung một đơn vị. Cô Elizabeth Phạm và Đại Úy Alex Roloss đã dược đồng hương hoan nghênh nhiệt liệt với những tràng pháo tay dòn dã.

Mở đầu chương trình văn nghệ là bản hợp ca “Xuất Quân” được Ban Hợp ca Áo Tím và 30 cựu quân nhân mặc quân phục trình diễn, với phần phụ họa dưới sân khấu của các quân nhân thuộc Hội truyền thống QL.VNCH, trong đó có cả các quân nhân Hoa Kỳ với vũ khí, trong tiếng nổ của bom đạn, gây nên một khung cảnh chiến trường xưa, đầy xúc động.

Một chương trình văn nghệ phong phú sau đó được trình diễn từ 1:00 PM và kéo dài cho đến 8 giờ tối, vì sự có mặt đến phút cuối của khán giả cũng như dự hiện diện của nhiều ca sĩ đang chờ lên sân khấu. Các MCs Nam Lộc-Thùy Dương- Việt Dzũng- Giáng Ngọc -Orchid Lâm Quỳnh- Đỗ Tân Khoa- Minh Phượng- và các ban nhạc Tù Ca Xuân Điềm - Y2K - Moon Flowers - The Asia Band đã cũng luân phiên nhau trình diễn trên sân khấu. Các ca sĩ Thanh Thúy, Y Phương -Lê Nguyên -Tuấn Vũ -Trung Chỉnh- Thùy Hương- Phương Hồng Quế- Phi Nhung - Hoàng Liên Liên -Philip Huy- Băng Tâm- Ánh Minh- Đan Nguyên- Diệp Thanh Thanh- Mai Lệ Huyền- Ngọc Minh- Nguyên Khang -Doanh Doanh -Diễm Liên -Lâm Nhật Tiến- Nguyễn Hồng Nhung- Mỹ Huyền - Phương Thảo- Ngọc Lễ Thanh Lan- Y Phụng- Ý Lan -Trường Vũ- Thanh Tuyền - Ngọc Huyền- Hồ Hoàng Yến- Diệu Hương- Paolo -Nguyễn Tiến Dũng - Mỹ Lan- Bé Trần Thiện Anh Chí - Bé Đan Vi ...đã đến đóng góp cho chương trình ca nhạc mà không nhận thù lao.

Trong khi chương trình ca nhạc được trình diễn trên sân khấu, đồng hương khắp nơi trên nước Mỹ, Canada trong khi xem trực tiếp truyền hình trên đài SBTN đã tới tấp gọi về 25 chiếc điện thoại của công ty V.247 qua số điện thoại miễn phí để đóng góp tiền cho buổi gây quỹ. Các ca sĩ sau khi trình diễn đã tận tình mang thùng lạc quyên đi xuống từng hàng ghế khán giả để xin tiền, do đó con số tiền giúp cho thương binh mỗi giờ mỗi lên cao qua sự tường trình của nhạc sĩ Việt Dzũng bên cạnh sân khấu.

Cảm động nhất là vào giờ phút cuối khi các ca sĩ và ban tổ chức cùng lên sân khấu cùng đồng ca bài “Và Con Tim Đã vui Trở Lại” của Đức Huy, khán gỉa của ĐNH Cám Ơn Anh đã tràn ra sân cỏ tặng hoa và hoan hô, cám ơn thành phần nghệ sĩ và Ban Tổ chức. Đây là một tổ chức Đại Nhạc Hội ngoài trời thành công nhất tại hải ngoại từ trước đến nay. Người ta ước tình số người tham dự có thể lên hơn 10.000 người, vì ngay số vé bán tại cửa trong những giờ Đại nhạc Hội khai diễn đã lên đến 3,000 vé.

Hiện nay Ban Tổ chức chưa kiểm kê được hết số tiền khán giả gởi về giúp, nhưng với ước tính số thu sơ khởi, Đại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH kỳ 2” có thể lên đến $700,000.00. Nhiều cụ già đã đóng góp nhiều lần cho đến đồng bạc cuối cùng trong ví, các em bé đập ống gởi lại năm bảy chục đồng. Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh và Elizabeth Phạm đã chụp ảnh chung với khán giả hâm mộ để gây thêm quỹ. Chúng tôi cũng ghi nhận thêm, KHG Dương Nguyệt Ánh và phu quân đã từ Hoa Thịnh Đốn về tham dự Đại Hội và tặng thêm $2,000.00. Tỷ phú Trần đình Trường từ New York đã tặng $100,000.00. Một thuyền nhân là bà Kim Phượng, độc thân, thất nghiệp cũng đã bỏ ra số tiền $1,500.00 để mua đấu giá một bộ tem thương binh.

Độc giả Thời Báo USA muốn đóng góp giúp đỡ cho thương binh qua Hội H.O. Cứu Trợ TPB-QP/VNCH xin gởi chi phiếu về địa chỉ: P.O. Box 25554- Santa Ana, CA92799 và ghi “ĐNH Cám Ơn Anh” hay có thể liên lạc qua các số điện thoại: (714) 721-5312 hay (714) 590-8534.

Huy Phương
Religious Freedom Lost on Vietnam

By Michael Benge

FrontPageMagazine. com Tuesday, August 05, 2008


In direct contravention of President Bush's policy of promoting religious freedom abroad, the State Department has established a foreign policy toward Vietnam promoting that communist government's control of churches. This is the same government that murdered over a million of their own people after the communist takeover of South Vietnam in 1975.

In the 1980s, the phrase "Coke Bottle Diplomacy" was coined to describe US policy put forth by our best and brightest of that time, whereby trade and American investment would bring communist China into the civilized world and change that country's long history of human rights abuses and repression of religion and democracy. The policy never worked and has only resulted in a huge trade deficit, US dollars funding a huge military buildup, poisoned products, and untold number - tens of thousands - of Tibetans and Chinese killed and imprisoned in slave labor camps.

The Bush administration has resuscitated this failed policy of Coke Bottle Diplomacy and is applying it to Vietnam, and in 2007, the US accumulated trade deficit was $10.6 billion. Recently, dozens of democracy activists, journalists, cyber-dissidents and Christian and other religious leaders have been arrested and imprisoned by the Vietnamese communists. Congressional leaders and human-rights groups have charged Hanoi with "unbridled human-rights abuses," the "worst wave of oppression in 20 years." Some in Congress have accused the Administration of worshiping at the "Alter of Trade" while turning a blind eye toward religious persecution and human rights abuses in Vietnam.

