CẦN CÓ HÀNH ĐỘNG NGAY: YÊU CẦU DUYỆT XÉT THÀNH PHẦN TỴ NẠN CHÍNH TRỊ.
- TRƯƠNG MINH HÒA. -
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, những người thoát khỏi gông cùm Cộng Sản bằng những đợt di tản đầu tiên, rồi vượt biển, vượt biên bằng đường bộ, may mắn đến bến bờ tự do, được định cư tại các cường quốc tự do, chớ chủ quan rằng:" Từ nay không còn thấy bọn Cộng Sản ác ôn, khát máu áp bức, trù dập nữa" và nhiều người còn tin tưởng là không còn thấy lá cờ đỏ sao vàng, chân dung tên quốc tặc Hồ Chí Minh...từ nay có được cuộc sống an bình, lo làm ăn, gầy dựng tương lai, ráng lo con cái học hành thành đạt.
Những kẻ ngây thơ, thành phần chưa có nhiều kinh nghiệm với Cộng Sản, những người mau quên, nên khi vừa mới được định cư tại các quốc gia tự do, vội bỏ lại sau lưng ngay những thảm cảnh do đảng Cộng Sản gây ra cho bản thân, gia đình mình chớ đừng nói đến quê hương, đất nước thì có vẻ xa vời với những hạng người nầy ( Thời gian càng lâu, thì trí nhớ của họ càng lú lẫn nên quên hết tất cả)....và những người thuộc thành phần không hội đủ tiêu chuẩn tỵ nạn, nhưng nhờ làn sóng ra đi ào ạt, Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc dễ giải, do nhu cầu cần giải quyết để cho vơi con số thuyền nhân càng đông, nên được ban cấp tư cách tỵ nạn chính trị sau lời khai sơ xài lý lịch.
Chính nhờ những thành phần nầy mà bọn gián điệp nằm vùng lẫn tránh dể dàng, trà trộn và nằm mai phục trường kỳ ừ trại tỵ nạn đến các nước tạm dung, tông tích ít bị phát giác, nằm chờ cơ hội vùng lên hoạt động khi thuận tiện hay được lịnh của đảng; giống như bọn cán bộ Cộng Sản được Hồ Chí Minh gài lại miền Nam sau hiệp định Geneve 1954, mai phục lâu năm, trở thành những cán bộ chỉ huy, cơ sở hoạt động ở các vùng nông thôn hẻo lánh. Những con vi trùng" gián điệp Việt Cộng" ở ngoại thời kỳ đều giống nhau: khi ẩn, khi hiện, khi biến dạng, khi co cụm, khi luồn lách...vào cơ cấu, tổ chức, cộng đồng và khi đến" cao trào cách mạng" là vùng lên để đánh gục đối phương bằng tất cả các vũ khí, mưu mô xảo trá, với nguyên tắc cố hữu:" Lấy cứu cánh biện minh cho hành động".
Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tính toán rất kỷ sách lược gài người, cấy gián điệp sau ngày 30-4-1975, đây được coi là cơ hội ngàn năm một thuở để đưa người xâm nhập vào" tận đầu não" của" bọn đế quốc tư bản phản động", nhất là lọt vào được" sào huyệt của đế quốc Mỹ, kẻ thù số một"; trước đây, điệp viên muốn xâm nhập vào đất Mỹ, Âu Châu...không thuận tiện và gặp nhiều khó khăn vì hệ thống phản gián hữu hiệu. Đảng Cộng Sản Việt Nam nhân cơ hội nầy, lợi dụng làn sóng tỵ nạn, được các nước Tây Phương cứu giúp trong tinh thần nhân đạo, nên tìm mọi cách trà trộn theo kế:" Man thiên quá ải", theo sát nạn nhân và gia đình, đến tận bất cứ nơi nào trên thế giới; đó là chính sách Tam Cùng được biến dạng cho phù hợp với tình hình chiến lược: cùng vượt biển tỵ nạn, cùng đến các nước tự do và cùng sinh hoạt trong một tập thể sắc tộc người Việt. Nhưng bọn gián điệp Việt Cộng nầy thuộc loại" đồng sàng dị mộng", ở chung với người tỵ nạn mà trong thâm tâm vẫn tôn thờ lá cớ đỏ sao vàng và tên quốc tặc Hồ Chí Minh, lòng người thật khó lường, nên khi thuận tiện là chúng lộ mặt ra ngay.
Cơ may vô cùng quan trọng khác nữa là trong những chuyến vượt biển được nhà nước Việt Cộng cho đăng ký bán chính thức vào năm 1978, 1979, đảng Cộng Sản áp dụng kế:" thuận thủ thu dương", vừa lấy thêm nhiều vàng của người Hoa vốn giàu có, ít bị ảnh hưởng so với thành phần quân nhân cán chính; vừa gài người đi cùng để thực hiện những công tác tình báo sau nầy; vì đảng thừa biết những con tàu vượt đại dương nầy được trang bị máy móc, vỏ tàu khá an toàn, thức ăn đầy đủ, nên cán bộ nồng cốt được gởi đi thường ít gặp nguy hiểm ( Người giàu vượt biển khác hơn dân nghèo bằng những chiếc thuyền mong manh, bở mụt sau nầy). Đảng Cộng Sản còn" điều nghiên" cả bản tánh cầu an, xí xóa của người Hoa tại Việt Nam, chỉ lo buôn bán, làm ăn, ít lưu ý đến các vấn đề chính trị, làn ranh Quốc-Cộng; nên khi đến các trại tỵ nạn, thì sự im lặng của người Hoa giúp cho bọn gián điệp được" nín thở qua sông", dễ dàng trở thành người tỵ nạn qua sự man khai lý lịch được dàn dựng cẩn thận trước khi lên đường.
Trong thời kỳ đăng ký ấy, nhiều tên gián điệp, cán bộ, công an.... đã lọt qua các nước tự do dễ dàng, trong khi đại đa số thành phần quân nhân cán chính nồng cốt miền Nam bị đài đọa, trả thù dã man trong các nhà tù tàn độc, được che đậy dưới mỹ từ" cải tạo" khắp từ Nam chí Bắc. Nếu không có sự sáng suốt của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc kịp thời đóng cửa các trại ty nạn vào năm 1989, thì con số gián điệp, thành phần tỵ nạn gian chiếm đa số, lọt vào vùng đất tự do, trở thành thế lực thân Cộng, cầu an, gây khó khăn cho công cuộc đấu tranh cho tự do; và cũng nhờ chương trình H.O nên thành phần đáng được hưởng chính sách nhân đạo, hội đủ tiêu chuẩn tỵ nạn chính trị thuộc quân nhân cán chính miền Nam mới có mặt đông đảo tại Hoa Kỳ.
Nhờ qua sớm, nên những người Hoa được cơ hội làm lại cuộc đời với số vàng mang theo, là tài sản tích lũy từ những năm dài ở thành thị lo làm ăn, trở thành những chủ nhân các thương nghiệp, tiếp tục buôn bán, làm giàu nhờ những người Việt tỵ nạn đến sau; và bọn gián điệp nằm vùng cũng có nhiều cơ hội" điều nghiên công tác" tình báo về các quốc gia tự do, học hành, bon chen vào các cơ cấu chính quyền, chuyên môn để học hỏi kỷ năng, gầy dựng và phát triển những cơ sở kinh tài, mai phục trường kỳ, chờ thời cơ vùng dậy...
. Nhờ những thành phần tỵ nạn chính trị, nạn nhân Cộng Sản, sau nầy có H.O....trở thành lực lượng nồng cốt, bẻ gảy tất cả những sách lược tấn kích của giặc Cộng kể từ khi có mặt đến nay. Mặt khác, cái" Lý do tỵ nạn chính trị" ( REASON LEAVING VIETNAM) chính là lá bùa trừ tà hữu hiệu, khiến những tên gián điệp, mạng lưới nằm vùng đành phải nằm im, không dám hó hé, tự vạch lưng cho người xem áo, không dám trương lá cờ đỏ sao vàng, treo chân dung tên quốc tặc Hồ Chí Minh; nếu không thì chẳng khác nào" lạy ông con ở bụi nầy", chúng chỉ hoạt động âm thầm, xâm nhập vào các tổ chức để chờ thuận tiện khuynh đảo.
Thời kỳ mai phục khá lâu, những tên Việt Cộng nằm vùng phải đóng vai " Ông tám Khỏe" trong vở tuồng cai lương" Người Ven Đô" để được an toàn trong thời gian chờ đợi thời cơ, lịnh trên, nếu có người khám phá ra cái" sơ yếu lý lịch" là cán bộ, công an, gia đình thân Cộng....thì những kẻ nầy cũng phải khẳng đĩnh lập trường bằng mồm:" Tôi là Tám Khỏe, xin tuyên bố ly khai với Việt Cộng". Họ cũng mang lá cờ vàng ba sọc đỏ, nói năng hùa theo những người chống Cộng, được hiểu là" nhập gia tùy tục", vì ngán bị khám phá thì rắc rối, nhất là các cơ quan tình báo các nước sở tại, có nhiệm vụ truy lùng bất cứ tổ chức gián điệp nào của các nước hoạt động trên đất nước họ, nhằm bảo vệ an ninh quốc gia.
Trong nhiều năm qua, cơ quan F.B.I ở Hoa Kỳ đã ban hành nhiều thông báo để truy lùng những tên gián điệp Việt Cộng nằm vùng; một số chi bộ bị phá vở như tên Cung Sơn, hoảng vía ra trình diện; tên đại úy Hồ Thái, thuộc đơn vị sư đoàn 2 Sao Vàng, được đảng bố trí vượt biển từ bến cảng Hải Phòng, cũng ra đầu thú và kêu gọi đồng bọn ra trình diện để hưởng chính sách khoan hồng của chính phủ Hoa Kỳ. Tên Chula Bạch Long, vốn là bộ đội ở Kampuchea, sau đó được Việt Cộng đưa sang Nga, được K.G.B đào tạo thành điệp viên, được gởi sang Mỹ, trà trộn vào những nơi đông dân cư ở California, sau nầy bị lộ tẩy và tên nầy biệt dạng; ở San Jose, trước 1975 nguyên quận trưởng Củ Chi Lê Xuân Sơn, từng làm nội tuyến cho Việt Cộng, sang Mỹ bằng diện H.O và bị khám phá...còn nhiều trường hợp, mạng lưới khác đang nằm mai phục trong hàng ngũ tỵ nạn.
Bạo quyền Việt Cộng một mặt gài người, mặt khác tung ra những mũi tấn kích: văn hóa, tôn giáo, trí, kiều vận....liên tục và cái mục tiêu hàng đầu là: Triệt hạ biểu tượng thiêng liêng của người Việt tỵ nạn và cả người dân trong nước là LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ, bước kế tiếp là treo lá cớ đỏ sao vàng, tiếp thu các cộng đồng, cho cán bộ công an, tình báo, gián điệp lập" hệ thống hộ khẩu" trá hình tại các cộng đồng hải ngoại; từ đó khống chế, thu được nhiều tiền là cái" mục đích yêu cầu".
Ngay từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, những thành phần" du học quốc gia thờ ma Cộng Sản" ở Úc Châu ( thuộc học bổng Colombo) nắm lấy thời cơ, tổ chức ăn mừng ngày" đại thắng mùa xuân", chiếm các đài phát thanh địa phương, gây hoang mang, đều bị những người Việt tỵ nạn ít ỏi đầu tiên triệt hạ, nên bọn nầy chạy dài, lẫn trốn hay phân tán mỏng cho đến ngày nay.
Bạo quyền Việt Cộng thất bại liên tục trong tất cả các mũi giáp công nêu trên, và tất cả những phái đoàn, cán bộ lãnh đạo đều phải làm công tác ngoại giao ở cửa hậu, chạy dài, luôn phải nhờ nhân viên an ninh, cảnh sát bảo vệ như những tên tù hình sự ( maximium securiry). Trong vài năm gần đây, chiến dịch cờ vàng thành công rực rở, lan rộng tại nhiều tiểu bang, thành phố ở Hoa Kỳ; các châu lục khác như Âu, Úc châu, chỉ có lá cờ vàng ba sọc đỏ khống chế các đường phố, nhất là bên ngoài các sứ quán, lãnh sự Việt Cộng. Tượng đài chiến sĩ đồng minh và quân lực Việt Nam Cộng Hòa được dựng lên gần như ở khắp các tiểu bang ở Úc Châu và ở Nam Cali...luôn có lá cờ vàng ba sọc đỏ phất phới, làm cho giặc Cộng tức giận, nhưng không thể làm gì được, dù chúng có quan hệ ngoại giao với các quốc gia có người Việt tỵ nạn định cư.
Từ lâu, đảng Cộng Sản tìm nhiều cách để triệt hạ cái biểu tượng nầy, kể cả việc khai thác tập quán" trọng Phật Kính Tăng" một cách máy móc của giới Phật Tử, đưa tên sư quốc doanh là huề thượng Thích Thanh Từ sang Âu, Mỹ, Úc Châu, lợi dụng tôn giáo, đưa ra chiêu bài" phi chánh trị" để hạ cờ vàng trong các buổi thuyết pháp, nhưng hắn bị lột mặt, phải chạy dài và sau cùng về nước tịnh thất ( hay là học tập chính trị, tự kiểm?);
đảng Cộng Sản còn đưa cả tên sĩ quan cao cấp, có nhiều kinh nghiệm, kỷ năng tuyên truyền là đại tá Bùi Tìn, nguyên phó chủ nhiệm Nhật Báo Nhân Dân, tên đặc công đỏ họ Bùi nầy sang vùng đất tự do, mặc chiếc áo phản tỉnh giả để triệt hạ lá cờ vàng; hắn đã lòi đuôi khỉ qua những lần đi thuyết trình, không thèm chào cờ do ban tổ chức;
kỷ sư Nguyễn Gia Kiểng lập ra nhóm Thông Luận, sau đổi thành" Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên" vì không ăn khách, khó lừa được nhiều người, hắn thu nhận những người quốc gia hai hàng và cả Việt Cộng vào cái tổ chức" xanh vỏ đỏ lòng", nên công nhận cả hai lá cờ vàng, đỏ, được coi là tạo đất dụng võ để cho Việt Cộng treo lá cờ máu ở hải ngoại.....
Những tên du kích lẻ tẻ như Trần Văn Trường, làm thí điểm treo thử lá cờ máu và chân dung tên ác quỷ Hồ Chí Minh vào tết năm 2000 tại tiệm Hi-Tech của hắn ở Bolsa, bị hơn 50 ngàn đồng bào biểu tình suốt 2 tháng để hạ cờ đỏ.
Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn" bám trụ đánh phá trường kỳ" qua hệ thống mạng lưới gián điệp, qui nạp thêm thành phần tay sai, đóm gió, trở cờ vì bị ảnh hưởng bởi chính sách Kiều vận ( về nước du lịch, làm ăn, du hý, du dâm...hay bị áp lực, quyền lợi) trở thành một thế lực khá lớn trong các cộng đồng tỵ nạn. Từ thứ trưởng Nguyễn Đình Bin với Uỷ Ban Hổ Trợ Người Việt Nước Ngoài và đến nghị quyết 36, liên tục tấn kích, nay mặt trận đã đến lúc quyết liệt; một số cơ sở nằm vùng công khai, hình như chúng nhận lịnh" tổng tấn công" nên không còn e dè, ngụy trạng nữa. Sự kiện tờ Việt Weekly ca tụng khủng bố, thách thức người Việt tỵ nạn, tờ Nhật Báo Người Việt ở Santa Ana đăng hình cái chậu rửa chân có hình lá cờ vàng ba sọc đỏ, tờ Người Việt To-Day News ở San Diego ca tụng tên quốc tặc Hồ Chí Minh....
Mới đây vào ngày 29 tháng 3 năm 2008, một nhóm tỵ nạn gian gồm Michele, The Friends và nữ ca sĩ già" quá date" Khánh Ly, đã làm buổi hòa nhạc tưởng nhớ tên" giặc nhạc" Trịnh Công Sơn tại Little Saigon với chủ đề" Đóa Hoa Vô Thường" nghe như tiếng kinh cầu kêu gọi cầu an một chiều, ru ngủ của tên Vẹm Sư Thích Nhất Hạnh trước đây trong phong trào phản chiến trước 1975 ở hải ngoại. Khánh Ly, từng là cái loa, công cụ đắc lực của nhạc Trịnh ( sau 1975 là thiếu tá quân đội nhân dân): kẻ sáng tác, người hát, phối hợp nhau như hình với bóng, đâm sau lưng chiến sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa và chà đạp công cuộc chiến đấu bảo vệ lý tưởng tự do của quân dân miền Nam.
Tưởng đâu hồn ma bóng uế của tên" đặc công văn nghệ" Trịnh Công Sơn đã đi theo tên quốc tặc Hồ Chí Minh và những tên đồ tể như Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng... ở dưới chín tầng: thiên đàng Cộng Sản; nào ngờ nhạc Trịnh lại xuất hiện tại ngay vùng đất tỵ nạn, thách thức những nạn nhân còn sống, lăng mạ vong linh của biết bao người vì nước bỏ mình trên chiến trường, trong các trại tù Cộng Sản và những người chết trên đường đi tìm tự do. Cho nên cái buổi nhạc Trịnh bị nhiều người phản đối ngay từ lúc mới chuẩn bị là 5 giờ chiều tại trung tâm Don Wash, thành phố Garden Grove, Cali, và ban tổ chức đã nhẩn tâm ném lá cớ vàng ba sọc đỏ vào thùng rác; làm đau lòng những người đã từng sống chết dưới lá quốc kỳ ấy.
Như vậy, trận chiến Quốc-Cộng đã đến lúc quyết liệt, bọn gián điệp nằm vùng, tay sai nay đã xuất đầu lộ diện công khai sau hơn 3 thập niên" trèo cao lặn sâu", học hỏi được những sinh hoạt ở đất nước tự do, lợi dụng sinh hoạt dân chủ để hạ cờ vàng, chuẩn bị treo cờ đỏ sao vàng của chúng; nên tình hình hiện nay có vẻ như khẩn cấp, nếu không ra tay bằng những vũ khí có sẵn, hạ quyết tâm, có sách lược, thì cờ vàng sẽ còn bị hạ nhiều nơi, và nhiều cuộc biểu tình không thể nhổ được những" chốt" du kích ấy, tình trạng kéo dài càng lâu, càng làm tiêu hao tìm năng của người Việt Quốc Gia, phải đương đầu với nhiếu chốt như thế trong cùng một lúc, một địa phương; như ở Nam Cali, những cái chốt như: Việt Weekly, Lee Sanwich, nhật báo Người Việt, Người Việt To-Day News... đang phân tác lực lượng biểu tình, nhằm làm tiêu hao sức lực. Những cái chốt ấy có trang bị vũ khí" luật sư", có tiền bạc dồi dào, cầm chân người biểu tình, gây rối loạn...nên đề nghị tìm ra cách để triệt hạ những ổ du kích nầy càng sớm càng tốt. Xin được góp vài ý kiến như sau:
Cái lá bùa" tỵ nạn chính trị" vẫn còn dán trên đầu bọn gián điệp nằm vùng và tay sai; đó là văn bản LÝ DO RỜI VIỆT NAM được chính những người tỵ nạn viết, ký tên, cam kết trước Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc để được ban cấp tư cách xin tỵ nạn chính trị, được cấp THẺ TỴ NẠN, trước khi được phái đoàn các nước đến nhận định cư ở các trại tỵ nạn vùng Đông Nam Á. Những ai lọt qua được ải Cao Ủy, Ải các nước định cư, thì phải khai báo lý do ra đi, càng bị Cộng Sản đàn áp, hành hạ, tù đài, đe dọa mạng sống, thì cơ may định cư sớm càng gần.
Do đó xin đề nghị với Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển, từng cứu giúp biết bao người tỵ nạn đến bến bờ tự do, H.O, ngay cả những công nhân bị bán làm nô lệ ở Mã Lai, Jordan...gần đây cũng được Uỷ Ban can thiệp thành công. Nay hảy CỨU GIÚP TẬP THỂ TỴ NẠN NGAY TRÊN ĐẤT MỸ, trước những tấn kích liên tục của bọn Việt Cộng, Việt gian, chúng đang từng bước triệt hạ lá cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng cho tự do, hồn thiêng sông núi. Đề nghị liên hệ đến các cơ quan hữu trách, tình báo, an ninh như C.I.A, F.B.I...kể cả bộ nội an ( immigration department) để lột mặt những kẻ triệt hạ lá cờ mà chính họ đã từng tôn kính, nhờ vã, núp bóng để được định cư khi còn ở các trại tỵ nạn; các địa phương hảy nêu tên những tên nầy, gởi về Ủy Ban để điều tra và có biện pháp, dùng pháp luật để chế tài. Trưng bằng chứng qua những bức hình của Đổ Ngọc Yến chụp với những tên cán bộ cao cấp như Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Xuân Phong...hay bất cứ tài liệu nào. Chuyện triệt hạ lá cờ vàng cũng đủ các cơ quan tình báo, an ninh, chính trị gia....
kết luận: đây không phải là những người tỵ nạn chính trị, nhưng đó là bọn gián điệp trà trộn, có phương hại đến an ninh quốc gia và trước mắt là" làm xáo trộn đời sống yên bình của những công dân Mỹ gốc Việt"; những cuộc biểu tình dài hạn có khả năng làm hao thêm công quỷ quốc gia, khi lực lượng cảnh sát được phái tới lo an ninh...do đó chính phủ Hoa Kỳ không" phấn khởi" trước sự xuất hiện của thành phần tỵ nạn gian nầy. Vận động đồng bào gởi thư tố cáo đến các cơ quan an ninh, chính khách, nêu cả tên tuổi những kẻ đang" tử thủ chốt cờ đỏ sao vàng", càng nhiều thơ gởi đến, thì sự quan tâm của các cơ quan hữu trách càng cao.
Những vị dân cử như dân biểu Trần Thái Văn, dân biểu Bubert Võ, các nghị viên, luật gia...hảy can thiệp, xem lại cái văn bản" Lý do rời Việt Nam" của những người trong những CHỐT ló ra, mục đích để hạ lá cờ vàng, đề nghị soạn thảo ra dự luật, trình lên quốc hội tiểu bang, vận động liên bang, kể cả Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc... để có biện pháp hợp lý, khi khám phá ra những" tên gian điệp trà trộn" từ lâu nay và thành phần tỵ nạn kinh tế, tỵ nạn gian, lừa dối Cao Ủy và chính phủ... đề nghị tu chính thêm luật trục xuất để trả những kẻ nầy về Việt Nam. Đây là nhu cầu vô cùng khẩn cấp để cứu nguy cho cộng đồng trước sự nổi dậy tổng tấn công của giặc Cộng nằm vùng ở hải ngoại. Biểu tình là phản ứng tự vệ tạm thời nhằm ngăn chận để tìm biện pháp tiêu diệt tận gốc bọn gián điệp của giặc Cộng, bọn" ăn cơm tự do, đội mo Cộng Sản", tỵ nạn gian....hảy đánh ngay vào hai mặt chính, là yếu huyệt của chúng:
-Luật pháp.
-Túi tiền: tẩy chay không đọc, quảng cáo, chứa chấp...những cơ quan truyền thông đã lộ rõ là của Việt Cộng.
Một số kẻ ngây thơ, vài tổ chức, đảng phái dỏm ở hải ngoại đưa ra mục tiêu xa vời như: đấu tranh dân chủ cho người dân trong nước, lập ra khối nầy, đảng phái kia, đa nguyên đa đảng, dồn nổ lực cho các nhà phản tỉnh ( chưa biết thiệt hay giả) phát động rần rộ bằng các cơ quan truyền thông của họ; trong khi mặt trận hải ngoại đang sôi động, đe dọa trước mắt mà không lo đối phó, đây cũng có thể là những hỏa mù được những kẻ đồng hội, đồng thuyền tung ra để giặc Cộng dể gia tăng hoạt động?.
Một điều chắc chắn là những tổ chức ấy thường đánh giặc bằng mồm, đưa ra mục tiêu" chiến lược" thật kêu, nhưng ai cũng biết thuộc đảng" tốt mã rả đám". Nếu không ru ngũ, cũng có tà ý, a tòng với giặc Cộng trong kế" thanh đông kích tây": Phân tán, thu hút lực lượng chống Cộng, dồn vào việc lớn trong nước ( không tưởng), bỏ ngõ mặt trận tại hậu phương là hải ngoại, để cho bọn giặc Cộng tha hồ tung hoành, hết hạ nhục cờ vàng bằng chậu rửa chân, đến vứt vào sọt rác...../.
Monday, April 7, 2008
Exclusive Interview with Nguyen Chi Thien
(Part I & II)
Former Amnesty International 'Prisoner of Conscience' attends the Human Rights
Torch Relay events in San José and San Francisco
By Nataly Teplitsky
Epoch Times San Francisco Staff
Apr 06, 2008
Nguyen Chi Thien, a prisoner of conscience from Vietnam, speaks at the Human Rights Torch Relay in San José on Mar. 29, 2008. (Mark Zou/The Epoch Times)
Nguyen Chi Thien spent a total of 27 years imprisoned at the hands of the Vietnamese
communist regime due to his speaking the truth to his fellow countrymen. The Epoch Times had a chance to speak with him at the Human Rights Torch Relay events in San José and San Francisco.
Epoch Times: Mr. Nguyen Chi Thien, thank you for coming to the Human Rights Torch Relay events and for your moving speeches at both the San José and San Francisco rallies. I know that it took you more than six hours to get here. What motivated you to join these events?
Nguyen Chi Thien: These rallies have a very righteous cause, and I support them with all my heart. I am very happy that CIPFG (Coalition to Investigate the Persecution of Falun Gong) has organized such a great event all over the world.
In 1936, the IOC (International Olympic Committee) made an unforgivable mistake, in that it had not cancelled Germany's privilege to host the Olympics in Berlin. This encouraged Hitler to provoke World War II three years later. As for the Beijing Olympics, the actress Mia Farrow was very right, when she called it "The Genocide Olympics."
In order to fool people in the free world, every dictatorship, especially in China and Vietnam, always talks about peace and social stability. But we shouldn't be so naive and take barbarous oppression for peace and stability. All communists, Chinese, as well as Vietnamese, are blatant liars.
ET: Last year, you were among several hundred survivors of communist regimes that
gathered near the U.S. Capitol building in Washington D.C., for the dedication of the city's 2 first-ever memorial to the victims of communism. The Foreign Ministry of Communist China and the leader of the Russian Communist Party both denounced the Memorial, prompting VOCMF (Victims of Communism Memorial Foundation) Chairman Lee Edwards to comment: "When you are denounced by both the Chinese communists and the Russian communists, you know you're doing the right thing."
NCT: Jun. 12, 2007 was a historic day—a day of remembrance of more than 100 million
victims who had died under communism's cruel yoke. Communism is worse than Nazism.
Communists have been murdering people in times of peace, not just during war, and the
number of victims was incomparably larger. Communists are very, very cruel to their own people.
The Goddess of Democracy, which was sculpted as a memorial to the Chinese democracy
movement of 1989, stands in Portsmouth Square, in the heart of San Francisco's Chinatown.
ET: San Francisco sculptor Thomas Marsh, in 1989, after viewing on TV the brutalities of the Tiananmen massacre, vowed to rebuild the statue of the original Goddess of Democracy,which was destroyed by a tank in the moment that was witnessed throughout the world. The first bronze replica was unveiled in 1994 by Chinese dissidents and Nancy Pelosi in San Francisco. And now, the Goddess of Democracy crowns the center of the memorial in Washington D.C.
On the front of the pedestal is carved: "To the more than one hundred million victims of communism and to those who love liberty." On the back of the pedestal the engraved words are: "To the freedom and independence of all captive nations and peoples."
NCT: I was deeply touched, when I saw this monument. It is a very important reminder to young people, who have to learn their history lessons. Here, in America, there are no victims of communism. Nazis' crimes are exposed everywhere,both in the U.S. and Europe, but not so with communism. Communist crimes should not be forgotten. Actually, communists are always afraid of exposure. And today, one-fifth of the
world's people still live and suffer under communism.
As the Olympics come closer, they (communists) are escalating oppression everywhere, even in Vietnam. In Saigon city, South Vietnam, people are planning demonstrations of protests against Beijing's torturing. Torture is a symbol of tyranny.
ET: Your new book of essays about prison life at the so-called "Hanoi Hilton" Prison in Vietnam was published at the end of 2007 by the Council on Southeast Asia Studies at Yale University in their Monograph Series. Where and when did you write it? Did you memorize your stories, while imprisoned, like you did your poems?
NCT: After my release, I was invited by the International Parliament of Writers (IPW) to spend three years in France (1998 -2001). I was welcomed by the prime minister of France, Mr.Jacques Chirac, Mr. Christian Salmon, Secretary of IPW, and many kind French people. Their generosity and care not only helped to restore my health, but also gave me the peace and quiet that I needed to recollect, conceive and write the book of essays about the bitter life of prisoners in communist Vietnam.
ET: Where can readers buy your new book of essays?
NCT: They can buy the new English edition of Hoa Lo/Hanoi Hilton Stories from Amazon.com . They are being sold through the publisher, Yale University Press.
Epoch Times: You were twice nominated for the Nobel Prize in Literature, and were called "The Solzhenitsyn of Vietnam" by Michael Lind, in his essay in New America Foundation. What keeps you going?
Nguyen Chi Thien: My lifelong "duty" is fighting for a better life for my fellow-Vietnamese. Opposing evils is the responsibility of human beings to the end of time. I hope to witness true justice in my country in the near future.
Now I'm writing my memoirs about Vietnamese society, about the suffering of the Vietnamese people from 1945 until 1995. It is very important to have a truthful description of Vietnamese history under communist tyranny, because in our history, there was never a time so tragic, so miserable and so barbarous. Not only in prisons, but in that society, life did not deserve to be called life, especially before the so-called renovation, in 1995. All peasants, without exception,
have been starving, during all those years.
ET: When and where are you going to publish your memoirs?
NCT: I think it will take two more years. There are many publishers who want to publish it, but most probably I'll have it published through Yale University Press, publisher of my essays.
ET: What helped you survive those agonizing 27 years in communist jails?
NCT: I was put in leg shackles in a dark cell for eight years, and I was given a tiny portion of rotten rice with salt water once a day. In those terrible conditions, it was meditation that helped me to survive the madness all around. It helped me to reach a tranquility of mind.
Also, I had great passion for poetry, so lying shackled in leg fetters, I had been concentrating all my efforts, all the power of my mind, creating poetry. It kept me alive, and helped me not to become insane. I've learned to take advantage of every adversity, every misery, so I could extract something beautiful, something useful.
They exiled me to the heart of the jungle
Wishing to fertilize the manioc with my remains.
I turned into an expert hunter
and came out full of snake wisdom and rhino fierceness.
They sank me into the ocean
Wishing that I remained in the depths.
I became a deep sea diver
And came up covered with scintillating pearls.
NCT: Poetry cannot be translated well into other languages, because it's impossible to preserve the original rhythm, and the rhythm is the soul of poetry. But I still want to recite to you in English one of my favorite verses. It is about a destiny, a fate that every human being has. And I believe that every human being has a soul.
Poet, my friend,
You must know how to keep your soul always unsullied
Like that proverbial pink lotus that spreads fragrance
Even in the midst of slime,
Like a lone star shining in a pristine night sky
Twinkling far, far away, and glistening with dew…
You must also know, my friend,
How to live in this world as if you were deathless
In spite of all its misery and cold, dangers and tragedies.
And though your body may be ravaged by illnesses
And shrinking day by day,
Your spirit must still be stronger than rock or steel
Standing firm in the midst of destructive time.
Only then can you let your poetic mind roam free
Flying high and wide even in an iron trap.
As for dying or getting out of here—
That's heaven's decision, not one that is up to you!
I always firmly believed that the communist regime is contradictory to human nature. I had a strong belief that if I survived, I would see a better day.
Source: http://en.epochtimes.com/news/8-4-6/68716.html
(Part I & II)
Former Amnesty International 'Prisoner of Conscience' attends the Human Rights
Torch Relay events in San José and San Francisco
By Nataly Teplitsky
Epoch Times San Francisco Staff
Apr 06, 2008
Nguyen Chi Thien, a prisoner of conscience from Vietnam, speaks at the Human Rights Torch Relay in San José on Mar. 29, 2008. (Mark Zou/The Epoch Times)
Nguyen Chi Thien spent a total of 27 years imprisoned at the hands of the Vietnamese
communist regime due to his speaking the truth to his fellow countrymen. The Epoch Times had a chance to speak with him at the Human Rights Torch Relay events in San José and San Francisco.
Epoch Times: Mr. Nguyen Chi Thien, thank you for coming to the Human Rights Torch Relay events and for your moving speeches at both the San José and San Francisco rallies. I know that it took you more than six hours to get here. What motivated you to join these events?
Nguyen Chi Thien: These rallies have a very righteous cause, and I support them with all my heart. I am very happy that CIPFG (Coalition to Investigate the Persecution of Falun Gong) has organized such a great event all over the world.
In 1936, the IOC (International Olympic Committee) made an unforgivable mistake, in that it had not cancelled Germany's privilege to host the Olympics in Berlin. This encouraged Hitler to provoke World War II three years later. As for the Beijing Olympics, the actress Mia Farrow was very right, when she called it "The Genocide Olympics."
In order to fool people in the free world, every dictatorship, especially in China and Vietnam, always talks about peace and social stability. But we shouldn't be so naive and take barbarous oppression for peace and stability. All communists, Chinese, as well as Vietnamese, are blatant liars.
ET: Last year, you were among several hundred survivors of communist regimes that
gathered near the U.S. Capitol building in Washington D.C., for the dedication of the city's 2 first-ever memorial to the victims of communism. The Foreign Ministry of Communist China and the leader of the Russian Communist Party both denounced the Memorial, prompting VOCMF (Victims of Communism Memorial Foundation) Chairman Lee Edwards to comment: "When you are denounced by both the Chinese communists and the Russian communists, you know you're doing the right thing."
NCT: Jun. 12, 2007 was a historic day—a day of remembrance of more than 100 million
victims who had died under communism's cruel yoke. Communism is worse than Nazism.
Communists have been murdering people in times of peace, not just during war, and the
number of victims was incomparably larger. Communists are very, very cruel to their own people.
The Goddess of Democracy, which was sculpted as a memorial to the Chinese democracy
movement of 1989, stands in Portsmouth Square, in the heart of San Francisco's Chinatown.
ET: San Francisco sculptor Thomas Marsh, in 1989, after viewing on TV the brutalities of the Tiananmen massacre, vowed to rebuild the statue of the original Goddess of Democracy,which was destroyed by a tank in the moment that was witnessed throughout the world. The first bronze replica was unveiled in 1994 by Chinese dissidents and Nancy Pelosi in San Francisco. And now, the Goddess of Democracy crowns the center of the memorial in Washington D.C.
On the front of the pedestal is carved: "To the more than one hundred million victims of communism and to those who love liberty." On the back of the pedestal the engraved words are: "To the freedom and independence of all captive nations and peoples."
NCT: I was deeply touched, when I saw this monument. It is a very important reminder to young people, who have to learn their history lessons. Here, in America, there are no victims of communism. Nazis' crimes are exposed everywhere,both in the U.S. and Europe, but not so with communism. Communist crimes should not be forgotten. Actually, communists are always afraid of exposure. And today, one-fifth of the
world's people still live and suffer under communism.
As the Olympics come closer, they (communists) are escalating oppression everywhere, even in Vietnam. In Saigon city, South Vietnam, people are planning demonstrations of protests against Beijing's torturing. Torture is a symbol of tyranny.
ET: Your new book of essays about prison life at the so-called "Hanoi Hilton" Prison in Vietnam was published at the end of 2007 by the Council on Southeast Asia Studies at Yale University in their Monograph Series. Where and when did you write it? Did you memorize your stories, while imprisoned, like you did your poems?
NCT: After my release, I was invited by the International Parliament of Writers (IPW) to spend three years in France (1998 -2001). I was welcomed by the prime minister of France, Mr.Jacques Chirac, Mr. Christian Salmon, Secretary of IPW, and many kind French people. Their generosity and care not only helped to restore my health, but also gave me the peace and quiet that I needed to recollect, conceive and write the book of essays about the bitter life of prisoners in communist Vietnam.
ET: Where can readers buy your new book of essays?
NCT: They can buy the new English edition of Hoa Lo/Hanoi Hilton Stories from Amazon.com . They are being sold through the publisher, Yale University Press.
