Wednesday, October 30, 2019

Băng đảng  "Việt Kiều Đỏ" bị án tù ở Anh Quốc


Băng đảng: "Việt Kiều Đỏ" bị án tù sau khi cảnh sát ở Wales tịch thu 2,5 tấn cần sa trị giá 6 triệu bảng Anh. Tòa được nghe điều tra báo rằng hầu hết số tiền lợi nhuận của băng đảng này được gửi về Hà Nội họ đầu tư trên nhiều lĩnh vực đa số là bất động sản ở Việt Nam.

Vậy băng đảng: "Việt Kiều Đỏ" là ai ?. Việt kiều đỏ là ám chỉ người Việt đến từ miền bắc Việt Nam sau khi Đông Âu cộng sản sụp đổ, đa số họ xuất thân từ tầng lớp con ông cháu cha của các đảng viên cộng sản được đưa sang Liên Xô (Nga) sau đó đến các quốc gia Đông Âu để trốn sang các nước phát triển như Anh Quốc, Pháp, Đức, mang tiền từ Việt Nam sang đầu tư hợp pháp và ngược lại bất hợp pháp, tổ chức đưa người chui từ Việt Nam sang châu Âu với mục đích kiếm nhiều tiền nhanh nhất bằng mọi cách kể cả phạm pháp trồng cần sa và buôn bán ma túy.

Ở Việt Nam ít ai được biết, vì sao Việt kiều đỏ sang châu Âu chỉ thời gian vài năm họ trở về đã trở thành đại gia như những tay tài phiệt nổi tiếng trùm nhà hàng khách sạn và bất động sản tại Việt Nam hiện nay đa số là xuất thân từ Việt Kiều Đỏ khi thành công lọt lưới pháp luật nước sở tại với lợi nhuận khủng gửi về nước rửa tiền để quay trở lại Việt Nam với vỏ bọc doanh nhân thành đạt đầu tư lên đến hàng chục triệu đô-la Mỹ từ nguồn tiền buôn bán ma túy, trồng cần sa, buôn lậu thuốc lá và bảo kê các khu thương mãi của người Việt.

Một nghi phạm bị bắt giữ trong cuộc đột kích của cảnh sát

Phía công tố Anh Quốc nói ước tính băng đảng nầy thu được tới 25 triệu bảng Anh nhờ hoạt động phạm pháp. Đa số bị cáo vào Anh Quốc phi pháp, dùng giấy tờ giả. 21 người bị kết án tù 8 năm, hai người được trắng án, trong vụ việc bắt đầu từ 2017, khi nhiều cơ sở trồng cần sa ở Wales bị phát hiện.

Tòa ở Wales kết án ngày hôm 27.9.2019, theo đó, Bang Xuan Luong, 44 tuổi, bị 8 năm tù. Vu Thi Thu Thuy, 42 tuổi, bị 6 năm, và Tuan Anh Pham, 20, bị 5 năm. Một bị can ban đầu khai mới 14 tuổi nhưng cảnh sát chứng minh anh ta đã 26 tuổi. Toàn bộ 23 bị cáo đến từ miền bắc Việt Nam.

City of London Police
Cảm Nghĩ của Một Hậu Duệ về Buổi Lễ Vinh Danh và Tưởng Niệm Những Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà (QNQLVNCH) đã nằm xuống cho Chiến Trận Việt Nam, và Buổi Lễ An Táng 81 Hài Cốt của QNQLVNCH, Binh Chủng Nhảy Dù.

Tối thứ ba ngày 22 tháng 10, chuông điện thọai reo... chị Nina Nhung Nguyễn, phu nhân của cựu Đại Tá Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, Gene Castagnetti, gọi cho tôi, tôi thừa biết, khi chị gọi thì chắc là có gì quan trọng! Tôi đã có dịp làm việc với chị cách đây 2 năm trước, khi tôi giúp chị trong chương trình “Tuần Lễ Tưởng Niệm 50 Năm Chiến Tranh Việt Nam” tại Honolulu, Hawaii...với giọng nói cấp bách: 

Ngọc ơi, chuẩn bị cho chị 10 em hậu duệ đứng nghiêm chỉnh làm dàn chào đón và tiễn đưa quan tài đựng 81 hài cốt của những QNQLVNCH, Binh Chủng Nhảy Dù! Nếu con trai thì mặc đồng phục, con gái thì mặc áo dài đen, quần trắng, nhớ là phải choàng khăn lá cờ VNCH của mình trên cổ và đầu thì chít khăn tang, vì đây là một quốc tang cho mỗi người con Việt của chúng ta! Gởi danh sách cho chị liền, thôi chị đi làm việc tiếp!” 

Vậy đó, cách thức làm việc của chị, dứt khoát, nhanh nhẹn và quy tắc, nếu ai không hiểu chị thì sẽ khó mà làm việc chung với chị được!

Cách nay hơn 2 năm, thỉnh thoảng chị nói “Ngọc ơi, chúng ta còn một công tác lớn lao lắm, chị chưa nói ra được”. Bây giờ thì chị đã nói hết những gì ôm ấp trong lòng kể từ khi năm 2003, khi chị nhìn các hài cốt tại JPAC, Hickam Airforce Base và hứa:”Tôi hứa sẽ chôn các anh trước khi tôi chết, cầu mong hương hồn của các anh được siêu thoát”.

Trở lại câu chuyện cảm động của 81 chiến sĩ Nhảy Dù này, thật ra, chuyện tìm kiếm và di chuyển những hài cốt đã được thực hiện từ năm 1974 nhưng cho đến nay, việc quyết định chọn thành phố Westminster, thủ phủ của người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản là nơi yên nghỉ cuối cùng của những vị tử sĩ này mới được thực hiện trong vòng 2 năm nay. Ai là người đứng sau lưng công việc đầy ý nghĩa này?

Ông Jim Webb, cựu Tổng Trưởng Hải Quân Hoa Kỳ dưới thời cố Tổng Thống Ronald Reagan và Đại Tá Gene Castagnetti (có tên là Quốc Việt) là hai người bạn thân khi còn chiến đấu tại Việt Nam, đều xuất thân từ binh chủng Thuỷ Quân Lục Chiến, và cũng là hai vị đã đứng ra vận động công tác Vinh Danh Quân Lực VNCH và Chôn Cất 81 Hài Cốt Tử Sĩ Binh Chủng Nhảy Dù tại miền Nam California!

Vào ngày 21 Tháng Ba, 2019, với sự hậu thuẫn mạnh mẽ của Tổng Trưởng Hải Quân Richard Spencer, Jim Webb được Bộ Quốc Phòng (US Dept. of Defense) hợp thức hoá là thân nhân duy nhất độc quyền bảo hộ và trách nhiệm quyết đ̣inh việc sắp xếp Vinh Danh Quân Lực VNCH cho việc chôn cất 81 Hài Cốt QNQLVNCH, thuộc Binh Chủng Nhảy Dù.

Vào Tháng Sáu, 2019, hai ông cùng luật sư Jeff McFadden thành lập Lost Soldiers Foundation (Lost Soldiers là tựa đề quyển sách được phát hành năm 2001 tác giả là ông Jim Webb sau khi ông Gene dẫn Jim Webb đi viếng 81 Hài Cốt vào năm 1997).

Lost Soldiers Foundation là một tổ chức bất vụ lợi 501 (c) 3 để tự tạo ngân sách lo trang trải các chi tiêu cho công tác. Một vị mạnh thường quân rất thân với Jim Webb có tên là Fred Smith, ông làm chủ hãng Federal Express, lập tức dâng hiến số tiền lớn để Lost Soldiers Foundation bắt đầu có tài chính chi tiêu.

Trong nhiều năm qua, hai vị nầy làm việc không điều kiện, đương đầu với bao sự tranh chấp mọi mặt của mọi phía, mọi người... họ đã đem đến cho Người Việt Quốc Gia một món quà, món quà này vô giá vì mang lịch sử máu và nước mắt cụ thể của QNQLVNCH, nó chuyển chở một niềm thương cảm trộn lẫn ngậm ngùi thương tiếc mà tôi tìm thấy trong ánh mắt của mọi người có mặt trong ngày 26 Tháng Mười vừa qua.

