Saturday, June 29, 2024

Một số lợi ích sức khỏe tuyệt vời của việc ăn phô mai

Việc kết hợp ăn phô mai vào chế độ ăn uống cân bằng có thể mang lại nhiều lợi ích sức khỏe do hàm lượng chất dinh dưỡng đậm đặc của nó.Phô mai được coi là tốt cho sức khỏe khi tiêu thụ ở mức độ vừa phải, bởi chúng cung cấp nguồn dinh dưỡng phong phú cần thiết như canxi, protein, vitamin (như B12 và A) và khoáng chất (như phốt pho và kẽm).Những chất dinh dưỡng này góp phần mang lại nhiều lợi ích sức khỏe như có thể giúp tăng cường sức khỏe tổng thể bằng cách duy trì mật độ xương, hỗ trợ các chức năng trao đổi chất, tăng cường phản ứng miễn dịch và tăng cường sức khỏe tiêu hóa. Dưới đây là một số lợi ích sức khỏe tuyệt vời của việc ăn phô mai.

Nguồn canxi dồi dào
Phô mai chứa nhiều canxi, một khoáng chất quan trọng cho sức khỏe của xương và răng. Nó giúp duy trì mật độ và sức mạnh của xương. Hấp thụ canxi đều đặn có thể ngăn ngừa loãng xương và các vấn đề về răng miệng, thúc đẩy sức khỏe xương suốt đời.

Giàu protein
Ăn phô mai là nguồn cung cấp protein chất lượng cao, cần thiết cho việc xây dựng và sửa chữa các mô. Lượng protein đầy đủ hỗ trợ duy trì cơ bắp, tăng cường trao đổi chất và hỗ trợ kiểm soát cân nặng.

Chứa vitamin B12
Ăn phô mai giúp tiêu thụ đủ lượng vitamin B12- nó rất quan trọng đối với chức năng thần kinh và sản xuất hồng cầu. Ăn phô mai thường xuyên có thể ngăn ngừa suy giảm nhận thức và thiếu máu, đảm bảo vận chuyển oxy và chức năng não hiệu quả.

Nguồn chất béo lành mạnh
Phô mai chứa chất béo lành mạnh cung cấp nguồn năng lượng tập trung và hỗ trợ hấp thu các vitamin tan trong chất béo (A, D, E và K). Những chất béo này hỗ trợ mức năng lượng bền vững và cân bằng dinh dưỡng tổng thể, góp phần mang lại sức khỏe trao đổi chất tốt hơn.

Probiotic tốt cho sức khỏe đường ruột
Ăn phô mai có chứa men vi sinh giúp tăng cường hệ vi sinh vật đường ruột. Hệ vi sinh vật đường ruột khỏe mạnh sẽ giúp tăng cường tiêu hóa, tăng cường hệ thống miễn dịch và có thể làm giảm nguy cơ mắc các bệnh về đường tiêu hóa.

Giàu phốt pho
Phốt pho có nhiều trong phô mai, phối hợp với canxi để xây dựng và duy trì xương, răng chắc khỏe. Đảm bảo tính toàn vẹn cấu trúc của xương và răng, ngăn ngừa gãy xương và sâu răng.

Nguồn kẽm tốt
Kẽm có trong phô mai rất cần thiết cho chức năng miễn dịch, tổng hợp DNA và phân chia tế bào. Ăn phô mai thường xuyên sẽ hỗ trợ hệ thống miễn dịch mạnh mẽ, chữa lành vết thương hiệu quả và tăng trưởng và phát triển khỏe mạnh.

Chứa vitamin A
Vitamin A trong phô mai rất quan trọng đối với thị lực, chức năng miễn dịch và sức khỏe của da. Bảo vệ chống quáng gà, tăng cường khả năng miễn dịch và duy trì làn da khỏe mạnh.

Giúp quản lý cân nặng
Hàm lượng protein và chất béo cao trong phô mai thúc đẩy cảm giác no, giảm lượng calo tổng thể. Hỗ trợ quản lý cân nặng và ngăn ngừa các tình trạng liên quan đến béo phì như tiểu đường tuýp 2 và bệnh tim mạch.

Casablanca - nhớ về Mạ


Mẹ Con, tranh Nguyễn Đức Tuấn Đạt

Ravi, người bạn đồng nghiệp thúc nhắc tôi, phải đi với anh ta, làm việc vài ngày ở Morocco. Ravi bảo:

-Mình sẽ thăm khách hàng ở Casablanca. Sau đó, Philipp đón mình đi thăm khách hàng khác ở Rabat.

Có lẽ từ khi xem cuốn phim Casablanca, một cuốn phim khá xưa, tôi có ý thích đi Morocco. Phim kể về một chuyện tình trong bối cảnh đệ nhị thế chiến. Humphrey Bogart và Ingrid Bergman thủ vai chính. Lúc đó, nhiều nơi trên đất Pháp đã bị Đức Quốc Xã chiếm đóng. Rất nhiều người chạy trốn Hitler bằng những con đường gian truân. Đi từ Paris, đến Marseilles, đến Lisbon, thoát qua Morocco. Để từ quốc gia ở bắc Phi lo giấy tờ trốn qua Hoa Kỳ. Hình ảnh Ingrid Bergman trong vai Ilsa cúi xuống nói với người nhạc công: “Sam, play it once, play “As Time Goes By”, đã đọng lại thật lâu trong trí nhớ tôi. Vì những lý do ngẫu nhiên, mà chuyến công tác sang Morocco cứ bị dời mãi. Hoạch định từ đầu năm, mãi đến tháng Sáu mới lên lịch được. Tôi nói với thượng cấp của tôi, sẽ lấy một tuần nghỉ phép sau khi đi làm ở Morocco. Lúc đó con tôi cũng được nghỉ lễ hai tuần, rất tiện. Chúng tôi sẽ về nhà Ba Mạ tôi.

Trước khi đi Casablanca, tôi về thăm gia đình cuối tuần. Mạ mới phải vào bệnh viện vì sưng phổi. Tôi và vợ chồng đứa em út vào thăm Mạ. Ba chị em ngồi kể chuyện cho Mạ nghe. Mạ không nói tiếng nào. Tôi ngồi bên giường Mạ, cầm tay Mạ:

-Con đi làm bên Ma-Rốc vài ngày. Tuần sau, con về đây ở với Ba Mạ một tuần. Mạ thích không? Con đã hỏi cô y tá. Cô bảo, Mạ hết bệnh sưng phổi. Nhưng tốt hơn, ở lại trong bệnh viện để người ta chăm sóc và theo dõi đến cuối tuần. Vậy cũng tiện, Mạ ra khỏi bệnh viện, tuần sau, có con ở nhà chơi với Mạ, nghe Mạ.

Mạ nhìn tôi, ánh mắt mệt mỏi, không tỏ lộ tình cảm rõ rệt. Trước đây vài năm, tôi bắt đầu có những chuyến đi làm xa vượt đại dương. Nhiều người gọi đùa là du lịch mà khỏi phải tự mình trả tiền máy bay và khách sạn. Riêng Mạ băn khoăn, mỗi khi tôi kể cho Mạ nghe, tôi sắp sửa đi làm xa:

-Con đi xa dữ rứa? Đi chừng mô mới tới? Có đông người làm cùng chỗ đi theo không? Tới chỗ lạ, đi đứng, ăn ở ra răng? Có ai phụ việc cho con không?

Mạ chẳng thể tưởng tượng công việc của tôi như thế nào. Chỉ nghe con kể, nhìn thấy con vẫn mãi nhỏ bé, yếu ớt như thuở ấu thơ, nên Mạ lo con cực. Tôi trấn an Mạ:

-Con lên máy bay, ngủ một giấc là tới nơi. Bên đó, hãng sắp xếp có người đón đưa thuận tiện, ăn ở khách sạn tươm tất lắm. Mạ yên tâm.

Lúc nào trong mắt Mạ, bầy con cũng luôn nhỏ dại. Năm ngoái, từ Ả Rập về, tôi mua những tấm khăn choàng Cashmere làm quà. Trời tháng Sáu, ở Đức vẫn chưa có hơi hướm mùa hè. Mạ ngồi nơi ghế dựa, gần cửa sổ, đắp cái mền mỏng trên chân. Tôi hỏi:

-Mạ thích màu nào nhất?

Tôi nhớ, ngày xưa khi Mạ bằng tuổi tôi, Mạ buôn bán giỏi giang. Với tiệm sách, tiệm cà phê Mạ cho bầy con của Mạ ăn ngon, mặc đẹp. Mạ mặc những chiếc áo dài thật sang trọng, quý phái. Mạ mân mê tấm khăn:

-Mạ thích màu ni. Mạ chỉ cái khăn màu cà phê sữa. Chà, vải chi mà mịn màng quá hè. Khăn ni bao nhiêu tiền một cái đây con?

Nghe Mạ hỏi như vậy tôi mừng lắm. Chứng tỏ Mạ vẫn còn quan tâm đến đời sống con cái. Mạ sợ con tốn tiền. Lúc nào cũng vậy, Mạ tiện tặn cho Mạ, nhưng rộng rãi cho con cái.

Cũng mới năm ngoái đây, mỗi khi tôi về thăm Ba Mạ, vừa về tới Mạ đã nhắc:

-Ráng ở chơi lâu lâu với Mạ nghe con.

Hễ báo tin sẽ về, là trước đó Mạ hay gọi điện thoại hỏi đi, hỏi lại, như sợ con bận rộn hay quên khuấy lời hứa về thăm nhà. Chuẩn bị đi, Mạ cũng bịn rịn:

-Con ở chơi thêm chút nữa đi.

Vậy mà bây giờ, Mạ như không nhận biết rằng, con gái Mạ sắp đi làm ở tận châu Phi, một nơi xa lạ, để lo lắng hỏi han. Mạ cũng không cảm nhận được lời hứa hẹn của con sẽ về, ở với Mạ vài ngày, để Mạ vui mừng, náo nức. Tôi lấy khăn lau mặt Mạ, lau tay Mạ. Lấy miếng bông gòn thấm chút trà cúc rà miệng cho Mạ. Mạ nắm chặt tay tôi, tỏ vẻ không đồng ý. Tôi vuốt nhẹ tay Mạ, nói:

-Thôi, Mạ không thích thì thôi.

Tôi ngồi phụ Mạ làm vài động tác thể dục. Khi bóp chân cho Mạ, tôi chặc lưỡi:

-Mạ ốm quá, da bọc xương thôi.

Khi chuẩn bị về, tôi cúi xuống hôn trán Mạ, hôn má Mạ, nhắc lại những lời mình đã kể với Mạ khi mới đến:

-Chừ con phải về, mai con đi Ma-Rốc. Tuần sau con xin nghỉ một tuần về chơi với Mạ, Mạ thích không?

Mạ nằm, mắt nhắm hờ như đang ngủ. Hơi thở có vẻ mệt nhọc. Tôi vuốt vuốt tay Mạ, cúi hôn Mạ lần nữa rồi chạy vội. Nhưng không hề có ý nghĩ đó là lần sau cùng được nhìn thấy Mạ.

Từ khi Mạ bị bệnh, đi tới đâu, buổi tối tôi cũng gọi về thăm hỏi. Càng về sau, Mạ càng ít nói. Tôi bảo các em đưa điện thoại cho Mạ nói chuyện với tôi, nhiều lần Mạ lặng yên rất lâu. Các em thúc dục:

-Mạ nói đi, chị chờ hoài cho đến khi Mạ nói, chị mới yên lòng. Mà chị gọi từ xa lắm, tốn tiền lắm.

Chúng tôi vẫn hy vọng đánh trúng tâm lý sợ con tốn tiền của Mạ. Có khi Mạ ừ, có khi Mạ nói không. Đôi lần hiếm hoi, Mạ nói: “Bữa ni sao mệt quá.” Tôi vẫn tin và luôn hy vọng rằng tình trạng sức khoẻ của Mạ chỉ tệ trong thời gian ngắn. Rồi Mạ sẽ bình phục.

