Wednesday, June 18, 2008

UNESCO có vinh danh ông Hồ hay không ?

Nguyễn An của ban Việt ngữ đài Á Châu Tự do
19/05/2008

Trong sách giáo khoa cũng như trên báo chí Việt Nam, một điều luôn đựơc nhắc đi nhắc lại một cách tự hào, là Tổ chức Văn Hóa, Khoa học và Giáo Dục Liên Hiệp quốc, tức UNESCO đã vinh danh ông Hồ là một danh nhân văn hóa thế giới nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của ông, vào năm 1990.

Vì thế, trong dịp ấy, sinh nhật của ông Hồ đã được tổ chức trọng thể tại Hà nội cũng như tại trụ sở của UNESCO ở Paris.

Vào khi Internet nở rộ và khá nhiều chi tiết liên quan đến đời sống cũng như sinh họat cuả ông Hồ với những chứng cớ hiển nhiên đựơc phổ biến rộng rãi, khiến một số điều từ trứơc đến nay vốn đựơc tin tửơng tuyệt đối đã đựơc chứng minh ngược lại, giới trẻ trong ngòai nứơc cũng đặt vấn đề về chuyện vinh danh.

Đã có một số vị thẩm quyền lên tiếng trả lời, nhưng thắc mắc vẫn chưa dứt.

Để góp phần giải quyết vấn đề này, nhân dịp 19 tháng 5 năm nay, biên tập viên Nguyễn An của ban Việt ngữ đài Á Châu Tự do tổng hợp thông tin từ những nguồn đáng tin cậy, để trình bày một lần cho rõ câu chuyện.

Chúng tôi sẽ căn cứ vào bản nghị quyết của Liên Hiệp quốc hiện còn đựơc lưu trữ mà ai cũng có thể tham khảo, và phỏng vấn hai người:

Thứ nhất là nhà báo Bùi Tín, nguyên đại tá quân đội, phó tổng biên tập báo Nhân Dân. Ông từng có mặt tham dự lễ kỷ niệm năm 1990 tại Hà nội và cũng từng đến tận trụ sở UNESCO ở Paris để hỏi chuyện.

Thứ hai là tiến sĩ Nguyễn Văn Trần, người lãnh đạo nhóm phản đối nghị quyết của Liên Hiệp quốc và đấu tranh để hủy bỏ, hay ít nhất vô hiệu hóa nghị quyết ấy. Chúng tôi cũng mong nhận đựơc thêm ý kiến của quý thính giả về chuyện này.

Thông lệ của UNESCO

Câu chuyện bắt đầu với ngày sinh của ông Hồ và thông lệ của UNESCO, là tưởng niệm ngày sinh thứ 100, hay chia chẵn cho 100, của những nhân vật kiệt xuất của các nứơc thành viên, theo đề nghị từ các nứơc ấy, nên trứơc hết, thiết tưởng phải nói về ngày sinh của ông Hồ, mặc dù ai cũng nói rằng ông sinh ngày 19 tháng năm năm 1890. Nhà báo Bùi Tín nói:

Tôi theo dõi vấn đề này đến 15 năm nay và hiện nay tôi cũng vẫn chưa xác định được ngày sinh đúng của ông Hồ là ngày nào, bởi vì ổng khai đều là chính thức cả đến 5 chỗ, mà 5 chỗ đó là 5 ngày sinh khác nhau. Và ngày sinh gốc thì ngay sổ sinh ở quê ổng là làng Kim Liên cũng là khác, theo ngày âm lịch mà chuyển sang (dương lịch) cũng không phải là Ngày 19-5-1890.

Thế rồi ngày mà ổng sang Moscow đáng lẽ phải khai đúng với Quốc Tế Cộng Sản III (Đệ Tam Quốc Tế) cũng lại khai khác đi là Tháng 4 chứ không phải là Tháng 5.

Thế rồi đến ngày khi ở Pháp khi ổng trả lời phỏng vấn trên tờ Le Paria với tờ L'Humanité cũng lại khác nữa. Cho đến nay thì tôi nghĩ là không ai có thể chứng minh được ngày sinh chính thức của ông Hồ là ngày nào, nhưng chỉ biết đích xác Ngày 19 Tháng 5 là một ngày giả.

Như vậy là 100 năm ngày sinh của ông Hồ chưa chắc đã là 19 tháng 5 năm 1990, như bức thư của ông Võ Đông Giang, bộ trưởng, chủ tịch Ủy ban quốc gia UNESCO của Việt Nam viết gửi tổng giám đốc UNESCO, ông Amadou Mahtar M’Bow ngày 14 tháng tư năm 1987.

Phóng ảnh bức thư cả tiếng Pháp lẫn tiếng Việt đựơc đính kèm bài này để tham khảo, nhưng sau đây là phần chính:

“Nhân dân Việt Nam sẽ tổ chức trọng thể kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của chủ tịch Hồ (19/5/1890-19/5/1990).

Chủ tịch Hồ là vị anh hùng dân tộc, đồng thời là nhà văn hóa xuất sắc của Việt Nam. Do vai trò và cống hiến vô cùng to lớn của chủ tịch Hồ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, và sự gắn bó cuộc đời họat động của người với sự nghiệp đấu tranh chung của các dân tộc trên thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; do những đóng góp to lớn của người vào việc gìn giữ và phát triển bản sắc văn hóa Việt Nam, chúng tôi nghĩ rằng kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của chủ tịch Hồ không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với dân tộc Việt Nam, mà còn có ý nghĩa quốc tế lớn lao.”

Những vận động của Hà Nội

Sau khi đề nghị Đại hội đồng khóa 24 của UNESCO thông qua nghị quyết kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của ông Hồ, và ghi tên ông Hồ vào danh sách danh nhân thế giới sẽ đựơc tổ chức kỷ niệm vào năm 1990.

Đề nghị ấy đựơc đại hội đồng khóa 24 của UNESCO chấp thuận và phần bịên minh của ông Võ Đông Giang được ghi nguyên văn trong bản nghị quyết. Văn bản này đựơc ghi lại trong hồ sơ lưu trữ của đại hội đồng khóa họp thứ 24 tại Paris từ 20 tháng 10 đến 20 tháng 11 năm 1987, ở trang 134, mục 18.65, và phóng ảnh đựơc đính kèm. Đường link dẫn tới hồ sơ này đựơc chép lại ở cuối bài để quý thính giả tiện tham khảo.

Phần cuối bản nghị quyết đề nghị tổng giám đốc UNESCO có các bứơc đi thích hợp để kỷ niệm ngày sinh thứ 100 của chủ tịch Hồ , đồng thời hỗ trợ các họat động kỷ niệm đựơc tổ chức nhân dịp này, nhất là với những họat động ở Việt Nam.

Như vậy, nghị quyết vinh danh ông Hồ của UNESCO là có thật, theo đề nghị của phái đòan Việt Nam và dựa trên những điều phái đòan Việt Nam đưa ra để biện minh. Cùng với ông Hồ, còn có một số nhân vật khác, trong đó ở Á Châu, có ông Nehru của Ấn độ.

Vấn đề thứ hai là UNESCO, nhất là ông tổng giám đốc đã thực hiện nghị quyết ấy thế nào, vì từ khi có nghị quyết đến khi dự trù thực hiện, còn gần ba năm nữa.

Cộng đồng người Việt phản đối

Tiến sĩ Nguyễn Văn Trần kể lại: Khi chúng tôi ở Paris hay tin được có cái quyết định vừa được ban hành thì anh em chúng tôi ở Paris lập tức họp lại với nhau và thảo luận cái phương pháp nào, tìm cách chống lại nghị quyết của UNESCO.
Ông Trần nói lý do khiến cộng đồng người Việt phản đối nghị quyết của UNESCO là:

Tiến sĩ Nguyễn Văn Trần : “Thì với 2 tư cách: Hồ là một nhà văn hoá, Hồ là một người giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân Pháp, thì chúng tôi vận động dư luận Việt Nam phản đối cả hai điểm đó.

Điểm thứ nhứt, Hồ không phải là nhà văn hoá : Căn cứ vào trình độ học vấn của Hồ thì tất cả tài liệu chúng tôi có đưa ra là Hồ chỉ học qua Lớp 3, không thể là nhà văn hoá được.

Và tác phẩm Ngục Trung Nhật Ký mà nhà cầm quyền Việt Nam đưa ra cho đó là tác phẩm của Hồ thì được Giáo sư Lê Hữu Mục chứng minh rằng tác phẩm đó không phải là một tác phẩm thật của Hồ .

Vấn đề văn hoá thì chứng mình rõ ràng rồi, tất cả ai cũng thấy, mấy người khác cũng nhìn nhận chuyện đó. Bây giờ chứng minh ông Hồ không phải là nhà giải phóng thì họ cũng nhìn nhận bởi vì Hồ có công đánh đuổi thực dân Pháp nhưng mà để thiết lập một chế độ cộng sản chứ không phải là một chế độ thật sự như người Việt Nam mong muốn. Điều đó họ thấy rõ.

Chúng tôi họp đồng bào ở vùng Paris và tổ chức một uỷ ban để phản đối UNESCO về việc chấp thuận làm lễ cho Hồ ở Paris, tại trụ sở UNESCO. Uỷ Ban đó chúng tôi chọn cái tên là Uỷ Ban Tố Cáo Tội Ác Hồ . Anh em bầu tôi làm tổng thư ký.”

Ông Nguyễn Văn Trần cũng cho biết là chủ trương của cộng đồng người Việt hải ngọai và họat động của ủy ban đựơc sự ủng hộ mạnh mẽ của Hội Cựu Chiến Binh Pháp và Quốc Hội cũng như Chính Phủ Pháp, vì một số cựu chiến binh khi đó đã tham chính hay trở thành đại biểu dân cử, và họ biết rất rõ về Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của ông Hồ :

Tiến sĩ Nguyễn Văn Trần : “Và chúng tôi liên lạc được với Hội Cựu Chiến Binh và Hội Những Người Bạn Đông Dương (ANAI) do Tướng Simon làm Hội Trưởng. Ông giới thiệu những người trong quân đội Pháp, những công chức ở đây mà bây giờ họ là dân biểu và thượng nghị sĩ. Chúng tôi viết thư với tư cách là Uỷ Ban Tố Cáo Tội Ác Hồ , chúng tôi viết thư cho những vị đó. Tất cả thư từ đều được trả lời rất là thuận lợi, tức là những vị dân cử lúc nào cũng yểm trợ lý do tranh đấu của chúng tôi.

Quyết định của UNESCO

Đến Tháng 5 Năm 1990, thì tình hình đã rõ, có nghĩa là UNESCO quyết định không thực hiện nghị quyết mặc dù họ không thể công khai hủy bỏ nghị quyết ấy, vì chưa đến kỳ họp đại hội đồng. Cơ duyên đưa đến kết quả này đựơc ông Trần kể lại:

Tiến sĩ Nguyễn Văn Trần : “Đến Năm 1990 thì biến cố Đông Âu đã làm cho tất cả những người có thiện cảm với Hồ , người Pháp có thiện cảm với Hồ thì đều thay đổi hết. Có cái cơ may nữa là ông Tống Giám Đốc M'Bow (người Phi Châu da đen) hết nhiệm kỳ và không được bầu lại, và ông Frederico Meillor (người Tây Ban Nha) được bầu làm tân Tổng Giám Đốc UNESCO. Ông Meillor là người không có cảm tình với cộng sản như ông M'Bow nên đó là một thuận lợi cho chúng tôi. Và yếu tố mà tôi nghĩ là có tính quyết định, đó là chúng tôi chứng minh được Ngày 19 Tháng 5 không chắc là cái ngày sanh thiệt của Hồ, và một tổ chức văn hoá - khoa học thì không thể chấp nhận một điều không chính xác.

Sau đó UNESCO mời chúng tôi lại để trả lời. Giám Đốc Đông Nam Á Sự Vụ lúc đó là một người Lào đã trả lời chúng tôi rằng "Chúng tôi không có quyền huỷ bỏ cái nghị quyết. Chúng tôi chỉ làm được một việc là không thi hành cái nghị quyết đó. Và chúng tôi thông báo cho ông biết rằng Thị Xã Paris không tham dự, Chính Phủ Pháp không tham dự, UNESCO không tham dự, và UNESCO không tổ chức cái lễ đó tại trụ sở UNESCO và cũng không thi hành cái nghị quyết là sẽ trợ cấp một khoản cho Hà Nội tổ chức tại Hà Nội". Và họ thông báo thêm rằng Toà Đại Sứ Việt Nam ở Paris thuê 2 phòng ở trong trụ sở UNESCO để tổ chức. Lúc đó chúng tôi phản đối nên họ rút lại chỉ còn 1 phòng thôi."

Nhà báo Bùi Tín lúc đó đang có mặt ở Hà Nội, và có tham dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh ông Hồ. Đựơc hỏi về sự tham gia và hỗ trợ của UNESCO đối với họat động ấy, như đựơc ghi trong nghị quyết vinh danh, ông nói: “Vâng. Tôi tham dự cái buổi lễ đó vào buổi sáng Ngày 19-5-1990. Tuyệt nhiên không có một đại diện nào của UNESCO tham dự ở đấy cả. UNESCO không có một đại biểu nào đến dự cả.”

Nhà báo Bùi Tín sau đó đã đến trụ sở của UNESCO ở Paris để tìm hiểu thêm và cho biết:

“Tôi đã đến tận UNESCO để tìm và tôi đã gặp bà Elisabeth là người phụ trách thư viện của UNESCO lớn lắm và bà nắm tất cả hồ sơ chính thức của UNESCO, và bà ấy cũng biết ngay và trả lời tôi trong khoảng 40 phút về nội dung của vấn đề này. Bà xác định rõ là lúc đầu có một nghị quyết có thật của UNESCO nhưng mà nghị quyết đó là thông qua cái đề nghị viết sẵn của đoàn Việt Nam.

Thế nhưng trước ngày kỷ niệm hoặc một năm thì cả một phong trào chống đối rất là mạnh mẽ, do đó mà UNESCO chủ trương là không đứng ra để tổ chức cái đó nữa và để cho Việt Nam muốn tổ chức như thế nào thì tuỳ nhưng mà không được lấy danh nghĩa UNESCO. Lúc bấy giờ ông Tổng Thư Ký UNESCO nói rằng nếu muốn xoá bỏ nghị quyết đó thì phải có Đại Hội Đồng UNESCO, mà Đại Hội Đồng UNESCO thì 5 năm mới họp một lần, do đó phải 3 năm nữa mới có thể trình vấn đề đó được.

Cho nên chủ trương của chúng tôi là như thế này, tức là không cung cấp tài liệu và tài chính cho cái kỷ niệm này và cũng không tham dự chính thức cái tổ chức này ở bất cứ đâu, và ngay ở Pháp là trụ sở của UNESCO cũng sẽ không tổ chức gì hết. Nếu phía Việt Nam muốn thì phải thuê một cái phòng nhỏ của UNESCO và cũng không được niêm yết một tài liệu nào nói rõ là UNESCO chủ trương tổ chức lễ kỷ niệm này để coi ông Hồ là danh nhân văn hoá thế giới.

Đó cũng chính là điều mà ông Trần phát biểu và đó cũng chính là điều đựơc ghi lại trong bài báo về lể kỷ niệm này của tác giả Văn Chấn trong báo An Ninh Thế Giới, số 177 ra ngày 18/5/2000, trang 34, nguyên văn như sau:

"Về phần nội dung buổi lễ, ta có thay đổi chút ít. Đồng chí đại sứ của ta không đọc bài diễn văn dài về Bác, mà thay vào đó là đồng chí Nguyễn Kinh Tài, đại sứ bên cạnh UNESCO, đọc diễn văn ngắn nói về ý nghĩa lễ kỷ niệm, đọc quyết định của đại hội đồng UNESCO về kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Bác. Chủ tịch Hội đồng người Việt tại Pháp phát biểu ý kiến về công lao của Bác Hồ đối với dân tộc và thế giới; cuối cùng là chương trình xem văn nghệ do đòan cải lương trong nứơc sang phục vụ."

Trên đây là những thông tin do Nguyễn An tổng hợp liên quan đến việc UNESCO vinh danh ông Hồ là danh nhân thế giới. Chúng tôi mong nhận đựơc thêm ý kiến của quý thính giả về chuyện này. Xin cảm ơn quý vị.




BÀI GHI LẠI LỜI PHỎNG VẤN CỦA LÊ XUÂN TRƯỜNG VỚI ÐIÊU KHẮC GIA NGUYỄN THANH THU VỀ BỨC TƯỢNG "TIẾC THƯƠNG" Ở NGHĨA TRANG QUÂN ÐỘI BIÊN HÒA.

LỜI GIỚI THIỆU: (Trích từ ASIA VIDEO 36, Chủ đề: LÍNH)

Một trong những người mà LÊ XUÂN TRƯỜNG mời quý vị theo dõi buổi nói chuyện hôm nay, anh là một Ðiêu Khắc Gia, người đã để lại bức tượng nặng 10 tấn, cao hơn sáu thước taị Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, nghĩa trang nơi hàng ngàn người lính VIỆT NAM CỌNG HÒA đã nằm im trong giấc ngủ ngàn thu vẫn chưa được tìm thấy những giây phút thật thanh bình. Thưa quý vị, Ðiêu Khắc Gia NGUYỄN THANH THU, tác giả của bức tượng TIẾC THƯƠNG:

LÊ XUÂN TRƯỜNG: Thưa anh Thu. Trước đây ở Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, mình có Nghĩa Trang nào trước đó?

ÐKG NGUYỄN THANH THU: Ðể trả lời anh Xuân Trường. Sỡ dĩ mà Nghĩa Trang Xa Lộ Biên Hòa nó được hình thành sau Nghĩa Trang ở Hạnh Thông Tây Gò Vấp, trước đó chưa có Nghĩa trang Biên Hòa chỉ có Nghĩa trang Hạnh Thông Tây Gò Vấp . Qua cái năm đó, vụ năm 68 vừa xong thì Mỹ đổ thêm quân tham chiến , một cuộc chiến ác liệt, cho nên, lúc bây giờ Nghĩa trang Hạnh Thông Tây đã không có chỗ còn để chôn nữa, cho nên chính phủ mới thành lập Nghĩa Trang Xa Lộ Biên Hòa.

LÊ XUÂN TRƯỜNG: Sau khi đề án Nghĩa Trang Xa Lộ Biên Hòa được thành lập ra để giao cái Nghĩa trang Hạnh Thông Tây quá chật chỗ, không còn đất để chôn cất nữa.Vậy ai là người đưa ra cái đề án đó?

ÐKG NGUYỄN THANH THU: Dạ, cám ơn anh XuânTrường. Nguyên nhân là, lúc đó, Tổng Thống VNCH, ông Nguyễn Văn Thiệu, ổng có biết là ở bên Phi Luật Tân có một nghĩa trang mà Phi nó tự cao lắm, tự hào lắm, nghĩa trang đẹp nhất ở Á Châu. TổngThống mới mời tôi lên để nói tôi qua đó nghiên cứu có cái gì bên đó để về thành lập Nghĩa Trang Biên Hòa của mình. Tôi được đi qua nghiên cứu cái nghĩa trang đó. Khi trở về, tôi trình dự án đó cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Từ đó, dự án được bắt đầu đưa qua cho Công Binh thực hiện, ủi đất để xây cất, đất đang ủi, đang làm xa lộ ở đó.