Giây phút thiêng liêng khi những bước chân chậm đều của các chú bác Binh Chủng Nhảy Dù đang trịnh trọng mang linh cữu chứa xương cốt của các bác, chú, cha anh...của những anh hùng đã năm xuống, đi ngang qua chúng tôi, tôi tin rằng nhịp tim trong con người của thế hệ nầy đang cùng nhau hoà nhịp với dòng máu đang cuồn cuộn chảy của những đứa con của Mẹ Việt Nam, những giọt nước mắt nóng chảy dài trên má mọi người.... Ôi! ngậm ngùi xót xa nhưng dâng tràn sự ngưỡng mộ, hãnh diện vô biên, nhất là ở thế hệ của chúng tôi, một thế hệ theo sau của ông cha đã hy sinh nằm xuống, một thế hệ cứ tưởng sẽ mai một nơi xứ người, nhưng không! chúng con, VNCH Next Generation, vẫn còn đây và sẽ quyết tâm giữ gìn theo sau cho xứng đáng sự hy sinh cao cả của ông cha vì hai chữ Tự Do.

Chúng con cùng Người Việt Hải Ngoại trân trọng nhận lãnh một món quà đầy ý nghĩa của những chiến binh Hoa Kỳ, họ đã từng chung vai sát cánh với QLVNCH, và với lòng cảm kích biết ơn của chúng con. Món quà vô giá là hai buổi lễ trang trọng với quân cách quân sự Hoa Kỳ trong một không khí trang nghiêm, cảm động, đầy lòng nhân ái và sự kiên nhẫn của các cựu Chiến Binh Hoa Kỳ- ông Jim Webb, Gene Castagnetti, Fred Smith, vào Chủ Nhật, ngày 26 tháng 10, năm 2019 tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ và tại Nghĩa Trang Westminster Memorial Park Mortuary, ngay bên cạnh Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam, mà quý vị đã chứng kiến.

Cũng không quên nhắc lại chuyến bay định mệnh vào ngày 11 tháng 12, năm 1965, trong đó có 4 quân nhân Hoa Kỳ và 81 chiến sĩ Nhảy Dù VNCH. Chiếc vận tải cơ chiến đấu C-123B Provider (#56-4376) của Không Lực Hoa Kỳ, trên đường bay từ phi trường Pleiku đến phi trường Tuy Hoà, do Thiếu Tá Robert M. Horsky và co-pilot là Đại Uý G. McKnight, cùng hai phụ tá khác, tất cả 85 người đã không bao giờ đi hết đoạn đường ngắn ngủi đó, và từ đó họ cùng nhau lưu lạc thăng trầm trong suốt 54 năm qua!

Chiếc phi cơ này đã bị lâm nạn gẫy nát trong sương mù, bên sườn núi với cây rừng lá rậm trên cao độ chỉ có 1000 feet phía dưới, không ai sống sót và đã được phi cơ trinh sát của Hoa Kỳ phát hiện sau 10 ngày! Tuy nhiên, công việc tới tận địa điểm của chiếc phi cơ này không được tiến hành. 

Vào ngày 30 tháng 6, năm 1971 một toán người tìm kiếm gồm 2 cựu quân nhân VNCH và 8 người thợ rừng đã tiến vào khu vực phi cơ lâm nạn và thu gom được 17 bao tải của những hiện vật rải rác xung quanh chiếc phi cơ bị lâm nạn. 

Ngày 28 tháng 6, năm 1974, Hoa Kỳ đã quyết định đưa 17 bao tải hiện vật đã được tìm kiếm về Thái Lan. Hài cốt của bốn quân dân Hoa Kỳ đã được kiểm chứng và sau đó được đưa về Hawaii để được xác định danh tính bằng phương pháp thử nghiệm DNA. Bốn vị quân dân Hoa Kỳ sau đó được an táng tại Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington, tiểu bang Virginia. 

Đối với những người lính VNCH, vì họ không có bản kê khai danh sách trên chuyến bay, cũng vào năm 1986, hài cốt của họ được gởi đến phòng thí nghiệm POW/MIA ở Hawaii và đã được cất giữ lại tại nơi này trong suốt 33 năm qua! 

Được biết, nhà cầm quyền Hà Nội đã hai lần từ chối lời yêu cầu của chính phủ Hoa Kỳ là “Hà Nội phải trân trọng làm lễ an táng cho những vị chiến sĩ VNCH vô danh này”. Đây là cơ hội cho Việt Nam Việt Cộng tỏ thái độ của một con người có nhân tính thì trái lại VC đã thúc giục hai người bạn thân Thuỷ Quân Lục Chiến cùng làm việc với nhau, cùng vượt qua khó khăn để đưa họ về nơi an nghỉ cuối cùng trên cùng đất Hoa Kỳ với Tự Do và Nhân Bản.

Theo lời ông Jim Webb, “chúng ta có thể không bao giờ biết hết những hài cốt của 81 quân dân Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù là ai, nhưng họ là đồng minh của chúng ta, và họ sẽ được yên nghỉ trong một nghĩa trang của người Mỹ gốc Việt lớn nhất trên đất nước của chúng ta!”

Sáng Thứ Bảy, ngày 26 tháng 10, chỉ mới 7:30 sáng mà khuôn viên Tượng Đài Việt Mỹ đã đầy ấp đồng bào người Việt của chúng ta từ khắp nơi trên nước Mỹ! Những vị quan khách đặc biệt của chương trình cũng đã đến đông đủ...Chương trình Lễ Vinh Danh được bắt đầu đúng 9 giờ sáng, con cháu hậu duệ đã đồng lòng sát cánh cùng Hội Lost Soldiers Foundation và cộng đồng người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại miền Nam California được chứng kiến một sự kiện lịch sử đầy cảm động. Những vị quân dân cán chính trong bộ quân phục Hải, Thuỷ, Lục, Không Quân đã trang nghiêm chào tay khi quan tài đi ngang qua họ. Chúng tôi, con cháu hậu duệ trong chiếc khăn tang, tự nguyện làm thân nhân để ấm lòng Những Người Lính Không Quê Hương, giờ đây họ có một đại gia đình Người Việt Tỵ Nạn tại Hoa Kỳ mở rộng vòng tay để đón 81 linh hồn sẽ không còn lạc loài như trong 54 năm qua.

Lời cầu nguyện của Linh Mục Đặng Văn Chín vẫn còn văng vẳng bên tai của tôi:

“Lạy Thượng Đế Chí Tôn Cực Thánh, hôm nay chúng con quây quần nơi đây để truy điệu và cầu nguyện cho 81 Tử Sĩ Nhảy Dù, thịt nát xương tan đã trải qua 9 năm nằm trên sườn núi và 45 năm lưu đày! Họ là những Anh Hùng Vô Danh mà Đằng Phương đã khen ngợi:

Tuy Công Nghiệp không ghi trong sử sách
Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên
Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật
Nhưng máu họ đã loang vào mạch đất
Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông
Và anh hồn chung với tấm trinh trung
Đã hoà hợp làm linh hồn giống Việt”

Nguyện xin Chúa Tể Trời Đất đón nhận linh hồn 81 anh hùng mũ đỏ can trường vào an hưởng hạnh phúc ngàn thu trên thiên đàng cực lạc”

Những vị khách quý như ông Tổng Trưởng Hải Quân Hoa Kỳ Richard Spencer; Thị Trưởng Thành Phố Tạ Đức Trí; nhà văn Phan Nhật Nam, cựu sĩ quan Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù và ông bác sĩ Nguyễn Quốc Hiệp, Chủ Tịch Trung Ương Gia Đình Mũ Đỏ VNCH đã lần lượt phát biểu cảm nghĩ của mình trong buổi lễ Truy Điệu, tinh thần chiến đấu dũng cảm, và sự hy sinh cao cả của họ đều được những vị khách quý này nhấn mạnh và chia sẻ!

Tiếng kèn truy điệu do một nhạc công người Mỹ mặc trang phục Tô Cách Lan nghe thật não nùng, ba hồi súng của toán Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tiễn đưa những tử sĩ lần cuối cùng, ông Jim Webb lên nói lời bế mạc và chuẩn bị đưa quan tài về Nghĩa Trang cho buổi lễ An Táng sẽ được tiếp tục ngay sau đó!