Qua ngày hôm sau ở Casablanca, kết thúc hai buổi họp dài, chúng tôi đi thăm các cơ sở thương mại của khách hàng. Khi xong việc, xem như rảnh rỗi cho chương trình của mình, trời đã chập choạng tối. Hơn bảy giờ ở Morocco, tức đã chín giờ đêm bên Đức. Sợ khuya, nên tôi không gọi nữa. Định bụng ngày mai, hoặc trước khi đi làm, hoặc giữa giờ nghỉ trưa, sẽ gọi về thăm Mạ. Văn phòng hãng tại Casablanca phái một nhân viên người bản xứ đến đưa chúng tôi đi chơi lòng vòng và mua sắm lặt vặt. Vào trong khu chợ, đầy dẫy những sạp, những tiệm bán đồ da. Không hấp dẫn tôi bằng những xe bán dạo, có lò than trên là thau ốc, sò luộc và những xe bán nước cam vắt. Tôi thích dừng chân bên những chiếc xe thô sơ này hơn. Tôi nhìn quanh quất, như tìm xem có còn chút gì của những cảnh trong phim Casablanca, chẳng hạn như Rick's Café Américain. Ravi hỏi tôi, nếu muốn mua áo khoác và túi xách da, anh tài xế sẽ tìm và trả giá cho. Các mặt hàng đồ da rất đa dạng và giá cả phải chăng. Tôi không chủ tâm mua sắm gì, chỉ thích nhìn ngắm khung cảnh chung quanh trong con mắt của du khách tò mò. Sau cùng, tôi mua dăm ba món quà lưu niệm lẳn tẳn cho con trai và đám cháu. Ravi bảo:


-Ngày mai nếu có thì giờ, mình đi thám hiểm chợ khác.

Tôi về đến khách sạn đã gần nửa đêm. Mệt nhoài. Tôi đi nằm ngay, chuẩn bị cho ngày làm việc dài đằng đẵng hôm sau. Nghe điện thoại reo trong giấc ngủ say, tôi tưởng tiếng đồng hồ báo thức. Nghĩ, mình vừa đặt lưng một chút, sao đã tới giờ dậy đi làm. Nhìn đồng hồ điện, mới 4 giờ sáng. Nhưng như phản xạ tự nhiên, tôi chồm người với lấy điện thoại, đưa lên tai: “Thúy đây, Thuy’s speaking.” Tiếng chị lớn của tôi:


-Thúy ơi, Mạ mất rồi.

Trong giây phút đó, tôi lặng người, tai như ù đi. Tôi không nhớ mình đã những câu hỏi dồn dập, tại sao, lúc nào… Tôi cầm chặt điện thoại, oà khóc. Không, đó chỉ là cơn mộng dữ mà thôi. Có tiếng báo điện thoại nhận được tin nhắn. Tôi bật đèn. Nước mắt ràn rụa. Mang mắt kính vào. Người gởi: KemHandy. “Chị Thúy ơi, Mạ qua đời lúc 9 giờ tối 07.06. Em Kem.” Tôi khóc ngất. Đọc đi đọc lại lời nhắn của đứa em út, xem có thể nào là sự nhầm lẫn chăng: Chi Thuy oi, Ma qua doi luc 9 gio toi 07.06. Em Kem. Tôi run rẩy bấm số gọi lại cho chị tôi, tiếng chị như văng vẳng lúc xa lúc gần:

-Mạ ra đi thanh thản lắm. Bây giờ Mạ đang nằm trên giường như đang ngủ. Có Ba đây, nhưng Ba đang xúc động quá, không nói chuyện được.

-Chị Tâm ơi, thiệt hả. Mạ không còn đó nữa sao? Mạ bỏ mình thiệt rồi sao? Tôi khóc oà.

-Thúy ơi, bình tĩnh lại đi. Có ai giúp em sắp xếp chuyến bay…

Chị Tâm đang cố gắng trấn tĩnh tôi. Tôi vẫn áp điện thoại bên tai. Không còn nghe rõ những lời bên kia đường dây. Tôi đã khóc không biết bao lâu, cả người như tê nhức. Tôi đang ở Phi Châu, một lục địa khác. Bao nhiêu ngàn cây số cách xa nước Đức, nơi Mạ đã nhắm mắt vĩnh viễn. Tôi chập choạng đi lại bàn, tìm số điện thoại phòng du lịch của công ty.

-Tôi đang ở Casablanca, tôi muốn về lại Frankfurt bằng chuyến bay sớm nhất. Rất cấp bách.

Lát sau, cô nhân viên phòng du lịch gọi lại cho tôi:

-Vé của cô đã xong. Cô ra phi trường, chỉ cần trình tấm Card Flying Blue.

Dù là chuyến sớm nhất, mà theo lịch trình, mãi 7 giờ tối tôi mới đến Frankfurt, vì phải đổi máy bay ở Paris. Tôi nằm vật ra. Sao lại như vậy. Tôi mới thăm Mạ hôm chiều thứ Hai đây mà. Lễ Pfingsten, thứ Hai lễ lá, cuối tuần dài ra. Khi lên lịch những chuyến đi xa, tôi thường xin phép thượng cấp cho tôi quá cảnh ở Frankfurt. Rồi tôi sắp xếp đủ thì giờ, để chạy vội về Bad-Nauheim, thăm Ba Mạ trước khi chuyển máy bay đi tiếp.

Mùa hè năm nọ, Ba Mạ cùng gia đình tôi và gia đình em tôi đi nghỉ hè bên Ý. Mạ rất thích bơi. Nhưng băn khoăn vì thấy chân yếu. Đi bộ từ nhà ra bãi biển, Mạ cứ phải nghỉ nhiều lần. Vậy mà, suốt thời gian đó, Mạ vẫn vui trọn vẹn với chồng, con, cháu. Về lại Munich, cũng là lúc gia đình nhỏ của tôi dọn qua nhà mới. Tôi nhìn tấm hình Mạ chụp đứng nơi ban công, ánh mắt Mạ rạng vui, mừng cho con có được mái nhà riêng. Những ngày tháng sau đó, Mạ vẫn luôn săn giòn, năng động. Mạ vẫn làm những hũ thịt chà bông, kho những nồi cá rau răm cho bầy con, cháu. Vào mùa xuân, Mạ cùng Ba đi hái lá rau Brennessel, làm bánh gai. Mạ vẫn thỉnh thoảng chân yếu không đứng được lâu. Sau nhiều lần đi bác sĩ, cuối cùng, em gái kế tôi, báo tin: “Bác sĩ chẩn đoán Mạ mắc bệnh Parkinson.” Lúc đó, trong hiểu biết của tôi bệnh Parkinson là bị run chân tay. Tôi đọc bài viết trong báo Focus, cũng chỉ hiểu lờ mờ. Người ta lập hội thân nhân những bệnh nhân Parkinson. Tôi ghi chép số điện thoại, định bụng, sẽ thử liên lạc trao đổi thông tin. Nhưng rồi vẫn chưa thực hiện được ý định này. Khi Mạ vào bệnh viện Parkinson lần đầu, chúng tôi có gặp một chị người Đức, vào thăm thân nhân của chị. Chị nói, tình trạng sức khoẻ của bệnh nhân Parkinson thay đổi thất thường trong những năm đầu. Sau đó, tình trạng sức khoẻ sẽ suy sụp rất nhanh. Chị khuyên chúng tôi nên chuẩn bị tinh thần để đối đầu với sự thật đó. Nhưng chúng tôi vẫn hy vọng tình trạng của Mạ sẽ là ngoại lệ. Với thuốc thang và các phương pháp thể dục trị liệu, rồi Mạ sẽ khoẻ lại.

Những lần về nhà, mấy chị em gái hay rủ nhau đi phố. Một hôm, mọi người đã ra xe, tôi còn xàng xê, đi sau cùng. Mạ đi với tôi ra cửa, cầm tay tôi, tần ngần, như muốn nói điều chi. Tôi hỏi Mạ:

-Hay con ở nhà với Mạ hỉ?

Mạ vui mừng:

-Ừ, ở nhà chơi với Mạ nghe.

Mạ kể:

-Mạ không đứng lâu được. Đi lui, đi tới không hề chi. Mà đứng xào nấu, dọn dẹp một chút là bắp chân mỏi ê, không chịu được.

Với một chuỗi tình cờ may mắn, mùa hè cả đại gia đình về Việt Nam để làm đám cưới cho cho đứa em út. Mạ vẫn thỉnh thoảng có những cơn mệt kiệt sức, mà chúng tôi không hiểu rõ nguyên do. Hôm cuối ở Sài Gòn, mọi người đang ở nhà người anh họ, chuẩn bị đi ra ăn tiệc chia tay với bà con họ hàng. Mạ nói Mạ hơi mệt, Mạ nằm nghỉ ở nhà. Khi Mạ đứng ở cầu thang, Mạ khụy chân, té ngồi xuống. Em tôi vội chạy lại đỡ, bồng Mạ lại nằm ở ghế xa- lông. Người nhà kêu ông thầy thuốc nam đến nắn. Không sưng nhưng Mạ nói cảm thấy đau. Theo chương trình, chúng tôi phải đưa Ba Mạ đi vòng qua ngõ Thái Lan. Ba Mạ, tôi và con trai qua Bangkok trước, ở lại hai đêm. Sau đó, sẽ gặp các gia đình khác ở phi trường, rồi bay về Đức. Tôi đặt xe khách sạn đến đón. Thấy Mạ mệt mỏi, có vẻ đau. Nhưng tôi không hề nghĩ đến thương tích gì trầm trọng. Tôi hỏi mướn ghế xe lăn của khách sạn, tôi muốn đưa Mạ đi chùa. Người ta không cho mướn, tôi rất bất bình. Cuối cùng, tôi nhờ con trai ở nhà trông chừng bà Ngoại, tôi đưa Ba đến chùa Phật Nằm. Hai cha con lâm râm cầu nguyện cho Mạ mau lành bệnh. Tội nghiệp Mạ, sợ chồng con lo, suốt hành trình dài, Mạ chẳng nói cho con biết, rằng Mạ rất đau, rất mệt. Về đến Đức, qua ngày thứ hai, Mạ vẫn đau và mệt. Chúng tôi đưa Mạ ra bệnh viện. Bác sĩ chụp quang tuyến, chẩn đoán và cho biết kết quả. Chúng tôi không ngờ, cơn ngã nhẹ ở Việt Nam đã làm xương chậu của Mạ bị nứt. Bác sĩ cho biết sẽ phải giải phẫu. Chúng tôi bàn bạc nên trình bày tình trạng như thế nào để Mạ và Ba không quá hoảng sợ. Sau khi giải phẫu, ráp xương, bệnh viện chuyển Mạ về tĩnh dưỡng ở dưỡng đường trên núi gần nhà. Thời gian đó tôi nghỉ hãng cũ, chưa đi làm hãng mới, có mấy tháng quanh quẩn ở Bad-Nauheim. Nghĩ lại, đó là cái duyên tốt cho tôi, có cơ hội chăm sóc, gần gũi Mạ. Sáng, khi tôi lên đến nơi, Mạ đã xong điểm tâm, ăn bánh mì chấm sữa nóng. Còn lại đồ ăn, Mạ để dành cho tôi. Mạ làm sẵn bánh mì với xúc xích, phô mai để trên bàn, Mạ nhắc tôi ăn. Sau đó, tôi đi với Mạ đến các phòng thể dục trị liệu. Những khi không phải sinh hoạt chung với các bệnh nhân khác, hai Mạ con ngồi nói chuyện với nhau. Buổi trưa, khi Mạ ngủ, tôi trải áo khoác lên sàn nhà, ngủ lơ mơ. Chiều chiều, tôi đưa Mạ xuống sân hóng nắng và phụ Mạ tập đi. Tôi đẩy xe theo Mạ, thúc nhắc Mạ ráng tập cho mau bình phục. Lúc đó Mạ đã cố gắng rất nhiều. Có hôm Mạ mệt nhọc đưa nạng cho tôi:

-Mạ chán quá, sao không thấy khá gì hết. Chỉ thấy ngày càng tệ hơn.