Lúc bấy giờ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu có mời tôi lên, ổng có cho tôi biết, ổng có ý muốn là làm thế nào để thực hiện một tác phẩm gì đó ở Nhgĩa Trang Biên Hòa. Từ xa lộ đi vô trong có một khúc lộ, ổng muốn đặt trước Nghĩa trang, trước khi vô trong, phải có tác phẩm gì đó. Ổng kêu tôi về suy nghĩ để thực hiện cái tác phẩm nầy. Lúc bây giờ, tôi muốn xin ý Tổng Thống một lần nữa, Tổng Thống cho biết cái ý nghĩa, quan trọng lá cái ý nghĩa như thế nào. Tổng Thống trả lời với tôi, Tổng Thống nói: " Theo tôi thì mình làm thế nào để hậu phương biết cám ơn chiến sĩ của mình mà họ đã chết chóc ngoài chiến trường".

LÊ XUÂN TRƯỜNG: Như vậy, Tổng Thống muốn có một bức tượng đặt ở Nghĩa trang để vinh danh, đặt ở ngoài cổng?

ÐKG NGUYỄN THANH THU: Dạ. Sau nầy, ổng hỏi khi nào có thể trình dự án được. Tôi có trình lại với Tổng Thống, Tổng Thống cho tôi suy nghĩ một tuần lễ, tôi sẽ trình dự án như Tổng Thống muốn. Lúc đầu, ông Tổng Thống mới bấm chuông, ông Ðại tá Cầm bước vô, Tổng Thống nói: "Ông Thu có hứa với tôi là khoảng một tuần lễ ổng sẽ trình dự án". Sau nầy ra về, ổng có vỗ vai tôi và nói: "Anh là cục nhưn đó nghe, nghĩa trang của mình có cục nhưn, anh làm thế nào , tôi hy vọng ở anh đó nghe". Tôi ra về.

Công việc đầu tiên nằm trong trứng nước, trong bụng tôi, nó bào bào, cái ý nầy, ý kia, nói đi nói lại, tự hỏi lòng mình tìm đề tài. Trong thời gian đó, tôi hứa với Tổng Thống một tuần lễ, từ thứ hai đến thứ sáu. Tôi nhớ rõ lắm.

LÊ XUÂN TRƯỜNG: Trong một tuần lễ, anh có nghĩ là anh sẽ kịp để tìm đề tài?

ÐKG NGUYỄN THANH THU: Ðó! Ðó! Ðã hứa rồi, trong cái tuần lễ đó, công việc gì cũng bỏ hết, mình không có làm chi hết. Tôi nghĩ, tìm cái đề tài gì đây? Tác phẩm gì đây? Lúc bấy giờ, Nghĩa trang Biên Hòa đang ủi đất, đang thành lập chứ có gì đâu? Tôi mới đi lên Nghĩa trang Hạnh Thông Tây. Lúc bấy giờ, chiến trường đang ác liệt, trực thăng nó xuống ào ào, chiều nào trực thăng cũng đem xác về, đến nỗi mà trong nhà kho xác, rồi một dãy hòm hai ba chục cái đang sắp ngang đó.

LÊ XUÂN TRƯỜNG: Không có đất để chôn phải không ạ?

ÐKG NGUYỄN THANH THU: Có đất chôn nhưng cũng gần hết đất rồi nhưng mà xác nhiều đến nỗi trong mấy cái hòm ướp xác, rồi mấy cái hòm đang để dài dài, rồi mấy cái đang chôn nhiều đến nỗi phải làm tạm lều ra ngoài, cất lều, che sơ sơ để chất xác cho trực thăng mỗi chiều nó xuống. Tôi ở đó được ngày thứ hai đến thứ sáu, cảnh chết chóc thì quý vị đã biết, ngày nào cũng khóc la, rồi con cái, vợ nữa, ôm nấm mồ khóc thiết tha trên nấm mồ, cảnh đau thương lắm. Tôi ở đó được sáu ngày như vậy, khi ở được sáu ngày rồi , ngày mai nữa là hết ngày, đến ngày phải trình Tổng Thống, cho nên đến buổi trưa thứ sáu, đây là câu chuyện thật, tôi cứ nôn nóng như vậy.

Trưa thứ sáu thì tôi từ nghĩa trang Quân Ðội Hạnh Thông Tây, tôi về Gò Vấp. Ở vùng Gò Vấp, nắng quá, tôi mới vô kiếm nước uống. Tôi quẹo đại vào một cái quán gần căn phố. Vô tình, tôi kêu một ly nước chanh uống, bỗng nhiên, tôi thấy một anh lính Nhảy Dù, ảnh vô đó từ trước, ảnh cũng từ Nghĩa trang Hạnh Thông Tây về trước đó. Khi tôi bước vô thì tôi dòm qua ảnh, thấy ảnh đã uống đâu bốn năm chai bia rồi, thì thôi, tôi cũng không nói gì. Nhưng có một điều lạ, tôi thấy ảnh đang nói chuyện với cái ly, ảnh là binh chủng Nhảy Dù, ảnh để cái nón nhảy dù trên cái bàn, mặc áo nhảy dù đàng hoàng, ảnh đang uống và đang buồn, đang nhớ bạn. Một ly ảnh uống, một ly ảnh cúng, ảnh rót bia vào cái ly cúng đó, rồi ảnh nói chuyện với cái ly như có người bạn trước mặt ảnh vậy, ảnh cằn nhằn, ảnh đau đớn cho người bạn của ảnh đã mất. Khi tôi dòm thấy được cái hình ảnh mà ảnh vừa nói vừa gục đầu xuống bàn, vừa khổ sở với cái ly đó, ảnh vừa uống vừa cúng. Tôi chờ một chút nữa rồi bước qua làm quen. Tôi cầm cái ly nước chanh, bước qua, tôi đứng kề ảnh, bên cái bàn của ảnh, tôi xin phép ảnh:

-Anh à, tôi muốn ngồi kề với anh, uống với anh được không? Thấy anh buồn, tôi muốn ngồi với anh.

Tôi thấy ảnh không trả lời tui, ảnh ngồi gục trên cái bàn, ảnh hất cái mặt lên, có vẻ như không bằng lòng khi có người thứ hai quấy rầy ảnh.

LÊ XUÂN TRƯỜNG: Có thể cái giây phút đó, ảnh quá đau lòng, ảnh muốn có một sự riêng tư?

ÐKG NGUYỄN THANH THU: Dạ đúng! Ảnh muốn có một sự riêng tư. Mặt tôi hơi sượng, mấy cô trong quầy cười khúc khích, nãy giờ, cái anh nầy nói chuyện với cái ly không, mà bây giờ có thêm một thằng điên qua nói chuyên với ảnh, mấy cô chắc nghĩ như vậy, thấy mấy cô cười khúc khích với nhau. Nhưng mà trời thương, tôi có hỏi giấy tờ của ảnh, ảnh gục cái đầu xuống, tôi đứng trơ trẽn ở đó. Bỗng nhiên, ảnh móc ở túi sau, ảnh móc giấy tờ, ảnh đưa cho tôi. Tôi đâu có phải Quân Cảnh mà hỏi giấy tờ của ảnh, thế mà ảnh đưa cho tôi. Tôi cầm cái bóp rồi trở về cái bàn của tôi, tôi lấy giấy tờ ra hết. Tôi ghi tên của ảnh, ảnh là VÕ VĂN HAI, hạ sĩ VÕ VĂN HAI, tôi nhớ rõ như vậy. Ở tiểu đoàn nào tôi quên rồi, tôi ghi hết cái KBC. Xong rồi, tôi đem cái giấy đến trả lại, ảnh cũng không cần biết nữa, lấy bỏ túi thôi, không nhìn tôi mà. Tôi trở về bàn, tôi ngồi để nhìn một chút xíu nữa. Rồi, tôi thấy câu chuyện nó như vậy.

Trưa đó tôi về, dĩ nhiên là ảnh còn ngồi đó, tôi lo đi về, tên tuổi của ảnh tôi còn để đây. Tôi về đến nhà.

Khuya hôm đó, tức là tối thứ sáu, tôi bắt đầu vẽ, để sáng thứ bảy trình. Thưa, tối thứ sáu, khi tôi ngồi lại cái bàn, từ 8 giờ tối cho đến 6 giờ sáng , tôi vẽ được 7 bản, bảy bản bự như vầy, vẽ màu đẹp lắm. Lúc bấy giờ, thưa quý vị, khi tôi ngồi ban đêm đó, tôi mới liên tưởng đến chiền trường. Dạ thưa, lúc bây giờ chiến trường, đêm đêm, tiếng súng nó dội về, ầm... ầm , mấy cái cửa kiến rung hết, B52 bay thả bom, cửa kiến ở nhà rung... rung. Rồi mưa tháng tám nữa, mưa lất phất... lất phất ở ngoài đó, cũng đau lắm, tôi ngồi thấy cũng thấm lắm, ngồi nghe mấy tàu lá chuối, nước nó rơi, rồi ầm..ầm. ..rồi ầm...ầm, B52 rót rầm...rầm... rầm...rầm. Thế mà, nó cũng gợi cho tôi, để cho tôi vẽ chiến trường. Dạ thưa, tôi vẽ 7 bản to như thế nầy, vẽ về chiến trường, chiến trường lúc bấy giờ thì người lính mặc áo mưa, cũng thê thảm lắm, gió lất phất, rồi kia, nọ..., người lính đi tới đi lui, lo nhiệm vụ canh gác trong đêm trường cực khổ, ở sau hậu phương, người ta êm ấm như thế nầy mà ở chiến trường thì nó như vậy. Tôi nhớ đến người lính, tôi mới vẽ 7 bản ở chiến trường, một đề tài nhớ chiến trường, vẽ chiến trường. Tôi vẽ như vậy cho tới sáng, tôi nhớ cái gì chút đỉnh thì tôi vẽ tới đó, có ý gì ngộ ngộ nẩy ra thì tôi ghi lại để sáng mai trình với ổng, ghi sơ sơ lên đây. Tôi vẽ tới sáng, cho tới 6 giờ sáng. Tôi vẽ được 7 bản xong rồi, tôi thấy mệt, trời lạnh lạnh nữa, tôi buông cọ ra, mới lủi vô giường nằm. Nằm một chút xíu thì nghe một tiếng chó sủa ào một cái, nhà tôi nuôi chó cỏ nhiều lắm, anh Trường. Mấy con chó sủa ào lên một cái, tôi hay quạu lắm, tôi kêu: "Bà làm gì đàng trước vậy? Ai đàng trước vậy? Gì đàng trước vậy?". Bà xã tôi nghe chó sủa là bả lo, bả ra trước rồi, bả coi cái gì đây? Một chặp, khoảng vài phút sau, bả vô nói: "Có người đến mời ông đi trình dự án". Tôi mới nói, trình dự án gì mà mới mờ mờ đất mà dự án...dự án. Tôi nói vậy mà ông ở ngoài đó nghe, rồi ổng trả lời lớn: "Tôi vô sớm ông Thu! Tôi vô sớm mời ông đi ăn sáng, rồi mình đi lên trển", cuối cùng, tôi đi với ảnh.

Giờ đầu tiên gặp Tổng Thống, Tổng Thống Thiệu đó, lúc bấy giờ đang ở trong Bộ Tổng Tham Mưu, ổng mang lon Trung tướng. Ngày đầu tiên tôi hẹn với ổng, sau một tuần lễ, đi trình, tôi nghĩ ổng ở Tổng Tham Mưu chứ đâu. Thế nhưng, ông nầy, ổng đưa tôi đi Sài Gòn ăn sáng ở nhà hàng gì đó, đả đời, rồi 9 giờ, ổng mới bắt đầu đi, lên xe jeep, ổng chở đi vô dinh Gia Long. Tôi hỏi, quẹo vô đây chi vậy? Tôi nhà quê lắm! "Vô đây ông Thu, vô đây không sao, cũng được vậy thôi". Ông ta nói vậy. Rồi vô dinh Gia Long, ổng trình cho Ðại tá Cầm, ông Cầm, ổng nói liền: "Ông Thu ơi! Bữa nay không có anh là chết tui, tôi chờ anh đầu giờ, bây giờ trễ một, hai phút. Giờ có ông Thiếu tướng, ổng vô trước, đáng lẽ anh đầu giờ nhưng có Thiếu tướng vô trước, chút xíu ổng ra, tới anh đó". Lúc đầu, Ðại tá còn lịch sự hỏi nầy no., dự án, anh có ưng ý không? Vì lịch sư, hỏi qua, hỏi lại vậy thôi. Tôi ngồi đó, còn Ðại tá cũng làm việc của ổng.

Tôi đứng dậy, tôi ra ngoài hành lang, ở dinh Gia Long có cái couloir dài, có hàng ghế đỏ, có mấy cây cột xưa của mình. Tôi đi qua, đi lại, rồi tôi ngồi xuống. Tại sao vậy? Ðó, rồi mình tự hỏi, tại sao mình lại vẽ chiến trường, 7 bản chiến trường. Thôi, bây giờ mình không vẽ chiến trường, mình vẽ anh Võ Văn Hai được không? Rồi mình tự hỏi, vẽ thế nào? Võ Văn Hai phải như thế nào? Tôi ngồi xuống, tôi bố cục, tôi nheo con mắt lại, tôi hình dung trong trí não của tôi đàng hoàng. Tôi nghĩ đến thế người ngồi, ngồi ra làm sao, làm sao? Tôi vẽ trong trí tôi, tôi đứng dậy, tôi chạy vô, lúc nầy tôi tập trung cái đó rồi, tôi tập trung cái bố cục rồi, mà ai hỏi tôi chắc là chết.

Tôi chạy vội vô phòng của ông Ðại tá Cầm, thấy phòng nó nghiêm nghị quá, mình muốn hỏi xin tờ giấy ghi liền mấy cái nét mình suy nghĩ, giống như con khỉ vậy, tôi móc đại tờ giấy pelure , rồi xin cây viết nguyên tử. Tôi ngó phía sau lưng của ổng, có thùng rác, trong quân đội có giỏ rác bằng lưới, trong có bao thuốc lá, tôi lấy bao thuốc ra và mở ra. Tôi trở lại cái hành lang, tôi banh bao thuốc lá ra, có miếng giấy trắng ở trong, tôi mới vẽ xuống, vẽ cái bố cục mà mình mới nghĩ ra.

Lúc đó, nó khiến tôi như thế nào không biết, tôi vẽ xuống, tôi thấy tôi ưng ý, mình đã vẽ 7 bảy bản ghê gướm, vậy mà cái nầy vẽ sơ sơ, vẽ tốc họa, sao mình thấy khoái khoái. Vừa khoái khoái, bỗng nhiên chưa có quyết định gì, ông Ðại tá, ổng hỏi: "Anh Thu đâu rồi? Anh Thu đâu rồi? Ðây rồi! Ðây rồi. Anh vô. Anh vô".

Tôi vô, dĩ nhiên cái bao thuốc lá tôi cầm ở trên tay và 7 bản kia, tôi ôm kè kè đi vô. Vô chào Tổng Thống. Tổng Thống Thiệu đang ngồi, kính chào Tổng Thống rồi thôi. Tôi trải 7 bản dưới sàn dinh. Tôi trải xong, tôi cầm bao thuốc lá nầy chạy qua kính mời Tổng Thống qua duyệt xét, Tổng Thống góp ý, có cái gì, bổ túc ý kiến của Tổng Thống, tôi vẽ như vầy đó, tôi vẽ 7 bản chiến trường.

Ổng bước ra coi, tôi đệm nhẹ vô, chiến trường là nơi gió táp mưa sa, chiến sĩ mình phải canh gác cực khổ thế nầy, thế nọ, đêm đêm, ngày ngày, ở hậu phương thì ngủ êm ấm, công ơn chiến sĩ mình, làm sao mà quên ơn được. Thế là, tôi nói chuyện với ổng, ổng làm thinh, ổng ngồi ổng nghe, rồi ổng qua coi. Khi đó, lúc bấy giờ tôi làm thinh. Tổng Thống đi qua, đi lại vài lần nữa. Rồi ổng đứng lại sát bên tôi, ổng có nói một câu dễ thương lắm, ổng nói:

"Bây giờ thế nầy nè, tôi nghĩ anh là cha đẻ của nó. Tôi thì muốn chọn một bản, tôi thấy bản nầy tôi cũng thích, mà bản kia nữa tôi cũng thích, vậy theo anh, anh thích bản nào. Tôi thấy bản thứ hai nầy cũng được, mà bản thứ năm nầy cũng hay đó. Anh thích bản nào?".

Ổng hỏi vậy, thì tôi xin phép, tôi nói thế nầy:

"Dạ, kính thưa Tổng Thống, tôi không dám, nếu Tổng Thống cho tôi chọn lại theo ý tôi, mới đây thôi, cái nầy, tôi hơi quá vô lễ. Da., tôi mới vừa nghĩ ra, tôi vẽ vội trên bao thuốc lá, tôi làm như vậy hóa ra tôi quá vô lễ với Tổng Thống".

Tổng Thống nói: "Không. Không. Anh đưa tôi coi". Tôi lấy bao thuốc lá ra đưa cho ổng, Tôi chỉ vẽ thế ngồi thôi. Thưa Tổng Thống, tôi thích cái nầy. Tôi nói vậy. Ổng cầm bao thuốc lá, ổng kéo tôi tới bureau của ổng, hai ghế chụm lại. Ổng dặn tôi câu nầy:

"Anh Thu à! Người nghệ sĩ mà, họ lãng mạng lắm, họ hay lãng mang lắm, mà chiến sĩ của mình không phải thế đâu, phải có đề tài, mà anh vẽ cái đề tài gì đây? Anh cho tôi biết cái đề tài, lãng mạng không nên có trong cái tác phẩm nầy".

Thưa Tổng Thống, tôi nghĩ ra được những đề tài như thế nầy: thứ nhất:: KHÓC BẠN, thứ hai: TÌNH ÐỒNG ÐỘI, thứ ba: NHỚ NHUNG, thứ tư: THƯƠNG TIẾC hay TIẾC THƯƠNG.

Tổng Thống nói: "NHỚ NHUNG là không được! Không được, thứ tư là THƯƠNG TIẾC, TIẾC THƯƠNG. Ừ, TIẾC THƯƠNG THƯƠNG TIÊC đi".

Rồi Tổng Thống nói tôi về, ổng còn dặn tôi:

 "Anh nhớ người lính của mình đó, là buồn, là tiếc thương bạn mình nhưng cũng phải tiếp tục cuộc hành trình chiến đấu, không có quên tay súng, cây súng phải giữ, chứ không phải vứt súng bừa bãi. Cái buồn nầy, phải tiếp tục chiến đấu, Việt cọng nó trường kỳ lắm, nó mai phục dữ lắm, mình phải có cái lâu dài đó. À, anh Thu ơi! Anh có thể vẽ riêng cái nầy cho tôi được không? Vẽ lớn cái nầy như 7 bản kia vậy đó"ù.

Tôi trả lời: Dạ được. Dạ được.

Khi đó, ông Ðại tá Cầm bước vô. Bây giờ ổng đưa bao thuốc lá cho tôi. Tổng Thống nói với ông Cầm: "Anh chuẩn bị những vật liệu cho anh Thu, ảnh vẽ gấp cho tôi cái nầy". Ông Cầm trở ra. ông tướng còn ngồi ở đó, ổng thấy câu chuyện lạ lạ, ổng nán lại xem có cái vụ gì?

