Người Sài Gòn - người Miền Nam biết ơn ai?
30, mùng 1 Tết thì người Việt Nam ở đâu đi nữa cũng có quen đi chùa. Đi chùa hái lộc, cầu tài, cầu sức khoẻ... Nhưng có một bộ phận lớn người Sài Gòn khi Tết đến họ không nghĩ đến việc đi chùa theo kiểu thông thường. Cái chùa đầu tiên họ nghĩ đến và muốn đi thậm chí còn không thực sự là cái chùa. Nó chính là Lăng Ông Bà Chiểu. ( Lăng Ông Bà Chiểu là Lăng Ông Lớn - Tả Quân Lê Văn Duyệt ở cạnh chợ Bà Chiểu chứ không có bà nào là Bà Chiểu hết)
Những người đến đây sang hèn đủ kiểu nhưng phần lớn vẫn là những người lao động chợ búa chân lấm tay bùn. Họ không đến dâng lễ cầu tài, để phóng sinh, để từ thiện, để check in làm hình ảnh, họ không đến để dùng tiền mua tài cầu lộc hay phô trương... Dù họ vẫn đến để thắp nén hương và xin Ông Lớn phù hộ cho một cuộc sống tốt đẹp hơn, nhưng sâu bên trọng họ là văn hoá và tâm thức của một người Nam Kỳ luôn biết ơn đối với tiền nhân, với những người mở cõi khai hoang lập đất, với những người xây dựng và gìn giữ vùng đất này.
Còn đối với người Miền Tây Nam Bộ ( và cả những người ở Sài Gòn lẫn các vùng khác sau này ) thì cái chùa đầu tiên họ nghĩ đến cũng không thực sự là cái chùa. Đó chính là Chùa Bà Núi Sam. Dù thế hệ ngày nay nhiều người đến với Chùa Bà Chúa Xứ Núi Sam với tâm thế cầu tài cầu lộc nhưng việc Chùa Bà trở nên nổi tiếng và phổ biến đối với dân miền Nam cũng xuất phát từ lòng tri ân tổ tiên và lòng biết ơn đối với vùng đất Nam Bộ này.
Những năm 1776, khi quân Tây Sơn đang hoành hành cướp phá và tiến đánh Gia Định. Các chúa Nguyễn bị tiêu diệt còn mỗi Nguyễn Phúc Ánh khi đó mới 15 tuổi thân cô thế cô đã mang danh nghĩa kế vị mà phải phiêu bạt, trốn chạy khắp phương trời.
Khi đó có 2 thanh niên cũng chỉ mới 16-18 tuổi, vì gia đình bị giặt giết hại, vì chính quyền sụp đổ, xã hội rối loạn... nên đã quyết định đi theo Nguyễn Phúc Ánh. Họ đi theo ông từ những ngày ông thân cô thế cô, lang bạt và trốn chạy. Họ cùng nhau tập hợp lực lượng, họ cùng nhau trải qua từng trận chiến. Từ đầu, họ đã không theo phò một Chúa Công có quyền lực. Họ theo một người trẻ thân cô độc, phiêu bạt khắp nơi và rất ít có cơ hội sống sót chứ nói gì đến gầy dựng cơ nghiệp. Và 2 thanh niên đó chính là Lê Văn Duyệt và Thoại Ngọc Hầu.
Phải đến năm Nguyễn Phúc Ánh 40 tuổi và 2 vị kia vừa hơn 40 một chút thì họ mới đánh bại được quân Tây Sơn hoàn toàn. Lúc đó Nguyễn Phúc Ánh chính thức trở thành Hoàng Đế Gia Long. Và 2 người bạn chinh chiến từ thuở trẻ hàn vi đã trở thành các khai quốc công thần của nhà Nguyễn.
Lê Văn Duyệt trở thành Tổng Trấn Gia Định, cai quản các vùng đất Nam Kỳ, quyền lực cực cao như là một Phó Vương ở Phương Nam. Thoại Ngọc Hầu thì trấn thủ Trấn Vĩnh Thanh, vùng biên giới Tây Nam là khu vực An Giang - Châu Đốc kéo dài xuống Hà Tiên hiện nay.
Lê Văn Duyệt cai trị về mặt hành chính, giúp vùng đất Nam Kỳ bị chiến tranh tàn phá đã dần ổn định và trở nên giàu có. Ông cởi mở về ngoại giao, mở rộng tự do tôn giáo, thúc đẩy giao thương, kêu gọi khai hoang mở đất... Sau khi Vua Gia Long mất và Vua Minh Mạng lên ngôi. Ông phản đối lại chủ trương bế quan tỏa cảng của Minh Mạng. Chính điều đó cũng góp phần tạo ra bi kịch sau này.