Những bệnh nhân khác, hoặc thân nhân của họ, khi ngồi hong nắng cũng quan sát hai mẹ con. Thấy Mạ đi được một đoạn dài, họ vỗ tay khích lệ. Tôi liền kể ngay với Mạ:

-Họ khen Mạ đi giỏi. Có tiến bộ nhiều đó.

Ở nhà chuẩn bị đón tiếp Mạ từ bệnh viện về. Bầy cháu vẽ chữ trang hoàng nhà cửa. Chồng em gái tôi và các em trai lắp ráp những thiết bị dụng cụ trong nhà thích hợp cho Mạ.

Khi tôi qua hãng mới, cô xếp rất thông cảm hoàn cảnh của tôi. Những ngày nghỉ bắt cầu, cô luôn nhường cho tôi lấy phép, để có cuối tuần dài về thăm Ba Mạ. Mạ vẫn hay bị những cơn mệt đến ngất người. Bác sĩ gia đình không tìm thấy rõ nguyên nhân khác ngoài bệnh Parkinson. Chúng tôi thuyết phục Mạ vào bệnh viện thành phố để khám tổng quát. Lần đó, bác sĩ đề nghị chuyển qua bệnh viện chuyên khoa Parkinson. Vào bệnh viện này, tôi gặp nhiều trường hợp khác nhau. Nơi Mạ, một đôi khi chúng tôi thấy có dấu hiệu tốt hơn. Nhưng chung chung tình trạng càng ngày càng đi xuống. Mạ không muốn ăn, hay sợ hãi, hay có ảo giác, thấy thú dữ, lụt lội.

Anh tôi đề nghị thử đưa Mạ đến người bạn là bác sĩ châm cứu. Chúng tôi chở Ba Mạ đến bác sĩ người Việt. Những lần châm cứu đầu, cả Ba lẫn Mạ đều thấy kết quả tốt. Có lẽ yếu tố tâm lý thuận tiện. Bác sĩ rất sốt sắng, đối xử với Ba Mạ thật thân tình. Mạ kể bệnh trạng cho bác sĩ nghe, bác sĩ cắt nghĩa tường tận. Được nói và nghe tiếng Việt đã giúp Mạ lạc quan hơn. Anh tôi nghiên cứu cách chữa trị bằng nhân điện. Tôi nhớ, có cuối tuần, trời đẹp, tụi tôi đưa Mạ ra nằm chơi ngoài sân. Ba dùng ngải cứu để khai huyệt, anh tôi cầm tay Mạ, tập trung tinh thần, như truyền sức sống thêm cho Mạ. Mạ hay cảm thấy ớn lạnh, nhất là lạnh ở bắp chân. Các chị tôi tìm mua nhiều loại áo thật ấm, nhưng mỏng để Mạ mặc cho dễ chịu, hoặc đan cho Mạ những đôi vớ ống mang kéo lên đầu gối. Mấy đứa em trai thay phiên nhau xoa bóp bắp chân cho Mạ.

Chúng tôi bàn bạc nhau, muốn thay đổi không khí xem thử có thể làm Mạ khỏe hơn không. Anh kế của tôi đón Mạ về nhà, để anh chăm sóc một thời gian. Ba ở trên lầu với con anh, anh ở với Mạ trong phòng khách tầng trệt. Vợ anh ngủ dưới hầm. Chân Mạ ngày càng yếu. Chúng tôi để Mạ ngồi trên xe lăn, đưa Mạ dạo loanh quanh trong xóm. Một hôm, anh chị và tôi đang ăn cơm trong bếp, Mạ đứng dậy ngoài phòng khách, tính dọn dẹp chi đó, chúng tôi nghe tiếng Mạ té. Chúng tôi vội chạy ra, anh bồng Mạ lại ghế, hỏi Mạ có đau đâu không. Mạ lắc đầu. Khi anh lau mặt cho Mạ, anh thấy trên đầu Mạ bị sướt một chút, có rướm máu. Ngày hôm sau, chúng tôi đưa Mạ vào bệnh viện. Tôi kể cho bác sĩ nghe và yêu cầu chụp hình xem có thương tích gì không. Sau đó, Mạ ở lại bệnh viện, không phải do bị ngã, mà vì bị sưng phổi. Cu Bờm, con anh tôi, dẫn tôi đạp xe đến bệnh viện thăm Mạ. Có hôm ngồi nói chuyện xưa, cu Bờm nghe hóng chuyện, rồi hỏi:

-Hồi đó bà Nội có giả đò làm rớt cái khăn, để cho ông Nội lượm, rồi làm quen không?

Mạ bật cười thành tiếng. Lâu lắm mới thấy lại nụ cười, nghe lại tiếng cười của Mạ. Chúng tôi thật vui. Nhớ lại, mới năm nào đây, tiếng Mạ cười giòn giã, khi tụi tôi đùa giỡn với câu ăn hột mít... lên trên độn... Lần cuối Mạ bật tiếng cười, có lẽ là vào giáng sinh năm nọ. Khi một đứa cháu ngoại đem món quà giáng sinh ra thử, đôi vớ sặc sỡ, mang khít vào từng ngón chân. Mạ bật cười có vẻ thích thú. Càng ngày Mạ càng ít nói. Chúng tôi tìm đủ mọi cách để khơi chuyện với Mạ. Đôi khi chúng tôi giả đò đưa ra những câu nói vô lý để Mạ “bực” quá, phải cắt nghĩa cho chúng tôi hiểu. Ngày trước, Mạ rất thích coi ca nhạc. Nhưng dần dà, Mạ không còn quan tâm nữa. Những lời cảnh báo của những người có thân nhân bị bệnh Parkinson như càng ngày càng rõ. Nhưng trong thâm tâm chúng tôi, chúng tôi không muốn tin. Đôi khi bắt gặp Mạ ngồi bất động nhìn vào khoảng không, tôi thương Mạ đến não lòng. Tôi hay về thăm Ba Mạ. Nhưng chỉ là cuối tuần hoặc ngày lễ. Em gái út của tôi, bên Mạ hàng ngày, và những lần đưa Mạ vào cấp cứu, trong lòng chắc biết bao niềm đau nhức nhối.

Chúng tôi thuyết phục đưa Mạ đi chơi tết Nguyên Đán của trường Việt Ngữ Frankfurt. Thấy anh tôi chăm sóc cho Mạ, mấy người bạn trầm trồ, Ba Mạ thật có phúc, có con trai lo lắng cho Mạ chu đáo không khác gì con gái. Đó là năm cuối cùng, các con, cháu của Mạ nhận được lì xì đầu năm, Mạ trao bằng đôi tay run run. Đến phiên Bòn Bon, đứa con út em gái tôi, Mạ như muốn cho Bòn Bon 2 phần, có lẽ do Bòn Bon là đứa cháu gần gũi nhất với Mạ.

* * *
Ngày xưa, nghe đến Casablanca, tôi liên tưởng đến hình ảnh cô tài tử Ingrid Bergmann trong vai Ilsa cúi xuống yêu cầu người nhạc công trình bày lại bản nhạc As Time Goes By. Nhưng bây giờ, tôi không nghĩ đến cuốn phim cổ điển nữa.

Bây giờ, mỗi khi nghe đến địa danh này, tôi không cầm được nước mắt, nhớ đến một đêm tháng Sáu, khi tôi đang đâu đó trong thành phố này ở Phi Châu, xa thăm thẳm nơi Mạ đang ở, thì Mạ đã vĩnh viễn ra đi. Tôi thành mồ côi Mẹ. Trong tôi còn vang vọng lời hát ... Lỡ mai này Mẹ hiền có mất đi, như đóa hoa không mặt trời, như trẻ thơ không nụ cười, như đời mình không lớn khôn thêm... Tôi không có được diễm phúc bên Mạ trong những giờ phút cuối của đời Mạ, không được bên cạnh thân xác Mạ đang lạnh dần. Tuần lễ tôi sắp xếp, đã kể cho Mạ nghe, tôi không dùng để chăm sóc Mạ như dự định, mà để đưa Mạ tới nơi yên nghỉ cuối cùng. Để cùng anh, chị, em, con, cháu trong gia đình chít vành khăn tang, cùng đớn đau khóc cho mất mát lớn nhất đời người: niềm đau mất Mẹ.

Hoàng Quân
Tiễn bạn

Sáng hôm nay Thứ Hai, sửa soạn đi đám tang người bạn học đột ngột ra đi mấy tuần trước. Anh đang tính chuyện qua Canada tháng Sáu nầy, có thêm người bạn học cũ từ Việt Nam cũng sang rồi cùng xuống New York gặp nhau. Nay thì những hẹn hò từ nay khép lại, với biết bao dự tính, mong ước dang dở…nhưng tin rằng một người tốt đẹp như Anh thì chắc thân đang nhẹ nhàng như mây đâu đó. Tuổi anh đã cổ lai hy. Có người bạn khác làm cho tờ báo Việt Nam ở đây, sáng nào cũng đọc cáo phó với phân ưu nên nhận ra mỗi ngày còn hơi thở là một bonus, lúc đó mới năm mươi.

Lần cuối gặp nhau tháng trước có hứa sẽ dàn xếp qua New York gặp rồi đưa anh đi chơi vài ngày cho biết New York City. Không phải chỉ để chụp vài tấm hình có tượng Nữ Thần Tự Do sau lưng hay ghé chợ Tàu ăn tô mì…mà hy vọng anh sẽ thấy hơn tại sao nhiều báo chí phong cho thành phố nầy là best of the best và cư dân ở đây hãnh diện mình là New Yorkers.

Không phải ai cũng muốn thấy, chịu đựng được hệ thống subway cũ kỹ, dơ bẩn, hôi hám… phố xá đầy bao rác bên lề chưa mang đi, nước tiểu của chó tràn lan chưa rữa dọn, đường phố vội vã đầy người đủ mọi sắc dân, nói mọi thứ tiếng. Nhà cửa, vật giá đắt đỏ: một ổ bánh mì baguette năm đồng, ly cà-phê hay matcha latte sáu đồng, con vịt quay sáu bảy chục. Tax và tip mọi thứ, mọi nơi. Nhưng cũng như khi gặp ai lần đầu trong buổi sơ giao, làm sao thích được một người luộm thuộm, tóc không chãi, áo quần không gọn gàng, nói năng tuỳ tiện…Rồi, với thời gian, quen lâu hơn, thấy cách sống của họ, chuyện trò, trao đổi, học hỏi từ họ mới thấy ra cái duyên dáng, sống động, mặn mà.. mà những người khác không thể có.

New York rất đẹp, rất hay, một thành phố vô cùng sinh động với không biết bao nhiêu điều đặc sắc thú vị, thiên hình vạn trạng. Central Park. Metropolitan museum coi cả ngày chưa hết một góc. Âm nhạc, nhảy múa, tranh ảnh bên đường. Bên cạnh sự xô bồ là những con đường, ghế đá, công viên, bãi cỏ dọc theo sông hay dưới chân cầu vô cùng thơ mộng, êm đềm. Những hàng cây xanh thẩp đan nhau mượt mà che phủ lối đi … Mắc mỏ thật đó nhưng có thể tìm tòi để lựa chọn. Chắc gì đi ăn một bữa trăm đô ở đây - phải làm reservation, chờ đợi, đến đúng giờ - sẽ vui hơn mua một hộp cơm mười đồng từ một trong hàng ngàn xe bán thức ăn Halal hay Ấn-Độ khắp nơi trong thành phố, thêm chai nước, rồi mang ra bờ sông ngồi xem mặt trời xuống phía bên kia? Trã trăm đô cho Uber hay chuyến taxi ra phi trường có nhanh hơn và không lo trễ vì kẹt xe bằng kéo vali ra góc đường, xuống subway, trã 3 đồng đi đến một trạm ga gần phi trường rồi thêm gần 9 đồng AirTrain tới tận cổng máy bay.