Epoch Times: You were twice nominated for the Nobel Prize in Literature, and were called "The Solzhenitsyn of Vietnam" by Michael Lind, in his essay in New America Foundation. What keeps you going?
Nguyen Chi Thien: My lifelong "duty" is fighting for a better life for my fellow-Vietnamese. Opposing evils is the responsibility of human beings to the end of time. I hope to witness true justice in my country in the near future.
Now I'm writing my memoirs about Vietnamese society, about the suffering of the Vietnamese people from 1945 until 1995. It is very important to have a truthful description of Vietnamese history under communist tyranny, because in our history, there was never a time so tragic, so miserable and so barbarous. Not only in prisons, but in that society, life did not deserve to be called life, especially before the so-called renovation, in 1995. All peasants, without exception,
have been starving, during all those years.
ET: When and where are you going to publish your memoirs?
NCT: I think it will take two more years. There are many publishers who want to publish it, but most probably I'll have it published through Yale University Press, publisher of my essays.
ET: What helped you survive those agonizing 27 years in communist jails?
NCT: I was put in leg shackles in a dark cell for eight years, and I was given a tiny portion of rotten rice with salt water once a day. In those terrible conditions, it was meditation that helped me to survive the madness all around. It helped me to reach a tranquility of mind.
Also, I had great passion for poetry, so lying shackled in leg fetters, I had been concentrating all my efforts, all the power of my mind, creating poetry. It kept me alive, and helped me not to become insane. I've learned to take advantage of every adversity, every misery, so I could extract something beautiful, something useful.
They exiled me to the heart of the jungle
Wishing to fertilize the manioc with my remains.
I turned into an expert hunter
and came out full of snake wisdom and rhino fierceness.
They sank me into the ocean
Wishing that I remained in the depths.
I became a deep sea diver
And came up covered with scintillating pearls.
NCT: Poetry cannot be translated well into other languages, because it's impossible to preserve the original rhythm, and the rhythm is the soul of poetry. But I still want to recite to you in English one of my favorite verses. It is about a destiny, a fate that every human being has. And I believe that every human being has a soul.
Poet, my friend,
You must know how to keep your soul always unsullied
Like that proverbial pink lotus that spreads fragrance
Even in the midst of slime,
Like a lone star shining in a pristine night sky
Twinkling far, far away, and glistening with dew…
You must also know, my friend,
How to live in this world as if you were deathless
In spite of all its misery and cold, dangers and tragedies.
And though your body may be ravaged by illnesses
And shrinking day by day,
Your spirit must still be stronger than rock or steel
Standing firm in the midst of destructive time.
Only then can you let your poetic mind roam free
Flying high and wide even in an iron trap.
As for dying or getting out of here—
That's heaven's decision, not one that is up to you!
I always firmly believed that the communist regime is contradictory to human nature. I had a strong belief that if I survived, I would see a better day.
Source: http://en.epochtimes.com/news/8-4-6/68716.html
Sunday, April 6, 2008
LÀM ƠN NGƯNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VINH DANH VIỆT CỘNG VÀ ĐỒNG BỌN.
Đinh Lâm Thanh - Paris.
Thi hành nghị quyết 36, các sứ quán Việt Cộng đã chỉ thị cho bọn nằm vùng cũng như thành phần con buôn nghệ thuật tổ chức những chương trình vinh danh kẻ thù là Cộng sản và đồng bọn tại các thành phố đông người Việt Quốc gia. Một điểm cần ghi nhận là những lần trình diễn đều trùng hợp với thời gian kỹ niệm thành lập đảng, mừng cách mạng thành công, sinh nhật già Hồ hay ngày giỗ những tên Cộngg sản văn nghệ sĩ nằm vùng. Điều đáng quan tâm là những buổi trình diễn văn hóa nghệ thuật hay tân cổ nhạc vinh danh kẻ thù đều cố tình rơi đúng vào thời điểm đau thương của dân tộc Việt Nam. Điển hình là những buổi văn nghệ thường tổ chức trong Tháng Tư, gọi là ‘tháng tư đen’ mà những ai đã bỏ nước ra đi đều mang trong lòng một nổi buồn xót xa…
Người tổ chức thường chọn một vài chủ đề thật hấp dẫn như : Tạ Ơn, Vinh Danh, Tưởng Niệm …và mời một số ca nhạc sĩ mất gốc hợp tác. Họ đã bất chấp sự phẩn nộ của tập thể người Việt Quốc gia để trình bài những bài hát phản chiến, ca tụng chế độ Cộng sản. Xét vê thành phần tổ chức, có thể xem họ là những người vượt biển hay ra xứ ngoài vì lý do kinh tế. Nhờ sự đùm bọc và tình thương của người Việt tỵ nạn chính trị, ngày nay vinh thân phì gia nhưng vẫn cố tình tổ chức các buổi văn hóa nghệ thuật với những đề tài, chương trình không ngoài mục đích đâm thẳng vào mặt những người trước kia cùng xuống ghe hay lên máy bay đi tìm tự do. Hành động nầy xem như một hình thức trả ơn những người đã cưu mang đùm bọc họ trong những ngày chập chững nơi xứ lạ quê người. Đây là thành phần không có lương tâm và con tim, chỉ biết kiếm tiền trên những giọt nước mắt chưa ráo, trên những vết thương còn máu của hàng vạn gia đình thương phế binh và cô nhi quả phụ, trên xác chết của hàng trăm ngàn người đã bỏ mình trong cuộc chiến và trên đau khổ của hàng triệu người phải lìa bỏ quê hương ra đi không biết ngày về.
Những người đi xem cũng không thua gì kẻ tổ chức, đóng góp chút ít giúp thương phế binh thì tìm cách từ chối nhưng chi ra hàng trăm để vỗ tay tán thưởng những tên tội đồ dân tộc, bọn nằm vùng bán đứng quốc gia, những tên văn nghệ sĩ Cộng sản thì sẵn sàng ! Chính thành phần nầy trước kia đã đâm sau lưng chiến sĩ tiếp tay kẻ thù đưa dân tộc Việt Nam đi vào đói rách bần cùng lạc hậu, nay lại tiếp tục vỗ tay hoan hô và đóng góp nuôi dưỡng kẻ thù.
Trong đám người vỗ tay vinh danh và tạ ơn kẻ thù chắc chắn có mặt một số đã huênh hoan tuyên bố rằng : Nhờ Cộng sản vào chiếm Miền Nam ngày nay họ mới được ra ngoại quốc, có được cái nhà, chiếc xe, sáng bơ sữa, chiều cá thịt… Xin thưa rằng, những người tỵ nạn kinh tế nầy đã lầm ! Không có một xứ nào dư tiền dư của để rước những khối thịt biết đi đưa về nuôi dưỡng, mà phải biết rằng, nhờ xương máu của những người đã nằm xuống trong trận chiến cuối cùng, những quân nhân anh dũng bỏ mình trong lao tù Cộng sản, những xác người vô tội đã chìm sâu trong lòng đại dương…. Chính những hình ảnh đau thương chết chóc đó đã đánh thức lương tâm và con tim của nhân loại để rồi thế giới sẵn sàng mở rộng vòng tay đón những người bỏ xứ ra đi. Trong đó chắc chắn có những ‘khối thịt đi tìm miếng cơm manh áo’ và giờ đây đang tập trung để ‘vinh danh’ và ‘tạ ơn’ đảng Cộng sản !
Người Việt Quốc gia không thể bình thản khoanh tay nhìn thành phần mất gốc, nối giáo cho giặc kiếm ăn trên nước mắt đau thương, trên xương máu của nhân dân Việt Nam trong 33 năm qua, mà phải hành động bằng mọi cách để chấm dứt tức khắc các chương trình vinh danh tương niệm tạ ơn kẻ thù và đồng bọn.
Hôm nay sau lễ chào cờ đầu tháng, Văn Phòng Liên Lạc các Hội Đoàn Người Việt Quốc Gia tại Pháp đưa ra nhiều vấn đề phải làm trong tháng Tư : Chống rước đuốc Thế Vận đi qua Paris ngày 07.4. Tổ chức trưng bày tội ác Hồ Chí Minh ngày 19.4. Biểu tình trước sứ quán Việt Cộng ngày 30.4. Hội Thảo với đề tài ‘Nổi Xót Xa Của Những Người Bỏ Nước Ra Đi’ ngày 03.5.2008 và sau cùng là một đế tài nóng bỏng : Buổi văn nghệ ‘Tạ Ơn Đời’ tổ chức tại Paris ngày 27.4.2008.
Trong phạm vi bài viết, tôi ghi lại diễn tiến về buổi văn nghệ tổ chức tại Paris ngày 27.4.2008, sau khi tất cả người có mặt trong buổi họp đồng lên tiếng tẩy chay với 3 lý do sau :
1.Buổi văn nghệ tổ chức mua vui rơi đúng vào thời điểm đau thương nhất của người Việt Quốc Gia tại Pháp.
2. Hai ca sĩ trụ cột của chương trình, một người nằm vùng (Ái Vân) và một người trở cờ phản bội cộng đồng về Việt Nam ve vãn Cộng sản (Hương Lan).
3. Dùng chủ đề lập lờ đánh lận con đen ‘ Tạ Ơn Đời’ (Tạ Ơn cái gì trong tháng Tư ‘đổi đời’ nầy ?)
Thật vậy, chương trình trình diễn tân nhạc vào ngày 27.4.2008 tại Espace Reuilly, số 21 rue Hénard Paris 12, qua chủ đề ‘Tạ Ơn Đời’ là một gáo nước lạnh tạt vào mặt người Việt Quốc gia trong lúc cộng đồng đang chuẩn bị tưởng niệm 33 năm mất nước. Trước đây các hội đoàn của Người Việt Quốc gia đã yêu cầu tôi liên lạc với ban tổ chức buổi văn nghệ ‘tạ ơn đời’ để giải quyết vấn đề nhức nhối nầy nhưng hoàn toàn thất bại.
Tôi gởi email (dưới đây) đến 3 thành viên trong ban tổ chức buổi văn nghệ ‘Tạ Ơn Đời’ đã đúng 15 ngày, nhưng hoàn toàn không hồi âm dù chỉ một vài câu đối thoại lịch sự… Hôm nay tôi đề nghị tất cả đồng hương tại Paris hưởng ứng lời kêu gọi tẩy chay chương trình văn nghệ nầy.
Xin ghi lại đây lời kêu gọi thiết tha đã gởi đến ba người trong ban tổ chức ngày 23.3.2008 :
Kính thưa Quý Ông Bà.
Trước tiên kính xin ông bà vui lòng tha thứ về email đột ngột này. Một số anh chị em trong cộng đồng người Việt Quốc gia tại Paris đã đề nghị tôi liên lạc với quý ông bà về một vấn đề hơi tế nhị. Sau vài ngày suy nghĩ tôi lấy hết can đảm để gởi mail đến quý ông bà.
Câu chuyện như thế này, tháng Tư còn gọi là tháng tư Đen hoặc tháng Tư Buần mà chương trình văn nghệ của quý ông bà tổ chức một buổi văn nghệ với tựa đề ‘Tạ Ơn Đời’ (hay bất cứ một tựa đề nào có tính cách chống lại nổi đau buồn và sự mất mát của dân tộc...) rơi vào cuối tháng,thì theo ý tôi, đó là một điều làm đau lòng cho những ai đã bỏ nước ra đi.
Bây giờ cho đến ngày tổ chức văn nghê hãy còn xa (khoảng 5 tuần), tôi xin thay mặt các anh chị em người Việt Quốc gia mong ông bà hãy vì chúng tôi là khán giả, dời ngày trình diễn qua tháng 5 hay tháng 6 là một việc làm có ý nghĩa và cũng là một hình thức phục vụ giới khángiả ái mộ âm nhạc.
Tôi vẫn biết, tổ chức văn nghệ vào ngày nào giờ nào là quyền của tất cả mọi người, nhưng thưa ông bà, trong lúc hàng triệu người dành trọn tháng TƯ để tưởng niệm hàng năm cho Quê Hương, cho Dân Tộc, cho những người đã chết, sao ông bà đành tổ chức những buổi văn nghệ vui tươi, với những chủ đề chống lại những người đã nằm xuống cho tự do dân chủ ?Xin một chút suy tư và hãy tôn trọng sự đau khổ của tập thể.
Hết lòng đa tạ.
Đến nay là ngày 05.4.2008, không một cử chỉ hồi âm của ban tổ chức, buộc lòng chúng tôi lên tiếng kêu gọi tẩy chay xuất hát ‘Tạ Ơn Đời’ của những người nhờ ‘giải phóng’ để được ra nước ngoài tỵ nạn ! Chủ đề ‘Tạ Ơn Đời’ thật quyến rũ nhưng đối với người Việt Quốc Gia là một thách thức khơi lại vết thương lòng, vừa nghe qua tưởng chừng như một cái gì đó đang đâm vào tim mình.
Nhân tiện đây xin mượn các diễn đàn kêu gọi người Việt Quốc Gia tẩy chay tất cả chương trình hóa nghệ thuật nào trên thế giới thường lợi dụng những danh từ ‘Vinh Danh’, ‘Tưởng Niệm’, ‘Tạ Ơn’ để ca tụng từ già Hồ đến các tên Cộng sản gộc cũng như bọn nằm vùng.
Đề nghị hai vấn đề trước mắt :
1. Người Việt Quốc Gia tại San José cần phải xuống đường tẩy chay buổi tưởng niệm Hoàng Minh Chính, chúa trùm Cộng sản, do nhóm trí thức nằm vùng tổ chức trước Hội Đồng Thành Phố San José (Cali, USA) vào lúc 11 giờ sáng ngày Chủ Nhật 06.4.2008.
2. Tẩy chay chương trình nhạc chủ đề ‘Tạ Ơn Đời’ tại Espace Reuilly, số 21 đường Hérard, Paris, 12 lúc 11 giờ ngày 27.4.2008.
Ngoài ra hãy vạch mặt chỉ tên những người tỵ nạn kinh tế hay trí thức mất gốc có hành động phản bội lòng yêu thương, sự giúp đở và đùm bọc của cộng đồng người Việt Quốc Gia Hải Ngoại./-
Paris, 05.4.2008
Đinh Lâm Thanh - Paris.
Thi hành nghị quyết 36, các sứ quán Việt Cộng đã chỉ thị cho bọn nằm vùng cũng như thành phần con buôn nghệ thuật tổ chức những chương trình vinh danh kẻ thù là Cộng sản và đồng bọn tại các thành phố đông người Việt Quốc gia. Một điểm cần ghi nhận là những lần trình diễn đều trùng hợp với thời gian kỹ niệm thành lập đảng, mừng cách mạng thành công, sinh nhật già Hồ hay ngày giỗ những tên Cộngg sản văn nghệ sĩ nằm vùng. Điều đáng quan tâm là những buổi trình diễn văn hóa nghệ thuật hay tân cổ nhạc vinh danh kẻ thù đều cố tình rơi đúng vào thời điểm đau thương của dân tộc Việt Nam. Điển hình là những buổi văn nghệ thường tổ chức trong Tháng Tư, gọi là ‘tháng tư đen’ mà những ai đã bỏ nước ra đi đều mang trong lòng một nổi buồn xót xa…
Người tổ chức thường chọn một vài chủ đề thật hấp dẫn như : Tạ Ơn, Vinh Danh, Tưởng Niệm …và mời một số ca nhạc sĩ mất gốc hợp tác. Họ đã bất chấp sự phẩn nộ của tập thể người Việt Quốc gia để trình bài những bài hát phản chiến, ca tụng chế độ Cộng sản. Xét vê thành phần tổ chức, có thể xem họ là những người vượt biển hay ra xứ ngoài vì lý do kinh tế. Nhờ sự đùm bọc và tình thương của người Việt tỵ nạn chính trị, ngày nay vinh thân phì gia nhưng vẫn cố tình tổ chức các buổi văn hóa nghệ thuật với những đề tài, chương trình không ngoài mục đích đâm thẳng vào mặt những người trước kia cùng xuống ghe hay lên máy bay đi tìm tự do. Hành động nầy xem như một hình thức trả ơn những người đã cưu mang đùm bọc họ trong những ngày chập chững nơi xứ lạ quê người. Đây là thành phần không có lương tâm và con tim, chỉ biết kiếm tiền trên những giọt nước mắt chưa ráo, trên những vết thương còn máu của hàng vạn gia đình thương phế binh và cô nhi quả phụ, trên xác chết của hàng trăm ngàn người đã bỏ mình trong cuộc chiến và trên đau khổ của hàng triệu người phải lìa bỏ quê hương ra đi không biết ngày về.
Những người đi xem cũng không thua gì kẻ tổ chức, đóng góp chút ít giúp thương phế binh thì tìm cách từ chối nhưng chi ra hàng trăm để vỗ tay tán thưởng những tên tội đồ dân tộc, bọn nằm vùng bán đứng quốc gia, những tên văn nghệ sĩ Cộng sản thì sẵn sàng ! Chính thành phần nầy trước kia đã đâm sau lưng chiến sĩ tiếp tay kẻ thù đưa dân tộc Việt Nam đi vào đói rách bần cùng lạc hậu, nay lại tiếp tục vỗ tay hoan hô và đóng góp nuôi dưỡng kẻ thù.
Trong đám người vỗ tay vinh danh và tạ ơn kẻ thù chắc chắn có mặt một số đã huênh hoan tuyên bố rằng : Nhờ Cộng sản vào chiếm Miền Nam ngày nay họ mới được ra ngoại quốc, có được cái nhà, chiếc xe, sáng bơ sữa, chiều cá thịt… Xin thưa rằng, những người tỵ nạn kinh tế nầy đã lầm ! Không có một xứ nào dư tiền dư của để rước những khối thịt biết đi đưa về nuôi dưỡng, mà phải biết rằng, nhờ xương máu của những người đã nằm xuống trong trận chiến cuối cùng, những quân nhân anh dũng bỏ mình trong lao tù Cộng sản, những xác người vô tội đã chìm sâu trong lòng đại dương…. Chính những hình ảnh đau thương chết chóc đó đã đánh thức lương tâm và con tim của nhân loại để rồi thế giới sẵn sàng mở rộng vòng tay đón những người bỏ xứ ra đi. Trong đó chắc chắn có những ‘khối thịt đi tìm miếng cơm manh áo’ và giờ đây đang tập trung để ‘vinh danh’ và ‘tạ ơn’ đảng Cộng sản !
Người Việt Quốc gia không thể bình thản khoanh tay nhìn thành phần mất gốc, nối giáo cho giặc kiếm ăn trên nước mắt đau thương, trên xương máu của nhân dân Việt Nam trong 33 năm qua, mà phải hành động bằng mọi cách để chấm dứt tức khắc các chương trình vinh danh tương niệm tạ ơn kẻ thù và đồng bọn.
Hôm nay sau lễ chào cờ đầu tháng, Văn Phòng Liên Lạc các Hội Đoàn Người Việt Quốc Gia tại Pháp đưa ra nhiều vấn đề phải làm trong tháng Tư : Chống rước đuốc Thế Vận đi qua Paris ngày 07.4. Tổ chức trưng bày tội ác Hồ Chí Minh ngày 19.4. Biểu tình trước sứ quán Việt Cộng ngày 30.4. Hội Thảo với đề tài ‘Nổi Xót Xa Của Những Người Bỏ Nước Ra Đi’ ngày 03.5.2008 và sau cùng là một đế tài nóng bỏng : Buổi văn nghệ ‘Tạ Ơn Đời’ tổ chức tại Paris ngày 27.4.2008.
Trong phạm vi bài viết, tôi ghi lại diễn tiến về buổi văn nghệ tổ chức tại Paris ngày 27.4.2008, sau khi tất cả người có mặt trong buổi họp đồng lên tiếng tẩy chay với 3 lý do sau :
1.Buổi văn nghệ tổ chức mua vui rơi đúng vào thời điểm đau thương nhất của người Việt Quốc Gia tại Pháp.
2. Hai ca sĩ trụ cột của chương trình, một người nằm vùng (Ái Vân) và một người trở cờ phản bội cộng đồng về Việt Nam ve vãn Cộng sản (Hương Lan).
3. Dùng chủ đề lập lờ đánh lận con đen ‘ Tạ Ơn Đời’ (Tạ Ơn cái gì trong tháng Tư ‘đổi đời’ nầy ?)
Thật vậy, chương trình trình diễn tân nhạc vào ngày 27.4.2008 tại Espace Reuilly, số 21 rue Hénard Paris 12, qua chủ đề ‘Tạ Ơn Đời’ là một gáo nước lạnh tạt vào mặt người Việt Quốc gia trong lúc cộng đồng đang chuẩn bị tưởng niệm 33 năm mất nước. Trước đây các hội đoàn của Người Việt Quốc gia đã yêu cầu tôi liên lạc với ban tổ chức buổi văn nghệ ‘tạ ơn đời’ để giải quyết vấn đề nhức nhối nầy nhưng hoàn toàn thất bại.
Tôi gởi email (dưới đây) đến 3 thành viên trong ban tổ chức buổi văn nghệ ‘Tạ Ơn Đời’ đã đúng 15 ngày, nhưng hoàn toàn không hồi âm dù chỉ một vài câu đối thoại lịch sự… Hôm nay tôi đề nghị tất cả đồng hương tại Paris hưởng ứng lời kêu gọi tẩy chay chương trình văn nghệ nầy.
Xin ghi lại đây lời kêu gọi thiết tha đã gởi đến ba người trong ban tổ chức ngày 23.3.2008 :
Kính thưa Quý Ông Bà.
Trước tiên kính xin ông bà vui lòng tha thứ về email đột ngột này. Một số anh chị em trong cộng đồng người Việt Quốc gia tại Paris đã đề nghị tôi liên lạc với quý ông bà về một vấn đề hơi tế nhị. Sau vài ngày suy nghĩ tôi lấy hết can đảm để gởi mail đến quý ông bà.
Câu chuyện như thế này, tháng Tư còn gọi là tháng tư Đen hoặc tháng Tư Buần mà chương trình văn nghệ của quý ông bà tổ chức một buổi văn nghệ với tựa đề ‘Tạ Ơn Đời’ (hay bất cứ một tựa đề nào có tính cách chống lại nổi đau buồn và sự mất mát của dân tộc...) rơi vào cuối tháng,thì theo ý tôi, đó là một điều làm đau lòng cho những ai đã bỏ nước ra đi.
Bây giờ cho đến ngày tổ chức văn nghê hãy còn xa (khoảng 5 tuần), tôi xin thay mặt các anh chị em người Việt Quốc gia mong ông bà hãy vì chúng tôi là khán giả, dời ngày trình diễn qua tháng 5 hay tháng 6 là một việc làm có ý nghĩa và cũng là một hình thức phục vụ giới khángiả ái mộ âm nhạc.
Tôi vẫn biết, tổ chức văn nghệ vào ngày nào giờ nào là quyền của tất cả mọi người, nhưng thưa ông bà, trong lúc hàng triệu người dành trọn tháng TƯ để tưởng niệm hàng năm cho Quê Hương, cho Dân Tộc, cho những người đã chết, sao ông bà đành tổ chức những buổi văn nghệ vui tươi, với những chủ đề chống lại những người đã nằm xuống cho tự do dân chủ ?Xin một chút suy tư và hãy tôn trọng sự đau khổ của tập thể.
Hết lòng đa tạ.
Đến nay là ngày 05.4.2008, không một cử chỉ hồi âm của ban tổ chức, buộc lòng chúng tôi lên tiếng kêu gọi tẩy chay xuất hát ‘Tạ Ơn Đời’ của những người nhờ ‘giải phóng’ để được ra nước ngoài tỵ nạn ! Chủ đề ‘Tạ Ơn Đời’ thật quyến rũ nhưng đối với người Việt Quốc Gia là một thách thức khơi lại vết thương lòng, vừa nghe qua tưởng chừng như một cái gì đó đang đâm vào tim mình.
Nhân tiện đây xin mượn các diễn đàn kêu gọi người Việt Quốc Gia tẩy chay tất cả chương trình hóa nghệ thuật nào trên thế giới thường lợi dụng những danh từ ‘Vinh Danh’, ‘Tưởng Niệm’, ‘Tạ Ơn’ để ca tụng từ già Hồ đến các tên Cộng sản gộc cũng như bọn nằm vùng.
Đề nghị hai vấn đề trước mắt :
1. Người Việt Quốc Gia tại San José cần phải xuống đường tẩy chay buổi tưởng niệm Hoàng Minh Chính, chúa trùm Cộng sản, do nhóm trí thức nằm vùng tổ chức trước Hội Đồng Thành Phố San José (Cali, USA) vào lúc 11 giờ sáng ngày Chủ Nhật 06.4.2008.
2. Tẩy chay chương trình nhạc chủ đề ‘Tạ Ơn Đời’ tại Espace Reuilly, số 21 đường Hérard, Paris, 12 lúc 11 giờ ngày 27.4.2008.
Ngoài ra hãy vạch mặt chỉ tên những người tỵ nạn kinh tế hay trí thức mất gốc có hành động phản bội lòng yêu thương, sự giúp đở và đùm bọc của cộng đồng người Việt Quốc Gia Hải Ngoại./-
Paris, 05.4.2008
Wednesday, April 2, 2008
Cái Dũng của Người Đông Phương
Việt Hải
Los Angeles, California
--------------------------------------------------------------------------------
Những cái gương can đảm của các binh lính trong đạo quân Kamikaze quyết tử của quân đội Thiên Hoàng Nhật Bản đốt nén nhang lên đường sáng hôm 7 tháng 12 năm 1941 để tấn công hạm đội Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng làm con trai tôi tự hỏi vì sao họ lại như thế khi tôi cùng các con xem cuốn phim tài liệu chiến tranh "Pearl Harbor" do đạo diển Michael Bay dàn dựng. Sau khi liệng hết bom, bắn hết đạn, từng chiếc phi cơ của phi đội quyết tử Thiên Hoàng nhắm vào các boong tàu hải quân Hoa Kỳ cứ lao vào như điên dại. Nước Mỹ sững sờ, nước Mỹ rúng động, và nước Mỹ đau thương trong trận Trân Châu Cảng.
Từ sự đau thương đó đến 4 năm sau nước Mỹ nhất quyết kết thúc chiến tranh mau lẹ bằng đường tắt ném hai quả bom nguyên tử vào ngay trung tâm thành phố Hiroshima và Nagasaki, số thương vong của người Nhật là 66,000 và bị thương 69,000 tại Hiroshima, và 39,000 chết và 26,000 bị thương tại Nagasaki. Hằng triệu người Nhật ngơ ngác trong cơn chấn động khủng khiếp của bom nguyên tử vốn xa lạ với con người thuở đó. Nước Nhật kinh hoàng, nước Nhật giận dử và nước Nhật đau thương. Để tránh thêm thiệt hại và chết chóc cho nhân dân vô tội, ngày 2 tháng 9 năm 1945 Nhật hoàng Hirohito ký hoà ước chấp nhận thua trận vô điều kiện trên chiếc hàng không mẫu hạm USS Missouri. Tin buồn đến với quân đội Nhật, hàng ngàn binh sĩ Nhật từ chối thua trận và những thước phim lịch sử đã thu nhận tinh thần dũng sĩ quả cảm của người lính Nhật, mặc dù thế giới lên án sự dã man của quân đội Nhật trong thời chiến tranh. Nhưng người ta không khỏi bùi ngùi, thương tâm khi thấy trong tinh thần samurai của kiếm sĩ đạo kendo hay võ sĩ đạo bushido, người lính thất trận tự đâm và mổ bụng chính mình, theo truyền thống harakiri, vì danh dự họ từ chối đầu hàng. Chỉ trong vài ngày sau khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng các đơn vị quân đội Nhật Bản ghi nhận gần 600 binh sĩ Nhật tự vận và con số tiếp tục, số binh sĩ tự vận tại hải ngoại không đuoc kiểm kê. Trong hàng tướng lãnh của Nhật có bộ trưởng chiến tranh Korechika Anami, tướng Seiichi Tanaka, tướng Hajime Sugiyama, tướng Umetzu, đô đốc Hải quân Ugaki và đô đốc Takijiro Onishi đã tự rút gươm đâm thủng bụng mình tự sát, họ để lại cho quân sử Nhật bản những tấm gương samurai bất khuất mãi mãi.
Cũng chuyện ngày xưa của nước Tàu, trong thời xuân thu chiến quốc, chuyện kể rằng một vị tướng quân thua trận, ông và người hầu cận bị đánh đuổi bỏ chạy lên núi cao. Hết ngày này qua ngày nọ, hết tháng này sang tháng kia, ông cảm thấy ô nhục mãi ẩn náu trên miền cao sơn và ngày về vô vọng, ông từ chối chết dần, chết mòn. Ông bảo người hầu cận chuẩn bị cho ông con chiến mã. Sau khi khoác chiến bào với thanh kiếm trên tay như thuở xông pha nơi chiến trận, ông thúc chiến mã phi bay từ cao sơn rơi xuống vực sâu thẳm để chọn cái chết xứng đáng cho đạo làm tướng. Câu chuyện này nói lên cái ý niệm đơn giản: Là ngừời lãnh đạo, chỉ huy phải tròn trách nhiệm với sơn hà, là một tướng quân là giữ phong cách, danh dự và sĩ khí của người làm tướng mà phong vị của họ gầy dựng do công trạng "Nhất tướng công thành vạn cốt khô".
Do đó từ những phi đội thần phong quyết tử hay những bushido hay kendo đã harakiri của người Nhật cho đến viên tướng Tàu trong thời tao loạn xuân thu thuở xưa chỉ nêu lên cái giá trị của người Đông phương liều chết cho lý tưởng mà họ mang để quên thân mình. Như lịch sử Việt Nam không thiếu gương can đảm từ Trần Bình Trọng, Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương,... Tôi bùi ngùi nhớ về các vị Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Hồ Ngọc Cẩn,... mang cái "Dũng" của người xưa.
Nói những dòng này như vậy để tôi cũng xin khơi lại lòng dũng cảm của vô số anh hùng vị quốc vô danh trong QLVNCH mà những ngày cuối cùng của trang sử miền Nam, tổng thống của họ vì sợ nhân dân vô tội chịu cơn mưa đại pháo của "cái-gọi-là" Quân đội Nhân dân Việt Nam (QDNDVN) man rợ, vô nhân tính xâm lăng từ bắc phương, hàng ngàn chiến binh VNCH đang chiến đấu tới cùng như các Thiên Thần Mũ Đỏ của binh chủng Dù quyết tử thủ bảo vệ thành trì Hoàng Hoa Thám chận sức tiến quân của địch từ hướng Hốc Môn hay những chiến binh cọp biển của Thủy Quân Lục Chiến tiếp tục bảo vệ tuyến đường xa lộ Biên Hòa chận đoàn quân CS tràn về thủ đô. Họ chiến đấu trong danh dự, họ quyết tử vì lý tưởng bảo vệ sơn hà, cũng như nhiều anh em quân nhân khác từ chối thua cuộc cùng nhau rút chốt lựu đạn ôm nhau nổ tung để chọn cho mình cái chết xứng đáng nhất mà sử xanh của QLVNCH sẽ mãi mãi tri ân họ. Sự ra đi hào hùng của ho là cái uy dũng khi bảo vệ từng tất đất quê hương của quân đội VNCH, tương phản với cái hèn hạ đốn mạt của người CSVN là âm thầm triều cống đất đai của tiền nhân để lại để được nước đàn anh Trung quốc xoa đầu cho an vị tiếp tục thống trị quê hương Việt Nam.
Trong bầu không khí 30-04 lại về, tôi xin hân hạnh giới thiệu hai tác phẩm viết bằng kinh nghiệm đau thương của nhà văn Dương Viết Điền (DVĐ), có bút hiệu là Hạ Ái Khanh, anh là một sĩ quan ngành chiến tranh chính trị, một tù nhân nếm mùi khắc nghiệt của cái cụm mỹ từ gọi là "học-tập-cải-tạo", một hình thức tù tội bịp bợm trá hình, một phương cách trả thù người quân dân VNCH để hòng đánh lừa dư luận quốc tế. Anh DVĐ đã bỏ ra một thời gian dài để hoàn tất hai tác phẩm, loại biên khảo có giá trị về sử liệu "Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân" và thiên hồi ký bi thương "Trại Ái Tử và Bình Điền". Cả hai tác phẩm khi đọc người ta không khỏi ngậm ngùi cho tinh thần bất khuất hay thán phục cũng như cảm thông vì cái dũng khí mà những người lính QLVNCH đã kinh qua.
Trong cuốn "Trại Ái Tử và Bình Điền", tác giả có đề cập một gương bất khuất của một vị sĩ quan đáng kính QLVNCH là Thiếu tá TQLC Võ Đằng Phương noi gương theo tinh thần sống vinh hơn chết nhục, năm 1985 từ trại tù Bình Điền ông viết thơ gởi cho Thủ tướng CSVN là Phạm Văn Đồng để tố cáo chính sách thâm độc trả thù dã man, ngược đãi tù nhân là những quân nhân cán chính VNCH. Trong khi trước đó Phạm Văn Đồng khoe khoang tuyên bố với các phóng viên quốc tế họ đối xử nhân đạo, khoan hồng với các viên chức phục vụ trong chế độ cũ và người CS không hề chủ trương đánh người ngã ngựa. Bài sưu khảo của tác giả DVĐ cho thấy tội ác đê hèn của nhà cầm quyền CSVN là sự tra tấn, đánh đập tù nhân cho đến chết hay gây thương tích cho họ lâu dài. Trích đoạn như sau:
"Thiếu tá VÕ ĐẰNG PHƯƠNG:
Biểu tượng bất khuất và kiêu hùng của một sĩ quan Quân lực VNCH (QLVNCH). Nói đến cuộc bạo động trong tù, chúng ta không thể quên được "Vụ 20 tháng 04 năm 1979" xảy ra tại phân trại 04 thuộc trung tâm trại "cải tạo" Bình Điền tại tỉnh Thừa Thiên. Vụ này do một ban tham mưu gồm 9 sĩ quan của QLVNCH chỉ huy toàn thể 500 tù nhân trong trại vùng dậy đòi cải tổ chế độ lao tù.
9 sĩ quan trong ban tham mưu đó là:
- Trung tá Nguyễn Tri Tấn: Trung đoàn phó trung đoàn 2/SĐ3BB
- Thiếu tá Vũ Ngọc Tụng: Quân Trấn Đà Lạt
- Thiếu tá Phạm Cang: Tiểu đoàn trưởng TQLC
- Thiếu tá Lê Quang Liển: Sĩ quan TQLC
- Thiếu tá Hoàng Hưng: Sĩ quan Bộ Binh
- Thiếu tá Phan Văn Lập: Chi đoàn trưởng Thiết giáp.
- Đại uý Trần Biên: Sĩ quan Truyền tin SĐ5/BB
- Đại uý Nguyễn Thuận Cát: Sĩ quan Biệt Động Quân
- Đại uý Nguyễn Đình Khương: Tiểu đoàn phó TĐ120 Địa Phương Quân, tiểu khu Quảng Trị...
Sau vụ này nhiều anh em tù nhân đã bị bọn công an đánh đập một cách bạo tàn đến gãy xương, trào máu, bầm gan, tím ruột. Nhiều sĩ quan đã bị chết trong tù sau những trận đòn dã man vô nhân đạo như Đại uý Nguyễn Văn Báu, Đại uý Nguyễn Thuận Cát, Thiếu uý Trần Hữu Sơn. Còn tất cả 9 sĩ quan trong ban tham mưu nói trên đều bị cùm tay, cùm chân gần năm năm trời trong nhà biệt giam. Nếu ai có ở tù tại phân trại 4 thuộc trung tâm trại "cải tạo" Bình Điền lúc bấy giờ (20 tháng 04 năm 1979) mới chứng kiến được cảnh công an từ dưới Ty Công An thuộc tỉnh Bình Trị Thiên lên tàn sát tù nhân bất chấp cả bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Chúng đã dã man, bạo tàn đánh đấm liên tục không biết mệt. Sau khi hành nghề đánh, đấm, đá, đạp 3 tiếng đồng hồ, bọn Công An "thợ đấm" bắt đầu rút khỏi trại để lại trong trại 50 tù nhân nằm la liệt, rên la quằn quại trên những vũng máu như anh Nguyễn Văn Thiện, anh Nguyễn Văn Vy, anh Nguyễn Hữu Ái,anh Đôn, anh Nguyễn Trung Việt, anh Nguyễn Hữu Tứ, v.v. giống như cảnh ở ngoài chiến điạ hoang tàn chờ trực thăng đến bốc xác chết và những người bị thương vậy.