Despite Vietnam's increased human rights abuses, on June 24th, President Bush, for the third time, met with communist Vietnamese officials in the Oval Office, this time with Prime Minister Nguyen Tan Dung. The meeting focused on improving trade, developing even closer economic ties and increasing US investment in Vietnam in order to bail out Vietnam's failing economy. In passing, President Bush told the prime minister that he "thought the strides the government is making towards religious freedom is noteworthy." Noteworthy indeed. President Bush's Pollyanna view of religious freedom in Vietnam is based in part on erroneous reporting fed to him by the Department of State.

In 2006, Vietnam was removed from the State Department's designation as a Country of Particular Concern for severe violations of religious freedom. The US Commission on International Religious Freedom, joined by Human Rights Organizations, has urged the Department of State to put Vietnam back on its CPC religious freedom blacklist. One of the justifications that the Department of State gave for removing Vietnam from its blacklist is that regime's purported liberalization of restrictions on house churches. However, evidence disputes this claim. The fact is the Vietnamese communist regime has imposed even tighter restrictions.

Although Christian families are now allowed to pray in their home, they are not allowed to pray in groups - including extended families, in public or in churches unless they are government sanctioned and controlled. In the Central Highlands and other contentious areas, US officials are taken to Potempkin villages and model government churches and fed disinformation by government agents posing as religious leaders. US officials often take their word as the gospel. One such agent and informant for the State Department's Ambassador at Large for International Religious Freedom John Hanford is Siu Kim, a Montagnard with a church in Plieku, who works for Vietnam's communist government.

According to that government's statistics, the Montagnards are among Vietnam's poorest inhabitants; yet, Siu Kim has been on four tours to the US, paid for by the communist government to propagandize the Montagnards here. Upon his appointment, US Ambassador to Vietnam Michael Michalak stated that he was going to continue the policy of Ambassador Hanford of promoting the accelerated registration of churches in Vietnam. However, Ambassador Michalak neglected to explain the cost to religious freedom that this registration entails.

To register, churches must submit to the Central Bureau of Religious Affairs (CBA) a list of names and addresses of members, and only those approved by the CBA can attend services. All church meetings and sermons must be approved by the CBA, and sermons must be given in Vietnamese - even in ethnic minority churches. Pastors and priests can neither deviate from the approved sermon nor proselytize, and CBA police monitor all services. Nor can churches and pastors provide aid and comfort to local villagers. This is de facto communist control of churches in Vietnam. Assistant Secretary of State for East Asian and Pacific Affairs Christopher Hill reconfirmed this misguided policy in his March 12th testimony before the Senate Foreign Relations Committee, and as further justification stated, "Since the CPC designation was removed, there has been further progress. The government held over 3,000 training courses and 10,000 workshops for officials throughout the country on how to implement the new law on religion." What Hill forgot to mention is Prime Minister Nguyen Tan Dung's certification of "the Vietnamese communist party's 2007-8 'Religion Campaign Plan' to train 21,811 communist religious workers in the political management of religion, with a special focus on ethnic minorities." (Vietnam News Agency, 6/13/07)

These religious "workers" are to ensure that churches and church members comply with CBA's registration requirements and the communist control of religion. The Vietnamese communist government repeatedly promises to ease up on religious repression while it simultaneously steps up its crack down those advocating religious freedom. The communist government does not discriminate in its repression of religious faiths, nor who it persecutes - both men and women.

Most noted is Roman Catholic Priest Father Thaddeus Nguyen Van Ly who was depicted on television gagged and restrained during sentencing to several years in prison in a Vietnamese kangaroo court. The recently deceased Thich Huyen Quang, 87, patriarch of the Unified Buddhist Church of Vietnam (UBCV), one of Vietnam's most beloved and esteemed spiritual leaders, who along with the UBCV deputy leader Thich Quang Do, was sent into internal exile in 1982 and detained in remote provinces for the past 26 years for refusing to submit Vietnamese Buddhism to Communist Party control.

Although over 80% of the Buddhists in Vietnam adhere to the UBCV, the government refuses to recognize the UBCV and continues to try to force the members to join the communist state-controlled Vietnam Buddhist Sangha church. Monks, nuns and members of the UBCV, the Hoa Hao Buddhist Church, and the Khmer Krom Buddhist Church (Cambodian ethnic minorities) are continually harassed, beaten and imprisoned. On February 8, two hundred Khmer Krom Buddhist monks peacefully demonstrated in Soc Treang, Vietnam, asking for religious freedom. The Vietnamese government responded by brutally beating, arresting, imprisoned nineteen Monks -- five were given prison sentences of 2 to 4 years. Vietnam went so far as to arrange the kidnapping of the Venerable Tim Sakhorn, a Cambodian citizen who was the Abbot of the Phnom Den North Pagoda temple in Takeo province, Cambodia, who was aiding the Khmer Krom refugees who fled the religious repression in Vietnam and sought refuge in Cambodia. The Venerable Tim Sakhorn was imprisoned in Vietnam and ironically charged with crossing the border without proper documentation. Most recently, Vietnamese authorities claim that he has been released from prison, but to no one's surprise, he has since "disappeared. "

While Vietnamese communist officials can travel freely throughout the United States, US officials cannot travel freely in Vietnam without advance notice to national and local officials and accompaniment by Vietnamese government minders and security personnel. UN and independent human rights organizations are not allowed an established presence in Vietnam; therefore, incidences such as the "disappearance" of the Cambodian Monk, nor the plethora of other human rights abuses, cannot be investigated. Routinely, house church Christians are rounded up and beaten, given electric shocks, and jailed when they refuse to join communist controlled churches. Reports continue to emanate from Vietnam that Montagnard and Hmong men and women are still being subjected to forced renunciation of their Christian faith, often resulting in torture and sometimes death.

As communist Vietnam's "President" Nguyen Minh Triet's 2007 met with President Bush in the White House, Y-Het Vin, a young Hroi ethnic minority man from Phu Yen province was being tortured by Vietnam's religious police (CBA). He died from injuries after several days of sustained beatings in an attempt to force him to recant his Christian faith. This is not an isolated case. Over 350 Montagnard political prisoners, many of whom are Protestant pastors, languish in jail, and the number that died or was tortured while imprisoned is unknown. Because of continual religious persecution and other human rights abuses, large numbers of Montagnards continue to flee to Cambodia seeking asylum with the UN High Commissioner for Refugees (UNHCR).