Rồi dự định sẽ đưa người bạn và các bạn khác đến coi 911 Memorial. Đứng trước hai cái giếng nước khổng lồ ngày trước là nền của hai toà nhà nơi có mấy ngàn người chết mà không có cái giác ghê rợn, chỉ ngậm ngùi thương cảm. Trên các bức tường granite đen thấp bao quanh bởi những hàng cây phong xanh mát khắc tên nạn nhân, đó đây cắm một bông hồng trắng. Không thấy có biểu ngữ, hình ảnh, vật dụng nào quanh đây nhắc nhở việc nầy là tội ác của ai và phải báo thù bằng cách nào. Toà nhà bên cạnh trưng bày hình ảnh những người lính cứu hoả đang tìm cách xông vào những căn phòng đang cháy, sụp đổ để kéo ra người còn mắc kẹt. Họ cứu được rất nhiều người khác nhưng chính họ không bao giờ trở ra…Sức mạnh thật sự không nằm ở chỗ nuôi dưỡng, khêu dậy hận thù mà là khả năng vượt qua khó khăn tai biến cùng nhau.

*
Mở tủ tìm chiếc áo trắng. Chiếc áo trắng mặc đi một đám tang mấy tuần trước bỏ giặt đã lấy về còn trong bao treo cạnh cả chục cái áo trắng khác. Cái cổ nhọn, cái cổ hơi tròn, cái có nút cài ở cổ, có cái không. Đàng sau là một hàng áo xanh đậm, xanh nhạt, áo sọc, áo ca-rô…Mình còn cần bao nhiêu cái áo trắng? Bao giờ mới xỏ tay lại vào những cái áo màu kia? Rồi cà-vạt với còm-lê? Nếu đã “hiểu” ra được less is more để từng bước buông bỏ những thứ cầm buộc đời mình: chỉ cần 2 cái áo trắng, hai bộ còm-lê, vài ba cái cà-vạt khác nhau cho đám cưới với đám ma…thì tại sao còn quá nhiều áo quần treo ở đây đóng bụi, choán chỗ mà chưa đem ra working wardrobes nơi có nhiều người cần đang chờ đợi. Tại sao nhiều cuốn sách dù trân quỷ cũng sẽ không bao giờ đọc lại còn nằm bám bụi trên tủ, chưa chạy ra Viện Việt Học hay thư viện gần nhà? Tại sao chưa dứt khoát buông bỏ mà phí thời giờ tìm kiếm, sắp đặt, giữ gỉn những thứ dư thừa không mang lại giá trị gì cho đời mình?

*
Ở xứ Mỹ nầy, quan hôn tang tế gì cũng phải đợi đến cuối tuần cho có đông người tới dự. Hai hôm trước gia đình người bạn đã làm lễ phát tang, cầu nguyện, thăm viếng ở nhà thờ rồi. Hôm nay, thứ Hai, là hoả thiêu. Chắc chỉ có gia đình thôi nhưng mong là họ không phiền hà khi thấy mình tới.

Gia đình rất đông ở nhà quàn và ai mắt cũng đỏ hoe, sụt sùi dù anh bạn tuổi đã cổ lai hy. Phải ăn ở ra sao mới được như thế. Rất yên lặng, không nghe tiếng cười rộn rã như ở vài đám tang khác. Không biết ai đã đọc điếu văn cho anh ở nhà thờ nhưng đoán chắc là bài viết dễ dàng để soạn. Có nhiều người khi chết, người viết điếu văn phải vất vã tìm kiếm những điều tốt đẹp về họ để viết ra cho đầy một trang giấy. Với người bạn thì không, có quá nhiều điều tốt đẹp để nói về anh. Anh qua sau, có thể không thành đạt về vật chất như nhiều bạn đồng môn khác, nhưng chưa bao giờ nghe anh so sánh, phân bì, than thân trách phận. Anh ung dung sống đời mình giữa mọi người, chan hoà với tất cả…

*
Mấy tháng trước đi Úc, lần đầu. Nhiều người quen góp ý: qua đó khi tới coi Sydney Opera House nhớ chụp hình thiệt nhiều vì ngoài ra không còn gì để chụp nữa. Mình đâu muốn ngồi 15 tiếng máy bay để qua đó coi Opera House, chụp hình lại càng không, vì đâu có dùng Facebook đâu mà bỏ lên, rồi chia sẻ với ai. Qua để thăm hai người cháu gái đã gần năm mươi năm không gặp. Để gặp lại những người thân cùng lớn lên với nhau thuở họ còn ngày xưa ngần ngại xoã tóc trên vai. Mỗi người, mỗi gia đình là mỗi số phận, mỗi câu chuyện để nghe, học hỏi và nhìn lại đời mình. Lúc ra đi có người đã lớn, có thể phụ nhen bếp lửa nấu nồi cơm, giúp sửa soạn bữa cơm chiều khi đi học về sớm. Có người còn bồng bế trên tay… thế mà bây giờ đã con đàn cháu đống, cuộc đời qua nhanh quá. Bao năm đã qua, vật đổi sao dời mà gặp nhau vẫn rất ấm áp thân tình, vui buồn nhắc chuyện ngày xưa không dứt. Vài chuyện nhỏ mình làm được nhắc nhớ tới. Những vụng dại, sai sót, ngông cuồng thời trai trẽ lại được quên đi…

Một buổi sáng, cô cháu gái rủ ra đi bộ bên con sông cạnh nhà vì cô thích sông và biết mình cũng mê sông. Sinh ra ở cạnh sông. Lớn lên ở cạnh sông, hằng ngày ngóng nghe tiếng còi tàu từ Huế lên về sáng chiều hai buổi. Lớn lên nữa cũng ở cạnh sông, mở cửa là thấy sông, mỗi chiều có tiếng chuông chùa vọng lại từ phía bên kia sông…vì thế mà sông như mạch máu trong thân thể. Đi đâu cũng tìm sông tìm nước.

Sẽ không bao giờ tới được cảnh giới nhìn sông chỉ thấy là sông, nhìn núi chỉ biết là núi:

Mù toả Lô sơn sóng Chiết giang.
Khi chưa đến đó hận muôn vàn.
Đến rồi về lại không gì lạ.
Mù toả Lô sơn sóng Chiết giang (tdp, Tuệ Sỹ dịch)

mà còn so sánh, phân biệt sông nầy với sông kia. Con sông cạnh nhà nhỏ thôi, chậm rãi êm đềm chảy, với con đường quanh dọc theo bờ dưới hàng cây mát, những băng ghế trên bãi cỏ ven bờ, những căn nhà thơ mộng trên đồi bên kia sông…Trên đường về ghé lại một quán ca-phê vô cùng duyên dáng góc khu vực dân cư. Ly cappuchino mới ngon làm sao, quên hết lời hăm he của ông bác-sĩ bên nhà. Đùa với cô cháu cứ mỗi sáng ra bờ sông đi bộ rồi ghé lại đây uống cà-phê, tiếp tục nói chuyện ngày xưa, là đã quá đủ rồi. Cần chi phải lên City để thấy và chụp vài tấm hình cạnh Opera House.

*
Ghé khu chợ Cabramatta giao cuốn photo book của người bạn gởi sang cho một cặp vợ chồng quen sau khi đi Melbourne về. Chia sẽ với họ những gì mình thấy, “trải nghiệm” trong hai ngày ngắn ngủi ở đó. Một thành phố nhỏ thôi nhưng vô cùng duyên dáng, phảng phất cái phong thái đậm đà của nhiều thành phố Âu Châu đã đi qua. Đường phố rợp bóng cây, với những quán cà-phê có thể ngồi hằng giờ trò chuyện với bạn bè nhìn người qua lại. Ghé coi thư viện độc đáo của thành phố trên đường đến Royal Botanic Gardens Victoria. Đi ra coi mặt trời lặn trên sông Yarra êm đềm – lại sông! Thăm người bạn thời một bờ cỏ non một bờ mộng mị ngày xưa (tcs), đã hứa sẽ dành riêng nguyên một ngày để uống với nhau ly cà-phê bên cạnh bờ hồ vắng nói chuyện đời mình. Rồi đi coi đàn dơi mặt chồn treo lắt lẻo bất động trên khắp một vườn cây cao trong buổi trưa nắng nóng nhìn xa như những chiếc túi xách tay sẫm màu treo trong cửa hàng, chờ tối đến cùng nhau bay đi tìm mồi…

Nghe xong, người vợ quay qua nói với chồng sao mình ở đây mấy chục năm mà không thấy những thứ nầy, mình phải đi lại ngay đi anh. Ai cũng đi tìm hạnh phúc cho đời mình có điều không hạnh phúc nào giống hạnh phúc nào. Họ có thể không thấy những cái đẹp mà mình thấy: góc phố, hàng cây, những quán cà-phê bên đường, bờ hồ, chiều về trên sông, thư viện…nhưng bù lại họ có thể sở hữu biết bao nhiêu thứ đẹp đẽ khác mà mình không có: những bữa ăn đắt tiền, những đồ vật hoành tráng, những chuyến du lịch sang trọng nhiều người mơ ước..Và có thể là họ là chủ của biết bao nhiêu dãy phố ở chung quanh khu vực Cabramatta nầy.

*
Cô cháu gái kể người con gái lớn mới tặng mẹ một cuốn sách trong ngày sinh nhật: The Top Five Regrets of the Dying. Cuốn sách được nói tới nhiều giữa những người đang loay hoay tự hỏi phải nên sống như thế nào mà mình đã đọc qua và chắc chắn sẽ đọc lại nhiều lần.

Phải như thế nào mới không “sợ” khi nhận món quà sinh nhật nầy, với cái suy nghĩ Á Đông xưa cũ, mà biết con hiểu, chia sẽ và tôn trọng cái gì là giá trị đích thực, quan trọng nhất cho hạnh phúc đời mình. Cô con gái không dành dụm mua biếu mẹ trong dịp sinh nhật cái xách tay hàng hiệu Louis Vuitton, Chanel để mang trên vai xoay ra phía trước chụp hình, hay cái đồng hồ Cartier bao người mong ước được người khác thấy trên cổ tay mình, hay khiêm nhường nhất cũng upgrade cái Iphone hay Ipad cho mẹ, mà trao gởi lòng yêu thương qua cuốn sách giúp sống thế nào để ít hối tiếc khi ra đi. Có gì có giá trị hơn?

Những người chạy marathon cần gì từ bạn bè, gia đình, những người tình nguyện đứng bên đường họ chạy qua để thêm sức mà về tới đích? Bánh trái rượu thịt hay chỉ là một ly nước kèm theo những tiếng vỗ tay, những lời la hét love you Mom, love you Dad, yes you can do it. Hay là những tấm bảng bìa cứng đưa cao khích lệ mà đầy diễu cợt you run too fast, you are over speed limit.

Cô cháu gái mới ngoài năm mươi nhưng hiểu được cốt tuỷ của đạo Phật và, quan trọng hơn, không ngừng học hỏi và áp dụng được Phật học vào đời sống của mình. Hiểu được sự ngắn ngủi và vô thường của cuộc đời để bớt chấp nê, dần dần buông bỏ bớt. Không nghe than vãn, ai oán, cay đắng, so sánh vì những khó khăn đời mình đã trải qua ngay từ lúc còn nhỏ dại, mà nghĩ được rằng nhờ đó mà mình trở thành một người như hôm nay. Nhờ đó mà mình có thêm lòng trắc ẩn, biết thế nào là “đủ” để sống chan hoà với người khác và trợ giúp người yếu kém. Một cuộc đời ung dung, tự tại, thênh thang….

*
Bronnie Ware, tác giả cùa cuốn sách Năm Điều Hối Tiếc Nhất Của Những Người Sắp Qua Đời là người Úc, soạn nhạc, viết lách…Bà làm thêm việc chăm sóc những người sắp qua đời ở nhiều lứa tuổi, thành phần xã hội, hoàn cảnh gia đình, giới tính. Bà đúc kết những điều bà nghe trong những ngày chăm sóc, chuyện trò với những người biết mình sắp mất rồi chia sẻ trên những trang mạn xã hội trước khi gom lại thành cuốn sách nầy, The Top Five Regrets of the Dying: A Life Transformed by the Dearly Departing.