Đoàn xe tang với 9 chiếc xe motorcycle của cảnh sát dẫn đường, theo sau là chiếc xe trắng chở quan tài chứa 81 hài cốt tử sĩ Nhảy Dù, sau xe tang là xe của ông Jim Webb, Tổng Trưởng Hải Quân Richard Spencer, Mayor Tạ Trí, có khoảng 4 chiếc xe Jeep quân đội thời VNCH, Đại Tá Castagnetti, rồi đến xe của Ông Hiệp Nguyễn, Chủ Tịch Gia Đình Mũ Đỏ.... các hội đoàn và đồng hương VN được nối dài suốt đoạn đường từ Tượng Đài Việt Mỹ đến nghĩa trang Westminster Memorial Park Mortuary.

Lễ thâu cờ do toán quân cờ của Gia Đình Mũ Đỏ thực hiện một cách trân trọng, lá cờ VNCH được trao cho ông Jim Webb, và ông đã trao lại cho bác sĩ Nguyễn Hiệp. Buổi lễ hạ huyệt được bắt đầu, cùng với tiếng kèn chiêu hồn tử sĩ lại vang lên, ba hồi súng vinh danh họ một lần nữa để tiễn đưa 81 tử sĩ vào lòng đất, quê hương thứ hai của Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại Hoa Kỳ! Tấm mộ bia đã được làm sẵn với những dòng chữ:

“81 Chiến Sĩ QLVNCH
Đại Đội 72
Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù
Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà
Đã Hy Sinh cho Lý Tưởng Tự Do
Ngày 11 Tháng 12 Năm 1965
Mãi Mãi Bên Nhau Tại Hoa Kỳ ngày 26 tháng 10 năm 2019”


Hậu duệ chúng tôi sẽ luôn ghi ơn sự hy sinh của họ, nguyện sẽ cùng nhau đi viếng thăm và thắp nén hương cho họ, và nhất là chúng tôi nguyện sẽ theo gót chân của họ để luôn hun đúc tinh thần đấu tranh cho một Việt Nam được tự do, thoát khỏi bàn tay của cộng sản. Cầu xin hương linh của 81 vị tử sĩ Nhảy Dù được an nghỉ!

Hậu Duệ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN)
Cao Xuân Thanh Ngọc

Ngày 26 tháng 10, Năm 2019

DELTA FORCE, ANH LÀ AI ?

* Quang An.

Hôm cuối tuần, Mỹ đã có một thắng lợi quan trọng trong cuộc chiến dai dẳng với các tổ chức khủng bố Hồi Giáo, khi đã tiêu diệt được tên Abu Bakr al-Baghdadi trùm đầu sỏ của ISIS, hay còn gọi là ... "vương quốc Hồi Giáo".

Cuộc hành quân đặc biệt đã xảy ra đêm thứ Bảy, và do toán lính đặc biệt 70 quân nhân, mang theo cả quân khuyển, được không vận trên 8 chiếc trực thăng xâm nhập vào lãnh thổ của Syria. Phải nói rằng đây là một thắng lợi rất quan trọng cũng như việc hạ sát được Bin Laden, trùm khủng bố của tổ chức Al Qaeda hồi năm 2011 ở Pakistan.

Xin nhắc lại, hồi năm 2011, Mỹ đã hạ sát được Bin Laden, kéo theo sự tan rã của tổ chức khủng bố Hồi Giáo này. Nhiều tay súng, thuộc hạ của Bin Laden kéo qua đầu quân cho tổ chức khủng bố khác, và đó là lý do tại sao xuất hiện ISIS, và bắt đầu hoạt động mạnh ở Iraq. Quân đội Mỹ đã phải "tảo thanh" dữ dội khiến đám ISIS này bỏ Iraq, chuồn qua Syria và Mỹ cũng đã để "xổng" tên Abu Bakr al-Baghdadi này vào năm 2014 ở thành phố Mosul. 

Cuộc hành quân hạ sát được Bin Laden là do lực lượng Người Nhái, tiếng Mỹ gọi là Navy Seals, lập công. Người Nhái được xem là một trong các lực lượng đặc biệt tinh nhuệ nhất nhì của Mỹ và trên thế giới. Chữ SEAL là viết tắt của Sea, Air, and Land, có nghĩa là có thể đánh trên bộ, trên không, và cả dưới biển. Lực lượng này của Hải Quân, nên có thêm chữ Navy phía trước.

Vậy lần này, lực lượng nào chịu trách nhiệm? Đó chính là Delta Force, cũng là một lực lượng đặc biệt khác của quân đội Mỹ. Tên đầy đủ của lực lượng này là The 1st Special Forces Operational Detachment-Delta, nhưng thường người ta chỉ gọi là Delta Force.
 
Delta Force thuộc Lục Quân Hoa Kỳ và nằm dưới quyền của Bộ Chỉ Huy Hành Quân Hỗn Hợp (Joint Special Operations Command), chuyên lo các việc chống khủng bố, tấn công, giải cứu con tin, thám báo, và thường là nhắm vào các mục tiêu tối quan trọng. Delta Force thành lập sau khi chiến tranh ở Việt Nam kết thúc. Vị chỉ huy lực lượng này lúc ban đầu là Charles Beckwith, một cựu quân nhân của lực lượng Không Quân Đặc Biệt của quân đội Hoàng Gia Anh. Chính vì vậy nhiều người cho rằng cách huấn luyện và tác chiến của Delta Force giông giống của Anh. 

Những ai mà ghiền xem phim, chắc sẽ không thể nào quên Chuck Norris và Lee Marvin trong phim Delta Force, giải cứu các con tin ở Lebanon. Hay Jack Bauer trong phim 24 là một cựu quân nhân của Delta Force. Hay mới gần đây nhất là phim Black Hawk Down dựa theo chuyện lực lượng Delta Force giải cứu con tin ở Somalia.

Delta Force hoạt động nhiều ở vùng Nam Mỹ để lùng các trùm ma túy. Ở vùng lò lửa Trung Đông thì Delta Force được giao trách nhiệm ở Syria và Iraq. Trong khi Navy Seals thì được giao trách nhiệm ở Yemen và vùng Sừng Phi Châu. Ngoài ra còn có lực lượng Biệt Động Quân ( US Rangers) thì chịu trách nhiệm ở Afghanistan.

Trước khi lập chiến công hạ sát tên thủ lãnh ISIS, Delta Force còn thành công trong việc bắt sống Saddam Hussein, cũng như là hạ sát Uday và Qusay, hai con trai của Saddam Hussein.

Dĩ nhiên, cũng như Navy Seals, Delta Force cũng là một trong các lực lượng tinh nhuệ nhất nhì của quân đội Mỹ và cả trên thế giới.

Đời người có 2 việc không thể đợi, 2 thứ không thể sợ và 2 điều không thể lựa chọn

Hai việc không thể đợi: Hiếu kính với bố mẹ và giữ gìn sức khỏe

Kỳ thực, trong cuộc sống có rất nhiều chuyện chúng ta bỏ lỡ và chẳng có cách nào quay lại được, đến khi nhận ra mới thấy hối tiếc thì đã muộn. Có nhiều việc chúng ta thường tự nhủ “đợi đến xxx ta sẽ làm”, hay “đến lúc yyy ta chắc chắn sẽ thực hiện”.

Thế nhưng, bạn cần nhớ, ở đời có 2 việc không thể đợi được là hiếu kính với cha mẹ và chăm sóc sức khỏe cho bản thân. 

Có rất nhiều người đã hối tiếc khi trong thâm tâm luôn tự nghĩ “khi giàu rồi nhất định mua cho bố mẹ ngôi nhà thật lớn để ở cho thoải mái”, “khi có nhiều tiền nhất định đưa bố mẹ đi du lịch đó đây khắp năm châu”… và mải lao vào công việc mà quên mất rằng hàng ngày bố mẹ vẫn mong ngóng chờ tin con.

Đến khi chúng ta thành công quay về thì bố mẹ đã không còn sức để hưởng thụ những gì bạn mang lại cho họ, trong lúc suốt thời gian dài họ khổ sở vì thiếu tình thân gia đình. Thực ra các ông bố bà mẹ không cần nhà cao cửa rộng, không cần đi đó đi đây, chỉ cần gia đình đoàn viên tràn ngập tiếng cười là đã vui rồi.