Unfortunately, UNHCR's policy toward the Montagnards is heavily influenced by communist Vietnam, and the Montagnards are continually forced back to communist Vietnam in violation of UNHCR's charter. Equally as sad for the persecuted Montagnards is that the US' refugee policy is also heavily influenced by the communist Vietnamese.

During a trip Cambodia in February 2007, Ellen Sauerbrey, assistant secretary of state for population, refugees and migration, told a press conference that Montagnards should stay in Vietnam and not seek asylum in Cambodia for Vietnamese officials assured her that Montagnards were not being abused. Tell that to H'Suin Rmah, a Montagnard, who recently fled to Cambodia seeking refuge with UNHCR after being raped by Vietnamese officials. She lives in fear, not knowing if UNHCR will send her back to Vietnam, even though by nature of the crime, she is qualified for resettlement in the US.

Several cases of Montagnard women being repeatedly raped by provincial police/authorities as the price to obtain their papers and passports have been reported. Evidence shows that Sauerbrey's advice is very bad policy.

In April of this year, police arrested Y Ben Hdok in Dak Lak after he and other Montagnards in his district tried to flee the persecution and seek refuge in Cambodia. Vietnamese police refused to allow his family or a lawyer to visit him during three days in detention. On May 1, police told Mr. Y Ben's wife to pick up his battered body. His rib and limbs were broken and his teeth had been knocked out. Police labeled the death a suicide." This is not an isolated incident, and happens all too often.

President Bush has called religious freedom "the first freedom of the human soul." However, he wouldn't attend services at St. Johns across the street from the White House if it were controlled by the communist party, so why then would his foreign policy makers think the people of Vietnam want to worship in churches controlled by a repressive regime whose only religion is atheist communism?

The State Department's mistaken policy on religion in Vietnam sends the message that if the US supports communist control of churches, we will also turn a blind eye to their continued crack down and imprisonment of advocates for human rights, democracy, free speech and internet access. This is Coke Bottle Diplomacy at its worst, and is playing right into the hands of the same brutal communist regime that murdered more than 1 million of its own people.

Michael Benge spent 11 years in Vietnam as a Foreign Service Officer, including five years as a Prisoner of war-- 1968-73 and is a student of South East Asian Politics. He is very active in advocating for human rights and religious freedom and has written extensively on these subjects.

Tuesday, August 5, 2008

Alexandre Soljenitsyne : " một cuộc sống lưu vong khốn khổ vì KGB " (1)

- Hứa vạng Thọ -

Theo đề nghị của Tổng Bí Thư Đảng CS Xô Viết Iouri Andropov, ngày 11.2.1974 Chính trị bộ Đảng CSXV chấp thuận tước quyền công dân Nga của Soljenitsyne , và ngày 14.2.1974 trục xuất ông ra khỏi Liên Xô với chuyến bay của Aeroflot đưa ông sang FrancFort ( Đức).Từ Francfort, Soljenitsyne sang định cư ở Zurich ( Thụy Sĩ ). Trong lúc đó, KGB Nga đã chọn sẳn Valentina Holubova , sinh trưởng tại Nga và thông thạo tiếng Nga, một nữ sĩ quan tình báo của Tiệp Khắc để cài người bên cạnh Soljenitsyne. Bà nầy núp bóng trong số người tỵ nạn Tiệp Khắc sau vụ đàn áp " Mùa Xuân Prague ".

Ngay khi ông nầy vừa mới đén Zurich, lợi dụng cảm tình của nhà đại văn hào đối với những người tỵ nạn Tiệp, Valentina Holubova đến chào ông , và tặng ông bó hoa hồng và lilas, kềm theo lời chúc tụng của người dân tỉnh Riazan, nơi ông đã từng dạy học. Chỉ trong vòng vài tuần lễ, Holubova và chồng , Bác sĩ Frantisek Holub ( cũng là sĩ quan tình báo Tiệp) trở nên những người thân thuộc của Soljenitsyne. Bà Holubova còn tình nguyện làm thư ký và phát ngôn viên của Soljenitsyne.

Tháng 3.1974, Vợ chồng Holubova mời Soljenitsyne dự một cuộc triển lãm tranh hội họa của hoạ sĩ Lucia Radova tại làng Pfaffikon, gần Zurich. Người chủ phòng triẻn lãm Oskar Krause là một người tỵ nạn Tiệp Khắc. Khi Oskar Krause cho Soljenitsyne biết y cũng là tù nhân chánh trị ở Tiệp Khắc, Soljenitsyne ôm chằm ông nầy , và khóc nhòa. Cặp Holubova thừa dịp giới thiệu với Soljenitsyne một nhà văn trẻ Tiệp khắc Tomas Rezac ( bí danh : Repo) , cũng là sĩ quan tình báo Tiệp khắc núp dưới dạng một người tỵ nạn " chống Cộng Sản Tiệp Khắc ". Sau đó, Soljenitsyne chấp thuận cho Holub ( tức Holubova) duyệt lại các bản dịch của 7 dịch giả quyển sách của ông " L 'Archipel du Goulag " ( quần đảo Goulag) ( Goulag = trại tù Cộng Sản ) sang tiếng Tiệp khắc để xuất bản . Ông còn giao cho Rezac dịch thi phẩm " Nuits Prussiennes" ( Những đêm ở nước Phổ).

Thế là Soljenitsyne, cũng như nhiều người tỵ nạn Cộng Sản từ trước đến gìờ, từ những sĩ quan Nga Hoàng đến những người Trốt kít , đều rơi vào cái bẩy sập là chọn những người tín cẩn toàn là những nhân viên tình báo của Xô Viết Nga!Trung ương KGB , khi nghe tin Soljenitsyne nhờ Holub và "Repo" duyệt bài thì cũng đành bấm bụng bảo các người nầy phải thi hành cho đúng dù trong quyển sách có chửi Đảng CS Xô Viết, cốt làm sao cho Soljenitsyne tin tưởng, khỏi nghi họ là được. Nhờ vậy mà những người mà ông Soljenitsyne liên lạc ở trong nước Nga đều bị KGB theo dõi.