Đây là năm điều hối tiếc: 
1- Không có can đảm sống cuộc đời cho chính mình mà sống theo ước muốn của người khác. 
2- Làm việc nhiều quá. 
3- Không có can đảm bày tỏ cảm xúc của mình. 
4- Không giữ mối liên hệ với bạn bè và 
5- Không tự cho phép mình được sống hạnh phúc hơn.

Chỉ mới năm điều nầy thôi mà cũng đã thấy sự khác biệt giữa văn hoá Đông Tây. Nếu bà nầy săn sóc cho những người phía Đông thì đã biết thêm nhiều điều hối tiếc khác. Hối tiếc vì đã không tử tế đủ với người khác, giúp họ vượt qua cơn ngặt nghèo khi mình có thể. Hay hối tiếc, như một chị bạn nói trước khi lâm chung, vì: ông biết không, trong đời tôi, tôi đã làm nhiều chuyện không nên làm để vượt hơn người khác, chừ biết thì cũng đã trễ rồi…

*
Mới đây, tình cờ nghe bài My Way qua tiếng hát tuyệt vời tràn đầy cảm xúc của Vanny Vabiola, một người Indonesia. Nhờ có phụ đề mà hiểu thêm để đồng cảm và yêu mến hơn bài hát nầy. Đã nghe đi nghe lại không biết bao nhiên lần rồi và gởi tới bạn bè khắp nơi, ai cũng thích. Mong ước rồi ai cũng sẽ nói được như thế nầy: My friend, I will say it clear…I’ve lived my life that it’s full. I traveled each and every highway… Regrets, I’ve had a few. But then again, too few to mention…

– Nguyễn Q.
June, 2024
 
Chuyện Tình Bên Bến Sông 

Hình minh họa

HỌ GẶP NHAU TRONG MỘT HOÀN CẢNH ÉO LE, NƠI MIỀN SƯƠNG BỤI MỜ BẾN SÔNG. NHƯNG ĐÓ CŨNG LÀ KHỞI ĐẦU ĐỂ HAI CON TIM NHIỀU TỔN THƯƠNG CỦA LÝ VÀ TRÂM NƯƠNG NÁU, SƯỞI ẤM CHO NHAU.

Trời vẫn mưa như trút. Hàng nghìn, hàng vạn giọt nước nhỏ kết lại thành khối, thành mảng giận dữ trút xuống mặt đất. Chớp rạch bầu trời. Lý ngồi bó gối trong căn nhà nhỏ cạnh bờ sông. Gọi là nhà cho oai chứ nơi đây chỉ nhỉnh hơn túp lều coi vó ngày nào một chút. Kể từ ngày mẹ mất, Lý không sống trong ngôi nhà lớn của gia đình ở giữa làng nữa mà bỏ ra ở hẳn trên bến sông này.

Gần về sáng, trời lại nổi cơn thịnh nộ. Chắc chỉ một chút nữa, những con sóng sẽ sôi réo ầm ầm. Mặt sông sẽ cuồn cuộn cuốn phăng đi tất cả. Mùa nước nổi đang về. Lý nhìn về phía tấm phản kê nơi góc nhà, cô gái vẫn đang nằm thiêm thiếp.

Lý nhớ lại, tối hôm qua trời vẫn mưa to gió lớn. Nước sông dâng lên bất ngờ, đục ngầu. Giông gió ập về, anh trần mình giữa gió mưa để cuộn chiếc vó bè lại. Nước mưa tràn mặt, xối vào mắt cay xè. Vừa phun nước phì phì, mắt Lý bất chợt chạm vật đen như thân người đang nhấp nhô giữa dòng nước xiết. Cánh tay chới với giơ lên. Lý lao mình xuống mặt sông.

Đó là một cô gái còn khá trẻ, khuôn mặt đã tím tái vì ngâm nước. Thay cho cô ta bộ đồ lao động của mình. Lý đặt cô gái nằm gần bếp lửa

Một lúc sau, cô gái trẻ mở mắt. Vừa nhìn thấy Lý, cô ta đã co rúm người lại, chắp hai tay vái anh lia lịa:

- Xin ông tha cho tôi. Tôi không thể, xin ông tha cho tôi.

Ngỡ cô ta sợ khi nhìn thấy khuôn mặt nhàu nát và bộ râu lởm chởm lâu ngày không cạo của mình, Lý ôn tồn:

- Cô không phải sợ. Tôi không làm gì cô đâu. Mà sao cô lại trôi trên sông đúng lúc nước nổi dâng cuồn cuộn thế hả ?

Vừa nói, Lý vừa đưa cho cô ta bát cháo.

Lý bỏ ra ngoài cửa ngồi bó gối, anh tiện tay đưa cái vòi ấm lên miệng, trà nguội chát đằm. Nuốt xuống, vị ngọt lưu lại nơi cổ họng.

Cô gái đã ăn hết bát cháo cá Lý đưa. Quẳng cho cô ta chiếc chăn đơn, anh chỉ tay lên tấm phản:

- Bây giờ cô nghỉ đi. Cứ yên tâm mà ngủ. Chẳng có ai làm gì cô đâu.

Mưa ngớt dần. Chắc chỉ sáng mai cô ta sẽ ra đi, sẽ xa rời túp lều này. Đã có bao nhiêu người được Lý cứu rồi cũng đi như thế, kể cả Liên...

*****

Lý là con trai xứ chè. Vùng đất sỏi đá lẫn đất màu có những đồi chè bạt ngàn lại chắt chiu nuôi Lý thành một thuyền trưởng giỏi vượt đại dương tới những vùng đất mới. Lý giỏi điều hành tàu, thông thạo luồng lạch những cửa sông, cửa biển nơi những con tàu vào ra nhưng bản chất mộc mạc, chất phác nên anh lại không thạo luồng lạch của con người. Cái tính thẳng thắn và tin người của anh đã hại anh. Hải quan cảng đã phát hiện hàng lậu trên tàu Lý, anh ngã ngửa người. Đây không phải là lần duy nhất thuyền phó của Lý làm thế. Mọi tội lỗi đổ hết lên đầu vì Lý là thuyền trưởng và vì cả những món tiền nhỏ nhoi chính tay thuyền phó đã đưa cho Lý mỗi khi với danh nghĩa:

- Đây là quà của em biếu mẹ, anh đem về cho mẹ nhé anh Lý.

Thế là Lý nhận mức án 5 năm tù giam. Anh đau đớn và cứ tự trách mình sao lại quá dễ tin người đến thế.

Hết 5 năm tù, Lý về quê. Mẹ anh đã không đợi được đứa con trai duy nhất trở về. Còn Liên, người vợ dịu dàng, xinh đẹp đã đi theo chính viên thuyền phó ngày nào của Lý. Mẹ mất, vợ bỏ theo trai, Lý bỏ ngôi nhà rộng rãi giữa đồi chè ra sống âm thầm ngoài bến sông.

*****
Sau một đêm nổi giận, sớm ra, trời trong trẻo lạ. Mặt sông lại êm đềm gợn con nước dập dềnh, nối đuôi nhau trôi tít ngoài xa. Lý vươn vai đứng dậy. Chợt nhớ ra, anh đưa mắt nhìn tấm phản. Cô gái anh vớt ngoài sông buổi đêm không còn ở đó nữa. Chắc cô ta đã lẻn đi từ lúc khi trời ngớt mưa. Lý nhếch mép cười. Anh bước vào ngã mình trên tấm phản, nhắm mắt lại...

Lý tỉnh giấc. Tiếng sột soạt kẽo kẹt quen thuộc của chiếc vó bè được kéo lên khỏi mặt nước đánh thức anh.Mùi khói bếp phảng phất đâu đây. Anh hé mắt nhìn qua khe cửa. Thấy một tấm lưng thon thả đang cố gồng mình kéo sợ dây lôi chiếc vó bè lên rồi lại nhẹ nhàng buông tay thả nó về với mặt nước. Cột sợi dây lại, người đó nghiêng mặt thổi phù phù vào chiếc bếp tự tạo bên cạnh. Mùi canh cá nấu chua ngào ngạt khiến Lý ứa nước miếng. Người đang săm sắn kéo vó, thổi nấu ngoài bè là ai nhỉ... Không phải Liên, không thể là Liên... ai nhỉ ? Người ấy đứng dậy, bước vào nhà. Lý vội nhắm mắt lại. Đặt chiếc mâm đã sờn lên cạnh phản. Cô ta cúi xuống lay vai Lý:

- Anh dậy ăn cơm cho nóng.

Lý mở mắt. Cô gái tối qua anh vớt được.

- Tôi tưởng cô đi rồi chứ ?

- Em đã định đi, nhưng em chẳng biết đi đâu. Anh làm ơn làm phúc cho em được ở lại một thời gian...

Lý lẳng lặng bước ra vại nước cạnh nhà vốc nước vã lên mặt. Khi quay vào, thấy cô gái vẫn đứng bên cạnh phản, chưa dám ngồi xuống. Lý nói với cô:

- Cô ngồi xuống ăn cơm đi. Chuyện gì để từ từ rồi tính. Tôi ở đây một mình. Nếu cô muốn, cứ ở lại, khi nào thích đi thì cứ đi, không cần phải cho tôi biết. Tên tôi là Lý...

***
Cuộc sống cứ thế trôi. Hai người vẫn ở chung, chỉ khác chút là không trên lều vó bè nữa. Lý nhặt cành cây, dựng lên một túp lều nhỏ trên bãi đất cạnh lều vó bè bên sông. Cô gái hàng ngày giành lấy việc đi chợ bán cá và cơm nước. Lý chẳng nói chẳng rằng, mặc nhiên chấp nhận. Trong làng ngoài ngõ lúc đầu còn xì xầm chuyện của hai người, lâu thành quen. Thậm chí khi có việc cần hỏi, họ cứ "chị Lý" ơi mà réo. Lý cũng chẳng thanh minh, thanh nga gì. Anh ngủ dưới lều vó. Trầm ( tên cô gái ) ngủ lều trên bến. Họ vẫn ăn cơm cùng nhau nhưng không phải là vợ chồng. Cũng chẳng hỏi về thân phận của nhau. Chỉ khi nào thật cần thiết họ mới nói với nhau vài câu.

Đã qua hàng tuần liền trời nắng hừng hực. Ngồi trong nhà nhìn ra chỉ thấy nắng và nắng. Không khí nóng hầm hập như trên một chiếc chảo gang khổng lồ. Một khúc cây to trôi về mắc vào vó bè, Lý không biết, cứ thế kéo lên khiến nó bị toạc một mảng to gần chỗ cái hom giỏ. Cần phải vá lại mà chiếc mủng lại cho mượn sáng nay rồi. Ngẫm ngợi, Lý nhảy ào xuống, ngâm mình vá lại chỗ vó bè bị rách. Nắng chang chang, không nón mũ đội đầu, Lý hì hụp ngâm mình vá vó. Khi chân vừa chạm vào làn cát mịn gần mép nước, mắt anh chợt hoa lên như chạm phải mối hàn đang tóe lửa. Lý nhắm mắt lại, bước về phía vại nước, dội ào ào vài gáo rồi vào nhà.

Đã quen dãi dầu nắng gió mà lần này Lý ốm thật. Anh sốt đùng đùng. Người bỏng giẫy, cổ họng khô rát. Hết sốt nóng lại đến sốt rét. Có lẽ bọn ký sinh trùng đã rình sẵn chỉ chờ lúc này xông vào quật Lý. Đúng lúc Lý lên cơn sốt rét thứ hai thì cô gái đi chợ về. Cô chạy lại kéo hết tất cả chăn chiếu phủ lên người anh mà Lý vẫn run lên từng chặp, chẳng biết làm thế nào, cô bèn nằm đè lên người Lý, vòng tay ôm chặt lấy anh...