Ông Cầm hỏi:"Anh cần gì?".Tôi nói: "Anh cho tôi tờ giấy lớn như vậy đó, với cái bảng đen, giấy bút, có màu gì bỏ ra hết đây". Ổng cho người ùn ùn đem đồ ra đó ngồi vẽ.

Thưa, lúc bấy giờ, tôi mới bắt đầu, bắt đầu ra tay, tôi day lại, thấy những người đứng xung quanh tôi đông lắm. Tôi nói:

"Kính thưa Thiếu tướng, Ðại tá, quý vị, trong khi tôi vẽ, xin đừng có ai hỏi tôi hết. Tôi vẽ, quý vị hỏi, tôi phân tâm, tôi không trả lời thì đâm ra vô lễ. Xin cho tôi tập trung ở đây, đừng hỏi".

Thưa quý vị, dĩ nhiên là người nghệ sĩ nào cầm cây vẽ cũng ngắm tờ giấy trắng trước, cho nó lọt vô, cái bao thuốc lá, nó phải lọt vô tờ giấy, phải vẽ sao cho nó lọt vô, mà phải vẽ gấp rút. Tôi vẽ....vẽ....Tôi lo làm. Lúc bấy giờ như nó khiến, thưa quý vị, bấy giờ, tôi không biết là tôi vẽ hay là cái gì vẽ (cười). Tôi không hiểu được, tôi phá tới đâu, tôi vẽ tới đâu, nó dính ngay tới đó, nó lọt trọn vô tờ giấy rất đẹp, giống như mình vẽ hai ba ngày trước! Ðó, tôi phóng lên những nét đại cương là quý rồi, tạo được cái hình ảnh là chiến sĩ ngồi. Lúc bây giờ tôi mới day ra phía sau, tôi thấy mọi người đang đứng quanh tôi. Ông Cầm hỏi liền:

-Anh cần gì, anh nói chứ làm sao tôi biết được!.

-Dạ thưa Ðại tá, tôi cần người mẫu. Cái nét đại cương tôi có rồi, bố cục đầy đủ rồi, tôi muốn vô chi tiết chút xíu, cái nét áo nhăn, cái nét quần nữa, chút xíu nữa cho nó trung thực"

Rồi ổng ngó ngó, ai cũng hơi ngờ ngợ, không biết ai. Ổng nói: "Tôi được không?". Trời ơi! Lính gì ngoài chiến trường mà áo quần ủi hồ ngon lành, tóc tém rồi chải..." Tôi nghĩ vậy. Ổng mặc áo quần đẹp lắm, áo quần ủi hồ láng thẳng đẹp đẽ. - "Thôi, thôi, tôi làm rồi, Ðại tá cho tôi cây súng".

Thưa quý vị, bấy giờ là năm 1966, lính mình còn xài súng garant M1. Ổng mang súng ống vô, nịt đạn, bi- đông nước đàng hoàng, coi như tác phẩm bây giờ đang chiếu đó,đội nón sắt nữa, rồi ổng ngồi xuống đó. Ổng là người mẫu đầu tiên, tôi lấy mẫu đai cương đó. Khi ổng ngồi xong, khoảng năm phút sau thôi, tôi ghi thêm vài nét, chính tôi đã đi hết 85% rồi, tôi chỉ thêm vài nét cho nó rõ, giữa hai cái đó, trung thực không cách xa bao nhiêu. Tôi thấy được rồi. Khi tôi vẽ lớn ra xong, tôi trình Tổng Thống, Tổng Thống đã ký cho tôi xong hết.

Dĩ nhiên, khi trở về tôi phải lo, nhứt là thời gian phải cho kịp, còn ba tháng nữa là đến ngày1 tháng 11 năm 66. Ổng ký là tháng 8 rồi. Tôi phải lo gấp rút người mẫu, kiếm Võ Văn Hai. Thưa quý vị, địa chỉ tôi đã ghi rồi lúc ở ngoài quán đó, tôi có kể.

Tôi lại ngay đơn vị của ảnh, được gặp ông Thiếu tá Chỉ huy trưởng của anh Võ Văn Hai, tôi trình bày cho ổng. Trước khi đi đâu, tôi cũng mang theo mẫu mà Tổng Thống ký cho tôi. Rồi ổng coi, lúc đầu, Thiếu tá còn hơi lo, nghi nghi, ngờ ngợ. Thế nhưng, sau câu chuyện rồi, ổng thấy, có lẽ ổng hãnh diện được chọn cái đơn vị của ổng, trong tiểu đoàn của ổng, trong đại đội của ổng. Ý ổng, ổng có nói một hai câu như vậy. Do đó, ổng có nói như thế nầy:

- Ổng yêu cầu gặp anh Võ Văn Hai, tôi thấy chưa hay đâu, tôi nói thật với anh, tôi cho anh một đại đội, mặc sức mà chọn, nhiều thằng một thước bảy, một thước tám mươi mấy, thước chín, mề-đay đầy người, to lắm,chiến công dữ dằn lắm.

Tôi nói: "Dạ thưa Thiếu tá, tôi chỉ cần anh Võ Văn Hai, thật sự là đủ rồi".

-Á! Á! Ðừng cãi tôi! Tôi sẽ cho một đại độI đó.

Ổng nói rồi, ổng làm luôn, ổng kêu một Thượng sĩ bước qua:

-Anh cho tập họp một Ðại đội, Ðại đội súng ống đàng hoàng , ngay ở Bộ chỉ huy của tôi, nhé!

Ổng truyền lịnh đi rồi, lâu lâu, thỉnh thoảng ổng mới coi lại chữ ký của Tổng Thống, rồi ổng nói vô chi tiết nữa để chờ Ðại đội kia dẫn lên.

Thưa quý vị, khi đó thì nghe đàng trước rần rần, ê ét đàng trước rần rần rồi. Tôi thấy Ðại đội ra trình diện ở trước. Ông thượng sị bước vô:

-Thưa Thiếu tá, Ðại đội tập họp xong. Ổng bước ra, cầm cái can, đội nón nhảy dù, ổng nói:

-Anh theo tôi, tha hồ anh chọn, to lắm, to lắm, đủ màu, đen đỏ, có đủ hết, Võ Văn Hai, ăn thua gì! Anh ra đây, kìa...kìa...

Lẽ dĩ nhiên, tôi bước ra, người to con thì đứng đầu , ở cuối thì nhỏ và thấp. Tôi thấy dữ dằn thiệt.

-Người nầy là một thước tám mươi mấy đó, dữ dằn nữa, Võ Văn Hai ăn nhằm gì".

Ổng vừa nói, ông Thiếu tá biểu một anh bước ra, anh bự con bước ra, qua người thứ hai cũng bự con nữa.

Tôi làm thinh, bây giờ tôi mới sực nhớ ra, tôi vội bỏ ông Thiếu tá ở đó, tôi chạy lùn lùn xuống hàng, tôi kêu:

-Anh Võ Văn Hai đâu? Anh Võ Văn Hai đâu? Lên tiếng, lên tiếng!

Cuối cùng tôi chạy xuống hàng gần cuối, ảnh đâu có 1mét 6 à! Ảnh nói:

-Em đây! Em đây!

Tôi lôi ảnh ra ngoài hàng. Ổng chọn được bốn người, anh Võ Văn Hai nữa là năm.

Thôi, thôi! Thiếu tá!, Ðủ rồi! Ðủ rồi! Tôi la lên.

-Chọn nữa không? Chọn bao nhiêu thì chọn. Tôi cho anh mà! Bây giờ anh nói chuyện cho mấy người nầy biết đi, tất cả năm người đó.

Ðại đội dẫn về, tôi mời mấy anh nầy vào câu lạc bộ, biểu mấy anh về cất súng đi. Tôi có nói với mấy ảnh như thế nầy:

-Thật sự, tôi chỉ cần anh Võ Văn Hai thôi, nhưng ông Thiếu tá, ổng tốt bụng cho thêm bốn anh nữa. Thôi mấy anh về nghỉ đi, cứ nghỉ ba tháng nhưng đừng ra ngoài đường, đừng mặc đồ lính, Quân Cảnh nó bắt, tôi không có thì giờ đi lãnh về. Cứ một tuần lễ, tôi ký giấy phép cho mấy anh.

Thế rồi, ngày ngày anh Võ Văn Hai cứ vô nhà tôi làm mẫu.

LÊ XUÂN TRƯỜNG: Tại sao cái hình ảnh anh Võ Văn Hai cứ in trong tâm khảm của anh, phải là Võ Văn Hai. Có phải vì Võ Văn Hai ngồi trong quán nước khóc thương người bạn mà làm cho anh xúc động?

ÐKG NGUYỄN THANH THU: Ðó, , chính cái lẽ đó, chính cái yếu tố quan trọng đó, tôi chỉ cần anh Võ Văn Hai thôi, vì lịch sư, ổng cho bao nhiêu thì cho, cứ để đó cho nghỉ phép luôn, lợi dụng cái dịp nầy để mấy ảnh khỏi ra chiến trường.

LÊ XUÂN TRƯỜNG: Anh Võ Văn Hai lúc đó ở binh chũng Nhảy Dù?

ÐKG NGUYỄN THANH THU: Dạ, Nhảy Dù, hạ sĩ. Anh về nhà tôi, hàng ngày, cứ sáng sáng, ảnh đạp xe đạp vô nhà, đồ lính cất trong nhà, rồi nịt đạn vô hết, lên ngồi làm người mẫu. Chúng tôi làm như vậy, anh em chúng tôi làm việc, công việc làm như vậy đêm ngày. Lúc bấy giờ anh Võ Văn Hai cứ lo săn sóc tôi không à, ảnh không phải như hồi trước, nhưng mà tôi chỉ cần ảnh không cần tới tôi mà ảnh chỉ nghĩ tới người bạn, thương buồn, để nhớ thôi. Một buổi nọ, tượng gần xong, tôi làm một cú lẩy, anh Võ Văn Hai vẫn vô bình thường, tôi nói với ảnh:

-Anh lấy ghế nồi đàng hoàng nghe! Bữa nay tôi theo dõi thêm, tôi so sánh giữa anh và bức tượng chút xíu nữa.

Anh Võ Văn Hai ngồi, lúc bấy giờ tôi không có làm, những ngày trước thì tôi làm nhưng bữa nay tôi để ảnh ngồi không. Dĩ nhiên, khi ảnh ngồi không đó, ảnh chờ tôi. Tôi vô trong nhà, tôi dòm qua lỗ gió, tôi dòm lén ra, khi chờ lâu thì ảnh ngồi mới nhớ lại, hoàn toàn trở lại hồi cũ ở quán nước, nét mặt ảnh buồn như trước. Khi ảnh buồn thật sự, trong nầy tôi lấy cây viết chì với miếng giấy tôi ghi, tôi chỉ ghi nét mặt thôi, nó rủ xuống thế nào, tôi vẽ như thế ấy, tôi vẽ cái môi, cái miệng, cái mũi thôi. Sau ba tháng ảnh ngồi làm mẫu, bây giờ thêm cái chi tiết nầy, cái nét buồn nào nó đi tới. Xong rồi, tôi bước ra, tôi nói với ảnh:

-Xong rồi! Xong rồi! Anh về nghỉ đi, vài ba bữa vô cũng được, anh muốn nghỉ giờ nào thì nghỉ, giờ nào muốn vô thì vô, không bắt buộc, được rồi, đủ rồi, nhe!.

Anh Võ Văn Hai lấy làm lạ, ảnh nói:

-Tôi chưa làm mà Ðại úy nói tôi nghỉ.

Tôi trả lời:

- Làm rồi! !àm rồi! Tôi vẽ lén anh mà.

Thế thì ảnh về, ảnh còn thắc mắc, đi ra sau hè, nói với bà xã tôi: "Thưa bà, tôi thấy ổng không làm, không biết ổng giận tôi cái gì mà ổng nói tôi về, đừng có vô nữa cũng được".

Bà xã tôi nói lại: "Ờ, cái ông đó, ổng biểu sao hay vậy, không có giận anh đâu. Anh Hai cứ nghỉ tự nhiên". Rồi ảnh ra về.

Thưa quý vi, khi ảnh về, bức tượng đã gần xong rồi, chỉ còn cái nét buồn nữa thôi. Khoảng ba giờ khuya, tôi sáng tác 3 tháng trời, tôi lao đao lận đận lắm, ăn uống không yên, ngủ không được, trong bụng cứ bào bào, cứ nhớ lại hình ảnh Võ Văn Hai buồn. Tôi ngủ được chút xíu, bây giờ là ba giờ khuya, cái nét buồn tôi ghi lại buổi sáng. Lúc bấy giờ tôi tắt đèn hết, tôi cầm cây đèn cầy, đồ đạc tôi chuẩn bị hết rồi, để trên cao hết rồi. Ðêm khuya, không có gì bằng đêm khuya vắng vẻ. Thưa quý vị, mình nói với cái tượng đó, khi mình cầm cây đèn cầy để tìm ánh sáng, cây đèn cầy dễ lắm, khi tôi cầm cây đèn bên nay thì ánh sáng bên nay tạt qua, và khi tôi cần ánh sáng bên kia thì tôi cầm cầy đèn đưa qua bên đó. Tôi đưa lên , đưa xuống..., một tay tôi cầm đèn di chuyển, một tay tôi làm. Ban đêm tôi làm, tôi nhớ, trên cái giàn cao như vậy, lạnh lẽo như vầy, tôi làm tới 6 giờ sáng, lại 6 giờ sáng nữa, tôi thấy đẹp quá, tôi thấy nét mặt của tượng buồn quá, buồn lắm, nhưng mà thôi, tôi đi ngủ.

Nằm chút xíu, trời sáng rồi, đã 8 giờ sáng , ánh mặt trời sắp sửa ló lên. Tôi chạy ra coi có giống như hồi hôm không? Hồi hôm thấy nó buồn, nhưng cũng còn nghi nghi nữa. Thấy y chang như hồi hôm, tôi mừng quá.

LÊ XUÂN TRƯỜNG: Sau biến cố tháng 4 năm 75, anh Thu phải đi tù cải tạo trong bao lâu?

ÐKG NGUYỄN THANH THU: Dạ. (tiếng thở dài) Trời ơi! Thưa quý vị, để kết thúc chương trình, tôi nói thiệt, danh vọng, hay chết chóc gì cũng do tác phẩm nầy cả, cuộc đời tôi, nó dính liền với tác phẩm nầy. Cho nên lúc vô tù Cọng sản, tôi thê thảm lắm, thưa quý vị, Tôi bị vô trong cái biệt giam đó, trong thùng cô-nết. Tôi ở đó 22 tháng, tôi gần đâm ra hấp hối rồi. Dạ, nó đánh tôi. Nó không thấy, nó chỉ nghe những người Sài Gòn, những Việt cọng nằm vùng hồi xưa, những ăng-tên, những người cùng bị tù như mình, cùng cải tạo như mình nói với nó, chứ nó đâu có thấy gì. Nó đem tôi đi nhốt, bây giờ còn đầu mùa, cũng còn gay cấn lắm, tôi cũng chống đối lại nó, tôi khi dễ nó, không nói chuyện với nó, nó đánh, nó bề hội đồng tôi, cho tôi làm cái tác phẩm phản động, nầy kia thế nọ. Nó nói:

"Tất cả những tướng lãnh, những sĩ quan lớn của anh đó, xong giặc rồi thì hết. Còn anh, còn lưu lại cái tư tưởng, cái hình ảnh, cái tinh thần đó mới là quan trọng. Tôi phải "múc" anh, chứ nói chuyện về với anh à, khỏi nói chuyện với anh về chuyện về".

Thề rồi, ảnh hành hạ tôi, đánh tôi ba ngày ba đêm, lần nầy ảnh bộp lỗ tai tôi bị điếc, thành ra giờ nầy tôi qua đây, tôi được hưởng tiền điếc, thưa quý vị, nó đã nhốt tôi 8 tháng rồi. Một bữa đó, chính trị viên, nói như thế nầy:

"Không lẽ anh ngồi trong đó hoài, bây giờ tôi đưa một cái ý nầy cho anh, anh nói một câu nầy, rồi tôi nghiên cứu cho anh ra ngoài lao động, chẳng lẽ anh ngồi trong nầy cho rục xương sao, anh chỉ nói như thế nầy, cái tượng gì thương tiếc của anh đó, anh chỉ là cái người phụ thôi, còn người chánh thức làm thì ra nước ngoài rồi, anh cứ nói vậy đi rồi tôi nghiên cứu cho anh".

Tôi nói:

"Dạ thưa, không được, cán bộ. Cái nầy tôi làm tôi chịu, không có ai mà làm. Không, không được. Cái nầy, tàu chìm thì tôi chìm theo, máy bay rớt tôi rớt theo, tượng chết thì tôi chết theo. Ô! Không được! Không được!".

-Anh ngoan cố à! Anh cãi tôi phải không? Nó hét lên.

Nó nhảy tới, nó tạt, nó đá, nó vỗ trống tôi. Thưa quý vi, nó vỗ, bụp...bụp...Nó vỗ tôi hai cái, dĩ nhiên là điếc liền, bể liền, máu ra... Nó nhốt tôi 22 tháng, có lần nó đem ra xử bắn nữa. Ðêm đó, gần hai giờ sáng, chuông nhà thờ vừa đổ xong rồi. Cái cửa cô-nết mở vào lúc 4 giờ khuya, mở khác giờ, tôi biết giờ tử tội đã đến. Nó đem tôi ra, đi dài dài. Tôi đi không nỗi, nó kè tôi đi cà lếch, cà lếch... Ði ra chỗ đó, nó bịt mắt tôi lại. Bỗng nhiên, có chiếc xe jeep nào đó, tôi nghe văng vẳng. Tôi ngồi xuống, tôi nghe tiếng nói từ chiếc xe jeep: "Ðồng chí nào đó? Bước lại đây!". Khoảng 10 phút sau, tôi nghe tiếng máy xe ù ù chạy trở ra, rồi nó chạy trở lại, nó nói gì đó với nhau. Thưa quý vị, lúc bây giờ nếu mà xử bắn tôi, bên tay mặt tôi là con đường sân vận động, bên tay trái là khu gia binh, tôi có linh tính, chân tôi nó rẽ sang bên trái, rồi nó dẫn tôi vô trong một cái gì đó, đóng lại ầm...ầm. Lúc bấy giờ, thần kinh tôi căng thẳng, rồi ngủ, sáng dậy tôi thấy tôi nằm trong cầu tiêu.

LÊ XUÂN TRƯỜNG: Anh nghĩ như thế nào về cuộc chiến Việt Nam. Anh là người sống trong cuộc chiến, chắc chắn là sự xúc động của anh kinh khủng lắm phải không ạ?