Chứng kiến cảnh đánh đập một cách man rợ như vậy tất cả tù nhân trong trại đều căm thù đến uất nghẹn. Có một sĩ quan trong phân trại 4 lúc bấy giờ cảm thấy hận thù thêm chất ngất. Mang sẵn trong người giòng máu bất khuất và anh hùng Lê Lợi, Quang Trung, giòng máu kiên cường và dũng cảm của Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng cũng như ý thức được Trách nhiệm, Danh dự và Tổ quốc, anh nguyện dấn thân lao vào cuộc chiến mới ngay trong ngục tù Cộng sản; Tiếp tục nuôi dưỡng ý chí đấu tranh đến giọt máu cuối cùng, ngõ hầu mang vinh quang về bồi đắp cho quê mẹ, tô thắm cho non sông. Bởi vì anh ta biết rằng, chân lý dù có bị đè bẹp xuống dưới bùn lầy nước đọng rồi cũng sẽ ngóc đầu dậy mĩm cười với trời xanh bất chấp cả thời gian lẫn không gian. Cho dù anh có thể bị đoạ đày trong kiếp tù tội thêm 10 hay 20 năm nưã, cho dù anh có thể bị xử bắn theo luật rừng, anh vẫn hiên ngang bảo vệ chân lý đến cùng không một chút nao núng trong lòng, đó là:
Thiếu tá VÕ ĐẰNG PHƯƠNG, thuộc Lữ-đoàn 258 TQLC/QLVNCH. Nhận thấy Cộng sản đã đối xử quá tàn nhẫn vơí tù nhân qua chế độ lao tù trong các trại "cải tạo" nhận thấy Cộng sản đối xử tàn tệ vơí vợ con cuả tất cả các sĩ quan cũng như cuả các viên chức thuộc chính phủ Việt Nam Cộng hoà trước đây, nhận thấy Cộng sản sau khi chiếm được miền Nam vẫn cổ xuý chiến tranh gây hấn Kampuchia làm con dân nước Việt chết thêm hàng chục nghìn người, nhận thấy Cộng sản không chịu thực thi những lời cam kết hòa giải dân tộc mà vẫn làm cho nhân dân Việt Nam đói khổ sau hơn 10 năm chiếm được miền Nam,Thiếu tá Võ Đằng Phương mặc dầu đang ở trong ngục tù Cộng sản, quyết định viết một bức thư gởi cho tên Thủ tướng Phạm Văn Đồng để yêu cầu tên thủ tướng nầy giải toả những vấn đề nêu trên. Anh Võ Đằng Phương ở tù lúc bấy giờ đã hơn 10 năm rồi, nhưng anh vẫn dứt khoát viết một bức thư gởi tên Thủ tướng Phạm Văn Đồng để đại diện cho nhân dân Việt Nam yêu cầu chính phủ Hà Nội xét lại chính sách hà khắc cai trị nhân dân cuả đảng Cộng Sản Việt Nam. Chính Đại uý Nguyễn Đình Khương, Tiểu đoàn phó TĐ 120 Điạ Phương Quân, người đã tham gia vụ 20 tháng 04, đã bị Cộng Sản cùm gần 5 năm mới được thả ra, đã được anh Phương móc nối để cùng nhau thảo nên bức thư đó. Nội dung bức thư mà anh Võ Đằng Phương gởi lên tên thủ tướng Phạm văn Đồng rất cương trực."
Thơ khá dài, lời lẽ khúc chiết, thẳng thắng, và hợp lý yêu cầu chính quyền CS hãy thực thi vấn dề nhân đạo và hoà giải dân tộc. Hậu quả của lời kêu gọi từ đáy ngục này của các tù nhân VHCH là những trận đòn trả thù và rồi CS đưa ông Võ Đằng Phương ra một tòa án ngụy tạo và kết án ông thêm 10 năm tù. Trong thời gian bị giam cầm ông bị đánh đập tàn nhẫn đến mang thương tích. Khi được trả ra khỏi tù năm 1995 thì sau đó cơn bệnh nội thương do những trận đòn trong ngục tù làm ông từ trần.
Quyển sách này còn kể lại nhiều chi tiết động trời khác của chính sách trả thù tù nhân rất đê hèn của kẻ chiến thắng mà tác giả là nhân chứng sống trong trại, ngày nay anh ghi nhận lại để đóng góp thêm cho nguồn sử liệu của quê mẹ Việt Nam.
xxx
Tôi xin đi sang quyển sách thứ hai mà cựu tù nhân Dương Viết Điền viết, đó là quyển "Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân".
Sách dầy khoảng 430 trang, gom góp nhiều tài liệu về những tấm gương kiêu hùng sáng ngời của 5 vị tướng tuẩn tiết là Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú,Trần Văn Hai và Lê Nguyên Vỹ cùng cái chết vô cùng bất khuất của đại tá Hồ Ngọc Cẩn, một hiện thân của tướng Trần Bình Trọng trong cuộc chiến ý thức hệ mà hệ lụy của biến cố đau thương 30-04-1975 vẫn làm cho chúng ta nhức nhối. Sách được chia ra làm 3 chương chính:
* Chương 1: từ trang 1 đến 13 tác giả luận bàn về Đạo làm tướng, trích dẫn sách Khổng Minh, các gương bất khuất của tiền nhân Việt Nam trong lịch sử chống Tàu, kháng Tây.
* Chương 2: trang 41 đến 246, xem như chương một trong hai chính của sách, nói về cái chết oai hùng của 6 vị sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
* Chương 3: trang 264 đến 415, nói về những cái chết tức tưởi, những cuộc tự sát khác của các quân nhân cán chính VNCH không để lọt vào tay giặc.
CHƯƠNG I:(Trang 1 đến 40)
Tóm tắt chương luận bàn về cái Dũng của người Đông Phương, gồm những điển tích, gương lịch sử Tàu, Nhật và Việt Nam:
"Một dũng tướng là một vị tướng hùng dũng, mạnh mẽ, can đảm, gan dạ, thấy việc nghĩa thì làm ngay, sẵn sàng gánh lấy trách nhiệm trước lịch sử, sẵn sàng hy sinh vì chính nghĩa, vì tổ quốc để bảo vệ danh dự và khí tiết của mình.
Vì vậy, trong thiên thứ bảy, Khổng Minh cũng đã đề cập đến lòng trung nghĩa của tướng súy như sau: "Việc binh là việc dữ, tướng súy là người giữ nhiệm vụ nguy hiểm. Do vì chí khí cứng cỏi thì phải thiếu thốn, lầm lỗi, nhiệm vụ quan trọng thì nguy hại đến thân thể.".
Hạng tướng mà có lòng trung nghĩa (một lòng vì nước) thường không sợ nguy hiểm, lầm lỗi và không sợ nguy hại đến thân thể, nghĩa là xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, chỉ biết chu toàn nhiệm vụ giao phó...
Khi phong trào Cần Vương nổi lên, ở miền Trung, cử nhân Mai Xuân Thưởng đã ngạo nghễ với câu, "Thà làm đoạn đầu tướng quân, chứ không thà làm hàng đầu tướng quân." Ở miền Bắc, cử nhân Nguyễn Cao đã khoét rún, móc ruột ném vào mấy tên giặc Pháp rồi cắn lưỡi tự tử, được người đời ca ngợi:
"Thệ tâm thiên địa phi trường xích
Thiết xỉ giang san mãn thiệt hồng"
(Rút ruột đỏ phơi tim vũ trụ
Nghiến răng hồng nhai lưỡi non sông)
Còn ở trong Nam, Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Trung Trực, Cử nhân Phan Văn Đạt, Hồ Huân Nghiệp, thà chịu tử hình chứ không bao giờ đầu hàng giặc Pháp."
CHƯƠNG 2: (Trang 41-263)
Tác giả đã tham khảo nhiều tài liệu Việt Nam cũng như ngoại ngữ khi tham khảo viết sách nàỵ chương hai đề cập đến những tấm gương vị quốc vong thân như tựa đề sách này. Noi gương những vị anh hùng dân tộc nói trên, vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng sản vì bị Đồng minh Hoa Kỳ phản bội khi bỏ rơi phủi tay ra đi, nhiều tướng lãnh trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã tự sát để bảo toàn danh nghĩa của một dũng tướng thời chiến. Tôi xin làm phần tóm lược như sau:
Nguyễn Khoa Nam: Sinh ngày 23 tháng 9, 1927 tại Thừa Thiên. Tốt nghiệp khóa 3 Sĩ quan trừ bị Thủ Đức vào năm 1953. Là một trong những sĩ quan trẻ tuổi được vinh thăng cấp tướng lẹ nhất do chiến công. Cấp bậc cuối cùng làm Thiếu tướng. Giờ cuối trước khi miền nam thất thủ ông là Tư lệnh Quân đoàn 4. Tướng Nam là một vị tướng cương trực, đức độ, thanh liêm và gan dạ. Sau khi Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh cho quân đội VNCH buông súng, bàn giao quyền hành lại cho quân đội Bắc Việt, ông ra lệnh cho quân các cấp hãy trở về với gia đình và ông tự sát bằng cách bắn vào đầu mình.
Lê Văn Hưng: Sinh ngày ngày 27 tháng 3 năm 1933 tại Hốc Môn. Tốt nghiệp hai quân trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức và Võ bị Đà Lạt. Cấp bậc cuối cùng là Chuẩn tướng, ông có 50 huy chương đủ loại, mà trong số đó có nhiều huy chương cao quí. Chức vụ cuối là Tư lệnh pho Quân đoàn 4, trú đóng tại Cần Thơ. Năm 1972, Tướng Hưng lập chiến công anh dũng tại An Lộc. Như Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, ông tự sát bằng súng để bảo toàn danh dự của QLVNCH. Tướng Hưng có thành tích cương trực, đạo đức và gan dạ khi chiến đấu.
Phạm Văn Phú: Sinh năm 1929 tại Hà Đông. Ông tốt nghiệp trường Võ bị Liên quân Đà Lạt khoá 6. Ông là sĩ quan dù từ thuở chiến trường sôi động Điện Biên Phủ, năm 1954. Sau cuộc triệt thoái khỏi cao nguyên khi ông phụ trách làm Tư lệnh Quân khu 2, ông về Sài Gòn lâm bệnh được điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hoà. Sáng ngày 29/04/1975 trước tình thế nguy ngập của Sài Gòn ông kết liễu đời mình bằng một liều thuốc cực mạnh.
Trần Văn Hai: Sinh năm 1926 tại Cần Thơ. Ông xuất thân Khóa 7 trường Võ bị Liên quân Đà Lạt. Ông là cựu Chỉ huy trưởng binh chủng Biệt Động Quân, cựu Tổng giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia. Chức vụ cuối của Chuẩn tướng Hai là Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh đóng tại Mỹ Tho. Trong khi bàn giao nhiệm sở cho quân thù, ông dùng súng bắn vào đầu tự sát.
Lê Nguyên Vỹ: Sinh ngày 22 tháng 8, năm 1933 tại Sơn Tâỵ Ông tốt nghiệp khóa 2 trường Võ bị Địa phương Trung Việt tại Đập Đá, Huế năm 1951. Ông cùng với tướng Lê Văn Hưng lập công đẩy lui cộng quân ra khỏi An Lộc, tỉnh Bình Long trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972. Chức vụ cuối của Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ là tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Ông là tướng đánh giặc can đảm, kỷ luật và thanh liêm. Khi được lệnh buông súng, bàn giao nhiệm sở, ông kê súng vào cằm tự sát để giữ khí tiết của QLVNCH.
Hồ Ngọc Cẩn: Sinh ngày 24 tháng 3, năm 1938 tại Cần Thơ. Ông theo học trường Thiếu Sinh Quân, theo học khóa 2 Sĩ quan Đặc biệt Nha Trang. Ông giữ nhiều chức vụ tác chiến trong binh chủng Biệt Động Quân trong giai đoạn đầu đường binh nghiệp, rồi được biệt phái sang các Sư đoàn 21 và Sư đoàn 9 Bộ Binh. Chức vụ cuối cùng của Đại tá Hồ Ngọc Cẩn là Tỉnh trưởng tỉnh Chương Thiện. Sau khi lệnh từ Sài Gòn kêu gọi buông súng ông vẫn còn chiến đấu để cuối cùng địch quân vây bắt và mang ra xử bắn tại Sân vận động Cần Thơ ngày 14 tháng 8, 1975.
Cái chết của các vị sĩ quan cao cấp này đem lại những đóa hồng tô điểm cho danh dự và sĩ khí của QLVNCH trong cơn đại hồng thủy đến với VNCH. Vị cố vấn Hoa Kỳ của Đại tá Hồ Ngọc Cẩn đã phải hối hận thốt lên lời nuối tiếc như sau: "Là một người Mỹ tôi cảm thấy hối hận để miền Nam Việt Nam bị bức tử và Đại tá Hồ Ngọc Cẩn bị giết" (Trung tá Craig Mandeville).
CHƯƠNG III: (Trang 264-426)
Ngoài những vị tướng lãnh đã tự vẫn nói trên, còn có rất nhiều sĩ quan cấp tá, cấp úy, cấp hạ sĩ quan, binh lính và một số công chức, cảnh sát, cán bộ trong chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trước đây cũng đã tự sát trong biến cố đau buồn này. Cho đến hôm nay người ta mới chỉ biết tổng quát khoảng 22 Trung đoàn trưởng, Liên đoàn trưởng và hơn 100 sĩ quan đã tự sát sau khi miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng sản. Trên thực tế con số có thể cao hơn. Sau đây tôi cũng xin được trích ra hai trường hợp mà tác giả Dương Viết Điền ghi nhận trong chương này:
* The Seven Samurai in VietNam: Theo tài liệu 30-04 trong kho dữ liệu của hãng Thông tấn Nhật bản Kyodo về "Bảy Hiệp Sĩ Việt Nam". Ngày 30-04-1975 là ngày đau thương vì QLVNCH bị bức tử, người lính bị bẻ gãy súng bởi chiến lược toàn cầu của Mỹ thay đổi. Bảy người lính Dù mà trưởng toán là thiếu úy Hoàng Văn Thái tụ họp tại một bùng binh trong Chợ Lớn, và họ chọn lựa sự buông súng trong danh dự khi tự kết liễu đời mình sau khi hát xong bài quốc ca VNCH, họ xếp thành vòng tròn, mỗi người tay trong tay một quả lựu đạn, mở chốt một lượt. Một tiếng nổ chát chúa tiễn biệt họ ra đi vì danh dự.
* Một trường hợp thứ hai tang thương không kém. theo lời tường thuật của anh Trung úy Cảnh sát Nguyễn Văn Đình định cư ở Houston chứng kiến tại hiện trường sự tự sát tập thể của 9 quân nhân Nhảy Dù, họ nằm trong toán bảo vệ Đài Phát Thanh và Đài Truyền Hình. Khi lệnh buông súng ban ra toán quân nhân này đã xã súng bắn vào nhau, xác thân họ tan nát cho sự ra đi nhuốm màu máu anh hùng nhất, đáng kính nhất của QLVNCH.
Như đã bàn ở phần trên, chương này được kéo dài khi tác giả nêu ra vô số những gương anh dũng của các chiến binh khắp các binh chủng, và các cán bộ, viên chức VNCH. Họ là những người con yêu, trung thành với lý tưởng QG, họ nêu cao những nguyên tắc: Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm. Một khi sứ mạng bảo vệ non sông đất nước không vẹn toàn, họ chọn sự ra đi trong danh dự. Họ mang cái dũng khí như những Samurai Nhật Bản, họ trọng danh dự cá nhân. Quân sử VNCH muôn đời sẽ vinh danh họ.
30-04-2004 này, tôi chọn 2 quyển sách "Trại Ái Tử và Bình Điền" và "Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân" này để tưởng niệm gương hy sinh của bao nhiêu anh hùng tử sĩ của VNCH. Họ chiến đấu bảo vệ quê hương, họ không hèn, dù bạn bè đồng minh bỏ họ, người chiến sĩ can trường Hồ Ngọc Cẩn cũng như vô số anh hùng vô danh từ Dù, BĐQ, TQLC, LLĐB, Thiết Giáp,..., Địa Phương quân, Cảnh Sát QG vẫn còn chiến đấu. Họ biên những trang sử cuối cùng hào hùng nhất cho VNCH, lòng dũng cảm, cái hào khí "Chết Vinh Hơn Sống Nhục" này của họ chắc chắn sẽ được ghi nhớ và lưu danh muôn thuở.
Ôn lại lịch sử cuộc nội chiến Nam-Bắc vì ý thức hệ dị biệt chính kiến trong thế kỷ 20, người CSVN vi phạm hết sai lầm này đến sai lầm khác. Họ ngủ quên trong giấc mộng làm con cờ thí nhân lực Việt Nam cho chủ thuyết quốc tế hóa CS hay họ cố bám víu lấy nó làm bình phong để sinh tồn. Từ khi quân Pháp bại trận tại mặt trận Điện Biên Phủ, đảng CSVN thường huênh hoang, bốc thơm cuộc chiến đấu "thần thánh" của cái QDNDVN (sic), và rằng viên tướng Võ Nguyên Giáp "thần kỳ" điều binh khiển tướng,... rồi thêu dệt huyền thoại chiến thắng Điện Biên. Sau khi CSVN và CS Trung quốc đánh nhau năm 1979, viên Thống tướng Diệp Kiếm Anh của Trung quốc vén bức màn nhung của lịch sử, ông cho biết toàn bộ chiến lược, chiến thuật của cuộc diện Điện Biên được thiết kế, bày vẽ tại Bắc Kinh, quân đội Trung quốc đã tiếp sức nhân lực, vật lực, lính Trung quốc trà trộn vào, họ đã đổ máu cho sự ngụy tạo nên cái huyền thoại "thần kỳ" của tên tuổi Võ Nguyên Giáp. Những năm từ 1965 đến 1974, vì Hoa Kỳ phong tỏa chặt chẽ cảng Hải Phòng, nên tàu Trung quốc chở thẳng vũ khí vào miền nam tiếp tế cho VC. Những mặt trận Ba Ngòi, Vũng Rô,... là các chuyến đổ hàng mà HQVNCH chận bắt. Rồi sự kiện quân đội Trung quốc sang Việt Nam đảm nhiệm vai trò yểm trợ tiếp vận chiến trường để Bắc Việt đẩy quân vào nướng tại chiến trường miền Nam qua chiêu bài "Sinh Bắc Tử Nam".
Chưa hết, hàng ngũ đảng và quân đội nhân dân CSVN thối nát, là một tập đoàn bán nước, là một hủ mắm khi tin tức tình báo quốc tế cho thấy hàng tướng lãnh cao cấp rất tham lam, tranh ăn, đấu đá lẫn nhau từ Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, và họ sống bằng xương máu của dân tộc Việt Nam.
Khi chiếm xong miền nam, tướng Văn Tiến Dũng giành chiến công tung ra quyển sách "Đại Thắng Mùa Xuân", khoe khoang, khoác lác bẻ cong lịch sử như trò hề khi nói phét "cuộc chiến thần tốc" đánh chiếm miền Nam. Y tự kể công đầu bỏ ra yếu tố "thần kỳ" Võ Nguyên Giáp vào sọt rác, vì đảng CSVN vốn là đám lãnh đạo vô liêm sĩ, tham ăn, tranh giành quyền lực như loài kên kên, ác điểu cấu xé lẫn nhau. Nhiều tài liệu của giới truyền thông Hoa Kỳ trình bày từ báo chí đến Ti-Vi cho thấy Ngoại trưởng Henry Kissinger đã đi đêm thương thảo đi đến thoã thuận ngầm với Lê Đức Thọ tại Paris về việc quân đội Bắc Việt hãy để quân đội Hoa Kỳ rút êm ra khỏi Việt Nam. Henry Kissinger cũng bay sang Bắc Kinh gặp Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai thương lượng cho những điều kiện trao đổi Trung quốc giúp Mỹ rút quân và khi Trung quốc xâm chiếm các hải đảo của VNCH thì Hạm đội Thứ 7 của Mỹ sẽ án binh bất động, không can thiệp. Lê Đức Thọ và chính trị bộ của CSVN đã nắm chắc lá bài tẩy từ chính quyền Hoa Kỳ là ý muốn rút quân bằng mọi giá. Mới đây Ti-Vi Mỹ cho trình chiếu lại buổi điều trần tại Quốc hội Mỹ của một trong những ông vua phản chiến là John Kerrỵ Sau khi từ chiến trường ở Việt Nam về y trở nên chống báng, bài bác chiến tranh Việt Nam, chỉ trích chính quyền Mỹ thậm tệ. Điều mà người Việt QG đau lòng nhất là đoạn ông kể rằng ông đã bay sang Paris gặp gỡ và điều đình với Lê Đức Thọ nhiều lần, hai bên thương thảo cho việc Mỹ rút quân. John Kerry cho Quốc hội Mỹ biết là Lê Đức Thọ cam kết Bắc Việt sẽ không tấn công Mỹ trong kế hoạch rút lui toàn bộ ra khỏi Đông Dương. Hành động đi đêm của Henry Kissinger và John Kerry với Lê Đức Thọ tại Paris là cái tát vào sự phét lác của sách Văn Tiến Dũng, những thoã thuận của các chuyến bay đêm này là những nhát dao ân huệ mà người bạn Đồng Minh kết liễu số mạng của VNCH.
Từ kế hoạch đánh chiếm tiền đồn Điện Biên Phủ do kiến trúc sư chiến thuật Diệp Kiếm Anh điều động trên cao năm 1954 cho đến những chuyến bay đêm của Henry Kissinger tại Paris và Bắc Kinh đưa CSVN đến việc sau này đảng và chính quyền CSVN phải đem đất đai phía bắc của quê hương mà tiền nhân để lại dâng hiến như hình thức trả nợ cho CS Trung Quốc, cũng như triều cống các hải đảo ngoài biển Đông qua những hiệp định giữa hai quốc gia. Lịch sử cho thấy người CSVN đội lốt hình hài của Lê Chiêu Thống tân thời, cỏng rắn cắn gà nhà. Họ giỏi đè đầu cưỡi cổ nhân dân Việt Nam, nhưng lại nhút nhát, khúm núm đi bằng đầu gối trước đàn anh Trung quốc.
Sách DVĐ cho tôi dử kiện người quân nhân trong QLVNCH là những anh hùng khi "Quốc gia hưng phong, thất phu hữu trách", họ được đào tạo và phục vụ trong những đơn vị chuyên nghiệp trong sứ mạng để bảo vệ người dân và quê hương. Trong khi đó trớ trêu thay cái "Quân đội Nhân nhân Việt Nam" (QDNDVN) là thực thể núp vú Quân đội Trung quốc từ huyền thoại Điện Biên Phủ cho đến về sau. Xuyên qua bao tài liệu về cuộc chiến Việt Nam gần đây phanh phui ra về "cái-gọi-là" QDNDVN là không "thần thánh" như người CSVN vẽ vời, tự đánh bóng cho mình, mà chỉ là đạo ngụy quân nhận lãnh vai trò xâm lăng để bành trướng cho chủ thuyết CS quốc tế theo đơn đặt hàng của Soviet khi xâm lăng các quốc gia lân bang, để rồi sinh mạng, xương máu người Việt Nam bị hy sinh vô ích và đất đai VN càng mất mát thêm vào tay ngoại bang phương bắc, và rồi QDNDVN chỉ là thứ phỗng đá vô tích sự. Kẻ thủ lợi vẫn chỉ là tầng lớp chóp bu trong đảng CSVN, thống lãnh quê hương.
Sau hết, tôi xin chân thành cám ơn tác giả Dương Viết Điền đã bỏ nhiều thời giờ đi sưu tầm, tham khảo để viết ra hai quyển sách này, cũng như cho tôi nguồn tài liệu dùng trong sách tham khảo khi viết bài. Nói chung thì việc xuất bản hai quyển tài liệu trong giai đoạn miền nam bức tử này là một việc làm đáng ca ngợi, nhất là cho thế hệ mai hậu có thêm nguôn sử liệu. Anh đã bỏ ra năm năm trời ròng rã để hoàn tất cuốn "Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân". Năm năm đi sưu tập dử kiện cho một quyển sách bình thường như hồi ký cá nhân có thể là dài, nhưng nó sẽ không dài cho một tập tài liệu cặn kẽ có đặc tính sử ký quý báu soi sáng ngàn sau về bao anh hùng trong QLVNCH xã thân bảo vệ giang san. Tác giả DVĐ đã viết bằng tim óc, anh viết bằng nước mắt quê hương trong ngục tù, và viết bằng kinh nghiệm đau thương, nỗi nhục nhằn của chính mình. Anh nguyện viết với ngòi bút tri ân những anh hùng vị quốc vong thân. Họ ra đi trong cái khí phách hào hùng mà sách Dương Viết Điền so sánh với cái "Dũng" của người Đông Phương và chúng ta đã thấy anh đã trích dẫn trong sách.
Việt Hải
Los Angeles, California
--------------------------------------------------------------------------------
Những cái gương can đảm của các binh lính trong đạo quân Kamikaze quyết tử của quân đội Thiên Hoàng Nhật Bản đốt nén nhang lên đường sáng hôm 7 tháng 12 năm 1941 để tấn công hạm đội Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng làm con trai tôi tự hỏi vì sao họ lại như thế khi tôi cùng các con xem cuốn phim tài liệu chiến tranh "Pearl Harbor" do đạo diển Michael Bay dàn dựng. Sau khi liệng hết bom, bắn hết đạn, từng chiếc phi cơ của phi đội quyết tử Thiên Hoàng nhắm vào các boong tàu hải quân Hoa Kỳ cứ lao vào như điên dại. Nước Mỹ sững sờ, nước Mỹ rúng động, và nước Mỹ đau thương trong trận Trân Châu Cảng.
Từ sự đau thương đó đến 4 năm sau nước Mỹ nhất quyết kết thúc chiến tranh mau lẹ bằng đường tắt ném hai quả bom nguyên tử vào ngay trung tâm thành phố Hiroshima và Nagasaki, số thương vong của người Nhật là 66,000 và bị thương 69,000 tại Hiroshima, và 39,000 chết và 26,000 bị thương tại Nagasaki. Hằng triệu người Nhật ngơ ngác trong cơn chấn động khủng khiếp của bom nguyên tử vốn xa lạ với con người thuở đó. Nước Nhật kinh hoàng, nước Nhật giận dử và nước Nhật đau thương. Để tránh thêm thiệt hại và chết chóc cho nhân dân vô tội, ngày 2 tháng 9 năm 1945 Nhật hoàng Hirohito ký hoà ước chấp nhận thua trận vô điều kiện trên chiếc hàng không mẫu hạm USS Missouri. Tin buồn đến với quân đội Nhật, hàng ngàn binh sĩ Nhật từ chối thua trận và những thước phim lịch sử đã thu nhận tinh thần dũng sĩ quả cảm của người lính Nhật, mặc dù thế giới lên án sự dã man của quân đội Nhật trong thời chiến tranh. Nhưng người ta không khỏi bùi ngùi, thương tâm khi thấy trong tinh thần samurai của kiếm sĩ đạo kendo hay võ sĩ đạo bushido, người lính thất trận tự đâm và mổ bụng chính mình, theo truyền thống harakiri, vì danh dự họ từ chối đầu hàng. Chỉ trong vài ngày sau khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng các đơn vị quân đội Nhật Bản ghi nhận gần 600 binh sĩ Nhật tự vận và con số tiếp tục, số binh sĩ tự vận tại hải ngoại không đuoc kiểm kê. Trong hàng tướng lãnh của Nhật có bộ trưởng chiến tranh Korechika Anami, tướng Seiichi Tanaka, tướng Hajime Sugiyama, tướng Umetzu, đô đốc Hải quân Ugaki và đô đốc Takijiro Onishi đã tự rút gươm đâm thủng bụng mình tự sát, họ để lại cho quân sử Nhật bản những tấm gương samurai bất khuất mãi mãi.
Cũng chuyện ngày xưa của nước Tàu, trong thời xuân thu chiến quốc, chuyện kể rằng một vị tướng quân thua trận, ông và người hầu cận bị đánh đuổi bỏ chạy lên núi cao. Hết ngày này qua ngày nọ, hết tháng này sang tháng kia, ông cảm thấy ô nhục mãi ẩn náu trên miền cao sơn và ngày về vô vọng, ông từ chối chết dần, chết mòn. Ông bảo người hầu cận chuẩn bị cho ông con chiến mã. Sau khi khoác chiến bào với thanh kiếm trên tay như thuở xông pha nơi chiến trận, ông thúc chiến mã phi bay từ cao sơn rơi xuống vực sâu thẳm để chọn cái chết xứng đáng cho đạo làm tướng. Câu chuyện này nói lên cái ý niệm đơn giản: Là ngừời lãnh đạo, chỉ huy phải tròn trách nhiệm với sơn hà, là một tướng quân là giữ phong cách, danh dự và sĩ khí của người làm tướng mà phong vị của họ gầy dựng do công trạng "Nhất tướng công thành vạn cốt khô".
Do đó từ những phi đội thần phong quyết tử hay những bushido hay kendo đã harakiri của người Nhật cho đến viên tướng Tàu trong thời tao loạn xuân thu thuở xưa chỉ nêu lên cái giá trị của người Đông phương liều chết cho lý tưởng mà họ mang để quên thân mình. Như lịch sử Việt Nam không thiếu gương can đảm từ Trần Bình Trọng, Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương,... Tôi bùi ngùi nhớ về các vị Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Hồ Ngọc Cẩn,... mang cái "Dũng" của người xưa.
Nói những dòng này như vậy để tôi cũng xin khơi lại lòng dũng cảm của vô số anh hùng vị quốc vô danh trong QLVNCH mà những ngày cuối cùng của trang sử miền Nam, tổng thống của họ vì sợ nhân dân vô tội chịu cơn mưa đại pháo của "cái-gọi-là" Quân đội Nhân dân Việt Nam (QDNDVN) man rợ, vô nhân tính xâm lăng từ bắc phương, hàng ngàn chiến binh VNCH đang chiến đấu tới cùng như các Thiên Thần Mũ Đỏ của binh chủng Dù quyết tử thủ bảo vệ thành trì Hoàng Hoa Thám chận sức tiến quân của địch từ hướng Hốc Môn hay những chiến binh cọp biển của Thủy Quân Lục Chiến tiếp tục bảo vệ tuyến đường xa lộ Biên Hòa chận đoàn quân CS tràn về thủ đô. Họ chiến đấu trong danh dự, họ quyết tử vì lý tưởng bảo vệ sơn hà, cũng như nhiều anh em quân nhân khác từ chối thua cuộc cùng nhau rút chốt lựu đạn ôm nhau nổ tung để chọn cho mình cái chết xứng đáng nhất mà sử xanh của QLVNCH sẽ mãi mãi tri ân họ. Sự ra đi hào hùng của ho là cái uy dũng khi bảo vệ từng tất đất quê hương của quân đội VNCH, tương phản với cái hèn hạ đốn mạt của người CSVN là âm thầm triều cống đất đai của tiền nhân để lại để được nước đàn anh Trung quốc xoa đầu cho an vị tiếp tục thống trị quê hương Việt Nam.
Trong bầu không khí 30-04 lại về, tôi xin hân hạnh giới thiệu hai tác phẩm viết bằng kinh nghiệm đau thương của nhà văn Dương Viết Điền (DVĐ), có bút hiệu là Hạ Ái Khanh, anh là một sĩ quan ngành chiến tranh chính trị, một tù nhân nếm mùi khắc nghiệt của cái cụm mỹ từ gọi là "học-tập-cải-tạo", một hình thức tù tội bịp bợm trá hình, một phương cách trả thù người quân dân VNCH để hòng đánh lừa dư luận quốc tế. Anh DVĐ đã bỏ ra một thời gian dài để hoàn tất hai tác phẩm, loại biên khảo có giá trị về sử liệu "Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân" và thiên hồi ký bi thương "Trại Ái Tử và Bình Điền". Cả hai tác phẩm khi đọc người ta không khỏi ngậm ngùi cho tinh thần bất khuất hay thán phục cũng như cảm thông vì cái dũng khí mà những người lính QLVNCH đã kinh qua.
Trong cuốn "Trại Ái Tử và Bình Điền", tác giả có đề cập một gương bất khuất của một vị sĩ quan đáng kính QLVNCH là Thiếu tá TQLC Võ Đằng Phương noi gương theo tinh thần sống vinh hơn chết nhục, năm 1985 từ trại tù Bình Điền ông viết thơ gởi cho Thủ tướng CSVN là Phạm Văn Đồng để tố cáo chính sách thâm độc trả thù dã man, ngược đãi tù nhân là những quân nhân cán chính VNCH. Trong khi trước đó Phạm Văn Đồng khoe khoang tuyên bố với các phóng viên quốc tế họ đối xử nhân đạo, khoan hồng với các viên chức phục vụ trong chế độ cũ và người CS không hề chủ trương đánh người ngã ngựa. Bài sưu khảo của tác giả DVĐ cho thấy tội ác đê hèn của nhà cầm quyền CSVN là sự tra tấn, đánh đập tù nhân cho đến chết hay gây thương tích cho họ lâu dài. Trích đoạn như sau:
"Thiếu tá VÕ ĐẰNG PHƯƠNG:
Biểu tượng bất khuất và kiêu hùng của một sĩ quan Quân lực VNCH (QLVNCH). Nói đến cuộc bạo động trong tù, chúng ta không thể quên được "Vụ 20 tháng 04 năm 1979" xảy ra tại phân trại 04 thuộc trung tâm trại "cải tạo" Bình Điền tại tỉnh Thừa Thiên. Vụ này do một ban tham mưu gồm 9 sĩ quan của QLVNCH chỉ huy toàn thể 500 tù nhân trong trại vùng dậy đòi cải tổ chế độ lao tù.
9 sĩ quan trong ban tham mưu đó là:
- Trung tá Nguyễn Tri Tấn: Trung đoàn phó trung đoàn 2/SĐ3BB
- Thiếu tá Vũ Ngọc Tụng: Quân Trấn Đà Lạt
- Thiếu tá Phạm Cang: Tiểu đoàn trưởng TQLC
- Thiếu tá Lê Quang Liển: Sĩ quan TQLC
- Thiếu tá Hoàng Hưng: Sĩ quan Bộ Binh
- Thiếu tá Phan Văn Lập: Chi đoàn trưởng Thiết giáp.
- Đại uý Trần Biên: Sĩ quan Truyền tin SĐ5/BB
- Đại uý Nguyễn Thuận Cát: Sĩ quan Biệt Động Quân
- Đại uý Nguyễn Đình Khương: Tiểu đoàn phó TĐ120 Địa Phương Quân, tiểu khu Quảng Trị...
Sau vụ này nhiều anh em tù nhân đã bị bọn công an đánh đập một cách bạo tàn đến gãy xương, trào máu, bầm gan, tím ruột. Nhiều sĩ quan đã bị chết trong tù sau những trận đòn dã man vô nhân đạo như Đại uý Nguyễn Văn Báu, Đại uý Nguyễn Thuận Cát, Thiếu uý Trần Hữu Sơn. Còn tất cả 9 sĩ quan trong ban tham mưu nói trên đều bị cùm tay, cùm chân gần năm năm trời trong nhà biệt giam. Nếu ai có ở tù tại phân trại 4 thuộc trung tâm trại "cải tạo" Bình Điền lúc bấy giờ (20 tháng 04 năm 1979) mới chứng kiến được cảnh công an từ dưới Ty Công An thuộc tỉnh Bình Trị Thiên lên tàn sát tù nhân bất chấp cả bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Chúng đã dã man, bạo tàn đánh đấm liên tục không biết mệt. Sau khi hành nghề đánh, đấm, đá, đạp 3 tiếng đồng hồ, bọn Công An "thợ đấm" bắt đầu rút khỏi trại để lại trong trại 50 tù nhân nằm la liệt, rên la quằn quại trên những vũng máu như anh Nguyễn Văn Thiện, anh Nguyễn Văn Vy, anh Nguyễn Hữu Ái,anh Đôn, anh Nguyễn Trung Việt, anh Nguyễn Hữu Tứ, v.v. giống như cảnh ở ngoài chiến điạ hoang tàn chờ trực thăng đến bốc xác chết và những người bị thương vậy.