Hai ngày sau, Lý cắt cơn sốt. Anh bò ra ngoài nhìn xung quanh. Hình như sau trận ốm, người ta hay thấy cảnh vật quanh mình đổi khác. Mảnh vườn nhỏ trước căn lều dạo này xanh mướt các loại rau củ và có cả một luống hoa hồng chen lẫn những bông hoa sao tím li ti vươn cánh. Mảnh đất nhỏ trước lều đã được cô gái nhặt những hòn cuội, mảnh sò ở bến sông trải thành một lối đi uốn khúc thật vui mắt. Trong cái chái lai ra cạnh lều, làn khói nhạt màu lam đang bốc lên cao, phất phơ theo gió. Trầm bước ra, tay bưng bát cháo bốc hơi nghi ngút. Cô nói với anh:

- Anh vừa mới ốm dậy, ra ngoài này làm gì. Nắng gió rồi vật lại thì khổ.

Cô nhẹ nhàng đỡ Lý vào lều. Lý nhìn Trầm. Da ngăm đen, bắp tay chắc, ống quần đen vo ngang để lộ ra bắp chân tròn lẳn. Thấy Lý cứ nhìn mình đăm đăm, Trầm ngỡ mặt mình bị bẩn bèn đưa ống tay áo lên lau má.

- Cảm ơn cô đã lo cho tôi.

Trầm ngập ngừng:

- Anh nói thế làm gì. Ơn anh cứu mạng em còn chưa trả được...

Lý hỏi:

- Giờ cô có ý định ở lại đây nữa không ?

- Thật tình, em cũng chưa biết. Sống nhờ anh ngần ấy ngày, em đã vỡ vạc ra đôi điều... Nhưng anh không hỏi nên em cũng chẳng dám nói...

Sau gần nửa năm sống cùng, lần đầu tiên họ nói với nhau nhiều như thế. Hôm ấy, giữa không gian vắng vẻ, mênh mông vùng cửa sông. Trầm đã kể cho Lý nghe cuộc đời của mình. Cô sinh ra ở một miền quê cạnh con sông lớn mà người ta quen gọi là sông Cả, Trầm sớm quen công việc đồng áng của nhà nông. Cha mất sớm, một thời gian sau, Trầm theo mẹ về sống cùng bố dượng. Cảnh nhà đã túng, bố dượng quen cờ bạc rượu chè nên càng thêm quẫn. Hết tiền, thua bạc, ông ta đánh đập mẹ con cô. Năm Trầm 18 tuổi, nhiều trai làng ngấp nghé. Mẹ cô cũng mong con sớm có nơi có chốn để thoát cảnh sống nhọc nhằn. Nhưng lão bố dượng không đồng ý. Lão ta tuyên bố:

- Thằng nào muốn làm rể tao thì phải chồng tiền đủ để tao uống rượu hết phần đời còn lại.

Cả làng ai cũng nghĩ ông nói đùa cho vui. Nhưng không phải, chàng trai nào đến, lão ta đều đuổi thẳng. Đám thanh niên dập dìu ngoài ngõ Trầm thưa dần. Mẹ cô thương con mà đành phải chịu vì đã trót đa mang. Hai năm sau, bố dượng Trầm dẫn về một người phụ nữ ăn mặc lòe loẹt, phấn son dày mặt nói là cháu họ đang làm việc trên tỉnh. Vừa bước vào nhà, nhìn thấy Trầm, chị ta đã bả lả:

- Chao ôi ! Chú thím có cô con gái xinh thế này mà để vất vả quá. Thôi cứ để cháu đưa em đi cùng. Người như em trên tỉnh thiếu gì việc làm...

Nghe chị ta nói vậy, mẹ Trầm vui lắm. Sáng hôm sau. Trầm thu xếp lên đường cùng với người chị họ. Ai cũng mừng cho Trầm. Có người còn bảo:

- Mấy ai tốt với con riêng của vợ bằng bố dượng con Trầm.

Lên thành phố đã 2 tháng, Trầm không thấy người chị họ đã động gì đến chuyện xin việc cho cô. Cô được ăn uống đầy đủ, đưa đi sắm quần áo hợp thời trang. Vốn xinh đẹp, nay Trầm như lột xác, khó nhận ra được cô gái nghèo khổ trước đây.

Một buổi tối, người chị họ bảo cô đi cùng với chị ta đến một nhà hàng sang trọng. Dọc đường đi, câu hỏi nào của Trầm, chị ta cũng tìm cách lảng tránh. Đến nơi, chị ta đưa cô lên một căn phòng nhỏ. Ở đó, có một người đàn ông ngoại quốc tầm tuổi bố dượng Trầm đã đợi sẵn. Vừa nhìn thấy cô, ông ta đã chồm lên như một con hổ đói...mọi việc diễn ra một cách chóng vánh khiến Trầm không thể chống đỡ nổi. Đau đớn, ê chề, Trầm chợt nhận ra cô đã rơi vào tay một mụ tú bà.

Sáng hôm sau, người chị họ đến đón. Thấy mắt Trầm đỏ hoe, cô ta trơ trẽn:

- Ối dào, đằng nào chả thế. Kiếm chút tiền rồi về quê lại lấy chồng ngon lành. Cứ ngoan ngoãn nghe lời chị, em sẽ đổi đời nhanh thôi.

Sau lần ấy, chị họ ra mặt bắt Trầm đi tiếp khách. Cô không chịu, mụ ta chỉ tay thẳng vào mặt Trầm:

- Mày đừng có tưởng mày mĩ miều cao giá. Tao với mày chẳng bà con họ hàng gì. Bố dượng mày vay tiền tao chơi đề, không trả được nên gán mày cho tao. Mày chỉ đáng giá vài triệu bạc. Nếu không nghe lời, đừng có trách tao mạnh tay.

Không thể một mình chống lại mụ. Trầm lặng lẽ tìm cách thoát thân. Đêm ấy, lợi dụng lúc trời mưa gió, mấy thằng canh chừng không chú ý, cô luồn lối cửa sau bỏ chạy. Chạy khá lâu, Trầm đến trước một con sông rộng. Trời vẫn không ngớt mưa, sấm sét đì đùng, nhìn quanh chỉ thấy mưa mù mịt, Trầm quăng mình xuống bờ sông. Nổi ê chề nhục nhã vừa trải qua ùa tới, cô nhắm mắt lao xuống dòng sông trước mặt. Cùng đường, sợ bị đuổi theo bắt lại nên Trầm nhắm mắt làm liều, cô nhoài người gắng sức bơi sang bên kia bờ. Đúng lúc sắp buông xuôi mặc cho dòng nước cuốn đi vì kiệt sức thì Trầm gặp Lý.

Lý lặng lẽ ngồi nghe chuyện của Trầm. Anh không nói gì, chốc chốc lại với tay lấy chiếc điếu cày mồi thuốc rồi rít lên sòng sọc... Trầm ngập ngừng ngước mắt lên nhìn Lý:

- Cuộc đời của em buồn khổ như thế đấy, nay anh cũng khỏi ốm rồi, mai xin phép anh, em đi...

Lý thừ người, hắt tiếng thở dài. Hai chiếc bóng lặng câm nhập nhòa trên vách. Ngoài bãi sông, gió thổi lao xao, sóng nước vỗ bờ ì oạp. Đám lau lách ven bờ xào xạc. Cơn gió nhẹ thoảng vào, cánh mành che cửa lật phật. Hai bóng người trên vách lay động, tách ra rồi nhập vào nhau.

Đêm ấy, Lý cứ ngồi bó gối ngoài hiên. Anh không biết mình phải làm gì. Cuộc đời anh có hơn gì Trầm đâu, cũng bị lừa gạt rồi tù tội. Ngoài bốn mươi vẫn hai bàn tay trắng. Mải nghĩ, Lý không biết trời đã dần về sáng. Con gà trống ngoài lều vó bè cất tiếng gáy...

Tang tảng sáng, Trầm bước ra chào Lý. Bóng Trầm nghiêng nghiêng trên mặt đất. Lý tựa cửa nhìn theo. Khi Trầm bắt đầu đặt chân lên dốc đê, Lý lao theo...Chỉ vài bước chạy dài, Lý đã lao đến bên cạnh Trầm lúc này đang liêu xiêu trên triền đê dốc. Anh nắm tay Trầm kéo cô ngược trở lại với mình...

Thủy triều bắt đầu lên. Ngoài xa, con nước mới nổi cuộn chảy. Đám lục bình không trồi ngụp giữa dòng nước xoáy mà kết thành mảng lớn níu ven bờ sông và những bông hoa tím phớt đang vươn lên từ giữa đám lá cỗi cằn. Giữa tiếng gió thốc lên từ mặt sông, Lý ghé tai Trầm nói nhỏ:

- Ngày mai, vợ chồng mình về lại xứ chè. Nhà mình ở giữa đồi chè đấy em à !

Cuộc đời anh trải qua nhiều bất hạnh.
Khi tình thương người bị lợi dụng đắng cay.
Mất niềm tin vào cuộc sống tháng ngày.
Phải vất vả kéo vó bè kiếm sống.

Cuộc đời chị cũng buồn theo năm tháng.
Bao nỗi đau thương trong gia cảnh bần hàn
Gặp phải người bố dượng thiếu lương tâm.
Mất đạo đức bán chị vì thiếu nợ.

Hai mảnh đời gặp nhau trong buồn khổ.
Trong đắng cay, trong tủi nhục cuộc đời.
Nhưng tình yêu đã đem lại nụ cười.
Với niềm vui trên bến sông bình dị.

Ta hãy chúc cho vợ chồng anh chị.
Hạnh phúc trọn đời, sức khỏe, bình an.
Chúc thành công trong cuộc sống gian nan.
Chúc trọn vẹn với bao điều tốt đẹp.

N .S

(Tình Biển) 

Một Chút Tâm Tình Với Pulau Bidong


Bản đồ trại tỵ nạn Pulau Bidong, Malaysia


Cầu Jetty, cây cầu lịch sử của thuyền nhân Việt Nam tại Malaysia

Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.

Nhóm bạn 10 người gồm 5 đôi uyên ương từ 2 tiểu bang Arizona và Florida: vợ chồng Bình-Ngôn, Lý-Sinh, Nhờ-Liên, Thái-Quỳnh, và vợ chồng tôi là Tới-Hòa. Chúng tôi đã lên chương trình gần 1 năm trước cho một chuyến du lịch tự do, đi theo cảm hứng, theo túi tiền, và theo sức khỏe sắp về chiều của chúng tôi. Khi đến Singapore, chúng tôi nảy ra ý định sẽ ghé hòn đảo thiêng liêng, vùng đất “muôn đời không quên” trong tâm khảm của những con người Việt Nam ra đi tìm Tự Do vào những thập niên 70, 80, và 90.

Trong nhóm 10 người, chỉ có 3 người đã từng tạm cư trên đảo Pulau Bidong: vợ chồng Quỳnh-Thái, người nữa là bà xã tôi. Những người còn lại đều đã ở các trại tỵ nạn khác nhau trong vùng Đông Nam Á như Indonesia, Thailand, hoặc Palawan, Philippines, ngoại trừ vợ chồng anh chị Bình-Ngôn đến Mỹ du học từ năm 1972. Khi tất cả chúng tôi vừa đặt chân lên hòn đảo, cái cảm giác một thời tỵ nạn năm xưa tràn về, chiếm ngập hồn chúng tôi, một cảm giác vui mừng xen lẫn một thoáng ngậm ngùi với cảnh vật tuy xa lạ mà dường như thân quen lắm.

Chúng tôi đứng lặng nhìn rừng xanh lá phủ lên cảnh vật điêu tàn, lòng không khỏi ngậm ngùi, những nấm mộ phủ dầy cỏ dại, giây leo đan gần kín những cái tên họ Việt Nam khắc vụng về trên các bia mộ. Đó là những mảnh đời tan vỡ, những hy vọng chưa kịp nở hoa đã lụi tàn giữa biển cả mênh mông. Quang cảnh vắng lặng tiêu điều, gió biển rì rào len lỏi qua khu rừng xanh lá, cứ ngỡ các linh hồn đang trở về trong gió khiến tâm hồn chúng tôi xôn xao một cảm giác bâng khuâng lạ kỳ.