Ngày 24.7 năm 1974, Andropov báo cáo cho chính trị bộ là Ông Soljenitsyne cho lập " Quỹ Xã Hội " để giúp những gia đình của các tù nhân chánh trị với tiền bản quyền tác giả của ông. Cuốn " Quần đảo Goulag " của ông bán được trên 3 triệu cuốn riêng tại Mỹ , chưa kể tại các quốc gia khác trên thế giới.Andropov không báo cáo cho chánh trị bộ sự thành công của Soljenitsyne, nói rằng ảnh hưởng của ông Soljenitsyne đang mất dần và cho rằng việc trục xuất Ông Soljeitsyne ra khỏi nước là đúng.

Ngày 19.9.1974, Andropov chấp nhận kế hoạch đa dạng, quy mô ( n°5/9-16091 ) nhằm hạ uy tín của Soljenitsyne ( mà KGB gọi là PAUK) và gia đình , cùng cắt đứt mọi liên lạc của ông với những kẻ chống lại chế độ ở trong nước Nga. Một sĩ quan Khu 5 ( đặc trách về tư tưởng chánh trị và những kẻ chống đối) được đưa sang Thụy sĩ để làm mất uy tín, bôi lọ vu khống Pauk. Nhiêù quyển sách, nhiều bài báo được tung ra. Đặc biệt những bài ký tên Natalia Rechetovskaïa ( người vợ thứ nhất của Soljenitsyne) do nhân viên sở A ( của KGB) sọan thảo. Đồng thời, Rezac biến mất đầu năm 1975 với bản viết tay " Nuits prussiennes" để trở về Moscou nhằm viết ra " các quyển hồi ký Soljenitsyne " để bêu xấu ông nầy.

Chẳng bao lâu, Soljenitsyne cũng khám phá ra vợ chồng Holub là nhân viên KGB. Andropov ra lệnh cho KGB tạo tin đồn là những người thân của Soljenitsyne tòan là nhân viên của KGB , hoặc đang lường gạt ông để làm " mất niềm tin" của ông nầy. Đến cuối 1974, Soljenitsyne trong cuộc phỏng vấn của báo Time, tố cáo KGB đã " khũng bố ông " hàng ngày cũng như gia đình nhà bác học Sakharov còn ở lại Moscou vì Andropov không dám trục xuất ông nầy. KGB đã gởi cho Bà Sakharov ( Ellena Bronner) trước khi bà đi mổ mắt những hình ảnh quái gở như một cặp con mắt lòi con ngươi ra ngoài, những con khỉ bị mổ óc, v.v..

Đầu năm 1975, Andropov còn với sự ủng hộ của Krioutchkov, Grigorenko và Bobkov của KGB , thảo kế hoạch gồm 19 chương và 20 công tác phối họp để làm mất uy tín, và khủng bố tinh thần nhà Đại Văn Hào. Các hệ thống ký giả, văn sĩ, nghệ sĩ và trí thức từ Berne, Genève,London, Paris, Rome, Stockholm mở chiến dịch đồng loạt " bôi bác " Soljenitsyne.

Năm 1976, Soljenitsyne đã yêu cầu Cảnh sát Thụy Sĩ bảo vệ tính mạng ông. Do đó, ông xin tỵ nạn sang Mỹ, định cư ở Vermont. Từ đó, nhà văn hào mất đi " hào quang chói ngời " của một người chống Cộng Sản Xô Viết vì các chiến dịch của KGB : " Bôi lọ, vu khống, và khủng bố " ông ở hải ngoại, cắt đứt mọi liên lạc của ông ở trong nước. Trước đó ngày 23.8.1975, Andropov đã đưa chỉ thị thi hành kế hoạch số 150/S-9195 là đưa người nội tuyến trong những người thân cận của Soljenitsyne. Đó là mục tiêu hàng đầu của KGB. Do đó khi Soljenitsyne sang Mỹ , KGB giao công tác cho L.G. Bolbotenko ở Newyork, trong giới tỵ nạn Nga, để bám chặt nhà Văn Hào. Nhưng, nhờ kinh nhiệm Holubova, Soljenitsyne không còn tin tưởng bất cứ một ai.Ông cũng tỏ ra cay đắng với sự hờ hững của phương Tây, không nhìn thấy sự tàn ác và phi nhân của chế độ Cộng Sản Sô Viết. Tây Phương không còn giá trị đạo đức và chạy theo vật chất của một nền văn minh sa đọa. Sau bài diễn văn ông đọc trong dịp trao bằng cấp ở Đại Học Harvard năm 1978, Ông cay đắng nói lên sự thất vọng và chán chường của ông đối với Tây Phương và từ đó ông quyết định sống một cuộc đời " đóng cửa, rút cầu " đối vơí xã hội bên ngoài. Báo Newyork Times và Washington Post đã phê bình sự " nhận đinh cay đắng của ông " như một sự " không hiểu biết xã hội Tây Phưong ". Nhờ vậy, mà KGB không cài người đưọc vào giới thân cận của ông vì ông đã quyết định tự cô lập với thế giới bên ngoài.

Hai mươi năm sau, 1994, Soljenitsyne trở lại Nga. Ông đã được Gorbatchev phục hồi danh dự và quyền công dân 4 năm trước đó.Sự trở về của ông đã được thảo luận rất tỉ mỉ,một đôi khi ngay với Boris Eltsine. Từ đó,ông ở trong một khu vực cách Moscou không xa, khu vực dành riêng cho những người có biên chế cao (nomenklatura)trước đây. Ông viết lại các hồi ký lưu vong ở Âu Châu và Hoa Kỳ,trở thành một sử gia hơn là nhà viết văn.

(1). Viết theo tài liệu : Chương XIX - Quyển " Le KGB Contre l'Ouest - 1917-1991 - Les archives de Mitrokhine ", Christpher Andrew- Vassili Mitrokhine -Edition Fayard - 1999. t.r 469. - tr.474. Mitrokhine là một sĩ quan KGB sang Anh tỵ nạn năm 1992 đem theo hàng ngàn tài liệu của tình báo Nga. Nhờ đó mà Tây Phương mới bắt được vài trăm điệp viên " nằm vùng " của Nga trong các cơ quan tình báo Tây Phương ( Mỹ, Pháp, Anh, Đức, v.v..) . Đặc biệt là những chuyện KGB cài người trong các giáo Hội Thiên Chúa Vatican, Giáo Hội Chính Thống ( ngay cả Giáo Hoàng Chính Thống Alexis II là nhân viên KGB dưới bí danh " Drozdov".! Hai người mà KGB tìm đủ cách để triệt hạ : cố Giáo Hoàng Jean Paul 2, và cố văn hào Alexandre Soljenitsyne ./-

Monday, August 4, 2008

Cờ Vàng bay ! Cờ Tự Do bay trên "thành phố Yukon " !
("Thành phố Yukon " tức thành phố Whitehorse, thủ thủ Yukon, Canada )

Hải Triều, Nhóm Nhà Văn Quân Đội

Nếu so với Sydney trong ngày Đại Hội Thanh Niên Thế Giới tháng 7/08 vừa qua ở Sydney, Úc Đại Lợi, thì trận chiến Cờ Vàng và Cờ Đỏ tại Yukon, cực Bắc Canada hôm nay 2/8/08, nó nặng nề, gây cấn, khó khăn và phức tạp hơn nhiều.