Nếu Lê Văn Duyệt là người ổn định bộ máy hành chính, xã hội, văn hoá, kinh tế... thì Thoại Ngọc Hầu là người mở mang bờ cõi, khai hoang lập đất, ổn định phòng thủ biên cương với Chân Lạp... Những kỳ tích mà ông tạo ra tới nay người ta chưa chắc đã làm được.
Ngoài con kênh Thoại Hà thì con Kênh Vĩnh Tế là một kỳ tích như Vạn Lý Trường Thành của phía Nam. Con kênh thẳng tắp dài 90km rộng 30m chạy dọc biên giới nối vùng An Giang đến tận Hà Tiên. Nó vừa là tường thành, vừa là kênh dẫn nước, vừa là phương tiện giao thông cho giao thương và đặc biệt là để điều binh nhanh chóng dọc biên giới trước sự đe doạ của Chân Lạp - Quân Xiêm. Công trình vĩ đại này chỉ mất có 5 năm xây dựng bằng sức huy động của 80 ngàn con người. Gần như một nửa dân số Nam Kỳ.
Để hoàn thành công trình vĩ đại này bằng sức người trong 5 năm thì con người bị huy động tối đa. Kỷ luật được áp đặt nghiêm khắc. Con người với các vật dụng thô sơ phải đào đất đá cứng, bên dưới là rễ cây chằng chịt của rừng thiên nước độc. Trên bờ thì cọp beo rình rập, dưới nước thì cá sấu bơi từng đàn. Muỗi thì bay như một đám mây đen xám xịt. Con kênh Vĩnh Tế đã được hình thành bằng xương máu của biết bao con người. Biết bao người đã đổ xuống vì kiệt sức, vì bệnh tật. Thế nhưng nếu không có nó thì biên giới nước ta không thể trọn vẹn trên bản đồ như hôm nay. Nếu không có nó thì nước ta sẽ không thể "tự hào ngạo nghễ" về lúa gạo như hôm nay. Có thể nói từng hạt gạo ta ăn ngày nay cũng là nhờ công sức của công trình này mà có.
Sự khổ cực và hy sinh của người dân chính là nổi khổ của Thoại Ngọc Hầu khi ra các quyết định mang tính đại cuộc. Ông và vợ ông là bà Châu Thị Tế mỗi ngày đều châm lấm tay bùn dãi nắng dầm mưa cùng với dân. Ông bạc đầu vì quản trị chỉ đạo dự án, bà thì chăm lo sức khoẻ ổn định bộ máy hậu cần và vận động... Đó là lý do mà dù thiệt hại về người nặng nề trong suốt 5 năm nhưng ông bà vẫn được người Nam Kỳ nhớ ơn. Và chính Vua Gia Long là người tình cảm trọng nhân nghĩa cũng đã ghi nhận công ơn của ông bà bằng việc đặt tên Kênh Thoại Hà theo tên ông và Kênh Vĩnh Tế theo tên bà. Đó là sự ghi nhận không chỉ từ Vua mà còn từ bà con Nam Kỳ.
Cái Miếu Bà ở Núi Sam hiện nay dù xuất phát điểm là một tượng đá theo văn hóa Ốc Eo - Khơ Me đã được người dân thờ cúng từ trước gọi là Bà Chúa Xứ, nhưng chính công trình xây kênh Vĩnh Tế vĩ đại đã biến nó thành trung tâm tâm linh của cả vùng Nam Bộ. Đặc biệt là bên dưới miếu bà chính là lăng mộ của ông Thoại Ngọc Hầu. Cái lăng mộ này theo dân gian truyền miệng thì đã từng bị vua Minh Mạng cho xiềng xích ngôi mộ để trừng phạt, để trù ếm và để hạ uy tín.
Khi vua Gia Long mất, vua trẻ Minh Mạng mang tư duy quản trị sắc bén, lập trường chính trị rõ ràng. Ông muốn kỷ cương phép nước được thực thi và quyền lực phải tập trung vào triều đình Huế. Việc hai ông "cha chú" Lê Văn Duyệt và Thoại Ngọc Hầu vốn là dân miền Nam hào sảng, nhưng quyền lực lại quá lớn ở một vùng đất cách xa triều đình là một nỗi lo đối với vị vua trẻ.