Chứng kiến cảnh đánh đập một cách man rợ như vậy tất cả tù nhân trong trại đều căm thù đến uất nghẹn. Có một sĩ quan trong phân trại 4 lúc bấy giờ cảm thấy hận thù thêm chất ngất. Mang sẵn trong người giòng máu bất khuất và anh hùng Lê Lợi, Quang Trung, giòng máu kiên cường và dũng cảm của Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng cũng như ý thức được Trách nhiệm, Danh dự và Tổ quốc, anh nguyện dấn thân lao vào cuộc chiến mới ngay trong ngục tù Cộng sản; Tiếp tục nuôi dưỡng ý chí đấu tranh đến giọt máu cuối cùng, ngõ hầu mang vinh quang về bồi đắp cho quê mẹ, tô thắm cho non sông. Bởi vì anh ta biết rằng, chân lý dù có bị đè bẹp xuống dưới bùn lầy nước đọng rồi cũng sẽ ngóc đầu dậy mĩm cười với trời xanh bất chấp cả thời gian lẫn không gian. Cho dù anh có thể bị đoạ đày trong kiếp tù tội thêm 10 hay 20 năm nưã, cho dù anh có thể bị xử bắn theo luật rừng, anh vẫn hiên ngang bảo vệ chân lý đến cùng không một chút nao núng trong lòng, đó là:
Thiếu tá VÕ ĐẰNG PHƯƠNG, thuộc Lữ-đoàn 258 TQLC/QLVNCH. Nhận thấy Cộng sản đã đối xử quá tàn nhẫn vơí tù nhân qua chế độ lao tù trong các trại "cải tạo" nhận thấy Cộng sản đối xử tàn tệ vơí vợ con cuả tất cả các sĩ quan cũng như cuả các viên chức thuộc chính phủ Việt Nam Cộng hoà trước đây, nhận thấy Cộng sản sau khi chiếm được miền Nam vẫn cổ xuý chiến tranh gây hấn Kampuchia làm con dân nước Việt chết thêm hàng chục nghìn người, nhận thấy Cộng sản không chịu thực thi những lời cam kết hòa giải dân tộc mà vẫn làm cho nhân dân Việt Nam đói khổ sau hơn 10 năm chiếm được miền Nam,Thiếu tá Võ Đằng Phương mặc dầu đang ở trong ngục tù Cộng sản, quyết định viết một bức thư gởi cho tên Thủ tướng Phạm Văn Đồng để yêu cầu tên thủ tướng nầy giải toả những vấn đề nêu trên. Anh Võ Đằng Phương ở tù lúc bấy giờ đã hơn 10 năm rồi, nhưng anh vẫn dứt khoát viết một bức thư gởi tên Thủ tướng Phạm Văn Đồng để đại diện cho nhân dân Việt Nam yêu cầu chính phủ Hà Nội xét lại chính sách hà khắc cai trị nhân dân cuả đảng Cộng Sản Việt Nam. Chính Đại uý Nguyễn Đình Khương, Tiểu đoàn phó TĐ 120 Điạ Phương Quân, người đã tham gia vụ 20 tháng 04, đã bị Cộng Sản cùm gần 5 năm mới được thả ra, đã được anh Phương móc nối để cùng nhau thảo nên bức thư đó. Nội dung bức thư mà anh Võ Đằng Phương gởi lên tên thủ tướng Phạm văn Đồng rất cương trực."
Thơ khá dài, lời lẽ khúc chiết, thẳng thắng, và hợp lý yêu cầu chính quyền CS hãy thực thi vấn dề nhân đạo và hoà giải dân tộc. Hậu quả của lời kêu gọi từ đáy ngục này của các tù nhân VHCH là những trận đòn trả thù và rồi CS đưa ông Võ Đằng Phương ra một tòa án ngụy tạo và kết án ông thêm 10 năm tù. Trong thời gian bị giam cầm ông bị đánh đập tàn nhẫn đến mang thương tích. Khi được trả ra khỏi tù năm 1995 thì sau đó cơn bệnh nội thương do những trận đòn trong ngục tù làm ông từ trần.
Quyển sách này còn kể lại nhiều chi tiết động trời khác của chính sách trả thù tù nhân rất đê hèn của kẻ chiến thắng mà tác giả là nhân chứng sống trong trại, ngày nay anh ghi nhận lại để đóng góp thêm cho nguồn sử liệu của quê mẹ Việt Nam.
xxx
Tôi xin đi sang quyển sách thứ hai mà cựu tù nhân Dương Viết Điền viết, đó là quyển "Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân".
Sách dầy khoảng 430 trang, gom góp nhiều tài liệu về những tấm gương kiêu hùng sáng ngời của 5 vị tướng tuẩn tiết là Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú,Trần Văn Hai và Lê Nguyên Vỹ cùng cái chết vô cùng bất khuất của đại tá Hồ Ngọc Cẩn, một hiện thân của tướng Trần Bình Trọng trong cuộc chiến ý thức hệ mà hệ lụy của biến cố đau thương 30-04-1975 vẫn làm cho chúng ta nhức nhối. Sách được chia ra làm 3 chương chính:
* Chương 1: từ trang 1 đến 13 tác giả luận bàn về Đạo làm tướng, trích dẫn sách Khổng Minh, các gương bất khuất của tiền nhân Việt Nam trong lịch sử chống Tàu, kháng Tây.
* Chương 2: trang 41 đến 246, xem như chương một trong hai chính của sách, nói về cái chết oai hùng của 6 vị sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
* Chương 3: trang 264 đến 415, nói về những cái chết tức tưởi, những cuộc tự sát khác của các quân nhân cán chính VNCH không để lọt vào tay giặc.
CHƯƠNG I:(Trang 1 đến 40)
Tóm tắt chương luận bàn về cái Dũng của người Đông Phương, gồm những điển tích, gương lịch sử Tàu, Nhật và Việt Nam:
"Một dũng tướng là một vị tướng hùng dũng, mạnh mẽ, can đảm, gan dạ, thấy việc nghĩa thì làm ngay, sẵn sàng gánh lấy trách nhiệm trước lịch sử, sẵn sàng hy sinh vì chính nghĩa, vì tổ quốc để bảo vệ danh dự và khí tiết của mình.
Vì vậy, trong thiên thứ bảy, Khổng Minh cũng đã đề cập đến lòng trung nghĩa của tướng súy như sau: "Việc binh là việc dữ, tướng súy là người giữ nhiệm vụ nguy hiểm. Do vì chí khí cứng cỏi thì phải thiếu thốn, lầm lỗi, nhiệm vụ quan trọng thì nguy hại đến thân thể.".
Hạng tướng mà có lòng trung nghĩa (một lòng vì nước) thường không sợ nguy hiểm, lầm lỗi và không sợ nguy hại đến thân thể, nghĩa là xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, chỉ biết chu toàn nhiệm vụ giao phó...
Khi phong trào Cần Vương nổi lên, ở miền Trung, cử nhân Mai Xuân Thưởng đã ngạo nghễ với câu, "Thà làm đoạn đầu tướng quân, chứ không thà làm hàng đầu tướng quân." Ở miền Bắc, cử nhân Nguyễn Cao đã khoét rún, móc ruột ném vào mấy tên giặc Pháp rồi cắn lưỡi tự tử, được người đời ca ngợi:
"Thệ tâm thiên địa phi trường xích
Thiết xỉ giang san mãn thiệt hồng"
(Rút ruột đỏ phơi tim vũ trụ
Nghiến răng hồng nhai lưỡi non sông)
Còn ở trong Nam, Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Trung Trực, Cử nhân Phan Văn Đạt, Hồ Huân Nghiệp, thà chịu tử hình chứ không bao giờ đầu hàng giặc Pháp."
CHƯƠNG 2: (Trang 41-263)
Tác giả đã tham khảo nhiều tài liệu Việt Nam cũng như ngoại ngữ khi tham khảo viết sách nàỵ chương hai đề cập đến những tấm gương vị quốc vong thân như tựa đề sách này. Noi gương những vị anh hùng dân tộc nói trên, vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng sản vì bị Đồng minh Hoa Kỳ phản bội khi bỏ rơi phủi tay ra đi, nhiều tướng lãnh trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã tự sát để bảo toàn danh nghĩa của một dũng tướng thời chiến. Tôi xin làm phần tóm lược như sau:
Nguyễn Khoa Nam: Sinh ngày 23 tháng 9, 1927 tại Thừa Thiên. Tốt nghiệp khóa 3 Sĩ quan trừ bị Thủ Đức vào năm 1953. Là một trong những sĩ quan trẻ tuổi được vinh thăng cấp tướng lẹ nhất do chiến công. Cấp bậc cuối cùng làm Thiếu tướng. Giờ cuối trước khi miền nam thất thủ ông là Tư lệnh Quân đoàn 4. Tướng Nam là một vị tướng cương trực, đức độ, thanh liêm và gan dạ. Sau khi Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh cho quân đội VNCH buông súng, bàn giao quyền hành lại cho quân đội Bắc Việt, ông ra lệnh cho quân các cấp hãy trở về với gia đình và ông tự sát bằng cách bắn vào đầu mình.
Lê Văn Hưng: Sinh ngày ngày 27 tháng 3 năm 1933 tại Hốc Môn. Tốt nghiệp hai quân trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức và Võ bị Đà Lạt. Cấp bậc cuối cùng là Chuẩn tướng, ông có 50 huy chương đủ loại, mà trong số đó có nhiều huy chương cao quí. Chức vụ cuối là Tư lệnh pho Quân đoàn 4, trú đóng tại Cần Thơ. Năm 1972, Tướng Hưng lập chiến công anh dũng tại An Lộc. Như Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, ông tự sát bằng súng để bảo toàn danh dự của QLVNCH. Tướng Hưng có thành tích cương trực, đạo đức và gan dạ khi chiến đấu.
Phạm Văn Phú: Sinh năm 1929 tại Hà Đông. Ông tốt nghiệp trường Võ bị Liên quân Đà Lạt khoá 6. Ông là sĩ quan dù từ thuở chiến trường sôi động Điện Biên Phủ, năm 1954. Sau cuộc triệt thoái khỏi cao nguyên khi ông phụ trách làm Tư lệnh Quân khu 2, ông về Sài Gòn lâm bệnh được điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hoà. Sáng ngày 29/04/1975 trước tình thế nguy ngập của Sài Gòn ông kết liễu đời mình bằng một liều thuốc cực mạnh.
Trần Văn Hai: Sinh năm 1926 tại Cần Thơ. Ông xuất thân Khóa 7 trường Võ bị Liên quân Đà Lạt. Ông là cựu Chỉ huy trưởng binh chủng Biệt Động Quân, cựu Tổng giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia. Chức vụ cuối của Chuẩn tướng Hai là Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh đóng tại Mỹ Tho. Trong khi bàn giao nhiệm sở cho quân thù, ông dùng súng bắn vào đầu tự sát.
Lê Nguyên Vỹ: Sinh ngày 22 tháng 8, năm 1933 tại Sơn Tâỵ Ông tốt nghiệp khóa 2 trường Võ bị Địa phương Trung Việt tại Đập Đá, Huế năm 1951. Ông cùng với tướng Lê Văn Hưng lập công đẩy lui cộng quân ra khỏi An Lộc, tỉnh Bình Long trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972. Chức vụ cuối của Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ là tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Ông là tướng đánh giặc can đảm, kỷ luật và thanh liêm. Khi được lệnh buông súng, bàn giao nhiệm sở, ông kê súng vào cằm tự sát để giữ khí tiết của QLVNCH.
Hồ Ngọc Cẩn: Sinh ngày 24 tháng 3, năm 1938 tại Cần Thơ. Ông theo học trường Thiếu Sinh Quân, theo học khóa 2 Sĩ quan Đặc biệt Nha Trang. Ông giữ nhiều chức vụ tác chiến trong binh chủng Biệt Động Quân trong giai đoạn đầu đường binh nghiệp, rồi được biệt phái sang các Sư đoàn 21 và Sư đoàn 9 Bộ Binh. Chức vụ cuối cùng của Đại tá Hồ Ngọc Cẩn là Tỉnh trưởng tỉnh Chương Thiện. Sau khi lệnh từ Sài Gòn kêu gọi buông súng ông vẫn còn chiến đấu để cuối cùng địch quân vây bắt và mang ra xử bắn tại Sân vận động Cần Thơ ngày 14 tháng 8, 1975.
Cái chết của các vị sĩ quan cao cấp này đem lại những đóa hồng tô điểm cho danh dự và sĩ khí của QLVNCH trong cơn đại hồng thủy đến với VNCH. Vị cố vấn Hoa Kỳ của Đại tá Hồ Ngọc Cẩn đã phải hối hận thốt lên lời nuối tiếc như sau: "Là một người Mỹ tôi cảm thấy hối hận để miền Nam Việt Nam bị bức tử và Đại tá Hồ Ngọc Cẩn bị giết" (Trung tá Craig Mandeville).
CHƯƠNG III: (Trang 264-426)
Ngoài những vị tướng lãnh đã tự vẫn nói trên, còn có rất nhiều sĩ quan cấp tá, cấp úy, cấp hạ sĩ quan, binh lính và một số công chức, cảnh sát, cán bộ trong chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trước đây cũng đã tự sát trong biến cố đau buồn này. Cho đến hôm nay người ta mới chỉ biết tổng quát khoảng 22 Trung đoàn trưởng, Liên đoàn trưởng và hơn 100 sĩ quan đã tự sát sau khi miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng sản. Trên thực tế con số có thể cao hơn. Sau đây tôi cũng xin được trích ra hai trường hợp mà tác giả Dương Viết Điền ghi nhận trong chương này:
* The Seven Samurai in VietNam: Theo tài liệu 30-04 trong kho dữ liệu của hãng Thông tấn Nhật bản Kyodo về "Bảy Hiệp Sĩ Việt Nam". Ngày 30-04-1975 là ngày đau thương vì QLVNCH bị bức tử, người lính bị bẻ gãy súng bởi chiến lược toàn cầu của Mỹ thay đổi. Bảy người lính Dù mà trưởng toán là thiếu úy Hoàng Văn Thái tụ họp tại một bùng binh trong Chợ Lớn, và họ chọn lựa sự buông súng trong danh dự khi tự kết liễu đời mình sau khi hát xong bài quốc ca VNCH, họ xếp thành vòng tròn, mỗi người tay trong tay một quả lựu đạn, mở chốt một lượt. Một tiếng nổ chát chúa tiễn biệt họ ra đi vì danh dự.
* Một trường hợp thứ hai tang thương không kém. theo lời tường thuật của anh Trung úy Cảnh sát Nguyễn Văn Đình định cư ở Houston chứng kiến tại hiện trường sự tự sát tập thể của 9 quân nhân Nhảy Dù, họ nằm trong toán bảo vệ Đài Phát Thanh và Đài Truyền Hình. Khi lệnh buông súng ban ra toán quân nhân này đã xã súng bắn vào nhau, xác thân họ tan nát cho sự ra đi nhuốm màu máu anh hùng nhất, đáng kính nhất của QLVNCH.
Như đã bàn ở phần trên, chương này được kéo dài khi tác giả nêu ra vô số những gương anh dũng của các chiến binh khắp các binh chủng, và các cán bộ, viên chức VNCH. Họ là những người con yêu, trung thành với lý tưởng QG, họ nêu cao những nguyên tắc: Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm. Một khi sứ mạng bảo vệ non sông đất nước không vẹn toàn, họ chọn sự ra đi trong danh dự. Họ mang cái dũng khí như những Samurai Nhật Bản, họ trọng danh dự cá nhân. Quân sử VNCH muôn đời sẽ vinh danh họ.
30-04-2004 này, tôi chọn 2 quyển sách "Trại Ái Tử và Bình Điền" và "Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân" này để tưởng niệm gương hy sinh của bao nhiêu anh hùng tử sĩ của VNCH. Họ chiến đấu bảo vệ quê hương, họ không hèn, dù bạn bè đồng minh bỏ họ, người chiến sĩ can trường Hồ Ngọc Cẩn cũng như vô số anh hùng vô danh từ Dù, BĐQ, TQLC, LLĐB, Thiết Giáp,..., Địa Phương quân, Cảnh Sát QG vẫn còn chiến đấu. Họ biên những trang sử cuối cùng hào hùng nhất cho VNCH, lòng dũng cảm, cái hào khí "Chết Vinh Hơn Sống Nhục" này của họ chắc chắn sẽ được ghi nhớ và lưu danh muôn thuở.
Ôn lại lịch sử cuộc nội chiến Nam-Bắc vì ý thức hệ dị biệt chính kiến trong thế kỷ 20, người CSVN vi phạm hết sai lầm này đến sai lầm khác. Họ ngủ quên trong giấc mộng làm con cờ thí nhân lực Việt Nam cho chủ thuyết quốc tế hóa CS hay họ cố bám víu lấy nó làm bình phong để sinh tồn. Từ khi quân Pháp bại trận tại mặt trận Điện Biên Phủ, đảng CSVN thường huênh hoang, bốc thơm cuộc chiến đấu "thần thánh" của cái QDNDVN (sic), và rằng viên tướng Võ Nguyên Giáp "thần kỳ" điều binh khiển tướng,... rồi thêu dệt huyền thoại chiến thắng Điện Biên. Sau khi CSVN và CS Trung quốc đánh nhau năm 1979, viên Thống tướng Diệp Kiếm Anh của Trung quốc vén bức màn nhung của lịch sử, ông cho biết toàn bộ chiến lược, chiến thuật của cuộc diện Điện Biên được thiết kế, bày vẽ tại Bắc Kinh, quân đội Trung quốc đã tiếp sức nhân lực, vật lực, lính Trung quốc trà trộn vào, họ đã đổ máu cho sự ngụy tạo nên cái huyền thoại "thần kỳ" của tên tuổi Võ Nguyên Giáp. Những năm từ 1965 đến 1974, vì Hoa Kỳ phong tỏa chặt chẽ cảng Hải Phòng, nên tàu Trung quốc chở thẳng vũ khí vào miền nam tiếp tế cho VC. Những mặt trận Ba Ngòi, Vũng Rô,... là các chuyến đổ hàng mà HQVNCH chận bắt. Rồi sự kiện quân đội Trung quốc sang Việt Nam đảm nhiệm vai trò yểm trợ tiếp vận chiến trường để Bắc Việt đẩy quân vào nướng tại chiến trường miền Nam qua chiêu bài "Sinh Bắc Tử Nam".
Chưa hết, hàng ngũ đảng và quân đội nhân dân CSVN thối nát, là một tập đoàn bán nước, là một hủ mắm khi tin tức tình báo quốc tế cho thấy hàng tướng lãnh cao cấp rất tham lam, tranh ăn, đấu đá lẫn nhau từ Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, và họ sống bằng xương máu của dân tộc Việt Nam.
Khi chiếm xong miền nam, tướng Văn Tiến Dũng giành chiến công tung ra quyển sách "Đại Thắng Mùa Xuân", khoe khoang, khoác lác bẻ cong lịch sử như trò hề khi nói phét "cuộc chiến thần tốc" đánh chiếm miền Nam. Y tự kể công đầu bỏ ra yếu tố "thần kỳ" Võ Nguyên Giáp vào sọt rác, vì đảng CSVN vốn là đám lãnh đạo vô liêm sĩ, tham ăn, tranh giành quyền lực như loài kên kên, ác điểu cấu xé lẫn nhau. Nhiều tài liệu của giới truyền thông Hoa Kỳ trình bày từ báo chí đến Ti-Vi cho thấy Ngoại trưởng Henry Kissinger đã đi đêm thương thảo đi đến thoã thuận ngầm với Lê Đức Thọ tại Paris về việc quân đội Bắc Việt hãy để quân đội Hoa Kỳ rút êm ra khỏi Việt Nam. Henry Kissinger cũng bay sang Bắc Kinh gặp Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai thương lượng cho những điều kiện trao đổi Trung quốc giúp Mỹ rút quân và khi Trung quốc xâm chiếm các hải đảo của VNCH thì Hạm đội Thứ 7 của Mỹ sẽ án binh bất động, không can thiệp. Lê Đức Thọ và chính trị bộ của CSVN đã nắm chắc lá bài tẩy từ chính quyền Hoa Kỳ là ý muốn rút quân bằng mọi giá. Mới đây Ti-Vi Mỹ cho trình chiếu lại buổi điều trần tại Quốc hội Mỹ của một trong những ông vua phản chiến là John Kerrỵ Sau khi từ chiến trường ở Việt Nam về y trở nên chống báng, bài bác chiến tranh Việt Nam, chỉ trích chính quyền Mỹ thậm tệ. Điều mà người Việt QG đau lòng nhất là đoạn ông kể rằng ông đã bay sang Paris gặp gỡ và điều đình với Lê Đức Thọ nhiều lần, hai bên thương thảo cho việc Mỹ rút quân. John Kerry cho Quốc hội Mỹ biết là Lê Đức Thọ cam kết Bắc Việt sẽ không tấn công Mỹ trong kế hoạch rút lui toàn bộ ra khỏi Đông Dương. Hành động đi đêm của Henry Kissinger và John Kerry với Lê Đức Thọ tại Paris là cái tát vào sự phét lác của sách Văn Tiến Dũng, những thoã thuận của các chuyến bay đêm này là những nhát dao ân huệ mà người bạn Đồng Minh kết liễu số mạng của VNCH.
Từ kế hoạch đánh chiếm tiền đồn Điện Biên Phủ do kiến trúc sư chiến thuật Diệp Kiếm Anh điều động trên cao năm 1954 cho đến những chuyến bay đêm của Henry Kissinger tại Paris và Bắc Kinh đưa CSVN đến việc sau này đảng và chính quyền CSVN phải đem đất đai phía bắc của quê hương mà tiền nhân để lại dâng hiến như hình thức trả nợ cho CS Trung Quốc, cũng như triều cống các hải đảo ngoài biển Đông qua những hiệp định giữa hai quốc gia. Lịch sử cho thấy người CSVN đội lốt hình hài của Lê Chiêu Thống tân thời, cỏng rắn cắn gà nhà. Họ giỏi đè đầu cưỡi cổ nhân dân Việt Nam, nhưng lại nhút nhát, khúm núm đi bằng đầu gối trước đàn anh Trung quốc.
Sách DVĐ cho tôi dử kiện người quân nhân trong QLVNCH là những anh hùng khi "Quốc gia hưng phong, thất phu hữu trách", họ được đào tạo và phục vụ trong những đơn vị chuyên nghiệp trong sứ mạng để bảo vệ người dân và quê hương. Trong khi đó trớ trêu thay cái "Quân đội Nhân nhân Việt Nam" (QDNDVN) là thực thể núp vú Quân đội Trung quốc từ huyền thoại Điện Biên Phủ cho đến về sau. Xuyên qua bao tài liệu về cuộc chiến Việt Nam gần đây phanh phui ra về "cái-gọi-là" QDNDVN là không "thần thánh" như người CSVN vẽ vời, tự đánh bóng cho mình, mà chỉ là đạo ngụy quân nhận lãnh vai trò xâm lăng để bành trướng cho chủ thuyết CS quốc tế theo đơn đặt hàng của Soviet khi xâm lăng các quốc gia lân bang, để rồi sinh mạng, xương máu người Việt Nam bị hy sinh vô ích và đất đai VN càng mất mát thêm vào tay ngoại bang phương bắc, và rồi QDNDVN chỉ là thứ phỗng đá vô tích sự. Kẻ thủ lợi vẫn chỉ là tầng lớp chóp bu trong đảng CSVN, thống lãnh quê hương.
Sau hết, tôi xin chân thành cám ơn tác giả Dương Viết Điền đã bỏ nhiều thời giờ đi sưu tầm, tham khảo để viết ra hai quyển sách này, cũng như cho tôi nguồn tài liệu dùng trong sách tham khảo khi viết bài. Nói chung thì việc xuất bản hai quyển tài liệu trong giai đoạn miền nam bức tử này là một việc làm đáng ca ngợi, nhất là cho thế hệ mai hậu có thêm nguôn sử liệu. Anh đã bỏ ra năm năm trời ròng rã để hoàn tất cuốn "Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân". Năm năm đi sưu tập dử kiện cho một quyển sách bình thường như hồi ký cá nhân có thể là dài, nhưng nó sẽ không dài cho một tập tài liệu cặn kẽ có đặc tính sử ký quý báu soi sáng ngàn sau về bao anh hùng trong QLVNCH xã thân bảo vệ giang san. Tác giả DVĐ đã viết bằng tim óc, anh viết bằng nước mắt quê hương trong ngục tù, và viết bằng kinh nghiệm đau thương, nỗi nhục nhằn của chính mình. Anh nguyện viết với ngòi bút tri ân những anh hùng vị quốc vong thân. Họ ra đi trong cái khí phách hào hùng mà sách Dương Viết Điền so sánh với cái "Dũng" của người Đông Phương và chúng ta đã thấy anh đã trích dẫn trong sách.
Tuesday, April 1, 2008
ĐUÔN CHÀ LÀ.
Hai Quẹo
Đuôn chà-là sinh trưởng trong đọt cây chà-là thuộc rừng nước mặn. Cùng loại đuôn này, giống nhau như một, mà sống trong đọt dừa thì được kêu là đuôn dừa.
Sau đây là vài kinh nghiệm thực tế xin kể lại quí vị nghe để khuây cũng được một vài phút giây. Nếu ai chưa hình dung được con đuôn ra làm sao thì xin nhìn thử mấy bà ở quê nựng con hay cháu trai thì biết. Bã bợ nách đứa bé lên khỏi đầu, úp mặt vô chỗ dễ nhột nhứt, vừa hôn vừa ngoạm vừa nói giọng ngọng nghịu: “Ồ chó ẽ! Dét quá i nè! Chắn nó. Bà chắn cho ứt con uôn cho dồi”. Thằng nhỏ cười ngắc ngoẽo. Cắn cho đứt “con đuôn” cho rồi? Có phải nó thiệt y vậy không thì hạ hồi phân giải.
Trước hết xin nói qua vìa cây chà là cái đã.
1- Cây chà-là. Mọc nhiều trong rừng nước mặn duyên hải miền Nam nước Việt. Nó sống chung chạ với các loại cây khác như: mắm, đước, tràm, bần, dà dẹt, dừa nước, rán chổi, v.v. Đặc biệt đất Vĩnh Bình (Trà Vinh bây giờ) có nhiều rừng chà-là nên một thời đã nổi tiếng về đuôn này.
Cây chà-là thuộc loại palm trồng làm kiểng và bà con rất xa với chà-là ăn trái Phi Châu. Thân cây bự cỡ cây tre gai và suông đon như cây cau, cao từ 3-5 thước, da màu nâu nâu tươi láng lỉnh. Khác với cây cau trong ruột mềm, chỉ dùng vỏ làm máng xối, cây chà-là cứng và chắc vì đặc ruột nên người ta dùng nó để cất nhà, làm cột kèo, đòn tay hoặc làm nhiều thứ khác như hàng rào, chuồng heo, sàn nò, sàn đáy, đóng cừ đủ thứ chuyện.Trái kết từng chùm từng buồng như cau kiểng hay quày đủng đỉnh, tròn dài nhỏ như lóng ngón tay út, vỏ mỏng te, thịt là khối hột cứng. Hái thử bỏ vô miệng nhăn chơi thấy nó chát chát lạc xèo. Trái già chín đỏ, nom cũng nên văn nên thơ lắm. Tàu lá nho nhỏ, mành hơn tàu cau, cong xuống thướt tha bóng mượt. Lại càng nên thơ hơn. Đứng xa mà nhìn, thấy cái tàn tròn vo xanh xanh vàng vàng loang loáng nắng hè hoặc óng ánh trăng đêm, hồn thơ dễ tuôn trào ra ướt.. lắm. Nói vậy để khi sáp lại gần cọ sát với thưc tế thì quí vị sẽ thấy, ới ông trời ơi, gai ơi là gai, thấy bắt lạnh mình. Gai dài cở 1, 2 tấc là thường. Nó tua tủa, nghênh ngang như thể có nhiệm vụ bảo vệ cái đọt trong đó chứa cái món quí: Con đuôn.
Những cây gai thẳng băng, bén ngót đó, dù còn trên cây hay rụng xuống đất, nếu ai sơ ý đạp lên có thể bị đâm xuyên bàn chơn như chơi. Đốn nó mới khó trần thân. Bắt tay vô đốn thử một cây mới biết đá vàng, hồn thơ sẽ bay mất, chỉ còn lại mồ hôi lai láng, có khi pha máu. Cái cây gì mà quái ác như vậy nên ít có ai muốn đem vìa nhà trồng làm kiểng, bị bỏ lại xa trong rừng. Nhưng ở mặt khác, nó lại rất gần với mơ ước, nằm trong óc tưỡng tượng của nhiều người thích của lạ: cái chút nị mà dễ thương hết chỗ nói: con đuôn!
2.- Con Đuôn. Cùng một cha một mẹ là con kiến dương mà có khi chúng bị người ta kỳ thị và đối xử bất công lắm. Kiến dương nơi nào mà hông có. Do đó đuôn cũng sồng nhiều nơi. Có con thì sống ở đọt cây dừa, đủng đỉnh, cây mía hoặc trong đọt cây mây, cây le, v.v. Dù sanh ở đâu, sống trên cây nào, tất cả họ đuôn này đều là một giống một nòi: Kiến dương.
Cũng là con đuôn y chang như nhau, từ con ấu trùng, nó tiến lên thành con đuôn, rồi ăn bạo ăn tạp để hoá kiếp thành con kiến dương trở lại. Khoảng vào cuối thu, kiến dương bay đi tìm đọt chà-là hay đọt dừa đẻ trứng lên đó. Trứng nở ra sâu. Con sâu ăn từ trên xuống rồi chui vô kho tàng thực phẩm là khối đọt ngọt mềm mà người ta kêu là củ hũ. Các loại củ hũ dừa, chà-là hay đủng đỉnh, tất cả đều trắng, ngọt, giòn như nhau, xào ăn ngon hơn măng tre. Vậy mà người ta chỉ thích con đuôn trong củ hũ chà là, cái cây ác ôn côn đồ gai không! Lạ vậy chớ. Và cũng là loại bọ còn có con bù-rầy (bọ rầy).
Trong khi kiến dương chuyên địt tửa trên ngọn cây để con cháu nó ăn đọt ngon thì con bù rầy đẻ trứng dưới đất, thành con đuôn đất, chỉ ăn rễ cỏ rễ cây. Kiến dương màu đen giống con bù hung (bọ hung). Con đực có cặp sừng trên dưới như sừng tê giác, con nít bắt chơi, cho nó chém lộn, như đá dế vậy. Nhưng mà đừng thấy con kiến dương đen thui mà nghĩ con đuôn cũng có nước da màu than đước. Không đâu.
Con đuôn chà-là trắng ngà trắng ngọc như da đùi non thiếu nắng. Hoặc dễ hiểu hơn, dù cha mẹ là Mỹ đen nhưng lại sanh ra baby da trắng. Ngộ vậy đó. Miêu tả cho ra hình dáng của nó thì thật khó. Vì nó co giản quẹo ngay bất thường lắm. Khi thì nó dài giống con sâu gòn, khi thì ngắn in như đỉa trâu bú no, ngo ngoe lăn tròn. Nói cho đẹp thì nó giống cục bột se, cái tổ kén, đầu đít khó phân, lưng bụng tròn lỉnh. Quan sát thật kỹ mới thấy: phần đầu có cái mày nhỏ hình nửa hột đậu xanh cà, vàng sậm, rất cứng, đó chính là cái đầu, cũng là bàn nạo, máy đào; phía đầu đối diện là cái đít, chỉ có cái vảy nhỏ xíú. Trên lưng có lông măng thật nhuyễn mịn mắt nhìn khó thấy. Toàn thân láng mướt như có thoa kem bà Hạnh Phước. Mình có ngấn ngang, lúc nào cũng cữ động theo dợn sóng, mấp mô mấp mô. Khi thun mình teo lại, da nó nhăn nhíu coi rất thảm hại, y chang cái mà bà mẹ nựng con so sánh.
Cắn cho đứt con đuôn. Nhưng con đuôn này thuộc loại king size, cỡ size ngón chân cái là thường. Bắt một con bỏ vô lòng bàn tay và nắm lại thì mới thật là “ấn tượng”. Nếu ai chưa quen với độ cương xìu mềm cứng của nó thi sẽ nổi da gà. Nếu quen rồi, nghe cái âm ba gờn gợn, nhột nhạt khó tả thì sẽ mê mẩn nắm hoài không buông. Và cũng chính nhờ tính đàn hồi mà lỗ lớn lỗ nhỏ gì nó cũng chui lọt hết. Lấy một lóng mía, chừa mắt một đầu, dùng chiếc đủa soi đầu kia một lổ sâu chừng 2, 3 phân, mớm mớm cái đầu con đuôn vô miệng lỗ, hồi sau nó chui vô một khúc, để yên suốt đêm, nó chun mất tiêu và đùn ra phía trên miệng lỗ xác mía khô nén cứng như nút chai. Tối tối còn ôm theo khúc mía vô mùng ngủ để nghe con đuôn xục xạo trong hang. Đó là trò chơi của tui thời con nít. Con đuôn non thì màu trắng, càng già càng đổ ra vàng. Khi nó biến ra màu nâu thì quá già, khó ăn. Bắt đuôn ra để lâu ngoài gió nó cũng sẽ bị vàng, hết trắng, như kiểu mấy tiểu thư lần đầu lột quần áo tắm biễn, da bị ăn nắng.
Sau đây, xin kể sơ qua chút kinh nghiệm vìa cách bắt đuôn.
3.- Cách đốn đuôn: Mùa đuôn bắt đầu lúc ra giêng, khi thời tiết khô ráo. Kể từ lúc mới sanh cho tới tuổi ăn được phải mất 3, 4 tháng. Muốn đốn đuôn phải biết cách tìm dấu và cần một số dụng cụ. -
Tìm dấu đuôn. Như đã nói con ấu trùng, tiền thân của đuôn, chui từ đọt ăn xuống củ hũ. Vậy thì một hay hai cái đọt đó coi như tiêu, sẽ thành cái lá khô, và cây bị cụt ngọn. Đó là dấu hiệu đầu tiên. Quan sát thêm coi chung quanh ngọn có bị thẹo gì không. Khi thấy cái thẹo hay cái lỗ bên hông thì không còn nó trong đó. Nó đã hóa kiếp kiến dương và chui ra theo cái lỗ đó đi mất tiêu rồi. Đặc biệt hơn, mỗi cây chà là chỉ có một con. Quá hiếm. So với đuôn dừa thì ngược lại, một củ hũ dừa có thể chứa cả ký cả rổ đuôn, cả nhà ăn hổng hết. Vì vậy mà ít quí chăng?
Cây dừa bị đuôn khoét cũng bị rụi đọt. Người ta có thể cứu cây dừa bằng cách kiểm soát thường ngày và khi chút đọt vừa héo thì bắt đuôn non bỏ. Nếu bỏ phế lâu ngày thì sẽ có cả bầy đuôn lập giang sơn sâu trong củ hũ, hết phương cứu tử, và cây dừa sẽ được đốn làm gổ. Trong khi đó đuôn chà-là mỗi con hùng cứ một cây. Và hổng phải mỗi cây đều có đuôn. Cho nên chuyện đốn đuôn mới trần thân. Nhiều khi quần cả mấy buội mà chưa tìm được một con.- Tìm rừng và đốn đuôn. Cái trần ai khổ nhọng trước hết là lội vào rừng, cây cối chằng chịt, mương lạch tứ tung. Tới được rừng chà-là thi gặp gai. Cây chà là mọc thành khúm có khi rộng bằng mấy chiếc giường, cây nào cũng tua tủa gai từ các bẹ lá, hoặc rơi rụng xuống gốc, khó mà đến gần được. Vậy phải đốn đuôn từ xa.
Dụng cụ đốn đuôn thường là cây dao mác lưởi thẳng với cái cán thật dài, cỡ ba bốn thước. Có người mang thêm cây câu liêm nhỏ nhưng dễ vướng và cồng kềnh quá. Dân nhà nghề chỉ cần con dao xắn cán dài nói trên. Không cần đến sát gốc. Đứng từ xa dùng dao dài phát quang, tỉa bớt gai cho gọn rồi xắn nguyên đọt đem ra, như xắn mục măng vậy. Đem xuống soát lại coi nếu trên đọt có bã phân khô như nùi thuốc rê, bên hông không có lỗ, thì là lấy ăn. Xong phải lột bớt bẹ, thẽo bỏ khúc già cho ghọn, còn lại cỡ bắp chuối, rồi dùng cật bẹ dừa nước ngoai ngoai làm dây, sỏ sâu cột chùm từng chục một. Đi tìm như vậy phải lội sình, băng buội, tránh gai, vác nặng, vượt xẽo, ô rô cóc kèn dày kín, từ khóm này qua khóm kia vòng vo mất cả chục cây số mới hy vọng có huê lợi trong ngày. Nắng, gai, sình, muỗi mòng…..mồ hôi, máu. Oâi con đuôn! Trên đời này, lắm của quí nằm trong tay người quí phái đều đi theo quá trình như vậy.