Là một thành phố thủ phủ của Yukon, cực Tây Bắc Canada giáp ranh Alaska, Whitehorse có dân số tổng cộng khoảng 23 ngàn, trong số đó người Việt nam tỵ nạn cộng sản định cư khoảng vài chục gia đình với tổng số dân chừng khoảng 100, trong số đó có cả vài chục đồng bào tỵ nạn cộng sản từ miền bắc Việt Nam, không kể càn cán bộ cộng sản từ Hà Nội sang Yukon sống vì kết hôn với người Canada.

Những người tỵ nạn từ miền Nam hầu hết quen biết nhau thân tình như người trong gia đình, sống an phận, hiền lành..., trong số này có gia đình anh Nguyễn Gia Hưng, một cựu sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị QLVNCH, mà ngày nay anh em đặt cho cái tên dễ thương là ông xã trưởng VN ở Whitehorse. Trong những ngày vừa qua, cộng đồng nhỏ bé Việt Nam ở đây bỗng như lên cơn sốt khi hay tin chính xác là cờ đỏ sao vàng của VC sẽ chính thức xuất hiện trong "Lễ Hội Whitehorse Heritage Festivaland Grand March" lần đầu tiên được tổ chức tại thành phố này.

Qua sự vận động, sắp xếp và làm việc giữa vài người Việt cộng sản/thân cộng từ miền Bắc hiện sống ở Whitehorse làm việc hay có quan hệ với Ban Tổ Chức Lễ Hội và sứ quán VC tại Ottawa, Canada trong một thời gian khá lâu, họ đã chuẩn bị âm thầm là chương trình Lễ Hội chính thức sẽ có lá cờ đỏ sao vàng đại diện cho cộng đồng tỵ nạn VN, một sự sắp xếp áp đặt phi lý nhằm mục tiêu tuyên truyền trên thành phố tuyệt đẹp nhưng heo hút này. Cộng sản hy vọng thành đạt âm mưu này tại Yukon.

Trước nguy cơ bị một thiểu số cộng sản cô lập và nhuộm đỏ, một số đồng bào và anh Nguyễn Gia Hưng đã vùng lên phản ứng để bảo vệ chính danh tỵ nạn cộng sản của mình: Chiến dịch cờ vàng được tung ra với lời báo động và kêu gọi khắp nơi trên thế giới và Canada tăng viện lên Yukon cho một cuộc chiến quyết liệt phải thắng, không thể bại...

Không kể những bài viết, email, báo động qua lại căng thẳng trên các hệ thống truyền thông toàn cầu gửi các cơ quan Canada và BTC Lễ Hội, quân tăng viện các nơi trên lãnh thổ Canada đã đổ về Whitehorse: Từ Toronto đến gồm Tấn (Chủ tịch Hội CQN Ontario) và Phát (Hội Ái Hữu Võ Khoa Thủ Đức Toronto); từ Calgary đến gồm cụ Phú 84 tuổi, BS Trương Hữu Độ, chị Cẩm Vân..., đến từ Edmonton có anh Út ( Đại diện Liên Hội Người Việt Canada) anh Bường (Liên Hội Cựu Quân Nhân Canada) và đến từ BC. Canada có anh Phan Siêu ( chủ tịch Cộng Đồng Người Việt vùng Greater Vancouver, Hải Triều ( Nhóm Nhà Văn Quân Đội và Tổng Hội Thủ Đức Hải Ngoại) . Ngoài ra còn một số khoảng anh em khác mà tôi không nhớ hết tên. Họ đã đến Whitehorse từ những nơi xa hàng mấy ngàn cây số, gần nhất là Vancouver cũng chiếm một đoạn đường khoảng 2500 Km. Vé máy bay họ chi ra bằng tiền vé máy bay qua Úc châu, xấp xỉ 1700đô la !!! Nhưng họ đã có mặt tại Yukon.

Với sự tăng cường từ Đông sang Tây Canada , một ban tham mưu hổn hợp được thành hình trong vòng 24 giờ với các hoạt động liên quan tới các cơ quan báo chí và truyền thông. Phát Toronto lên trước anh em một ngày, đã làm việc với đài radio CBC Yukon, Hải Triều lên sau một ngày đã được CBC phỏng vấn hôm thứ Sáu 1/8 với các câu phỏng vấn liên quan tới người Việt tỵ nạn và lá cờ. Cả Phát và tôi đều khẳng định rằng người Việt tỵ nạn trên thế giới, Canada nói chung và Yukon nói riêng đều giữ bản sắc tỵ nạn chính trị của mình, đều giữ lá cờ truyền thống mầu vàng 3 sọc đỏ, không chấp nhận cờ đỏ sao vàng của cộng sản.

Trả lời câu hỏi chót quan trọng nhất trong cuộc phỏng vấn rằng họ - CBC biết là BTC Lễ Hội đã quyết định dùng cờ đỏ sao vàng trong ngày diễn hành Lễ Hội (người của Hà Nội có chân trong BTC), vậy thì anh và cộng đồng Việt Nam ở Whitehorse phản ứng ra sao trong ngày Thứ Bẩy, tức ngày diễn hành chính thức. Hải Triều đã trả lời minh bạch: Không tham dự cuộc diễn hành nếu có cờ đỏ sao vàng, và chúng tôi sẽ biến cuộc diễn hành của chúng tôi thành một cuộc biểu tình protest. Cuộc phỏng vấn sáng Thứ Sáu này được phát thanh trực tuyến vào lúc 7.45 sáng, 24 tiếng đồng hồ trước ngày diễn hành. Và ngay sau đó, cùng ngày, chúng tôi đã liên lạc sở cảnh sát Whitehorse thông báo về cuộc phản đối / biểu tình của cộng đồng Việt Nam.