Chính vì vậy, việc hiếu kính với bố mẹ hãy thể hiện ngay từ bây giờ, dù chỉ là những hành động rất nhỏ như gọi điện về nói mấy câu vu vơ hàng ngày, như luôn cho bố mẹ biết nơi mình sẽ đến, sẽ đi trong mỗi chuyến đi xa, hay như thường xuyên sắp xếp để có những bữa ăn đoàn viên gia đình…

Có thể thấy, việc không thể chờ đợi thứ 2 cũng quan trọng không kém là giữ gìn sức khỏe. Có câu “có sức khỏe là có tất cả” không sai, vì khi ốm đau bệnh tật mới biết, có tiền cũng chẳng thể đổi lại được sức khỏe.

Do đó, dù bận rộn lo cho thành công trong cuộc sống, cũng đừng bao giờ quên vốn quý nhất của mình chính là sức khỏe. Đừng đợi đến lúc sắp rời xa cõi đời mới thấy biết yêu cuộc sống.

Hai thứ không thể sợ là cái chết và nỗi cô đơn

Thực tế nói rằng, con người không sợ cái chết thì không thể. Dù chúng ta luôn tự hiểu rằng ai rồi cũng phải chết, tự nhắc nhở mình rằng không có gì phải sợ. Tuy nhiên dù chấp nhận, dù biết không thể tránh, dù bảo rằng mình chẳng sợ cái chết nhưng rồi ai cũng không thoát khỏi chút rùng mình khi nghĩ đến nó.

Thế nhưng, không sợ cái chết, có nghĩa là mình làm sao để chấp nhận cái chết một cách bình thản nhất. Nếu chọn cho mình một cách thoải mái nhất để chấp nhận cái chết đã là một thành công của mỗi người.

Gần đây, cô bé Hải An đã đi vào lòng người khi bé chết đi, bởi cô bé đã quyết định hiến tạng khi chết để “con muốn sau này khi mất đi, những bộ phận vẫn còn tồn tại, vẫn sống trên cơ thể người khác“. Hải An chết đi, nhưng em đã “tặng lại ánh sáng cho bạn khác” khi hiến giác mạc cho 2 bệnh nhân khác.

Hơn nữa, nỗi cô đơn – cũng đừng sợ, dù nó rất đáng sợ. Có một câu châm ngôn rằng “những người thích cô đơn hay sợ cô đơn chưa chắc là tự kỷ. Đó chỉ là tâm lý họ muốn như thế nào”.

Cô đơn – là hiện tượng ta muốn, và có thói quen hạn chế các mối quan hệ mới, ta thích một mình ngồi và ao ước về cuộc sống nhộn nhịp ngoài kia, thích nhớ về những mối quan hệ, những buổi vui chơi cùng bạn bè, vẫn thích lướt facebook để xem còn ai quan tâm đến ta… song ta lại không thể tự mình tái hòa nhập.

Còn Jinie Lynk lại cho rằng “Hiểu quá nhiều, nhìn quá thấu sẽ khiến thế giới của bạn trở nên cô độc. Nên nhớ, trên đời này có 2 thứ không thể trực tiếp nhìn vào, đó là mặt trời và lòng người“.

Nhưng, thỉnh thoảng tự đưa mình vào chốn “cô đơn” tránh cuộc sống tấp nập ngày thường để lắng lại những gì đã qua, tĩnh tâm và suy nghĩ cho những gì sắp tới cũng là cảnh giới khác của sự cô đơn. Điều quan trọng là ta đón nhận nỗi cô đơn của mình thế nào, đừng biến cô đơn thành tự kỷ, xa lánh mọi người và thế giới. Còn thực ra cô đơn – không đáng sợ như bạn tưởng.

Hai điều không thể lựa chọn là xuất thân và vận may

Ai đó từng nói rằng “con người không thể lựa chọn cha mẹ sinh ra ta”, cũng vậy, có người sinh ra đã ngậm vàng, sống cuộc sống giàu sang không lo nghĩ, có người sinh ra đã số vất vả, sống cuộc sống long đong. Không ai chọn được cho mình hoàn cảnh xuất thân, thế nhưng, xuất thân không quan trọng, quan trọng là bạn vươn lên thế nào trong cuộc sống.

Có một câu chuyện rằng, có 2 anh em nhà nọ sinh ra ở một làng quê. Cuộc sống bần hàn khiến người cha đi vào con đường trộm cướp và bị bắt đi tù khi 2 anh em còn nhỏ. Người mẹ một mình khổ cực nuôi 2 anh em lớn lên trong lời chê trách, xa lánh của xóm làng.

Lớn hơn tí, 2 anh em đã đến tuổi lao động. Người anh, nhìn hoàn cảnh gia đình, xấu hổ vì người cha trộm cắp tù tội, chỉ biết lùi lũi làm thuê làm mướn sống khổ sống sở qua ngày, vẫn không thoát khỏi lời đàm tiếu, đề phòng của dân làng. Người em, thấy hoàn cảnh gia đình, quyết chí thay đổi tất cả, anh chào mẹ và anh, lên đường lập nghiệp.

Chẳng bao lâu sau, nhờ lòng lương thiện, chí tiến thủ, anh đã gây dựng được một cơ ngơi khá ở thành phố. Anh tích cóp tiền, về làng xây dựng một ngôi trường khang trang cho trẻ em trong làng đi học, anh giúp làng xã sửa sang lại những con đường đầy ổ gà…

Hành động ấy của người em nhanh chóng khiến dân làng có cái nhìn khác về anh, họ cảm tạ tấm lòng của anh, và cũng từ đó, những định kiến về một người cha trộm cắp không còn, cái nhìn ái ngại dành cho người mẹ và người anh cũng mất dần đi.

Cũng không lâu sau, cả làng đã quên mất rằng, đây là gia đình có người cha tù tội, mà thay vào đó, họ lại nhìn thấy một gia đình giàu lòng lương thiện, luôn giúp đỡ những người khó khăn trong làng. Xuất thân không thể chọn lựa, nhưng chính chúng ta có thể lựa chọn hướng đi cho mình – đó mới là điều cốt yếu.

Thực ra, vận may cũng là thứ mà bạn không thể lựa chọn. Tuy nhiên xưa có câu “Tái ông thất mã” cũng là một câu chuyện rất giá trị về vận may. Nhiều lúc, “được” không hẳn là may, mà “mất” cũng không hắn là xui. Có một câu chuyện về một chiếc áo bị vá.

Chuyện kể rằng, Mạn Quân, một phụ nữ giàu có đang đi bộ trên đường, bất ngờ 1 chiếc xe máy lao vội qua, đẩy cô ngã xuống đường. May mắn, cô chỉ bị xây xước nhẹ nhưng tay áo cô bị rách một đoạn. Chợt nhớ ra nhà bố mẹ gần đó, cô quyết định ghé qua thăm họ thay vì về nhà.

Bởi vì lâu không ghé bố mẹ, nên cô đã ở lại đó 1 đêm. Và sáng hôm sau, bất ngờ lấy áo mặc, cô thấy vết rách đã được mẹ mình vá lại với những đường kim mũi chỉ thật dày nhưng cũng rất đẹp khiến cô cảm động.

Sáng nay cô có buổi gặp với khách hàng, cô từ nhà bố mẹ đi thẳng đến chỗ gặp và quên luôn chuyện chiếc áo vá, cô cứ thế mặc chiếc áo bị vá đi khắp nơi, thậm chí vụ bàn bạc làm ăn của cô cũng suôn sẻ, đàm phán xong mọi thứ chỉ hẹn ngày mai ký hợp đồng chính thức dù trước đó đã kéo dài rất lâu chưa xong.

Đến tối muộn về nhà, Mạn Quân mới chợt nhận ra mình đang mặc chiếc áo rách cả ngày, cô nhanh chóng cởi ra và ném vào giỏ rác. Sáng hôm sau, đối tác hôm qua thỏa thuận xong đã hẹn ký kết hợp đồng, hoàn tất mọi thứ, bất ngờ đối tác hỏi cô: “Hôm nay không thấy cô mặc chiếc áo khoác ngày hôm qua?” – hơi bất ngờ nhưng cô cũng đáp “Tôi vừa giặt nó rồi”.