Ký ức của một thời tỵ nạn ùa về, không ai bảo ai, chúng tôi cúi đầu bồi hồi, để tâm hồn hoang mang đi ngược về quá khứ, từng hình ảnh những tang thương, xơ xác, những mất mát, những xác thân hao gầy, mòn mỏi ngày mới đến. Người xa lạ, kẻ thân quen, tất cả chúng tôi chợt xúc động mãnh liệt như hòa vào với vẻ tiêu điều trước mặt, chúng tôi thật sự cảm nhận được hồn dân tộc Việt Nam như vẫn còn hiện diện quanh đây.

Theo chương trình, điểm đến đầu tiên của chúng tôi là quốc đảo Singapore. Chúng tôi ghé thăm hòn đảo này 3 ngày và từ đây chúng tôi sẽ bay qua Terengganu đi thăm trại tỵ nạn của người Việt Nam trên đảo Pulau Bidong thuộc Malaysia vì Singapore trước đây là một phần đất tách rời của Malaysia trước khi trở thành một quốc gia độc lập như ngày nay.

Xin được ghi thêm vài dòng về đảo quốc Singapore đặc biệt này một chút vì giữa “Nó” và tôi có một mối ân oán giang hồ: tôi không ưa Nó, thậm chí còn ghét Nó. Tháng 3, 1989, khi tàu Na-Uy cứu vớt và đưa chúng tôi cặp hải cảng chính của Singapore; cảnh sát biên phòng, súng lăm lăm, canh chừng không cho chúng tôi bước lên đất của họ trong lúc vị thuyền trưởng Na-Uy đang thương thuyết với chính phủ Singapore xin cho chúng tôi được lên bờ.

Cảm giác của những người không còn chốn dung thân, kiệt sức, bơ vơ, hoang mang, không còn tổ quốc như chúng tôi lúc này đau đớn lắm; cái biên giới mong manh giữa Tự Do và Vô Định chỉ vài bước chân mà không thể nào vượt qua. Sau một ngày chờ đợi trong lo âu, khi chiều xuống, chúng tôi đứng trên boong tàu, nhìn xuống bên dưới, dòng người và xe cộ qua lại thản nhiên, không ai biết có một nhóm người Việt Nam không còn tổ quốc để mà về, những người đang khát Tự Do còn hơn đoàn lữ hành trong sa mạc mong được tới ốc đảo có dòng nước mát trong xanh.

Cuộc nói chuyện thất bại. Cuối cùng, vị thuyền trưởng chỉ xin tạm thời gởi chúng lên đất Singapore một thời gian ngắn, sau khi chở bột mì đến Saudi Arabia, ông sẽ quay lại đón chúng tôi và đưa về Na-Uy. Ông trấn an chính phủ Singapore rằng ông chắc chắn thuyết phục được chính phủ nước ông nhận cho chúng tôi vào định cư ở quê hương Bắc Âu của ông. Chính phủ Singapore một mực lắc đầu và ra lệnh con tàu phải rời đất nước họ ngay trong đêm nay.

Ngay đêm hôm đó, con tàu chở hàng khổng lồ phải quay ra hướng biển. Chúng tôi yên lặng nhìn nhau tuyệt vọng, mọi ánh mắt đều nhìn về phía mênh mông của bóng đêm trước mặt, những con người vô tổ quốc đang lặng chìm trong suy tư không biết ngày mai sẽ ra sao, hay số phận của mình cũng tăm tối như bóng đêm phía trước. Riêng tôi, tôi biết tôi không có đường về.

Sau này khi đến Mỹ, tôi đã nhủ lòng sẽ không bao giờ trở lại Singapore dưới bất cứ hình thức nào. Hôm nay, bạn bè rủ chúng tôi vác ba lô làm một chuyến du hành 30 ngày đi các nước ở Châu Á, bắt đầu bằng Singapore, tôi ngần ngừ, nhưng rồi cũng gật đầu. Sau 35 năm, tôi học được cách cởi bỏ những ràng buộc không cần thiết, và quan trọng nhất tôi học được cách làm hòa với mọi người xung quanh, làm hòa với chính mình và làm hòa với “Nó”, với Singapore. Tình yêu dù mặn nồng đến mấy cũng sẽ phôi pha theo năm tháng, huống chi một chút ân oán này.

Ba ngày trước khi nhập cảnh SGN, chúng tôi phải điền một vài thông tin cá nhân trên mạng trong mẫu đơn SAC, Singapore Arrival Card, để khi qua Hải Quan sẽ được lẹ làng hơn. Chúng tôi ở khách sạn Furuma Riverfront 3 ngày, gần khu trung tâm, tiện cho việc đi metro và đi bộ đến những địa điểm nổi tiếng như: Gardens By The Bay, Flower Dome & Cloud Forest Closures, Super Tree Grove …


Điều khiến tôi có ấn tượng tốt là hệ thống tàu điện Metro rất dễ dàng cho du khách và đường xá sạch sẽ; chỉ có cái nóng và ẩm tháng 5 ở đảo quốc này thật là đáng sợ. Chúng tôi ai nấy lưng áo ướt sũng mồ hôi mà chân vẫn phải rảo bước thật nhanh. Từ phi trường Changi, chúng tôi đổi ít tiền và mua thẻ tàu điện để về khách sạn, vừa rẻ lại vừa nhanh so với đi taxi.

Đảo quốc Singapore nói chung là một nơi rất đáng để đến thăm và quan sát, học hỏi nét văn hóa của họ tuy cuộc sống vật chất rất đắt đỏ. Phòng khách sạn nhỏ xíu, chật chội, tạm được, giá $120/đêm, bù lại đất nước này có nền ẩm thực đa dạng, ngon miệng mà giá cả phải chăng.

Rồi chúng tôi rời Singapore, bay thẳng đến tiểu bang Terengganu, Malaysia và ở lại trong một HomeStay ngay khu thị tứ đông người. Vì đã hẹn trước, Hisham ra đón chúng tôi ở phi trường, bằng chiếc Van 10 chỗ và chở chúng tôi đến thẳng nơi cư ngụ. Anh hướng dẫn viên du lịch này có cái tên thật dài là Badrol Hisham Bin Zaki, anh xin chúng tôi gọi anh là Hisham.

Sáng hôm sau, anh trở lại đón chúng tôi ra bến tàu. Một chiếc tàu sắt nhỏ với 2 thủy động cơ Yamaha 400 mã lực sẵn sàng đưa chúng tôi và 3 thủy thủ đoàn trực chỉ đảo Pulau Bidong. Con tàu cỡi sóng như bay, tốc độ trên dưới 40 hải lý một giờ, nước biển rẽ nhanh hai bên mạn tàu, tung bọt trắng xóa phía sau; tâm hồn mọi người phơi phới, reo vui theo bọt biển tan trên sóng nước cuồn cuộn phía đằng sau lái. Gió biển mát rượi pha chút vị mặn của biển khiến ai nấy hít căng buồng phổi, tận hưởng không khí trong lành của buổi ban mai trên sóng nước Thái Bình Dương.

Từ xa chúng tôi đã nhận ra cầu Jetty lịch sử, cây cầu đã đi vào tâm khảm của mỗi một thuyền nhân từng đặt chân đến Pulau Bidong. Cây cầu đã chứng kiến biết bao cuộc trùng phùng lẫn biệt ly của nhiều lớp người tỵ nạn đến rồi đi.

Bảo tàng lịch sử thuyền nhân Việt Nam, VBP, tại tiểu bang Terengganu, Malaysia.

Cầu Jetty giờ được lợp mái ngói đỏ, khác với ngày xưa, tuy không còn nhiều người đến và đi nhưng nhìn chung cũng không đến nỗi điêu tàn. Bảo tàng viện tiểu bang Terengganu là cơ quan được chính phủ Malaysia giao cho nhiệm vụ coi sóc và bảo tồn những di tích còn sót lại như một chứng tích lịch sử của Thuyền Nhân Tỵ Nạn Việt Nam đã từng có mặt và sinh sống ở nơi đây.

Hisham là nhân viên của chính phủ tiểu bang và là Manager của bảo tàng viện tại Terengganu. Nghề tay trái là hướng dẫn viên du lịch. Anh có 6 đứa con mà 5 đứa là con nuôi do anh xin về từ viện mồ côi. Anh đã đưa chúng tôi đến nơi anh làm việc để nhìn tận mắt, rờ tận tay những cổ vật ngày xưa của người Việt tỵ nạn. Vật đầu tiên tôi chú ý là cái hải bàn (compass), giống y chang cái ngày trước chúng tôi đã xài khi vượt biển. Còn có một cái lu sành và hai cái tĩn nước mắm rất đặc trưng của người miền Tây trên ghe đi biển và những vật dụng thường ngày trên ghe, đặc biệt là tấm bản đồ của trại Pulau Bidong.

Chúng tôi nhìn bản đồ cũ của trại tỵ nạn, lần theo dấu tích những tượng đài ngày xưa, mang đậm dấu ấn hoang phế, điêu tàn của thời gian. Đặc biệt những dòng chữ Việt được khắc trên các tấm bia, những tảng đá, những tấm bảng tạ ơn Đức Mẹ, tạ ơn Thượng Đế, Trời Phật vẫn còn rõ nét dù thời gian, dù cây lá, giây leo phũ phàng che lối.

Vén cành lá lòa xòa qua một bên, chúng tôi vẫn đọc được những nét chữ tuy phai mờ, và cảm nhận được cái hồn Việt Nam đang còn ở nơi đây. Những dòng chữ Việt trên bia đá, vẫn thi gan cùng mưa nắng, vẫn sừng sững như một chứng nhân lịch sử trên hải đảo hoang vu! Những tâm tình từ lâu không còn nhớ, nay trở về, làm rung lên những cung bậc tận đáy lòng chôn kín, làm xôn xao tâm tư của những đứa con lưu lạc chưa về.

Đây là nền cũ của ngôi thánh đường Công Giáo, kia tượng Phật Bà đứng im mang một vẻ kiên nhẫn, chịu đựng giữa trời nắng gió xen lẫn thiếng tiếng xào xạc cây lá. Xa một chút là tấm bia của Cao Đài Giáo. Những bậc xi măng đi lên đồi Tôn Giáo, giờ đây một lớp lá khô và dày phủ lên, ẩm ướt, rong rêu, trơn trợt, thoang thoảng và ngai ngái mùi lá mục.

Bà xã tôi, vốn chẳng biết ăn nói, hôm nay cũng mừng vui quá, luôn tay chỉ trỏ những địa điểm quen thuộc giờ đây những cây rừng đã mọc che kín lối. Người xúc động nhất là cặp vợ chồng Thái-Quỳnh. Họ quen nhau và yêu nhau trên mảnh đất này. Tình yêu nảy mầm nơi mảnh đất tạm dung, để rồi 44 năm sau, họ trở lại và trao nhau một nụ hôn nồng nàn trước sự chứng kiến và chúc mừng của cả nhóm chúng tôi.

Anh Lý dùng những cành cây thay chổi để quét lá khô, vun vén cỏ dại trên nền cũ gian cung thánh của ngôi nhà thờ nhỏ cho dễ coi hơn, anh đang tìm lại hình ảnh những buổi cầu kinh, những thánh lễ đơn sơ đã từng hiện hữu ngay trên nền xi măng nứt nẻ này. Chúng tôi ai nấy thì thầm cầu nguyện riêng, bên cạnh những ngôi mộ nằm rải rác đây đó trên con dốc thoai thoải phủ kín màu xanh. Trên đồi Tôn Giáo nhìn xuống là một bãi cát trắng nhỏ tuyệt đẹp, sau khi dọn dẹp xong, chúng tôi lần theo triền dốc đi bộ xuống và ngâm mình vào giòng nước mát gột rửa sạch sẽ bụi trần của một ngày mang theo.