Biểu tình phản đối ở Whitehorse là điều hiếm xẩy ra, và tình hình căng thẳng này đã luân chuyển đến BTC Lễ Hội, cảnh sát, các cơ quan truyền thông và cả các vị đại biểu dân cử...

Trưa Thứ Bẩy 2/8/08, đoàn diễn hành của Cộng Đồng Việt Nam ở Whitehorse với một rừng cờ vàng, áo dài truyền thống phụ nữ, đàn ông, trẻ em, cả các banners "Thank you Canada"... đã có mặt sớm tại địa điển diễn hành trước hơn bất cứ phái đoàn nào. Chúng tôi quan sát, theo dõi và không thấy dấu hiệu của nhóm có thể mang cờ đỏ, và mọi kế hoạch đối ứng với tình thế có cờ đỏ đã trong tình trạng sản sàng dập tắt nó.
Khi gần tới giờ phân phối cờ cho các phái đoàn các sắc dân diễn hành, tất cả các sắc dân khác đều có cờ và bản in tên quốc gia mình, riêng Việt Nam thì không có. Thì ra, trước sự có mặt hùng hậu của cộng đồng Việt Nam tỵ nạn với rừng cờ vàng, BTC lễ hội đã mang lá cờ đỏ sao vàng và tấm bản Viet Nam có in cờ đỏ sao vàng vô trong, có lẽ họ sợ phản ứng quyết liệt của phái đoàn cờ vàng. Ban tham mưu cờ vàng đã phát giác ra điều này, và cuối cùng BTC Lễ Hội đã phải đồng ý dùng cờ vàng ba sọc của chính phái đoàn Cộng Đồng Việt Nam làm cờ dẫn đầu quốc gia, dùng bản Việt Nam mà cờ đỏ sao vàng bị xóa mất bằng một vuông giấy trắng và thay thế bằng hình cờ vàng ba sọc đỏ dán đè lên cờ đỏ sao vàng.

Sau cùng thì chương trình diễn hành bắt đầu, xếp hàng theo vần, Việt Nam đi chót, thế nhưng, trước mắt đoàn người đứng hai bên đường xem Lễ Hội truyền thống, phái đoàn Cộng Đồng Việt Nam cờ vàng rực rỡ và nhiều nhất với các cụ Phú 84 tuổi, các trung niên và các em mắc áo dài truyền thống, khăn đóng, chéo cờ vàng vắt chéo từ vai... và banner "Thank you Canada" tiến bước... đã nhận được những tràng pháo tay nồng nhiệt nhất. Người Canada xem Lễ Hội rõ ràng là dành cho phái đoàn Việt Nam ở vị trí hàng đầu trong ngày diễn hành Lễ Hội truyền thống.

Cũng xin được nói thêm là nhiều người Canada và du khách ngoại quốc từ Âu châu có mặt ở Whitehorse đã xin các cờ nhỏ cầm tay cùng flyer giải thích về lá cờ vàng. Họ có mặt trong rừng người, và đã làm cho hình ảnh lá cờ vàng chỗ nào cũng có mặt. Lá cờ vàng rực rỡ sau giờ diễn hành đã đứng hàng ngang chung với hàng cờ các quốc gia trên thế giới, được BTC lưu giữ cho cuộc cuộc diễn hành chính thức năm sau.

Sau đây là vài điểm vô cùng quan trọng cần ghi nhận về cuộc đấu trí căng thẳng, gay go giữa hai phe cờ vàng và cờ đỏ:

1. Người của Hà Nội là thành phần có mặt trong Ban Tổ chức Lễ Hội, và họ đã ảnh hưởng, sắp xếp cho lá cờ đỏ sao vàng sẽ là lá cờ chính thức được diễn hành trong ngày Lễ Hội. Mãi đến phút chót của giờ sắp diễn hành, cờ đỏ đã có mặt trong đống cờ của BTC đại diện cho Việt Nam cùng với bản Viet Nam có hình cờ đỏ bên cạnh.

Sự xuất hiện đông, thứ tự và rực rỡ cờ vàng của cộng đồng tỵ nạn cùng với quyết tâm hạ cờ đỏ, biểu tình... đã làm kế hoạch của BTC và sứ quán VC & những phần tử VC phải lùi bước. Nếu ngày hôm nay không có sự xuất hiện "bề thế, rực rỡ, hùng tráng" của rừng cờ vàng và những y phục truyền thống tuyệt đẹp của đồng bào, cờ đỏ sẽ tung bay dưới trời nắng ấm Yukon, và TV và các cơ quan truyền thông của Hà Nội sẽ được một cơ hội bằng vàng để tuyên truyền, gỡ gạc cho những thất bại bẽ bàng ở Sydney trong Đại Hội Thanh Niên Thế Giới tháng 7/08.

2. Cộng đồng nhỏ bé ở Yukon quả có những áp lực vô hình làm cho bà con lo sợ, đồng thời người dại diện cộng đồng ở Whitehorse là anh Nguyễn Gia Hưng chỉ được BTC Lễ Hội báo những chi tiết liên quan tới Lễ Hội trong thời gian quá ngắn, không đủ trở tay để may sắm các bộ áo dài truyền thống. Họ đã vô cùng ngạc nhiên là Cộng Đồng VN ở Whitehorse dã có một ngày diễn hành Lễ Hội truyền thống đầy đủ những quốc phục cổ truyền rực rỡ dưới mầu cờ vàng ... trong thời gian ngắn nhất tưởng chừng không thể nào có mặt được trong ngày Lễ Hội truyền thống.

3. Suốt trong giai đoạn tiến hành chương trình lễ Hội, BTC quyết định dùng cờ đỏ sao vàng bất chấp sự phản đối của cộng đồng Việt Nam với sự giải thích rằng cờ đỏ là cờ đại diện Việt Nam . Cho tới khi xẩy ra chuyện một người Việt Nam tên Đinh Kim Nguyệt trình diễn chương tình gọi là truyền thống nghệ thuật dùng trà Việt Nam trong bộ áo Kimono của Nhật... thì công chuyện vỡ ra trong Cộng Đồng rằng bà Nguyệt đã lạm dụng sai áo truyền thống, nhận là đại diện cộng đồng... rồi dần dà có giải pháp gọi là dung hòa đề nghị cho dùng cả hai lá cờ... đỏ và vàng.