Vị khách nói tiếp “hôm qua nhìn cô mặc chiếc áo vá với những đường kim mũi chỉ rất khéo, chúng tôi biết rằng cô là người rất cẩn thận, chất phác và từng trải qua nhiều khó khăn và vươn lên như thế này. Chúng tôi đánh giá rất cao, nên chúng tôi mới quyết định ký hợp đồng với cô”.

Trở về nhà, Manh Quân vội lôi chiếc áo ra, giặt vào treo cất vào góc tủ phòng để nhắc nhở mình, và cũng nghĩ rằng, cô sẽ xem đó như là chiếc áo đẹp nhất của mình.

Câu chuyện trên tổng hợp được rất nhiều ý nghĩa, từ tình thương thầm lặng của bố mẹ với những đứa con. Từ ý nghĩa về “vận may”: tai nạn chưa hẳn đã “xui”, áo rách chưa hẳn đã xấu và mặc áo vá cũng chưa hẳn là điều tồi tệ, mọi thứ trên đời đều tùy duyên.

-HLoan
7 ĐIỂU CẢ MỘT ĐỜI CẦN HỌC

Thứ nhất, "Học nhận lỗi".

Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng, thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.

Thứ hai, "Học nhẫn nhục".

Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sống yên bễ lặng, lùi lại một bước biển rộng trời cao. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho  chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ thành không.

Thứ ba, "Học thấu hiểu".

Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nẩy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu nên thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau, không thông cảm lẩn nhau làm sao có thể hòa bình được?

Thứ tư, "Học buông bỏ".

Cuộc đời như chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt xuống, thì lại không đặt xuống, thế thì giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả.

Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới tự tại được!

Thứ năm, "Học cảm thông".

Nhìn thấy ưu điểm của người khác chúng ta nên hoan hỷ mừng vui cùng cho họ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm thông là thương yêu, tâm Bồ đề; trong cuộc đời của tôi, có rất nhiều câu
chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nổ lực tìm cách làm cho người khác biết cảm thông người khác.

Điều thứ sáu, "Học sinh tồn".

Để sinh tồn, chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh, thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình,bè bạn yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiểu để với người thân.....

Thứ bảy, "Học nhu hòa".

Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mõng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được.

Giữ tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn của một người có đời sống tâm linh.

Namo Buddhaya
Người Rơm

Tưởng Năng Tiến

Cuối năm, blogger Hoàng Giang gửi đến độc giả một câu chuyện rất “nhẹ nhàng” và “đáng yêu” ngăn ngắn: 

“Tôi mới đọc được mẩu tin nho nhỏ, mà chắc chả mấy ai bận tâm, mẩu tin cũng nhẹ nhàng tình “củm” có tựa đề là “How did this Swedish cat turn up in south France?”. Tức là có một chú mèo tên là Glitter sống ở Bromolla, miền nam Thụy Điển mất tích đã 8 tuần. Anh chủ Sammy Karlsson tưởng chừng như sẽ không có hy vọng tìm lại được Glitter nữa thì bỗng dưng vào đúng tuần lễ Thanksgiving, anh nhận được một cuộc gọi từ vùng Nimes tại miền nam nước Pháp hỏi anh về chú mèo lông xù này. 

Sammy ngạc nhiên tới mức anh tưởng người ta đang đùa cợt mình, nhưng khi bức hình được gửi đến, thì chú mèo đó chính xác là Glitter của anh. Trong một bài phỏng vẫn, anh nói đùa rằng “Có lẽ Glitter đã phải lòng một cô gái Pháp nào đó, và chàng quyết định đội chiếc mũ bê rê.” Hiện chàng mèo đang được tiêm phòng và làm quốc tịch Pháp sau đó sẽ được gửi trả về với chủ tại Thụy Điển. Câu chuyện mới đáng yêu làm sao, cứ tưởng tượng một chú mèo thong dong trên khắp nẻo phố châu Âu, chu du hơn 1,700km, mà tự dưng cũng muốn mình được như thế, vô lo vô nghĩ... 

Ước muốn được “thong dong trên khắp nẻo phố châu Âu” của Hoàng Giang tuy không có gì là viển vông nhưng vẫn rất xa vời, và mỗi lúc một thêm xa, nếu chúng ta (chả may) sinh ra là... người Việt Nam – cái xứ sở mà nhiều người dân phải cầm cố nhà cửa/ruộng vườn mới đủ chi trả cho con cái một chuyến đi ra khỏi nước.

Dù giá quá đắt nhưng không phải ai đi (rồi) cũng đến. Hãy nghe qua một mẩu đối thoại giữa một cô gái Việt, và người bạn trai (đồng cảnh) từ hai phòng giam sát cạnh nhau – trong một nhà tù nào đó ở Âu Châu: 

Tuyết ho, tôi xót ruột. Ho xong, nó nói:“Em mơ còn nằm trong cái xe thùng chở em sang đây. Đứa con gái nằm ngay bên cạnh em chết ngạt.”

“Chết!?”

“Chết. Bị nhốt trong thùng xe hai ngày hai đêm. Khi bọn đầu gấu mở cửa xe ra, thấy bốn người chết từ bao giờ. Con ấy thân với em nhất. Chúng em đã từng chia phiên nhau kề mũi vào cái lỗ nhỏ để thở.

Thương hại nó hay nhường cho em thở lâu hơn. Dọc đường nó cứ đòi về, không muốn đi nữa. Nhưng em biết về thế nào được với bọn đường dây. Nó mà sống sót cũng bị đường dây hành tới chết về cái tội đòi về... Anh có nghe không đấy?”

“Nghe rõ cả.”

“Nó nói khổ đều quanh năm chịu được, dồn vào một ngày thì chết. Anh nghĩ có đúng không?”

“Chắc đúng.”

“Mẹ nó bán ruộng, bán vườn để chung tiền cho nó đi, cứ mong nó mang đôla về chuộc đất, xây nhà như những người có thân nhân Việt kiều. Bây giờ nó chết, chưa kịp nhìn thấy tờ đôla xanh. Trước khi chết nó tựa vai em lầm bầm 'Mẹ ơi! Con không muốn làm Việt kiều. Con muốn về nhà. Con muốn cơ cực ở nhà với mẹ suốt đời.' Giọng nó như đứa trẻ con ba tuổi.” (Tâm Thanh. “Người Rơm” - Diễn Đàn Thế Kỷ 1/7/2010). 


Người rơm còn có một tên gọi khác, dễ nghe hơn, theo ngoại ngữ: nouveaux boat people – những thuyền nhân mới. Khác với lớp người ty nạn từ Việt Nam vào cuối thế kỷ trước, những kẻ đến sau không còn được thế giới chào đón nữa. 

Nhân loại, xem chừng, đã oải. Không ai còn đủ kiên nhẫn và bao dung với những kẻ khốn cùng, (không vốn liếng, không ngoại ngữ, không nghề nghiệp, không cả một mảnh giấy tùy thân) cứ tiếp tục đến mãi từ một xứ sở… Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc! 

Thêm một điều khác biệt nữa là tuy được gọi tên “những thuyền nhân mới” nhưng họ không vượt biên bằng thuyền. 

“Trong cuộc hành trình dài bằng phần nửa vòng trái đất, họ thường bám trên các xe vận tải hạng nặng xuyên qua Châu Âu. Trốn trong những thùng chứa hàng trong xe, họ phải ép xác, có khi chịu đựng không ăn uống trong nhiều ngày...” (PhươngVũ Võ Tam Anh, “Người Việt Khốn Khổ Tại Paris”). 

Sau khi đặt chân được đến miền đất hứa (Anh Quốc) có một hiện tượng lạ xẩy ra là lớp người rơm, ở tuổi vị thành niên, đều mất biến – theo bài tường thuật (Missing Kids UK) của Sam Judah, qua Tạp Chí Thời Sự BBC: 

"Người ta tin rằng hầu hết các trường hợp đều được các băng đảng đưa lậu vào Anh, bị cảnh sát phát hiện và đưa vào các trung tâm chăm sóc. 