ÐKG NGUYỄN THANH THU: Nói đến tác phẩm nầy, thưa quý vị, anh Trường ảnh hỏi nhiều quá, sâu sắc đối với tôi. Thưa quý vị, nếu mà những người đồng lứa tuổi với tôi, năm nay tôi 68 tuổi, tất cả những sĩ quan, những H.O qua đây rồi, tôi nói, không ai mà không xúc động trước một hình ảnh mà người chiến binh đã ngã ngoài chiến trường, có nhiều bản nhạc hay đó, Trần Thiện Thanh cũng kêu la um sùm đó, rồi nhạc nầy, nhạc kia, đủ thứ hết, nhớ người lính của mình. Nhất là, không phải nói đến riêng những binh chũng nào như Nhảy Dù, Biệt Ðộng Quân, Thuỷ Quân Lục Chiến...mà nói chung đến người lính của mình, chiến sĩ mình, lòng gan dạ của họ, chỗ nào nguy hiểm là họ tới để giải quyết chiến trường, cảnh bị bao vây, rồi chết chóc... thê lương lắm, đại khái như vậy. Hình ảnh Thương Tiếc đó, nói ngay, khi tôi vừa lớn lên thì gặp chiến
tranh, cho nên tác phẩm nào cũng có nguyên nhân của nó. Chiến trường, nơi đó là một đề tài thật xúc động. Cho nên, là một nghệ sĩ, tài cán không được bao nhiêu, chỉ thấy được sự thật của thời đại lúc bấy giờ, cái mốc đó, cuộc chiến đó. Tôi cố gắng ghi laị sự đau đớn của thời đại đó.

LÊ XUÂN TRƯỜNG: Thưa quý vị, buổi nói chuyện với Ðiêu Khắc Gia Nguyễn Thanh Thu, quý vị vừa biết được nguồn gốc của bức tượng TIẾC THƯƠNG, đặt tại NGHĨA TRANG QUÂN ÐỘI BIÊN HÒA, nơi mà 250.000 chiến sĩ đã nằm xuống, để bảo vệ cho đất nước VIỆT NAM được TỰ DO.

Kính chào quý vị.

Monday, June 16, 2008

Chuyện Kể Của Người Lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà

• Trần Văn Thưởng

1. Sự Cần Thiết Của Một Ðình Ðề Chính Nghĩa Cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà

Thiếu khách quan và thiếu phưong pháp phân tích rồi tổng hợp một cách khoa học, đa số giới truyền thông và sử gia ngọai quốc đã lượng giá sai lầm về QLVNCH, chỉ là một quân đội phục vụ cho chính sách của thực dân Pháp rồi phục vụ cho chính sách của Hoa Kỳ ở Việt Nam, trên phượng diện nguyên tắc theo quan đìểm chiến lược quốc tế, mà quên đi phần thực tế và sự biến thể bên trong của QLVNCH và các sự kiện lịch sử theo thời gian. Bằng cấp khoa bảng và hệ thống truyền thông tuyệt hảo của thế giới tự do đã lầm lạc bộ óc trung bình của công luận, ngay cả những người khoa bảng tầm thường. Riêng CSVN đã dùng việc lượng giá sai lầm nầy như là lý do hợp pháp để bỏ tù và hành hạ hàng trăm ngàn quân chính của VNCH sau khi họ cưỡng chiếm miền Nam VN, cũng như hàng trăm ngàn người VN vô tội bỏ mình trên biển cả trong khi họ vượt biển cả đi tìm tự do. Ít nhất thế giới tự do, gồm Hoa Kỳ, cũng còn có trách nhiệm lương tâm để đón tiếp những nạn nhân của chế độ CSVN.

Gần đây các hiện tượng cờ vàng VNCH bay lượng khắp thế giới tự do, nghi lễ cử hành bởi quân lực Hoa Kỳ để mai táng một số quân nhân VNCH tại nghĩa trang Arlington, các tượng đài xây dựng để tưởng nhớ các chiến sĩ Mỹ- Việt cũng như các cuộc hội thảo vai trò và chính nghĩa của QLVNCH là khởi điểm cho một cuộc vinh danh chính thức và đủ pháp lý cho QLVNCH trong một ngày rất gần đây. Hậu quả của việc vinh danh nầy là QLVNCH còn lại sẽ có đủ pháp lý và chính nghĩa để giải phóng toàn thể VN hay yểm trợ các cuộc cách mạng của người dân quốc nội khỏi chế độ độc tài đảng trị của CS trong tương lai. Ngoài ra vì trách nhiệm lương tâm, khối tự do sẽ hậu thuẩn QLVNCH còn lại trong công cuộc phục hưng nền tự do cho VN bởi vì họ đã bỏ rơi ngưòi bạn đồng minh trong năm 1975. Hơn nữa trứơc công luận thế giới, CSVN trở thành một tội phạm chiến tranh trong việc bỏ tù và hành hạ hay tàn sát các tù nhân.

Sự vinh danh QLVNCH trong tương lai có thể bị ngộ nhận hay bị chỉ trích bởi khối CS, bởi vì họ có thể ngụy biện rằng đây chỉ là một chính sách giai đoạn của khối tự do. Vì thế sự vinh danh chính nghĩa QLVNCH phải được chứng minh và lượng giá khách quan bởi các sử gia thế giới. Bài kể chuyện của người lính VNCH nầy không có tham vọng để chứng minh môt định đề trên, mà chỉ cung cấp những dữ kiện trung thực và sống động liên quan đến định đề nầy. Các sử gia sẻ tìm thấy hàng ngàn bài kể chuyện như thế trong ba thập niên nay, để phân tích và tổng hợp một cách khách quan và khoa học cho một định đề chính nghĩa của QLVNCH. Có như vậy thì sự vinh danh chính nghĩa mới được quang minh chính đại trong tương lai. Ngoài ra, những hồi ký của các cán bộ CSVN, các tài liệu mới giải mật từ Hoa kỳ, Trung cộng và Nga sô, cũng như phong trào đòi tự do dân chủ của người Việt trong nước hiện nay là những kho tàng giá trị cho các sử gia để đối chiếu, so sánh và lượng giá chính nghĩa của QLVNCH.

Chuẩn Úy Bùi Thương

Tôi được hân hạnh biết Chuẩn úy Bùi Thương khi ông đựơc bổ nhiệm về làm đại đội phó cho đại đội thám kích thuộc Trung đoàn 46 bộ binh, vào khỏang tháng 9 năm1963.

Ông là người tu xuất của Thiên chúa giáo, tình nguyện đầu quân để cho con cháu ông và người VN được tự do tín ngưỡng theo niềm tin của họ, chứ không phải để làm nô lệ cho người Pháp, sau khi nghe tin cha ông bị CSVN giết ở Quảng bình chỉ vì một cái tội tín ngưỡng tôn giáo, theo đạo Thiên chúa giáo. Trong thời gian phục vụ quân đội Pháp, ông đã thấy rõ nhiều khuynh hướng khác nhau của binh sĩ người VN; có người đi lính chỉ vì kế sinh nhai hay xin làm nô lệ cho người Pháp; có người cũng như hoàn cảnh của ông; Có kẻ yêu nước chống Pháp phải tách ly khỏi hàng ngũ CSVN bởi vì họ bị CS thanh trừng vì không chịu vào đảng CS; có kẻ yêu nước, thấy rõ chủ nghĩa CS không thích hợp với văn hóa cổ truyền của người VN, nên họ phải dựa vào thế lực của Pháp để chống Cộng trong giai đoạn sơ khởi, sau đó khi đã có đủ sức mạnh võ trang, họ sẽ đòi hỏi nước Pháp trả lại chủ quyền cho nước VN. Sau năm 1950, ông thấy khuynh hướng quốc gia yêu nước đã chiếm đại đa số trong hàng ngủ, và khuynh hướng xin làm nô lệ cho Pháp đã gần như không còn tồn tại nữa. Ðến năm 1956, ông thấy QLVNCH đã biến thể hoàn toàn, từ một quân đội hổn tạp trên phương diện ý thức hệ đến một QLVNCH với một lý tưởng quốc gia độc lập. Ông đã xin ra khỏi đảng Cần lao, từ giả vợ và sáu người con để tình nguyện ra đơn vị tác chiến, Trung đòan 46 BB vào tháng chín năm 1963, nhưng ông không bao giờ tiết lộ lý do. Ngoài nhiệm vụ hành quân viền thám trong Tiểu khu Hậu Nghĩa, Ðại đội Thám kích 46 lúc bấy giờ còn có trách nhiệm xây dựng Áp Chiến Lược, nên ông đã có cơ hội biểu dương lòng yêu nứơc, tài lãnh đạo, cũng như công tác dân vận của ông. Ông thường viếng thăm, tâm sự với binh sĩ, rồi tác động tinh thần yêu nứơc của họ, bằng cách chỉ dẩn cho họ thấy rõ cái chính nghĩa của QLVNCH. Ðặc biệt công tác dân vận của ông là một bài học quí giá cho tôi. Ông thường tổ chức những buổi nói chuyện chính trị rất giản dị với dân làng, tuy nhiên việc sắp xếp chổ ngồi lại rất nghi lễ; ngừơi chủ tọa luôn luôn là ông Ấp trưởng ở hàng ghế đầu cùng với các vị bô lão; các hàng đàng sau gồm các thành phần trẻ, và hàng cuối cùng là ÐÐT/ÐÐTK 46. Ông nói rất ít mà chỉ chú trọng vào nguyện vọng và các thắc mắc của dân làng. Những câu trả lời của ông khẳng định lập trường chính trị của ông; Tổ quốc phải trên Tôn giáo, và Tôn giáo không được xen vào đường lối Chính trị Quốc gia; mọi Tôn giáo phải đựơc đối xử bình đẳng; Tự do tín ngưỡng của người dân là một căn bản pháp lý của chính thể VNCH; Quân đội có nhiệm vụ bảo vệ bờ cỏi miền Nam tự do và bảo vệ dân chúng miền Nam khỏi sự đe dọa hay tàn sát của CSVN; VNCH không chấp nhận tổng tuyển cử theo hiệp định Geneva, bởi vì Tổng thống Ngô Ðình Diệm không tham gia và ký vào hiệp định nầy, và một chính phủ đủ pháp lý do dân bầu sau hiệp định Geneva với chủ thuyết dân chủ tự do; Chế độ CSVN miền Bắc là một chế độ bất hợp pháp bởi vì miền Bắc chưa bao giờ tổ chức bầu cử tự do để chọn chủ thuyết CS hay tự do dân chủ, hay bầu cử Hồ Chí Minh là người lảnh đạo miền Bắc; CSVN đã đánh lừa lòng ái quốc của người VN để chống Pháp cứu nước, bởi vì trong thực tế đảng CSVN là một công cụ để bành trướng thế giới hóa chủ nghĩa CS, lãnh đạo bởi CS Nga sô và Trung cộng ...

Sau hơn một tháng xây dựng ấp chiến lược, đại đội trở lại nhiệm vụ hành quân viễn thám biệt lập. Hình ảnh những cặp mắt trừu mến của dân làng trong buổi tiển tiển đưa cũng như con số đào ngũ giảm tới con số không, trong khi số lượng VC bị giết hay bắt sống lại tăng lên trong vòng một tháng của đại đội đã chứng minh đựơc tài lãnh đạo và vận động quần chúng của Chuẩn úy Bùi Thương.

Ông lại biểu dương kinh nghiệm chiến trường, lòng can đảm và nhân hậu của ông trong thời gian đại đội hành quân viễn thám biệt lập. Ông luôn luôn tình nguyện theo trung đội đi đầu để có dịp truyền đạt các kinh nghiệm chiến trường của ông cho các trung đội trưởng còn trẻ. Mỗi lần thấy tôi và binh sĩ vổ tay thích thú các quả đạn pháo binh trúng đích mục tiêu là ông nhìn tôi với cặp mắt lo ngại và nghi ngờ. Ông phàn nàn là không biết địch có chết không, mà chỉ thấy lo cho dân lành hay súc vật bị trúng đạn.. Ðến đêm là lúc ông bắt đầu tranh luận về những quả đạn pháo binh có thể làm thiệt hại đến chính nghĩa của QLVNCH, vì ông đã chứng kiến việc bắn pháo binh bừa bãi lên dân lành hay việc cưỡng bóc của quân đội Pháp. Nếu không có dấu tích của thiệt hại địch vì đạn pháo binh, thế nào đem hôm đó, tôi lại được nghe một bài giáo huấn đạo đức cũng như nỗi quan tâm của ông đối với dân lành, rồi ông trách tối thích phô diễn cái sở trường về xử dụng pháo binh. Những đêm như vậy tôi lại nhớ đến tiếng ru ngũ bằng những lời giáo huấn của mạ tôi về tội chơi bời lêu lỗng với mấy đứa bạn cùng xóm. Thế là tôi ngáy khò khò trong khi ông vẫn còn hăng say giáo huấn tôi. Sáng dậy là ông lại phê bình tôi vì cái tật ngáy ngũ trong khi ông chưa đủ trút hết nổi niềm tâm sự của ông trong đêm qua. Thấy tôi cười xòa ông lại cừơi to hơn tôi vì ông bỗng so sánh khuôn mặt còn non sửa của tôi với mấy đứa con của ông lúc ông còn ở Sàigòn; chúng thừơng ngáy ngũ như tôi mỗi lần ông giảng đạo lý với chúng về ban đêm. Bỗng nhiên ông lại đổi thái độ nghiêm chỉnh để bênh vực cho tôi, rằng việc bắn pháo binh vào các mục tiêu trước khi đại đội tiến chiếm có thể tiết kiệm sinh mạng của binh sĩ, nhất là đại đội phải hoạt động lẽ loai thì mình cần có bạn pháo binh hay không quân để che chở và làm yên lòng binh sĩ. Thôi thi ông nói sao cũng nghe hay và có lý đối với ông! Ông cứ nói và tôi cứ làm theo ý tôi!

Trong một cuộc hành quân viễn thám dọc theo bờ sông Vàm Cỏ Ðông, Ðại đội Thám kích không gặp sự kháng cự của địch khi tiến chiếm các mục tiêu suốt buổi sáng. C/U Thương đâm ra lo ngại địch có thể phục kích mục tiêu cuối cùng nên cho quân bố trí nghe ngóng ngòai ruộng trống trước khi cho trung đội đi đầu xung phong vào đám rừng rậm rạp. Sau một giờ pháo binh liên tục bắn phá mục tiêu cuối cùng nầy, ÐÐTK tiến chiếm bờ rừng sau khi vượt qua bãi trống của cánh đồng ruộng lúa mà không gặp phải sức kháng cự nào của địch, tuy nhiên ông bắt đầu cằn nhằng khi thấy hai con bò bị chết phanh thây vì đạn pháo binh nằm sát bìa rừng; ông cứ tiếp tục hỏi tôi làm sao bồi thường cho chủ nhân nghèo khổ của hai con bò trên, rồi ông lại trách tôi vì đòi hỏi pháo binh bắn tập trung. Bỗng nhiên khuôn mặt ông thay đổi rất nhanh, từ buồn thảm đến sắt đá của một võ sĩ nhà nghề, khi ông thấy hai binh sĩ đem đến cho ông một cây súng còn ướt máu của địch quân. Ông nhanh nhẹn tiến lên với trung đội dẫn đầu để truy kích địch đang bỏ chạy vì chúng bị thiệt hại nặng do pháo binh ta. Tôi lại ngạc nhiên thấy sắt mặt ông lại thay đổi một lần nữa, từ hùng hổ như một dũng sĩ đến hiền từ như một vị thánh, khi ông thấy một binh sĩ địch đang hấp hối vì hỏa lực của pháo binh ta. ông ra lệnh cho ngừơi y tá đại đội băng bó vết thương trên đầu của ngừơi thương binh CS bị đồng đội bỏ lại, rồi ông quì gối bên ngừơi thương binh địch để hỏi xem những gì ông có thể làm trong giây phút cuối cùng của y. Chỉ một ít giọt nước đã giúp anh thương binh địch ra đi không đau đớn và không hận thù, sau một cái ngắc hơi dài của y. Ông vội vuốt mặt người địch thủ và cầu kinh siêu thoát cho y. Ðây là lần đầu tiên binh sĩ thấy rõ khuôn mặt thánh thiện của ông. Buổi tối ông tò mò hỏi tôi lý do tôi không đọc kinh Phật cầu nguyện cho y bởi ông biết tôi là một Phật tử xứ Huế.

Mấy tuần lễ sau, ÐÐTK tham dự hành quân cấp trung đòan để tiến sâu vào mật khu VC gần biên giới Việt-Miên trong quận Ðức Huệ. Tìểu đoàn bạn chẳng may bị phục kích và đụng độ nặng với địch tại mục tiêu cuối cùng. Ðựơc lệnh từ BCH/TRÐ 46 đánh bọc hậu từ cánh trái của tiểu đoàn bạn C/U Thương tình nguyện theo hai trung đội đi đầu với tôi vì ông biết rõ tôi đang nóng lòng tiếp cứư người bạn cùng khóa đang bị thưong, Võ Tình, trong khi anh chỉ huy đại đội của anh phản công địch. Lúc bấy giờ địch và ta đã quá gần nên pháo binh không còn hiệu qủa nửa. Chuẩn uý Thương và tôi cùng hai trung đội xung phong vào địch sau mấy trái lựư đạn khói ngụy trang. C/U Thương thấy tôi xung phong với khẩu súng lục nhỏ bé nên ông vội chạy nhanh trước mặt tôi với khẩu tiểu liên để che chở cho tôi. Không may ông đã gục ngã trứơc họng súng của địch không đầy 10 thứơc. Hai quả lựu đạn của người lính thám báo bên cánh phải của tôi đã thanh toán bốn tên địch, để tôi có cơ hội quỳ xuống bên ông. Ông đã chết quá nhanh chóng và không một chút đau đớn với hai cặp mắt vẫn còn mở lớn như muốn nhìn địch quân. Tôi vuốt mắt ông rồi ôm xác ông mà khóc như một đứa bé. Anh Thương ơi, tại sao anh lại chết thay tôi trong khi Tổ quốc cần anh hơn tôi! Anh vuốt mắt địch nhưng địch đâu có vuốt mắt anh đâu! Anh đọc kinh cầu nguyện cho địch nhưng địch có đọc kinh cầu nguyện cho anh đâu! Riêng tôi thì tôi đâu dám đọc kinh Phật để cầu nguyện cho anh vì tôi biết anh là một vị Thánh của Thiên chúa giáo.