"Hai ông cha chú" dù lao lực để dựng nước, giữ nước, và tạo ra được nhiều kỳ tích cho đất nước nhưng sự xuề xòa dân dã, không câu nệ lễ phép thủ tục mà chỉ chú trọng linh hoạt hiệu quả như thời chiến. Cái gì đáng tâu thì tâu, cái gì không đáng tâu thì không tâu. Các thư từ hai ông gửi về triều cũng chả cần đúng chính tả, đúng ngữ pháp, chả cần văn phong trình bày màu mè làm gì. Miễn đọc hiểu thì thôi. Từ thời Gia Long thì hai ông chú đã được quyền tự đặt ra các mức thuế để hỗ trợ dân, tự huy động tiền bạc để xây kênh, tự chém quan tham nhũng... Tiêu biểu là việc Tả Quân Lê Văn Duyệt chém Huỳnh Công Lý, cha vợ của Vua Minh Mạng vì tội tham và ô lạm quyền. Vua Minh Mạng bề ngoài khen ngợi sự chính trực nhưng trong lòng thì ...không biết sao ? .
Hai ông dù cấp trên cấp dưới nhưng chưa bao giờ mâu thuẫn thậm chí còn bổ trợ cho nhau về chính sách để ổn định kinh tế xã hội và mở mang bờ cõi ổn định biên giới. Hai ông là một thế lực thực sự mà nhà Vua Minh Mạng với mong muốn siết quyền lực của khu vực để chuyển quyền lực tập trung về trung ương phải e ngại. Thế nhưng phải đợi đến khi hai ông mất thì Vua Minh Mạng mới có thể áp dụng chính sách của mình. Và vật thí mạng chính là ....danh dự của ông Lê Văn Duyệt.
Vua Minh Mạng kết tội Tả Quân Lê Văn Duyệt lộng quyền, chuyên quyền... Vua đã cho san phẳng mộ và dựng bia đá khắc tội. Nhân dân vì bất mãn chuyện này mà liên kết câu chuyện với ông Thoại Ngọc Hầu và tạo ra truyền thuyết dân gian để kết tội vua Minh Mạng rằng chính ông Thoại Ngọc Hầu cũng bị xiềng xích quanh mộ, con cái bị tịch thu tài sản.... dù chính sử không hề ghi chép Minh Mạng phủ nhận công sức hay kết tội Thoại Ngọc Hầu.
Qua hết thời Minh Mạng, đến vua Thiệu Trị rồi sang đến đời vua Tự Đức thì Tả Quân Lê Văn Duyệt mới được vua Tự Đức minh oan phục chức để ôn định nhân tâm của dân miền Nam. Vua Tự Đức cho xây dựng lại lăng mộ Tả Quân Lê Văn Duyệt dù Lê Văn Khôi con ông từng bất mãn vì cha mình mà đã tạo phản suốt vài năm. Nhưng người dân thì không quan tâm lắm đến điều đó. Người dân luôn coi Tả Quân Lê Văn Duyệt là vị thần bảo hộ vùng đất này. Họ lập miếu thờ Ông Lớn ở nhiều nơi từ thành Gia Định đến quê hương ông ở khu vực Long An - Tiền Giang ngày nay. Ngày giỗ của ông vẫn có rất đông người đến làm lễ. Các tuồng hát bội, vẫn mang dấu ấn của Ông Lớn rất nhiều.
Người dân Miền Nam vẫn rất "mê tín", họ vẫn cầu lộc cầu tài, vẫn có các mâm lễ và trả lễ. Nhưng mâm lễ của họ thường rất đơn giản, nếu có chỉ là chút ít hoa quả và trái cây đơn giản chứ không quá hoành tráng hay phô trương đến độ choáng ngợp như ta thường thấy trong các giá đồng tại các đền phủ Miền Bắc. Họ đến chùa, đến miếu cũng vì yếu tố tâm linh, nhưng sâu xa hơn, niềm tin ấy thường bắt nguồn từ lòng biết ơn. Biết ơn tổ tiên, biết ơn người đi trước, biết ơn vùng đất và con người đã khai hoang mở cõi, tạo dựng nên mảnh đất để con cháu hôm nay có nơi lập nghiệp, sinh sống và mưu sinh.
Nếu bạn thực sự là người Sài Gòn, hoặc muốn hiểu người Sài Gòn. Hãy đến Lăng Ông Bà Biểu vào 30 hay mùng 1 Tết để quan sát những người đến viếng Ông Lớn. Hãy quan sát trang phục của họ, hãy nhìn gương mặt và ánh mắt họ, nhìn nén nhang hay các lễ vật đơn sơ mà họ mang đến. Hãy nhìn thái độ và phong cách của họ. Hy vọng lúc đó bạn sẽ cảm nhận rõ tâm tình người Sài Gòn thực sự hướng về cái gì, cầu mong cái gì. Lúc đó bạn sẽ hiểu rõ hơn người Sài Gòn thực sự là ai. Rằng họ thực sự "biết ơn" ai.
Gia Việt
No comments:
Post a Comment