Các em rõ ràng là không bỏ trốn khỏi những kẻ bắt giữ mình, mà còn thường trốn khỏi các gia đình nhận nuôi dưỡng mình và các trung tâm chăm sóc để trở lại với những kẻ đó, nhằm tìm cách trả các khoản nợ lớn và nhằm để gia đình ở Việt Nam khỏi bị trả thù. 

Văn, một cậu bé người Việt 15 tuổi, mà dường như được đăng tải trên trang mạng trẻ mất tích dưới một cái tên khác, đã được đưa lậu vào Anh bằng xe tải và đã bị buộc phải giúp việc nhà cho những kẻ đã đưa cậu vào. Sau đó, cậu được đưa vào làm ‘thợ vườn’ ở một số trại trồng cần sa trên cả nước... 

Hồi năm ngoái, 96 thiếu niên người Việt đã được chuyển tới cho cơ quan quản lý tình trạng buôn bán người của chính phủ, khiến Việt Nam trở thành quốc gia có nhiều đối tượng được cho là nạn nhân ở tuổi vị thành niên nhất tại Anh. BBC, nghe được hôm 18 tháng 2 năm 2014, còn cho biết thêm một khía cạnh tồi tệ khác: “Số liệu từ Cơ quan Tội phạm Quốc gia Anh Quốc (NCA) cho thấy trẻ em từ Việt Nam nằm đầu bảng danh sách bị đưa lậu vào Anh vì mục đích lạm dụng tình dục.” 

Cập nhật hơn, The Guardian, số ra ngày 23 tháng 5 năm 2015, có bài tường thuật (“3,000 children enslaved in Britain after being trafficked from Vietnam”) của hai ký giả Annie Kelly và Mei-Ling McNamara. Xin ghi lại vài đoạn ngắn, theo bản dịch (“3.000 trẻ em bị buôn bán từ ‘đất nước Hồ Chí Minh’ sang Anh làm nô lệ”) của blogger Nguyễn Công Huân

“Giống như nhiều trẻ em Việt Nam khác, Hiền đã được đưa đến Anh để sống một cuộc đời nô lệ hiện đại. Em cuối cùng phải vào tù về tội trồng cần sa... 

Chuyến đi của Hiền tới Anh Quốc bắt đầu khi em bị bắt cóc khỏi làng lúc 5 tuổi bởi một người nói rằng ông ta là chú của em. Như một đứa trẻ mồ côi, em không còn lựa chọn nào khác ngoài làm theo những mệnh lệnh của người khác. Em đã mất năm năm đi qua nhiều quốc gia bằng đường bộ, hoàn toàn không biết mình đã đi qua những đâu, từ Việt Nam qua biên giới giữa Pháp và Anh để tới một căn nhà ở London. Ở đây em phải làm nô lệ trong nhà trong 3 năm, nấu ăn và dọn dẹp cho nhóm những người Việt đi ra vào ngôi nhà em bị giam giữ... 

Trong lời khai với cảnh sát, Hiền nói rằng em vẫn không hiểu chính xác loại cây em trồng là cây gì, mặc dù em hiểu rằng nó rất có giá trị. Em chăm sóc đám cây, sử dụng thuốc trừ sâu khiến em bị ốm, và chỉ rời căn hộ khi em giúp chuyển các cây cần sa này tới nơi khác để sấy khô. Em bị khóa trong nhà, bị đe dọa, bị đánh đập và bị cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài.”

Ước mơ của đám trẻ con Việt Nam đang bị giam giữ trong những trang trại trồng cần sa, hay những nơi mua bán tình dục – nếu có – hẳn không phải là được “thong dong trên khắp nẻo phố châu Âu” (như chú mèo Glitter trong câu chuyện của Hoàng Giang) mà là được trở lại quê hương. Được “cơ cực ở nhà với mẹ suốt đời,” như nguyên văn tâm sự của một nhân vật (dẫn thượng) của nhà văn Tâm Thanh. 

Chuyện hồi hương, buồn thay, cũng không dễ dàng chi – theo tường trình của thông tín viên Lê Hải, từ Luân Đôn: 

“Khi đã vào đến nước Anh rồi thì tùy thuộc vào chính quyền Việt Nam có chịu nhận những người này về hay không. Thường thì số lượng người bị trục xuất về Việt Nam gia tăng khi giữa hai nước có các đoàn công tác cấp cao, và chính phủ Anh có thể đề nghị tăng viện trợ để đổi lại bằng chuyện Việt Nam nhận người về.”

Cách ứng xử của những người lãnh đạo ở Việt Nam hiện nay (Luân Đôn phải tăng viện trợ Hà Nội mới chịu nhận người về) dễ làm người ta liên tưởng đến lời lẽ cứng rắn trong bức thư mà ông Lý Quang Diệu gửi cho bà Thủ Tướng Anh, về vấn đề thuyền nhân Việt Nam, vào ngày 5 tháng 6 năm 1979. Xin được trích dẫn đôi dòng, theo bản Việt Ngữ của nhà văn Phạm Thị Hoài

“Phải nói, phải nhắc đi nhắc lại, cho nhân dân và các nhà lãnh đạo trên toàn thế giới biết rằng chính quyền nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chính là kẻ tích cực xúc tiến cuộc di tản ồ ạt này, gây thiệt hại nặng nề cho các nước Đông Nam Á... 

Họ có đầu óc lạnh lùng tính toán, không hề biết động lòng với chính đồng bào mình, nhưng làm phép tính giữa chi phí và lời thu về thì rất nhanh.” 

(People and leaders throughout the world must be told, again and again, that this is the government of the Socialist Republic of Vietnam which has actively promoted this massive migration, causing havoc to the countries of Southeast Asia... They have cold, calculating minds, which, whilst incapable of compassion to their own people, are nevertheless most acute in computing cost-benefits.)



Từ 1979 đến nay là gần nửa thế kỷ. Trong khoảng thời gian này đã có hai đợt di dân tập thể từ Việt Nam: thuyền nhân cũ và những thuyền nhân mới - ancient boat people and nouveaux boat people. 

Giữa hai lớp người này có nhiều điểm dị biệt nhưng chính sách của nhà đương cuộc Hà Nội thì trước sau như một, hoàn toàn xuyên suốt và nhất quán: “Họ có đầu óc lạnh lùng tính toán, không hề biết động lòng với chính đồng bào mình, nhưng làm phép tính giữa chi phí và lời lãi thu về thì rất nhanh.” 

Nói cho nó gọn thì đây là một hình thức buôn dân của giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay. Nước họ còn dám bán thì buôn dân, tất nhiên, chỉ là chuyện nhỏ.
Chuyện Hai Căn Nhà Bỏ Hoang

Huyền Thoại Thịnh Hương

Bà Phụng về ở khu này hơn một năm rồi mà hai căn nhà đó vẫn để hoang. Một căn nằm trên con lộ chính, lưng chừng đồi. Căn kia cách nhà bà khoảng năm trăm mét, nhưng nằm trên một con đường khác. Thỉnh thoảng đi bộ bà hay ngừng lại nhìn, thắc mắc không biết lý do gì mà người ta để nhà rách rưới thê thảm trong khi thị trường địa ốc cứ leo thang vùn vụt. Cửa chính của căn nhà đã bị xây bít lại, và những bậc tam cấp từ sân vào nhà cũng được phá bỏ. Điều đáng tiếc nữa là căn nhà có một địa thế rất tốt, vì từ ban công sau nhà người ta có thể nhìn bao quát nửa vùng vịnh. Nhiều lần bà mong có người hàng xóm nào đó ở ngoài sân để hỏi thăm, nhưng tháng này qua tháng khác bà vẫn chưa có dịp. Bà không thể gõ cửa nhà người ta để hỏi chuyện riêng tư của người khác. Rồi bà mong căn nhà được rao bán để nó không là một cái gai nhọn trong mắt láng giềng. Thật vậy, vì giữa một khu xóm an bình, sạch sẽ mà có một căn nhà để hoang như thế quả là không đẹp mắt chút nào.