Hạ sĩ Trần Tấn

Tôi đựơc hân hạnh biết được anh khi anh được bổ nhiệm đến Ðại Ðội 2 của TÐ1/8 với cấp bực binh nhì. Thấy anh ốm yếu nên tôi chỉ định anh làm hỏa thực cho ban chỉ huy đại đội. Anh tỏ ra không vui với chức vụ nầy và xin về tiểu đội thám báo của ÐÐ 2. Tôi đã từ chối lời yêu cầu cuả anh bởi vì đây là một tổ chức ngoài bản cấp số của một đại đội bộ binh, gồm binh sĩ tình nguyện và nhiều kinh nghiệm chiến trường. Anh đã trổ tài nấu bếp của anh sau hai tuần lễ, đồng thời anh bắt đầu lân la nói chuyện với tôi vì anh thấy tôi và anh cùng nói giọng Huế. Anh bắt đầu tiết lộ hoàn cảnh gia đình của anh ; cha anh đã bị VC giết vì tội theo đảng Ðại Việt để chống Pháp và chống cả VC; anh cũng là một đảng viên của đảng Ðại Việt, nên anh phải trốn khỏi quê nội để lên ẩn náu tại nhà của một người bà con trong thành nội Huế, tuy nhiên xứ Huế quá chật hẹp để che dấu chân tướng của anh, nên anh đã dẫn vợ và hai con vào Sài Gòn buôn bán; Tháng bảy năm 1964, anh thấy tình hình quân sự quá trầm trọng nên anh quyết định đầu quân để có cơ hội giúp nước. Anh thường quan sát tiểu đội thám báo tập dựơc cận chiến với tôi mỗi ngày, nên anh đã đánh bạo xin thử sức với tôi trong khi tôi đang tập song đấu với người tiểu đội trưởng. Tôi ngạc nhiên khi thấy anh nhanh nhẹn chống đỡ các đòn cước của tôi một cách dễ dàng. Như một tia chớp anh tiến sát từ đàng sau lưng tôi và khóa chặt tôi. Tôi cố phá vỡ thế khóa của anh nhưng đều vô hiệu. Bỗng nhiên anh nới lỏng để tôi có dịp phản thế một cách dễ dàng. Binh sĩ vỗ tay tán thưởng tôi trong khi tôi quá ngượng ngùng bởi vì tôi đang gặp một tay cao thủ võ lâm. Tôi cúi đầu trứơc anh và tôn anh là bậc thầy của tôi. Trong khi các binh sĩ ngạc nhiên vì thái độ của tôi, anh nhỏ nhẹ xin tôi đựơc gia nhập hàng ngũ tiểu đội thám báo. Anh trở thành người lính thám báo và cũng là huấn luyện viên môn cận chiến cho tiểu đội kể từ giây phút đó. Anh thừơng dí cho tôi một cục kẹo gừng mỗi lần tôi đi theo theo tiểu đội thám báo phục kích đêm. Hương vị ngọt của của chút đường pha lẫn chút gừng cay- cay làm tinh thần tôi quá sản khoái để chờ địch. Cứ mỗi lần như vậy là tôi nghe tiếng cười khúc khích của anh em thám báo nằm cạnh tôi; họ bảo với nhau là Tấn lại hối lộ tôi cục kẹo đường để tôi đi theo phục kích với tiểu đội thám báo. Sự thật các anh em thám báo cũng đựơc hưởng ân huệ như tôi khi anh thấy họ quá mệt mỏi hay nổi quạu với nhau. Từ đó anh có cái biệt hiệu người lính “biệt kích kẹo”.Chữ kẹo thật đúng nghĩ với anh bởi vì anh không rựơu chè cờ bạc và rất kẹo trong việc chi tiêu của anh. Vợ anh luôn luôn hầu như nhận gần đủ số lương của anh, ngọai trừ một ít tiền để mua gừng để làm món kẹo gừng pha với ít đường có sẳn trong khẩu phần của anh hàng tháng.

Tôi có một kỷ niệm không thể quên được khi đại đội hoạt động tại ấp Tân Thạnh Ðông thuộc tiểu khu Bình Dương. Một biểu chiều anh hỏi tôi có muốn bắt sống một tên cán bộ kinh tài CS trong đêm hôm đó hay không. Tôi ngạc nhiên hỏi anh về cái tin tình báo nầy, mới biết rằng anh đã tổ chức đựơc một hệ thống tình báo nhân dân sau ba tuần lễ hoạt động ở đây. Bán tin bán nghi, tôi quyết định đi theo TÐTB để biết rõ sự thật. Tấn dẫn đầu tiểu đội và tôi theo sau chân anh trong đêm tối. TÐTB bò vào cửa một căn nhà còn ánh sáng, tôi thấy tên cán bộ kinh tài đang thoải mái ngồi đếm bạc nên phóng nhanh vào y để bắt sống, trong khi tôi nghe một tràng đạn nổ ngược về phía tôi về hướng nhà bếp. Chính người đảng viên nhanh nhẹn của đảng Ðại việt, binh nhất Tấn, đã cứu mạng tôi khi tôi thấy hai thây địch với hai cây tiểu liên trên mặt đất. Anh đã đựơc thăng cấp hạ sĩ cho cuộc đột kích nầy.

Ngày 8 tháng 5 năm 1965, TÐ1/8 được tăng phái cho cho Trung đoàn 9 trong cuộc hành quân Lôi Phong tại mật khu An Nhơn Tây của VC. Toàn thể Trung đoàn 9 và TÐ1/8 đã bị lọt vào ổ phục kích của địch khoảng một giờ trưa, Trung đòan 9 và TÐ1/8 đã anh dũng đẩy lui nhiều đợt xung phong cho đến khi đã hết đạn dựơc, tuy nhiên không có phi pháo yểm trợ trong vòng ba tiếng đồng hồ. Cuối cùng, vị trung đòan trưởng phải ra lệnh rút ra cánh đồng ruộng trống để chuyển quân về hướng quận Củ Chi thuộc tỉnh Hậu Nghĩa. TÐ1/8 bao chót và ÐÐ2 lại bao chót TÐ1/8 trong cuộc lui binh không có phi pháo yểm trợ nầy. Ðịch đã biết ý định lui binh của quân ta nên chúng tiếp tục xung phong vào TÐ1/8 và bắn xối xả vào các tiểu đoàn của TRÐ 9 đang chạy trên cánh đồng ruộng lúa trống trải. Tôi đã chứng kiến hàng trăm binh sĩ với khăng vàng ở cổ đã nằm chết thê thảm trên cánh đồng ruộng lúa trống. Tiếp theo sau là cánh quân khăng đỏ của hai đại đội và BCH của Ðại uý Của cũng bị gục ngã hàng trăm binh sĩ trong khi ÐÐ2 đang đẩy lui hai đợt xung phong của địch đang nằm chặng hậu cho Ð/U Của. rút lui. Tôi đã chứng kiến Tấn giết nhiều tên địch bằng lưởi lê và tay không trong đợt cận chiến cuối cùng, trước khi đại đội vựơt gấp theo sau BCH/TÐ1/8 bởi vì Ð/U Của không còn kiểm soát được hai đại đội của ông vì họ đã chạy đàng trước ông. Khi tiểu đội thám báo phá vỡ vòng vây của địch để thóat ra đựơc cánh đồng trống, không ai còn đạn dựơc để bắn yểm trợ cho tóan quân đằng sau, nên Tấn đã có sáng kiến bò đến một cây đại liên của một xạ thủ khăng vàng đã gục chết từ lâu, xử dụng cây súng cứu tinh nầy để bắn xối xả vào địch đang rựơt theo toán quân cưối cùng của ÐÐ2. Không ngờ bốn trực thăng vừa xuất hiện đang quần thảo trên mục tiêu để yểm trợ cho toán quân cuối cùng vừa ra khỏi vòng vây địch để tiến ra cánh đồng trống. Anh bỏ cây đại liên vì đã hết đạn với nòng súng còn nóng đỏ để chạy ngựơc trở lại về phía sau, chụp ngay khẩu trung liên của anh lính khăng vàng đã tử trận để ôm lấy và bắn liên tục theo thế bắn thẳng vào khoảng trên 30 tên địch vừa ló dạng từ trong ven rừng. Tôi đã chứng kiến những thây gục ngã với hai băng đạn còn lại trên tay anh. Bỗng nhiên tôi thấy Tấn gục ngã với cây trung liên. Tôi bò nhanh đến chụp tay anh vừa lúc anh trút hơi thở cuối cùng. Tôi vuốt mắt anh rồi để cho 4 người thám báo còn sống sót thay phiên nhau đem xác anh theo đại đội để bắt kịp với Ð/U Của đang chờ. Ông đã ôm chầm lấy tôi để cùng khóc với những giòng lệ chân thành của người lính ở trận mạc. Ở nơi chốn vỉnh cửu chắc anh đã biết rằng anh là người độc nhất của toàn thể binh sĩ tham dự cuộc hành quân này đựơc khiêng xác về đến quận Củ Chi trong đêm đó, bởi vì ÐÐ2 và một tìểu đoàn của TRÐ đã phải ở lại trong ngày hôm sau để theo sau quân tiếp viện với nhiệm vụ lượm xác bạn ngày hôm sau.

Hai ngày sau, tôi đến thăm gia đình tử sĩ tại trại gia binh sau khi rời khỏi văn phòng tuớng Trần Thanh Phong. Chị Tấn và hai đứa con trong bộ áo tang đang ngồi khóc bên quan tài anh với khói hương nghi ngút. Tôi quì xuống trước anh với bó hương để tỏ lòng tri ân cho vị võ sư tài ba, một đảng viên yêu nước của đảng Ðại Việt và một chiến sĩ anh dũng của QLVNCH. Tôi kính cẩn trao lại chị cái bóp của anh cùng cái bì thư đựng ít tiền của anh em ÐÐ2. Chị ôm lấy cái bóp như một kỹ vật cuối cùng của anh dành cho chị, rồi bỗng nhiên chị bật khóc lớn “Anh ơi! Sao anh lại ra đi trong khi mộng ước vẫn chưa thành?! Thôi anh hãy yên nghĩ để em sẽ cố gắng các nuôi con ăn học nên người.”

Bây giờ tôi không biết chị và hai cháu đang trôi dạt ở chốn phương trời nào, không biết hai cháu có ăn học nên người hay không, không biết có đựơc tự do theo đảng phái theo ý muốn hay lại bi đầu độc chủ nghĩa cọng sản, không biết hai cháu có biết và hảnh diện cho cha của hai cháu là một vị anh hùng yêu nước của QLVNCH hay không. Riêng tôi thì cứ vào ngày 8 tháng 5 mỗi năm lại thắp ít nhang với miếng kẹo gừng để tưởng nhớ một người đã cứu mạng tôi, một vị thầy võ thuật và một chiến sĩ can trường của QLVNCH.

Ðại tá Nguyễn Văn Của

Tôi được hân hạnh biết ông khi ông về làm Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ1/8 với cấp bậc đại úy. Ông đã biểu lộ tư cách hào hiệp của một đàn anh để bênh vực cho đàn em trứơc vị tư lệnh sư đoàn hống hách. Khi ÐÐ2 vừa xuống xe tại bải đậu xe BTL/SÐ5BB ngày 10 tháng 5, Ð/U Của và hai đại đội trưởng trong quân phục láng bóng đã vẫy tay để báo cho tôi theo họ vào trình diện vị tư lệnh. Vừa bứơc vào văn phòng tôi đã thấy hai cặp mắt cú vọ của Chuẩn tướng Trần Thanh Phong đang bám chặc vào quân phục còn dính máu và hôi hám của tôi. Bỗng nhiên ông nổi giận đập bàn “Sĩ quan gì mà lại ăn mặt như ăn mày!”. Ðang bực mình vì cái chết anh hùng của anh Tấn và các binh sĩ của đại đội, tôi trở thành kể bất cần đời, cứ tha hồ chỉ trích vi tư lệnh về sự chậm trể của phi pháo và tiếp tế đạn dược cũng như sự vắng mặt của ông trên chiến trường. Ông xé bỏ cả hồ sơ đề nghị thăng thưởng cho TÐ1/8, rồi bấm chuông gọi quân cảnh bắt nhốt tôi. Ð/U Của điềm nhiên đứng dậy để xin cùng vào tù với tôi, rồi hai ÐÐT cũng xin theo vị TÐT để cùng chung số phận. Khi ÐU Hoàng, K.15 TVBQGVN, dẫn hai quân cảnh vào trình diện tướng Phong, Ð/U Của cũng vừa kể xong chuyện chiến trừơng tại An Nhơn Tây, nên tướng Phong bảo hai người quân cảnh ra ngoài rồi ông xin lỗi việc nóng giận vô lý của ông.

Mấy ngày sau, Ð/U Của đã đến ăn cơm chiều với tôi rồi ngũ đêm với ÐÐ2. Ðêm đó Ð/U Của đã tâm sự cái mộng yêu nước của ông; Ông ghê tởm việc Cộng Sản tàn sát các nhà ái quốc chống Pháp cũng như các vị lãnh đạo yêu nước Cao Ðài và Hòa Hảo vì tội không chịu theo chủ nghĩa cộng sản; Vì vậy ông đã thấy rõ cái hiểm họa của chủ nghĩa CS nên quyết gia nhập quân đội để chống cộng trước rồi chống Pháp sau để dành độc lập cho Việt Nam.

Khỏang hai tuần lễ sau, ÐÐ2 đã được dịp phục hận cho anh Tấn và các tử sĩ của ÐÐ2 trong trận đánh An Nhơn Tây. Trong cuộc hành quân mở đường dọc theo QL 13 từ Ấp Bưng Cầu đến Bến Cát thuộc tỉnh Bình Dương, toàn bộ TÐ1/8 ngoại trừ ÐÐ2 bị lọt ổ phục kích của một tiểu đoàn địch. ÐÐ3 đã bị lọt phục kích về phía nam của Bến Cát nên bị thiệt hại nặng, phải đã rút về BCH/TRÐ 8 tại Chi khu Bến Cát. BCH/ TÐ1/8 và ÐÐ1 lại bị địch phục kích và bao vây tại Ấp Bưng Ðĩa. Ð/U Của và ÐÐ1 đã chiến đấu anh dũng, đẩy lui ba đợt xung phong của địch trong khi ra lệnh cho ÐÐ2 đang mở đường ở Bưng Cầu, trở lại tiếp cứu gấp tiểu đoàn. Tướng Phong đã bay trên đầu BCH/TÐ để chỉ huy trực tiếp cuộc phản công và cầm cự của TÐ 1/8. Tinh thần lên cao vì có sự hiện diện của vị tư lệnh, ÐÐ2 gom quân lại rồi đánh bọc hậu từ hướng nam để chọc thủng vào BCH của tiểu đoàn địch, làm địch bỏ chạy tán loạn. Khi tướng Phong đáp trực thăng để xem chiến lợi phẩm và xác địch, ông đã chứng kiến Ð/U Của và ÐÐT/ ÐÐ1 vẫn còn nắm hai trái lựu đạn để thề sống chết với địch. Tướng Phong đã đề nghị thăng cấp tai mặt trận cho Ð/U Của và hai đại đội trưởng. Ngày nhận cấp bậc thiếu tá, Ð/U Của không vui bởi vì hai ÐÐT đã lọt sổ thăng cấp. Ông đã an uỉ tôi bằng cách can thiệp với vị tư lệnh mới để cho tôi được theo học khóa 7 Tiểu Ðoàn Trưởng tại Ðà Lạt, để trở về làm Tiểu Ðoàn Phó TÐ1/8 cho một vị TÐT mới, Ð/U Nguyễn Văn Vỹ, mở đầu cho một giai đọan thân bại danh liệt trong ba năm của tôi.

Khi tôi nhận lệnh thuyên chuyển về làm TÐP/TÐ1/9, Thiếu tá Của đã mời tôi bữa cơm chiều tại tư gia, để hỏi chuyện lý do tôi ra lệnh cho một người Tàu dân sự không được đem gái Việt cho Mỹ chơi tại Lai Khê. Tôi chỉ trả lời vì thấy nhục quốc thể. Ông đã mỉa mai tôi vì cái quan niệm nhỏ nhoi và kỳ thị nầy, rồi ông cố điều tra để biết ai là kẻ ra lệnh cho tôi đi làm cái việc ngoài bản cấp số nầy. Tôi đâm ra ở trong thế hỏa mù, bởi vì hai khuynh hướng đối nghịch của hai vị sĩ quan đàn anh của tôi, tuy nhiên tôi không muốn Ð/U Vỹ chịu trách nhiệm vì cái lệnh của ông bởi vì tôi đã hứa với ông trước khi thi hành một nhiệm vụ ngoài bản cấp số nầy, nên tôi đã từ chối nói sự thật với T/T Của, để chấp nhận lảnh đủ hậu quả của việc làm nông nổi của tôi. Về sau tôi mới biết vị tư lệnh mới của tôi cũng là một tướng lảnh tài ba; Ông đã đem một sinh khí mới cho SÐ5 bằng cách bổ nhiệm nhiều sĩ quan trẻ xuất thân từ TVBQGVN vào các chức vụ chỉ huy trưởng như cố Trung Tá Châu Minh Kiến, một anh hùng của QLVNCH và một vi tiểu đoàn trưởng ngoại hạng thuộc K.19 TVBQGVN, vào chức vụ TÐT/TÐ1/8, Ð/U Thiều, K.19TVBQGVN, vào chức vụ TÐT/TÐ4/8, Ð/U Nguyễn Kỳ Sương vào chức vụ TÐT/TÐ2/8, Ð/U Lê Sỹ Hùng vào nhiện vụ ÐÐT/ÐÐ5TS …; Ngoài ra vị tư lệnh mới của tôi cũng rất mã thượng khi ông chấp thuận cho tôi đựơc thuyên chuyển về TVBQGVN theo ý nguyện của tôi vào đầu năm 1969, đồng thời ông cũng chấp thuận cho tôi được đi tu nghiệp ở Mỹ trước khi về trường VBQGVN. Chính Trung Tá Của đã đề nghị với tướng Hiếu hủy bỏ lệnh thuyên chuyển về trường võ bị của tôi sau khi tôi về nước, để về làm TÐT/TÐ1/8 cuối năm 1969.

Mỗi lần tôi đến thăm ông khi ông làm Tỉnh Trưởng Bình Dương là ông biểu lộ nổi băng khoăng và lo lắng về đời sống và an ninh của người dân, làm tôi nhớ đến C/U Bùi Thương, người chiến sĩ thám kích anh hùng mấy năm về trước. Cũng vì quá thương dân, ông đã bị cầm chân chức vụ tỉnh trưởng hơn 5 năm cho đến ngày mất nước, mặc dù ông đã xin ra cầm quân đánh giặc nhiều lần. Ðầu tháng tư năm 1975, ông đã khẳng định với tôi trên đường giây viễn liên quốc tế rằng ông sẽ ở lại chiến đấu với quân dân, chứ không bỏ chạy ra khỏi nước. Ông đã giữ trọn lời thề để chết trong ngục tù của CSVN, theo nguồn tin của một người bạn cùng khóa với tôi, anh Nguyễn Văn Hiệp.

Chuẩn Tướng
Trần Thanh Phong

Chuẩn Tướng Trần Thanh Phong Trần Thanh Phong [1]

Khi Ð/U Của và ba ÐÐT vừa ra khỏi phòng của Chuẩn Tướng Trần Thanh Phong, Ð/U Hoàng, K.15 TVBQGVN, níu vai tôi để nói nhỏ với tôi” Mặt Trời rất chịu chơi, chú mầy đừng có lôi thôi hay hỗn láo!”. Tôi liền đổ tội cho anh “Tại Niên trưởng đã dạy tôi phải ăn ngay nói thẳng đó mà! Anh nhìn tôi với cặp mắt thương hại “Thôi, để tao chịu tội với Mặt Trời vì tao đã dạy dỗ mầy như vậy”. Tôi không hiểu anh Hoàng đã thuyết phục Tướng Phong như thế nào, nhưng kể từ đó tôi đã thấy vị tướng nầy đã hoàn toàn thay đổi thái độ lãnh đạo của ông, từ hống hách đến thân tình, từ chỉ huy mặt trận trong văn phòng đến xông xáo bất chấp mọi hiểm nguy với binh sĩ ở chiến trường. Tiếc thay ông đã rời SÐ5 quá sớm nên ông đã mất cơ hội để thi thố tài ba của ông sau khi ông đã hoàn toàn biến thể.