4.- Cách ăn: Có phải vì tánh hiếu kỳ thích của lạ của mấy đấng mày râu nhà giàu nên cho con đuôn thêm quí và có “chất lượng” bổ dưỡng cao, chất đạm tràn trề? Có nhiều người đáng được hưởng mà không được.
Thứ nhứt là mấy bà, vì ông chồng ham vui hoặc xã giao thường rũ rê mời mọc nhau đi nhà hàng sang như Đồng Khánh Sóai Kinh Lâm ngày trước chẳng hạng, để nhậu gan ngổng, móng vịt và đuôn chà là. It ai dẫn bà theo vì ông muốn độc quyền tăng lực, cố giữ thế thương phong cho bà khen mãi.
Thứ hai là chính những người đốn đuôn, thấy có giá, phải bán đi để xoay việc khác cho gia đình.
Bàn vìa cách thưởng thức đuôn thì nhân dân ta thường bị mấy chú Ba xỏ mũi. Giới thiệu ngon bổ thì mình tin vậy, cúc cung làm giàu cho nhà hàng Tàu. Đám cưới 10 món thì mới sang, đạt ít món sợ bị chê nhà quê.
Riêng vìa cách ăn đuôn chà-là chắc cũng được thổi phồng. Họ biến chế xào nấu nó ra sao không rõ, tui chưa bao giờ tìm tới chỗ đó để thưởng thức cho hợp thời trang. Tui chỉ biết có vài lối ăn đơn giản gản đơn như sau.
Trước hết là ăn sống tại trận. Vừa đốn ngọn chà-là xuống, chẻ bắt con đuôn ra ngay. Nắm cái đầu nó bằng 2 ngón tay, đưa lên miệng, cắn cái đít cho có lỗ rồi đưa vô giữa 2 vành môi mút mút, như mút trái mừng quân. Vừa ngon vừa có cảm giá lạ. An tươi nuốt sống kiểu made in Japan vậy đó. Thịt nó đặc sệt hơn nhũ trấp, ngọt ngọt, beo béo, lợn cợn, dòn dòn. Dứt 2 con là dư sức lội tiếp dưới nắng trưa oi bức.
Cách thưởng thức thứ hai là đem chiên. Bỏ con đuôn vô tô nước muối hoặc nước mắn nhĩ cho sang, ngâm một hồi cho nó nhả bớt chất chát, lát sau đem chiên. Không cần ướp xác gia vị hay tẩm lịm bột giòn gì cả. Chiên kiểu thiên nhiên tốt hơn. Cho lửa áp quá nó sẽ phồng nhanh như cháo quẩy hay bánh phồng tôm, mất hay. Chỉ nên cho lửa nhỏ nhỏ. Vớt ra là ăn liền mới tuyệt.
Cách thứ ba là đem nướng. Nó không phồng bự lắm nhưng hương vị nguyên chất, đậm đà hơn. Nói chung chung, dù làm cách gì, ăn cách nào, hương vị chính của đuôn là béo ngọt như nhọng, nhưng nó ngon gấp mấy con nhọng (con tầm sau khi chui vô kén). Đuôn dừa cũng có hương vị tương tợ.
Vài lời kết.- Kiến dương vẫn còn đầy nhưng con đuôn chà là đã sớm đi vào huyền thoại vì hiện nay cây chà-là gần bi tuyệt chủng. Người ta đồn rằng “sau giãi phóng có mấy ông nguỵ quân nguỵ quyền Sàigòn xuống học tập cải tạo” ở miệt rừng này, có tới hàng chục ngàn người. Mấy ổng đã phát quang, phá rừng, đốn cây, đốn hết cây cối trong đó có cây chà là, để lập nông trường tập thể, hầu tiến nhanh tiến mạnh lên CNXH.
Giờ thì vùng duyên hải đã trỡ đồng ruộng bát ngát do cán bộ và gia đình cách mạng làm chủ. Mấy ông cải tạo có công với gia đình cách mạng lắm, giúp họ có đất, hửu sản hoá cho họ, thay vì vô sản chính chiên, nhưng ngược lại đã tiếp tay phá hoại môi sinh, tiêu diệt cây rừng và nhứt là làm cho đuôn chà là vượt biên mất hết.
Ai có tới Long Toàn (Vĩnh Bình) đi qua những cánh đồng mênh mông, lắng tay nghe, chắc còn cảm thấy oan hồn của đám tù cải tạo vẫn còn vi vu trong gió. Những người sống sót tản lạc đâu mất tiêu, như đám chà-là đã giã từ đất sống tự ngàn xưa.
Ôi thời oanh liệt.
Ôi đuôn chà là.
Hai Quẹo
Đuôn chà-là sinh trưởng trong đọt cây chà-là thuộc rừng nước mặn. Cùng loại đuôn này, giống nhau như một, mà sống trong đọt dừa thì được kêu là đuôn dừa.
Sau đây là vài kinh nghiệm thực tế xin kể lại quí vị nghe để khuây cũng được một vài phút giây. Nếu ai chưa hình dung được con đuôn ra làm sao thì xin nhìn thử mấy bà ở quê nựng con hay cháu trai thì biết. Bã bợ nách đứa bé lên khỏi đầu, úp mặt vô chỗ dễ nhột nhứt, vừa hôn vừa ngoạm vừa nói giọng ngọng nghịu: “Ồ chó ẽ! Dét quá i nè! Chắn nó. Bà chắn cho ứt con uôn cho dồi”. Thằng nhỏ cười ngắc ngoẽo. Cắn cho đứt “con đuôn” cho rồi? Có phải nó thiệt y vậy không thì hạ hồi phân giải.
Trước hết xin nói qua vìa cây chà là cái đã.
1- Cây chà-là. Mọc nhiều trong rừng nước mặn duyên hải miền Nam nước Việt. Nó sống chung chạ với các loại cây khác như: mắm, đước, tràm, bần, dà dẹt, dừa nước, rán chổi, v.v. Đặc biệt đất Vĩnh Bình (Trà Vinh bây giờ) có nhiều rừng chà-là nên một thời đã nổi tiếng về đuôn này.
Cây chà-là thuộc loại palm trồng làm kiểng và bà con rất xa với chà-là ăn trái Phi Châu. Thân cây bự cỡ cây tre gai và suông đon như cây cau, cao từ 3-5 thước, da màu nâu nâu tươi láng lỉnh. Khác với cây cau trong ruột mềm, chỉ dùng vỏ làm máng xối, cây chà-là cứng và chắc vì đặc ruột nên người ta dùng nó để cất nhà, làm cột kèo, đòn tay hoặc làm nhiều thứ khác như hàng rào, chuồng heo, sàn nò, sàn đáy, đóng cừ đủ thứ chuyện.Trái kết từng chùm từng buồng như cau kiểng hay quày đủng đỉnh, tròn dài nhỏ như lóng ngón tay út, vỏ mỏng te, thịt là khối hột cứng. Hái thử bỏ vô miệng nhăn chơi thấy nó chát chát lạc xèo. Trái già chín đỏ, nom cũng nên văn nên thơ lắm. Tàu lá nho nhỏ, mành hơn tàu cau, cong xuống thướt tha bóng mượt. Lại càng nên thơ hơn. Đứng xa mà nhìn, thấy cái tàn tròn vo xanh xanh vàng vàng loang loáng nắng hè hoặc óng ánh trăng đêm, hồn thơ dễ tuôn trào ra ướt.. lắm. Nói vậy để khi sáp lại gần cọ sát với thưc tế thì quí vị sẽ thấy, ới ông trời ơi, gai ơi là gai, thấy bắt lạnh mình. Gai dài cở 1, 2 tấc là thường. Nó tua tủa, nghênh ngang như thể có nhiệm vụ bảo vệ cái đọt trong đó chứa cái món quí: Con đuôn.
Những cây gai thẳng băng, bén ngót đó, dù còn trên cây hay rụng xuống đất, nếu ai sơ ý đạp lên có thể bị đâm xuyên bàn chơn như chơi. Đốn nó mới khó trần thân. Bắt tay vô đốn thử một cây mới biết đá vàng, hồn thơ sẽ bay mất, chỉ còn lại mồ hôi lai láng, có khi pha máu. Cái cây gì mà quái ác như vậy nên ít có ai muốn đem vìa nhà trồng làm kiểng, bị bỏ lại xa trong rừng. Nhưng ở mặt khác, nó lại rất gần với mơ ước, nằm trong óc tưỡng tượng của nhiều người thích của lạ: cái chút nị mà dễ thương hết chỗ nói: con đuôn!
2.- Con Đuôn. Cùng một cha một mẹ là con kiến dương mà có khi chúng bị người ta kỳ thị và đối xử bất công lắm. Kiến dương nơi nào mà hông có. Do đó đuôn cũng sồng nhiều nơi. Có con thì sống ở đọt cây dừa, đủng đỉnh, cây mía hoặc trong đọt cây mây, cây le, v.v. Dù sanh ở đâu, sống trên cây nào, tất cả họ đuôn này đều là một giống một nòi: Kiến dương.
Cũng là con đuôn y chang như nhau, từ con ấu trùng, nó tiến lên thành con đuôn, rồi ăn bạo ăn tạp để hoá kiếp thành con kiến dương trở lại. Khoảng vào cuối thu, kiến dương bay đi tìm đọt chà-là hay đọt dừa đẻ trứng lên đó. Trứng nở ra sâu. Con sâu ăn từ trên xuống rồi chui vô kho tàng thực phẩm là khối đọt ngọt mềm mà người ta kêu là củ hũ. Các loại củ hũ dừa, chà-là hay đủng đỉnh, tất cả đều trắng, ngọt, giòn như nhau, xào ăn ngon hơn măng tre. Vậy mà người ta chỉ thích con đuôn trong củ hũ chà là, cái cây ác ôn côn đồ gai không! Lạ vậy chớ. Và cũng là loại bọ còn có con bù-rầy (bọ rầy).
Trong khi kiến dương chuyên địt tửa trên ngọn cây để con cháu nó ăn đọt ngon thì con bù rầy đẻ trứng dưới đất, thành con đuôn đất, chỉ ăn rễ cỏ rễ cây. Kiến dương màu đen giống con bù hung (bọ hung). Con đực có cặp sừng trên dưới như sừng tê giác, con nít bắt chơi, cho nó chém lộn, như đá dế vậy. Nhưng mà đừng thấy con kiến dương đen thui mà nghĩ con đuôn cũng có nước da màu than đước. Không đâu.
Con đuôn chà-là trắng ngà trắng ngọc như da đùi non thiếu nắng. Hoặc dễ hiểu hơn, dù cha mẹ là Mỹ đen nhưng lại sanh ra baby da trắng. Ngộ vậy đó. Miêu tả cho ra hình dáng của nó thì thật khó. Vì nó co giản quẹo ngay bất thường lắm. Khi thì nó dài giống con sâu gòn, khi thì ngắn in như đỉa trâu bú no, ngo ngoe lăn tròn. Nói cho đẹp thì nó giống cục bột se, cái tổ kén, đầu đít khó phân, lưng bụng tròn lỉnh. Quan sát thật kỹ mới thấy: phần đầu có cái mày nhỏ hình nửa hột đậu xanh cà, vàng sậm, rất cứng, đó chính là cái đầu, cũng là bàn nạo, máy đào; phía đầu đối diện là cái đít, chỉ có cái vảy nhỏ xíú. Trên lưng có lông măng thật nhuyễn mịn mắt nhìn khó thấy. Toàn thân láng mướt như có thoa kem bà Hạnh Phước. Mình có ngấn ngang, lúc nào cũng cữ động theo dợn sóng, mấp mô mấp mô. Khi thun mình teo lại, da nó nhăn nhíu coi rất thảm hại, y chang cái mà bà mẹ nựng con so sánh.
Cắn cho đứt con đuôn. Nhưng con đuôn này thuộc loại king size, cỡ size ngón chân cái là thường. Bắt một con bỏ vô lòng bàn tay và nắm lại thì mới thật là “ấn tượng”. Nếu ai chưa quen với độ cương xìu mềm cứng của nó thi sẽ nổi da gà. Nếu quen rồi, nghe cái âm ba gờn gợn, nhột nhạt khó tả thì sẽ mê mẩn nắm hoài không buông. Và cũng chính nhờ tính đàn hồi mà lỗ lớn lỗ nhỏ gì nó cũng chui lọt hết. Lấy một lóng mía, chừa mắt một đầu, dùng chiếc đủa soi đầu kia một lổ sâu chừng 2, 3 phân, mớm mớm cái đầu con đuôn vô miệng lỗ, hồi sau nó chui vô một khúc, để yên suốt đêm, nó chun mất tiêu và đùn ra phía trên miệng lỗ xác mía khô nén cứng như nút chai. Tối tối còn ôm theo khúc mía vô mùng ngủ để nghe con đuôn xục xạo trong hang. Đó là trò chơi của tui thời con nít. Con đuôn non thì màu trắng, càng già càng đổ ra vàng. Khi nó biến ra màu nâu thì quá già, khó ăn. Bắt đuôn ra để lâu ngoài gió nó cũng sẽ bị vàng, hết trắng, như kiểu mấy tiểu thư lần đầu lột quần áo tắm biễn, da bị ăn nắng.
Sau đây, xin kể sơ qua chút kinh nghiệm vìa cách bắt đuôn.
3.- Cách đốn đuôn: Mùa đuôn bắt đầu lúc ra giêng, khi thời tiết khô ráo. Kể từ lúc mới sanh cho tới tuổi ăn được phải mất 3, 4 tháng. Muốn đốn đuôn phải biết cách tìm dấu và cần một số dụng cụ. -
Tìm dấu đuôn. Như đã nói con ấu trùng, tiền thân của đuôn, chui từ đọt ăn xuống củ hũ. Vậy thì một hay hai cái đọt đó coi như tiêu, sẽ thành cái lá khô, và cây bị cụt ngọn. Đó là dấu hiệu đầu tiên. Quan sát thêm coi chung quanh ngọn có bị thẹo gì không. Khi thấy cái thẹo hay cái lỗ bên hông thì không còn nó trong đó. Nó đã hóa kiếp kiến dương và chui ra theo cái lỗ đó đi mất tiêu rồi. Đặc biệt hơn, mỗi cây chà là chỉ có một con. Quá hiếm. So với đuôn dừa thì ngược lại, một củ hũ dừa có thể chứa cả ký cả rổ đuôn, cả nhà ăn hổng hết. Vì vậy mà ít quí chăng?
Cây dừa bị đuôn khoét cũng bị rụi đọt. Người ta có thể cứu cây dừa bằng cách kiểm soát thường ngày và khi chút đọt vừa héo thì bắt đuôn non bỏ. Nếu bỏ phế lâu ngày thì sẽ có cả bầy đuôn lập giang sơn sâu trong củ hũ, hết phương cứu tử, và cây dừa sẽ được đốn làm gổ. Trong khi đó đuôn chà-là mỗi con hùng cứ một cây. Và hổng phải mỗi cây đều có đuôn. Cho nên chuyện đốn đuôn mới trần thân. Nhiều khi quần cả mấy buội mà chưa tìm được một con.- Tìm rừng và đốn đuôn. Cái trần ai khổ nhọng trước hết là lội vào rừng, cây cối chằng chịt, mương lạch tứ tung. Tới được rừng chà-là thi gặp gai. Cây chà là mọc thành khúm có khi rộng bằng mấy chiếc giường, cây nào cũng tua tủa gai từ các bẹ lá, hoặc rơi rụng xuống gốc, khó mà đến gần được. Vậy phải đốn đuôn từ xa.
Dụng cụ đốn đuôn thường là cây dao mác lưởi thẳng với cái cán thật dài, cỡ ba bốn thước. Có người mang thêm cây câu liêm nhỏ nhưng dễ vướng và cồng kềnh quá. Dân nhà nghề chỉ cần con dao xắn cán dài nói trên. Không cần đến sát gốc. Đứng từ xa dùng dao dài phát quang, tỉa bớt gai cho gọn rồi xắn nguyên đọt đem ra, như xắn mục măng vậy. Đem xuống soát lại coi nếu trên đọt có bã phân khô như nùi thuốc rê, bên hông không có lỗ, thì là lấy ăn. Xong phải lột bớt bẹ, thẽo bỏ khúc già cho ghọn, còn lại cỡ bắp chuối, rồi dùng cật bẹ dừa nước ngoai ngoai làm dây, sỏ sâu cột chùm từng chục một. Đi tìm như vậy phải lội sình, băng buội, tránh gai, vác nặng, vượt xẽo, ô rô cóc kèn dày kín, từ khóm này qua khóm kia vòng vo mất cả chục cây số mới hy vọng có huê lợi trong ngày. Nắng, gai, sình, muỗi mòng…..mồ hôi, máu. Oâi con đuôn! Trên đời này, lắm của quí nằm trong tay người quí phái đều đi theo quá trình như vậy.
4.- Cách ăn: Có phải vì tánh hiếu kỳ thích của lạ của mấy đấng mày râu nhà giàu nên cho con đuôn thêm quí và có “chất lượng” bổ dưỡng cao, chất đạm tràn trề? Có nhiều người đáng được hưởng mà không được.
Thứ nhứt là mấy bà, vì ông chồng ham vui hoặc xã giao thường rũ rê mời mọc nhau đi nhà hàng sang như Đồng Khánh Sóai Kinh Lâm ngày trước chẳng hạng, để nhậu gan ngổng, móng vịt và đuôn chà là. It ai dẫn bà theo vì ông muốn độc quyền tăng lực, cố giữ thế thương phong cho bà khen mãi.
Thứ hai là chính những người đốn đuôn, thấy có giá, phải bán đi để xoay việc khác cho gia đình.
Bàn vìa cách thưởng thức đuôn thì nhân dân ta thường bị mấy chú Ba xỏ mũi. Giới thiệu ngon bổ thì mình tin vậy, cúc cung làm giàu cho nhà hàng Tàu. Đám cưới 10 món thì mới sang, đạt ít món sợ bị chê nhà quê.
Riêng vìa cách ăn đuôn chà-là chắc cũng được thổi phồng. Họ biến chế xào nấu nó ra sao không rõ, tui chưa bao giờ tìm tới chỗ đó để thưởng thức cho hợp thời trang. Tui chỉ biết có vài lối ăn đơn giản gản đơn như sau.
Trước hết là ăn sống tại trận. Vừa đốn ngọn chà-là xuống, chẻ bắt con đuôn ra ngay. Nắm cái đầu nó bằng 2 ngón tay, đưa lên miệng, cắn cái đít cho có lỗ rồi đưa vô giữa 2 vành môi mút mút, như mút trái mừng quân. Vừa ngon vừa có cảm giá lạ. An tươi nuốt sống kiểu made in Japan vậy đó. Thịt nó đặc sệt hơn nhũ trấp, ngọt ngọt, beo béo, lợn cợn, dòn dòn. Dứt 2 con là dư sức lội tiếp dưới nắng trưa oi bức.
Cách thưởng thức thứ hai là đem chiên. Bỏ con đuôn vô tô nước muối hoặc nước mắn nhĩ cho sang, ngâm một hồi cho nó nhả bớt chất chát, lát sau đem chiên. Không cần ướp xác gia vị hay tẩm lịm bột giòn gì cả. Chiên kiểu thiên nhiên tốt hơn. Cho lửa áp quá nó sẽ phồng nhanh như cháo quẩy hay bánh phồng tôm, mất hay. Chỉ nên cho lửa nhỏ nhỏ. Vớt ra là ăn liền mới tuyệt.
Cách thứ ba là đem nướng. Nó không phồng bự lắm nhưng hương vị nguyên chất, đậm đà hơn. Nói chung chung, dù làm cách gì, ăn cách nào, hương vị chính của đuôn là béo ngọt như nhọng, nhưng nó ngon gấp mấy con nhọng (con tầm sau khi chui vô kén). Đuôn dừa cũng có hương vị tương tợ.
Vài lời kết.- Kiến dương vẫn còn đầy nhưng con đuôn chà là đã sớm đi vào huyền thoại vì hiện nay cây chà-là gần bi tuyệt chủng. Người ta đồn rằng “sau giãi phóng có mấy ông nguỵ quân nguỵ quyền Sàigòn xuống học tập cải tạo” ở miệt rừng này, có tới hàng chục ngàn người. Mấy ổng đã phát quang, phá rừng, đốn cây, đốn hết cây cối trong đó có cây chà là, để lập nông trường tập thể, hầu tiến nhanh tiến mạnh lên CNXH.
Giờ thì vùng duyên hải đã trỡ đồng ruộng bát ngát do cán bộ và gia đình cách mạng làm chủ. Mấy ông cải tạo có công với gia đình cách mạng lắm, giúp họ có đất, hửu sản hoá cho họ, thay vì vô sản chính chiên, nhưng ngược lại đã tiếp tay phá hoại môi sinh, tiêu diệt cây rừng và nhứt là làm cho đuôn chà là vượt biên mất hết.
Ai có tới Long Toàn (Vĩnh Bình) đi qua những cánh đồng mênh mông, lắng tay nghe, chắc còn cảm thấy oan hồn của đám tù cải tạo vẫn còn vi vu trong gió. Những người sống sót tản lạc đâu mất tiêu, như đám chà-là đã giã từ đất sống tự ngàn xưa.
Ôi thời oanh liệt.
Ôi đuôn chà là.
Tình quê góp nhặt: Rượu đế, cốm giẹp
Tạp ghi của Hai Quẹo
Kính thưa bà con cô bác, qua mấy lần nghe tui kể chuyện, quí vị cũng dư biết tui là dân nhà quê chính hiệu, chuyên kể chuyện đồng quê. Vậy thì năm nay tui xin kể tiếp thêm hai chuyện nữa. Trước tiên, xin nói vìa rượu đế.
1. RƯỢU ĐẾ. Má tui làm nghề đặt rượu nuôi heo. Tui hay hụ hợ phụ má làm mấy chuyện đó, cho nên tui mới dám cả gan mà kể ra đây. Thấy sao nói vậy, làm gì kể nấy, chớ hổng đặt chuyện như nhà văn nhà báo. Có điều là mỗi địa phương có cách làm rượu hơi khác nhau, cho nên trúng trật gì thì xin bà con cho qua. Chỉ cầu vui. Nhớ hồi lâu lắm, có bản cổ nhạc Nam Phần bị nhái giọng đặt lời bằng mấy câu như vầy:
Rượu này là thiệt rượu rừng,
Bận này là bận thứ ba,
Uống cho đúng điệu nó ngon lạ kỳ.
Giờ uống tối nay khỏi uống.
Làm biếng uống rươu đặng đâu.
Mấy cha uống rượu là con Ngọc Hoàng
(*) Con Ngọc Hoàng? Tức là vua, là hoàng đế. Rượu hoàng đế uống là rượu đế? Tui chịu bí, hổng biết tiếng đế ở đâu ra. Xin nhờ quí thầy chỉ dùm.
Nhưng rượu trắng, rượu rừng, ba si đế, sản phẩm của lúa gạo, tuy ba mà một. Cứ kêu rượu đế cho nó gọn. Có người lại phân biệt rượu đế là rượu nếp, còn rượu trắng là rượu gạo?.Còn nếu làm bằng bo bo, hột kê, mật đường, khoai, bắp... thì hổng biết kêu là rượu gì? Và trong một đất nước chuyên vìa nông nghiệp, rượu đế là thứ quốc hồn quốc tuý. Cách uống rượu của mình cũng có vẻ cầu kỳ hết biết. Cùng là rượu, nhưng khi thì được coi là thức uống thiêng liêng, của tiên thánh trên trời trên núi; khi thì thành lễ vật tiệc tùng cưới hỏi; khi thì bị xem là chất ô uế gắn liền với dân say xỉn bên quán cốc lề đường. Từ cúng rượu, dâng rượu, thưởng rượu, rồi đi xuống tới nhậu, nhâm nhi, lai rai, đưa cay, khề khà, làm ba sợi, nhấp, hớp, nốc, vô, v.v. Ôi thôi có tới mấy chục thứ bậc và giai cấp rập khuôn theo xã hội Đại Cồ Việt ta.
Bởi vậy có khi nó cũng trở thành quốc nạn, nhứt là sau 75, cách uống rượu bị xuống cấp. Ở dưới quê thất nghiệp, buồn quá, người ta uống rượu giải sầu, giải riết bị bịnh chết cả đống. Còn nói vìa cách làm rượu thì cũng có nhiều cách gọi: nấu rượu, cất rượu, kháp rượu, đặt rượu. Và lò rượu cũng có nhiều tầm cỡ mà đây chỉ nói vìa cách nấu đơn giản trong gia đình thôi. Dù là nghề mọn, việc kháp rượu và làm muối ngày xưa đã bị hạn chế theo chính sách thuế khóa của Tây, nên bà con phải nấu lén trong buội trong rừng, tiếng rượu rừng nẩy ra từ đó.
Tới thời Ông Diệm, bà con mình nấu rượu nếp thả giàn. Cách đặt rượu. Ai cũng làm được, quê mùa dốt nát, hổng cần biết chữ quốc ngữ hay tiếng tây tiếng u gì cũng đều làm được ráo. Ở dưới quê tui, có thể nói là: nhà nhà kháp rượu. Và, người người uống rượu!
Có 3 bước chánh để làm một kháp rượu, đó là: nấu cơm da, ủ rượu và kháp.
1. Nấu cơm da. Cơm nếp lứt hay cơm gạo lứt dùng để ủ men làm rượu gọi là cơm da. Nấu nó bằng cái trã, ít ai nấu bằng nồi đồng. Trã là cái nồi đất thật bự. Hổng có ranh giới giữa nồi và trã. Nhưng coi kỹ thì hể cái nồi nào dày, có cổ lùn, miệng rộng và chứa từ 20 lít trở lên thì cứ việc kêu là trã. Đong 10 lít nếp lứt, hay gạo lứt, đem vo sạch, rồi nấu thành cơm. Nấu sao cho nó thiệt chín, nở hột và khô ráo. Phải đạt đủ 3 yêu-cầu đó thì rượu mới trúng. Nhà tui chuyên làm rượu bằng nếp. Cơm chín, xới ra, trải mỏng trên nia cho nguội. Chỉ lấy cơm rời, còn cơm cháy đem nấu mềm cho heo ăn. Cơm cháy nếp ngon dữ lắm. Cho nên hể khi nào nghe cạo trã rột rột là mấy đứa con nít như tui liền chạy vô bợ một giề đem ra chia nhau nhai rôm rốp, thơm phức giòn rụm, ăn phát ngây. Nó ngọt ngọt, béo béo, mềm và xốp hơn cơm cháy nếp trắng. Thoa thêm muối mỡ hành thì ăn quên thôi. Cơm da lúc nào cũng phải nấu cho thiệt khéo, cho nên loại cơm cháy của nó phải nói là ngon muôn năm.
2. Ủ rượu. Tức là vô men. Mua loại men rượu người ta mần sẳn bán ở tiệm, hay lựa chỗ quen mà mua, viên nó tròn và dẹp dẹp, mỏng hơn nửa trái chanh cắt. Họ sẽ chỉ mình phải xài bao nhiêu viên một lít nếp. Mấy thợ làm men giấu nghề dữ lắm. Men Bắc Trang, Tập Sơn, Đầu Bờ nổi tiếng trong tỉnh mình. Bỏ men vô cái gáo dừa bự, giã cho nhuyển như bột. Rờ thử cơm nếp, thấy còm âm ấm thì trộn men vô được. Trộn đảo cho kỹ, khi nào nó áo men đều rồi tuôn nó vô khạp da bò* để ủ. Nhà kháp rượu thường sắm rất nhiều khạp để dùng thêm trong việc như chứa nước, chứa hèm, cháo heo.
Cơm ủ rồi phải ém vừa vừa tay cho nó dẽ, sau đó khoét cái lỗ ngay chính giữa sâu tới đáy khạp, để sau này khi thăm chừng mình sẽ thấy nước rượu tươm ra và dâng lên tới đâu. Đậy khạp lại bằng cái bao bố tời* để cho nó có lỗ thở. Đặt rượu phải canh thời tiết, lựa ngày nấu cơm, chọn ngày mà kháp. Trời giông hay mưa nhiều ẩm lạnh, cơm ủ thì khó dậy, rượu kháp bị thất.
Chỗ để hàng khạp, cũng như nơi đặt ông lò để nấu phải sạch sẽ, kín gió, hổng ướt, hông khô. Bà con mình cũng đã từng kinh ngiệm về sinh môi chớ bộ. Thời gian ủ rượu phải từ 3 ngày đổ lên. Sau 2 đêm đầu, thăm thử thì sẽ thấy hơi ấm tỏa ra. Sau đêm thứ 3 thì phải chan nước rượu. Lấy một thùng nước ngọt (nước giếng) và sạch đổ vô cơm rượu, gọi là chan. Để đó thêm một đêm nữa mới đem nấu. Thường thường nấu cơm da vào buổi trưa, rồi bắt đầu kháp rượu vào giác sáng. Vậy, bấm ngón tay tính thử, thấy phải mất hết thảy là 4 ngày 4 đêm, mới có rượu uống. Nấu sớm hơn sẽ mất rượu, nhưng vì thời tiết xấu mà kháp trể 1, 2 ngày thì hổng sao. Khi thời tiết tốt, có thể nấu ngày 2 kháp.
3. Lên kháp. Cái ông lò kháp rượu có hình cong tròn như móng ngựa được đắp bằng đất thịt, đất sét móc ở trước ruộng. Bùn mà nhồi với trấu hay bui bui, làm ông táo, nó chắc hổng thua xi măng. Bộ đồ nghề cũng giản dị, ai cũng làm được. Trước hết là cái trã mẹ để nấu, bự cở 40 lít trở lên. Kế đó là cái trã con, dùng làm cái nắp đậy, úp ngược xuống, miệng con lọt lòng và nằm trong miệng mẹ, coi nó giông giống hình số 8. Trên đỉnh số 8, có khét cái lỗ tròn cở ngón tay để hơi rượu chui lên. Rồi tới cái ống dẫn hơi, làm bằng ngọn tre già, lớn hơn cùm tay một chút, nối liền nồi rượu với bồn tụ hơi. (Ống này làm bằng tre thì tốt hơn ống bằng nhôm). Bồn tụ, làm bằng cái diệm sành có trán men, miệng bự cỡ 2 gang, đặt cao hơn nồi nấu, trên cái kệ giống như ghế đai cao cẳng. Miệng diệm được đậy kín bằng cái thau nhôm lật ngữa, để chứa nước lạnh. Gặp hơi lạnh của thau nước, hơi biến thành rượu. Làm sao lấy rượu ra? Cần thêm một ống trúc con nữa. Nó chỉ có chút nị, nhỏ bằng ngón tay và dài một gang thôi, mà nếu hông có nó thì hổng thua gì bị bí đái. Đó là cái ống nhỏ giọt, đầu trên gắn meo một bên vô lỗ con dưới đít diệm, đầu dưới thòng xuống, chót ống được vót nhọn hình ngòi viết để tóm rượu lại thành sợi. Khi rượu ra thì hứng nó bằng chai lít, loại trắng trong, để có thể thấy biết chính xác màu rượu. Đó là toàn bộ hệ thống giàn kháp. Còn mấy chỗ ráp nối thì làm sao cho nó kín hơi? Phải trám lại bằng một loại khằn tự chế. Dùng xác hèm nhồi với cám chừng một hồi thì nó sẽ thành thứ hồ chắc như đất sét, trám mấy kẻ hở lại. Càng khô nó càng chắc, hổng nứt hổng xì bất tử.
Rồi thì tới cái mục sẽ cột giò chủ nhà suốt 4, 5 tiếng đồng hồ. Đó là mục nấu, hay cất. Nhưng thấy vậy mà hông phải vậy. Mới đầu cứ việc đốt lữa lớn cho mau sôi. Khi rượu sắp sôi thì bớt củi từ từ. Khi rượu bắt đầu nhỏ giọt thì bớt lửa tối đa. Giữ lửa sao cho rượu đều giọt là có thể bỏ đó cho ông lò giữ dùm để đi làm việc khác. Năm mười phút quay lại thăm chừng một lần. Khỏe re. Hay dở là ở cách cách chụm củi. Phải dùng củi khúc, chắc, lâu tàn, nhiều than. Chỉ cần 2 gốc tre khô là đủ nồi kháp. Y chang kiểu nấu cháo heo hay hầm nồi bánh tét Tết.
Kỵ nhứt là chụm lửa lớn, vì rượu sẽ bị hôi khét; mất ngon. Điều chỉnh lửa sao cho rượu nhỏ giọt thiệt nhặt, hay sợi thiệt nhỏ, đứt khoảng. Thăm chừng nước trong thau nằm trên diệm, thấy nóng thì thay nước, dùng cái gào lá múc đổ xuống khạp riêng, rồi múc nước lạnh thay vô. Rượu ra đầy chai, đổi chay, lấy ra phải sắp nó theo thứ tự chai nhứt, chai nhì, chai ba v.v. Chai rượu nhứt trong như nước mưa, mạnh trên dưới 60 chữ, thơm nồng, Martel cổ cao cổ lùn hổng đổi, Vodka Sakê lớn mồm to miệng cũng thua. Cho tới chai thứ tư thì bắt đầu đục dần.Nếu hỏi một kháp nấu được mấy lít rượu? Xin thưa, trung bình là 5 lít. Nếu nấu bằng gạo thì được 5 lít, hay ít hơn. Còn nếu nấu bằng nếp thì được hơn 5 lít. Mấy chai sau chót, kêu là rượu ngọn, cứ việc lấy cho dư ra để dành nuôi giấm.
4. Pha rượu. Để rượu cho nguội rồi đổ từng chai theo thứ tự 1, 2, 3 vô cái thau nhôm trắng và thiệt sạch. Dùng cái ca mũ khuấy khuấy, múc lên cao rồi đổ xuống. Múc lên đổ xuống nhiều lần. Nổi bọt trắng hếu. Nhìn bọt nhiều ít, quện hay rời, tan mau hay dẽo nhẹo, và coi độ trong đục là biết rượu ngon cỡ nào. Bạn thắc mắc sợ rượu hổng ngon hả? Cứ lấy ngón tay nhúng vô rồi sẹt hộp quẹt đốt thử, ngón tay bạn phát hoả ngay. Nếu thử vậy mà chưa vừa ý thì cứ lấy đồ đo mang theo đo thử. Từ 48 tới 50 độ y như rằng. Mấy bà kinh nghiệm cùng mình đó nghen. Quê tui thường pha rượu mạnh cỡ đó, bỏ mối mới đắc. Nó mạnh như vậy nên dân quê chuyên môn đốt rượu nướng khô mực, khô bò, tôm găm, khô cá khoai...
Riêng mấy bà còn nằm chỗ (ở cữ) thì đổ rượu vô dĩa, đốt lên để xông mặt, môi má bổng đỏ hồng như con gái muốn chồng. Hoặc, ngoài việc hơ bằng muối rang, mấy bà đốt thêm rượu hong khúc hạ bộ, sẽ liền da chắc thịt, xoá mất vết nhăn, trẻ lại chồng khen, khỏi cần đi điều trị vá may.
Phó sản của rượu. Như tui vừa nói, rượu ngọn đem nuôi giấm. Nuôi từ khạp này qua khạp khác. Loại giấm này ngon và tốt hơn giấm tiệm. Nhưng cái chủ ý của việc đặt rượu là lấy hèm nuôi heo. Tiền bán rượu lời rất ít, có khi chỉ huề vốn, phần lời chính là nồi hèm.
Nhà nuôi nhiều heo, trong chuồng ngoài sân đủ loại, ngoài thức ăn chánh là chão cháo thật bự nấu bằng gạo lứt, phải độn thêm chuối cây, cám và hèm nữa thì mới có lời. Nước hèm còn chút hơi nồng và có vị chua, kích thích bao tử ghê đi. Heo con được vài tháng tuổi thì tập cho nó ăn hèm. Khi nó ghiền rồi thì nó uống nước hèm thấy bắt thương. Heo nuôi hèm mau lớn như thổi, mập tròn như bong bóng, nhưng mà mập bọng và nhẹ ký. Ngoài ra hèm còn tẩy ruột heo, sán lãi cũng bị xĩn và trôi mất hết, nên hổng sợ heo bị có gạo.