Đây là một đề nghị nguy hiểm, vì không ai muốn thấy lá cờ đỏ xuất hiện như trường hợp trước đây ở đại học Fullerton , Cali.

Nhìn chung lại, chúng ta đã không chấp nhận lá cờ đỏ, chúng ta không chấp nhận hai lá cờ đỏ, cờ vàng cùng chung có mặt trong lễ hội, chúng ta cũng không chấp nhận rút lui để tạo cơ hội cho lá cờ đỏ xuất hiện vào giờ chót như BTC đã sẳn sàng... Chúng ta đã chiến đấu, đã phản ứng quyết liệt, đúng cách và hợp lý để đẩy cả chánh quyền Yukon, BTC Lễ Hội và sứ quán CSVN vào thế phải chấp nhận "lui quân" nhường đất cho lá cờ vàng.

Đây là trận chiến căng cứng, đấu trí, đấu chính danh, chính nghĩa phức tạp... và một lần nữa, nhờ "hồn thiêng sông núi", cờ vàng đã tung bay rực rỡ trên nền trời Yukon mà vài giờ trước đó, cờ đỏ đã có mặt trong tư thế sẳn sàng diễn hành. Thế cờ bị lật ngược, ngoạn mục, tuyệt vời mà nhiều anh em ở Whitehorse tưởng mình như còn mơ ngủ và khi thức giấc, mộng đẹp vẫn là cái gì hiện thực trước mắt.

Hải Triều
Nhóm Nhà văn Quân Đội từ Yukon, Canada
2AM sáng ngày 3/8/2008
Nobel Prize winner Solzhenitsyn dies

Douglas Birch
August 4, 2008

Alexander Solzhenitsyn, the Nobel Prize-winning author whose books chronicled the horrors of the Soviet gulag system, has died at age 89, his son said today.

Stepan Solzhenitsyn said his father died late yesterday of heart failure, but declined further comment. Solzhenitsyn's unflinching accounts of torment and survival in the Soviet Union's slave labor camps riveted his countrymen, whose secret history he exposed. They earned him 20 years of bitter exile, but international renown.

And they inspired millions, perhaps, with the knowledge that one person's courage and integrity could, in the end, defeat the totalitarian machinery of an empire.

Beginning with the 1962 short novel One Day in the Life of Ivan Denisovich, Solzhenitsyn devoted himself to describing what he called the human "meat grinder" that had caught him along with millions of other Soviet citizens: capricious arrests, often for trifling and seemingly absurd reasons, followed by sentences to slave labor camps where cold, starvation and punishing work crushed inmates physically and spiritually.

His Gulag Archipelago trilogy of the 1970s left readers shocked by the savagery of the Soviet state under the dictator Josef Stalin. It helped erase lingering sympathy for the Soviet Union among many leftist intellectuals, especially in Europe.

But his account of that secret system of prison camps was also inspiring in its description of how one person - Solzhenitsyn himself - survived, physically and spiritually, in a penal system of soul-crushing hardship and injustice.

The West offered him shelter and accolades. But Solzhenitsyn's refusal to bend despite enormous pressure, perhaps, also gave him the courage to criticise Western culture for what he considered its weakness and decadence.

After a triumphant return that included a 56-day train trip across Russia to become reacquainted with his native land, Solzhenitsyn later expressed annoyance and disappointment that most Russians hadn't read his books.

During the 1990s, his stalwart nationalist views, his devout Orthodoxy, his disdain for capitalism and disgust with the tycoons who bought Russian industries and resources for kopeks on the ruble following the Soviet collapse, were unfashionable. He faded from public view.

But under Vladimir Putin's 2000-2008 presidency, Solzhenitsyn's vision of Russia as a bastion of Orthodox Christianity, as a place with a unique culture and destiny, gained renewed prominence.

Putin now argues, as Solzhenitsyn did in a speech at Harvard University in 1978, that Russia has a separate civilisation from the West, one that can't be reconciled either to Communism or Western-style liberal democracy, but requires a system adapted to its history and traditions.

"Any ancient deeply rooted autonomous culture, especially if it is spread on a wide part of the earth's surface, constitutes an autonomous world, full of riddles and surprises to Western thinking," Solzhenitsyn said in his speech. "For one thousand years Russia has belonged to such a category ... "

Born December 11, 1918, in Kislovodsk, Solzhenitsyn served as a front-line artillery captain in World War II, where, in the closing weeks of the war, he was arrested for writing what he called "certain disrespectful remarks" about Stalin in a letter to a friend, referring to him as "the man with the moustache". He served seven years in a labor camp in the barren steppe of Kazakhstan and three more years in internal exile in Central Asia.

That's where he began to write, memorising much of his work so it wouldn't be lost if it were seized. His theme was the suffering and injustice of life in Stalin's gulag - a Soviet abbreviation for the slave labor camp system, which Solzhenitsyn made part of the lexicon.

He continued writing while working as a mathematics teacher in the provincial Russian city of Ryazan.

The first fruit of this labour was One Day in the Life of Ivan Denisovich, the story of a carpenter struggling to survive in a Soviet labor camp, where he had been sent, like Solzhenitsyn, after service in the war.

The book was published by order of Soviet leader Nikita Khrushchev, who was eager to discredit the abuses of Stalin, his predecessor, and created a sensation in a country where unpleasant truths were spoken in whispers, if at all. Abroad, the book - which went through numerous revisions - was lauded not only for its bravery, but for its spare, unpretentious language.

After Khrushchev was ousted in 1964, Solzhenitsyn began facing KGB harassment, publication of his works was blocked and he was expelled from the Soviet Writers Union. But he was undeterred.

"A great writer is, so to speak, a secret government in his country," he wrote in The First Circle, his next novel, a book about inmates in one of Stalin's "special camps" for scientists who were deemed politically unreliable but whose skills were essential.

Solzhenitsyn, a graduate from the Department of Physics and Mathematics at Rostov University, was sent to one of these camps in 1946, soon after his arrest.

The novel Cancer Ward, which appeared in 1967, was another fictional worked based on Solzhenitsyn's life: in this case, his cancer treatment in Tashkent, Uzbekistan, then part of Soviet Central Asia, during his years of internal exile from March 1953, the month of Stalin's death, until June 1956.