Chuẩn Tướng
Lê Nguyên Vỹ


Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ

Ông là người thông hiểu hoàn cảnh thân bại danh liệt của tôi khi ông còn là Trung Ðoàn Trưởng TRÐ9. Mỗi lần thăm viếng tiểu đoàn, ông đều nói với tôi về việc thuyên chuyển tôi từ tiểu đoàn nầy đến tiểu đoàn khác là ngoài thẩm quyền của ông. Nhiều khi vui miệng ông lại khuyên tôi nên về trình diện vị “Thẩm Quyền” để trình bày sự thật vì Ðại uý Nguyễn Văn Vỹ, vị cựu Tiểu Ðoàn Trưởng 1/8 của tôi, cũng đã giải ngủ vì tội chống Mỹ.Thấy không thể thuyết phục được tôi gần ba năm, ông khuyên tôi nên đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ và xin thuyên chuyển về trường VBQGVN để phục vụ đắc lực hơn. Trong thời gian chờ đợi đi học, ông kéo tôi về ở BCH/TRÐ để đánh cờ ban đêm với ông và để nghe ông tâm sự cuộc đời binh nghiệp của ông. Lý do ông gia nhập quân đội cũng tương tợ như lý do của Ðại tá Của, tuy nhiên ông có cái nhìn chiến lược sâu rộng hơn Ðại tá Của; Ông thường lo lắng phong trào phản chiến ở Mỹ sẽ ảnh hưởng mạnh đến chính sách Hoa Kỳ đối với Việt Nam trong tương lai; Ông cố tìm một chiến lược “Tự Cường Tự Lập” cho QLVNCH nếu người Mỹ bỏ cuộc ở VN. Thời gian hai tháng sống bên ông đã cho tôi thấy ông là một ngừời yêu nước chân tình và một lý tưởng chống cộng đến hơi thở cuối cùng.

Khi trở về nước tôi biết ngay tôi còn nặng nợ với SÐ5BB khi tôi biết lệnh thuyên chuyển về trường VBQGVN của tôi đã bị hủy bỏ. Khi gặp lại tôi, ông vui mừng báo cho tôi biết là nghiệp chướng của tôi đã được giải tỏa bởi vị minh quân, Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu. Trong thời gian chờ đợi lệnh bổ nhiệm về TÐ1/8, tôi lại nghe ông say sưa với bài toán tự lực tự cường, mặc dầu ông vẫn không tìm ra đáp số. Ông cũng không thỏa mãn sự hiểu biết của tôi về phong trao phản chiến ở Mỹ, nên ông quyết xin đi tu nghiệp ở Mỹ để hiểu rõ thêm. Vài ngày trước khi tôi về TÐ1/8, ông hảnh diện nhắc lại những chiến công oanh liệt của TÐ1/8 dưới thời cố Trung Tá Châu Minh Kiến, K.19 TVBQGVN, rồi nổi đau lòng của ông khi thấy TÐ1/8 đã suy sụp và chiến bại tại khu Tam Giác Sắt sau khi cố Trung Tá Kiến tử trận. Ông cũng tự thấy hổ thẹn khi thấy thành quả của TÐ1/8 đã thua xa tiểu đoàn Mỹ trong chiến dịch Việt Nam Hóa sau khi cố Trung Tá Kiến tử trận, rồi ông bảo tôi đây là cơ hội cho tôi hiểu rõ thế nào là nhục quốc thể nếu TÐ1/8 thua kém quân đội đồng minh.

Một tháng sau, ông rất khoái chí thấy rõ thành quả của TÐ1/8 đã vượt hơn 4 lần tiểu đòan đồng minh (xem Lượng giá Sư Đoàn 5 Bộ Binh) [2]. Ông thích nhất là lối đánh “ Thả, Di, Mìn, Kích, Bốc” trong khu vực Tam Giác Sắt. Trước khi từ giã TRÐ8 để du học, ông đã hãnh diện và vui mừng như một đứa trẻ khi chứng kiến anh Trung Ðội Trưởng của trung đội thám báo TÐ1/8 đang huấn luỵện trung đội thám báo của anh và của Hoa Kỳ về lối đánh mới lạ nầy, nhất là cách biến chế mìn điều khiển Claymore thành mìn tự động, hay đạn pháo binh thành mìn tự động hay điều khiển.

Ðầu năm 1974, ông đã gọi máy hỏi thăm sức khỏe tôi cũng như hỏi tôi có muốn trở lại SÐ5 hay không. Tôi đã thành thật báo cho ông biết là tôi đựơc lệnh tướng Thơ để sắp đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ. Giữa tháng 4/1974 ông cho người về Câu Lạc Bộ Sĩ Quan An Ðông để nhắn tôi lên Lai Khê gặp ông trứơc khi đi Mỹ. Vị Ðại Tá Tư lệnh bây giờ trông già và uy nghi hơn bốn năm về trước, tuy nhiên ông vẫn còn hăng hái như ngày xưa. Ông hỏi tôi lý do phải đi học trong tình trạng khẩn trương của đất nước hiện nay. Tôi đã chân thành báo cho ông biết con đường hoạt động mới của tôi để chống lại phong trào phản chiến và báo chí thiên tả, cũng như ý định xin giải ngũ khi tôi đang du học. Ông vội lôi cuốn sổ tay nhỏ để sao chép tên tuổi và địa chỉ một số sinh viên du học và những người Mỹ mà ông đã tìm cách kết hợp trong một năm du học để giao cho tôi. Tôi hỏi ông nghĩ sao về hiệp định Ba Lê. Ông liền nhắc lại những tiên đoán của ông khi ông đánh cờ với tôi năm 1969, tuy nhiên ông khẳng định với tôi là ông sẽ chiến đấu cuối cùng với binh sĩ cho đến hơi thở cuối cùng. Cuối cùng ông khuyên tôi đến thăm tướng Hiếu trước khi tôi đi học. Thấy tôi ngần ngại lên Biên Hòa, ông bảo tôi ra nói chuyện chơi với anh Sương, K.16 TVBQGVN để chờ ông. Khoảng 15 phút sau ông gọi tôi vào để báo cho tôi biết Tướng Hiếu sẽ ăn cơm trưa đúng một tuần lễ sau tại Câu Lạc Bộ Sĩ Quan An Ðông và ông muốn gặp tôi ở đó. Tôi vội đứng nghiêm kính cẩn chào người hiệp sĩ “Samurai” của thế kỷ 20.

Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ và Bộ Tham Mưu [3]
Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ


Một tháng làm việc ở Phòng Tổ Chức thuộc trường VBQGVN đã cho tôi thấy những phức tạp và khó khăn của một sĩ quan tham mưu; Trong quá khứ đặc công VC đã xâm nhập và tấn công hai lần TVBQGVN, một lần địch đã vào bắn phá ngay tại phòng làm việc của vị chỉ huy trưởng; Vụ ám sát vị quân sự vụ trưởng, một sĩ quan thanh liêm và gương mẫu, đang ngũ trong phòng của ông tại Liên đoàn SVSQ; Bản Cấp Số Mới TVBQGVN từ hai vị tiền nhiệm Trưởng phòng Tổ Chức của tôi vẫn bị BTTM từ chối nhiều lần…Tuy nhiên tôi vẫn thoái mái làm việc theo nguyên tắc của một sĩ quan tham mưu với Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ cho đến một biến cố xẩy ra trong ngày mãn khóa SVSQ K.25 cuối năm 1972. Sau biến cố nầy tôi đã sống trên đống lửa khi phải đảm nhiệm những công tác ngoài bản cấp số của một trưởng phòng tổ chức doTướng Thơ giao phó, ngoài nhiệm vụ thông thường của một sĩ quan tham mưu.

Theo bản cấp số Phòng Tổ Chức có nhiệm vụ tổ chức hành quân, huấn luyện tham mưu cho SVSQ, tổ chức an ninh phòng thủ và tổ chức lễ mản khóa cho SVSQ. Trong Lễ Mản Khóa 25 SVSQ người SQ Tùy Viên của Ðại Tướng Cao Văn Viên đã thông báo lầm giờ khởi hành cho Ð/T Viên nên Ð/T Viên vẫn tà tà ngồi ăn điểm tâm trong khi Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm, vị chủ tọa buổi lể mãn khóa, đã khởi hành đúng giờ giấc ấn định. Vừa được biết rõ sự việc và không đủ thì giờ để trình Tướng Thơ, tôi thừa lệnh đại Tướng Thơ ra lệnh cho anh Tùy Viên của Ð/T Khiêm cho xe ngừng tại bên Hồ Xuân Hương để ngắm cảnh Ðà Lạt, rồi tôi ra lệnh cho anh Tùy Viên của Ð/T Viên hối thúc Ð/T Viên bỏ ăn sáng và lên xe chạy hết tốc lực đến vị trí hành lễ trước Ð/T Khiêm. Tướng Thơ đứng cách tôi không đầy 10 thước, thấy rõ toán An Ninh Phủ Thủ Tướng chỉa súng vào tôi trong khi tôi thản nhiên ra lệnh đại, không được sự chấp thuận của Tướng Thơ. Ngày nay tôi xin lỗi nhị vị Ðại Tướng và cũng xin kính phục lòng độ lượng và bản tính quân tử của nhị vị bằng cách không quách trở tôi cái tội quấy rầy nhị vị trong ngày mãn khóa 25 SVSQVB năm 1972; Ðặc biệt Ð/T Viên đã ký lệnh thăng cấp Trung Tá cho tôi cũng như chọn tôi đựơc phép đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ năm 1974. Dù tôi đã làm việc phi nguyên tắc tham mưu buổi lễ đã thành công và tôi được Tướng Thơ đề nghị thăng cấp Trung Tá nhiệm chức, để rồi Tướng Thơ đã chỉ thị cho tôi làm nhiều công tác phi nguyên tắc tham mưu từ đó cho đến ngày tôi đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ năm 1974.

Khi ở đơn vị chiến đấu cấp đại đội và cấp tiểu đoàn, tôi không bao giờ thấy quyền lực của MACV ở Sài Gòn, tuy nhiên tôi đã thấy cái quyền lực nầy khi đảm trách soạn thảo Bản Cấp Số Mới cho TVBQGVN. Cũng như hai vị tiền nhiệm Trưỏng Phòng Tổ Chức, BCSM vẫn bị BTTM sửa tới sửa lui khi tôi đã tu chỉnh hai lần. Bí quá tôi phải trình với Tướng Thơ rồi được ông cho bí quyết. Thế là tôi đã vượt hệ thống quân giai, về Sài Gòn nói chuyện thẳng với MACV. Thế là xong! Nhờ BCSM được ra đời các sĩ quan tham mưu cũng như cán bộ đã có dịp được thăng cấp chức vụ như ở đơn vị tác chiến. Tướng Thơ đã đánh giá các sĩ quan phục vụ tại trường rất cao nên ông rất hài lòng với BCSM nầy bởi vì bản mới đã cho ông có cơ hội để đề nghị thăng cấp chức vụ cho các sĩ quan tham mưu, huấn luyện viên và cán bộ LÐSVSQ.

Ðể đề phòng nội tuyến Tưởng Thơ chỉ thị mật cho tôi phải tự soạn thảo kế hoạch phản công, khác hẳn với lệnh phòng thủ chính thức đã phổ biến cho các cứ điểm trưởng, trình riêng một mình ông mà thôi để đựơc ông thẩm duyệt. Ông ra lệnh cho tôi rằng chỉ có ông và tôi biết kế hoạch nầy mà thôi, cũng như tôi được quyền thừa lệnh ông nếu ông không có mặt khi hữu sự. Tôi hoãn sợ cho cái lệnh phi nguyên tắc nầy nên đề nghị phổ biến cho vị TMT để tôi tránh khỏi phải thân bại danh liệt như hồi ở TÐ1/8. Ông lại cho tôi thêm một tin tức động trời nữa về vị TMT của tôi; An Ninh Quân Ðội đã theo dõi vị TMT của tôi đã từ lâu nên vấn đề sinh mạng của SVSQ không thể giao phó cho vị TMT của tôi. Tôi lại còn hoãn sợ hơn khi phải làm việc với vị TMT như thế nên hỏi ông lý do ANQÐ không bắt giữ không. Ông nhỏ nhẹ cho tôi biết rằng đây là vấn đề câu cá nghề nghiệp phản gián. Hơn nữa đây cũng là cái đẹp của chủ nghĩa tự do dân chủ, khác hẳn với chính sách “ Giết Lầm Không Bỏ Sót” của CS, họ giết người họ nghi còn mình chỉ kết tội người mình khi co bằng cớ.

Mấy tuần sau ông lại cho tôi thêm một trò chơi ngòai bản cấp số của PTC. Ông chỉ thị cho tôi phải tổ chức bí mật hệ thống tình báo nhân dân quanh khu vực Ấp Thái Phiên và Khu Chi Lăng. Tôi vội từ chối bằng cách viện lý rằng tôi chưa bao giờ được huấn luyện nghề tình báo, cũng như trình với ông rằng tôi không thích cái trò dòm nghó hay đi cửa hậu. Ông chỉ nhỏ nhẹ bảo tôi “ Thì mình là Võ Bị mà!”

Tôi hoàn toàn không thích việc làm qua mặt vị TMT vì tôi biết thế nào tôi cũng gây nên sóng gió giữa tôi và ông, để rồi thụôc cấp vô tội của tôi phải lãnh đủ những điều bất lợi cho họ, nên tôi không bao giờ xử dụng họ trong công tác phi nguyên tắc nầy. Việc Tướng Thơ chỉ thị thẳng cho Phòng Tổng Quản Trị/TVBQGVN đề nghị thăng cấp cho một mình tôi sau lễ mãn khóa 25 khởi điểm cho cơn sóng nhỏ giữa vị TMT và tôi bởi vì vị TMT của tôi bắt đầu nghi ngờ tôi đã qua mặt ông để xin xỏ Tướng Thơ. Ba tháng sau tôi đã được thăng cấp thường niên với cấp bậc Trung Tá thưc thụ nên vị TMT lại càng nghi ngờ tôi hơn. Mở đầu cho cơn sóng gió là vị TMT từ chối việc đề nghị thăng cấp đặc cách chức vụ cho hai SQ trưởng ban của tôi cũng như bằng Tưởng Lục sau các buổi mãn khóa trong khi các SQ của các phòng khác lại được thưởng bằng Tưởng lục thường xuyên. Vị TMT chiếm lấy phòng làm việc của tôi, rồi di chuyển phòng làm việc của tôi từ phòng nầy đến phòng nọ khỏang ba hay bốn lần. Vị TMT lại chỉ định SQ Trưởng Ban An Ninh Phòng Thủ của PTC đi theo SVSQ công tác ở miền Trung, mặc dù tôi đã trình cho ông biết việc đi theo SVSQ nầy không cần thiết và không đúng với nhiệm vụ của anh trong bản cấp số của PTC trong khi PTC cần sự hiện diện của anh trong công tác phòng thủ và huấn luyện tham mưu cho SVSQ. Vị TMT lại gây xáo trộn nội bộ của PTC bằng cách xúi dục SQ Hành Quân của Trung Tâm Hành Quân của tôi bất tuân lệnh của tôi; Một đêm tôi đến phòng hành quân để kiểm soát các vị trí phục kích của Trung Ðội Thám Kích. Tôi ngạc nhiên khi thấy rằng một vị trí chủ yếu để phục kích trạm giao liên của địch tại Ấp Thái Phiên đã bị vị TMT cho lệnh SQ Hành Quân di chuyển đến một vị trí khác, không lợi ích trên nguyên tắc chiến thuật, nên tôi dùng cơ hội để tìm hiểu vị TMT bằng cách bảo anh phải ra lệnh cho toán phục kích phải trở lại vị trí cũ. Vị SQHQ không chịu nghe lệnh của tôi, gọi máy cho TMT để báo cáo với ông về lệnh của tôi để chờ lệnh mới. Vị TMT cho lệnh thi hành theo ý muốn của tôi. Tôi thấy đã đến lúc phải tỏ ý bất đồng với vị TMT về việc ông xâm phạm nguyên tắc tham mưu, bởi vì theo theo nguyên tắc TTHQ trực thuộc PTC, tình trạng an ninh cá nhân của vị TMT chưa được sáng tỏ và vấn đề sinh mạng của SVSQ. Tôi phạt vị SQHQ 15 ngày trọng cấm vì tội bất tuân lệnh của cấp chỉ huy trực tiếp và tội báo cáo vượt hệ thống quân giai, để xem phản ứng của vị TMT. Vị TMT rất khôn ngoan bằng cách đồng ý với tôi không bao giờ xen vào nội bộ của PTC, tuy nhiên tình trạng giao hảo giữa TMT và tôi bắt đầu căng thẳng kể từ đó.

Tôi bắt đầu chán nãn cái trò chơi rình rập của mèo và chuột nầy nên học toán để giải trí. Tướng Thơ đã hiểu rõ những cái khó khăn của tôi nên ông khuyên tôi nên học báo chí rồi ông sẽ đề cử tôi đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ. Tôi nghe lời ông ghi danh học năm thứ hai báo chí tại Ðại Học Vạn Hạnh ở Sài Gòn. Người bạn cùng Khóa 17 SVSQ đã giúp tôi lấy bài từ Sài Gòn nên việc học và đỗ đạt không có gì là khó khăn. Ðầu năm 1974, Tướng Thơ báo cho tôi biết tôi được đề cử theo học khóa CHTM tại Hoa Kỳ. Ðây là thời điểm tôi biết rõ tư cách và tài ba của Tướng Thơ; Ông đã phàn nàn về phẩm chất ẩm thực của SVSQ bị giảm dần theo thời gian vì vật giá quá đắt đỏ, mặc dù ông đã có một hệ thống kiểm soát việc cân lượng và mất mát rất chặc chẽ; Ông yên tâm về vấn đề phòng thủ bởi vì ông vừa biết được việc giải ngũ của vị TMT sắp đến vì lý do an ninh cá nhân, cũng như ông đã nắm vững hệ thống tình báo nhân dân; Ông đã thấy sự cần thiết của chiến trường truyền thông và phản địch vận tại Hoa Kỳ…Những lý luận sắc bén của ông đã giúp tôi tự biến thể từ một người lính chuyên nghiệp với binh sĩ đến kẻ độc hành trên đất khách quê người. Tháng 2 năm 1975, Tướng Thơ đã báo cho tôi biết rằng tôi sẽ được giải ngũ như ý nguyện của tôi để tự do theo đuổi con đường mới của tôi.

Sau năm 1975, tôi được biết vị TMT là một gián điệp của MTGPMN, nên tội lại càng thán phục Tướng Thơ nhiều hơn, cũng như tôi không còn hối tiếc những việc tôi đã làm phi nguyên tắc tham mưu trong thời gian tôi phục vụ dưới quyền vị tướng lãnh tài ba, Thiêu Tướng Lâm Quang Thơ. Cách đây mấy tháng, tôi đựơc biết vị TMT đã từ giả cỏi tạm tại Châu Âu trên mục Phân Ưu của một tờ báo. Ngày nay một nổi buồn man mát tửơng nhớ đến ông vẫn còn trong tôi khi tôi ngồi nghĩ đến những ngày phục vụ dứơi quyền của ông với những cảm nghĩ mâu thuẩn về ông; Tôi đã cảm mến ông trong những giây phút ông chia xẻ với tôi những lo lắng cho QLVNCH khi người Mỹ rút quân về quê hương của họ, cũng như những hy vọng VNCH sẽ đựơc độc lập có chủ quyền hòan toàn để chống cộng như mộng ước của người lính VNCH; rồi tôi lại ngạc nhiên như người được rơi từ cung trăng khi Thiếu Tướng Thơ báo cho tôi về tình trạng an ninh của vị TMT; tiếp theo là những lo lắng thủ thế cũng như thử thách ông khi tôi đựơc dịp. Ngày 8 tháng năm vừa qua, nhân ngày giỗ của Hạ sĩ Trần Tấn, tôi đã đốt ít nhang để cầu nguyện linh hồn của ngừơi lính thân yêu của tôi, rồi cầu nguyện cho ông đựơc yên tỉnh ở cỏi vỉnh hằng.

Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu

Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu là người đã thay đổi tôi từ thân bại danh liệt đến thời kỳ vẫy vùng và thử lửa cho thỏa chí của một người lính. Ông đã bổ nhiệm tôi[4] tôi vào chức vụ không vụ lợi cá nhân mà chỉ căn cứ vào hồ sơ quân bạ của tôi và lời đề nghị của hai Ðại Tá, Nguyễn Văn Của và Lê Nguyên Vỹ. Ông đã vô tình cứu mạng tôi[5] khi ông đã bay trực thăng chỉ huy trên đầu tôi trong một cuộc phản kích chớp nhoáng vào trung đội đặc công đi đầu của một tiểu đòan VC trong âm mưu tấn công BTL/SÐ5BB tại Lai Khê đầu năm 1970. Ông đã biểu dương tinh thần trách nhiệm, lương tâm, can đảm, mưu lược và tài ba của một tướng lảnh biên cương, khi ông vào sinh ra tử với Chiến Ðoàn 8 trong cuộc Hành Quân Snoul năm 1971[6] năm 1971. Ngoài ra ông là một tướng lảnh trong sạch, đạo đức, có tầm mắt rộng lớn để nhìn thấy hậu trường chính trị và chiến lược trên phương diện quốc gia và quốc tế. Ông xứng đáng là một một minh quân của nước VNCH mà VN đã thiếu vắng hơn một thế kỷ, tuy nhiên thời cơ quá muộn đã không cho phép ông thi thố tài năng. Cuối năm 1972 ông đã cho tôi thấy tấm lòng yêu nước chống Cộng của ông cũng như những tiên đóan chính sách đổi mới của chính sách Hoa Kỳ sau chuyến viếng thăm Trung Cộng của Tổng Thống Nixon.

Tướng Hiếu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một Tướng thanh liêm, đức độ và tài ba; đồng thời cũng để gián tiếp tác động niềm kiêu hãnh đối với Quân Đội nơi các chiến sĩ, những người đầy quả cảm đã gian khổ chiến đấu hy sinh trọn một đời người cho chính nghĩa quốc gia.




Chỉ hơn một giờ ngồi ăn cơm trưa với ông tại Câu Lạc Bộ Sĩ Quan An Ðông cuối tháng tư năm 1974, tôi đã thấy ông là một chiến lược gia quốc tế ngoài cái đức tính văn võ kiêm toàn của ông. Ông đã thấy rõ cái nguy cơ mất nước sau Hiệp Ðịnh Ba Lê, phong trào phản chiến ở Hoa Kỳ, vụ Watergate của Tổng Thống Nixon và sắc luật hạn chế quyền hạn chiến tranh của T/T Hoa Kỳ. Tuy nhiên ông không sờn chí với chính sách “ Còn Nước Còn Tác”, “ Không Bỏ Cuộc Dù Ðồng Minh Bỏ Cuộc”, “ Quyết SinhTử Với Ðịch” …Ông đã có môt kế hoạch “Trì Hoãn Chiến” bằng đường lối ngọai giao trên phương diện quốc tế, tuy nhiên “ Mưu Sự Tại Nhân, Thành Sự Tại Thiên” nên thiên thời đã không cho phép ông gở bí thế cờ của VNCH.

Khi tiển đưa ông ra bãi đậu xe, tôi mới biết một nhiêm vụ mới ngoài bản cấp số đang chờ đợi tôi khi Tướng Hiếu nhỏ nhẹ bảo tôi về bức thư hứa hẹn của Tổng Thống Nixon hứa hẹn cam kết can thiệp vào chiến cuộc VN với Tổng Thống Thịêu nếu VC vi phạm trầm trọng hiệp ước. Tôi đứng nghiêm kính cẩn chào vị lãnh đạo anh minh, một hiệp sĩ “Samurai” của thế kỷ 20.

Tháng 7 năm 1975 tôi tung tin bừa về cái bức thư hứa hẹn nầy mặc dù tôi đã thất bại không tìm được bản sao của bức thư nầy trong thời gian gần một năm ở Hoa Kỳ. Nhờ thế tôi lại được Tòa Bạch Ốc gởi giấy giới thiệu lên Nửu Ước gặp phái đòan Quan Sát Viên Liên Hiệp Quốc của VC. Sau hơn ba giờ hết nước miếng để trình bày cái di chúc của Tướng Hiếu trong căn phòng nhỏ hẹp gần thượng từng của một cao ốc, tôi ra về với một niềm hy vọng ở canh bài cuối cùng của cuộc chiến. Tuy nhiên tôi đã thất bại khi biết tin quân cán miền Nam vẫn còn bị tù đày cũng như cái chết bí ẩn ở Phan Thiết của người đã nghe những lời chân thành của tôi, ông Ðinh Bá Thi. Tôi hiểu ngay ông Lê Duẩn cũng như Ðảng CS đã vất bỏ cái di chúc chân thành yêu nước của Tướng Hiếu. Rồi thời gian biến chuyển của lịch sử đã cho tôi thấy những hậu quả khốc hại của đất nướcn khi ông Lê Duẩn vất bỏ cái di chúc của Tướng Hiếu, chiến tranh Việt- Trung, sự nhượng bộ đất đai và hải phận cho Trung Cộng, sự thiếu cân bằng chiến lược quốc tế cho nước VN hiện nay,…

Tâm Tư Một Người Lính VNCH

Chiến tranh VN bắt nguồn từ cuối thế kỷ 18, từ khi Nguyễn Ánh cầu xin quân đội ngoại bang để lật đổ vị anh hùng dân tộc, Vua Quang Trung. Tiếp theo là làng sóng của chủ nghĩa thực dân, sự bành trướng kinh tế, và văn hóa Châu Âu áp đảo lên các nhựơc tiểu ở Á Châu, rồi đến chủ nghĩa “ Ngăn Chặng” của Hoa Kỳ ở Ðông Nam Á. Trước sức mạnh kinh khủng của những áp lực nầy, có nước đứng vững để đựơc độc lập và bảo tồn được nền văn hóa cổ truyền như nước Thái Lan, trong khi VN đã bị tàn phá, bị đô hộ và bị tàn phá. Lịch sử đã cho thấy chính sách ngoại giao và bản tính của dân tộc Thái Lan đã giúp họ thóat khỏi bàn cờ sách lược của ngoại bang, trong khi chính sách sai lầm của các Vua nhà Nguyễn và bản chất khác biệt của người VN đối với người Thái Lan đã đóng góp VN vào vòng quỉ đạo của các tay cờ ngoại bang. Ðây là đề tài khẩn thiết cho các nhà nhân chủng học để tìm hiểu sự khác biệt cá tính giữa hai dân tộc Thái Lan và Việt Nam, để giúp ích cho sự biến thể cần thiết của người VN trong việc chấm dứt bàn cờ chìến tranh VN đang canh tàng.

Tôi lớn lên rồi trở thành người lính của QLVNCH, nên chỉ viết theo quan điểm của một con cờ bé nhỏ trên bàn cờ quốc tế mà các tay chơi cờ là các ngoại bang. QLVNCH đã thất bại bảo vệ dân chúng miền Nam yêu chuộng một chủ nghĩa dân chủ tự do, là do hậu qủa của kẻ chơi cờ bỏ cuộc. Tuy nhiên QLVNCH là một quân đội có chính nghĩa và có niềm hảnh diện riêng. Người lính QLVNCH biết rõ chủ đích chiến đấu chống Cộng để bảo vệ miền Nam tự do trong khi người lính miền Bắc bị cưỡng bách và đầu độc sai lầm về lý do họ phải chiến đấu ở miền Nam là chống Mỹ cứu nước, tuy nhiên trong thực tế họ là những công cụ cho sự bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản ở Việt Nam, mà họ không hề hay biết cũng như không muốn có chủ nghĩa CS vô thần, trái với phong tục tập quán cổ truyền của người VN. Người lính QLVNCH cũng như chính phủ VNCH phải chấp nhận quân viện từ người bạn đồng minh, chứ không bao giờ chiụ làm nô lệ cho bất cứ một nước ngoại bang nào, trong khi CSVN cũng phải chấp nhận quân viện từ khối CS quốc tế, tuy nhiên CSVN lại làm nô lệ cho CS quốc tế, như việc cải cách ruộng đất ở miền Bắc, áp lực của Nga Sô trong việc cưỡng chiếm miền Nam năm 1975,…QLVNCH cũng không may mắn cho sự khủng hoảng cấp lãnh đạo quốc gia trong khi CSVN có được một tay lãnh đạo xảo quyệt và gian ác, Hồ Chí Minh, trong việc đánh lừa chiêu bài chống Pháp rồi chống Mỹ để giữ nước. QLVNCH và chính phủ VNCH rất nhân đạo trong việc cải cách ruộng đất không hề đỗ máu như chính sách rộng lượng và quân tử đối với CS─ chính sách chiêu hồi và tù binh─trong khi CSVN đối xử tàn bạo và vô nhân đạo với những người quân cán miền Nam khi họ đã đồng ý bỏ súng để tránh đỗ máu không cần thiết cho một cuộc chiến đã đến hồi canh tàn. Theo thời gian của lịch sử, các thỏa hiệp bí mật với Trung Cộng để nhượng đất và hải phận cho ngoại bang, những hành động tham nhũng và sự chống đối lẫn nhau trong hàng ngũ CS, cũng như một xã hội VN nghèo nàn và hổn độn đã chứng minh những lỗi lầm trầm trọng của đảng CSVN, cũng như cái vô chính nghĩa của của CSVN trứơc công luận thế giới và lịch sử chiến tranh VN. Ngày nay những hành động nham nhở của một số ít người Việt ở hải ngoại khi họ về nước, những hiện tượng chống Cộng quá khích của một số người Việt ở hải ngoại, những hiện tượng hám danh đầu cơ chính trị, hay van xin làm nô lệ cho ngoại bang, là do chính sách sai lầm, lừa gạt và tiểu xảo của CSVN.

Một cuộc xung đột chỉ được kết thúc trong hòa bình vĩnh viễn và hai phe cùng nhau xây dựng đất nước nếu họ biết tương kính lẫn nhau cũng như thông cảm hoàn cảnh của hai phe. CSVN đang ở thế thượng phong, nên họ có trách nhiệm sự kết thúc vĩnh viễn của một canh bài, miễn là họ có can đảm và lòng yêu nước để từ bỏ các quyền lực bấp bênh và thiếu căn bản pháp lý của họ hiện nay. Có như thế, may ra VN sẽ thoát được hai tay cờ hiện nay đang ở thế nhập cuộc của một bàn cờ mới ở Việt Nam yêu quí. Đau khổ thay một tay cờ đang xâm lăng một cách trắng trợn quê hương VN yêu quí của chúng ta, tay cờ khác chỉ tìm cách chia hưởng lợi quyền lợi kinh tế với tay cờ đối nghịch, từ chối vai trò lãnh đạo khối tự do dân chủ ở Đông Nam Á, trong khi CSVN vẫn còn say ngũ, không chịu thức tỉnh để thấy hiện tượng mất nước sắp kề cận đến nơi.


Trần Văn Thưởng
Viết ngày 19/06/2006
Nhật tu ngày 10/05/2008

THAM KHẢO
[1] http://www.generalhieu.com/phong.jpj
[2] http://www.generalhieu.com/5IDassessment-u.htm
[3] http://www.generalhieu.com/btmvbdl.jpg
[4] http://www.generalhieu.com/thuong-u.htm
[5] http://www.generalhieu.com/defense-u.htm
[6] http://www.generalhieu.com/snoulthuong-u.htm
QUÂN ĐỘI VIỆT NAM CỘNG HÒA

• Đỗ Thái Nhiên

Lúc bấy giờ là tháng năm, 1985, người Việt Nam tại quốc nội, nhất là dân chúng cư ngụ vùng Saigòn, Gia Định, vẫn nô nức nhưng kín đáo tìm đường vượt biên. Trong trường hợp âm mưu vượt biên thất bại, người vượt biên sẽ bị Cộng Sản Việt Nam hành hạ dưới tội danh "phản quốc". Vì thế, công việc chuẩn bị vượt biên cần phải được bảo mật tuyệt đối.

Chính vì hai chữ "bảo mật", nhiều người đã ra khơi một cách hoàn toàn bất ngờ, không một lời giã biệt bằng hữu. Riêng tôi, tôi nhất định vượt biên, nhất định bảo mật, nhất định ân cần thăm viếng và từ biệt bạn bè cũ. Nhằm đáp ứng các "nhất định" vừa nêu, một ngày trước khi rời xa quê hương, tôi quyết định tìm gặp những người bạn đặc biệt của tôi. Những người bạn đó hoàn toàn kín tiếng. Những người bạn đó không còn bận tâm chọn lựa đời sống ở bên này hay bên kia bờ đại dương. Những người bạn đó đã đi trọn đường trần bằng tất cả gian khổ với một ước mơ bất thành: ước mơ Việt Nam thống nhất, dân chủ và thịnh vượng. Những người bạn đó chính là các bạn đồng ngũ thương mến của tôi đang an nghỉ tại nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa.

Chiều hôm ấy, khoảng ba giờ, một mình tôi thẫn thờ bước vào nghĩa trang Biên Hòa. Bức tượng Thương Tiếc nằm ở ngay cổng đã bị mang đi nơi khác tự bao giờ. Con đường từ xa lộ chạy vào tới đài kỷ niệm Chiến Sĩ Trận Vong vẫn còn đó, vẫn dài, vẫn thẳng, nhưng hai hàng phượng đứng bên đường trông thật tiều tụy và ủ dột. Có thể vì phượng thiếu nước, thiếu gió. Có thể vì phượng muốn biểu tỏ tấm lòng trắc ẩn của cỏ cây dành cho hàng ngàn anh linh chiến sĩ đã vị quốc vong thân nhưng nay phải ngậm đắng nuốt cay nơi suối vàng trước cảnh "quốc" đang bị đè bẹp dưới ách độc tài Cộng Sản. Vào tới khu dành cho mộ phần của chiến sĩ, khách viếng mộ tận mắt chứng kiến toàn thể nghĩa trang đều bị đập phá tàn nhẫn. Đây là một ngôi mộ bị đào bới để lộ cả quan tài mở nắp, di cốt tử sĩ đã biến mất. Kia là một ngôi mộ nằm ở triền đồi, bia đá vẫn còn nguyên nhưng di ảnh của người quá cố có dấu vết vài phát đạn vào mắt, vào miệng. Kế đó là nơi an nghỉ của một sĩ quan cấp tá, trên bia đá, người nào đó lấy sơn đen viết một câu giễu cợt, rất phản văn hóa.

Cứ như vậy, khách viếng nghĩa trang lần lượt ghi nhận vô số hình ảnh não nề của một nghĩa trang bị nhận xuống tận cùng của hố ô nhục. Mặc cho ô nhục chồng chất, toàn bộ mộ phần của nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa vẫn lặng lẽ hướng về đài chiến sĩ trận vong. Đài này nằm trên đỉnh một ngọn đồi tọa lạc tại trung tâm nghĩa trang. Kiến trúc trọng yếu của đài chiến sĩ trận vong là một tháp xi-măng xám, cao vời vợi. Tháp này gợi nhớ hình ảnh cây bảo kiếm của người chiến sĩ vô danh năm xưa đã để lại nơi dương thế trước khi đi vào cõi vĩnh hằng. Từ cõi vĩnh hằng xa xăm kia, người ta vẫn nghe vang vọng một câu hỏi, nửa như kinh ngạc, nửa như phẫn hận: tại sao nghĩa trang của những anh hùng vị quốc vong thân lại có thể bị lăng nhục???

Bây giờ nhiều năm đã trôi qua... Bây giờ những xót xa về cảnh tượng hoang phế và cô tịch của nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa đã lắng đọng... Bây giờ những uẩn ức về lệnh buông súng tức tưởi đã trôi xa vào quá khứ... Bây giờ thời gian là năm 2002, một chiều tĩnh lặng cuối thu. Không gian là công viên tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ thuộc thị xã Westminster, California.

Tôi ngồi tựa lưng vào chân tượng đài, trầm ngâm suy nghĩ về quân đội Việt Nam Cộng Hòa.

I. Phương pháp đánh giá một Quân Ðội.

Trước tiên, tôi nghĩ tới những luận cứ chê trách QĐVNCH. Có người nêu rõ danh tánh vài ba ông tướng buôn lậu để đơn giản cho rằng QĐVNCH là quân đội buôn lậu. Người khác đã viện dẫn trường hợp đào ngũ, nghịên ngập của năm bẩy quân phạm trong quân lao Gò Vấp để vội vàng kết luận: QĐVNCH là quân đội vô kỷ luật. Người khác nữa đã kể lại câu chuyện một quân nhân đầu hàng địch quân trên trận địa đê? Nhanh chóng nhận định QĐVNCH là quân đội hèn nhát... Tất cả các đánh giá vừa kể hiển nhiên là kiểu đánh giá xuất phát từ những người rất giầu ác ý nhưng vô cùng nghèo nàn hiểu biết về phương pháp đánh giá. Làm thế nào để chúng ta có thể đánh giá một tập thể trên căn bản chừng mực và nghiêm chỉnh?

Đi tìm giải đáp cho câu hỏi vừa kể, có lẽ chúng ta nên suy nghĩ về một phương pháp đánh giá trong khoa kinh tế học. Mỗi khi tổng sản lượng quốc gia gia tăng, chưa hẳn người dân được sống trong thịnh vượng. Những năm gần đây, tổng sản lượng quốc gia Việt Nam được ghi nhận là gia tăng nhưng tuyệt đa số quần chúng Việt Nam vẫn bị giam cầm trong cuộc sống cùng khổ.