Hèm! Heo ăn được thì người ăn được hông? Cũng làm láng luôn. Nè. Nước hèm nấu canh chua ngon hết xảy đó nghen. Nó đục ngào, chua lè mà vẫn còn vị ngọt ngọt, cho nên đem nấu cá ngác, trê trắng, lương, lịch thì phải kêu nó là cao lương mỹ vị mới xứng. Mấy thứ này thịt dai, đụng vô hèm nó mau mềm mà vẫn giòn và trở nên ngọt lạ kỳ. Kế tới là cá đuối, cá úc, cá lăng xếp hạng nhì. Còn cá lóc mà chơi với hèm thì kể như thua mềm mình. Đặc biệt dân miệt Cồn có món ba khía tươi nấu canh chua hèm. Khỏi chê, nó ngọt ngay ngọt ngất, vỏ giòn tan, mạnh răng nhai luôn xác mới đã.
Còn món nữa, đàng trong mình ít ai biết, là dùng xác hèm, chớ hông lấy nước, nhứt là hèm nếp than, đem nấu với cá, kêu là nấu bổng. Bạn tui, Bắc kỳ, nấu cho ăn thử. Nó bùi bùi ngót ngót, hổng chua, mà bốc hết kể. Cái món nấu bổng này cũng độc đáo như món bống (da heo sấy) ngoài ấy vậy.
Vài thứ rượu bà con. Các bạn thường nghe nói rượu đậu nành, rượu nếp than, lão tữu...mấy thứ đó đều là con cháu của rượu đế. Đậu nành đem rang cho vàng và thơm rồi xay thành bột to hột, đem gói vô miếng vải mùng, đợi khi lên kháp thì bỏ nó vô bồn tụ rượu. Rượu lên sẽ thấm đậu rang, chảy ra sẽ có màu vàng vàng, thơm phức. Nếu cần để thêm chút đường phèn. Vừa thơm vừa ngót ngót. Uống say chết bỏ. Có vậy thôi mà dám kêu là rượu đậu nành!? Má tui lời no nhờ đồ mắc dịch này.
Còn rượu nếp than thì sao? Nấu một nồi nếp than còn lứt làm cơm da, rồi ủ bằng men cơm rượu ngọt. Sau 3 ngày thì, thay vì chan bằng nước, mà lấy rượu trắng chan vô. Rồi ngâm đó đôi ba ngày hay 1 tuần cũng hổng sao, cơm rượu sẽ bã ra. Muốn xài thì lấy vải mùng lược lấy nước, chớ hổng có cái vụ cất hay nấu. Chất nước hổn hợp này đục ngừ và tím ngắt, vị nồng nồng ngọt ngay. Đó là rượu nếp than! Uống say hết ngồi dậy. Tuỳ lương tâm, người ta pha chất nếp than nhiều ít, thêm đường hay nước lạnh vô hay không.
Còn rượu lão tữu là rượu bổ, dành cho ông già bà cả và người mới sanh. Cách làm giống như rượu nếp than nhưng có thêm thang thuốc bắc bỏ chung vô ngâm. Chan rượu loại ngon vô rồi hạ thổ chừng vài tháng, càng củ hơn càng tốt. Hồi nhỏ tui ăn cắp uống hoài nhưng có lẻ vì chưa tới tuổi biết bổ, hay chưa có chỗ để bổ, nên chỉ nghe nó ngọt dịu như rượu con mèo tây cổ ẹo. Nói nhỏ nghe, má tui nhờ uống lão tữu dài dài nên sanh 13 đứa con mà vẫn còn khỏe như gái xuân.
Còn món rượu thuốc? Vị nào mà muốn cường dương bổ gân bổ cốt, muốn ngâm toa thuốc Minh Mạng hay ngâm rắn, rết, cắc kè, sâm nhung, hải mã, xuyên đỗ trọng, cao xương cọp, vân vân, thì tui bày cho, cứ vô giồng vô sóc mà mua rượu chính gốc loại chai nhứt hay chai nhì đem vìa ngâm cho đáng đồng tiền bát gạo, đừng mua rượu chợ.
Tới đây hai tui xin dứt vụ này. Xin kể tiếp món cốm dẹp.
2. COM GIEP. Cái món này nó lạ đối với bà con vùng ngoài, nhưng lại rất là phổ biến ở xứ ruộng, miệt Sóc Trăng và Trà Vinh của mình. Riêng đối với tui, nó là món ruột, vì tui sống ở trong ruột của nó: xứ Miên. Ừa, cốm giẹp là món ăn truyền thống của người Khmer và là đặc sản của Trà Vinh. Vụ này tui cũng rành 6 câu, xin kể sơ sơ cho bà con nghe chơi.
Mùa cốm giẹp. Mỗi năm, cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều...À không, bắt chước trật rồi. Phải nói như vầy mới trúng: Tui sẽ kể cho bạn nghe, hồi đó khi mùa đông vừa chớm, vào những buổi sớm mai, tui đi học trên con đường giồng cát bũn, bên phải là ruộng đồng bao la, bên trái là hàng rào tre xanh ngắt. Chân trần dậm cát lụp bụp mà mắt lo nhìn quanh quất đâu đâu. Khí trời mát rượi, cây cỏ nằm im, Những giọt sương trong veo còn ôm cái đuôi nhọn của muôn ngàn hoa lá. Hàng tre cúi đầu gật gù say ngủ, dưới gốc, dây bìm bìm giăng kín như đấp mền, điểm đầy bông tím, từng khúm rải rác, lan xa. Đối lại, bên kia đường là ruộng đồng đầy ắp lúa chín, thoang thoảng hương thơm, cũng đang còn ngủ, hột lúa cũng ngậm sương. Ở đây làm lúa mùa, loại thân cao, phủ khỏi đầu đám nhỏ chơi cút bắt trong đó, giờ chín thân nặng ngọn oằn. Có lẻ vài cơn gió chướng đầu mùa đã lướt qua, nhè nhẹ vuốt ve, nhẹ thôi, cũng khiến nó ngoan ngoản cùng nhau nằm rạp xuống ngủ, xuôi theo một chiều, gối đầu lên nhau, thấy toàn hột, mà hàng cuối dựa đầu lên bờ, coi thiệt tội nghiệp và dễ thong làm sao. Những mảnh màu vàng, màu nâu đen của nhiều loại lúa khéo trang trí cho tấm thảm mênh mông này. Có nhiều chỗ lõm xuống, gốc rạ trơ lên. Ruộng đã khô nước. Mùa gặt đã bắt đầu. Tháng 10 âm lịch rồi. Và, bấy giờ cũng chính là mùa cốm giẹp.
Cách làm cốm giẹp. Cốm giẹp làm ra từ nếp, nhưng phải là nếp non, hay nếp mới thì mới đúng điệu, chớ dùng nếp củ là trật sách vỡ. Khi nào cần, chạy ra ra đám ruộng vàng gặt vài bó đem vìa, loại nếp vừa già mà chưa chín tới, rồi trải đệm ra, lấy hai chưn đạp từng bó, trẹo qua trẹo lại, giũ lấy hột, đem sẫy sơ bằng cái nia, sẽ có thúng nếp mềm mềm thơm phức. Đem rang làm liền.
Nhưng trước khi vô chuyện giã hay đâm cốm giẹp, xin nhắc sơ qua vìa cái cối. Xưa có bài hát: “Trong đêm trăng, tiếng chày khua, ai hát vang trong đêm trường mênh mang..”. Ông Hoàng thi Thơ giã gạo kiểu đó là giã bằng cái cối vuông, làm bằng khối cây bự, nhưng lùn xịt, cao chưa tới một thước, cọng với cái chày mổ có cái cán tầm vong lụi vô ngang hông, tạo thành hình chữ T, dùng hai tay nắm cán bổ lên bổ xuống như đóng cọc nhà. Thỉnh thoảng gỏ chày nghiêng vô miệng cối cái kinh cho rơi gạo dính, đứng xa nghe cụp-kinh, cụp cụp-kinh, kinh-cụp, đó là tiếng chày khua, hay lắm. Mà cũng mệt lắm.
Thường phải giã chày đôi, cho mau. Kiểu giã này phổ biến ở vùng ngoài và người ta vừa giã vừa hát hò “là-hụ là-khoan, là-hụ là khoan” cho xì hơi bớt mệt. Trà Vinh thì khác. Cũng là cối vuông, hình dáng y chang vậy, nhưng bự hơn, giã lần cả giạ gạo, dùng chân đạp thay tay. Cái chày này bự lắm, nhưng được gắn vô đầu to của cái đòn bẫy làm bằng trọn 1 thân cây lớn gần 1 ôm, dài ba bốn thước, tạo thành hình chữ “L” hay cái ống điếu. Đó là chày đạp, nó được nâng bằng cả cái giàn cây cứng chắc, có lót sàn hai bên bàn đạp để đứng, hai ba người leo lên hổng nhằm nhò gì. Đứng trên sàn cao, chỉ cần 1 người lớn cũng đủ, dùng một chân đạp, chỉ có việc bước lên bước xuống, chày ngóc lên mổ xuống, một cái rột là gạo trắng liền. Đây nó chỉ kêu ình ịch mà hông khua cụp-kinh, cho nên lâu lâu người giã phải ngừng chân nhảy xuống, lấy cây chóng đầu chày cho hỏng lên, để trộn nghẹn, tức là lấy tay moi moi gạo khắn dưới đáy cối lên trộn cho đều và rời ra. Cối này tiện lợi hơn thấy rỏ, già trẻ lớn bé gì đều giã được ráo.
Làm cốm giẹp hổng có xài hai thứ vừa nói. Mà phải dùng cối dọt và chày dọt. Cái cối này được làm bằng thân cây tròn, cao cả thước, khoét cái lỗ rộng từ 2 gang trở lên, cạn sâu tùy thích, hông cối đẽo cho eo eo, đít cối giữ nguyên cái bàn tọa bự để ngồi cho vững. Cái chày cũng bằng cây tròn, bự hơn bắp chân, dài cở thước rưỡi, giữa thì eo thon làm chỗ nắm, hai đầu chờ vờ mum múm, đầu nào dọt cũng đặng.
Nhìn hai người đàn bà Bahnar hay Seđang miền núi, mình ngực trần, đứng đối diện nhau sát cối, cùng dọt chày đôi một cối lúa, dáng điệu nhịp nhàng, phía trước tưng tưng, cái mình ưởn ẹo tới lui, như 2 con hải mã khiêu vũ, tui đã từng nhớ nhà muốn đứt ruột, nhớ bà con tui ở quê đâm cốm giẹp. Nói vậy có nghỉa là cái cối dọt này hông phải của riêng ai, từ Bắc vô Nam, từ đồng lên tới núi, đâu đâu cũng biết xài. Nhưng mà, tui dám cam đoan, nghề đâm cốm dẹp là của riêng quê tui, vùng ruộng giồng Trà Vinh. Cái cối dọt là chánh. Còn phải có thêm nia, thúng, 1 cái vừng và 1 cái sàng.
Một người không thể làm được. Phải cần ít nhứt là 4 người để làm nhiều việc nối tiếp nhau, mà Mỹ kêu là phương pháp Taylor dây chuyền gì đó, thì mới mong làm được nhiều đem bán. Nè hén, 1 người đứng rang nếp, hai người kế đứng giã, và cuối cùng là 1 hay 2 người nữa lo sẫy, sàng và lựa thóc. Phải làm ngoài trời, tốt nhứt là vìa chiều hay đầu hôm, cho mát.
Đổ nếp vô cái mẽ nồi đất bự đang nóng trên bếp, chừng 1,2 lít mỗi lần, rang cho lẹ và đều tay. Khi nghe thấy vài hột bắt đầu nổ lốp bốp thì bưng lên trút vô cối, để đâm ngay. Hột cốâm chuồi nửa vời đó còn nóng hổi xốp xộp. Trong khi người kia tiếp tục rang mẻ kế thì hai người thợ giã phải dọt cho gấp cho nhanh, hông thôi nếp nguội sẽ bị cứng, giòn, mất dẽo, khó đâm. Mấy chày đầu nghe xột xột vì còn xốp. Rồi chuyển qua bụp bụp, cụp cụp, liên hồi. Đặc biệt là cốm dẹp dễ bị nghẹn, dễ bị dính nhau. Cho nên 1 trong hai người, tay này thì đâm, tay kia thì cầm cái đũa bếp tre dài cả thước nạy lia nạy lịa để chống mắc nghẹn. Tiếng nạy chen giữa tiếng chày dộng, rất ăn nhịp, tạo nên âm thanh ngồ ngộ: bụp, cà-xẹt, bụp, cà-xẹt, bụp... Hông biết tụi Tây có thấy vụ này hông mà họ chế ra nhịp disco nghe y chang. Giã xong cối, đổ cốm xuống nia, chuyển qua khâu thứ 3, để sàng sẫy cho sạch trấu, bóp rời hột dính, rồi vừng để bắt cốm lép.
Nếu làm vào mùa gặt, dùng được nếp non, hột cốm có xanh lợt hổng đều, nhưng đó mới chính là loại cốm ngon, nó dẽo mềm và thơm phức, để lâu hổng thiêu hổng hư. Còn nếu làm trái mùa, dùng nếp già khô, thì phải ngâm trước nhiều giờ cho nếp mềm trước khi rang, nhưng nó cho ra loại cốm màu trắng ngà đều trân, mà lại giòn và lạt xèo. Dân buôn vì mưu câu lợi nhuận thường bỏ màu, nhuộm xanh, biến cốm thành màu cỏ non xanh tận chân trời, coi thấy phát ghê. Ai mà khùng mới mua loại này.
Sau đây nói vìa cách ăn cốm giẹp. Cách ăn cốm giẹp thì nói hổng hết. Tui xin phân loại làm 2 cách: Cách thứ nhứt theo nghi thức lễ ăn ót của đồng bào tui, người Khmer, và 1 loại khác phàm phu tực tử của người An Nam mình.
Lể Ok ombok của đồng bào Khmer. Mùa cốm giẹp chính là mùa ót-ombok. Mình kêu gọn là mùa ăn ót. Chỉ ở Sóc Trăng và Trà Vinh mới có. Cốm giẹp (tiếng Miên kêu là Ombôk) là món lễ vật chính, như kiểu bánh chưng bánh dày của con cháu Hùng Vương. Hằng năm, sau khi xong mùa màng (xứ mình chỉ làm ruộng 1 mùa, tháng 9 tháng 10 là chín hết), đồng bào Khmer tổ chức nhiều lễ lộc, kể từ tháng 9 ta trở đi, nào là He ca thinh, Đuônn Ta rồi tới ót-ombok*.
Lễ ăn ót tổ chức đúng ngày rằm tháng mười. Mục đích là tạ ơn trời đất, giúp mưa thuận gió hòa, được mùa no ấm, cùng thần thánh đã phò hộ cho mạnh giỏi bình an, và cùng lúc cầu xin được phò hộ tiếp cho mùa tới. Sau lễ ăn ót, đồng bào tui còn thả thững lên trời cũng với điều cầu nguyện tương tự như trên. Hầu hết mỗi nhà tự đâm cốm giẹp để cúng. Nhiều nhà ở chung vuông thì gom lại cúng chung cho xôm tụ. Chuẩn bị xong, đợi trăng lên khỏi ngọn tre, gia đình đặt bàn thờ giữa sân, sân rất rộng và sạch vì đã được dọn dẹp để làm bãi đạp lúa, trên bàn có nhang đèn, cốm giẹp trộn dừa, trái cây, dừa xiêm, bình bông, nước mía ép v.v. và cây mấy mía tươi lá cong cong để trang trí. Ít có ai cúng bánh, vì đây từa tựa như cúng ông thiên. Phía sau có trải tấm đêm bự. Ông Dượng tui, người Khmer chánh hiệu, sau khi cúng vái rất lâu, lẩm bẩm bằng tiếng Miên mà tui chưa hiểu nổi, rồi mới kêu gia đình con cháu đứng hay quỳ xuống sau bàn thờ, nhắm hướng mặt trăng mà lạy.
Sau cùng là cái mục ót. Cái muc ót nay có phải dành ưu tiên hay bắt buộc cho con nít? Trong khi người lớn được miễn, chỉ đứng coi. Còn tụi nhỏ như tui, dù đang chạy giỡn vòng vòng, đều bị kêu lại, bắt quỳ gối xuống, ngước mặt lên, hả họng ra cho bự, rồi thì được một bụm cốm trút vô miệng, đầy cứng. Trời đất. Mắc nghẹn chết. Nhưng được cưng mới cho ăn nhiều như vậy. Aên nhiều được phước nhiều. Như ăn bánh thánh trong nhà thờ? Đằng kia chỉ le cái lưỡi ra nhận mình Thánh, chút nị. Đằng này phải ngốm phùng mang!? Phải nghiêm trang nhận lấy, phải lấy tay bụm lại rồi nhai chậm chậm, nuốt vô từ từ. Tinh hoa phước lộc trời cho mà. Tiếng ót, phát âm Khmer cho thật trúng là ook, có nghỉa là ăn một dốc đầy miệng, như Hai tui vừa được ăn. Đó là nghi thức. Chỉ cần một ót như vậy là đủ lễ. Rồi sau đó muốn ăn kiểu nào thì ăn.
Cốm dẹp mới, trộn dừa rám nạo, ủ nước mía mềm mịn, ngon hết biết. Hoặc chan nước mía vô làm chè, kiểu ăn corn flake sữa tươi, cũng hấp dẫn chưa từng. Còn nước mía! Bà Dì năm của tui dùng cái máy ép giống cái khuôn bàn bào thợ mộc, rồi bỏ từng lóng mía ngắn như khúc mía ghim vô, lấy miếng đòn bẫy giẹp như lưỡi bào, nạy nạy, nước mía chảy xuống diệm ro ro, mặc sức uống. Mùa trăng mùa gặt tháng mười và Ok-ombok là vậy đó bạn ạ. Nhắc lại mà thèm mà nhớ. Hồn ở đâu bây giờ?
Còn cách ăn cốm giẹp của người Việt thì nói ra chắc sẽ thừa. Tùy khẩu vị, biến chế ra đủ thứ. Đây tui chỉ dám khoe mấy điều. Trước hết là bà nhạc của tui chuyên nghề bánh tét, bánh ú, bánh dừa, một thời vang bóng, mà trong đó hổng thiếu món bánh tét cốm giẹp. Bánh tét cốm giẹp nhưng đậu xanh! Tui dám dứt 1 lần 2 xâu, tức 1 chục cái, tỉnh bơ. Đặc sản Trà Vinh đó bà con.
Rồi tới chuyện bà chị dâu vợ bất hủ nữa. Có đồng hương TV đã nhắc tới tiếng rao hàng ngày xưa mà đành quên mất tiếng rao của chị vợ tui. Xin nhắc lại. “Ai ăn đậu đen nấu đư.ư ừ ờ.ờng hôn” Tiếng “đường” vang lên cao tới ngọn cây dầu lớn. Chè đâu đen mà rao kiểu vậy nghe mới đã. Đó là về ban đêm. Lúc đó chưa làm em chị, ngồi học bài mà nghe chị rao thì tỉnh ngủ, và còn sửa lại “ Ai...em giữa đường” gì đó, rồi xúm nhau cười như quỷ xứ. Nhưng mà chưa bằng cái câu rao sau đây, vìa cốm giẹp, bán ban ngày, thường vào xế trưa, như vầy nè: Ai ăn chuối- chưng- chuối- xào- dừa- sa- kê- cốm- giẹp- trộn- dừa đường ca.a.at.át hôôôn. Nghe đã quá xá đã. Tiếng rao dài nhằng, cao vút, trong veo, ngọt còn hơn đường phèn nữa chứ đừng nói đường cát.
Cốm giẹp, dù đã trộn dừa nạo, ướp nước dừa tươi, trộn đường cát, đã “cực kỳ” ngon rồi, mà lại chan nước chuối chưng nước cốt dừa vô nữa, thì ây dôi, mèn ơi, chu choa...ăn thử một lần sẽ nhớ luôn mấy kiếp. Đó có lẻ là món độc chiêu của bà chị nghèo nàn, ngày lẩn đêm vất vả buôn gánh bán bưng, một trong những người chị của đất Trà Vinh thân yêu xa lắc. Rồi còn cái trái sa kê nữa. Sa kê trộn dừa. Ôi! Càng nhắc lại càng cách chi rựa.
Tản mạn vìa cốm giẹp. Sau cùng, xin phép bà con cho tui nói thêm chút xíu. Là hổng biết làm sao mà nghề cốm giẹp lại bùng nổ sau 75, nhứt là đầu vào thập niên 80. Gạo hông có đủ để ăn mà cốm dẹp bán đầy trời, xuất tỉnh lan đi khắp nước. Chở hơn 5, 10 kí là bị tịch thu, nhưng cốm giẹp lại lọt khe. Có lẻ bà con mua cốm giẹp ăn trừ cơm. Hay chính nó đã trỡ thành món ăn quý hiếm giàu chất lượng dinh dưỡng đối với những “dân tộc tiến bộ” nào đó. Còn bọn vượt biên phản quốc thì mua cốm giẹp làm lương khô, lềnh bềnh trên biển cả 2 tháng vẫn chưa hư. Tui hổng tìm ra câu kết.
Riêng phần cá nhân tui, nhờ cái đà đó, cũng đã kiếm ăn được chút chút. Số là sau khi đậu tiến sỹ sơn lâm, vìa nhà bị coi như người cùi sứt móng, ít ai dám lại gần. Và giữa cái thời XHCN tiến nhanh tiến mạnh lên đỉnh cao bo bo đó, tui cũng thành vô sản chiên giòn, hổng còn gì ráo ngoài quần xà loỏn và một cái áo ka ki công nhân viên củ kỷ do thằng em cho. Tui bèn mượn chiếc xe đạp đầm và cái quần dài của thằng em vợ, đi buôn trong sóc. Ngày đạp cả trăm cây số trên những nẽo đường làng tồi tệ. Tui cỡi xe, rồi xe cỡi tui.
Bán bột ngọt, thuốc hút, trà, kim chỉ, nước tương v. v., bận vìa thì lén giấu vài kí gạo, đi luồn đường trong. Đem vìa nuôi con. Có lần ghé nhà em tui dưới quê, tui nghe tiếng đâm cốm giẹp rân trời. Hỏi ra, toàn là bà con tui, họ đang làm để bán. Tui bèn mua chịu, hôm sau xuống trả, chở bằng xe đạp lên tỉnh bỏ mối. Lần đầu chở 2 giạ. Ngon hơ. Lần 2 cố chở 3 giạ, đường quá xấu, xe đạp gẫy, đem lại ông ba Chập-lác, ba của anh Phước và Lộc, ở đường số 3 hàn lại, đi tiếp. Xe lại bị gẫy trở lại. Đành hàn sơ trả cho chủ, cắn môi mắc cở. May trong nhà còn cái sườn xe hiệu anh-sông (alcon) củ từ thời Bảo Đại treo trên giàn khói. Lấy xuống lau chùi sơ, kiếm 2 cái bánh ráp vô, hông thắng, hông vè, vừa chạy vừa la vô vô, đi làm ăn tiếp. Lại bị gẫy nữa. Hai chiếc xe đạp tội nghiệp, bắt nó chịu khổ hơn tui sao đặng. Cái quần dài thì bị rách đáy, làm sao mà trả, giựt luôn. Thằng em vợ cười thông cảm.
Cốm giẹp! Ôi cốm giẹp. Tưởng nó giúp tui, hông dè nó làm tui choáng váng. Bây giờ, tui chỉ dám nhớ thương ok-ombôk mà thôi.
Tôi vừa kể cho bà con cô bác nghe chơi về 2 loại đặc sản làm từ lúa gạo, nét độc đáo của đồng quê Trà Vinh. Chuyện đồng quê kể biết cho tới chừng nào mới hết. Thôi, tới đây thì: “Tình quê góp nhặt đã dài“ Mua vui cũng đặng một vài.. phút giây.“Hẹn quang năm cũng mùa này... Giờ thì xin kiếu, chia tay... cũng vừa. /.
Hai Quẹo Tuyết Lê, Bính Tuất niên, 2006.
Cước chú:
(*) Bài cổ nhạc Nam phần, không có lời, thường dùng để đờn bái tổ, mở đầu tuồng hát cải lương, gọi là bài Tam pháp nhập môn. Trẻ con còn đặt thêm lời để giỡn như sau:
Chị này là chị đưa đò.
Chị này là chị có con.
Có con chị có con chị đò.v.v.
Xự hò xề xự xang hò..gì đó.
(*) He ca thanh, hay He Takhanh cũng vậy, là lể làm phước và dâng bông, cúng dường cho chùa. Sau mấy ngày dựng rạp tiệc tùng cho chòm xóm ăn free tại nhà, là dâng bông. Những cây bông đội trên đầu những cô thiếu nữ lủng lẳng đơm đầy vàng bạc, để dâng đi. Họ nối đuôi từng đoàn sau giàn trống nhạc ngủ âm khlên-xiêm tùng tung lên chùa lể bái. Còn Đuônn Tà là lể tạ ông bà, tổ tiên. Chi-Đuônn là Bà, Chi-Ta là Ông.
(*) Bao bố tời. Là bao đong lúa, bằng bố, ngoài kia kêu là bao tải bằng đay. Còn kêu là bao chỉ xanh hay bao tạ, vì nó có hiệu in màu xanh, có thể chứa 3gịa3 lúa, khoảng 100kí, hay chứa gạo, lưng bao, cũng vừa đủ 100k.
(*) Khạp da bò. Khạp trán men màu vàng da bò, chứa được 2 đôi nước, đôi 40lít X 2= 80 lít. Khạp đường= 1 đôi 40lit. /
Tạp ghi của Hai Quẹo
Kính thưa bà con cô bác, qua mấy lần nghe tui kể chuyện, quí vị cũng dư biết tui là dân nhà quê chính hiệu, chuyên kể chuyện đồng quê. Vậy thì năm nay tui xin kể tiếp thêm hai chuyện nữa. Trước tiên, xin nói vìa rượu đế.
1. RƯỢU ĐẾ. Má tui làm nghề đặt rượu nuôi heo. Tui hay hụ hợ phụ má làm mấy chuyện đó, cho nên tui mới dám cả gan mà kể ra đây. Thấy sao nói vậy, làm gì kể nấy, chớ hổng đặt chuyện như nhà văn nhà báo. Có điều là mỗi địa phương có cách làm rượu hơi khác nhau, cho nên trúng trật gì thì xin bà con cho qua. Chỉ cầu vui. Nhớ hồi lâu lắm, có bản cổ nhạc Nam Phần bị nhái giọng đặt lời bằng mấy câu như vầy:
Rượu này là thiệt rượu rừng,
Bận này là bận thứ ba,
Uống cho đúng điệu nó ngon lạ kỳ.
Giờ uống tối nay khỏi uống.
Làm biếng uống rươu đặng đâu.
Mấy cha uống rượu là con Ngọc Hoàng
(*) Con Ngọc Hoàng? Tức là vua, là hoàng đế. Rượu hoàng đế uống là rượu đế? Tui chịu bí, hổng biết tiếng đế ở đâu ra. Xin nhờ quí thầy chỉ dùm.
Nhưng rượu trắng, rượu rừng, ba si đế, sản phẩm của lúa gạo, tuy ba mà một. Cứ kêu rượu đế cho nó gọn. Có người lại phân biệt rượu đế là rượu nếp, còn rượu trắng là rượu gạo?.Còn nếu làm bằng bo bo, hột kê, mật đường, khoai, bắp... thì hổng biết kêu là rượu gì? Và trong một đất nước chuyên vìa nông nghiệp, rượu đế là thứ quốc hồn quốc tuý. Cách uống rượu của mình cũng có vẻ cầu kỳ hết biết. Cùng là rượu, nhưng khi thì được coi là thức uống thiêng liêng, của tiên thánh trên trời trên núi; khi thì thành lễ vật tiệc tùng cưới hỏi; khi thì bị xem là chất ô uế gắn liền với dân say xỉn bên quán cốc lề đường. Từ cúng rượu, dâng rượu, thưởng rượu, rồi đi xuống tới nhậu, nhâm nhi, lai rai, đưa cay, khề khà, làm ba sợi, nhấp, hớp, nốc, vô, v.v. Ôi thôi có tới mấy chục thứ bậc và giai cấp rập khuôn theo xã hội Đại Cồ Việt ta.
Bởi vậy có khi nó cũng trở thành quốc nạn, nhứt là sau 75, cách uống rượu bị xuống cấp. Ở dưới quê thất nghiệp, buồn quá, người ta uống rượu giải sầu, giải riết bị bịnh chết cả đống. Còn nói vìa cách làm rượu thì cũng có nhiều cách gọi: nấu rượu, cất rượu, kháp rượu, đặt rượu. Và lò rượu cũng có nhiều tầm cỡ mà đây chỉ nói vìa cách nấu đơn giản trong gia đình thôi. Dù là nghề mọn, việc kháp rượu và làm muối ngày xưa đã bị hạn chế theo chính sách thuế khóa của Tây, nên bà con phải nấu lén trong buội trong rừng, tiếng rượu rừng nẩy ra từ đó.
Tới thời Ông Diệm, bà con mình nấu rượu nếp thả giàn. Cách đặt rượu. Ai cũng làm được, quê mùa dốt nát, hổng cần biết chữ quốc ngữ hay tiếng tây tiếng u gì cũng đều làm được ráo. Ở dưới quê tui, có thể nói là: nhà nhà kháp rượu. Và, người người uống rượu!
Có 3 bước chánh để làm một kháp rượu, đó là: nấu cơm da, ủ rượu và kháp.
1. Nấu cơm da. Cơm nếp lứt hay cơm gạo lứt dùng để ủ men làm rượu gọi là cơm da. Nấu nó bằng cái trã, ít ai nấu bằng nồi đồng. Trã là cái nồi đất thật bự. Hổng có ranh giới giữa nồi và trã. Nhưng coi kỹ thì hể cái nồi nào dày, có cổ lùn, miệng rộng và chứa từ 20 lít trở lên thì cứ việc kêu là trã. Đong 10 lít nếp lứt, hay gạo lứt, đem vo sạch, rồi nấu thành cơm. Nấu sao cho nó thiệt chín, nở hột và khô ráo. Phải đạt đủ 3 yêu-cầu đó thì rượu mới trúng. Nhà tui chuyên làm rượu bằng nếp. Cơm chín, xới ra, trải mỏng trên nia cho nguội. Chỉ lấy cơm rời, còn cơm cháy đem nấu mềm cho heo ăn. Cơm cháy nếp ngon dữ lắm. Cho nên hể khi nào nghe cạo trã rột rột là mấy đứa con nít như tui liền chạy vô bợ một giề đem ra chia nhau nhai rôm rốp, thơm phức giòn rụm, ăn phát ngây. Nó ngọt ngọt, béo béo, mềm và xốp hơn cơm cháy nếp trắng. Thoa thêm muối mỡ hành thì ăn quên thôi. Cơm da lúc nào cũng phải nấu cho thiệt khéo, cho nên loại cơm cháy của nó phải nói là ngon muôn năm.
2. Ủ rượu. Tức là vô men. Mua loại men rượu người ta mần sẳn bán ở tiệm, hay lựa chỗ quen mà mua, viên nó tròn và dẹp dẹp, mỏng hơn nửa trái chanh cắt. Họ sẽ chỉ mình phải xài bao nhiêu viên một lít nếp. Mấy thợ làm men giấu nghề dữ lắm. Men Bắc Trang, Tập Sơn, Đầu Bờ nổi tiếng trong tỉnh mình. Bỏ men vô cái gáo dừa bự, giã cho nhuyển như bột. Rờ thử cơm nếp, thấy còm âm ấm thì trộn men vô được. Trộn đảo cho kỹ, khi nào nó áo men đều rồi tuôn nó vô khạp da bò* để ủ. Nhà kháp rượu thường sắm rất nhiều khạp để dùng thêm trong việc như chứa nước, chứa hèm, cháo heo.
Cơm ủ rồi phải ém vừa vừa tay cho nó dẽ, sau đó khoét cái lỗ ngay chính giữa sâu tới đáy khạp, để sau này khi thăm chừng mình sẽ thấy nước rượu tươm ra và dâng lên tới đâu. Đậy khạp lại bằng cái bao bố tời* để cho nó có lỗ thở. Đặt rượu phải canh thời tiết, lựa ngày nấu cơm, chọn ngày mà kháp. Trời giông hay mưa nhiều ẩm lạnh, cơm ủ thì khó dậy, rượu kháp bị thất.
Chỗ để hàng khạp, cũng như nơi đặt ông lò để nấu phải sạch sẽ, kín gió, hổng ướt, hông khô. Bà con mình cũng đã từng kinh ngiệm về sinh môi chớ bộ. Thời gian ủ rượu phải từ 3 ngày đổ lên. Sau 2 đêm đầu, thăm thử thì sẽ thấy hơi ấm tỏa ra. Sau đêm thứ 3 thì phải chan nước rượu. Lấy một thùng nước ngọt (nước giếng) và sạch đổ vô cơm rượu, gọi là chan. Để đó thêm một đêm nữa mới đem nấu. Thường thường nấu cơm da vào buổi trưa, rồi bắt đầu kháp rượu vào giác sáng. Vậy, bấm ngón tay tính thử, thấy phải mất hết thảy là 4 ngày 4 đêm, mới có rượu uống. Nấu sớm hơn sẽ mất rượu, nhưng vì thời tiết xấu mà kháp trể 1, 2 ngày thì hổng sao. Khi thời tiết tốt, có thể nấu ngày 2 kháp.
3. Lên kháp. Cái ông lò kháp rượu có hình cong tròn như móng ngựa được đắp bằng đất thịt, đất sét móc ở trước ruộng. Bùn mà nhồi với trấu hay bui bui, làm ông táo, nó chắc hổng thua xi măng. Bộ đồ nghề cũng giản dị, ai cũng làm được. Trước hết là cái trã mẹ để nấu, bự cở 40 lít trở lên. Kế đó là cái trã con, dùng làm cái nắp đậy, úp ngược xuống, miệng con lọt lòng và nằm trong miệng mẹ, coi nó giông giống hình số 8. Trên đỉnh số 8, có khét cái lỗ tròn cở ngón tay để hơi rượu chui lên. Rồi tới cái ống dẫn hơi, làm bằng ngọn tre già, lớn hơn cùm tay một chút, nối liền nồi rượu với bồn tụ hơi. (Ống này làm bằng tre thì tốt hơn ống bằng nhôm). Bồn tụ, làm bằng cái diệm sành có trán men, miệng bự cỡ 2 gang, đặt cao hơn nồi nấu, trên cái kệ giống như ghế đai cao cẳng. Miệng diệm được đậy kín bằng cái thau nhôm lật ngữa, để chứa nước lạnh. Gặp hơi lạnh của thau nước, hơi biến thành rượu. Làm sao lấy rượu ra? Cần thêm một ống trúc con nữa. Nó chỉ có chút nị, nhỏ bằng ngón tay và dài một gang thôi, mà nếu hông có nó thì hổng thua gì bị bí đái. Đó là cái ống nhỏ giọt, đầu trên gắn meo một bên vô lỗ con dưới đít diệm, đầu dưới thòng xuống, chót ống được vót nhọn hình ngòi viết để tóm rượu lại thành sợi. Khi rượu ra thì hứng nó bằng chai lít, loại trắng trong, để có thể thấy biết chính xác màu rượu. Đó là toàn bộ hệ thống giàn kháp. Còn mấy chỗ ráp nối thì làm sao cho nó kín hơi? Phải trám lại bằng một loại khằn tự chế. Dùng xác hèm nhồi với cám chừng một hồi thì nó sẽ thành thứ hồ chắc như đất sét, trám mấy kẻ hở lại. Càng khô nó càng chắc, hổng nứt hổng xì bất tử.
Rồi thì tới cái mục sẽ cột giò chủ nhà suốt 4, 5 tiếng đồng hồ. Đó là mục nấu, hay cất. Nhưng thấy vậy mà hông phải vậy. Mới đầu cứ việc đốt lữa lớn cho mau sôi. Khi rượu sắp sôi thì bớt củi từ từ. Khi rượu bắt đầu nhỏ giọt thì bớt lửa tối đa. Giữ lửa sao cho rượu đều giọt là có thể bỏ đó cho ông lò giữ dùm để đi làm việc khác. Năm mười phút quay lại thăm chừng một lần. Khỏe re. Hay dở là ở cách cách chụm củi. Phải dùng củi khúc, chắc, lâu tàn, nhiều than. Chỉ cần 2 gốc tre khô là đủ nồi kháp. Y chang kiểu nấu cháo heo hay hầm nồi bánh tét Tết.