In the book, cancer became a metaphor for the fatal sickness of the Soviet system. "A man sprouts a tumour and dies - how then can a country live that has sprouted camps and exile?"

He attacked the complicity of millions of Russians in the horrors of Stalin's reign. "Suddenly all the professors and engineers turned out to be saboteurs - and they believed it? ... Or all of Lenin's old guard were vile renegades - and they believed it? Suddenly all their friends and acquaintances were enemies of the people - and they believed it?"

The Stalinist era, he wrote, quoting from a poem by Alexander Pushkin, forced Soviet citizens to choose one of three roles: tyrant, traitor, prisoner.

He was awarded the Nobel Prize for Literature in 1970, an unusual move for the Swedish Academy, which generally makes awards late in an author's life after decades of work. The academy cited "the ethical force with which he has pursued the indispensable traditions of Russian literature."

Soviet authorities barred the author from travelling to Stockholm to receive the award and official attacks were intensified in 1973 when the first book in the Gulag trilogy appeared in Paris.

"During all the years until 1961," Solzhenitsyn wrote in an autobiography written for the Nobel Foundation, "not only was I convinced that I should never see a single line of mine in print in my lifetime, but, also, I scarcely dared allow any of my close acquaintances to read anything I had written because I feared that this would become known."

The following year, he was arrested on a treason charge and expelled the next day to West Germany in handcuffs. His expulsion inspired worldwide condemnation of the regime of Soviet leader Leonid Brezhnev.

Solzhenitsyn made his homeland in America, settling in the tiny town of Cavendish, Vermont, with his wife and sons.

Living at a secluded hillside compound he rarely left, he called his 18 years there the most productive of his life. There he worked on what he considered to be his life's work, a multi-volume saga of Russian history titled The Red Wheel.

Although free from repression, Solzhenitsyn longed for his native land. Neither was he enchanted by Western democracy, with its emphasis on individual freedom.

To the dismay of his supporters, in his Harvard speech he rejected the West's faith in "Western pluralistic democracy" as the model for all other nations. It was a mistake, he warned, for Western societies to regard the failure of the rest of the world to adopt the democratic model as a product of "wicked governments or by heavy crises or by their own barbarity or incomprehension".

Some critics saw The Red Wheel books as tedious and hectoring, rather than as sweeping and lit by moral fire.

"Exile from his great theme, Stalinism and the gulag, had exposed his major weaknesses," D.M. Thomas wrote in a 1998 biography, theorising that the intensity of the earlier works was "a projection of his own repressed violence".

Soviet president Mikhail Gorbachev restored Solzhenitsyn's citizenship in 1990 and the treason charge was finally dropped in 1991, less than a month after the failed Soviet coup. Following an emotional homecoming that started in the Russian Far East on May 27, 1994, and became a whistle-stop tour across the country, Solzhenitsyn settled in a tree-shaded, red brick home overlooking the Moscow River just west of the capital.

While avoiding a partisan political role, Solzhenitsyn vowed to speak "the whole truth about Russia, until they shut my mouth like before".

He was contemptuous of president Boris Yeltsin, blaming Yeltsin for the collapse of Russia's economy, his dependence on bailouts by the International Monetary Fund, his inability to stop the expansion of NATO to Russia's borders, his tolerance of the rising influence of a handful of Russian billionaires - who were nicknamed "oligarchs" by an American diplomat.

Yeltsin's reign, Solzhenitsyn said, marked one of three "times of troubles" in Russian history - which included the 17th century crises that led to the rise of the Romanovs and the 1917 Bolshevik revolution. When Yeltsin awarded Solzhenitsyn Russia's highest honour, the Order of St Andrew, the writer refused to accept it. When Yeltsin left office in 2000, Solzhenitsyn wanted him prosecuted.

The author's last book, 2001's Two Hundred Years Together, addressed the complex emotions of Russian-Jewish relations. Some criticised the book for alleged anti-Semitic passages, but the author denied the charge, saying he "understood the subtlety, sensitivity and kindheartedness of the Jewish character".

Putin, Yeltsin's successor, at first had a rocky relationship with Solzhenitsyn, who criticised the Russian president in 2002 for not doing more to crack down on Russia's oligarchs. Putin was also a veteran of the Soviet-era KGB, the agency that, more than any other, represented the Soviet legacy of repression.

But the two men, so different, gradually developed a rapport. By steps, Putin adopted Solzhenitsyn's criticisms of the West, perhaps out of a recognition that Russia really is a different civilisation, perhaps because the author offered justification for the Kremlin's determination to muzzle critics, to reassert control over Russia's natural resources and to concentrate political power.

Like Putin, Solzhenitsyn argued that Russia was following its own path to its own form of democratic society. In a June 2005 interview with state television he said that Russia had lost 15 years following the collapse of the Soviet Union by moving too quickly in the rush to build a more liberal society. "We need to be better, so we need to go more slowly," he said

Following the death of Naguib Mahfouz in 2006, Solzhenitsyn became the oldest living Nobel laureate in literature. He is survived by his wife, Natalya, who acted as his spokesman, and his three sons, including Stepan, Ignat, a pianist and conductor, and Yermolai. All live in the United States.

Despite his belief in a separate political and cultural fate for Russia, Solzhenitsyn's works continue to inspire people of all nations and cultures in the fight for human dignity and the right to hold unpopular views.

His belief in the power of conscience, and of courage against all odds, speaks to readers beyond the narrow limits of ideology and politics.

"It is we who shall die - art shall remain," he wrote in his 1970 Nobel lecture, which he was not allowed to deliver. "And shall we comprehend, even on the day of our destruction, all its facets and all its possibilities?"

Select bibliography

One Day in the Life of Ivan Denisovich (1962)
Matryona's Home (1963)
Incident at Krechekovta Station (short stories) (1963)
The First Circle (1968)
Cancer Ward (1968)
August 1914 (first part of Red Wheel cycle) (1971)
The Gulag Archipelago Vol. I (1973)
The Gulag Archipelago Vol. II (1974)
Letter to Soviet Leaders (1974)
The Oak and the Calf (play) (1975)
Lenin in Zurich (1975)
The Gulag Archipelago Vol. III (1976)
Prisoners (play) (1983)
October 1916 (second part Red Wheel cycle) (1985)
March 1917 (third part of Red Wheel cycle) (1993)
The Russian Question at the End of the 20th Century (1994)
Russia in Collapse (1998)

AP, AFP

Blog Archive