Căn nhà lưng đồi nhìn tươm tất hơn, nhưng cửa nhà xe bị gãy đổ , được bít lại bằng những tấm ván ép. Một buổi sáng bà đi bộ, thấy ông già ở căn nhà kế bên đang tỉa cây. Thấy bà, ông giơ tay vẫy và chào “Good morning”. Bà mỉm cười, chào đáp lễ rồi tiếp tục cuốc bộ. Bỗng bà chợt nhớ đến thắc mắc lâu nay của mình nên ngừng bước, hỏi ông: 

- Xin lỗi, tôi có thể hỏi ông vài điều không ạ?

- Xin bà cứ hỏi. Hy vọng tôi có câu trả lời cho bà. 

- Dạ, tôi thấy căn nhà kế bên không ai ở đã lâu mà không thấy có bảng rao bán. Nhà bỏ không, uổng quá!

Ông hỏi lại bà:

- Vậy chắc bà mới đến đây?

Bà nói bà dọn đến đây đã hơn một năm, thì ông gật gù:

- À, vậy nên bà không biết chuyện gì đã xảy ra trong căn nhà này. Năm ngoái ngân hàng đã cho lên “list” bán nó rồi, nhưng saú tháng qua rồi saú tháng khác lại đến, không ai dám mua căn nhà đó. Bây giờ nghe đâu họ đã cho đấu giá. Tôi mong cho có người mua, chứ ở kế bên căn nhà hoang, tôi cũng không thích thú gì. Nhìn nó là lại nhớ đến chuyện không may của chủ cũ.

Bà Phụng đoán chừng chuyện không may đó có thể là một bi kịch, nên bà nhân cơ hội hỏi cho rõ ngọn ngành:

- Ông có thể kể sơ qua cho tôi biết được không? Nhiều lần đi ngang, tôi cũng thắc mắc và tiếc cho một căn nhà khá đẹp mà không ai ở.

Ông bảo:

- Nếu bà không vội, mời bà vào trong này, chúng ta sẽ ngồi ngoài hiên nói chuyện. Sẵn dịp xin làm quen với bà. Tôi tên Eugene, ở đây đã bốn chục năm. Vợ tôi mất cách nay năm năm vì biến chứng bệnh tiểu đường.

- Xin chia buồn về bà nhà. Tôi tên Phụng. Tôi ở chung với con gái và chồng con nó. Nhà phía trên kia, đi bộ chừng mười phút là tới.

Ông già thật tình:

- Tôi không thích ở chung với con chaú bà ạ. Môĩ tuần đến thăm nhau là tốt rồi. Khi nào không còn đủ sức khỏe thì tôi sẽ bán nhà, vào ở trong viện dưỡng lão, khỏi phiền chúng nó.

Bà Phụng hiểu là người Mỹ có đời sống rất riêng tư và tự lập. Bà theo ông vào ngồi trong bộ ghế gỗ trước hiên nhà. Ông xin phép vô lấy nước mời bà. Sau khi yên vị, Eugene thố lộ:

- Tôi đã từng sang chiến đấu bên Việt Nam một nhiệm kỳ, và tôi cũng có mấy người bạn Á Châu trong những năm gần đây. Tôi hiểu phong tục của Á Châu nặng tình gia đình, và con cái thường không muốn để cha mẹ mình vào viện lúc tuổi về chiều. 

Bà phụng gật đầu xác nhận:

- Vâng, ông nhận xét rất đúng. Nhưng bây giờ cũng có nhiều người già trong cộng đồng chúng tôi vào viện dưỡng lão vì con cái ai cũng phải đầu tắt mặt tối đi làm để trả tiền nhà. Tuy có buồn, nhưng lại được chăm sóc đúng mức. Chỉ cần con cái lưu tâm, thăm viếng thường xuyên là mãn nguyện lắm rồi, ông ạ!

Ông già gật đầu:

- Vâng, bà nói đúng. Về già chúng ta chỉ cần món ăn tinh thần, bà nhỉ.

Rồi ông đổi giọng:

-Bây giờ, tôi sẽ kể chuyện gia đình kế bên cho bà nghe nhé!

“Họ mua căn nhà này cách đây khoảng mười năm, lúc vợ chồng chủ cũ về hưu, dọn nhà đi tiểu bang khác. Vợ chồng chủ mới là người Thái, có hai con nhỏ, một bé gái bốn tuổi và bé trai hai tuổi. Người chồng tên Jimmy, cô vợ tên Nancy. Cả hai vợ chồng đều đi làm, nên mỗi sáng chồng chở con gái đến trường mẫu giáo, cô vợ ẵm thằng em và túi đồ ăn đến nhà bà giữ trẻ rồi buổi chiều đón cả hai đứa con về vì chồng cô làm tài xế chở hàng cho một hãng bán đồ nội thất ở Santa Clara, thường hay bị kẹt xe trên hai xa lộ l-880 va 237. Theo tôi biết, cô vợ làm thư ký cho một văn phòng địa ốc lớn ở thành phố kế bên. Họ có vẻ rất hạnh phúc. Mỗi lần đi nghỉ đều sang cho tôi biết để ngó chừng nhà cửa cho họ. Cuộc sống êm lặng đó kéo dài nhiều năm…

Cho đến một đêm cách đây ba năm, tôi đang chuẩn bị đi ngủ thì thấy mấy xe cảnh sát tới nhà họ, nhá đèn sáng trưng. Tôi nghĩ nhà bên đó có tai nạn hay đau ốm gì , nhưng không thấy xe cứu thương và chữa lửa như thường lệ. Tôi bước ra nói chuyện với một trong mấy ông cảnh sát, và quá ngạc nhiên khi ổng cho biết đây là một ca bạo hành gia đình, domestic violence, người chồng đã đánh vợ. Bà vợ té, đập đầu vào cạnh bàn, máu chảy lênh láng. Vậy mà thằng chồng bỏ đi, không thèm ngó ngàng gì đến vợ con. Nancy đành phải đưa hai đứa con ra xe, tự lái đến nhà thương.

Sau khi cấp cứu, bác sĩ hỏi Nancy nguyên do nào bà bị thương. Nancy - giống như phần đông phụ nữ Châu Á - muốn giấu chuyện nhà, không muốn vạch áo cho người xem lưng, nên nói dối, bảo bị vấp té. Tuy nhiên, Danielle - đứa con gái – lúc đó đã hơn mười tuổi, nhất định khai sự thật. Nó sanh đẻ bên Mỹ, được nhà trường giáo dục kỹ lưỡng về quyền lợi, về lẽ phải và sự trung thực nên nó không muốn nói dối. Sau vài tiếng chờ Nancy ổn đinh và chắc chắn là cô không bị biến chứng nguy hiểm nào khác, bệnh viện kêu cảnh sát để báo cáo sự việc, vì luật pháp đòi hỏi họ phải cho chính quyền biết những hành động bạo hành trong gia đình, dù nạn nhân từ chối không thưa gửi .

Ba xe cảnh sát hộ tống mấy mẹ con về, vừa để bảo vệ an toàn cho họ, vừa để bắt ông chồng về đồn. Nhưng Jimmy đã cao chaỵ xa bay. Không bắt được người chồng, hôm sau cảnh sát gửi lệnh, đòi anh ta phải đến đồn để trả lời về hành động hung hãn của mình dù vợ anh ta không kiện thưa, muốn bãi nại. 

Jimmy không đến đồn theo giấy mời, nên bị lệnh truy nã. Cảnh sát cho anh ta vào hệ thống truy tầm, hễ gặp anh ta lúc nào là tóm cổ lúc đó. Một ngày kia, Jimmy vượt đèn đỏ nhằm lúc có cảnh sát thường phục đi sau. Thế là anh ta bị bắt vô tù, hai hôm sau gia đình phải “bail” ra chờ ngày xét xử. Ông tòa thấy anh ta chưa hề có tiền án, nên cho án treo - probation – trong hai năm, và phải đi làm công ích bốn chục giờ.