Kỵ nhứt là chụm lửa lớn, vì rượu sẽ bị hôi khét; mất ngon. Điều chỉnh lửa sao cho rượu nhỏ giọt thiệt nhặt, hay sợi thiệt nhỏ, đứt khoảng. Thăm chừng nước trong thau nằm trên diệm, thấy nóng thì thay nước, dùng cái gào lá múc đổ xuống khạp riêng, rồi múc nước lạnh thay vô. Rượu ra đầy chai, đổi chay, lấy ra phải sắp nó theo thứ tự chai nhứt, chai nhì, chai ba v.v. Chai rượu nhứt trong như nước mưa, mạnh trên dưới 60 chữ, thơm nồng, Martel cổ cao cổ lùn hổng đổi, Vodka Sakê lớn mồm to miệng cũng thua. Cho tới chai thứ tư thì bắt đầu đục dần.Nếu hỏi một kháp nấu được mấy lít rượu? Xin thưa, trung bình là 5 lít. Nếu nấu bằng gạo thì được 5 lít, hay ít hơn. Còn nếu nấu bằng nếp thì được hơn 5 lít. Mấy chai sau chót, kêu là rượu ngọn, cứ việc lấy cho dư ra để dành nuôi giấm.
4. Pha rượu. Để rượu cho nguội rồi đổ từng chai theo thứ tự 1, 2, 3 vô cái thau nhôm trắng và thiệt sạch. Dùng cái ca mũ khuấy khuấy, múc lên cao rồi đổ xuống. Múc lên đổ xuống nhiều lần. Nổi bọt trắng hếu. Nhìn bọt nhiều ít, quện hay rời, tan mau hay dẽo nhẹo, và coi độ trong đục là biết rượu ngon cỡ nào. Bạn thắc mắc sợ rượu hổng ngon hả? Cứ lấy ngón tay nhúng vô rồi sẹt hộp quẹt đốt thử, ngón tay bạn phát hoả ngay. Nếu thử vậy mà chưa vừa ý thì cứ lấy đồ đo mang theo đo thử. Từ 48 tới 50 độ y như rằng. Mấy bà kinh nghiệm cùng mình đó nghen. Quê tui thường pha rượu mạnh cỡ đó, bỏ mối mới đắc. Nó mạnh như vậy nên dân quê chuyên môn đốt rượu nướng khô mực, khô bò, tôm găm, khô cá khoai...
Riêng mấy bà còn nằm chỗ (ở cữ) thì đổ rượu vô dĩa, đốt lên để xông mặt, môi má bổng đỏ hồng như con gái muốn chồng. Hoặc, ngoài việc hơ bằng muối rang, mấy bà đốt thêm rượu hong khúc hạ bộ, sẽ liền da chắc thịt, xoá mất vết nhăn, trẻ lại chồng khen, khỏi cần đi điều trị vá may.
Phó sản của rượu. Như tui vừa nói, rượu ngọn đem nuôi giấm. Nuôi từ khạp này qua khạp khác. Loại giấm này ngon và tốt hơn giấm tiệm. Nhưng cái chủ ý của việc đặt rượu là lấy hèm nuôi heo. Tiền bán rượu lời rất ít, có khi chỉ huề vốn, phần lời chính là nồi hèm.
Nhà nuôi nhiều heo, trong chuồng ngoài sân đủ loại, ngoài thức ăn chánh là chão cháo thật bự nấu bằng gạo lứt, phải độn thêm chuối cây, cám và hèm nữa thì mới có lời. Nước hèm còn chút hơi nồng và có vị chua, kích thích bao tử ghê đi. Heo con được vài tháng tuổi thì tập cho nó ăn hèm. Khi nó ghiền rồi thì nó uống nước hèm thấy bắt thương. Heo nuôi hèm mau lớn như thổi, mập tròn như bong bóng, nhưng mà mập bọng và nhẹ ký. Ngoài ra hèm còn tẩy ruột heo, sán lãi cũng bị xĩn và trôi mất hết, nên hổng sợ heo bị có gạo.
Hèm! Heo ăn được thì người ăn được hông? Cũng làm láng luôn. Nè. Nước hèm nấu canh chua ngon hết xảy đó nghen. Nó đục ngào, chua lè mà vẫn còn vị ngọt ngọt, cho nên đem nấu cá ngác, trê trắng, lương, lịch thì phải kêu nó là cao lương mỹ vị mới xứng. Mấy thứ này thịt dai, đụng vô hèm nó mau mềm mà vẫn giòn và trở nên ngọt lạ kỳ. Kế tới là cá đuối, cá úc, cá lăng xếp hạng nhì. Còn cá lóc mà chơi với hèm thì kể như thua mềm mình. Đặc biệt dân miệt Cồn có món ba khía tươi nấu canh chua hèm. Khỏi chê, nó ngọt ngay ngọt ngất, vỏ giòn tan, mạnh răng nhai luôn xác mới đã.
Còn món nữa, đàng trong mình ít ai biết, là dùng xác hèm, chớ hông lấy nước, nhứt là hèm nếp than, đem nấu với cá, kêu là nấu bổng. Bạn tui, Bắc kỳ, nấu cho ăn thử. Nó bùi bùi ngót ngót, hổng chua, mà bốc hết kể. Cái món nấu bổng này cũng độc đáo như món bống (da heo sấy) ngoài ấy vậy.
Vài thứ rượu bà con. Các bạn thường nghe nói rượu đậu nành, rượu nếp than, lão tữu...mấy thứ đó đều là con cháu của rượu đế. Đậu nành đem rang cho vàng và thơm rồi xay thành bột to hột, đem gói vô miếng vải mùng, đợi khi lên kháp thì bỏ nó vô bồn tụ rượu. Rượu lên sẽ thấm đậu rang, chảy ra sẽ có màu vàng vàng, thơm phức. Nếu cần để thêm chút đường phèn. Vừa thơm vừa ngót ngót. Uống say chết bỏ. Có vậy thôi mà dám kêu là rượu đậu nành!? Má tui lời no nhờ đồ mắc dịch này.
Còn rượu nếp than thì sao? Nấu một nồi nếp than còn lứt làm cơm da, rồi ủ bằng men cơm rượu ngọt. Sau 3 ngày thì, thay vì chan bằng nước, mà lấy rượu trắng chan vô. Rồi ngâm đó đôi ba ngày hay 1 tuần cũng hổng sao, cơm rượu sẽ bã ra. Muốn xài thì lấy vải mùng lược lấy nước, chớ hổng có cái vụ cất hay nấu. Chất nước hổn hợp này đục ngừ và tím ngắt, vị nồng nồng ngọt ngay. Đó là rượu nếp than! Uống say hết ngồi dậy. Tuỳ lương tâm, người ta pha chất nếp than nhiều ít, thêm đường hay nước lạnh vô hay không.
Còn rượu lão tữu là rượu bổ, dành cho ông già bà cả và người mới sanh. Cách làm giống như rượu nếp than nhưng có thêm thang thuốc bắc bỏ chung vô ngâm. Chan rượu loại ngon vô rồi hạ thổ chừng vài tháng, càng củ hơn càng tốt. Hồi nhỏ tui ăn cắp uống hoài nhưng có lẻ vì chưa tới tuổi biết bổ, hay chưa có chỗ để bổ, nên chỉ nghe nó ngọt dịu như rượu con mèo tây cổ ẹo. Nói nhỏ nghe, má tui nhờ uống lão tữu dài dài nên sanh 13 đứa con mà vẫn còn khỏe như gái xuân.
Còn món rượu thuốc? Vị nào mà muốn cường dương bổ gân bổ cốt, muốn ngâm toa thuốc Minh Mạng hay ngâm rắn, rết, cắc kè, sâm nhung, hải mã, xuyên đỗ trọng, cao xương cọp, vân vân, thì tui bày cho, cứ vô giồng vô sóc mà mua rượu chính gốc loại chai nhứt hay chai nhì đem vìa ngâm cho đáng đồng tiền bát gạo, đừng mua rượu chợ.
Tới đây hai tui xin dứt vụ này. Xin kể tiếp món cốm dẹp.
2. COM GIEP. Cái món này nó lạ đối với bà con vùng ngoài, nhưng lại rất là phổ biến ở xứ ruộng, miệt Sóc Trăng và Trà Vinh của mình. Riêng đối với tui, nó là món ruột, vì tui sống ở trong ruột của nó: xứ Miên. Ừa, cốm giẹp là món ăn truyền thống của người Khmer và là đặc sản của Trà Vinh. Vụ này tui cũng rành 6 câu, xin kể sơ sơ cho bà con nghe chơi.
Mùa cốm giẹp. Mỗi năm, cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều...À không, bắt chước trật rồi. Phải nói như vầy mới trúng: Tui sẽ kể cho bạn nghe, hồi đó khi mùa đông vừa chớm, vào những buổi sớm mai, tui đi học trên con đường giồng cát bũn, bên phải là ruộng đồng bao la, bên trái là hàng rào tre xanh ngắt. Chân trần dậm cát lụp bụp mà mắt lo nhìn quanh quất đâu đâu. Khí trời mát rượi, cây cỏ nằm im, Những giọt sương trong veo còn ôm cái đuôi nhọn của muôn ngàn hoa lá. Hàng tre cúi đầu gật gù say ngủ, dưới gốc, dây bìm bìm giăng kín như đấp mền, điểm đầy bông tím, từng khúm rải rác, lan xa. Đối lại, bên kia đường là ruộng đồng đầy ắp lúa chín, thoang thoảng hương thơm, cũng đang còn ngủ, hột lúa cũng ngậm sương. Ở đây làm lúa mùa, loại thân cao, phủ khỏi đầu đám nhỏ chơi cút bắt trong đó, giờ chín thân nặng ngọn oằn. Có lẻ vài cơn gió chướng đầu mùa đã lướt qua, nhè nhẹ vuốt ve, nhẹ thôi, cũng khiến nó ngoan ngoản cùng nhau nằm rạp xuống ngủ, xuôi theo một chiều, gối đầu lên nhau, thấy toàn hột, mà hàng cuối dựa đầu lên bờ, coi thiệt tội nghiệp và dễ thong làm sao. Những mảnh màu vàng, màu nâu đen của nhiều loại lúa khéo trang trí cho tấm thảm mênh mông này. Có nhiều chỗ lõm xuống, gốc rạ trơ lên. Ruộng đã khô nước. Mùa gặt đã bắt đầu. Tháng 10 âm lịch rồi. Và, bấy giờ cũng chính là mùa cốm giẹp.
Cách làm cốm giẹp. Cốm giẹp làm ra từ nếp, nhưng phải là nếp non, hay nếp mới thì mới đúng điệu, chớ dùng nếp củ là trật sách vỡ. Khi nào cần, chạy ra ra đám ruộng vàng gặt vài bó đem vìa, loại nếp vừa già mà chưa chín tới, rồi trải đệm ra, lấy hai chưn đạp từng bó, trẹo qua trẹo lại, giũ lấy hột, đem sẫy sơ bằng cái nia, sẽ có thúng nếp mềm mềm thơm phức. Đem rang làm liền.
Nhưng trước khi vô chuyện giã hay đâm cốm giẹp, xin nhắc sơ qua vìa cái cối. Xưa có bài hát: “Trong đêm trăng, tiếng chày khua, ai hát vang trong đêm trường mênh mang..”. Ông Hoàng thi Thơ giã gạo kiểu đó là giã bằng cái cối vuông, làm bằng khối cây bự, nhưng lùn xịt, cao chưa tới một thước, cọng với cái chày mổ có cái cán tầm vong lụi vô ngang hông, tạo thành hình chữ T, dùng hai tay nắm cán bổ lên bổ xuống như đóng cọc nhà. Thỉnh thoảng gỏ chày nghiêng vô miệng cối cái kinh cho rơi gạo dính, đứng xa nghe cụp-kinh, cụp cụp-kinh, kinh-cụp, đó là tiếng chày khua, hay lắm. Mà cũng mệt lắm.
Thường phải giã chày đôi, cho mau. Kiểu giã này phổ biến ở vùng ngoài và người ta vừa giã vừa hát hò “là-hụ là-khoan, là-hụ là khoan” cho xì hơi bớt mệt. Trà Vinh thì khác. Cũng là cối vuông, hình dáng y chang vậy, nhưng bự hơn, giã lần cả giạ gạo, dùng chân đạp thay tay. Cái chày này bự lắm, nhưng được gắn vô đầu to của cái đòn bẫy làm bằng trọn 1 thân cây lớn gần 1 ôm, dài ba bốn thước, tạo thành hình chữ “L” hay cái ống điếu. Đó là chày đạp, nó được nâng bằng cả cái giàn cây cứng chắc, có lót sàn hai bên bàn đạp để đứng, hai ba người leo lên hổng nhằm nhò gì. Đứng trên sàn cao, chỉ cần 1 người lớn cũng đủ, dùng một chân đạp, chỉ có việc bước lên bước xuống, chày ngóc lên mổ xuống, một cái rột là gạo trắng liền. Đây nó chỉ kêu ình ịch mà hông khua cụp-kinh, cho nên lâu lâu người giã phải ngừng chân nhảy xuống, lấy cây chóng đầu chày cho hỏng lên, để trộn nghẹn, tức là lấy tay moi moi gạo khắn dưới đáy cối lên trộn cho đều và rời ra. Cối này tiện lợi hơn thấy rỏ, già trẻ lớn bé gì đều giã được ráo.
Làm cốm giẹp hổng có xài hai thứ vừa nói. Mà phải dùng cối dọt và chày dọt. Cái cối này được làm bằng thân cây tròn, cao cả thước, khoét cái lỗ rộng từ 2 gang trở lên, cạn sâu tùy thích, hông cối đẽo cho eo eo, đít cối giữ nguyên cái bàn tọa bự để ngồi cho vững. Cái chày cũng bằng cây tròn, bự hơn bắp chân, dài cở thước rưỡi, giữa thì eo thon làm chỗ nắm, hai đầu chờ vờ mum múm, đầu nào dọt cũng đặng.
Nhìn hai người đàn bà Bahnar hay Seđang miền núi, mình ngực trần, đứng đối diện nhau sát cối, cùng dọt chày đôi một cối lúa, dáng điệu nhịp nhàng, phía trước tưng tưng, cái mình ưởn ẹo tới lui, như 2 con hải mã khiêu vũ, tui đã từng nhớ nhà muốn đứt ruột, nhớ bà con tui ở quê đâm cốm giẹp. Nói vậy có nghỉa là cái cối dọt này hông phải của riêng ai, từ Bắc vô Nam, từ đồng lên tới núi, đâu đâu cũng biết xài. Nhưng mà, tui dám cam đoan, nghề đâm cốm dẹp là của riêng quê tui, vùng ruộng giồng Trà Vinh. Cái cối dọt là chánh. Còn phải có thêm nia, thúng, 1 cái vừng và 1 cái sàng.
Một người không thể làm được. Phải cần ít nhứt là 4 người để làm nhiều việc nối tiếp nhau, mà Mỹ kêu là phương pháp Taylor dây chuyền gì đó, thì mới mong làm được nhiều đem bán. Nè hén, 1 người đứng rang nếp, hai người kế đứng giã, và cuối cùng là 1 hay 2 người nữa lo sẫy, sàng và lựa thóc. Phải làm ngoài trời, tốt nhứt là vìa chiều hay đầu hôm, cho mát.
Đổ nếp vô cái mẽ nồi đất bự đang nóng trên bếp, chừng 1,2 lít mỗi lần, rang cho lẹ và đều tay. Khi nghe thấy vài hột bắt đầu nổ lốp bốp thì bưng lên trút vô cối, để đâm ngay. Hột cốâm chuồi nửa vời đó còn nóng hổi xốp xộp. Trong khi người kia tiếp tục rang mẻ kế thì hai người thợ giã phải dọt cho gấp cho nhanh, hông thôi nếp nguội sẽ bị cứng, giòn, mất dẽo, khó đâm. Mấy chày đầu nghe xột xột vì còn xốp. Rồi chuyển qua bụp bụp, cụp cụp, liên hồi. Đặc biệt là cốm dẹp dễ bị nghẹn, dễ bị dính nhau. Cho nên 1 trong hai người, tay này thì đâm, tay kia thì cầm cái đũa bếp tre dài cả thước nạy lia nạy lịa để chống mắc nghẹn. Tiếng nạy chen giữa tiếng chày dộng, rất ăn nhịp, tạo nên âm thanh ngồ ngộ: bụp, cà-xẹt, bụp, cà-xẹt, bụp... Hông biết tụi Tây có thấy vụ này hông mà họ chế ra nhịp disco nghe y chang. Giã xong cối, đổ cốm xuống nia, chuyển qua khâu thứ 3, để sàng sẫy cho sạch trấu, bóp rời hột dính, rồi vừng để bắt cốm lép.
Nếu làm vào mùa gặt, dùng được nếp non, hột cốm có xanh lợt hổng đều, nhưng đó mới chính là loại cốm ngon, nó dẽo mềm và thơm phức, để lâu hổng thiêu hổng hư. Còn nếu làm trái mùa, dùng nếp già khô, thì phải ngâm trước nhiều giờ cho nếp mềm trước khi rang, nhưng nó cho ra loại cốm màu trắng ngà đều trân, mà lại giòn và lạt xèo. Dân buôn vì mưu câu lợi nhuận thường bỏ màu, nhuộm xanh, biến cốm thành màu cỏ non xanh tận chân trời, coi thấy phát ghê. Ai mà khùng mới mua loại này.
Sau đây nói vìa cách ăn cốm giẹp. Cách ăn cốm giẹp thì nói hổng hết. Tui xin phân loại làm 2 cách: Cách thứ nhứt theo nghi thức lễ ăn ót của đồng bào tui, người Khmer, và 1 loại khác phàm phu tực tử của người An Nam mình.
Lể Ok ombok của đồng bào Khmer. Mùa cốm giẹp chính là mùa ót-ombok. Mình kêu gọn là mùa ăn ót. Chỉ ở Sóc Trăng và Trà Vinh mới có. Cốm giẹp (tiếng Miên kêu là Ombôk) là món lễ vật chính, như kiểu bánh chưng bánh dày của con cháu Hùng Vương. Hằng năm, sau khi xong mùa màng (xứ mình chỉ làm ruộng 1 mùa, tháng 9 tháng 10 là chín hết), đồng bào Khmer tổ chức nhiều lễ lộc, kể từ tháng 9 ta trở đi, nào là He ca thinh, Đuônn Ta rồi tới ót-ombok*.
Lễ ăn ót tổ chức đúng ngày rằm tháng mười. Mục đích là tạ ơn trời đất, giúp mưa thuận gió hòa, được mùa no ấm, cùng thần thánh đã phò hộ cho mạnh giỏi bình an, và cùng lúc cầu xin được phò hộ tiếp cho mùa tới. Sau lễ ăn ót, đồng bào tui còn thả thững lên trời cũng với điều cầu nguyện tương tự như trên. Hầu hết mỗi nhà tự đâm cốm giẹp để cúng. Nhiều nhà ở chung vuông thì gom lại cúng chung cho xôm tụ. Chuẩn bị xong, đợi trăng lên khỏi ngọn tre, gia đình đặt bàn thờ giữa sân, sân rất rộng và sạch vì đã được dọn dẹp để làm bãi đạp lúa, trên bàn có nhang đèn, cốm giẹp trộn dừa, trái cây, dừa xiêm, bình bông, nước mía ép v.v. và cây mấy mía tươi lá cong cong để trang trí. Ít có ai cúng bánh, vì đây từa tựa như cúng ông thiên. Phía sau có trải tấm đêm bự. Ông Dượng tui, người Khmer chánh hiệu, sau khi cúng vái rất lâu, lẩm bẩm bằng tiếng Miên mà tui chưa hiểu nổi, rồi mới kêu gia đình con cháu đứng hay quỳ xuống sau bàn thờ, nhắm hướng mặt trăng mà lạy.
Sau cùng là cái mục ót. Cái muc ót nay có phải dành ưu tiên hay bắt buộc cho con nít? Trong khi người lớn được miễn, chỉ đứng coi. Còn tụi nhỏ như tui, dù đang chạy giỡn vòng vòng, đều bị kêu lại, bắt quỳ gối xuống, ngước mặt lên, hả họng ra cho bự, rồi thì được một bụm cốm trút vô miệng, đầy cứng. Trời đất. Mắc nghẹn chết. Nhưng được cưng mới cho ăn nhiều như vậy. Aên nhiều được phước nhiều. Như ăn bánh thánh trong nhà thờ? Đằng kia chỉ le cái lưỡi ra nhận mình Thánh, chút nị. Đằng này phải ngốm phùng mang!? Phải nghiêm trang nhận lấy, phải lấy tay bụm lại rồi nhai chậm chậm, nuốt vô từ từ. Tinh hoa phước lộc trời cho mà. Tiếng ót, phát âm Khmer cho thật trúng là ook, có nghỉa là ăn một dốc đầy miệng, như Hai tui vừa được ăn. Đó là nghi thức. Chỉ cần một ót như vậy là đủ lễ. Rồi sau đó muốn ăn kiểu nào thì ăn.
Cốm dẹp mới, trộn dừa rám nạo, ủ nước mía mềm mịn, ngon hết biết. Hoặc chan nước mía vô làm chè, kiểu ăn corn flake sữa tươi, cũng hấp dẫn chưa từng. Còn nước mía! Bà Dì năm của tui dùng cái máy ép giống cái khuôn bàn bào thợ mộc, rồi bỏ từng lóng mía ngắn như khúc mía ghim vô, lấy miếng đòn bẫy giẹp như lưỡi bào, nạy nạy, nước mía chảy xuống diệm ro ro, mặc sức uống. Mùa trăng mùa gặt tháng mười và Ok-ombok là vậy đó bạn ạ. Nhắc lại mà thèm mà nhớ. Hồn ở đâu bây giờ?
Còn cách ăn cốm giẹp của người Việt thì nói ra chắc sẽ thừa. Tùy khẩu vị, biến chế ra đủ thứ. Đây tui chỉ dám khoe mấy điều. Trước hết là bà nhạc của tui chuyên nghề bánh tét, bánh ú, bánh dừa, một thời vang bóng, mà trong đó hổng thiếu món bánh tét cốm giẹp. Bánh tét cốm giẹp nhưng đậu xanh! Tui dám dứt 1 lần 2 xâu, tức 1 chục cái, tỉnh bơ. Đặc sản Trà Vinh đó bà con.
Rồi tới chuyện bà chị dâu vợ bất hủ nữa. Có đồng hương TV đã nhắc tới tiếng rao hàng ngày xưa mà đành quên mất tiếng rao của chị vợ tui. Xin nhắc lại. “Ai ăn đậu đen nấu đư.ư ừ ờ.ờng hôn” Tiếng “đường” vang lên cao tới ngọn cây dầu lớn. Chè đâu đen mà rao kiểu vậy nghe mới đã. Đó là về ban đêm. Lúc đó chưa làm em chị, ngồi học bài mà nghe chị rao thì tỉnh ngủ, và còn sửa lại “ Ai...em giữa đường” gì đó, rồi xúm nhau cười như quỷ xứ. Nhưng mà chưa bằng cái câu rao sau đây, vìa cốm giẹp, bán ban ngày, thường vào xế trưa, như vầy nè: Ai ăn chuối- chưng- chuối- xào- dừa- sa- kê- cốm- giẹp- trộn- dừa đường ca.a.at.át hôôôn. Nghe đã quá xá đã. Tiếng rao dài nhằng, cao vút, trong veo, ngọt còn hơn đường phèn nữa chứ đừng nói đường cát.
Cốm giẹp, dù đã trộn dừa nạo, ướp nước dừa tươi, trộn đường cát, đã “cực kỳ” ngon rồi, mà lại chan nước chuối chưng nước cốt dừa vô nữa, thì ây dôi, mèn ơi, chu choa...ăn thử một lần sẽ nhớ luôn mấy kiếp. Đó có lẻ là món độc chiêu của bà chị nghèo nàn, ngày lẩn đêm vất vả buôn gánh bán bưng, một trong những người chị của đất Trà Vinh thân yêu xa lắc. Rồi còn cái trái sa kê nữa. Sa kê trộn dừa. Ôi! Càng nhắc lại càng cách chi rựa.
Tản mạn vìa cốm giẹp. Sau cùng, xin phép bà con cho tui nói thêm chút xíu. Là hổng biết làm sao mà nghề cốm giẹp lại bùng nổ sau 75, nhứt là đầu vào thập niên 80. Gạo hông có đủ để ăn mà cốm dẹp bán đầy trời, xuất tỉnh lan đi khắp nước. Chở hơn 5, 10 kí là bị tịch thu, nhưng cốm giẹp lại lọt khe. Có lẻ bà con mua cốm giẹp ăn trừ cơm. Hay chính nó đã trỡ thành món ăn quý hiếm giàu chất lượng dinh dưỡng đối với những “dân tộc tiến bộ” nào đó. Còn bọn vượt biên phản quốc thì mua cốm giẹp làm lương khô, lềnh bềnh trên biển cả 2 tháng vẫn chưa hư. Tui hổng tìm ra câu kết.
Riêng phần cá nhân tui, nhờ cái đà đó, cũng đã kiếm ăn được chút chút. Số là sau khi đậu tiến sỹ sơn lâm, vìa nhà bị coi như người cùi sứt móng, ít ai dám lại gần. Và giữa cái thời XHCN tiến nhanh tiến mạnh lên đỉnh cao bo bo đó, tui cũng thành vô sản chiên giòn, hổng còn gì ráo ngoài quần xà loỏn và một cái áo ka ki công nhân viên củ kỷ do thằng em cho. Tui bèn mượn chiếc xe đạp đầm và cái quần dài của thằng em vợ, đi buôn trong sóc. Ngày đạp cả trăm cây số trên những nẽo đường làng tồi tệ. Tui cỡi xe, rồi xe cỡi tui.
Bán bột ngọt, thuốc hút, trà, kim chỉ, nước tương v. v., bận vìa thì lén giấu vài kí gạo, đi luồn đường trong. Đem vìa nuôi con. Có lần ghé nhà em tui dưới quê, tui nghe tiếng đâm cốm giẹp rân trời. Hỏi ra, toàn là bà con tui, họ đang làm để bán. Tui bèn mua chịu, hôm sau xuống trả, chở bằng xe đạp lên tỉnh bỏ mối. Lần đầu chở 2 giạ. Ngon hơ. Lần 2 cố chở 3 giạ, đường quá xấu, xe đạp gẫy, đem lại ông ba Chập-lác, ba của anh Phước và Lộc, ở đường số 3 hàn lại, đi tiếp. Xe lại bị gẫy trở lại. Đành hàn sơ trả cho chủ, cắn môi mắc cở. May trong nhà còn cái sườn xe hiệu anh-sông (alcon) củ từ thời Bảo Đại treo trên giàn khói. Lấy xuống lau chùi sơ, kiếm 2 cái bánh ráp vô, hông thắng, hông vè, vừa chạy vừa la vô vô, đi làm ăn tiếp. Lại bị gẫy nữa. Hai chiếc xe đạp tội nghiệp, bắt nó chịu khổ hơn tui sao đặng. Cái quần dài thì bị rách đáy, làm sao mà trả, giựt luôn. Thằng em vợ cười thông cảm.
Cốm giẹp! Ôi cốm giẹp. Tưởng nó giúp tui, hông dè nó làm tui choáng váng. Bây giờ, tui chỉ dám nhớ thương ok-ombôk mà thôi.
Tôi vừa kể cho bà con cô bác nghe chơi về 2 loại đặc sản làm từ lúa gạo, nét độc đáo của đồng quê Trà Vinh. Chuyện đồng quê kể biết cho tới chừng nào mới hết. Thôi, tới đây thì: “Tình quê góp nhặt đã dài“ Mua vui cũng đặng một vài.. phút giây.“Hẹn quang năm cũng mùa này... Giờ thì xin kiếu, chia tay... cũng vừa. /.
Hai Quẹo Tuyết Lê, Bính Tuất niên, 2006.
Cước chú:
(*) Bài cổ nhạc Nam phần, không có lời, thường dùng để đờn bái tổ, mở đầu tuồng hát cải lương, gọi là bài Tam pháp nhập môn. Trẻ con còn đặt thêm lời để giỡn như sau:
Chị này là chị đưa đò.
Chị này là chị có con.
Có con chị có con chị đò.v.v.
Xự hò xề xự xang hò..gì đó.
(*) He ca thanh, hay He Takhanh cũng vậy, là lể làm phước và dâng bông, cúng dường cho chùa. Sau mấy ngày dựng rạp tiệc tùng cho chòm xóm ăn free tại nhà, là dâng bông. Những cây bông đội trên đầu những cô thiếu nữ lủng lẳng đơm đầy vàng bạc, để dâng đi. Họ nối đuôi từng đoàn sau giàn trống nhạc ngủ âm khlên-xiêm tùng tung lên chùa lể bái. Còn Đuônn Tà là lể tạ ông bà, tổ tiên. Chi-Đuônn là Bà, Chi-Ta là Ông.
(*) Bao bố tời. Là bao đong lúa, bằng bố, ngoài kia kêu là bao tải bằng đay. Còn kêu là bao chỉ xanh hay bao tạ, vì nó có hiệu in màu xanh, có thể chứa 3gịa3 lúa, khoảng 100kí, hay chứa gạo, lưng bao, cũng vừa đủ 100k.
(*) Khạp da bò. Khạp trán men màu vàng da bò, chứa được 2 đôi nước, đôi 40lít X 2= 80 lít. Khạp đường= 1 đôi 40lit. /
Rau Càng Cua
Hai Quẹo kể
Trời tháng bảy rồi đó ngheo bà con. Ở cái xứ nào đó có tháng bảy mưa Ngâu chứ tại Trà-Vinh tui thì chỉ thấy mưa dầm. Bây giờ lúa mùa đã cấy xong. Hầu hết dân ruộng đang nghỉ xả hơi. Trời mưa! Mưa cho lúa tốt cho cây xanh. Những trận mưa già rào rào dầm dập suốt ngày. Người lớn bị nhốt trong nhà, đám con nít thì tự do chạy nhảy, vui chơi ngoài sân. Tắm mưa. Ư`a, ở truồng tắm mưa, mê lắm! Tắm tới quên hết giờ khắc. Ông trời chạy trốn hay đang đấp mền ngủ đâu rồi? Buổi trưa hay buổi chiều bầu trời đều xám ngắc như nhau. Hai tui thì cứ việc tắm, cứ việc giỡn, cho tới chừng nào bị đánh bù-cạp, môi tái xanh, ngón tay móp xọp, thì mới chịu chạy vô. Cũng có khi bị má cầm roi dọa thì mới bỏ cái tật mê mưa.
Bữa nay má đang nấu cơm. Thay vì cầm roi, má đưa cho cái rổ, biểu chạy ra bui tre ngắt rau càng cua vô luộc ăn cơm. Hái rau càng cua vô luộc ăn? Chắc quí vị gốc thị thành nghe nói vậy thì lấy làm lạ. Rau càng cua luộc? Dà. Mà đâu phải có bây nhiều thôi. Còn nhiều thứ nữa, rau mờ-om, rau đắng ruộng, rau bồng-bồng chẳng hạng, mấy thứ thường dùng ăn sống, cũng phải luộc ăn cho khỏi phí của trời. Nó đều là rau hoang, do trời đãi. Nhiều quá, phải nhổ bỏ để giữ phân cho lúa.
Rau càng cua cũng vậy, nếu hổng ai ăn thì cũng bỏ đó cho nó già nó rụi, uổng lắm. Mùa mưa thì dưới nước cá tép thiếu gì, trên bờ thì ngàn trùng rau cỏ. Trà Vinh tui hồi trước khi được “tiếp thu” và bị phỏng ...thì như vậy đó. Đặc biệt cái cọng rau hiền khô dễ thương được biết tới và mến chuộng hơn hết lại chính là rau càng cua. Nó mọc dày khắp các buội tre quanh vuông ở miệt giồng.
Tui xách rổ chạy ra bui tre sát nhà, quơ từng nắm thiệt bự nhổ lên, trốc rễ, nhẹ re, rồi lấy tay nọ nắm đầu kia, vặn một cái là đứt làm hai, bỏ khúc gốc, lấy khúc ngọn. Một cái rột là có đầy rổ rau non èo sạch trơn. Bưng chạy đi đứng dưới máng nước mưa ở đầu song sốc sốc cho trôi cát rồi đem vô. Má tui đang nấu sẳn nước, má bỏ rau từ từ vô nồi nước đang sôi. Như hóa phép, một rổ rau vun từ từ xộp xuống teo lại còn chỉ một dĩa bàn. Rồi là một bữa cơm đạm bạc ngay trong nhà bếp, bên cạnh ông táo còn tỏa lửa âm ấm khói cay cay và ngọn đèn dầu ống khói sáng trưng. Mưa vẫn rồ rồ trên nóc nhà. Eănh ương uênh-oang xa xa...
Cơm nóng hổi với rau càng cua luộc chấm nước cá kho, có dầm ớt hiểm xanh, vậy thôi. Lâu cắn trúng một miếng ớt, nghe kim chích da đầu, ngứa rêm chưn tóc, nóng râng vành tai và tươm tươm mồ hôi trán. Am cúng quá. Nồi cơm bự bị vét hông còn một hột cơm cháy. Dà! Tui đã được lớn lên một phần nhờ những bữa cơm kỳ cục như vậy!
Rau càng cua! In như là nó vẫn còn trong máu tui đây. Bởi vậy bây giờ, sống ở xứ người, thay vì thèm vịt quay heo khìa chả lụa mà có hồi phát nhớ lại rau càng cua tới bắt nằm chiêm bao. Rồi tui cố gắng lần mò tìm cho đươc hột giống để trồng. Nhưng mà, rau càng cua tự nó mọc thì trời cản cũng hông nổi chớ mình mà trồng nó thì coi bộ hơi căng.
Có lẽ ít có ai mà hổng biết rau càng cua, nhứt là những người sống ở vùng quê miền Nam. Nó chẳng phải là đặc sản của Trà-Vinh quê tui đâu. Ở miệt trên, vùng Gia Định đổ lên, đâu cũng có. Nhưng ở đó người ta kêu nó là Rau tiêu. Vùng đó là đất gò, như Hóc Môn, Trãng Bàng, Tây Ninh chẳng hạng, người ta trồng nhiều tiêu và trầu. Có lẽ vì cái vòi và lá coi giống giống trái tiêu lá tiêu nên nó bị kêu như vậy. Còn bà con tui thấy chùm bông cong cong giống cái ngoe cua rôi kêu nó là rau càng cua? Đúng là xứ của cá tép tôm cua! Rau càng cua sống được ở nhiều thế đất lắm, trên liếp dừa miệt vườn, trên giồng khoai miệt giồng, cạnh buội chuối, sát gốc bầu, đâu đâu cũng có. Ngoài ra nó còn mọc trong chậu kiểng, bên gốc cây và cả trên nóc đình, trên mái ngói âm dương hoặc trên vách tường nứt vân vân. Đất cát đất thịt nó hổng sợ, mà nó chỉ sợ chỗ ẩm ướt hay ngập nước. Tội nghiệp ghê! Nó cần cù và thiết tha với kiếp sống như vây đó. Nhưng để ý một chút thì thấy cái chỗ lý tưởng cho nó chính là vùng đất giồng, khô ráo như Trà-Vinh vậy.
Dưới gốc tre mát mát, lá tre khô rụng dày cả gang rồi mục ra thành đất mùn xốp xộp; mưa xuống, chỗ đó rau càng cua mọc tốt phải biết. Dày mịt, khít rịt, xanh um, như cái mền, có khi nó phủ kín hết gốc tre và ôm mất luôn mấy mục măng non. Cọng nào cọng nấy dài 5, 6 tấc, thẳng tưng, non èo, giòn rụm. Nó cần mưa, thích ẩm cho nên mỗi năm nó chỉ nhởn nhơ có một lần theo mưa. Rồi mùa nắng khô, hột nó rụng xuống và nằm ngủ 6 tháng liền trong cát trong lá mục để chờ mưa năm tới. Cái hột tròn vo nhỏ rức như hột cát đó nằm chung với cát thì đố có con mắt nào nhận ra. Gió thổi mạnh một cái là nó bay theo bụi theo cát lên trời, rồi đáp xuống ngọn cây, đậu trên nóc đình, khỏe re. Rồi khi nó mọc thành cây, cái lá mướt rượt của nó mới thiệt là mặn mà tình tứ làm sao. Hình trái tim! Có người biểu nó giống lá trầu lá tiêu tí hon? Dân cờ bạc thì nói nó giống nút Bích, ách Bích bài cào tây gì đó. Tui thì thích nói nó hình trái tim hơn. Mặt trên lá màu xanh mướt, mặt dưới xanh bạc, nham nhám. Thân nó xanh xanh, trong trong, như cẩm thạch, nhưng mà bở rệu giòn rụm như cọng bông súng lột rồi. Nếu bức một cọng bỏ vô miệng nhai thử thì chỉ thấy nó ngòn ngọt pha chút vị the the nồng nồng của trầu, mọng nước như bông súng, nghe nó là lạ mà hổng dám quả quyết là ngon cỡ nào. Vậy mà sao nó lại hấp dẫn quá chừng? Có phải vị nồng làm cho say và bắt ghiền như ghiền trầu? Cũng chưa chắc là tại hay nhờ cách chế biến nó mới ngon.