Lợi nhuận của sinh hoạt kinh tế phải là lợi nhuận chung của toàn bộ xã hội. Lợi nhuận kia phải được phân bổ hợp lý cho toàn dân. Thế nhưng CSVN đã cưỡng chiếm lợi nhuận kinh tế cho đảng CS và cho cá nhân đảng viên nhất là đảng viên thuộc giai cấp tư bản đỏ. Đó là lý do giải thích tại sao tổng sản lượng quốc gia VN gia tăng nhưng hai chữ "thịnh vượng" vẫn là ngườI khách cực kỳ xa lạ đối với quần chúng nghèo túng. Vì vậy, muốn so sánh mức độ thịnh vượng giữa hai hay nhiều nền kinh tế, các chuyên viên kinh tế phải đồng thuận với nhau về một người tiêu thụ mẫu mực gọi là "kinh tế nhân". Kinh tế nhân là người tiêu thụ một số lượng nhất định về các sản phẩm kinh tế căn bản như vải vóc, lương thực v...v... trong một thời lượng đã được quy ước trước. Thế rồi từ ý niệm kinh tế nhân, chúng ta có thể xác định mức độ thịnh vượng của một nền kinh tế bằng cách cân đo xem nền kinh tế đó đã thực sự nuôi dưỡng được bao nhiêu kinh tế nhân trên tổng dân số. Kết quả của việc cân đo này giúp chúng ta dễ dàng thiết lập bảng xếp hạng kinh tế thịnh vượng giữa các quốc gia.
Đánh giá một nền kinh tế, chúng ta cần "kinh tế nhân" làm thước đo. Đánh giá một quân đội, chúng ta cũng cần một thước đo tương tự. Thước đo đó chính là một người lính bình thường. Người lính đó không phải là một ông tướng lúc nào cũng sẵn sàng "bỏ quân chạy lấy người". Người lính đó không phải là anh binh nhì, suốt ngày ngồi ở vọng gác thì thầm ca bài "Ky? Vật Cho Em". Người lính đó mang trong người đầy đủ "tính lính" mà hầu hết binh lính trong QĐVNCH đều có. NgườI lính đó là "người lính tiêu biểu". Bây giờ chúng ta hãy khảo sát phẩm cách người lính tiêu biểu, mà bài viết này chỉ gọi tắt là người lính.

II. Quá trình thụ giáo của người lính.

Muốn xác định phẩm chất của một quân đội, chúng ta không thể không tìm hiểu cội nguồn giáo dục đã đào tạo ra hàng ngũ quân nhân cho quân đội đó. Chế đô. CSVN là chế độ độc tài, tham ô và bóc lột. Vì vậy chế độ này cần rất nhiều tay sai để bảo vệ giới thống trị. Cũng vì vậy giáo dục của CSVN là giáo dục đào tạo tay sai. Chủ nghĩa Marx Lenine và luận cứ ca tụng đảng, suy tôn Hồ Chí Minh, là các công cụ trọng yếu của guồng máy giáo dục CS. Ngược lại, VNCH có một nền giáo dục "rất Người". Trên toàn lãnh thô? VNCH, các môn học như: công dân giáo dục, sử học, văn chương, triết học v...v... không hề có chỗ đứng dành cho tư tưởng độc tôn lãnh tụ hay độc tôn chế độ. Đó là nội dung cốt lõi của chương trình giáo dục nhân bản mà người lính của QĐVNCH đã được hấp thụ trong toàn bộ học trình của tiểu, trung và đại học. Đó là một sự thực mà không một người nào đã từng sinh ra và lớn lên trong xã hội VNCH có thể phủ nhận được. Một sự thực mà guồng máy thông tin tuyên truyền của CSVN không thể xuyên tạc hoặc bóp méo.

Ngay sau khi "xếp bút nghiên theo việc đao cung", người lính lại bước vào trường học mới: ngành tâm lý chiến của QĐVNCH. Tại đây người lính không hề bị nhồi sọ để trở thành tay sai cho lãnh tụ hay chế độ chính trị nào. Người lính của QĐVNCH chỉ được trang bị một loại võ khí tinh thần duy nhất là lòng yêu nước và tinh thần tôn trọng kỷ luật quân đội.

Song song với giáo dục học đường dân sự và giáo dục tâm lý chiến của quân đội, người lính còn được hấp thụ một nền giáo dục nhân bản của toàn bộ xã hội. Người ta có thể không đồng ý với các chế độ chính trị tại VNCH về một số sự việc nào đó nhưng không thể chối cãi rằng VNCH là một chế độ tôn trọng quyền tự do tư tưởng. Quyền tự do này được thể hiện đậm nét trên hai lãnh vực: nghệ thuật trình diễn và nghệ thuật văn học. Điều này giải thích lý do tại sao sau nhiều năm bi. CSVN tìm đủ mọi phương cách để tiêu diệt, những tác phẩm văn học nghệ thuật xuất phát từ xã hội VNCH vẫn được lưu truyền càng ngày càng mạnh mẽ trong dân gian ở cả hai miền Nam và Bắc.

Nhìn chung lại, giáo dục học đường, giáo dục tâm lý chiến cùng với giáo dục xã hội là ba nguồn giáo dục nhân bản mà người lính VNCH đã được tôi luyện từ thời niên thiếu cho đến hết cuộc đời binh nghiệp.Trong thực tiễn đời sống, ba nguồn giáo dục căn bản kia đã hướng dẫn người lính VNCH sống và chiến đấu đúng với hướng phát triển tình cảm trong sáng của một Con Người. Hướng phát triển đó được triết học cụ thể hóa bằng biểu đồ hình trôn ốc. Vạn vật vận động theo hình trôn ốc. Hình trôn ốc triết học có đỉnh đặt trên mặt đất, đáy hướng lên trời. Hình trôn ốc là hình vẽ diễn ý rằng mỗi vận động trong vạn vật đều xuất phát từ một điểm để sau đó phát triển rộng ra, cao lên, cả về lượng lẫn phẩm. Khảo sát diễn tiến phát triển tình cảm của một cá nhân,chúng ta thấy: ngay sau khi được cha mẹ cho chào đời, đứa bé quyến luyến cha me. Đó là tình con cái đối với cha mẹ (đỉnh của hình trôn ốc) Thế rồi theo đà khôn lớn, đứa bé tìm tới tình anh chị em ruột thịt, rồi tình họ hàng gần xa, rồi tình làng xã, tình quốc gia dân tộc, tình nhân loạị.. Cứ như thế tình cảm của con người sau khi rời đỉnh hình trôn ốc đã men theo các vòng xoáy hình trôn ốc để từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phong phú cả về phẩm lẫn lượng. Không còn nghi ngờ gì nữa, quá trình giáo dục của người lính VNCH hoàn toàn phù hợp với nhận định của triết học về vận động của vạn vật. Sự phù hợp vừa nói khẳng định mạnh mẽ rằng: môI trường sống cùng với môi trường giáo dục tại miền Nam Việt Nam trước 1975 đã tạo điều kiện cho người lính VNCH trở thành những người thực sự yêu quê hương đất nước theo đúng quy luật sinh hoạt tình cảm tự nhiên của Con Người.

III. Bản chất của người lính VNCH.

Do yêu quê hương đất nước, người lính VNCH đã nhận thức được rằng cuộc chiến đấu chống quân đội CSVN trước 1975 là cuộc chiến đấu cho tự do dân chủ, cho chính nghĩa. Sau 1975, nhà khoa học Nguyễn Thanh Giang đã kêu gọi mọi người Việt Nam (Bắc cũng như Nam) hãy tri ân chiến sĩ VNCH trong trận hảI chiến chống Trung quốc ơ? Hoàng Sa. Mới đây nhà văn Dương Thu Hương, một "chiến sĩ chống Mỹ cứu nước" trước kia đã giác ngộ chính nghĩa bằng cách viết bài "Tiếng Vỗ Cánh Của Bầy Qua. Đen". Qua bài viết này, Dương Thu Hương tố cáo cuộc chiến tranh tại Việt Nam trước 1975 do CSVN phát động là một tội ác phỉnh gạt vĩ đại. CSVN phỉnh gạt đồng bào miền Bắc bằng cách nhân danh tự do và cơm áo, đẩy đồng bào lao thân vào cuộc chiến tàn khốc tại miền Nam Việt Nam. Để rồi sau 30/4/1975, CSVN đã để lộ nguyên hình là một đảng Mafia tham ô và bóc lột. Nói ngắn và gọn, nhà văn Dương Thu Hương đã xác nhận điều được gọi là chiến tranh "Giải Phóng Miền Nam" do CSVN phát động chẳng qua chỉ là một hành động phi nghĩa. Các sự thể kể trên đã mạnh mẽ làm nổi bật tính chất chính nghĩa trong cuộc chiến đấu bảo vệ tự do cho miền Nam VN của người lính VNCH.

Do yêu quê hương đất nước, người lính VNCH chấp nhận phục vụ quê hương với những điều kiện sinh hoạt rất thanh bạch. Nghèo khổ không than trách. Nguy hiểm không sờn lòng. Người lính VNCH bao giờ cũng tận tình với nghĩa vụ bảo quốc, an dân. Người lính tuyệt vời kia đã được đền thưởng những gì? Phần đền thưởng đó lại chính là con đường "vị quốc vong thân" trong tuyệt đối hiu quạnh. Con đường ấy đưa đẩy người lính rơi vào một tình huống cực kỳ quái dị, cực kỳ tê táị "Đám Ma Tù" là điển hình của tình huống vừa kể:

"Vài tên cầm súng bước đi đầu
Tên nữa AK tiếp theo sau
Một xác bó tròn đôi manh chiếu
Hai đầu buộc tréo bốn dây lau
Không kèn, không trống, không đưa tiễn
Chẳng khói, chẳng nhang, chẳng nguyện cầu
Chỉ có bạn tù khiêng lặng lẽ
Vùi nông một khối hận thù sâu !!!"
NgôMinh Hằng--Thi Phẩm Gọi Đàn

Do yêu quê hương đất nước, người lính VNCH bao giờ cũng chuyên cần đổ mồ hôi trên thao trường của các quân trường, bao giờ cũng thiện chiến và anh dũng đoạt chiến thắng lừng danh trên mọi hình thái trận địa. Các chiến thắng Bình Long, An Lộc, tái chiếm cổ thành Quảng Trị, mùa Hè Đo? Lửa 1972, phản ứng nhanh và chính xác trong biến cố Tết Mậu Thân v...v... là những thí dụ điển hình tạo nên "Quân Sư? Vàng" của QĐVNCH.

Do yêu thương quê hương đất nước, người lính VNCH bao giờ cũng nêu cao gương trách nhiệm trong mỗi hành động chiến đấu. Hải Quân Thiếu Tá Ngụy Văn Thà anh dũng trầm mình theo chiến hạm do ông chỉ huy trong trận hải chiến với Trung Cộng tại quần đảo Hoàng Sa. Các Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Nguyễn Văn Hai,Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn và vô số anh hùng quân đội vô danh khác đã ngạo nghễ chọn cái chết thay vì đầu hàng địch quân vào ngày 30/4/1975.

Do yêu thương quê hương đất nước, người lính VNCH bao giờ cũng tôn trọng quân kỷ. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là người lính chỉ biết tuân hành mọi loại mệnh lệnh một cách mù quáng. Trong rất nhiều trường hợp, nghĩa vụ ân cần chăm sóc thương bệnh binh phải được xem trọng hơn nghĩa vụ tự giam bó trong quân kỷ. Đó là ý nghĩa của Kinh và Quyềợn trong tinh thần quân kỷ của người lính VNCH. Đó là ý nghĩa của kỷ luật tự giác mà người lính VNCH muốn đề cao. Đó còn là lý do giảI thích tại sao trong QĐVNCH lại có những hành động phản kháng kiểu Bác Sĩ Quân Y Hà Thúc Nhơn, Bác Sĩ Quân Y Phạm văn Lương.

IV. Hệ lụy của một quân đội bị bức tử.

Phẩm chất người lính tiêu biểu của QĐVNCH như đã trình bày ở trên chính là phẩm chất của toàn thê? QĐVNCH. QĐVNCH sinh ra, lớn lên và hùng mạnh trong môi trường nhân bản. QĐVNCH không hề là, không thể là quân đội tay sai của ngoại bang hay bất kỳ chế độ chính trị nào. QĐVNCH là hình ảnh sinh động của lương tri và ái quốc. QĐVNCH thiện chiến và chiến đấu dũng cảm.

Thế nhưng, hành động phản bội của người bạn đồng minh Hoa Kỳ đã mặc nhiên trói tay QĐVNCH. Khai thác hoàn cảnh "bị trói tay" đó, CSVN vội vàng tạo tội ác 30/4/75. Nói rõ ràng hơn, Hoa Kỳ phản bội cộng với bản chất gian ác của CSVN là hai lý do chủ yếu dẫn đến "cái chết" của QĐVNCH. Thông thường chết có nghĩa là từ giã mọi hệ lụy. Thế nhưng, ngay sau ngày bị "bức tử", QĐVNCH đã để lại cho dương gian ba hệ lụy căn bản như sau:

Hệ lụy 1: Hơn ai hết, VC nhận biết rất rõ bản chất nhân bản và ái quốc của QĐVNCH. Vẫn hơn ai hết VC tự nhận biết bản chất Mafia của CSVN. Nhà văn Dương Thu Hương gọi Mafia VC là "Bầy Qua. Đen". Lo sợ lòng yêu nước và tính dũng cảm của QĐVNCH được dư luận truyền tụng rộng rãi và lâu dài. Sự thể này sẽ làm gia tăng vượt bực lòng căm phẫn của nhân dân VN đốI với "Bầy Qua. Đen". Vì vậy trong các thập niên qua, CSVN không ngừng nỗ lực phá hoại uy danh của QĐVNCH. Ngày 24/9/2002 trên báo The Orange County Register, qua bài viết "Victory most can celebrate" của ký gia? Gordon Dillow, đã nhắc lại các sự việc:

· VC phá hủy có phương pháp nghĩa trang QĐVNCH
· VC đẩy hàng ngàn cựu chiến binh tàn phế của QĐVNCH vào cảnh sống hành khất.
· VC kiên trì và nỗ lực phá hoại công cuộc xây dựng tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ tại Westminster, California.

Ba sự việc nêu trên đi kèm với khối sách báo của VC viết về QĐVNCH là những bằng chứng mạnh mẽ cho thấy ác ý hủy diệt uy danh QĐVNCH của VC.

Hệ lụy 2: Sau chiến tranh Việt Nam, dư luận không hề cho rằng Hoa Kỳ đã thua kém VC trên địa bàn quân sự. Tuy nhiên "Hoa Kỳ phản bội QĐVNCH" là một sự thực không thể chối cãị nhằm xóa bỏ mặc cảm phản bội, giới truyền thông Hoa Kỳ đã cố gắng làm cho thế giới hiểu rằng chiến tranh VN là chiến tranh giữa Hoa Kỳ và VC. Đó là lý do giải thích tại sao sách báo và nhất là điện ảnh Hoa Kỳ triệt để tránh né đề cập tới vai trò của QĐVNCH trên chiến trường VN. Sự thể "tránh né" vừa nói đã làm cho dư luận hiểu lệch đi rằng QĐVNCH chỉ là cáI bóng mờ bên cạnh binh sĩ Hoa Kỳ và rằng QĐVNCH rất ngại chiến đấu. Để bác khước kiểu "hiểu lệch" kia, chúng ta hãy mang con số 400.000 tử sĩ VNCH đặt bên cạnh con số 50.000 binh sĩ Hoa Kỳ tử vong trong chiến tranh VN (http://encyclopediạcom/section/ vietnam w. end of the war) . Sự sai biệt lớn lao giữa hai con số là một bằng chứng bằng máu về lòng ái quốc và dũng cảm của QĐVNCH.

Hệ lụy 3: Đương đầu với hệ lụy (1) và (2), QĐVNCH hoàn toàn im lặng trong cõi bức tử. Tình trạng im lặng kia là cơ hội làm cho một số người, nhất là những người ra đời sau 1975 hiểu lầm tai hại về thanh danh của QĐVNCH. Đó là hệ lụy thứ ba mà QĐVNCH đang gánh chịu.

V. Giải trừ oan khiên.

Những điều trình bày ở trên đã minh chứng cả ba hệ lụy là ba oan khiên. Làm thế nào để giải trừ oan khiên?

Giải trừ một: qúi vị cựu quân nhân của QĐVNCH hãy hãnh diện về tư cách cựu quân nhân của mỗi quý vị. Quý vị gia đình cựu quân nhân và tất cả những người xuất thân từ xã hội VNCH hãy ghi khắc trong tim óc của mỗi quý vị: chúng ta đã có nhiều thập niên sống trong sự che chở ân cần của QĐVNCH. Một quân đội đã bảo vệ người dân bằng chính sinh mệnh của người lính.

Giải trừ hai: người Việt Nam lớn lên trong chiến tranh hãy giải thích cho người VN ra đời sau 1975, nhất là những người VN sinh trưởng tại quốc ngoại để họ hiểu biết tường tận về lương tri và lòng ái quốc của QĐVNCH trêạn những liên hệ thân thiết giữa người dân và QĐVNCH. Hành động giải thích này hoàn toàn không mang ý nghĩa của một cảm tính. Nó là sự truyền đạt từ thế hệ này qua thế hệ khác những hiểu biết về vận động quan trọng của lịch sử. Nó ẩn chứa trong nó ước mơ rằng: trong tương lai, quốc gia Việt Nam sẽ có một quân đội thực sự vì nhân dân. Các loại quân đội tay sai của "Bác", của Đảng, của bất kỳ phe phái chính trị nào phải triệt để bị loại bỏ. Ước mơ vừa nêu tuy gián tiếp nhưng mạnh mẽ vinh danh QĐVNCH.

Giải trừ ba: đất nước là tài sản chung của toàn dân. Người dân phải thực sự là chủ nhân ông tối cao và duy nhất của đất nước. Đó là chân ý nghĩa của công bằng và lẽ phải. Đó là quy luật sống tự nhiên của mỗi dân tộc và của toàn nhân loại. Quy luật sống tự nhiên kia đòi hỏi những hoạt động kiểu giáo dục, luật pháp, kinh tế, nhất là quân sự phải là sinh hoạt nhân bản và công bằng của xã hội. Bài viết này chỉ xin nhấn mạnh đến guồng máy quân đội.

Quân đội dân chủ bao giờ cũng vận động theo chuẩn mực bởi dân, của dân và vì dân. Nhà cầm quyền dân chủ không bao giờ nuôi tham vọng biến quân đội trở thành công cụ bảo vệ ngôi vị cầm quyền. Qua quá trình giáo dục, qua quân sử và nhất là qua thực tiễn chiến đấu và phục vụ, QĐVNCH đích thực là một quân đội của xã hội dân chủ. QĐVNCH và dân chủ như hình vớI bóng. Chế độ dân chủ bị chà đạp, QĐVNCH bị lăng nhục. Vì vậy mọi người Việt Nam trong cũng như ngoài nước hãy nỗ lực mang lại dân chủ cho Việt Nam. Ngày chế độ dân chủ được tái lập tại Viet Nam chính là ngày danh dự của QĐVNCH được phục hồi.

Như vậy là ba phương pháp giải trừ đi kèm với ba hệ lụy.
Mỗi giải trừ tượng trưng bởi một nén nhang.
· Nén nhang thứ nhất là lời tri ân của TỔ QUỐC
· Nén nhang thứ hai là lời vinh danh tinh thần TRÁCH NHIỆM của QĐVNCH
· Nén nhang thứ ba là lời nguyền quyết tâm phục hồi DANH DỰ cho QĐVNCH, một quân đội thực sự yêu nước , thiện chiến, và dũng cảm.

Người viết bài này kính cẩn đặt ba nén nhang kia dưới chân TƯỢNG ĐÀI CHIẾN SĨ Việt Mỹ ,Westminster,California. Hành động này mang hàm ý chúc mừng ngày khánh thành tượng đài.

Hành động này còn là sự biểu tỏ lòng tuyệt đối tôn kính và thương yêu đối với QĐVNCH.

Đỗ Thái Nhiên
Nguyên thiếu úy , trưởng ban Quân số
Tiểu Đoàn 3, Pháo Binh Phòng Không
KBC 4314

Blog Archive