Thủy thủ đoàn mời chúng tôi lên ăn trưa do chính họ nấu nướng còn nóng hổi. Một bữa ăn thật ngon miệng với cá chiên dòn rụm và rau tươi họ mang theo. Anh Hisham giải thích cho chúng tôi nghe những cố gắng mà chính phủ Malaysia đã làm để giữ gìn, bảo tồn nơi chốn lịch sử này dù chính phủ cộng sản đương thời ở Việt Nam đã gởi công văn yêu cầu Malaysia xóa bỏ những di tích ở đây vì nó như một cái gai trong mắt họ. Ngày nào di tích này còn đứng vững thì nó vẫn là một minh chứng sống động cho tất cả đất nước trên thế giới thấy rõ sự tàn ác của chủ nghĩa cộng sản như thế nào.

Anh cho hay đã có một nhóm người không biết do ai tổ chức đã lên đảo Pulau Bidong và đập phá các tượng Phật, tượng Đức Mẹ, và phá hủy những tấm bia tưởng niệm hòng xóa hết các dấu tích của người Việt Nam tỵ nạn. Cộng đồng người Việt tại Úc đã quyên góp và xin phép chính phủ Malaysia cho phép sửa chữa lại nhưng họ chỉ cho phép ở lại trong ngày nên không có đủ thời gian để tu sửa.

Anh Hisham và các cộng sự ở địa phương đã cố tình lờ đi lệnh trên, cho nhóm thiện nguyện người Việt Nam tại Úc lưu lại lâu hơn để họ có đủ thời gian hoàn thành công trình; họ hiểu rằng Pulau Bidong ở cách xa chính phủ trung ương, nên Kuala Lumpur không thể nào biết được chuyện gì xảy ra nơi đây. Vì vậy, ngày hôm nay chúng tôi đến, các bức tượng mới còn đủ tay chân nguyên vẹn như ngày xưa. Chúng tôi rất biết ơn anh nên giúp anh bằng cách “tip” anh và thủy thủ đoàn hậu hĩ và mua áo T-shirt in hình trại tỵ nạn theo giá ủng hộ để anh có thêm động lực lưu giữ di sản tỵ nạn Việt Nam.

Chiều hôm đó, chúng tôi lên thuyền trở về lại Terengganu. Gió thổi mạnh, biển động, sóng to, tuy trời không mưa nhưng sóng đập dữ dội vào mạn thuyền, nước bắn lên tung tóe như mưa bão. Con thuyền lắc lư và chòng chành mạnh, sàng qua sàng lại trên những đợt sóng bạc đầu. Anh Bình không quen, nên cho … cá ăn chè, tất cả chúng tôi ướt như chuột lột, ba lô sũng nước, ai nấy mệt đừ vì sóng và lạnh run vì nước và gió.

Hisham cho hay gió và sóng thường rất mạnh vào ban chiều, nhưng chúng tôi vẫn phải tăng tốc độ để về lại Terengganu cho kịp, e rằng bão lớn sẽ ập đến đột ngột. Một ngày mệt nhoài pha lẫn hiểm nguy nhưng thật ý nghĩa khiến chúng tôi không ai thấy hối tiếc khi đặt chân thăm lại vùng đất lịch sử và thần thánh Pulau Bidong.

Sau một đêm nghỉ ngơi, Hisham trở lại đón chúng tôi đi thăm bảo tàng viện Thuyền Nhân Việt Nam gần trung tâm thành phố. Sau đó, anh đưa chúng tôi đến viếng nghĩa trang Thuyền Nhân Tỵ Nạn Việt Nam ở vùng ngoại ô, nơi những ngôi mộ tập thể của hàng trăm thuyền nhân xấu số được chôn cất tại đây: có người cặp bến nhưng bị chết vì ngộ độc khi ăn thịt rắn, có người chưa đặt chân lên miền đất tự do, thuyền bị dắm chìm, cả xác người và xác con tàu trôi dạt vào bờ, dân địa phương vớt được, đem an táng tử tế chung trong một huyệt mộ và khắc tên của họ lên bia đá, tùy theo giấy tờ tùy thân đem theo.

Chiếc xe van dừng lại ở một khu dân cư thưa thớt, nghèo nàn ở vùng ngoại ô Terengganu. Buổi trưa lặng gió, cảnh vật im lìm lắng đọng trong không khí oi nồng mùa hạ. Theo hướng dẫn của anh, chúng tôi lần lượt đi qua các nấm mồ tập thể và dừng lại nơi mỗi một ngôi mộ với một phút thinh lặng tưởng nhớ đến tất cả linh hồn, những số phận hẩm hiu đã bỏ mình trên đường đi tìm ước mơ và hai chữ Tự Do. Cố ngăn dòng nước mắt rưng rưng trên mi đang chực trào ra, chúng tôi đè nén nỗi xúc động sâu xa, góp một lời kinh cầu cho các linh hồn của đồng bào tôi.

Xin ghi lại những hình ảnh và những gì được khắc trên những tấm bia mộ có tên và những tấm bia mộ vô danh để quý vị có thể truy tìm thân nhân của mình đã bỏ mình trên đường vượt biển. Ví dụ: MG1 = Mass Grave 1, mồ tập thể, kèm theo hình những tấm bia mộ sau đây:

- MG1: 137 Thuyền Nhân vô danh.

- MG2: 39 TN vô danh chết đuối ngoài khơi gần Batu Rakit + hơn 30 TN không tìm được xác.

- MG3: 19 TN chết vì ngộ độc vì ăn cháo rắn năm 1977.


- MG4: Nhiều TN vô danh (Numerous VBP) + 3 TN có tên ở Rantau Abang ngày 30/4/1979, số tàu MH3012

- MG5: Nhiều TN vô danh gần Merchang.

- MG6: 33 TN vô danh ở Seberang Takir, ngày 13/1/1987, số tàu: SS04281A.+ 5 TN có tên.

- MG7: 53 TN vô danh gần cửa biển Kuala Terengganu ngày 23/11/1978.

Còn hàng trăm ngôi mộ vô danh được quét vôi trắng nằm rải rác trong một khu dành riêng cho các Thuyền Nhân Việt Nam. Đây chỉ là những thân xác Thuyền Nhân người Việt mà ngư dân Malaysia vớt được, còn hằng mấy trăm ngàn thân xác con dân Việt Nam khác nằm lại ngoài khơi sâu thẵm của Thái Bình Dương, theo ước tính của cao ủy tỵ nạn Liên Hợp Quốc. Thật là một bi kịch có một không hai trong lịch sử loài người và lịch sử tỵ nạn thế giới. Cho đến bây giờ, nhân loại vẫn còn nhắc hai chữ Boat People khi nói về những người tỵ nạn Việt Nam.

Sự im lặng của những ngôi mộ vô danh này là tiếng thét đau đớn về một phần lịch sử đầy bi thảm, nơi con người đã dũng cảm đối mặt với biển cả để tìm kiếm Tự Do, nhưng chỉ nhận lại sự im lặng vĩnh hằng. Mỗi ngôi mộ là một câu chuyện chưa kể, một nỗi niềm chưa nói, một tiếng lòng bi ai trong trang sử Việt nam.

Mặc cho sự im lặng của biển khơi, dân tôi thời gian đó, từng đoàn người, lũ lượt bỏ nước ra đi tìm kiếm ước mơ được sống như một con người, họ không còn biết sợ, họ đã gởi lại thân xác vào lòng biển sâu, người vĩnh viễn nằm lại giữa đường, người vừa đặt chân lên ngưỡng cửa Tự Do thì lại nằm xuống vì lý do này khác. Đã có lúc, cái đáng sợ hơn nữa là sự im lặng của loài người đã cạn kiệt lòng nhân đạo, để mặc những con tàu gỗ mong manh chìm vào đại dương sâu thẵm; cũng như lúc này, chết chóc, đói khát, bệnh tật đang diễn ra ở Ukraine và ở vùng đất Palestine-Do Thái.

Câu chuyện Pulau Bidong không những cần được nhắc lại cho thế hệ con cháu chúng ta như một trang sử truyền miệng, mà còn là những chứng tích được ghi lại để thế hệ sau còn biết cha mẹ chúng đã bỏ nước ra đi tìm cái sống trong cái chết, để đến được ngưỡng cửa Tự Do, đã sống gian khổ ra sao trước khi đặt chân đến nước Mỹ chỉ với hành trang là một trời hy vọng về viễn ảnh tương lai. Chúng tôi đã sai lầm khi chưa bao giờ nói cho con cái nghe về cuộc hành trình của mình. Thằng con trai khi coi hình chúng tôi gởi đã phải thốt lên

- Con không hề biết mẹ đã phải sống ở đó 2 năm, trên một hòn đảo rừng rậm hoang vu. Làm cách nào mẹ sống được khi không có việc làm? Cao ủy tỵ nạn lấy tiền đâu mà nuôi cả mấy chục ngàn người như vậy?

Nó đặt ra cả chục câu hỏi với một sự quan tâm đặc biệt. Tôi phải mất thời gian giải thích cho nó hiểu, không quên nhấn mạnh rằng ba má có được cuộc sống ngày hôm nay trên đất Mỹ, ba má vẫn không quên ơn những người đã đưa bàn tay ra giúp mình thông qua Cao Ủy Tỵ Nạn. Vì vậy, đến phiên mình, ba má mỗi năm đều có nghĩa vụ đóng góp để giúp lại những người không may mắn, những nạn nhân chiến tranh, những người liều chết đi tìm tự do như mình ngày xưa. Nếu không được nhắc nhở, những hy sinh của thế hệ đi trước sẽ dần mất đi ý nghĩa của hai chữ Tự Do và nó sẽ chìm vào quên lãng dưới bánh xe lịch sử.

Chúng tôi nhắc nhở câu chuyện Pulau Bidong, không phải để giữ mãi sự thù hằn với những kẻ bên kia chiến tuyến, khác chính kiến với chúng tôi, dù họ là kẻ bị bịt mắt, bị nhồi sọ, gây ra thảm cảnh nồi da nấu thịt, anh em tận diệt lẫn nhau; chúng tôi chỉ muốn lưu giữ những chứng tích lịch sử để con cháu các thế hệ tương lai của chúng ta biết và hiểu được tại sao chúng ta có mặt ở vùng đất Tự Do. Lịch sử luôn luôn lập lại, lịch sử là tấm gương soi để con cháu chúng ta không bao giờ còn dẵm đạp lần nữa lên dấu tích oan khiên của những thế hệ đi trước.

Xin tạm biệt Pulau Bidong, tạm biệt những nấm mồ ở lại, chúng tôi trở về nhà nhưng sẽ không bao giờ quên các bạn. Chúng tôi tin rằng linh hồn các bạn giờ này đã siêu thoát, đang thanh thản trong cõi vĩnh hằng, không còn biết thù hận hay đau thương; nhưng trong tâm khảm những Thuyền Nhân Việt Nam, VBP, cũng như những người chưa biết cuộc đời tỵ nạn, chúng tôi là những người con nước Việt, luôn ghi khắc trong lòng bài học lịch sử Pulau Bidong.

NGUYỄN VĂN TỚI. 
THÁNG 6, 2024.

Phần phụ thêm:
Ai đã một thời tỵ nạn ở Pulau Bidong, có thể gởi email cho Hisham, với tên họ, ngày sinh và ngày đến trại, anh sẽ lục trong thư khố thuyền nhân và anh sẽ gởi tặng 1 tấm thẻ tỵ nạn đúng theo bản gốc ở Pulau Bidong để bạn lưu giữ một kỷ niệm đau thương thời vượt biển và cũng là một căn cước của người tỵ nạn chính trị Việt Nam.

Kèm hình ảnh các ngôi mộ ở Pulau Bidong và các ngôi mộ tập thể chụp tại nghĩa trang Terengganu, Malaysia.

Nghĩa trang và bia lưu niệm trên đảo Pulau Bidong.

Hằng trăm ngôi mộ thuyền nhân Việt Nam vô danh ở Terengganu



Blog Archive