Ở đây hổng nói tới việc dùng nó làm ghém chung với lá cát lồi, đọt sộp, đọt xoài, mã đề, đọt cơm nguội, rau thơm, v. v. để ăn bánh xèo, bánh giá (bánh cống), mà chỉ nhắc món độc chiêu của nó mà thôi. Rau càng cua bóp giấm. Làm gì thì cũng phải bóp cho nó xộp cái đã, như kiểu bóp rau cresson. Rồi tùy giàu nghèo mà có phủ thêm lên trên, hoặc là lớp thịt bò xào, hoặc mấy lát trứng luộc, hay ít tôm khô giã nhuyễn. Hà tiện hơn thì chỉ rắc lên chút đậu phộng rang đập giập, hoặc, hổng cần gì ráo, chỉ dùng rau tươi nguyên chất mà chấm nước tương, nước chao, nước cá kho hay mắm kho. Chỉ có vậy. Đơn sơ, đạm bạc. Đặc biệt ở miệt giồng quê tui, còn thêm món càng cua luộc, như tui nói hồi nảy. Dù ăn theo kiểu cách nào nó cũng đều hấp dẫn khó quên. “Cái đơn giản là cái đẹp nhứt”. Mình làm bộ nhái theo, nói như vầy: “An uống đơn giản là cái ăn ngon nhứt”.
Nhưng lý do mà tui mê loại rau này chắc hổng phải ở chỗ ngon dở mà còn nằm ở chỗ khác. Rồi bà con sẽ hiểu tại sao mà tui cứ rị mọ ráng trồng cho được nó ở cái xứ mà thời tiết tréo ngoe lạ quắc như vầy.Tui có anh bạn cố gầy cho được mấy cọng “rau-tiêu” để làm thuốc. Aũnh nói rằng rau tiêu trị mụn bọc công hiện thần kỳ. Đem giã với chút muối rồi đấp lên mụn bọc hay mụn bạc đầu, nó sẽ rút hết mủ và bữa sau mụn sẽ xẹp mất. Đó là môn thuốc bí truyền của dân Gò Dầu biên giới.
Còn tui, trồng nó vì nhớ. Tui đã từng ươn mấy lần hột giống được gởi lén từ Việt Nam qua, đều thất bại thảm thê. Sau này, tình cờ có được một ít hột từ rau trồng tại chỗ do người quen khác cho, kèm theo lời chỉ dẫn cách trồng thì tui đã lập được “thành tích tốt” để kể cho bà con nghe đây. Nè hén. Mình đừng phơi hột ngoài nắng gắt, nó sẽ chết khô, mà chỉ rắc nó vô thùng giấy, phơi trên giấy chớ hông phơi trên đồ sắt, chỉ cần để trong hàng ba vài bữa nó cũng khô mà hông hư. Xong bỏ vô ve đem cất. Đợi chừng nào có thời tiết ấm như Việt Nam thì đem ra trồng. Cái thời hạn gọi là quá “đát” của hột giống này chắc hổng quá 2 năm.
Ở Úc trồng rất dễ. Nhưng ở Canada, Bắc Mỹ Ngũ Đại Hồ hay Na Uy lạnh cóng coi bộ khó. Thú thiệt là tui bù trất về vụ cất nhà kiếng, đặt máy sưởi. Ở xứ ấm như Ốc-sờ-trây-li-a này, vấn đề thổ nhưỡng hông quan trọng lắm, chỉ cần đất xốp trộn với một chút potting-mix bán sẳn trong tiệm, hoặc với chút cỏ mục và chút phân chuồng thật quay là đủ. Chọn chổ nào gần đám cây để có bóng mát và độ ẩm cao một chút. Lấy hột giống trộn với cát mịn, gần 100%, tức là trôn nhiều cát vô. Rối nắm từng nắm cát hổn hợp đó rắc đều trên ô đất đã dọn. Rồi rắc thêm lớp mỏng đất thường lên trên. Rồi lấy giấy bìa đậy lại vài hôm. Mỗi ngày tưới nước sương sương như mưa phùn. Chỉ non tuần lễ là nó nẩy mầm lẳn mẳn chi chít như giá con, thấy mê luôn. Vài tuần sau là có đám rau càng cua. Nó sợ nắng như con gái nhà giàu và thích ở chỗ cao ráo mà lại có độ ẩm nhiều. Lớn lên trong bóng mát nó sẽ trắng ngọc trắng ngà pha màu cẫm thạch, thân dáng thon dài mảnh mai dễ thương lắm. Nếu phơi nắng quá nó sẽ bị lùn, nhánh nhóc lung tung và mau có bông, ăn có vị nồng và cay nhiều hơn. Chỉ cần gầy được mùa đầu tiên, mấy năm sau tự nó mọc lên hoài hoài y tại chỗ cũ, miễn là mình đừng đào xới làm xáo trộn vùng đất hứa của nó một cách quá đáng. Nếu khéo chăn bón, sau nhà có thể có vườn rau càng cua ăn tới quên lững chuyện nhớ nhà. Bà con cô bác làm thử coi. Chúc bà con gặt hái được... chút niềm vui.
Cũng may mắn, bên nhà rau càng cua dù bị hiếm nhưng chưa bị diệt chũng, chưa được-giải-phóng hay tiếp-thu-toàn-bộ. Chỉ tội cho rau đắng ruộng, hồi trước nó bị coi là cỏ hoang, làm mất công nhà nông không ít. Vừa nhổ bỏ vừa chửi thề. Rau mờ-om cũng vậy. Nhưng bây giờ thì nó đi đâu gần hết, trở nên “hiếm-quí”. Có lẽ vì nó tranh thủ góp công vô nghĩa vụ xóa-đói-giảm-nghèo, cái đói hổng biết ai mang từ đâu tới, làm bà con mình đói theo. Và cứ y như trong kinh: “Đói ăn rau, đau uống thuốc”. An sạch trơn rau. Sạch sành sanh. Đau thì uống rượu cho chết luôn.
Rau đắng ruộng được “nâng cấp” với “chức năng” quan trọng vậy đó, và nó nghênh ngang nhảy vô tô cháo cá của những người như đói-ăn từ mấy kiếp, đói từ tiềm thức, đói từ trong xương, giờ họ thích nhâm nhi rắn rít đuôn dế châu chấu bù cào ở quán bên đường.
Rau mờ-om thì nhảy vô tô phở lai hũ tíu miệt vườn hay trong sóc. Chỉ có rau càng cua được tha vì nó trốn trong vuông tre người dân quê, khó có ai ngang nhiên vô đó mà lặt. Nhưng nó cũng sắp hiếm rồi. Vì nó đang trở thành tấm nệm lót cho tôm chiên, gà rô-ti chình ình bên trên, để phục vụ “du lịch sinh thái”.
Cũng buồn!
Ở đời có nhiều cái rất nhỏ nhặt tầm thường thì mình thấy nhàm, rồi quên lững nó đi. Chừng nào mất nó rồi mình mới biết quí biết nhớ. Sống tha phương, nhiều khi nhớ mấy cọng rau quê mùa bình dị thân thương đó hung lắm. Nhưng gẫm đi gẫm lại, nhớ là chuyện nhỏ. Cái liên tưởng mới vĩ đại. Nỗi nhớ mới phát thì nhỏ xíu như mụn cám, rồi nó ăn lan ra, truyền nhiễm qua vùng chuyện khác, biến thành ra chuyện lớn. Nó bao phủ cả gia đình, làng mạc, ruộng đồng. Nó đưa mình về mái nhà lá đơn sơ, những bữa cơm gia đình đầm ấm, gợi nhớ lại cuộc sống yên bình, một quê hương xa mút tí tè. Nó dám ôm luôn cả vùng trời kỷ niệm! Tất cả mấy cái vĩ đại như vậy bỗng dưng bị giựt dậy chỉ nhờ một cọng rau càng cua tí tẹo. Lạ thiệt. Rồi bỗng dưng tui nhớ món rau càng cua luộc quá chừng chừng, và thương nhớ má tui tới thót ruột!!!
HQ, Central Coast
2/2008.
Hai Quẹo kể
Trời tháng bảy rồi đó ngheo bà con. Ở cái xứ nào đó có tháng bảy mưa Ngâu chứ tại Trà-Vinh tui thì chỉ thấy mưa dầm. Bây giờ lúa mùa đã cấy xong. Hầu hết dân ruộng đang nghỉ xả hơi. Trời mưa! Mưa cho lúa tốt cho cây xanh. Những trận mưa già rào rào dầm dập suốt ngày. Người lớn bị nhốt trong nhà, đám con nít thì tự do chạy nhảy, vui chơi ngoài sân. Tắm mưa. Ư`a, ở truồng tắm mưa, mê lắm! Tắm tới quên hết giờ khắc. Ông trời chạy trốn hay đang đấp mền ngủ đâu rồi? Buổi trưa hay buổi chiều bầu trời đều xám ngắc như nhau. Hai tui thì cứ việc tắm, cứ việc giỡn, cho tới chừng nào bị đánh bù-cạp, môi tái xanh, ngón tay móp xọp, thì mới chịu chạy vô. Cũng có khi bị má cầm roi dọa thì mới bỏ cái tật mê mưa.
Bữa nay má đang nấu cơm. Thay vì cầm roi, má đưa cho cái rổ, biểu chạy ra bui tre ngắt rau càng cua vô luộc ăn cơm. Hái rau càng cua vô luộc ăn? Chắc quí vị gốc thị thành nghe nói vậy thì lấy làm lạ. Rau càng cua luộc? Dà. Mà đâu phải có bây nhiều thôi. Còn nhiều thứ nữa, rau mờ-om, rau đắng ruộng, rau bồng-bồng chẳng hạng, mấy thứ thường dùng ăn sống, cũng phải luộc ăn cho khỏi phí của trời. Nó đều là rau hoang, do trời đãi. Nhiều quá, phải nhổ bỏ để giữ phân cho lúa.
Rau càng cua cũng vậy, nếu hổng ai ăn thì cũng bỏ đó cho nó già nó rụi, uổng lắm. Mùa mưa thì dưới nước cá tép thiếu gì, trên bờ thì ngàn trùng rau cỏ. Trà Vinh tui hồi trước khi được “tiếp thu” và bị phỏng ...thì như vậy đó. Đặc biệt cái cọng rau hiền khô dễ thương được biết tới và mến chuộng hơn hết lại chính là rau càng cua. Nó mọc dày khắp các buội tre quanh vuông ở miệt giồng.
Tui xách rổ chạy ra bui tre sát nhà, quơ từng nắm thiệt bự nhổ lên, trốc rễ, nhẹ re, rồi lấy tay nọ nắm đầu kia, vặn một cái là đứt làm hai, bỏ khúc gốc, lấy khúc ngọn. Một cái rột là có đầy rổ rau non èo sạch trơn. Bưng chạy đi đứng dưới máng nước mưa ở đầu song sốc sốc cho trôi cát rồi đem vô. Má tui đang nấu sẳn nước, má bỏ rau từ từ vô nồi nước đang sôi. Như hóa phép, một rổ rau vun từ từ xộp xuống teo lại còn chỉ một dĩa bàn. Rồi là một bữa cơm đạm bạc ngay trong nhà bếp, bên cạnh ông táo còn tỏa lửa âm ấm khói cay cay và ngọn đèn dầu ống khói sáng trưng. Mưa vẫn rồ rồ trên nóc nhà. Eănh ương uênh-oang xa xa...
Cơm nóng hổi với rau càng cua luộc chấm nước cá kho, có dầm ớt hiểm xanh, vậy thôi. Lâu cắn trúng một miếng ớt, nghe kim chích da đầu, ngứa rêm chưn tóc, nóng râng vành tai và tươm tươm mồ hôi trán. Am cúng quá. Nồi cơm bự bị vét hông còn một hột cơm cháy. Dà! Tui đã được lớn lên một phần nhờ những bữa cơm kỳ cục như vậy!
Rau càng cua! In như là nó vẫn còn trong máu tui đây. Bởi vậy bây giờ, sống ở xứ người, thay vì thèm vịt quay heo khìa chả lụa mà có hồi phát nhớ lại rau càng cua tới bắt nằm chiêm bao. Rồi tui cố gắng lần mò tìm cho đươc hột giống để trồng. Nhưng mà, rau càng cua tự nó mọc thì trời cản cũng hông nổi chớ mình mà trồng nó thì coi bộ hơi căng.
Có lẽ ít có ai mà hổng biết rau càng cua, nhứt là những người sống ở vùng quê miền Nam. Nó chẳng phải là đặc sản của Trà-Vinh quê tui đâu. Ở miệt trên, vùng Gia Định đổ lên, đâu cũng có. Nhưng ở đó người ta kêu nó là Rau tiêu. Vùng đó là đất gò, như Hóc Môn, Trãng Bàng, Tây Ninh chẳng hạng, người ta trồng nhiều tiêu và trầu. Có lẽ vì cái vòi và lá coi giống giống trái tiêu lá tiêu nên nó bị kêu như vậy. Còn bà con tui thấy chùm bông cong cong giống cái ngoe cua rôi kêu nó là rau càng cua? Đúng là xứ của cá tép tôm cua! Rau càng cua sống được ở nhiều thế đất lắm, trên liếp dừa miệt vườn, trên giồng khoai miệt giồng, cạnh buội chuối, sát gốc bầu, đâu đâu cũng có. Ngoài ra nó còn mọc trong chậu kiểng, bên gốc cây và cả trên nóc đình, trên mái ngói âm dương hoặc trên vách tường nứt vân vân. Đất cát đất thịt nó hổng sợ, mà nó chỉ sợ chỗ ẩm ướt hay ngập nước. Tội nghiệp ghê! Nó cần cù và thiết tha với kiếp sống như vây đó. Nhưng để ý một chút thì thấy cái chỗ lý tưởng cho nó chính là vùng đất giồng, khô ráo như Trà-Vinh vậy.
Dưới gốc tre mát mát, lá tre khô rụng dày cả gang rồi mục ra thành đất mùn xốp xộp; mưa xuống, chỗ đó rau càng cua mọc tốt phải biết. Dày mịt, khít rịt, xanh um, như cái mền, có khi nó phủ kín hết gốc tre và ôm mất luôn mấy mục măng non. Cọng nào cọng nấy dài 5, 6 tấc, thẳng tưng, non èo, giòn rụm. Nó cần mưa, thích ẩm cho nên mỗi năm nó chỉ nhởn nhơ có một lần theo mưa. Rồi mùa nắng khô, hột nó rụng xuống và nằm ngủ 6 tháng liền trong cát trong lá mục để chờ mưa năm tới. Cái hột tròn vo nhỏ rức như hột cát đó nằm chung với cát thì đố có con mắt nào nhận ra. Gió thổi mạnh một cái là nó bay theo bụi theo cát lên trời, rồi đáp xuống ngọn cây, đậu trên nóc đình, khỏe re. Rồi khi nó mọc thành cây, cái lá mướt rượt của nó mới thiệt là mặn mà tình tứ làm sao. Hình trái tim! Có người biểu nó giống lá trầu lá tiêu tí hon? Dân cờ bạc thì nói nó giống nút Bích, ách Bích bài cào tây gì đó. Tui thì thích nói nó hình trái tim hơn. Mặt trên lá màu xanh mướt, mặt dưới xanh bạc, nham nhám. Thân nó xanh xanh, trong trong, như cẩm thạch, nhưng mà bở rệu giòn rụm như cọng bông súng lột rồi. Nếu bức một cọng bỏ vô miệng nhai thử thì chỉ thấy nó ngòn ngọt pha chút vị the the nồng nồng của trầu, mọng nước như bông súng, nghe nó là lạ mà hổng dám quả quyết là ngon cỡ nào. Vậy mà sao nó lại hấp dẫn quá chừng? Có phải vị nồng làm cho say và bắt ghiền như ghiền trầu? Cũng chưa chắc là tại hay nhờ cách chế biến nó mới ngon.
Ở đây hổng nói tới việc dùng nó làm ghém chung với lá cát lồi, đọt sộp, đọt xoài, mã đề, đọt cơm nguội, rau thơm, v. v. để ăn bánh xèo, bánh giá (bánh cống), mà chỉ nhắc món độc chiêu của nó mà thôi. Rau càng cua bóp giấm. Làm gì thì cũng phải bóp cho nó xộp cái đã, như kiểu bóp rau cresson. Rồi tùy giàu nghèo mà có phủ thêm lên trên, hoặc là lớp thịt bò xào, hoặc mấy lát trứng luộc, hay ít tôm khô giã nhuyễn. Hà tiện hơn thì chỉ rắc lên chút đậu phộng rang đập giập, hoặc, hổng cần gì ráo, chỉ dùng rau tươi nguyên chất mà chấm nước tương, nước chao, nước cá kho hay mắm kho. Chỉ có vậy. Đơn sơ, đạm bạc. Đặc biệt ở miệt giồng quê tui, còn thêm món càng cua luộc, như tui nói hồi nảy. Dù ăn theo kiểu cách nào nó cũng đều hấp dẫn khó quên. “Cái đơn giản là cái đẹp nhứt”. Mình làm bộ nhái theo, nói như vầy: “An uống đơn giản là cái ăn ngon nhứt”.
Nhưng lý do mà tui mê loại rau này chắc hổng phải ở chỗ ngon dở mà còn nằm ở chỗ khác. Rồi bà con sẽ hiểu tại sao mà tui cứ rị mọ ráng trồng cho được nó ở cái xứ mà thời tiết tréo ngoe lạ quắc như vầy.Tui có anh bạn cố gầy cho được mấy cọng “rau-tiêu” để làm thuốc. Aũnh nói rằng rau tiêu trị mụn bọc công hiện thần kỳ. Đem giã với chút muối rồi đấp lên mụn bọc hay mụn bạc đầu, nó sẽ rút hết mủ và bữa sau mụn sẽ xẹp mất. Đó là môn thuốc bí truyền của dân Gò Dầu biên giới.
Còn tui, trồng nó vì nhớ. Tui đã từng ươn mấy lần hột giống được gởi lén từ Việt Nam qua, đều thất bại thảm thê. Sau này, tình cờ có được một ít hột từ rau trồng tại chỗ do người quen khác cho, kèm theo lời chỉ dẫn cách trồng thì tui đã lập được “thành tích tốt” để kể cho bà con nghe đây. Nè hén. Mình đừng phơi hột ngoài nắng gắt, nó sẽ chết khô, mà chỉ rắc nó vô thùng giấy, phơi trên giấy chớ hông phơi trên đồ sắt, chỉ cần để trong hàng ba vài bữa nó cũng khô mà hông hư. Xong bỏ vô ve đem cất. Đợi chừng nào có thời tiết ấm như Việt Nam thì đem ra trồng. Cái thời hạn gọi là quá “đát” của hột giống này chắc hổng quá 2 năm.
Ở Úc trồng rất dễ. Nhưng ở Canada, Bắc Mỹ Ngũ Đại Hồ hay Na Uy lạnh cóng coi bộ khó. Thú thiệt là tui bù trất về vụ cất nhà kiếng, đặt máy sưởi. Ở xứ ấm như Ốc-sờ-trây-li-a này, vấn đề thổ nhưỡng hông quan trọng lắm, chỉ cần đất xốp trộn với một chút potting-mix bán sẳn trong tiệm, hoặc với chút cỏ mục và chút phân chuồng thật quay là đủ. Chọn chổ nào gần đám cây để có bóng mát và độ ẩm cao một chút. Lấy hột giống trộn với cát mịn, gần 100%, tức là trôn nhiều cát vô. Rối nắm từng nắm cát hổn hợp đó rắc đều trên ô đất đã dọn. Rồi rắc thêm lớp mỏng đất thường lên trên. Rồi lấy giấy bìa đậy lại vài hôm. Mỗi ngày tưới nước sương sương như mưa phùn. Chỉ non tuần lễ là nó nẩy mầm lẳn mẳn chi chít như giá con, thấy mê luôn. Vài tuần sau là có đám rau càng cua. Nó sợ nắng như con gái nhà giàu và thích ở chỗ cao ráo mà lại có độ ẩm nhiều. Lớn lên trong bóng mát nó sẽ trắng ngọc trắng ngà pha màu cẫm thạch, thân dáng thon dài mảnh mai dễ thương lắm. Nếu phơi nắng quá nó sẽ bị lùn, nhánh nhóc lung tung và mau có bông, ăn có vị nồng và cay nhiều hơn. Chỉ cần gầy được mùa đầu tiên, mấy năm sau tự nó mọc lên hoài hoài y tại chỗ cũ, miễn là mình đừng đào xới làm xáo trộn vùng đất hứa của nó một cách quá đáng. Nếu khéo chăn bón, sau nhà có thể có vườn rau càng cua ăn tới quên lững chuyện nhớ nhà. Bà con cô bác làm thử coi. Chúc bà con gặt hái được... chút niềm vui.
Cũng may mắn, bên nhà rau càng cua dù bị hiếm nhưng chưa bị diệt chũng, chưa được-giải-phóng hay tiếp-thu-toàn-bộ. Chỉ tội cho rau đắng ruộng, hồi trước nó bị coi là cỏ hoang, làm mất công nhà nông không ít. Vừa nhổ bỏ vừa chửi thề. Rau mờ-om cũng vậy. Nhưng bây giờ thì nó đi đâu gần hết, trở nên “hiếm-quí”. Có lẽ vì nó tranh thủ góp công vô nghĩa vụ xóa-đói-giảm-nghèo, cái đói hổng biết ai mang từ đâu tới, làm bà con mình đói theo. Và cứ y như trong kinh: “Đói ăn rau, đau uống thuốc”. An sạch trơn rau. Sạch sành sanh. Đau thì uống rượu cho chết luôn.
Rau đắng ruộng được “nâng cấp” với “chức năng” quan trọng vậy đó, và nó nghênh ngang nhảy vô tô cháo cá của những người như đói-ăn từ mấy kiếp, đói từ tiềm thức, đói từ trong xương, giờ họ thích nhâm nhi rắn rít đuôn dế châu chấu bù cào ở quán bên đường.
Rau mờ-om thì nhảy vô tô phở lai hũ tíu miệt vườn hay trong sóc. Chỉ có rau càng cua được tha vì nó trốn trong vuông tre người dân quê, khó có ai ngang nhiên vô đó mà lặt. Nhưng nó cũng sắp hiếm rồi. Vì nó đang trở thành tấm nệm lót cho tôm chiên, gà rô-ti chình ình bên trên, để phục vụ “du lịch sinh thái”.
Cũng buồn!
Ở đời có nhiều cái rất nhỏ nhặt tầm thường thì mình thấy nhàm, rồi quên lững nó đi. Chừng nào mất nó rồi mình mới biết quí biết nhớ. Sống tha phương, nhiều khi nhớ mấy cọng rau quê mùa bình dị thân thương đó hung lắm. Nhưng gẫm đi gẫm lại, nhớ là chuyện nhỏ. Cái liên tưởng mới vĩ đại. Nỗi nhớ mới phát thì nhỏ xíu như mụn cám, rồi nó ăn lan ra, truyền nhiễm qua vùng chuyện khác, biến thành ra chuyện lớn. Nó bao phủ cả gia đình, làng mạc, ruộng đồng. Nó đưa mình về mái nhà lá đơn sơ, những bữa cơm gia đình đầm ấm, gợi nhớ lại cuộc sống yên bình, một quê hương xa mút tí tè. Nó dám ôm luôn cả vùng trời kỷ niệm! Tất cả mấy cái vĩ đại như vậy bỗng dưng bị giựt dậy chỉ nhờ một cọng rau càng cua tí tẹo. Lạ thiệt. Rồi bỗng dưng tui nhớ món rau càng cua luộc quá chừng chừng, và thương nhớ má tui tới thót ruột!!!
HQ, Central Coast
2/2008.
Subscribe to:
Posts (Atom)
Blog Archive
-
▼
2026
(1822)
-
▼
July
(311)
- Mặt dầy?Quân Alameda - nơi hội đồng quận vừa...
- CHUYỆN TÔI CHỤP CỔ VẬT CHAMPA30 năm trước -hàng xó...
- “Bị kẻ ngu ghét bỏ đôi khi chỉ là cái giá phải trả...
- Tổng thống Donald Trump và nữ phóng viên Kaitlan C...
- Lừa đảo ở Cambodia52 người Việt bị bắt tại Cambod...
- TÔN TRUNG SƠN GẶP TỐNG KHÁNH LINH VÀ THỐT LÊN CÂU ...
- Phó Thống đốc Dân chủ đương nhiệm của Hawaii, bà S...
- DÂN BIỂU THOMAS MASSIE HỢP TÁC VỚI ĐẢNG DÂN CHỦ TH...
- "Cực hữu" hoá ra lại bình thường, đôi khi còn "dễ ...
- FOOTSCRAY, MelbourneKhu ngoại ô nổi tiếng của Melb...
- Vì Sao Tôi Viết "Mỳ Quảng" Mà Không Viết "Mi...
- Quyền sở hữu trí tuệ Khác với mấy tháng trước, nay...
- NỖI ĐAU TUỔI XẾ CHIỀUỞ đây, chúng ta không bàn chu...
- NHỚ TÔ MÌ ‘THẤT NGHIỆP’ Ở TÂN ĐỊNH, SÀI GÒN XƯA1.T...
- LEAGUE CITY: CẢNH SÁT TÓM GỌN ĐƯỜNG DÂY TRỘM CẮP H...
- NHẬT KÝ CỦA THỊ NỞChủ nhật, mới 6 giờ kém, còn đan...
- Ba tháng trước — ngày 25 tháng 4 năm 2026.Một sự k...
- 5 tách cà phê: bạn sống thêm bao lâu?Là người uống...
- TỶ PHÚ KỸ THUẬT NAM HÀN CÓ THỂ PHẢI TRẢ GẦN $1 TỶ ...
- Tin VắnFB Le Hoang- Nghe dân biểu Harriet Hageman...
- Đại chủng viện Thánh Giuse Sài GònNằm bên trong Đạ...
- Niềm tinHồi nhỏ mình chơi coins thì nghe người ta ...
- Những Lá Thư Không Bao Giờ Đến Trước đây, mỗi lần ...
- Gian lận bầu cửGian lận bầu cử không chỉ ri...
- GIÁO CHỦ MỚI IRAN NGUY HIỂM HƠN CHA? HỒ SƠ BIDEN V...
- NỘI CHIẾN BẮC NAM TẠI TRẠI TỊ NẠN HONG KONG…1- Hươ...
- THẬT RA ÔNG TRUMP KHÔNG TỐT NHƯ MÌNH ĐÃ NGHĨĐó giờ...
- Bước chậm lại giữa nhân gian vội vãĐể mang đến hạn...
- Đàn BàTôi đi chợ về với nét mặt bơ phờ xơ xác chồn...
- Inside the Underground Movement to Restore the Rep...
- Cựu Giám đốc FBI Comey lặng lẽ hợp tác với tư cách...
- 11 NGƯỜI BỊ TRUY TỐ LIÊN BANG SAU CÁI CHẾT CỦA 7 D...
- Từ hôm nay, 24/07/2026, Mỹ chính thức áp 12.5% lên...
- Các hoạt động lừa đảo tại CambodiaThủ tướng Hun Ma...
- Giám đốc FBI Kash Patel qua Bắc Kinh"Tôi đã trở lạ...
- Woman who fled communism ERUPTS at DSA leader - Ca...
- Tin VắnFB Le Hoang-Tổ chức realamerica.vote đưa...
- Patriot Says Americans Pay… While Illegals Come First
- Hoa Kỳ khẳng định vai trò chiến lược tại Đông Nam ...
- Ngoại trưởng Marco Rubio vừa chính thức công bố ch...
- Ngành đi lừaHôm qua, ngày 21 tháng 7, Liên Hợp Quố...
- Một Ngày Trong Đời Của Ông JohnbNăm 2050Lúc bấy gi...
- HAI Ổ BÁNH MÌCó những cuộc gặp gỡ chỉ kéo dài vài ...
- Phi công Hải Quân Hoa Kỳ Dieter Dengle - 23 ngày t...
- TÔI CHÍNH THỨC TRỞ THÀNH CƯ DÂN ARIZONA!Từ sau cơn...
- Bài học Na Uy: Câu chuyện "hũ gạo" và tầm nhìn xuy...
- NẾU MỸ XẾP THỨ HAI...THÌ TÔI THẬT SỰ KHÔNG BIẾT AI...
- Siết Chặt Thẻ Xanh | Mỹ Quýnh Sập Cầu Huyết Mạch V...
- NGUYỄN TẤT NHIÊN - THI SĨ TÀI HOA BẠC MỆNH…Nguyễn ...
- Susan Kokinda: Globalism Must Die
- VỀ CÁI CHẾT CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGSau một phần t...
- NHỮNG ĐOẠN ĐƯỜNG TỪ TRONG HỒI ỨCTưởng nhớ LÊ MINH ...
- To Kill A PriestĐó là tựa đề của một cuộn phim do ...
- Chế độ quái ácTại Việt Nam ngày nay, những người x...
- "Cô Độc Phong Sát": Phong Thủy Làng Phong Cùi - Là...
- Tin VắnFB Le Hoang- 2 vụ án nhưng kết quả kha...
- Philippines và Trung cộng mới đụng độ tại Bãi Cỏ M...
- Hai anh em người Ấn Độ "tự nộp mình" khi cả gan đế...
- Mục sư Ezra Jin Mingri (Kim Minh Nhật) và gia đình...
- Đại học Harvard bị điều traPhụ tá Tổng chưởng lý b...
- Một Cái Tên Xuất Hiện Trong Hồ Sơ, Và Cách Người T...
- CHA ƠI!Cha ơi! Tiếng gọi cha trong vô vọng, có chú...
- PhiếmHôm trước đi ăn với thằng bạn, nó kể chuyện. ...
- GIỌT MÁU ĐÀOMỗi thứ Tư chồng tôi lại rời nhà đi từ...
- NĂM CHỊ EM GÁIHồi xưa từ Sài Gòn qua California ở ...
- THẦN TƯỢNG MỘT NGƯỜI KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ PHẢI HẠ THẤ...
- Tại sao phim đề tài Miền Nam nhưng tâm lý và văn h...
- Ba Kẻ Đối Đầu, Một Kẻ Đáng SợTháng 9 năm 1780, bên...
- THƯỢNG ĐẾ CỦA SPINOZAKhi A. Einstein giảng bài tại...
- CHUYỆN TÌNH CỦA “NGÔI SAO TỬ TẾ NHẤT THẾ GIỚI” - K...
- NGƯƠÌ PHI CÔNG TRỰC THĂNG NỔI TIẾNG( Chuyện thật đ...
- Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ hôm nay 20/7/2026, công bố mộ...
- Cảnh sát Anaheim, Quận Cam mới tịch thu gần 1 tấn ...
- Bắt tại chỗ một tên vừa tấn công văn phòng thực đị...
- Mamdani đòi bắt Thủ tướng Netanyahu. Ngựa non háu ...
- CHUYỆN DÀI NGÔN NGỮ MIỀN NAM ĐÃ DẦN BỊ BẮC CỘNG HÓ...
- Tin VắnFB Le Hoang- Hai quân nhân Hoa Kỳ ở Jordan...
- ĐỘI VÔ ĐỊCH WORLD CUP 2026 SẼ NHẬN $51 TRIỆU MỸ KI...
- NGƯỜI KHÁCH ĐI XETrung chạy xích lô cũng hơn ba n...
- Ngôi Nhà Tuổi Thơ Của Tổng Thống Donald J. Trump Đ...
- Ngôi chùa không mái(Phóng tác theo chuyện kể của b...
- TƯỞNG NIỆM 70 NĂM BÀ “CÁT HANH LONG”- NGUYỄN THỊ N...
- TÀN TRO DƯỚI GÓT CHÂN TRẦN(Lời nói đầu: đây là 1 c...
- World Cup do Mỹ cùng đăng cai đông vui nhất lịch s...
- Marco Rubio: Nước Mỹ sẽ không còn phớt lờ mối đe d...
- Kể chuyện trị bệnh tuyến giápCó lần mình bị đau cổ...
- Bầu cử gian lậnNhiều chuyện bầu cử gian lậ...
- Flock camera và Palantir softwareFlock Camera là...
- Thanh niên Công giáo Pakistan Akash Bashir và “Hồ ...
- Nghệ sĩ bất đồng chính kiến nổi tiếng người Cuba L...
- ĐIỀM BÁONăm 1972, mùa gió chướng thổi dọc sông Tiề...
- Ký Ức Pulau BidongĐã hơn 45 năm trôi qua kể từ ngà...
- PHÓ TỔNG THỐNG JD VANCE CẢNH BÁO CHIẾN TRANH TOÀN ...
- Thống tướng Douglas MacArthur có công lao thế nào ...
- CIA cố tình giấu Tổng thống Trump thông tin về sự ...
- DỌN NHÀ RA SÂN BÁN "VE CHAI", AI NGỜ KIẾM ĐƯỢC CẢ ...
- TRUNG QUỐC BẮT GIỮ NHÀ KHOA HỌC MỸ VÌ "CHIẾC CHÌA ...
- Mỡ heoMỡ heo bị đẩy ra khỏi nhà bếp không phải vì ...
- Tổng thống Trump vừa đăng lại bài phát biểu của JF...
- TUỞNG TUI MUỐN SỐNG LẲM HẢ?Ðang chạy ngon lành trê...
- Xôi ĐậuQuê tui ở Long An - cái xứ mà trời đất cũng...
- ĐÈO HẢI VÂN – CHÚNG TA ĐANG LÀM GÌ VỚI THIÊN NHIÊN...
- Bắc Kinh vừa giáng một đòn phản bội địa chính trị ...
- Một kỷ niệm đẹp ở CaliforniaMùa thu năm 1992 hai a...
- Dòng Đời Đưa ĐẩyPhan Thanh Tâm nguyên là một ký gi...
- TẠ ƠN PULAU BIDONG - HÒN ĐẢO CƯU MANG NHỮNG MẢNH Đ...
- Người Mỹ gốc ViệtTheo số liệu Cục Thống kê Dân số ...
- BẠN ĐÃ SẴN SÀNG CHƯA? Vì tối nay, tâm điểm sẽ là P...
- TẠI SAO TÔI YÊU NƯỚC MỸMột anh bạn ngoại quốc hỏi:...
- Chiều muộn, cơn mưa vẫn kéo dài.Trong căn nhà nhỏ ...
- HẬN THÙ KHÔN NGUÔIChúng ta thường tiếc nuối những ...
- Có những người đi ngang cuộc đời mình nhanh như cơ...
- Văn hóa NhậtNgười Nhật không kết hôn, không sinh c...
- Niềm tinTui hồi hộp chờ bài diễn văn của ông dượng...
- Một Bài Phát Biểu Ba Đài Truyền Hình Không Muốn Ch...
- “Cái cảm giác đè nặng bên trong tôi là vô vọng về ...
- TT Trump đang định hình lại cán cân quyền lực.(Chi...
- Thuế Quan: Thứ Vũ Khí Bị Chê Là "Lạc Hậu," Cho Đến...
- Sứ mạng của ân nhânHôm nay là ngày 14 tháng 7, tôi...
- Tài liệu mật của FBI dưới thời Trump được giải mật...
- Thượng nghị sĩ Rand Paul đã triệu tập Dr. Anthony ...
- Bàn về Mộ Dung Phục trong Thiên Long Bát BộHôm trư...
- TT.Trump Nói Thẳng Vô Mặt Bình | Phi Trường Và Ga ...
- Khi 'nhà đài' từ chối phát sóng trực tiếp bài phát...
- Những nỗ lực can thiệp của Trung Quốc vào cuộc bầu...
- El Paso, vượt biên xuyên lòng đấtHệ thống đường hầ...
- Chevron ký thỏa thuận với Iraq nhằm tiến hành khai...
- Iran trung chuyển vũ khí cho HezbollahNhững đoàn x...
-
▼
July
(311)