Nancy cho tôi biết gần đây chồng cô bắt đầu ghiền bài bạc. Viện cớ trên đường về bị kẹt xe trầm trọng, nên anh ta vào mấy sòng bài chơi, chờ sau tám giờ mới lái xe về. Bà biết mà, trong thung lũng hoa vàng này có ít nhất ba sòng bài. Nào là Garden City, Bay 101 rồi mấy năm gần đây laị thêm M8trix. Lúc đầu Jimmy chỉ vô sòng bài chờ cho hết kẹt xe, nhưng vi trùng đỏ đen tấn công anh một cách rất từ tốn, rất êm đềm. Cho tới lúc anh ta nhận ra mình thiếu vắng một cái gì rất thân thương, không gặp là nhớ không chịu nổi. Anh ta bị ghiền đỏ đen lúc nào không hay. Từ một người chồng tốt, một người cha gương mẫu Jimmy đã biến thành một kẻ vô trách nhiệm. Lương bao nhiêu anh ta đem đến tặng hết cho mấy sòng bài. Càng thua anh ta càng nóng gỡ, và càng gỡ anh càng thua. Chuyện cứ thế lập đi lập lại hai ba năm. Nancy nhiều lần chạy sang khóc với vợ chồng tôi, và than thở là chồng đã bán hết nữ trang của cô để đánh bạc. Cô nói cô sẽ phải khai phá sản và bán nhà trả nợ cho những người đã cho chồng cô vay tiền. 

Một buổi chiều, Danielle hớt hải chạy sang gõ cửa nhà tôi và lắp bắp báo tin dữ, là cô vừa đi học về thì thấy cha mẹ cô đang cãi nhau dữ dội về tiền bạc. Cô vô phòng trốn phong ba thì nghe hai tiếng nổ đinh tai. Sợ hãi, cô hé cửa nhìn thì thấy mẹ nằm sấp trên sàn nhà, máu chảy lênh láng. Cha cô vội vàng ra khỏi nhà, trong tay vẫn còn cầm khẩu súng nhỏ. 

Tôi gọi cảnh sát. Nancy đã chết ngay trong nhà, trước mặt đứa con gái mười bốn tuổi. Cảnh sát liên lạc với thân nhân của họ để chăm sóc hai đứa trẻ bỗng trở thành mồ côi. Ba hôm sau, Jimmy tự nạp mình tại đồn cảnh sát . Anh ta bị tòa tuyên án hai mươi năm tù vì tội ngộ sát, “second degree manslaughter”.

Căn nhà được nhà bank rao bán hai lần, nhưng có lẽ ảnh hưởng cái chết thê thảm của người vợ nên không ai trả giá. Cha mẹ Nancy mới đây đến nhà làm lễ cầu siêu nhân ngày giỗ của cô. Tôi nghe nói nhà bank đã bán đấu giá căn nhà này, và một cặp vợ chồng người Mỹ đã mua với một giá rất hời.”

Kể xong, Eugene lắc đầu, thở dài “Người ta không bao giờ chịu tin là mình có thể bị bài bạc sai khiến. Đến lúc tỉnh ngộ thì đã quá muộn”.

Bà Phụng ngao ngán:

- Ông ơi, người Việt chúng tôi có câu “Bài bạc là bác thằng bần, cửa nhà bán hết tra chân vào cùm.” Thật chẳng sai chút nào. Hy vọng ông mau có hàng xóm mới để quang cảnh bớt hiu hắt.

- Tôi cũng mong như vậy.

Bà Phụng vẫn còn một thắc mắc nữa nên hỏi tới:

- Còn căn nhà trên đường “A”, gần nhà tôi. Ông có biết vì sao nó cũng bị bỏ hoang?

- Ồ, bà ở gần đó hả? Ôi chà chà, cái nhà đó lại còn ghê hơn. Tôi nghĩ nó bị “ma ám” nên cả hai chục năm rồi có ai ở được đâu! 

Bà Phụng trợn mắt:

- Trời, ma ám? Ông không dọa tôi đấy chứ?

- Bà ơi, đời nào tôi dám doạ bà, một phụ nữ duyên dáng tôi mới được hân hạnh làm quen! Tôi ít tin vào chuyện ma quái, nhưng từ khi những chuyện không hay xảy ra ở căn nhà đó tôi bắt đầu tin có những điều huyền bí mà khoa học không thể giải thích . Để tôi kể bà nghe…

“ Hai vợ chồng nhà đó đến đây hai mươi mấy năm về trước. Tôi không quen họ nên chỉ nghe tin từ cảnh sát và những người bạn mà thôi. Đại để thằng chồng là một tay áp phe địa ốc, làm ra nhiều tiền nên cho vợ ở nhà chăm sóc con cái. Nhưng nó lại là một tay “gia trưởng” hạng nặng, một thứ “control freak”. Tháng nào y cũng rà soát hoá đơn điện thoại xem cô gọi cho những ai, nói dài bao lâu. Rồi y hạch hỏi tại sao cô nói chuyện lâu thế, rồi ra lệnh là cô chỉ được gọi năm ba phút mà thôi. Y còn không cho vợ giao thiệp với những người bạn của cô mà y không ưa! Khi hệ thống security camera vừa phổ thông một chút là y gắn máy hình khắp nhà để xem những lúc y vắng nhà vợ làm gì, có mời ai tới chơi hay không. Khi con đến tuổi đi học vợ muốn đi làm part time nó cũng không cho. Sau bảy tám năm bị chèn ép vợ nó xin ly dị. Nó bảo nếu cô ta ly dị nó thì cô nên chuẩn bị mồ mả cho cô và cha mẹ cô trước là vừa!

Một đêm hai vợ chồng cãi nhau kịch liệt, cô bắn chồng chết với khẩu súng anh ta thường đem ra múa may dọa nạt cô. Bắn chồng xong, cô gọi cảnh sát báo tin chính cô đã ra tay giết chồng vì quá uất ức. Gọi cảnh sát xong, cô tự vận cũng bằng chính khẩu súng đó. 

Mấy năm sau, căn nhà đó có chủ mới. Chủ mới sửa nhà cho khang trang trước khi dọn vào. Nhưng hễ họ bắt đầu sửa chữa là có một tai nạn xảy ra! Đầu tiên là chuyện ống nước. Nước cứ bị nghẹt không có lý do. Khi họ sửa trần nhà thì trần nhà sập vô tội vạ. Sửa nhà bếp thì điện cứ bị cúp liên tu bất tận. Sửa sàn nhà thì thợ bị tai nạn. Sửa phòng tắm thì tường bị mối ăn. Cuối cùng chủ mới phải bán lại nhà, lỗ khẩm. Người chủ sau cũng bị trục trặc như chủ trước. Kết quả, nhà bank lấy lại nhà, để trống hai chục năm không bán được vì tiếng đồn nhà có ma”.

Nghe xong chuyện, bà Phụng hơi sợ, vì nhà bà ở gần đó. Eugene trấn an bà:

- Bà không nên ngại, vì hai con ma đó chẳng làm phiền lối xóm bao giờ. Không ai thấy chúng xuất hiện lần nào, mà cũng không có dấu hiệu ma quái gì chung quanh. Chắc chúng chỉ muốn giữ ngôi nhà để còn được tự do đánh nhau mỗi ngày hay sao đó! Bà hãy tin tôi, cứ an tâm đi dạo, sẽ không bao giờ gặp ma đâu!

Từ hôm đó bà Phụng có người cùng đi bộ mỗi buổi sáng sau khi đã làm tròn nhiệm vụ đưa hai cháu ngoại đến trường. Eugène là khách mời mỗi khi gia đình bà có tiệc tùng đình đám. Ngôi nhà kế Eugene đã có chủ mới, người Mỹ, và điều đáng mừng là họ ở đó đã ba bốn tháng mà không có chuyện gì bất thường xảy ra. Eugene giải thích là cô Nancy hiền lành, nhẫn nhịn nên cô đã an lòng đi đầu thai. Còn căn nhà kia vẫn để trống, vẫn hoang tàn làm nhức mắt xóm giềng vì hai “con ma” đó chết không yên, còn sôi sục căm thù, chưa chịu tha thứ. Bà Phụng thì “tuyên bố” nếu nhà bank đồng ý bà sẽ mời linh mục hay sư cụ đến dâng lễ hoặc cúng vái cho hai con ma được siêu thoát, trả lại vẻ đẹp cho khu xóm.

Huyền Thọai Thịnh Hương

Blog Archive